Lý do chính là trong một thời gian không dài, khoảng vài thế kỷ kể từ khi chuyến tàu đầu tiên đưa người Anh đặt chân lên mảnh đất Bắc Mỹ đến khi nước Mỹ trở thành một cường quốc thế giới
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THÁI YÊN HƯƠNG
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LIÊN BANG MỸ VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI - VĂN HOÁ MỸ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC
HÀ NỘI – 2003
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THÁI YÊN HƯƠNG
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LIÊN BANG MỸ VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI - VĂN HOÁ MỸ
Chuyên ngành : Lịch sử cận – hiện đại
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GIÁO SƯ LƯƠNG NINH
HÀ NỘI – 2003
Trang 3Chương 1: Bắc Mỹ và thời kỳ xâm chiếm của các quốc gia châu Âu 16
1.1.2 Phương thức sản xuất và cơ cấu, tổ chức xã hội của người Mỹ
bản địa
19
1.1.3 Đời sống văn hoá và tinh thần của người Mỹ bản địa 22
1.2 Bắc Mỹ trở thành đối tượng thực dân hoá của người châu Âu 29
1.2.2 Mục đích thuộc địa hoá Bắc Mỹ của người châu Âu 34
1.2.3 Quá trình thôn tính và thuộc địa hoá các nền văn minh bản địa
Chương 2: Cuộc đấu tranh giành độc lập, quá trình hình thành và
xác lập Liên bang Mỹ
54
2.1 Các tiền đề dẫn đến cuộc cách mạng dân chủ tư sản Mỹ 55
2.1.1 Nước Anh và các thuộc địa ở Mỹ thời kỳ trước cách mạng 56
2.2.2 Thống nhất các bang trong nhà nước Liên bang 72
2.3.2 Chính sách đối ngoại của Liên bang Mỹ thời kỳ đầu 90
2.4 Sự hình thành những nền tảng đầu tiên của đời sống Mỹ 102
Trang 42.4.1 Sự định hình dân cư Mỹ 102
Chương 3: Sự hình thành những đặc điểm xã hội – văn hoá Mỹ 128 3.1 Một số luận thuyết cơ bản về xã hội và văn hoá Mỹ 129 3.2 Những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ tiêu biểu 135
3.2.3 Một xã hội cạnh tranh cao với những con người đầu óc thực dụng 146
3.2.4 Xã hội với con người có tinh thần tiến lên phía trước, ưa khám
phá và thích ứng với cái mới
150
3.2.5 Một xã hội mở, dung hợp, đa dạng và phức tạp 155
3.3 Ảnh hưởng của những đặc điểm xã hội - văn hoá đối với chính sách đối
3.3.1 Sự thể hiện của tính đa sắc tộc, sự đa dạng và linh hoạt trong
chính sách đối ngoại của Mỹ
166
3.3.2 Vấn đề kiểm soát và cân bằng giữa Tổng thống và Quốc hội trong
quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ
169
Danh mục các công trình của tác giả đã được công bố 185
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nằm ở phía bắc châu Mỹ, Liên bang Mỹ1là một quốc gia trẻ với tuổi đời mới chỉ 227 năm, nhưng lại là một nước có vai trò chủ đạo trong các vấn đề quốc tế Hiện tại, Liên bang Mỹ có một ưu thế gần như vượt trội áp đảo, không có đối thủ đủ tầm cỡ
“sánh vai” như Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh Về chính trị, Liên bang Mỹ trở thành một nhân tố không thể bỏ qua trong quá trình hoạch định chính sách của hầu hết các nước trên thế giới Về kinh tế, chỉ với số dân bằng 4,7% dân số thế giới nhưng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ chiếm 31,2% tổng số GDP toàn cầu Căn cứ vào mức tăng trưởng GDP trên dưới 2% hiện nay và dự báo tăng trưởng trong thời gian tới là khoảng 3-4%, Liên bang Mỹ sẽ tiếp tục là nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới Đồng thời, Mỹ cũng là cường quốc quân sự hàng đầu thế giới, vượt xa các nước khác về tiềm năng quân sự Hiện nay, Mỹ là nước duy nhất có lực lượng quân đội triển khai trên khắp toàn cầu Về khoa học công nghệ, chi phí cho nghiên cứu và phát triển khoa học của Mỹ là 652,7 tỷ đô la, chiếm hơn 40% tổng chi phí của toàn cầu dành cho lĩnh vực này Về văn hoá, Mỹ có ảnh hưởng khá sâu rộng tại nhiều nước trên thế giới Một nhà văn Pháp đã từng phát biểu, chỉ với chiếc quần jean và nhạc jazz mà nước Mỹ có mặt ở khắp thế giới Tại nhiều nước, phim ảnh Mỹ chiếm thị phần lớn nhất Trong năm 2001, 81,3% phim trên toàn thế giới do Mỹ tài trợ hoặc sản xuất tại nước Mỹ Hiện tại với lý do dân chủ và nhân quyền, Mỹ không ngần ngại can thiệp vào nội bộ các nước khác Cách cư xử này có phải xuất phát từ thế và lực mà
Mỹ có trong tình hình thế giới có phần thuận lợi đối với Mỹ hay là nó có những yếu tố bắt nguồn từ quá trình hình thành của một quốc gia?
1
Trong luận án, để tránh trùng lặp, tác giả luận án sử dụng từ “nước Mỹ” đồng thời với Liên bang Mỹ khi đề cập đến Liên bang Mỹ
Trang 6Phải chăng vì vậy, lịch sử và văn hoá Mỹ đã và vẫn là chủ đề nghiên cứu, tranh luận của nhiều học giả, nhiều nhà sử học cũng như nhiều nhà nghiên cứu Mỹ ở nhiều nước trên thế giới Cho dù mục đích nghiên cứu, phương pháp tiếp cận vấn đề của các
đề tài khác nhau, nhưng các kết quả nghiên cứu đều là những đóng góp hữu ích và có giá trị vào việc nâng cao sự hiểu biết về con người, văn hoá và xã hội Mỹ, cũng như
về chính sách Mỹ áp dụng với các nước khác trong quan hệ quốc tế
1.2 Nước Mỹ là một quốc gia có nền văn hoá đa dạng, gồm các nhóm cộng đồng dân cư với những khác biệt về sắc tộc, tôn giáo, thành phần xã hội và khu vực cư trú Việc hiểu được những nhân tố đã tập hợp các nhóm cộng đồng bất chấp mọi khác biệt
để hình thành nên nước Mỹ, góp phần đưa nó phát triển và thịnh vượng cũng quan trọng không kém việc hiểu được tính đa dạng của chính những nhân tố đó Liên bang
Mỹ đã xây dựng được một hệ thống chính trị ổn định và một nền kinh tế phát triển, có năng suất cao, đồng thời cũng tạo nên một nền văn hoá đại chúng làm sống động thêm kinh nghiệm và nhận thức của người dân đất nước này và cả các dân tộc khác trên thế giới Mọi người có thể đề cao hoặc phê phán những yếu tố từng góp phần làm cho Liên bang Mỹ trở thành một quốc gia giàu có và cũng từng làm cho quốc gia này có hành động phi đạo lý, có khi chịu những thất bại nhưng không ai có thể phủ nhận hoặc
bỏ qua những yếu tố đó khi nghiên cứu lịch sử nước Mỹ
1.3 Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc đều có những giai đoạn lịch sử đã để lại những dấu ấn quan trọng tạo nên nền tảng cơ bản cho quốc gia - dân tộc đó Ví dụ, đối với Trung Quốc, mặc dù nhà Tần chỉ thống trị toàn bộ lãnh thổ lục địa trong một thời gian ngắn, nhưng nó đã mở đầu cho chế độ phong kiến tồn tại hơn
2000 năm trong lịch sử nước này Đối với nước Anh, giai đoạn cách mạng công nghiệp diễn ra trong khoảng giữa thế kỷ XVIII có thể coi là thời kỳ quan trọng đưa nước Anh lớn mạnh thành đế quốc hàng đầu ở châu Âu, có vai trò quyết định đối với vận mệnh của nhiều quốc gia khác Liên bang Mỹ - một quốc gia có sức phát triển và
đi lên không ngừng - chính giai đoạn hình thành, mở rộng và thống nhất về mặt chính trị, lãnh thổ và pháp lý lại có ý nghĩa quan trọng đưa nước Mỹ trưởng thành trong thế
Trang 7kỷ tiếp sau Lý do chính là trong một thời gian không dài, khoảng vài thế kỷ kể từ khi chuyến tàu đầu tiên đưa người Anh đặt chân lên mảnh đất Bắc Mỹ đến khi nước Mỹ trở thành một cường quốc thế giới, người Mỹ đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản của một quốc gia như tuyên bố khai sinh một quốc gia độc lập với một bản Hiến pháp
có giá trị lâu bền, giải quyết được vấn đề ly khai của một số bang miền Nam và thống nhất các bang trong Liên bang Mỹ Mặc dù, quá trình hình thành Liên bang Mỹ đã được các nhà sử học ở Mỹ, ở các nước châu Âu bàn đến nhiều, nhưng vẫn sẽ có ích cho việc nghiên cứu Mỹ, hiểu được nước Mỹ và con người Mỹ nếu như ở nước ta có một công trình nghiên cứu có hệ thống và cơ bản về giai đoạn này nhất là dưới góc độ nhìn nhận, tiếp cận của người Việt Nam Luận án hy vọng là một trong các công trình như thế đóng góp vào công việc lâu dài của các học giả Việt Nam nghiên cứu về Mỹ 1.4 Từ năm 1995 đến nay, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ được bình thường hoá, mở đầu bằng việc thiết lập cơ quan đại diện của hai bên Mặc dù còn có nhiều vấn đề cần giải quyết trong quan hệ giữa hai nước, Việt Nam và Mỹ đã tiến hành trao đổi, giao lưu về văn hoá, giáo dục và hợp tác trên nhiều lĩnh vực Hiệp định thương mại giữa hai nước đã được ký kết ngày 12 tháng 10 năm 2001 và được thực hiện gần hai năm Đối với người Việt Nam chúng ta, việc hiểu thấu đáo về đất nước,
xã hội và con người Mỹ vẫn là một thách thức khá lớn
Để tìm hiểu được một cách đầy đủ và thấu đáo về nước Mỹ, chắc chắn cần đi sâu nghiên cứu về những giai đoạn phát triển cụ thể của lịch sử nước Mỹ từ trước đến nay, nhất là giai đoạn hình thành nhà nước Liên bang Mỹ Ngoài ra, cũng cần phân tích rõ những nhân tố đã tập hợp các nhóm cộng đồng dân cư trên đất nước này lại với nhau, bất chấp mọi khác biệt giữa các nhân tố đó, để hình thành nên một xã hội Mỹ Việc nghiên cứu quá trình hình thành và qua đó rút ra một số đặc điểm của Liên bang Mỹ không chỉ giúp chúng ta hiểu được tiềm năng, thế mạnh và điểm yếu của nước Mỹ,
mà còn góp phần thúc đẩy mạnh quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển
Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Quá trình hình thành Liên bang Mỹ và những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ” làm đề tài luận án Tiến
Trang 8sĩ Lịch sử của mình với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc giới thiệu lịch sử và văn hoá Mỹ ở Việt Nam hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ lâu nay ở Việt Nam, giới nghiên cứu nói chung và các nhà sử học viết về nước
Mỹ một cách hệ thống chưa nhiều, chủ yếu là dưới góc độ nghiên cứu chính sách của giới cầm quyền Mỹ, tính cách người Mỹ và phần nhiều là về thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước Các công trình nghiên cứu đó chủ yếu phục vụ cho cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Như thế có thể nói việc nghiên cứu toàn diện về Mỹ ở Việt Nam còn khá mới mẻ Từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay mới có một số công trình được công bố, mà phần lớn dành cho hệ thống chính trị Mỹ, chính sách đối ngoại, kinh tế đối ngoại của Mỹ hoặc chiến lược an ninh của Mỹ đối với một số khu vực và một số nước Có thể kể đến một số công trình như:
