Thực hiện chủ trương trên, xã Phù Lưu Tế thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây là một trong những xã điển hình của huyện trong công tác dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất có hiệu quả, với sự
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-
PHẠM TÔ HUYỀN
QUÁ TRÌNH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
VÀ TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT Ở XÃ PHÙ LƯU TẾ HUYỆN MỸ ĐỨC, TỈNH HÀ TÂY (1993 – 2008)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-
PHẠM TÔ HUYỀN
QUÁ TRÌNH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
VÀ TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT Ở XÃ PHÙ LƯU TẾ HUYỆN MỸ ĐỨC, TỈNH HÀ TÂY (1993 – 2008)
CHUYÊN NGÀNH LI ̣CH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 602254
LUẬN VĂN THẠC SĨ LI ̣CH SỬ
Người hướng dẫn khoa ho ̣c: PGS.TS TRƯƠNG THỊ TIẾN
HÀ NỘI – 2010
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……… 1 NỘI DUNG……… 9 CHƯƠNG 1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thực trạng sử
dụng ruộng đất tại xã trước năm 1993 …… 9 1.1 Điều kiện tự nhiên……… 9 1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội……… 14 1.3 Cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp và thực trạng sử dụng
ruộng đất trong xã trước năm 1993……… 16 CHƯƠNG 2 Quá trình dồn điền, đổi thửa và tích tụ ruộng đất trong những năm 1993 – 2008……… 32 2.1 Tập trung giao quyền sử dụng đất cho các hộ nông dân
(1993 – 2003)……… 32 2.2 Đẩy mạnh thực hiện chủ trương dồn điền, đổi thửa
(2003 – 2005)……… 37 2.3 Hoàn thành dồn điền, đổi thửa và xu hướng tích tụ ruộng đất
(2005 – 2008)……… 56 CHƯƠNG 3 Tác động của quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ
ruộng đất đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở xã Phù Lưu Tế 69 3.1 Tác động đến tình hình kinh tế……….69 3.2 Tác động đến tình hình xã hội……… 97 3.3 Một số vấn đề nảy sinh và kiến nghị phương hướng giải quyết 101 KẾT LUẬN ……… ……… 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 116 PHỤ LỤC 120
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Cơ cấu các loại đất năm 2008 13
Bảng 1.2 Cơ cấu thu nhập bình quân đầu người của xã viên Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Phù Lưu Tế……… 18
Bảng 2.1 Kết quả dồn điền đổi thửa 2006 – 2007 61
Bảng 2.2 Thành phần tích tụ ruộng đất 65
Bảng 3.1 Quy hoa ̣ch diê ̣n tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng – vâ ̣t nuôi đến năm 2010 73
Bảng 3.2 Mục tiêu phát triển đàn vật nuôi đến năm 2010 74
Bảng 3.3 Diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng 75
Bảng 3.4 Kết quả chuyển đổi cơ cấu đàn vật nuôi 76
Bảng 3.5 Hiệu quả kinh tế của trang trại so với nông hộ 86
Bảng 3.6 Số lượng người đã chuyển đổi nghề trong 5 năm (2003 – 2008) 98
Bảng 3.7.So sánh thu nhâ ̣p của các hô ̣ trước và sau dồn điền đổi thửa 101 Bảng 3.8: Ý kiến đánh giá về hệ quả của tích tụ ruộng đất 102
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ruộng đất - tư liệu sản xuất quan trọng, thứ tài sản quý giá của
cư dân nông nghiệp Ở Việt Nam, tuyệt đại đa số cư dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, cho nên ruộng đất càng trở nên quan trọng và quý giá
Sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Chính phủ rất quan tâm đến vấn đề ruộng đất và từng bước có những chính sách nhằm đem lại quyền lợi về ruộng đất cho nông dân, bồi dưỡng sức dân, khuyến khích nông dân hăng hái đóng góp nhanh nhất, nhiều nhất sức người, sức của cho cuộc kháng chiến, làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1954)
Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Đảng chủ trương tiến hành tập thể hoá nông nghiệp Theo đó, toàn bộ miền Bắc Việt Nam nói chung và tỉnh Hà Tây nói riêng, hầu hết ruộng đất cũng như các hoạt động sản xuất nông nghiệp đều được tập thể hoá và đặt dưới sự quản lý của hợp tác xã Trong quá trình tập thể hoá nông nghiệp, bên cạnh những mặt tích cực, mô hình tập thể hóa đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế, nhất là khâu quản lý và tổ chức sản xuất Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho năng suất và sản lượng nông nghiệp của tỉnh nói chung và Phù Lưu Tế nói riêng chưa cao, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn
Tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI được triệu tập tại