Hoa Kỳ - tiến trình văn hoá chính trị (Nxb Khoa học Xã hội, 1999) do Phó Giáo sư
Đỗ Lộc Diệp chủ biên; Hệ thống chính trị Mỹ (Nxb Khoa học Xã hội, 2001) của
Tiến sĩ Vũ Đăng Hinh Các tác phẩm này chủ yếu tập trung phân tích và trình bày về các nhánh trong hệ thống chính trị Mỹ, đến mối quan hệ được gọi là “tam quyền phân lập” giữa các nhánh đó Cho đến nay chưa có một công trình nào viết về lịch sử hình thành Liên bang Mỹ, nhất là theo cách tiếp cận của Việt Nam, nên có lẽ đây là cơ hội
để tác giả cố gắng thực hiện mục đích nghiên cứu của mình như đề tài luận án đã xác định
Liên quan đến lĩnh vực lịch sử nước Mỹ một số công trình nghiên cứu đã được xuất
bản như: Lịch sử thế giới Trung đại, tập II: chương Châu Mỹ tiền Columbus (Nxb Giáo dục, 1976) của Giáo sư Lương Ninh; Lịch sử thế giới cận đại (Nxb Giáo dục,
1998) của Giáo sư Vũ Dương Ninh và Phó Giáo sư Nguyễn Văn Hồng, chương 3:
Cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ và sự thành lập nước Mỹ, chương 8: Nước Mỹ nửa đầu thế kỷ XIX và cuộc nội chiến Các công trình
Trang 9này đề cập một cách cơ bản về các vấn đề liên quan đến quá trình hình thành Liên bang Mỹ
Về lĩnh vực văn hoá xã hội, Hồ sơ văn hoá Mỹ của nhà nghiên cứu văn hoá Hữu
Ngọc (Nxb Thế giới, 1995) cho đến nay vẫn được coi là một công trình tư liệu mang tính văn học đề cập bao quát về xã hội và văn hoá Mỹ Sách dịch liên quan đến đời
sống xã hội và văn hoá thì cuốn Cuộc sống và các thiết chế ở Mỹ (Nxb Chính trị
Quốc gia, 2000) của tác giả Doughlas K Stevenson đã đề cập khá toàn diện đến mọi
lĩnh vực liên quan đến xã hội và văn hoá Mỹ Liên quan đến lý luận về đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ, cuốn Văn minh Hoa Kỳ (Nxb Thế giới, 1998) của Jean - Pierre Fichou có thể coi là cuốn cơ bản Tạp chí Châu Mỹ ngày nay cũng đăng tải khá nhiều
bài liên quan đến các lĩnh vực của cuộc sống xã hội Mỹ, có thể điểm qua tên một số
bài trong thời gian gần đây như sau: Các giá trị và giả định ở Mỹ (số 1 năm 2000) của
Đinh Lệ Châu; Mark Twain: Hài hước là một điều vĩ đại (số 2 năm 2000) của Lê Huy Bắc; Thử so sánh tính cách người Mỹ với tính cách người Việt Nam của Đức Uy, và Văn học Mỹ có hay không của Lê Đình Cúc (số 5 năm 2001); Đôi nét về văn học so sánh Mỹ (số 6 năm 2001) của Lưu Văn Bổng…
Như vậy, dưới góc độ Việt Nam thì chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình hình thành Liên bang Mỹ và mối quan hệ giữa quá trình này với sự hình thành một số đặc điểm xã hội văn hoá Mỹ tiêu biểu Bản thân nghiên
cứu sinh là đồng tác giả của các cuốn Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Nxb Chính trị Quốc gia, 1994), Hệ thống chính trị Mỹ: cơ cấu và tác động đối với quá trình hoạch định
chính sách đối ngoại (Nxb Chính trị Quốc gia, 2000) và chủ biên cuốn Vấn đề trừng phạt kinh tế trong chính sách đối ngoại Mỹ (Nxb Chính trị Quốc gia 2002), nhưng
ngay các cuốn sách đó cũng chỉ giới thiệu hoặc tập trung nghiên cứu một lĩnh vực cụ thể, chủ yếu về đến chính sách đối ngoại
Các học giả nước ngoài, đặc biệt là các nhà sử học Mỹ đã nghiên cứu và viết nhiều
về nước Mỹ, trên nhiều nhiều bình diện như lịch sử, kinh tế, văn hoá Mỹ, nhưng hầu hết theo hệ thống thông sử, chưa phải chuyên sử về sự hình thành Liên bang Mỹ Một
Trang 10số tiêu biểu trong các công trình đó là: The Oxford History of the American People (Oxford University Press, 1965) của Samuel Elliot Morison; The American People
(Trường đại học California, 1976); America - Past and Present (Scott, Foresman and
Company, 1987) của Robert A Divine, T.H Been, George M Fedrickson và R Hal Williams; American Civilization của C L R James (1993); A People and A Nation -
History of the United States (Houghyon Mifflin Company, 1994) của Mary Beth
Norton, David M Katzman, Paul D.Escott, Howard P.Chudacoff, Thomas G.Paterson
và William M Tuttle,v.v
Văn hoá và đặc tính của con người Mỹ cũng được đề cập đến trong một số tác
phẩm, nhưng chủ yếu dưới dạng giới thiệu Như cuốn Living in America (1999) của A.R Lanier, được tái bản khá nhiều lần, đã bàn đến một số tính cách đặc trưng của
người Mỹ như: đam mê quyền lực, thích làm chủ thiên nhiên, ưa thích thành công, có
tư duy quy nạp và cả vấn đề giai cấp trong xã hội Mỹ Making America - the Society
and Culture of the United States (United States Information Agency, 1992) do Luther
Sluedtke chủ biên, là một tập hợp các bài viết thuộc một dự án nghiên cứu về Liên bang Mỹ của nhiều giới khác nhau như học giả, quan chức chính phủ và cả giới thông tin đại chúng Công trình này đã tập hợp được một loạt các bài nghiên cứu thể hiện được mối quan tâm đến quá trình hình thành một số đặc điểm cũng như một số cách
ứng xử trong xã hội Mỹ, trong đó đáng chú ý nhất là bài viết From Immigration to
Acculturation của Arthur Mann về quá trình tiếp biến văn hoá của các cộng đồng
người Mỹ thời kỳ thành lập Liên bang Mỹ Tác giả đã phân tích dưới nhiều góc độ như mức độ nhập cư vào lãnh thổ Liên bang Mỹ theo con số thống kê để nói đến sự đa dạng về chủng tộc của người Mỹ; cách thức chính phủ quản lý một xã hội đa sắc tộc -
đó chính là một hệ thống luật pháp được mọi người dân tuân theo; và cả sự bất đồng trong chính xã hội Mỹ, đó là vấn đề phân biệt chủng tộc, sự đa dạng về tôn giáo,v.v Khi nói về con người và xã hội Mỹ thì không thể không nói đến một số tác phẩm được một số học giả nước ngoài viết về thời kỳ đầu khi quốc gia mới hình thành và đến nay vẫn được nhiều nhà xã hội học nghiên cứu về Mỹ và sử học sử dụng Đó là
Trang 11cuốn Democracy in America 2
(1955) của Alex de Tocqueville, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1835 và sau đó tái bản vào các năm 1840 và 1955 - Đại học Virginia,
Vintage Book, New York Hiện nay “Democracy in America” vẫn là tác phẩm được
nhiều nhà nghiên cứu nói đến khi nghiên cứu về xã hội và con người Mỹ, bởi vì hơn một thế kỷ qua kể từ khi nó được ra đời, tác phẩm này đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin xác đáng qua sự mô tả và phân tích liên quan đến hầu hết các khía cạnh của nước Mỹ thời kỳ Tổng thống Andrew Jackson Điều mà Tocqueville đem lại
cho người đọc trong “Democracy in America” không phải là các câu trả lời hoặc các
học thuyết mà là những câu hỏi và nhận xét về hệ thống chính trị và văn hoá chính trị của nước Mỹ Tuy vậy, suy nghĩ của ông cũng mang khá nhiều tính giả định cần được kiểm nghiệm Ông đã cho người đọc hiểu người Mỹ thời kỳ của ông và cả một
bộ phận văn hoá thời kỳ sau này Mặc dù không có điều kiện đi sâu vào quá trình phát triển một nền công nghiệp ở Liên bang Mỹ nhưng ông đã có những dự đoán khá chính xác Theo cách nhìn nhận của ông thì chủ nghĩa cá nhân thúc đẩy chủ nghĩa tự do, thúc đẩy mục đích tìm lợi nhuận của các nhà tư bản với tất cả sự năng động, sáng tạo
và thực dụng của người Mỹ Có khá nhiều nhận xét và bình luận về tác phẩm này Theo từ điển Bách khoa độc giả Mỹ (1987) thì “đây là một công trình nghiên cứu đầu tiên về những thể chế Mỹ một cách vô tư và hệ thống.”
Tác phẩm The Letters from an American Farmer (1782)3
của J.Hector St John de
Crevecoeur, gồm 12 bức thư, miêu tả khá lý thú về con người và xã hội Mỹ Những bức thư này dưới cách viết cho một người bạn và có tính chất riêng tư, nhưng sau này
đã được xuất bản rộng rãi và được đánh giá như một tác phẩm văn học về nước Mỹ buổi đầu dựng nước Mười hai bức thư này là nỗi lòng và nhận thức của một người
2
Tác phẩm này gồm hai tập, 5 cuốn Tập I - 1 cuốn: Bộ mặt nước Mỹ Tập II: gồm 4 cuốn Cuốn I: Ảnh hưởng của
dân chủ đối với hành động của giới trí thức ở Mỹ, cuốn II: Ảnh hưởng của dân chủ đối với suy nghĩ của người Mỹ,
cuốn III: Ảnh hưởng của dân chủ đối với hành vi và cuốn IV: Ảnh hưởng của dân chủ đối với tư tưởng và suy nghĩ
của xã hội chính trị cùng với phần phụ lục
3
Tác giả luận án xin chân thành cám ơn Giáo sư sử học Kenneth R.Bowling, Trường đại học George Washington về nội dung và lời khuyên đọc tác phẩm “Những bức thư của người nông dân Mỹ.” Chuyến đi nghiên cứu tại Mỹ từ tháng 8-11, 1999
Trang 12nông dân Mỹ đã có một thời gian khá dài dõi theo sự chuyển biến của nước Mỹ Và ông cũng là một trong những người đã đưa ra dự đoán về hậu quả “hoang tàn, khủng khiếp”, vốn là kết quả của sự “tuyệt giao” giữa chính quốc và các thuộc địa nhưng cũng làm cho chúng ta thấy được những điều thật lý thú về con người và xã hội Mỹ ngay từ buổi đầu định hình quốc gia
Cuốn The Frontiers (1892) của một giáo sư sử học trẻ thuộc Đại học Wisconsin tên
là Frederick Jackson Turner cho thấy cách nhìn nhận của tác giả đã trở thành một luận chứng cổ điển: đó là việc mở rộng và bành trướng liên tục sang phía tây của người
Mỹ, việc khai phá những vùng đất mới và những người tiên phong đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đặc tính của dân tộc và xây dựng xã hội quốc gia Turner đã viết: “Chính nhờ những người tiên phong mà trí tuệ Mỹ tạo nên những đặc tính đáng chú ý của mình” Ông cũng lập luận rằng toàn bộ đặc tính của dân tộc đã được xây dựng từ tiền đề đầu tiên - công việc khai phá miền tây luôn gắn liền với việc khai khẩn đất đai, lao động và cả sự mạo hiểm
Các công trình kể trên đã góp phần quan trọng trong việc gợi ý suy nghĩ, thôi thúc người viết cần phải tìm hiểu một cách hệ thống hơn về nước Mỹ Mặc dù đây là một
đề tài rộng và không ít khó khăn nhưng chính chủ đề của luận án lại là một sự gợi mở cho công việc nghiên cứu tiếp theo trong tương lai
kỳ này Liên bang Mỹ đã trải qua những giai đoạn khai phá đầu tiên và đi tới thống nhất về mặt pháp lý cũng như trên thực tế Sau khi tuyên bố độc lập với việc Hiến
Trang 13pháp Liên bang bắt đầu có hiệu lực nhà nước Liên bang đã đi vào hoạt động Trên phương diện chính trị và pháp lý Liên bang Mỹ đã thống nhất Tuy nhiên, vẫn còn sự phân biệt giữa miền Bắc và miền Nam Nội chiến là sự kiện giải quyết được vấn đề ly khai, góp phần thống nhất Liên bang Mỹ trên thực tế Đồng thời người Mỹ cũng cơ bản hoàn thành công việc chinh phục miền Viễn Tây Nước Mỹ bước vào giai đoạn cách mạng mới, thực hiện cuộc Cách mạng công nghiệp để đưa Liên bang Mỹ từ một
quốc gia nông nghiệp thành một quốc gia công nghiệp có sức mạnh kể từ thế kỷ XX 3.1.2 Về nội dung:
Luận án tập trung giới thiệu những nét cơ bản của “Quá trình hình thành Liên bang Mỹ và những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ”, không đi sâu trình bày một cách
cụ thể hoặc chi tiết toàn bộ lịch sử hình thành Liên bang Mỹ Bởi lịch sử hình thành Liên bang Mỹ là một đề tài rộng, hơn nữa dưới dạng thông sử nhiều tác phẩm nước ngoài đã đề cập tới và có tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt
Từ trên quá trình hình thành Liên bang Mỹ tác giả luận án mạnh dạn rút ra những đặc điểm tiêu biểu về xã hội - văn hoá và con người Mỹ Đó là một xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân; một xã hội không ngừng phân chia đẳng cấp; một xã hội cạnh tranh cao với những con người đầu óc thực dụng; xã hội với con người đầy tinh thần tiến lên phía trước, ưa khám phá và thích ứng với cái mới; một xã hội mở, dung hợp,
đa dạng và phức tạp và một xã hội năng động Luận án sẽ không xem xét tất cả các đặc điểm đã từng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, bởi vì nếu nhìn nhận trên phương diện xã hội và văn hoá thì đây là một vấn đề rất rộng và có nhiều cách xem xét khác nhau không chỉ giữa các nhà nghiên cứu của nhiều nước mà ngay cả của nước Mỹ Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, các đặc điểm điển hình về xã hội - văn hoá sẽ được đề cập trong phạm vi những giá trị được nhiều người chia sẻ, đó là niềm tin, thái độ, cách sống, các thói quen và những đặc điểm tượng trưng thường được nhiều người nghĩ đến khi nói đến một quốc gia hay dân tộc Có thể nói một cách ngắn gọn đặc điểm xã hội - văn hoá ở đây là lối sống của một xã hội hay các thực thể
Trang 14tồn tại trong xã hội đó Điều này không có nghĩa là luận án sẽ lặp lại những nội dung
đã được các nhà sử học, nhà nghiên cứu nêu trong công trình của mình
Tác giả luận án coi quá trình hình thành Liên bang là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đến đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ, nhưng không phải là duy nhất Bên cạnh việc
cố gắng tái hiện quá trình hình thành của Liên bang, tác giả luận án cũng dựa vào yếu
tố lịch sử để lý giải phần nào sự hình thành một số đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ, mặc
dù đây sẽ là việc không dễ đối với một quốc gia rộng lớn và đa sắc tộc như Mỹ
Ngoài ra, mối quan hệ giữa các đặc điểm xã hội - văn hoá trên góc độ phong cách, ứng xử của nước Mỹ đối với các nước khác trên thế giới, mà ở đây là chính sách đối ngoại của Liên bang Mỹ cũng được đề cập trong luận án Việc liên hệ, phân tích tác động của những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ đối với cách ứng xử của người Mỹ, chính sách của Mỹ đối với các nước khác sẽ cho thấy mối quan hệ giữa các nhân tố bên trong với chính sách đối ngoại Tuy nhiên luận án sẽ không đi sâu phân tích quá trình hình thành chính sách đối ngoại của Mỹ từ khi ra đời đến nay mà chỉ muốn đề cập đến những biểu hiện về mối quan hệ của những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ đến chính sách đối ngoại Việc phân tích mối quan hệ này sẽ giúp chúng ta có thêm kinh nghiệm trong quá trình quan hệ hợp tác và đấu tranh với nước Mỹ
3.2 Lý do chọn tên “Liên bang Mỹ”
Sau chuyến đi phát kiến của Christopher Columbus, vùng đất châu Mỹ chỉ được
người châu Âu biết đến dưới cái tên gọi Tân Thế giới (New World) để phân biệt với châu Âu vẫn được coi là Cựu Thế giới (Old World) Đến năm 1507, một nhà hoạ đồ người Đức, ông Walselmuller đã gọi lục địa này là Mỹ - “America”, dựa theo tên của
một nhà hàng hải người Ý - Amerigo Vespucci (tên thánh của ông là Amerigho) Có người cho rằng ông đã đổi tên của mình thành Amerigo sau chuyến đi sang Tân Thế giới vốn có một bộ tộc da đỏ là Amerrique sinh sống, một khu vực có nhiều mỏ vàng [78, tr 16-22] Trong thời kỳ thuộc địa, 13 thuộc địa đầu tiên thường được biết đến
dưới cái tên Các thuộc địa thống nhất “United Colonies” hoặc là Các bang Mỹ
Trang 15“American States” [132, tr 152] Trong bản Tuyên ngôn độc lập, tên Liên bang Mỹ
“The United States of America” được sử dụng và tiếp tục được nhắc đến trong điều lệ
Hợp bang và được khẳng định lại trong Hiến pháp Liên bang Mặc dù vậy, trên thực tế ngay cả trong một số văn bản như trong Hiệp ước ký với Pháp (6 tháng 2 năm 1778)
nước Mỹ vẫn được gọi với cái tên “Mười ba bang của Liên bang Bắc Mỹ” [132, tr 153] Phải đến tháng 7 năm 1778, trong một văn bản do Quốc hội đệ trình, chữ Bắc
“North” được loại bỏ khỏi tên chính thức của nước Mỹ [132, tr.153]
Trong cách sử dụng và gọi nước Mỹ từ trước đến nay ở Việt Nam chủ yếu vẫn phổ
biến cách gọi “Mỹ”, “Hoa Kỳ”, “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” hoặc “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” Các cách gọi trên là dựa vào cách dịch của nước ngoài, nhằm phần nào thể
hiện nước Mỹ là một đất nước đa chủng tộc Trong Hiệp định Paris ký vào năm 1973 nhằm lập lại hoà bình ở Việt Nam, từ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã được hai quốc gia chính thức sử dụng trong các vấn đề, nội dung của Hiệp định
Tuy vậy, thực tế tổ chức nhà nước và hệ thống pháp luật của nước Mỹ hoàn toàn là theo hệ thống liên bang Mỗi bang có tổ chức quản lý riêng của mình nhưng vẫn chịu
sự chi phối của Tổng thống và Quốc hội Liên bang Toà án cũng là hệ thống toà án
Liên bang và toà án bang Chính vì vậy, tác giả luận án chọn Liên bang Mỹ làm tên gọi nước Mỹ trong luận án vì cách gọi như vậy chính xác hơn, gần gũi với tiếng Việt
hơn, phù hợp với cách hiểu của tác giả và thực tế người Mỹ tự gọi (USA) Khái niệm Liên bang Mỹ được sử dụng trong luận án không nhằm mục đích hạn chế về hệ thống chính trị, thể chế mà ở đây là nói về nước Mỹ bao gồm cả về đất nước và con người Mỹ.…
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Bản luận án được hoàn thành chủ yếu dựa vào các nguồn tài liệu gốc liên quan đến lịch sử hình thành Liên bang Mỹ, các công trình nghiên cứu của các nhà sử học, học
Trang 16giả Mỹ liên quan đến lịch sử của Liên bang Mỹ và các vấn đề về văn hoá và xã hội
Mỹ Nguồn tài liệu chính được sử dụng cho luận án bao gồm:
4.1.1 Một số tài liệu gốc được các trường đại học Mỹ đưa lên trên trang Web của trường mình như trường đại học Virginia, hoặc các trang Web của Thư viện Quốc hội
Mỹ Cuốn Our Nation’s Archive do Nhà xuất bản Black Dog & Leventhal Mỹ ấn
hành năm 1999 Một số văn bản liên quan đến quá trình hình thành Liên bang Mỹ
(The Federalist Papers), đến việc định cư ban đầu của người châu Âu tại Tân Thế
giới Một số lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo đầu tiên của nước Mỹ cũng được sử dụng nhằm cung cấp những hiểu biết, thông tin đáng tin cậy và tạo cơ sở chắc chắn cho nội dung luận án
4.1.2 Công trình nghiên cứu, sách, báo, bài viết của các nhà sử học, các nhà nghiên cứu nước ngoài về lịch sử hình thành Liên bang, về xã hội và văn hoá Mỹ Đây là một nguồn dữ liệu quan trọng giúp cho tác giả luận án có được hiểu biết về những cách tiếp cận khác nhau liên quan đến vấn đề nghiên cứu Những tài liệu được sử dụng phục vụ chủ đề của luận án không chỉ bao gồm các công trình của các nhà văn, xã hội học từ thời kỳ nước Mỹ mới ra đời mà còn bao gồm cả các công trình nghiên cứu đương đại liên quan
4.1.3 Một số tác phẩm của các nhà kinh điển mác xít liên quan đến chủ đề luận án
nghiên cứu, trong đó có những phần trong cuốn “Về văn học và nghệ thuật” trích từ
tuyển tập của C.Mác - Ph.Ăng ghen - V.I Lê nin (NXB Sự thật); Mác - Ănghen toàn tập, tập 22 bài “Cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ” viết năm 1845 (trang 495) (NXB Chính trị Quốc gia), tập 21: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tự hữu và của nhà nước của Ănghen và tập 23: chương 25 - Học thuyết hiện đại về chủ nghĩa thực dân; được sử dụng nhằm nâng cao tính khoa học của luận án
4.1.4 Các bài viết của các học giả trong nước được đăng tải trên các sách, báo, tạp
chí khoa học như tạp chí Châu Mỹ ngày nay hay tạp chí Nghiên cứu lịch sử được lưu
trữ tại các thư viện hoặc các viện nghiên cứu
Trang 174.1.5 Thông tin, tri thức thu nhận được qua các buổi trao đổi, phỏng vấn một số giáo sư sử học Mỹ trong những chuyến đi nghiên cứu của tác giả luận án tại Mỹ và các bài giảng của một số giáo sư Mỹ sang thỉnh giảng tại Trường đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội), đã gợi ý cho tác giả luận án nhiều ý kiến xác đáng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành công trình này
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -
Lê nin được sử dụng làm cơ sở phương pháp luận
- Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử Thông qua các tư liệu gốc,
sự kiện và đặt chúng trong bối cảnh lịch sử và diễn biến theo thời gian để trình bày các vấn đề, trên cơ sở đó khái quát toàn bộ quá trình hình thành Liên bang Mỹ từ thời
kỳ trước khi có sự xuất hiện của người châu Âu cho đến khi hệ thống Liên bang được hoàn thiện để từ đó rút ra nhận xét về đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ
- Các phương pháp nghiên cứu liên ngành như phương pháp so sánh và phương pháp xã hội học cũng được sử dụng ở một mức độ nhất định trong luận án Dựa trên những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã được công bố trong nhiều năm, tác giả luận án tập trung đi sâu tìm hiểu, phân tích mối quan hệ giữa quá trình hình thành Liên bang và quá trình hình thành nên một số đặc điểm xã hội - văn hoá tiêu biểu
- Ngoài ra, một số phương pháp thống kê, tổng hợp, cũng được sử dụng nhằm thể hiện chủ đề nghiên cứu
5 Đóng góp của luận án
5.1 Đây là một công trình nghiên cứu có hệ thống về một vấn đề cụ thể của lịch sử nước Mỹ Trong hoàn cảnh ở Việt Nam, các công trình nghiên chuyên cứu sâu về Mỹ còn chưa nhiều thì đóng góp đầu tiên của luận án là tập hợp, sưu tầm các tư liệu, lấy