Hà Nội Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Kể từ đó, nền kinh tế nói chung và nền kinh tế nông nghiệp nước ta nói riêng đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ với mức tăng trưởng hàng năm luôn ở mức cao Một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp
Trang 6ở nước ta trong những năm qua bắt nguồn từ chính sách đổi mới trong quan
hệ sở hữu và sử dụng ruộng đất
Trước yêu cầu đổi mới và để tiếp tục phát triển kinh tế nông nghiệp, ngày 5/4/1988, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (Khoá VI) về Đổi mới quản lý nông nghiệp đã ra đời Theo đó, ruộng đất vẫn thuộc sở hữu tập thể nhưng người nông dân được giao khoán ruộng đất ổn định, lâu dài tuỳ theo loại cây canh tác Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã thực sự tạo động lực cho sự phát triển kinh tế nông thôn, nhanh chóng đưa nước ta từ nước nhập khẩu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Thái Lan) Tuy nhiên, trong tình hình mới, khi đất nước đang đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa để hội nhập thì Khoán 10 đã bộc lộ những hạn chế cần phải điều chỉnh Một trong những hạn chế đó là tình trạng manh mún
về ruộng đất đã gây khó khăn cho quá trình tập trung sản xuất
Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam có chủ trương lớn
là thực hiện đồn điển đổi thửa, dưới tên gọi “dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn”, khuyến khích tích tụ ruộng đất với mục đích nhằm khắc phục tình trạng manh mún về ruộng đất và tạo điều kiện cho sự hình thành những vùng chuyên canh lớn
Thực hiện chủ trương trên, xã Phù Lưu Tế (thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh
Hà Tây) là một trong những xã điển hình của huyện trong công tác dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất có hiệu quả, với sự xuất hiện ngày càng nhiều những trang trại với các mô hình khác nhau, làm thay đổi bộ mặt và đời sống của nhân dân trong xã Đương nhiên, thực hiện đổi mới chính sách ruộng đất
ở xã Phù Lưu Tế cũng như các địa phương khác trong cả nước là một quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm Vì vậy, nghiên cứu quá trình này sẽ góp phần tổng kết những thành công và hạn chế, những mặt làm được và cả nhưng mặt chưa làm được, đồng thời phát hiện những vấn đề đang nảy sinh đòi hỏi
Trang 7phải giải quyết Từ đó, giúp cho các nhà quản lý tiếp tục vận dụng sáng tạo chính sách ruộng đất của Đảng vào tình hình thực tế của địa phương, tạo thuận lợi để nông dân sử dụng đất đai một cách có hiệu quả nhất
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất ở xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Tây
trị Quốc gia, Hà Nội, 2001
Bên cạnh đó, cũng có những công trình nghiên cứu riêng về vấn đề
ruộng đất như: “Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay” của Trần Thị Minh Châu, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007; “Vấn đề sở hữu và
sử dụng ruộng đất trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam” của Hoàng Việt (Chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999; “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam”, của PGS.TS Trương
Thị Tiến, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999
Trang 8Ngoài ra, còn có nhiều bài viết trên các Tạp chí như: “Đổi mới chính sách ruộng đất ở Việt nam và vấn đề ruộng đất của kinh tế hộ nông dân” của PGS.TS Trương Thị Tiến, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5, năm 2004; “Thị trường đất nông nghiệp ở Việt Nam Thực trạng và các kiến nghị về chính sách” của Đỗ Kim Chung, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 1(260), Tháng 1/2008; “Một số vấn đề ruộng đất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp” của Nguyễn Điền, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 238, Tháng 3/1998; “Mấy suy nghĩ về nông thôn đồng bằng Bắc Bộ từ góc độ sở hữu” của Trương Hữu Quýnh, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4, năm 1993;
“Những biện pháp tích cực nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng đồng bằng sông Hồng” của Vũ Phạm Quyết Thắng, Tạp chí nghiên cứu
kinh tế, số 215, Tháng 4/1996…
Riêng vấn đề ruộng đất ở xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây (1993 - 2008) thì mới chỉ được trình bày một cách sơ lược ở các công trình
“Lịch sử Đảng bộ huyện Mỹ Đức”, Xuất bản 2008; “Lịch sử Đảng bộ xã Phù Lưu Tế”, Xuất bản năm 2009; “Mỹ Đức trên đường đổi mới”, Xuất bản năm
có phương hướng và phương pháp tiếp cận để tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn
đề mà tôi đặt ra
Trang 93 Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình dồn điền đổi thửa và tích
tụ ruộng đất của địa phương
Đánh giá thực trạng tích tụ ruộng đất của xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây trong bối cảnh kinh tế xã hội của cả nước, có so sánh với hiệu quả kinh tế của những hộ không tích tụ ruộng đất, từ đó rút ra nhận định
về những thành tựu, hạn chế và tiềm năng phát triển
Tìm hiểu những tác động của tích tụ ruộng đất đến tình hình kinh tế, xã hội của địa phương, như: phương thức canh tác có gì thay đổi, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sự phát triển của mô hình kinh tế trang trại, sự biến đổi về mặt xã hội
Trên cơ sở quá trình nghiên cứu thực tiễn, đưa ra những kiến nghị, đề xuất các giải pháp để tích tụ ruộng đất thực sự có hiệu quả
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu, là quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: vấn đề ruộng đất là một vấn đề rộng, liên quan đến nhiều mặt Trong giới hạn luận văn này, tôi tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản sau:
Khái quát tình hình sở hữu và sử dụng ruộng đất của xã Phù Lưu Tế trước năm 1993, (chủ yếu là những chuyển biến về tình hình sử dụng ruộng đất trong quá trình thực hiện Khoán 100 và Khoán 10)
Trang 10Quá trình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa, và xu hướng tích tụ ruộng đất của địa phương, đồng thời tìm hiểu tác động của chính sách dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở xã Phù Lưu Tế
Phạm vi địa bàn được nghiên cứu của luận văn là toàn bộ xã Phù Lưu
Tế hiện nay
Phạm vi thời gian được nghiên cứu của luận văn là từ năm 1993 đến năm 2008
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu
Luận văn đã tham khảo các nguồn tài liệu sau:
Tài liệu điền dã: để tìm hiểu thực tế các vấn đề có liên quan đến ruộng đất trong thời kỳ này cũng như để nắm được một số vấn đề mà các tài liệu lưu trữ không nói rõ hoặc các tư liệu mâu thuẫn, tôi đã đi thực tế về xã Phù Lưu
Tế, gặp gỡ những cán bộ địa phương, nhân dân địa phương, đặc biệt là những người cao tuổi, nhân chứng lịch sử để bổ sung, thẩm định lại các vấn đề đang nghiên cứu có trong tài liệu lưu trữ
Luận văn còn kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan từ trước đến nay
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về vấn đề nông nghiệp, nông thôn
Các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới
Tài liệu lưu trữ: các báo cáo về tình hình ruộng đất, niên giám thống
kê, tổng kiểm kê đất đai hiện đang lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia, Thư viện tỉnh Hà Tây, Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức, Ban Tuyên giáo huyện ủy
Trang 11Mỹ Đức, Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Mỹ Đức, Ủy ban nhân dân
và Đảng ủy xã Phù Lưu Tế
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic là chủ yếu Do đó, các khía cạnh liên quan đến vấn đề ruộng đất ở địa bàn và thời điểm được nghiên cứu, được đánh giá dựa trên quan điểm lịch sử cụ thể
Luận văn cũng sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh lịch sử Trong đó việc phân tích các số liệu thống kê, các Báo cáo tổng kết được coi trọng
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp điền dã Đặc thù của đề tài là sử dụng các nguồn tư liệu chính là các Báo cáo và số liệu thống kê nên nhiều chỗ cần làm rõ Vì vậy, tôi đã tiến hành khảo sát thực địa một số nơi để sưu tầm tư liệu mà các Báo cáo, các số liệu thống kê không phản ánh đầy đủ
5 Đóng góp của Luận văn
Dựng lại quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất của địa phương
Phân tích tác động của quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Từ kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần khẳng định: tích tụ ruộng đất là xu hướng tất yếu của một nền kinh tế sản xuất hàng hóa Vấn đề là cần phải có giải pháp để phát huy những mặt tích cực của quá trình tích tụ ruộng đất đồng thời khắc phục những hạn chế của quá trình này