đó làm cơ sở trình bày một cách có hệ thống những nét tiêu biểu nhất trong quá trình hình thành và phát triển của Liên bang Mỹ Điều này giúp cho người đọc nắm được
Trang 18những bước phát triển chủ yếu trong quá trình hình thành và xác lập của Liên bang
Mỹ
5.2 Luận án góp phần tìm hiểu người Mỹ và nền văn hoá Mỹ, với mong muốn tạo được những nhận thức đúng đắn trong quan hệ với người Mỹ và Liên bang Mỹ Kết quả của luận án, chính là điều ước mong của tác giả, đóng góp vào việc xây dựng và phát triển ngành nghiên cứu Mỹ ở Việt Nam, góp phần vào việc phát triển hơn nữa mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Mỹ
5.3 Ở nước ta cho đến nay, số lượng các công trình nghiên cứu về lịch sử các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ còn hạn chế, chủ yếu là sách dịch hoặc là một số chương trong các giáo trình lịch sử thế giới được sử dụng tại các trường đại học (như
đã phân tích ở phần Lịch sử nghiên cứu vấn đề) Trên thực tế, luận án là một cố gắng nhằm góp phần phân tích và trình bày quá trình hình thành Liên bang và mối quan hệ của quá trình này với việc hình thành những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ và chính sách đối ngoại Mỹ, với hy vọng sẽ trở thành một tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên ngành lịch sử và bạn đọc rộng rãi quan tâm đến vấn đề này Công trình mong muốn tạo cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo về lịch sử Liên bang Mỹ - một đất nước
mà Việt Nam chắc chắn sẽ có quan hệ nhiều hơn, rộng hơn ở cấp độ nhà nước và nhân dân
6 Bố cục luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận án được chia thành ba chương chính:
Chương 1: Bắc Mỹ và thời kỳ xâm chiếm của các quốc gia châu Âu
Chương này phân tích tình hình Bắc Mỹ trước khi có các chuyến đi phát kiến của người châu Âu, động cơ thúc đẩy người châu Âu thực hiện quá trình thuộc địa hoá Bắc Mỹ và lý do đưa đến ưu thắng của người Anh trên vùng đất Bắc Mỹ
Chương 2: Cuộc đấu tranh giành độc lập, quá trình hình thành và xác lập Liên bang
Mỹ
Trang 19Chương này đề cập đến những mâu thuẫn và cơ sở tư tưởng dẫn đến cuộc cách mạng dân chủ tư sản Mỹ, quá trình hình thành và xác lập Liên bang Mỹ trên phương diện lãnh thổ, kinh tế và xã hội - văn hoá, những nền tảng chính cho sự hình thành các đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ tiêu biểu
Chương 3: Sự hình thành những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ
Chương này trình bày một số luận thuyết chính được sử dụng khi phân tích đặc điểm xã hội - văn hoá và sáu đặc điểm xã hội - văn hoá được tác giả luận án xem như
là tiêu biểu của con người và xã hội Mỹ Phần cuối của chương 3, luận án tập trung làm sáng tỏ mối liên hệ giữa những đặc điểm xã hội - văn hoá với cách ứng xử của
Mỹ đối với các nước khác trên thế giới, mà ở đây là chính sách đối ngoại của Liên bang Mỹ
“Quá trình hình thành Liên bang Mỹ và những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ” là một đề tài nghiên cứu rộng và phức tạp Hơn nữa bản thân tác giả luận án còn chưa tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu, cho nên chắc chắn rằng nội dung luận án sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả luận án rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các giáo sư, các nhà nghiên cứu để có thể bổ sung, hoàn chỉnh nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của công trình trong tương lai
Trang 20CHƯƠNG 1
BẮC MỸ VÀ THỜI KỲ XÂM CHIẾM CỦA
CÁC QUỐC GIA CHÂU ÂU
Khi nói đến châu Mỹ, điều đầu tiên người ta thường nghĩ đến là Christopher Colombus với phát kiến ra châu Mỹ của ông vào năm 1492 Điều này trên một góc độ nào đó, cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận vùng đất châu Mỹ chỉ được hội nhập vào nền văn minh chung của nhân loại từ cuối thế kỷ XV, nhờ kết quả của những phát minh lớn về khoa học hàng hải cùng với sự phát triển mạnh mẽ về chính trị, kinh tế và văn hoá xã hội của châu Âu thời đó Tuy nhiên, phát kiến ra châu Mỹ mới chỉ là bước khởi đầu của quá trình thuộc địa hoá của người châu Âu kéo dài vài trăm năm với sự bắt đầu của lịch sử châu Mỹ hiện đại nói chung và sự ra đời của nhà nước Liên bang
Mỹ ở Bắc Mỹ nói riêng vào năm 1776 Chính trong quá trình khai thác thuộc địa “dã man” này mà các nền văn minh bản địa lâu đời và một thời oanh liệt của châu Mỹ với những xã hội bộ tộc sơ khai “tiền nhà nước”, như của người da đỏ chẳng hạn dần dần
bị huỷ diệt
Từ lâu, cùng với những tiến bộ vượt bậc trong khoa học, các nhà khảo cổ học, nhân chủng học và sử học đã tìm ra nhiều bằng chứng xác nhận những giả thuyết về việc người Mỹ bản địa có cùng nguồn gốc với người châu Á [149, tr 2] Ở một chừng mực nhất định chúng đã gieo mầm cho các cuộc tranh luận trong việc đánh giá lại những quan niệm về chủng tộc ưu việt của người châu Âu cùng với sứ mạng khai hoá
và truyền bá văn minh Thiên chúa của họ đối với người Mỹ bản địa4; và liệu Christopher Columbus có phải là người đầu tiên tìm ra châu Mỹ? vì với nghĩa của từ
“khám phá” thì ông phải là người tìm ra một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ; trong khi
đó có một số những chứng cớ khảo cổ mới cho thấy rằng trước Columbus đã có những người Viking di cư đến miền Bắc châu lục này[88, tr.1-2]
4
Đây là từ để chỉ người Ăngđiên cổ (Palae - Indians) lâu nay vẫn được gọi là người Da đỏ - tuy vậy, gần đây ngay
cả các nhà khoa học Mỹ cũng đã dùng từ người Mỹ bản địa để nói về họ (Native American)
Trang 21Trong khuôn khổ của chương này, tác giả sẽ điểm qua tình hình châu Mỹ và nhất
là Bắc Mỹ từ thời tiền sử cho đến trước năm 1492; những tiền đề ở châu Âu giúp cho
sự khám phá ra châu Mỹ của Columbus; và quá trình thuộc địa hoá châu lục này của người châu Âu với ưu thế nổi trội của người Anh trên đất Bắc Mỹ từ đầu thế kỷ XVII
1.1 Bắc Mỹ trước phát kiến của người châu Âu
Không phải đến khi Columbus phát hiện ra châu Mỹ thì vùng đất này mới được loài người biết đến Sự hình thành châu Mỹ và nguồn gốc xuất xứ của người Mỹ bản địa đã và có lẽ sẽ còn gây nhiều tranh cãi trong giới sử học và các nhà nghiên cứu Từ thế kỷ XVI nhiều học giả đã tin tưởng rằng thổ dân của “Tân Thế giới” có liên quan đến các xã hội được mô tả trong Kinh cựu ước đó là người Tartar ở châu Á, người Scythian ở Đông Nam Âu và người Hebrew cổ Vào năm 1859, nhà truyền giáo Kitô tên là Jose de Acosta lý luận rằng các nhóm nhỏ của những người mà sau này được coi là người Mỹ bản địa hoang dã, do đói khổ đã phải rời bỏ quê nhà và di chuyển qua châu Á tới vùng “Tân Thế giới” khoảng 2000 năm trước khi người Tây Ban Nha chinh phục Mexico [60, tr.15-20] Trong khi đó, các bằng chứng về nhóm máu và các răng người hoá thạch đã củng cố lập luận cho rằng những cư dân đầu tiên đến châu
Mỹ từ vùng Đông bắc Á nằm trong số các cuộc di dân cuối cùng diễn ra hàng loạt của loài người [60, tr.15-20] Tuy vậy, thời gian cụ thể của cuộc hành trình này vẫn còn
bỏ ngỏ, chưa được chứng minh
Vào những năm đầu của thế kỷ XX còn có một giả thuyết khác của những người theo thuyết Mạc Khải (the Theosophy) suy luận một cách thần học, thiếu cơ sở khoa học thực tế cho rằng nguồn gốc của châu Mỹ cũng như thổ dân sống trên đó có liên quan đến lục địa Atlantis đã bị nhận chìm dưới đáy biển cách đây khoảng 11 nghìn năm [45, tr 27-31] Theo lập luận này thì lục địa châu Mỹ nhô lên khỏi đáy đại dương vào những ngày huy hoàng của lục địa Atlantis và có mối liên kết về phía tây với Ấn
Độ
Trang 22Trong tác phẩm “Một dân tộc và một quốc gia - lịch sử của Hoa kỳ” (A People and
A Nation - A History of United States), tác giả cho rằng loài người có lẽ có nguồn gốc
từ lục địa châu Phi vì người ta đã khai quật và tìm ra được ở Êthiôpi những hoá thạch xương gần giống con người có niên đại khoảng 3 triệu năm trước đây Nếu như theo nhìn nhận của các tác giả thì trong vòng nhiều thế kỷ dân cư tăng trưởng ở châu lục này đã phát tán ra các châu lục khác Trong số đó một số người đã vượt qua eo biển Bering đến Bắc Mỹ
Cho tới nay các bằng chứng khảo cổ học đã minh chứng cho giả thuyết là châu Mỹ
có quá trình hình thành bắt đầu từ hàng chục ngàn năm trước khi có mặt của đoàn thám hiểm của Columbus [45, tr 23-31] Trong số đó có giả thuyết được cho là có sức thuyết phục nhất tồn tại hơn 70 năm nay cho rằng con người sang được “Tân Thế giới” bằng cách băng qua eo biển Bering5
tới vùng đất hiện nay thuộc Alaska cách đây khoảng 14-16 nghìn năm, và trong vòng vài thế kỷ họ đã đặt chân lên được vùng đất Trung và Nam Mỹ [68, tr 1] Theo cách nhìn nhận này, vào thời đó, eo biển Bering không như ngày nay: mực nước biển nông tạo nên một dải đất dài khoảng 50 dặm nối lục địa châu Á với lục địa Bắc Mỹ Nhờ đặc điểm thuận lợi về địa lý này, một số lượng lớn người đã di chuyển từ châu Á sang vùng đất Bắc Mỹ Dù thế, đến một giai đoạn khí hậu thay đổi làm thời tiết ấm lên và mực nước biển dâng thêm thì những người nhập cư này bị tách hoàn toàn khỏi đồng loại vẫn đang sinh sống ở lục địa Âu,
Á và Phi Sự biệt lập do tự nhiên tạo ra biến họ thành người Mỹ bản địa và như vậy, những người da đỏ ngày nay cùng có chung nguồn gốc với người châu Á Chính Thomas Jefferson người viết ra bản Tuyên ngôn Độc lập 1776, cũng có những suy luận cho rằng các bộ lạc thổ dân Mỹ có nguồn gốc châu Á trong khi ông không tin
5
Tuy vậy lập luận về Eo Biển Bering mới chỉ là một cách bên cạnh những lập luận khác như người châu Á có thể sang Mỹ trên những chiếc canoe được tạo nên bởi người châu Á cổ [145; 36]
Trang 23những người nhập cư đến từ châu Phi cũng bắt nguồn từ cùng một giống nòi châu Á như vậy6
Để có được một kết luận thật sự chính xác, cuối cùng về xuất xứ của người Mỹ bản địa, chắc chắn sẽ còn phải đợi thêm các kết luận của các công trình nghiên cứu Tuy vậy, không ai có thể phủ nhận sự tồn tại của người bản địa trước khi có phát kiến của người châu Âu Người Mỹ bản địa không những chỉ tồn tại mà còn có một cuộc sống khá phong phú với một trình độ sản xuất, một cơ cấu xã hội đã đạt đến một trình