Trang 12Cung cấp thêm cơ sở khoa học, giúp cho các nhà quản lý tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ trương đổi mới chính sách ruộng đất vào tình hình thực tế của địa phương
6 Cấu trúc của Luận văn
Luận văn gồm ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung gồm ba chương:
Chương 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thực trạng sử dụng ruộng đất tại xã trước năm 1993
Chương 2: Quá trình dồn điền, đổi thửa và tích tụ ruộng đất trong những năm 1993 - 2008
Chương 3: Tác động của quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở xã Phù Lưu Tế
Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, THỰC TRẠNG
SỬ DỤNG RUỘNG ĐẤT TẠI XÃ TRƯỚC NĂM 1993
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Phù Lưu Tế là một xã thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây1
Xã có ba thôn nối tiếp nhau trải dài bên hữu ngạn sông Đáy, người dân quen gọi với cái tên là thôn Thượng, thôn Trung và thôn Hạ, với chiều dài chừng 5km, bề ngang chỗ hẹp nhất là 1,2 km, chỗ rộng nhất tới 2 km Phía Đông sát dòng sông Đáy, đối diện với xã Hoà Xá, nơi có nghề dệt cổ truyền và là quê hương của bài hát “Chiếc gậy Trường Sơn” Việc giao lưu giữa hai xã từ thế hệ này sang thế hệ khác rất thân tình tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp giữa Phù Lưu Tế với Hòa Xá Phía Tây, qua các cánh đồng của địa phương có các thôn Thượng và Hạ Quất thuộc xã Hợp Tiến, xa hơn là dãy Hương Sơn chạy dọc theo phía tây huyện Mỹ Đức từ Đồng Tâm tới Hương Sơn rồi nối dài với dải Trường Sơn hùng vĩ Phía Bắc tiếp giáp với xã Phùng Xá và một phần tiếp giáp với xã Xuy Xá (trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ba
xã Phù Lưu Tế - Phùng Xá - Xuy Xá hợp nhất thành một xã lấy tên là Tam Đức) Còn phía Nam tiếp giáp với thị trấn Tế Tiêu (giờ là thị trấn Đại Nghĩa), một đầu mối giao thông quan trọng của huyện Mỹ Đức
Từ lâu, Phù Lưu Tế đã là trung tâm của Mỹ Đức, ngã ba thôn Trung là nơi hội tụ các nẻo đường từ phía Bắc và phía Nam huyện đổ về Tại đó, có chợ trung tâm là nơi trao đổi hàng hóa, nông sản ở địa phương Chợ tuy nhỏ, hàng hóa không nhiều, song đáp ứng được một phần nhu cầu đời sống của
Trang 14
nhân dân địa phương, đó là chợ Phù Lưu Tế Cùng với đường bộ là đường thủy, việc ngược xuôi theo dòng sông Đáy rất thuận tiện, cuối xã có một dòng chảy nhỏ, gọi là ngòi Ngánh nối sông Đáy với sông Thanh Hà chạy theo ven núi Với hệ thống đường bộ, đường thủy tạo cho Phù Lưu Tế giao lưu với các nơi trong huyện, tỉnh và xa hơn ngày càng thuận tiện
Với vị trí địa lý như trên, Phù Lưu Tế có điều kiện tương đối thuận lợi trong việc tiếp cận với các trung tâm kinh tế và thị trường trong và ngoài huyện, như: thị trấn Tế Tiêu, thị xã Hà Đông, thủ đô Hà Nội, khu công nghệ cao Hòa Lạc và chuỗi đô thị mới Xuân Mai - Miếu Môn - Hòa Lạc - Sơn Tây Phù Lưu Tế trong tương lai sẽ góp phần to lớn cùng với các xã khác trong huyện Mỹ Đức có vai trò quan trọng trong việc cung cấp rau, thực phẩm chất lượng cao, hoa, cây cảnh … cho các thị trường lớn này
Vị trí địa lý cũng tạo tiềm năng cho Phù Lưu Tế phát triển du lịch, điển hình là du lịch sinh thái cuối tuần kết hợp với mô hình trang trại quy mô lớn Đây là đặc điểm mà chính quyền và nhân dân xã Phù Lưu Tế đặc biệt chú ý trong quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong giai đoạn tới
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Phù Lưu Tế nói riêng, Mỹ Đức nói chung nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhưng cũng là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi Huyện có hai dạng địa hình chính:
Địa hình núi đá xen kẽ với các khu vực úng trũng bao gồm 10 xã phía Tây huyện
Xã Phù Lưu Tế nằm trong số 12 xã, thị trấn ven sông Đáy Địa hình khá bằng phẳng và hơi dốc theo hướng từ Đông sang Tây, rất thuận lợi cho việc xây dựng công trình thủy lợi tự chảy dùng nguồn nước sông Đáy tưới cho các cánh đồng lúa thâm canh Độ cao địa hình trung bình dao động trong
Trang 15khoảng từ 3,8 m đến 7 m so với mực nước biển Trong khu vực cũng có nhiều điểm trũng tạo thành các hồ, đầm nhỏ thuận lợi cho việc chăn, thả thủy sản
Với địa hình như trên, Phù Lưu Tế là một trong những xã trong huyện
có điều kiện rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp
1.1.3 Khí hậu, thời tiết
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm ở đây được chia thành bốn mùa khá rõ rệt với các đặc trưng khí hậu như sau:
Nhiệt độ không khí: bình quân năm là 23,1oC, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình là 13,6oC (vào tháng 1) Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7), trên 33,2oC Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến trước tháng 3 năm sau, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10
Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.630,6 giờ, năm cao nhất là 1.700 giờ, năm thấp nhất là 1.460 giờ
Lượng mưa bình quân năm là 1.520,7 mm, phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 336,1 mm Mùa khô từ cuối tháng
10 đến tháng 3 năm sau, tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 chỉ có 17,5 - 23,2 mm
Sương muối hầu như không có, mưa đá rất ít xảy ra Thông thường cứ
10 năm mới quan sát thấy mưa đá một lần
Như vậy, Phù Lưu Tế có điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng trọt, chăn nuôi và mở mang thêm các ngành kinh tế khác như dịch vụ, tiểu thủ công…
Trang 161.1.4 Thủy văn
Chế độ mưa theo mùa ảnh hưởng rõ nét đến chế độ thủy văn của các sông chính trong khu vực, đặc biệt là sông Đáy Hệ thống sông Đáy là một phân lưu của sông Hồng, phần sông chảy qua địa phận xã Phù Lưu Tế khá dài Độ uốn khúc của sông lớn, sông bị bồi lấp mạnh Về mùa khô, nhiều đoạn sông chỉ như một lạch nhỏ Tuy nhiên, lưu lượng đủ cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
Xã Phù Lưu Tế nói riêng, huyện Mỹ Đức nói chung, nằm trong vùng phân lũ của Hà Nội, vì vậy quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp luôn phải tính đến yếu tố này để bố trí thời vụ hợp lý
1.1.5 Tài nguyên đất
Với vị trí địa lý như đã trình bày trong phần 1, xã Phù Lưu Tế chủ yếu
là các loại đất sau:
Đất phù sa được bồi đắp hàng năm: phân bố chủ yếu ở địa hình ngoài
đê dọc theo sông Đáy Đây là loại đất tốt, có độ phì thực tế cao, thích hợp với phần lớn các loại cây màu và cây ngắn ngày như mía, đậu đỗ, lạc, dâu
Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm: chiếm diện tích nhiều hơn, phân bố ở địa hình phía trong đê Do nằm ở vị trí phía trong đê, từ lâu không được bổ sung phù sa mới, hình thái phẫu diện đã có sự phân hóa, những nơi canh tác lâu năm đã hình thành nên tầng đế dày, đất thường có màu sắc từ nâu sẫm đến nâu nhạt Loại đất này phần lớn diện tích đã được khai thác trồng lúa nước hai vụ, một phần diện tích trồng các loại cây cạn ngắn ngày như ngô, khoai lang, mía, đậu đỗ…
Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 651,44 ha, chiếm tỷ lệ 2,83 % tổng diện tích đất tự nhiên của cả huyện, trong đó cơ cấu các loại đất được phân bổ như sau:
Trang 17Bảng 1.1: Cơ cấu các loại đất năm 2008
(ha)
Tỷ lệ (%)
68,21 67,72 67,46 61,63 5,83 0,27 0,49
2.3.Đất tôn giáo, tín ngưỡng
2.4.Đất nghĩa trang, nghĩa địa
2.4.Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng
207,10 56,72 116,85 2,72 0,51 7,81 105,81 0,18 8,90 24,45
31,79 8,71 17,94 0,42 0,08 1,20 16,24 0,03 1,37 3,75
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Mỹ Đức, năm 2008
Căn cứ vào bảng số liệu trên ta thấy, đất nông nghiệp chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên của xã, trong đó chủ yếu là đất trồng lúa, các loại đất trồng màu, trồng dâu và trồng cây ăn quả chiếm tỷ lệ rất nhỏ Căn cứ vào tổng diện tích đất nông nghiệp và số nhân khẩu được chia ruộng là 6.540 khẩu
Trang 18(những người sinh sau ngày 15/10/1993 không được chia ruộng) thì bình quân ruộng đất là 552 m2/khẩu, số liệu này cũng tương đương với các xã khác trong huyện Tuy nhiên, ngược dòng thời gian thì bình quân ruộng đất đã ngày càng giảm đi đáng kể
1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.1 Dân số và lao động
Tính đến 31/12/2008, toàn xã có 1.548 hộ, 7.500 khẩu, với 4.500 lao động, cơ cấu lao động các ngành như sau:
Lao động nông lâm, thủy sản: chiếm 81,49 %
Lao động công nghiệp - xây dựng: chiếm 11,90 %
Lao động thương mại - dịch vụ: chiếm 6,62 %
Với cơ cấu lao động như trên, người dân địa phương chủ yếu làm nông nghiệp, bao đời nay cuộc sống của họ gắn với ruộng đồng, làng xóm Với
60 % dân số trong độ tuổi lao động, trong đó trên 80 % là lao động nông, lâm, thủy sản là một nhân tố thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trên địa bàn của xã cũng có một bộ phận nhỏ dân cư hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, nhưng chủ yếu