độ đáng ghi nhận, cho dù còn rất sơ khai
1.1.2 Phương thức sản xuất và cơ cấu, tổ chức xã hội của người Mỹ bản địa
Có nhiều bằng chứng khảo cổ xác nhận sự tồn tại sớm nhất của người Mỹ cổ xưa cách đây khoảng 28 nghìn năm Họ vốn là những thợ săn du mục, hay di chuyển theo nhóm gia đình hoặc theo nhóm người (các bộ lạc thường gồm liên minh nhóm người
di cư) [149, tr 5], sống trải dài trên khắp vùng đất Bắc Mỹ lẫn Nam Mỹ và biết sử dụng giáo gỗ đầu gắn những viên đá nhọn làm phương tiện để săn bắt các loài thú lớn
sống trên vùng đất châu Mỹ cách đây khoảng 11.500 năm
Khi thời kỳ Băng hà kết thúc, hầu hết các loại muông thú (trừ loài bò rừng) vốn vẫn là nguồn thức ăn chủ yếu của người Mỹ bản địa bị cạn kiệt, có thể do dân cư ngày càng tăng hoặc do sự thay đổi khí hậu mà họ phải tìm nguồn sống mới, vì vậy nông nghiệp - một hình thức sản xuất mới đã phát triển trên lục địa châu Mỹ [149, tr 2] Với sự phát triển của công cụ bằng đá được mài, người Mỹ bản địa trở nên khéo léo hơn trong việc thuần chủng nhiều loại cây cỏ mọc hoang dại trong thiên nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực và thực phẩm của họ Tuy nhiên, phải đến khoảng 5 -
7 nghìn năm trước công nguyên, ngô và những loài cây họ đậu mới được các bộ tộc gieo trồng ở thung lũng Teotihuacan thuộc địa phận Mexico ngày nay Các loại ngũ cốc này có khả năng cung cấp cho con người một chế độ dinh dưỡng cân bằng về
6
Điều này được ghi nhận trong „ Notes on Virginia‟ (1784)‟: „Tôi không biết gì về những người Anh-điêng ở Nam
Mỹ Tôi tin rằng những câu chuyện ngụ ngôn của họ cũng hiện thực giống như chuyện ngụ ngôn của Ê sôp.‟ và trong tự truyện của ông viết năm 1820 [72, tr 145]
Trang 24lượng đạm, axit amin và carbon hydrat[88, tr 12] Việc gieo trồng các loại cây này cũng đòi hỏi những kỹ thuật gieo trồng nhất định Dần dần nông nghiệp từng bước đi vào đời sống của người bản địa
Công việc đồng áng có ảnh hưởng lớn đến đời sống và xã hội của người Mỹ bản địa, làm cho họ thoát khỏi sự phụ thuộc vào đời sống săn bắn và du mục Khi kỹ thuật canh tác được cải tiến và phổ biến ra khắp châu Mỹ, đồng thời tạo ra khả năng dư thừa về lương thực thì rau và ngô trở thành những nguồn lương thực đáng tin cậy và công việc đồng áng trở nên phổ biến hơn so với săn bắn và hái lượm Các vụ mùa đã tạo điều kiện cho việc xây dựng những làng xóm sống định cư do lối sống du mục hoặc bán du mục lúc này không còn phù hợp Đến năm 300 (TCN) các làng định cư đầu tiên bắt đầu ra đời Tất cả các bộ tộc người Mỹ bản địa đều chú trọng đến việc sản xuất đủ lương thực cho nhu cầu tiêu dùng của riêng bộ tộc mình Vì vậy, mặc dù giữa các bộ tộc đều có sự giao lưu trao đổi hàng hoá, nhưng không một bộ tộc nào chịu sự phụ thuộc hoàn toàn vào bộ tộc khác Đồng thời, trong quan hệ buôn bán, trao đổi hàng hoá, giữa các bộ lạc cũng không hề có sự phụ thuộc lẫn nhau về bất kỳ một loại hàng nào Một nền nông nghiệp tự cung tự cấp về lương thực và thực phẩm đã hình thành Sự phát triển sản xuất đã trở thành nền tảng của việc ra đời và phát triển các nền văn minh trên lục địa Bắc Mỹ Thoạt tiên đó là các nhà nước - thành phố lớn của văn minh Mesoamerica mà ngày nay thuộc địa phận Mexico và Guatemala, tiếp đó là các nhóm thành thị được biết đến dưới cái tên vùng văn hoá Mississipi thuộc vùng đất của Liên bang Mỹ ngày nay [149, tr 3]
Phương thức sinh hoạt và duy trì cuộc sống của người Mỹ bản địa phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện thiên nhiên nơi họ sinh sống Một số bộ lạc nằm ở bờ biển Tây Bắc, trải dài từ Alaska đến Oregon, nguồn sống chính của họ dựa chủ yếu vào cá hồi
và động vật biển Biện pháp hun khói và phơi khô thuỷ sản là cách được họ áp dụng trọng việc dự trữ thức ăn Trong khi đó, các bộ lạc sống trong vùng đất liền như Arikaras thuộc Thung lũng sông Missouri lại dựa vào nghề săn bắn và gieo trồng các loại cây nông nghiệp như ngô, bí đỏ và các loài cây họ đậu
Trang 25Về phương diện cơ cấu tổ chức chính trị và xã hội có thể nói mô hình xã hội của người Mỹ bản địa khá phong phú và chênh lệch nhau về mức độ phát triển Nếu như ở vùng đông bắc (thuộc nước Mỹ ngày nay), người Iroquois thành lập các liên minh, các
đế chế của người bản địa ở Mexico, Peru và Columbia có hình thái tổ chức chính trị phát triển, thì các bộ tộc còn lại vẫn chưa thoát khỏi thời kỳ hoang sơ của cuộc sống
bộ lạc Người Iroquois đã đưa hệ thống quản lý của mình từ thị tộc lên liên minh bộ lạc, tạo dựng nó hoàn hảo ở từng phần và biến thành một minh hoạ tuyệt vời cho khả năng tổ chức và quản lý của các bộ lạc ngay khi nó còn ở thời kỳ cổ sơ Hệ thống tổ
chức trước hết bao gồm thị tộc là một tổng thể những người có cùng quan hệ huyết thống, cùng một tên thị tộc; thứ hai là bào tộc, một tập hợp những thị tộc thân thuộc
thống nhất lại trong một liên hiệp cao hơn nhằm mục đích chung nhất định; thứ ba là
bộ lạc, là liên minh những thị tộc thường được tổ chức thành bào tộc trong đó tất cả các thành viên của nó đều nói chung một ngôn ngữ; và thứ tư là liên minh bộ lạc mà
các bộ lạc thành viên nói những ngôn ngữ riêng bắt nguồn từ một ngôn ngữ gốc Dựa trên những phương thức này một xã hội thị tộc khác với một xã hội chính trị hay nhà nước ra đời Khi mới phát hiện ra châu Mỹ, người ta không thấy xã hội chính trị như kiểu châu Âu nào tồn tại, không thấy có công dân, nhà nước hay luật pháp Khoảng cách giữa các bộ lạc phát triển nhất của người Mỹ bản địa với giai đoạn đầu của thời
kỳ văn minh hiểu theo đúng nghĩa là cả một thời kỳ phát triển [23,Vol ll, tr 54]
Tuy cơ cấu chính trị của các bộ lạc khác nhau nhưng tất cả các nền văn hoá Bắc
Mỹ đều phân chia và kết hợp quyền lực chính trị giữa hai thủ lĩnh, dân sự và quân sự Những thủ lĩnh này nắm chính quyền cho đến khi nào họ còn duy trì được lòng tin của dân chúng Bởi vậy, sự nhất trí chung của tập thể mang tính phổ biến, vượt trội hơn là
sự lãnh đạo độc tài là nét đặc trưng cho những hệ thống chính trị ở đây [149, tr 8] Người Mỹ bản địa thực hiện bầu cử để chọn ra các thủ lĩnh của mình Ví dụ, theo phong tục của người Seneca - Iroquois, khi thủ lĩnh của họ qua đời thì họ sẽ tổ chức một cuộc họp các thành viên để tìm người kế vị Họ phải chọn ra hai thành viên trong thị tộc để bầu lấy một Những người lớn tuổi trong bộ lạc có quyền nói lên sự lựa
Trang 26chọn của mình và người giành được nhiều ý kiến tán thành hơn sẽ là thành viên trúng
cử Tuy vậy, kết quả bầu cử phải được sự chấp nhận của bảy thị tộc khác và, thủ lĩnh mới sau khi được bầu, còn phải qua lễ tấn phong mới chính thức bắt tay vào việc của mình [23,Vol II, tr 57]
Cho dù có những lời nhận xét là xã hội của các bộ tộc Mỹ bản địa còn hoang sơ, mông muội vào thời điểm người châu Âu tìm ra châu Mỹ thì cũng không thể phủ nhận được những nét tiến bộ và phát triển tồn tại trong xã hội của họ Cũng như các nền văn hoá khác, người Mỹ bản địa có cách sống riêng của mình với một nền văn hoá phong phú theo cách quản lý độc đáo của mình Những chứng cứ khảo cổ tìm thấy ở vùng người Iroquois sinh sống trước đây cho thấy một thể chế dân chủ được xây dựng giữa các bộ tộc từ trước khi có dấu chân của Columbus Nhưng xét về cơ bản, mô hình quản lý của họ vẫn là hình thức đơn giản, thô sơ
1.1.3 Đời sống văn hoá và tinh thần của người Mỹ bản địa
Trải qua hàng thế kỷ phát triển, các bộ lạc của người Mỹ bản địa sống tương đối biệt lập này đã dần dần phát triển những nét văn hoá và có ngôn ngữ nói hoàn toàn khác nhau Họ hầu như không chia sẻ các mục đích kinh tế hay quân sự chung Theo các nhà khảo cổ thì người Mỹ bản địa định cư ở Bắc Mêxicô đã phát triển và duy trì khoảng 300 đến 350 loại ngôn ngữ khác nhau [87, tr 5] Vì vậy, việc đưa ra khái niệm
về một nền văn hoá đồng nhất của các bộ tộc bản địa là thiếu thực tế Nhóm bộ tộc lớn nhất về ngôn ngữ bao gồm các bộ tộc Algonquin sống dọc theo vùng biển ven bờ Đại Tây Dương từ Canađa sang Virginia; liên minh Iroquois có trung tâm là vùng đất thuộc bang New York ngày nay Trong khi đó, ở Trung Mỹ và trên bán đảo Yucatan của Mêxicô, người Maya đã phát triển một nền văn hoá độc đáo, có hệ thống chữ viết, một hệ thống số đếm tương tự như của người Ả rập, và hệ thống lịch theo dõi thời gian khá chính xác [68, tr 4] Sự đa dạng và phong phú về ngôn ngữ và chữ viết của người Mỹ bản địa chính là kết quả của quá trình phát triển chênh lệch về trình độ sản xuất, mô hình quản lý của mỗi bộ tộc Sự khác nhau này đã diễn ra trong cả một quá trình lâu dài, trên một địa bàn rộng lớn
Trang 27Về mặt tín ngưỡng và tôn giáo của người Mỹ bản địa, tính tới thời điểm châu lục
này tiếp xúc với người châu Âu đầu tiên, có thể khái quát lại ở sự tồn tại đa dạng của
nhiều tín ngưỡng Tuy đa dạng nhưng tất cả các bộ tộc ở đây đều theo thuyết đa thần giáo, thờ phụng nhiều vị thần khác nhau và có mối hoà đồng với thiên nhiên Tín ngưỡng và lễ nghi quan trọng nhất của mỗi bộ tộc đều liên quan mật thiết với nền kinh
tế của bộ tộc đó Chẳng hạn như đối với những bộ tộc có nền kinh tế nông nghiệp thì các vị thần chủ yếu mà họ thờ phụng có liên quan đến trồng trọt, các lễ hội của họ cũng xoay quanh việc đồng áng và thu hoạch mùa màng Còn đối với những bộ tộc săn bắn thì các vị thần của họ là các con thú và các lễ hội chính gắn với việc đi săn Phụ nữ có vai trò nổi trội trong các xã hội nông nghiệp chẳng hạn như trong xã hội người Iroquois vì họ là người chủ yếu sản xuất ra lương thực [149, tr 8]
Trừ một số bộ tộc ở thời kỳ phát triển thô sơ nhất, tất cả các nền văn hoá của người bản địa đều đã phát triển những hệ thống tôn giáo có tính chặt chẽ và mạch lạc bao gồm những vấn đề mang tính vũ trụ như sự sáng tạo ra các huyền thoại được truyền miệng từ đời này sang đời khác nhằm giải thích sự ra đời và hình thành của các
xã hội Giống như mọi nền văn hoá khác, các xã hội của người Mỹ bản địa hy vọng có được sự trợ giúp của lực lượng siêu nhiên trong kiểm soát thế giới tự nhiên và xã hội