là làm thuê và buôn bán nhỏ để có thêm thu nhập cho gia đình, bên cạnh đó
họ vẫn duy trì nghề nghiệp mà cha ông truyền lại - nghề nông Rất ít người trong số đó là chủ các doanh nghiê ̣p công nghiệp hoặc các công ty thương mại, dịch vụ
1.2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng
Giao thông vận tải
Mạng lưới giao thông của xã chủ yếu là đường bộ, cho đến nay đã phát triển đồng đều tới các thôn trong toàn xã, trong đó hệ thống đường liên thôn,
Trang 19liên xã đã được hoàn chỉnh, đặc biệt là hệ thống đường nội đồng được mở rộng, nâng cấp nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc đi lại và sản xuất của nhân dân
Mặc dù nằm ven bờ sông Đáy và có hệ thống kênh tạo thành hệ thống giao thông thủy khá thuận lợi cho phát triển kinh tế, là điều kiện tốt để các phương tiện thủy hoạt động nhưng hiệu quả sử dụng rất thấp do luồng lạch ít được nạo vét và nhu cầu vận tải thủy còn thấp
Thủy lợi
Là một xã thuần nông, lại nằm ven bờ sông Đáy, nên vấn đề thủy lợi được chú trọng Cả xã có một trạm bơm, với ba máy bơm, công suất
3000 m3/h, mục đích hoạt động chủ yếu là tưới cho nông nghiệp Tuy nhiên,
do hệ thống trạm bơm, kênh mương xây dựng đã quá lâu, công suất máy nhỏ, lại thiếu vốn để nâng cấp máy móc, đường điện, nạo vét kênh mương nên chỉ
sử dụng được 80 % công suất
Thông tin liên lạc
Cũng như các xã khác trên địa bàn huyện Mỹ Đức, ngay tại trung tâm của xã có một Điểm bưu điện văn hóa xã, vừa là nơi cung cấp những tài liệu
và sách báo cần thiết cho người dân, vừa là nơi cung cấp những dịch vụ liên lạc cơ bản nhất Đến nay, mật độ máy điện thoại đạt tỷ lệ 0,71 máy/100 dân,
so với các xã phát triển trong huyện thì mật độ này còn thấp
Hệ thống lưới điện
Do có hướng ưu tiên phát triển điện của tỉnh Hà Tây và huyện Mỹ Đức, nên hiện nay trên địa bàn xã có 100 % số thôn, có điện lưới quốc gia, với
100 % số hộ được dùng điện
Trang 201.2.3 Xuất phát điểm của nền kinh tế
Nông lâm nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ đạo của xã, ảnh hưởng đến đời sống của trên 80 % dân số Năm 1993, nông lâm ngư nghiệp còn chiếm 78,4 % trong tổng giá trị sản xuất, công nghiệp và xây dựng chỉ có 15,2 %, thương mại và dịch vụ chiếm 25,8 % tổng giá trị sản xuất Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế diễn ra chậm Trong vòng 5 năm (1990-1995), ngành nông lâm ngư nghiệp chỉ giảm được 3,9 % trong cơ cấu, công nghiệp và xây dựng tăng 1,3 %, thương mại và dịch vụ tăng 2,6 %.(Số liệu ghi chép của bà Trương Th ị Xuyến - Bí thư Đảng ủy xã Phù Lưu Tế )
Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh
tế chung của huyện cũng như của tỉnh
Nhìn chung, xuất phát điểm kinh tế của xã còn ở mức thấp trong khi tiềm năng phát triển khá, đặc biệt là xã có nhiều lợi thế để phát triển sản xuất nông sản hàng hóa chất lượng cao Xã cũng có tiềm năng trong việc phát triển tiểu thủ công nghiệp, các ngành công nghiệp yêu cầu nhiều lao động Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng và tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế những năm gần đây còn chậm nên nguy cơ tụt hậu là hiện hữu nếu xã không có những thay đổi có tính chất đột phá
1.3 Cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp và thực trạng sử dụng ruộng đất trong xã trước năm 1993
1.3.1 Trong như ̃ng năm thực hiê ̣ n mô hình tâ ̣p thể hóa nông nghiê ̣p (1976-1980)
Trong những năm 1976 - 1980, nông thôn nước ta vẫn tiếp tục quá trình tập thể hóa nông nghiệp với hình thức tổ chức sản xuất phổ biến là các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Quy mô của hợp tác xã ngày càng mở rộng Năm
1980, quy mô trung bình của một hợp tác xã là 201 ha ruộng đất và 368 hộ,
Trang 21gấp hai lần năm 1975 và sáu lần năm 1960 Trong các hợp tác xã, ruộng đất thuộc sở hữu tập thể, hợp tác xã trực tiếp quản lý 95% đất canh tác và thực hiện tổ chức phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa kiểu như các xí nghiệp công nghiệp
Mặc dù đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp vẫn tăng (1976: 2,561 tỷ; 1980: 3,08 tỷ) song sản xuất nông nghiệp cả nước nói chung, miền Bắc nói riêng không tăng, trái lại còn bị giảm sút Bình quân lương thực từ 247 kg/người năm 1976, giảm xuống còn 214 kg/người năm 1980 Có thể nói những năm 1976 - 1980, nông nghiệp nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng
Trong bối cảnh trên của cả nước cũng như của khu vực đồng bằng sông Hồng, sản suất nông nghiệp ở xã Phù Lưu Tế cũng không tránh khỏi tình trạng khủng hoảng Là hợp tác xã toàn xã, bao gồm 11 đội sản xuất, cũng như các địa phương khác trong huyện Mỹ Đức, trong giai đoạn từ năm 1976 -
1980, xã Phù Lưu Tế áp dụng các hình thức khoán: khoán việc, ba khoán và khoán sản phẩm cuối cùng đến đội sản xuất cơ bản Mỗi hình thức khoán có những ưu điểm và nhược điểm riêng Nhưng nói chung không tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển Bởi lẽ, sở hữu tập thể về ruộng đất và cách thức quản lý lao động tập trung, phân phối theo công điểm làm cho người nông dân không gắn bó với ruộng đất, không quan tâm tới kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất Điều đó đã dẫn đến thực trạng người nông dân chỉ cần hoàn thành phần việc được giao, còn thửa ruộng đó tốt hay xấu, năng suất cao hay thấp họ không cần biết đến Do đó, dù cấy sâu hay nông, dầy hay thưa, dù
có cấy mạ dập gẫy, mạ lẫn cỏ họ vẫn được ngần ấy điểm Điều hai người đi tát nước cũng vậy, sau một đêm nước ruộng chảy hết không phải tại họ, họ cũng không cần phải đi thăm bờ, đi dận lại những lỗ nẻ, lỗ cua, vì vậy, năng suất lao động thường thấp
Trang 22Trong khi đó , các hoạt động kinh tế của gia đình xã viên lại tập trung trên mảnh đất 5 % mà hợp tác xã giành cho các xã viên sử dụng Về hình thức, đó là các hoạt động lao động phụ và tạo nên bộ phận kinh tế phụ gia đình Song về thực chất, các hoạt động kinh tế được xem là “phụ” đó lại chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng thu nhập, do đó nó tạo điều kiện cho gia đình xã viên cải thiện đời sống và có được sự tích lũy nhất định
Bảng 1.2: Cơ cấu thu nhập bình quân đầu người của xã viên Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Phù Lưu Tế
Đơn vị tính: %
Nguồn thu nhập 1976 1977 1978 1979 1980 1981 Thu nhập từ HTX 34,6 29,1 29,2 24,4 28,5 23,8 Thu nhập từ KTPGĐ 54,5 61,2 61,0 67,1 61,1 64,9
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Mỹ Đức, 1981)
Như vậy, trong khi thu nhập từ kinh tế tập thể Hợp tác xã ngày càng suy giảm, (Năm 1979, năng suất lúa bình quân từ 100 kg/sào, giảm xuống còn 70kg/sào Mức ăn đầu người từ 14,5 kg/tháng năm 1979, giảm xuống còn
6 kg/tháng Đóng góp cho nhà nước từ 300 tấn lương thực năm 1979, giảm xuống 197 tấn năm 1980) [24, 20] thì thu nhập từ kinh tế phụ gia đình ngày một tăng Người xã viên nhận thấy rằng, dù họ có nỗ lực hết mình trên đồng ruộng, cố gắng đạt định mức khoán và vượt khoán Nhưng sau khi trừ đi các khoản chi phí thì phần hiện vật mà xã viên hưởng thụ không đáng kể Vì vậy,
để cải thiện cuộc sống của gia đình, ngoài việc thực hiện phần việc khoán thì các gia đình xã viên đã tìm cách tăng năng suất lao động trên phần đất 5 % đó
và tranh thủ làm các nghề thủ công truyền thống Cụ thể, tại địa phương, quỹ
Trang 23đất 5 % được gọi là ruộng đầu lợn hơi được giao về cho từng đội sản xuất, sau
đó đội sản xuất chia ruộng đất đó cho xã viên theo lao động, với sản lượng khoán là 70 kg/sào, nếu vượt quá sản lượng đó, xã viên được hưởng 100 % Thí dụ: đội sản xuất 5 được giao hơn 5 mẫu ruộng thuộc quỹ đất 5 % tại đồng Vàng, trong hoạt động sản xuất được coi là phụ này, người lao động làm việc hết mình, tận dụng cả lao động phụ tham gia công việc và có trách nhiệm với sản phẩm cuối cùng Kết quả là vụ mùa năm 1980, sản lượng lúa ở đất 5 % đạt 1,3 – 1,5 tạ/sào, trong khi đó sản lượng trên ruộng tập thể chỉ đạt cao nhất
là 70 kg/sào [24,25]
Sự phát triển của kinh tế phụ gia đình cho thấy đó không chỉ đơn thuần tạo ra nguồn bổ sung quan trọng để duy trì cuộc sống mà nó còn mở ra khả năng cải thiện đời sống và có tích lũy nhất định để phát triển kinh tế Kinh tế phụ gia đình phát triển làm thay đổi dần nhu cầu về sức lao động và nhu cầu định hướng, tổ chức quản lý sản xuất trong mỗi gia đình theo hướng các gia đình ngày càng cần có ruộng đất, có sức lao động thuộc phạm vi chi phối của mình hơn, cần có người có năng lực sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện được khát vọng phát triển kinh tế Từ thực trạng trên, đặt ra một yêu cầu cấp thiết là phải cải tiến hình thức khoán để phù hợp với mục tiêu phát triển kinh