Do vậy, để đạt được mục đích đó mỗi bộ tộc có nghi lễ tôn giáo của riêng mình
Phần lớn những người bản địa đều thờ phụng một đấng tối cao toàn linh, thấu hiểu tất cả, hiện thân dưới nhiều dạng ở cả đàn ông và đàn bà Bên cạnh đó, họ còn thờ cúng một số thực thể siêu nhiên khác ít quyền năng hơn kể cả vị thần ác chuyên gây ra tai hoạ, đau khổ và chết chóc Một điểm đáng lưu ý nữa là thành viên của hầu hết các
bộ tộc đều tin vào sự bất tử của linh hồn và một cuộc sống sau cái chết Chẳng hạn người Iroquois thừa nhận có một vị Thần Tối cao và một Thần Ác cùng với vô số những vị thần cấp dưới; họ cũng thừa nhận sự bất diệt của linh hồn và một thế giới bên kia Quan niệm của họ về vị Thần Tối cao đã gán cho vị thần này có hình dáng con người; và cũng tương tự như vậy đối với Thần ác, Thần Sấm và Thần Gió và Ba
Trang 28chị em là Thần Ngô, Thần Đỗ và Thần Bí Những vị thần này được gộp lại và mang danh là “Nguồn sống của chúng ta” [68, tr 35]
Nhảy múa là một hình thức thờ cúng ở người Mỹ bản địa và là một phần nghi lễ trong tất cả các lễ hội tôn giáo của họ Mỗi bộ lạc đều có từ mười đến mười ba điệu nhảy, mỗi điệu có tên gọi riêng có bài hát, nhạc cụ, bước đi, vũ hình và trang phục cho người nhảy Một số điệu múa ví dụ như điệu múa chiến tranh là chung cho tất cả các
bộ lạc Ngoài ra, có những điệu múa được coi tài sản riêng của một thị tộc hoặc một hội, lập ra để duy trì và gìn giữ chúng Những thành viên mới được kết nạp vào hội, thường được huấn luyện vào thời điểm nhất định Điệu múa của các bộ lạc Dakota, Cree, Ojibwa, Iroquois và những người Mỹ bản địa định cư ở vùng New Mêxicô đều giống nhau trong tính chất chung, trong nhịp đi, vũ hình và âm nhạc Điều này cũng giống các điệu múa của người Aztec Đây chính là một hệ thống thống nhất bao trùm tất cả các bộ lạc người Mỹ bản địa và có quan hệ trực tiếp đến hệ thống thờ cúng, tín
ngưỡng của họ
Từ những nét đặc trưng toát ra từ các tín ngưỡng và tôn giáo của người Mỹ bản địa, có thể thấy chúng mang nhiều nét rất tương đồng với Thiên chúa giáo và đạo Tin lành trong giai đoạn đầu của châu Âu hiện đại Cụ thể, những nền văn hoá này đều thể hiện niềm tin vào sự sáng tạo ra huyền thoại, tôn thờ vị Thần Sáng tạo, kinh sợ một vị thần Ác, và trông đợi vào sự trường tồn của linh hồn trong một cuộc sống sau cái chết tốt đẹp hơn rất nhiều so với cuộc sống hiện tại Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, giữa văn hoá tín ngưỡng của người châu Âu và thổ dân châu Mỹ vẫn có những sự khác biệt căn bản Sự khác biệt thể hiện ở chỗ người Mỹ bản địa không phân biệt được các vấn
đề tự nhiên và siêu nhiên, trong nhận thức của họ vật chất và tinh thần nằm trong một thực thể tồn tại thống nhất- một dạng thức của mạng lưới các quan hệ họ hàng được
mở rộng Ngược lại, người Công giáo và Tin lành lại có khuynh hướng nhấn mạnh sự cách biệt của con người thánh thiện và tinh thần ở cõi trời là Chúa, thiên thần và các
vị thiên sứ khỏi những người đàn ông tội lỗi và những người đàn bà bị chìm ngập trong thế giới của cám dỗ và quỉ dữ [135, tr 35]
Trang 29Như vậy, có thể thấy một thực tế rõ ràng là, Bắc Mỹ khi đón nhận những người châu Âu không phải là một chốn hoang vắng Các bộ tộc bản địa, với trình độ sản xuất, phương thức sản xuất còn thô sơ nhưng họ đã có một nền tảng xã hội-văn hoá phong phú với các tập tục, nghi lễ đa dạng và có ảnh hưởng lớn đến nền văn hoá của người Mỹ sau này
1.1.4 Mối quan hệ giữa các bộ tộc bản địa
Về quan hệ giữa các bộ tộc khác nhau của người Mỹ bản địa, có thể nhận thấy tuy
không phải tất cả các bộ tộc đều ở trong tình trạng chiến tranh liên miên, nhưng chiến tranh vẫn là một hiện tượng xã hội phổ biến Đã có một thời gian dài, các bộ tộc đánh lẫn nhau để tranh giành vùng săn bắn và đánh cá, vùng đất nông nghiệp màu mỡ, hoặc các nguồn nguyên liệu quan trọng như muối (để bảo quản thịt) và quặng sắt (để sản xuất cung tên hoặc dao và vật dụng khác) Thêm vào đó, tình trạng số bộ lạc và số ngôn ngữ không ngừng tăng lên cũng là nguyên nhân khiến các cuộc chiến tranh thường xuyên xảy ra giữa các nhóm thổ dân Như là một quy luật, chiến tranh kéo dài nhất là giữa các bộ lạc sử dụng ngữ hệ khác nhau, ví dụ như người Iroquois và người Igokin hay giữa người Iroquois và người Dakota Còn người Algokin và người Dakota nói chung thường sống hoà bình với nhau vì các bộ lạc này tuy nói những phương ngữ khác nhau nhưng cùng chung một ngữ hệ nên có khả năng giao tiếp miệng, nhờ đó mà dàn xếp được các bất hoà với nhau [145, tr 37] Chính do các cuộc chiến tranh liên miên này mà người Mỹ bản địa không có được sự thống nhất, tạo lợi thế cho sự xâm chiếm của người châu Âu sau này
Xu hướng liên minh lại để bảo vệ nhau xuất hiện một cách hoàn toàn tự nhiên ở những bộ lạc có cùng huyết thống và sống tiếp giáp nhau Do vậy, nhân tố cố kết một liên minh không chỉ duy nhất bắt nguồn từ lợi ích để bảo vệ nhau, mà còn từ một cơ
sở sâu xa hơn, đó là mối quan hệ huyết thống Liên minh xuất hiện là dựa trên các bộ lạc, nhưng khởi thuỷ của nó là dựa trên những thị tộc chung Chẳng hạn, tất cả các thành viên của cùng một thị tộc, dù thuộc bộ lạc Mohawk, bộ lạc Oneida, bộ lạc Onondaga, bộ lạc Cayuga hoặc bộ lạc Seneca thì đều là anh chị em của nhau vì có
Trang 30nguồn gốc từ một tổ tiên chung; họ thừa nhận mối quan hệ họ hàng ấy một cách hết sức chân tình [23, Vol II, tr 100] Trên thực tế, khi người châu Âu tìm ra châu Mỹ, ở những vùng khác nhau trên đất Bắc Mỹ đã tồn tại những liên minh bộ lạc; Liên minh Iroquois và Liên minh Aztec là những ví dụ điển hình [145, tr 40] Do ưu thế quân
sự, cũng như do vị trí địa lý thuận lợi của họ mà các liên minh này đã đạt được những thành tựu đáng kể về xã hội
Người Iroquois là minh chứng thú vị về việc một liên minh được hình thành bằng con đường phát triển tự nhiên có sự trợ giúp của pháp chế [23, Vol II, tr 100] Liên minh Iroquois cũng là một bức tranh minh hoạ sinh động cho một xã hội thị tộc liên minh lại Đây là một tổ chức thật sự dân chủ, bởi vì cấu tạo nên nó là những thị tộc,
mà mỗi thị tộc đều được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc dân chủ giống nhau, chưa phải ở trình độ cao nhất mà còn ở dạng nguyên thuỷ
Xét về mặt trí tuệ và tính cách thì người Iroquois là tộc người kiên cường và thông minh (bộ não của người Iroquois có khối lượng gần bằng khối lượng trung bình của
bộ não người Arien), họ có tài hùng biện trong các cuộc họp, có ý chí phục thù trong chiến tranh, và tinh thần kiên trì không gì lay chuyển nổi Tất cả những điều này đã giúp họ giành được một vị thế trong lịch sử Nếu các chiến công quân sự của họ đã bị các hành động dã man trong chiến tranh làm cho lu mờ, thì trong quan hệ với nhau, họ lại là những mẫu mực nhất về đạo đức cao của con người Liên minh mà họ tổ chức ra đáng được coi là một sản phẩm xuất sắc của trí thông minh và tinh thần sáng tạo [149,
tr 80] Một trong những mục đích mà Liên minh theo đuổi là hoà bình, loại bỏ mọi nguyên nhân xung đột Để đạt được mục đích này người Iroquois đặt các bộ lạc trong cùng một quyền quản lý, từ đó kết nạp thêm các bộ lạc khác có cùng chung tên gọi và cùng một nguồn gốc Người Iroquois áp dụng nguyên tắc này ép người Erie gia nhập liên minh và khi bị từ chối họ đã đuổi những người này ra khỏi biên cương của mình Ngoài ra, người Iroquois còn chinh phục các bộ lạc khác ví dụ như bộ lạc người Delaware, bắt các bộ lạc này, phải phụ thuộc vào mình, nhưng do vẫn chịu sự quản lý của thủ lĩnh riêng họ nên các bộ lạc này không tạo thêm sức mạnh gì cho liên minh
Trang 31Người Iroquois, với địa vị và sức mạnh của mình đã có một ảnh hưởng rất rõ rệt đối với diễn biến của cuộc chiến tranh giành bá quyền giữa người Anh và người Pháp
ở Bắc Mỹ Trong trăm năm đầu Anh, Pháp đặt chế độ thực dân, cả hai cường quốc này hầu như ngang nhau về sức mạnh và tài nguyên nên người Pháp không có cách nào khác, buộc phải lý giải cho thất bại trong kế hoạch chinh phục Tân Thế giới của
họ bằng sự tiến bộ của người Iroquois [23, Vol II, tr 120]
Tóm lại, liên minh đã tạo nên một xã hội thị tộc phức tạp hơn so với xã hội thị tộc của từng bộ lạc, nhưng vẫn chưa phải là một quốc gia Đây là bước đầu tiên trên con đường dài tới hình thành quốc gia (nation) bởi vì chính các thể chế thị tộc đã ngầm nuôi dưỡng ý thức dân tộc và sự dung hợp của các liên minh là giai đoạn cuối cùng của quá trình này
Một nét đặc trưng của châu Mỹ là nhiều nền văn minh tồn tại ở những khu vực khác nhau rải rác từ Bắc đến Nam Mỹ Do điều kiện địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt và khác biệt giữa các vùng lãnh thổ của châu Mỹ đã ngăn cản sự giao tiếp giữa những thổ dân ở đây với nhau, cho nên họ biết rất ít về cuộc sống của nhau Tuy nhiên, có lẽ lý do thuyết phục hơn là trước thời điểm châu Mỹ có sự xuất hiện của người châu Âu đi khai phá thuộc địa cuối thế kỷ XV, trình độ phát triển xã hội ở các nền văn minh này chưa đạt đến một mức độ nhất định như ở châu Âu và châu Á mặc
dù các nền văn minh châu Mỹ cũng đã có được những thành tựu mà các nền văn minh khác phải ngưỡng mộ, ví dụ như trong lĩnh vực kiến trúc
Qua mô tả, phân tích và so sánh các nền văn minh ở châu Mỹ thời kỳ tiền Columbus trên các phương diện như: phương thức sản xuất, tổ chức chính trị và xã hội, văn hoá, ngôn ngữ, chữ viết cũng như hệ thống tôn giáo tín ngưỡng, có thể nhận
ra các nền văn minh ở châu Mỹ cũng phát triển theo các trình tự của mô hình Á - Âu nhưng với một tiến độ chậm chạp hơn nhiều Chính sự năng động khi dân số tăng lên
và sự thay đổi môi trường sống đã thúc đẩy các bộ tộc người Mỹ bản địa thành lập các cấu trúc xã hội - chính trị giống như các tổ tiên gốc Á của họ đã từng làm trong quá khứ xa xưa
Trang 32Theo các tiêu chuẩn đánh giá ở lục địa Á - Âu vào thế kỷ XVI thì các xã hội bộ
tộc của người Mỹ bản địa còn rất thấp kém, lạc hậu về: độ lớn về dân cư, hệ thống nông nghiệp và nền sản xuất có khả năng tạo ra những khối lượng thặng dư lớn, sự phát triển về vũ khí và kỹ thuật chiến tranh Thực vậy, vào thời điểm Columbus khám
phá ra châu lục được người châu Âu coi là mới này thì ở đây mới có khoảng từ 50 đến
70 triệu người sinh sống và trong đó 10 triệu người tồn tại trên vùng đất thuộc Liên bang Mỹ ngày nay Như vậy ít hơn rất nhiều so với ở châu lục Á - Âu [68, tr 10] Các nền văn minh cổ xưa nơi đây không có được những phát minh quan trọng như châu Á
và châu Âu, chẳng hạn người dân ở đây không có các công cụ bằng sắt và thép, không
có các con vật thồ nặng như ngựa hay các loài súc vật kéo, có thể đi xa và nhà cửa không có cấu trúc mái vòm bằng đá có đỉnh chóp như ở châu Âu Tuy nhiên, họ đã xây dựng được những toà nhà uy nghi, chế tạo ra được những lịch tính thời gian chính xác dựa trên suy luận về hệ mặt trời Người Mỹ bản địa còn thực hành một số nghi lễ tôn giáo theo những phong cách khá độc đáo mà loài người chưa từng biết đến [143,
tr 36]
Một nét đặc trưng nữa của người Mỹ bản địa là họ không bao giờ thống nhất cho
dù đã trải qua một thời gian dài phát triển, liên tiếp đối đầu với chiến tranh giữa các
bộ tộc, các đế chế xuất hiện và tan rã, quan hệ buôn bán khép kín Do không có khái niệm là bản thân họ cùng gắn bó trong một nền văn minh chung, nên một liên kết gồm nhiều bộ lạc làm thành một quốc gia hay một dân tộc (a nation) của người Mỹ bản địa
là chuyện chưa hề xảy ra bất cứ trong trường hợp nào, ở bất kỳ đâu trên đất Mỹ Một trong những nguyên nhân chính là do họ phải đối phó với môi trường sống khắc nghiệt đa dạng ở những vùng địa lý khác nhau Vì vậy khi người châu Âu đặt chân lên vùng đất này và đe doạ đến cuộc sống của họ thì các bộ tộc bản địa gần như không có khả năng thống nhất để chống lại các cuộc xâm chiếm của người châu Âu
Có thể thấy rằng vùng đất thuộc Liên bang Mỹ, cũng như các vùng đất khác trên lục địa châu Mỹ trước khi có các đợt di cư ồ ạt của người châu Âu, là một vùng đất hoang sơ, mật độ dân cư khá thưa thớt, những phần được khai phá hầu như không
Trang 33đáng kể Những người dân sống tại đây cho dù đạt được đến một trình độ nhất định về sản xuất, nhất là trong sản xuất lương thực và thực phẩm, nhưng vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp dựa trên một nền tảng kỹ thuật thấp Tuy vậy, các bộ tộc Mỹ bản địa đã hình thành được những nét văn hoá độc đáo, góp một phần không thể thiếu vào nền văn hoá đa dạng của nước Mỹ trong giai đoạn sau
1.2 Bắc Mỹ trở thành đối tượng thực dân hoá của người châu Âu
Do nhiều lý do khách quan và chủ quan, người châu Âu hầu như không nhận thức được sự tồn tại của các vùng lãnh thổ thuộc châu Mỹ cho tới ngày nó được khám phá
ra bởi chính họ Trước đó, một số nhà hàng hải như Leif Ericson ở thế kỷ XI và có thể
cả một số người khác có chút quan tâm đến việc tìm kiếm một “Tân Thế giới” từng được đề cập đến trong Kinh Cựu ước trong các chuyến đi thám hiểm của họ [60, tr 18] Tuy vậy, thậm chí nếu như vào thời kỳ đó các chuyến đi của họ được nhiều người biết đến chăng nữa thì vùng đất của châu Mỹ này cũng chưa đủ sức thu hút các chuyến đi phát kiến, một phần vì châu Âu thời Trung đại (khoảng 500-1400 của Công nguyên) vẫn còn đang chia rẽ và tản quyền, chưa đủ sức mạnh về tài chính và thương mại, đồng thời giới lãnh đạo chính trị cũng chưa đủ quyền lực để tổ chức các chuyến
đi biển lớn Như vậy, để có được kết quả mà chuyến đi của Columbus năm 1492 mang lại, cần phải hội tụ ít nhất những điều kiện sau: ý chí thám hiểm, khám phá ra được các vùng đất mới bất chấp mọi khó khăn [149, tr 12], phương tiện vận chuyển và kỹ thuật hàng hải cần thiết để đảm bảo (đến chừng mực nào đó) sự an toàn cho chuyến
đi, và cuối cùng là khả năng tài chính Động cơ chính của các chuyến thám hiểm có thể là lý do kinh tế thông qua sự chiếm lĩnh các tuyến đường buôn bán các mặt hàng được ưa chuộng của châu Á và châu Phi như hồ tiêu, quế, hồi, tơ lụa, phẩm nhuộm, và
đá quí hoặc lý do truyền bá đạo Thiên chúa ra toàn thế giới
Vào cuối thế kỷ XV, châu Âu trải qua những biến động lớn và điều này tạo tiền đề cho sự thành công cho các chuyến thám hiểm trên toàn thế giới Lúc này châu Âu đã
Trang 34hội tụ được đủ các điều kiện như đã nêu ở trên Có ba thay đổi có tính chất quyết định đến công cuộc thám hiểm những vùng đất mới nhằm mục đích mở rộng khu vực ảnh hưởng của các đế quốc châu Âu nói riêng và đến toàn bộ sự phát triển của xã hội châu
Âu và thế giới nói chung trong thời gian dài sau đó
Trước tiên là thay đổi về nhu cầu buôn bán và trao đổi hàng hoá Nhu cầu này lớn
lên do dân số châu Âu tăng mạnh trong thế kỷ XV, nhất là sau năm 1450[68, tr 8] Sự phát triển dân cư thúc đẩy nhu cầu về lương thực, đất đai, phát triển quan hệ buôn bán
và mang lại sự thịnh vượng nói chung Địa chủ là tầng lớp thu được nhiều lợi nhuận nhất trước sự bùng nổ của dân cư, kết quả là nhu cầu của họ về những mặt hàng xa xỉ, quý hiếm từ những vùng đất khác của châu Á và châu Phi cũng tăng theo Một tầng lớp thương nhân đã xuất hiện nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn đối với hàng hoá này Quan hệ buôn bán phát triển cùng với những tiến bộ trong hàng hải và công nghiệp đóng tầu của các nước châu Âu thời kỳ đó là nguyên nhân thôi thúc ý chí của những người muốn thực hiện các chuyến đi buôn lớn, đường dài và biến ao ước thực hiện những chuyến đi biển dài ngày trở thành hiện thực
Thứ hai, thời kỳ này cũng chứng kiến sự tập trung hoá về quyền lực chính trị trong
tay những nhà cầm quyền mới, đó là “những chế độ quân chủ chuyên chế mới.” Vào những thập niên đầu của thế kỷ XV, trên toàn châu Âu, tại những địa hạt nhỏ, giới quý tộc phong kiến chiếm được địa vị thống trị Các quý tộc phong kiến địa phương bóc lột nông dân và tiến hành chiến tranh theo ý muốn của mình Sự xuất hiện của các nhà quân chủ mới chính là một thách thức đối với vị trí của quý tộc phong kiến Tuy vậy, những thay đổi này xuất hiện không đều, một số xảy ra từ từ, và ở một số nơi thì khá dữ dội, kết quả là đã tạo nên sự thay đổi lớn trong quan hệ chính trị truyền thống giữa người dân và nhà nước Các nhà nước quân chủ mới ở châu Âu đã tuyển mộ quân đội quốc gia, và dùng thuế để trang trải cho các hoạt động của nhà nước Mặc dù những người cầm quyền mới này thường chuyên quyền, nhưng họ đã thay đổi bản chất của các nhà nước quốc gia mới xuất hiện ở châu Âu Chính các chính quyền quân chủ có ý chí mạnh mẽ này đã tạo dựng nên những vương quốc độc lập Nếu như ở
Trang 35châu Âu không có những thay đổi chính trị to lớn như vậy, thì chưa chắc vào thời kỳ
đó các đế quốc đứng đầu châu Âu đã có khả năng tạo nên các nguồn tài chính và quân
sự cần thiết để có thể thực hiện được những chuyến thám hiểm dài ngày
Thứ ba, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là kiến thức hàng hải, đã góp
phần quan trọng trong việc thúc đẩy các chuyến đi thám hiểm vòng quanh trái đất Trong khi giới cầm quyền “quân chủ mới” tiến hành tái tổ chức nền chính trị châu Âu thì các nhà đi biển đã trải qua một cuộc cách mạng về kỹ thuật hàng hải Nếu như vào trước thế kỷ XV, phương tiện chạy trên Địa Trung Hải là những con thuyền nặng nề
và di chuyển chậm, chống đỡ sóng gió một cách khó khăn và hầu như không thể đi xa thì tới thời điểm Columbus thực hiện chuyến đi thám hiểm năm 1492, các nhà hàng hải đã phát minh ra được loại thuyền buồm lớn có thành cao, lòng rộng có thể đi nhanh và di chuyển dễ dàng Bánh lái thuyền buồm được cải tiến cộng với việc sử dụng la bàn trong khi đi biển là kỹ thuật mới được áp dụng trong thời kỳ này Điều này đã giúp các nhà thám hiểm châu Âu tránh được khó khăn khi vượt qua Đại Tây Dương và đi dọc theo các bờ biển Bắc Mỹ có sóng to gió lớn Những kỹ thuật hàng hải mới này cùng với việc phát hiện ra cách đọc la bàn một cách chính xác hơn đã tạo niềm tin cho các nhà thám hiểm đường dài Họ không những có thể đi đến những vùng đất xa xôi mà còn tin rằng họ có thể trở về an toàn
Ngoài yếu tố khoa học kỹ thuật, sự hiểu biết và nhận thức của con người thời kỳ này cũng đã có tiến bộ vượt bậc, nhất là về địa lý Việc các nhà địa lý cổ đã vẽ và chia trái đất hiện tại của chúng ta ra thành 360 độ, khẳng định của họ trái đất có hình cầu cộng thêm với kỹ thuật in ấn bản đồ phát triển cũng góp phần truyền bá rộng rãi nhận thức này Tuy vậy, một hệ thống tính toán độ dài và rộng của trái đất bé chỉ bằng năm phần bảy trái đất thực tế của Ptolemy (một nhà địa lý thuộc thế kỷ II trước công nguyên) [145, tr 49], được các nhà địa lý sử dụng trong suốt thời kỳ Khai sáng, cả thế
kỷ sau thời kỳ Columbus đã góp phần thúc đẩy những ý tưởng táo bạo muốn thực hiện
những chuyến đi biển dài ngày sau này
Trang 36Một điểm đáng lưu ý nữa là vào khoảng cuối thế kỷ XIV, làn sóng khai phá những vùng đất mới bùng nổ và tiến gần đến vùng biển châu Mỹ Một thực tế khá rõ ràng là người châu Âu thời kỳ này không hề có ý định tìm kiếm Tân Thế giới, mục tiêu duy nhất của họ là tìm một con đường mới sang vùng đất cổ nhất của Cựu Thế giới - vùng đất Tây Ấn (West Indies)7 Mục đích lúc đó đặt ra cho các nhà hàng hải là cần phải tìm một con đường biển đi đến các vùng đất giàu có để đặt quan hệ trực tiếp thay vì phải trả những khoản tiền nhất định cho các tầng lớp trung gian như thuỷ thủ, bọn cướp biển miền Viễn Đông và các loại thương nhân khác nhau Thêm vào đó là các nhà truyền giáo cũng mong tìm kiếm được con đường ngắn và đơn giản nhất với
hy vọng biến vùng đất “ngoại đạo” châu Á thành nơi theo đạo Thiên chúa
Tuy nhiên, quyết định thám hiểm một con đường mới sang châu Á của Columbus
còn dựa trên một số nhầm lẫn cơ bản: 1) trái đất trong suy nghĩ của ông bé hơn [149,
tr 15] trái đất trên thực tế Theo Columbus, Nhật Bản chỉ cách bờ biển phía nam của châu Âu có 3 nghìn dặm Do vậy, ông lập luận rằng thay cho việc dong buồm vòng qua mũi cực nam của châu Phi để tới châu Á, người ta có thể tới được đó dễ dàng hơn
nếu đi theo lộ trình hướng tây; 2) ông cũng tin rằng lục địa châu Á trải dài sang phía
đông rộng nhiều hơn so với thực tế; và cuối cùng ông không hề biết được rằng có một vùng đất - nói đúng hơn là một lục địa tồn tại giữa hai châu lục châu Âu và châu Á Trong vài năm liền, Columbus đã thúc đẩy một kế hoạch tìm tuyến đường biển đi trực tiếp đến Ấn Độ Do vào lúc đó mọi người đều đã nhận thức được thế giới có hình cầu, nên không một ai nghi ngờ về khả năng thực hiện chuyến thám hiểm trên lý thuyết, tương tự như việc chúng ta ngày nay tin tưởng vào khả năng chinh phục sao Hoả Columbus không chỉ đánh giá quá thấp độ lớn của trái đất so với thực tế, mà ông đã theo Strabo trong việc tuyên bố rằng đại dương khá nông và coi lục địa Á - Âu là một lục địa rộng lớn Có lẽ vì thế mà ý đồ thực hiện một chuyến đi sang châu Á của ông
7
Tên gọi này được hàm ý cho tất cả các vùng đất châu Á, phía đông Suez cũng như các hòn đảo ở vùng Viễn Đông khác như Sumatra, hoặc Nhật Bản mà ở đó Marco Polo đã nói rất nhiều về nguồn châu báu dồi dào trên vùng đất này
Trang 37đã được Nữ hoàng Tây Ban Nha, Isabella chấp nhận Không một ai thời kỳ đó có thể mường tượng đến một lục địa nằm trên tuyến đường sang Ấn Độ và những khó khăn đặt ra cho một người đi biển khi thực hiện một chuyến đi khoảng 10.000 dặm trên một vùng biển rộng lớn cộng với một quãng đường quay về tương tự Và nếu như chuyến
đi thuận buồm xuôi gió vấn đề về hậu cần cũng là một trở ngại
Sở dĩ Columbus thực hiện chuyến đi của mình nhân danh đế quốc Tây Ban Nha
mà không phải Bồ Đào Nha là do: năm 1484 ông đã đề nghị chính quyền Bồ Đào Nha ủng hộ kế hoach này của ông nhưng bị từ chối; trong khi đó chính quyền Tây Ban Nha lại ủng hộ ông dù thời điểm này Tây Ban Nha chưa phải là một cường quốc hàng hải nhưng lại là một quốc gia có đầy tham vọng quyền lực và lòng nhiệt tình
Có lẽ ngoài may mắn còn phải kể đến sự am tường các kiến thức về địa lý và đại dương cùng những kinh nghiệm đi biển trước đây của Columbus đã tạo nên thành công của các chuyến đi của ông sang châu Mỹ Tuy vậy, ông vẫn tin vùng đất này là một phần lãnh thổ của Ấn Độ cho đến tận lúc chết Có lẽ đây cũng là một lý do khiến châu lục mới mà ông khám phá ra không được mang tên ông 8
Phát kiến của Columbus đã mở đường cho quá trình xâm nhập của người châu Âu vào lục địa Bắc Mỹ Một thời kỳ mới của lịch sử thế giới đã bắt đầu Bản thân Columbus trước khi qua đời cũng từng tuyên bố “theo ý nguyện của Chúa, tôi đã dâng cho Nhà Vua và Nữ hoàng một Thế giới khác, một vùng đất mà tại đó, Tây Ban Nha, vốn được coi là một nước nghèo khổ, sẽ trở thành đất nước giầu có hơn bất kỳ nước nào” [145, tr 64]
1.2.2 Mục đích thuộc địa hoá Bắc Mỹ của người châu Âu
Sau phát kiến của Columbus năm 1492 về một “Tân Thế giới”, người châu Âu bắt đầu các chuyến đi khám phá và di dân từ “Cựu Thế giới” sang vùng đất mới này Thật mỉa mai vì khi những người châu Âu đầu tiên đặt chân lên châu lục này họ đã được
8
Ngoài lý do nhầm lẫn lục địa mới tìm thấy với châu Á, một giả thuyết về việc Columbus không được đặt tên cho nhiều vùng lãnh thổ mà ông đặt chân lên ở châu Mỹ còn do những sai lầm trong việc quản lý thuộc địa ở châu Mỹ trong những chuyến công du cuối đời của ông sau đó
Trang 38người Mỹ bản địa đón tiếp với đầy sự cảm thông và chia sẻ Những người Mỹ bản địa này chắc chắn không thể ngờ rằng, chẳng bao lâu sau, không chỉ riêng họ mà toàn bộ nền văn minh của châu Mỹ sẽ biến mất trước sự xâm nhập ngày càng rộng của người châu Âu Ngược lại, họ đã coi các vị khách “mới đến” này là những người kỳ lạ, phi thường không chỉ vì những gì họ khoác trên người, những chiến hạm to lớn mà cả những kỹ thuật mới lạ, ví dụ như súng bắn đạn nổ mà trước đó họ chưa từng thấy trên vùng đất của mình [149, tr 19] Người Aztec đã tin Hernando Cortes ứng với một vị thần cứu tinh theo những tiên lượng trong thần giáo của họ Người Mỹ bản địa chưa
có cảm giác là mình bị tước mất đất, vì vùng đất họ sinh ra và lớn lên quá mênh mông, dân cư của họ lại thưa thớt, vả lại người di cư mới tới chỉ ở loanh quanh phía
bờ biển và cửa sông Họ đã chào đón những người dân định cư mới này với lòng mến khách và đã sẵn sàng giúp đỡ người mới đến về kỹ thuật gieo trồng lẫn thực phẩm Tuy vậy, chỉ một thời gian ngắn sau khi người châu Âu xuất hiện, người bản địa đã nhận thức được những tổn thất mà họ phải gánh chịu Một sự thật xảy ra trước mắt họ
là số lượng người di dân ngày càng tăng Những người này tiến sâu vào lục địa, xây dựng các làng xóm định cư và thực hiện công việc trồng trọt trên vùng đất vốn là của người bản địa Vùng đất săn bắn và gieo trồng của những thổ dân da đỏ ngày càng bị thu hẹp Các phản ứng tự vệ có tính chất tự phát, đôi khi đơn lẻ, đôi khi có tính tập thể của người bản địa đã xuất hiện Để đè bẹp người bản địa, hàng loạt cuộc tàn sát người
Mỹ bản địa đã được tiến hành một cách tàn khốc Chiến tranh Pequot và vụ thảm sát tại Mystic năm 1637 (vùng đất ngày nay thuộc Connecticut) là những hình ảnh tiêu biểu cho các cuộc xung đột vũ trang giữa thực dân Anh và những người thổ dân Những người xâm chiếm từ châu Âu, mặc dù được chính quốc ân chiếu cho phép
sử dụng và làm chủ vùng đất mà họ chiếm đoạt nhưng họ không thể phủ nhận sự tồn tại của người dân đã có mặt ở vùng đất này Do vậy, một phần để xoa dịu dư luận tại chính quốc, một phần nhằm hợp lý hoá sự chiếm đóng của mình họ đã tìm cách tiến hành ký kết một loạt giấy tờ, văn kiện chuyển nhượng với người bản địa Nhưng dù có
ký, hoặc dùng ký tự nào viết lên trên các văn bản đó, những người thổ dân này cũng
Trang 39không thể hiểu tường tận được nội dung của chúng Một điều chắc chắn rằng, vào thế
kỷ XV và XVI khi người châu Âu thực hiện các chuyến di dân sang vùng Tân Thế giới, khái niệm chuyển nhượng và sở hữu đất đai còn quá xa vời với những người dân chất phác và đang sống một cuộc sống có phần hoang dã Điều duy nhất mà họ có thể nhận thức được đó là tham vọng có được quyền sử dụng đất của những người “bạn mới” Ví dụ trong trường hợp của Hà Lan: do tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của nước này trên vùng đất Bắc Mỹ không dựa được trên cơ sở từ các cuộc thám hiểm trước đó hoặc trong tuyên bố của Giáo hội nên họ đã đưa ra sáng kiến tiến hành hợp pháp hoá các lãnh thổ này bằng cách mua quyền sử dụng đất từ thổ dân với giá rẻ mạt Chẳng hạn, Peter Minuet đã đưa cho dân bản địa một số hàng hoá trị giá khoảng 24 đô la để đổi lấy quyền sở hữu rộng lớn khoảng 22 nghìn mẫu Anh [88, tr 20]
Tuy nhiên, chính sự thiếu thống nhất của người Mỹ bản địa đã tạo điều kiện thuận lợi cho những kẻ xâm chiếm từ châu Âu vốn là những cường quốc hàng hải Những người châu Âu ở thế kỷ XVI và XVII có đầy đủ quyết tâm để thực hiện các cuộc viễn chinh của mình Người Mỹ bản địa không có khả năng nào khác ngoài việc tự vệ ở mức thấp, theo từng bộ tộc riêng rẽ và cho dù nỗ lực họ có khá lớn nhưng đều không giành được kết quả Chỉ có những vùng hẻo lánh như Andes hoặc Amazon, Panama là những khu vực người châu Âu không thể xâm phạm hay người bản địa ít nhiều có khả năng tự vệ mãnh liệt thì nền văn minh bản địa vẫn để lại dấu ấn trong giai đoạn sau này
Người châu Âu đến “Tân Thế giới” với nhiều mục đích khác nhau: kinh tế, lập quê hương mới, truyền bá tôn giáo và tín ngưỡng của họ là đạo Thiên chúa và Tin lành
Bao trùm lên tất cả có lẽ là mục đích kinh tế Tham vọng làm giàu và tích luỹ của cải
để đảm bảo cho một cuộc sống sung sướng lâu dài đã thấm sâu trong tiềm thức, suy nghĩ và chi phối các hành động của họ Vì vậy, nhà kinh tế học người Anh Adam Smith, một trong số những người đầu tiên ủng hộ lý thuyết hiện đại hoá, đã đánh giá một cách phiến diện rằng người Tây Ban Nha, xét trên nhiều phương diện, thuộc đẳng cấp cao hơn người Mỹ bản địa do những thổ dân da đỏ không thể hiện lòng tham và
Trang 40ham muốn của cải - là những động cơ cơ bản thúc đẩy con người lao động và mưu sinh - nên họ không thể nào có khả năng sống tự do và có được những thứ thiết yếu cho cuộc sống nếu thiếu sự lãnh đạo của người Tây Ban Nha [88, tr 20] Trong thời
kỳ đầu, người châu Âu, cụ thể là người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, sau khi chinh phục các nhà nước bộ tộc của người Aztec (1520) và Inca (vào năm 1535) đã chở vô
số vàng bạc châu báu chiếm đoạt được về nước mình Tính đến năm 1550, vương triều Tây Ban Nha đã kiểm soát một đế chế rộng lớn và giàu có nhất mà châu Âu chưa từng biết đến Tuy vậy, một số nước châu Âu khác đã không tiến hành các cuộc chinh phục đất đai tương tự như Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong giai đoạn này mà họ lại chú trọng đến việc làm giàu bằng cách khai thác cá, buôn bán và trao đổi hàng hoá đem từ châu Âu sang với thổ dân ở Bắc Mỹ để đổi lấy da và lông thú - một mặt hàng rất được ưa chuộng ở châu Âu Chẳng hạn tới năm 1570, có hơn 350 tàu đánh cá đã khai thác vùng bờ biển giàu có của Newfoundland [149, tr 20]
Trong quá trình khai phá vùng đất mới, các xí nghiệp của người châu Âu đều phải dựa vào lao động bản địa Tại nhiều nơi, người Mỹ bản địa đã bị biến thành nô lệ Tuy vậy, do lực lượng lao động từ người bản địa suy giảm bởi hậu quả của nạn dịch bệnh
và chế độ đối xử tàn bạo, vào đầu thế kỷ XVI người châu Âu đã bắt đầu phải nhập nô
lệ từ châu Phi Chính việc trao đổi buôn bán nô lệ da đen hết sức dã man này - một điều nằm ngoài dự tính ban đầu của các nhà thực dân châu Âu - đã đem lại nguồn lợi khổng lồ không thua kém gì việc buôn bán các mặt hàng khác từ châu Mỹ đối với nhiều nhà buôn người của Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Hà Lan
Khai phá vùng lãnh thổ mới Bắc Mỹ và biến nơi đây thành quê hương mới của mình là một trong những mục đích quan trọng của nhiều người châu Âu từ cuối thế kỷ
XVI Những biến đổi trong lòng châu Âu, nhất là ở Anh dẫn đến việc tăng dân số nhanh chóng ở châu Âu Bên cạnh đó, nạn thất nghiệp gia tăng ở các thành phố lớn do
có quá nhiều người rời bỏ nông thôn lên thành thị tìm việc làm nhằm thoát khỏi cuộc sống khắc khổ ở nông thôn và mưu cầu một cuộc sống tốt hơn Điều này kết hợp thêm