tế, đáp ứng nguyện vọng của đại đa số nhân dân
1.3.2 Trong nhƣ ̃ng năm thƣ̣c hiê ̣n khoán theo tinh thần Chỉ thi ̣ 100 CT/TW của Ban Bí thƣ Trung ƣơng
Ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 100 CT/TW về “Khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp” Chỉ thị trên là dấu mốc quan trọng, bước đầu mở ra sự đổi mới nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển Chỉ thị 100 đáp ứng nguyện vọng bấy
Trang 24lâu của người xã viên, khơi dậy trong họ tiềm năng sáng tạo, tính cần cù, ý chí kiên cường của giai cấp nông dân bước vào thời kỳ mới của đất nước
Để thực hiện Chỉ thị 100, Ban thường vụ tỉnh ủy Hà Sơn Bình đã ban hành Nghị quyết về công tác khoán mới Tiếp đó, huyện ủy Mỹ Đức ra Nghị quyết số 22 về thực hiện khoán sản phẩm cây lúa đến nhóm và người lao động Ở thời điểm khẩn trương triển khai vụ gieo cấy lúa xuân và chăm bón các cây trồng khác, Đảng bộ và nhân dân Phù Lưu Tế vừa tập trung sức lực cho ruộng, vừa tập trung trí tuệ cho triển khai Nghị quyết 22 của huyện uỷ
Mỹ Đức một cách kịp thời
Ngày 15/3/1981, Ban thường vụ Đảng uỷ xã triệu tập hội nghị toàn Đảng bộ, tại hội trường xã (Đình Hội Đồng), có 98/124 đảng viên về dự Đồng chí Nguyễn Thị Xuân, bí thư Đảng ủy quán triệt Chỉ thị 100, triển khai Nghị quyết của tỉnh ủy, của huyện Mỹ Đức, kế hoạch tổ chức khoán theo Chỉ thị 100 của Đảng bộ, chính quyền và hợp tác xã Toàn thể đại biểu rất phấn khởi trước những cái mới trong công tác quản lý sản xuất nông nghiệp, nhất trí cao với dự thảo phương hướng, kế hoạch, hình thức khoán sản của địa phương Đồng thời quyết tâm thi đua thực hiện tốt chỉ thị, nghị quyết của Đảng
Trên tinh thần quán triệt Nghị quyết của Đảng bộ, Ban quản lý hợp tác
xã nông nghiệp khẩn trương thực hiện việc kiểm kê, kiểm tra, rà soát tình hình ruộng đất, nhân khẩu của toàn xã Phân loại từng cánh đồng, từng lô ruộng, xây dựng phương án giao khoán cho xã viên và xác định những khâu sản xuất do tập thể chịu trách nhiệm
Về vấn đề giao ruộng, hội nghị thảo luận sâu, kỹ và đi đến nhất trí cao
là chia theo lao động của từng gia đình xã viên, mỗi lao động được chia 7- 8 sào Nguyên tắc chỉ giao cho những người hiện có mặt trong gia đình và lấy ruộng đất làm nguồn thu hoạch chính Người mất không lấy ruộng ra Người
Trang 25sinh không cấp giao bổ sung Một yêu cầu mang tính nguyên tắc, là giao khoán cho xã viên tương đối tiện canh, tiện cư tạo thuận lợi cho xã viên chăm sóc và thu hoạch lúa, màu
Trong khâu khoán theo Chỉ thị 100, hợp tác xã, đội sản xuất chịu trách nhiệm 5 khâu: làm đất, bảo đảm nước, phân, giống, phòng trừ sâu bệnh; xã viên chịu trách nhiệm 3 khâu: gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch Cách làm này
ở địa phương cũng giống như các xã khác trong huyện và như phần lớn các hợp tác xã ở khu vực Đồng bằng sông Hồng Ban quản lý hợp tác xã tiếp tục củng cố các đội chuyên, đầu tư kỹ thuật, bảo đảm máy móc, nông cụ chuyên dùng trong nông nghiệp…
Để khuyến khích nông dân tích cực tăng gia sản xuất, hợp tác xã đã thực hiện mức thưởng là 100 % sản lượng vượt khoán cho tất cả những xã viên vượt khoán Vì có sự khuyến khích đó nên mọi người đều muốn vượt khoán, tích cực lao động, đi sớm về muộn, thậm chí ăn cơm trưa tại đồng Xã viên tích cực đầu tư vào thâm canh, bảo đảm năng suất, sản lượng cao và vượt khoán, vượt càng nhiều càng tốt Khi gặp thiên tai, người xã viên tìm mọi cách chống thiên tai, bảo vệ mùa màng, thực hiện các khẩu hiệu của Đảng bộ xã: “Trời làm mùa mất, bắt đất phải đền” nên có nơi dù gặp nhiều thiên tai vẫn được mùa
Để sản xuất đồng đều và để mọi người cùng vượt khoán, các gia đình
xã viên tự đổi công nhằm bổ sung năng lực cho nhau: người thạo cày không thạo cấy, cày giúp người thạo cấy; người thạo cấy không thạo cày, cấy giúp người thạo cày Trong các việc khác, cũng có sự đổi công như vậy Đổi công cho nhau có sự thanh toán sòng phẳng
Những gia đình không nơi nương tựa, nhất là người già và trẻ em sống độc thân, thì được các gia đình khác tận tình giúp đỡ, theo tinh thần tương thân tương ái và dưới sự chỉ đạo của ban chỉ huy đội sản xuất
Trang 26Từ thực hiện Chỉ thị 100, các hoạt động trong hợp tác xã đạt hiệu quả tốt Với không khí thi đua sôi nổi, trong vụ mùa năm 1981 nhân dân tích cực thực hiện chiến dịch “60 ngày đêm thu chiêm làm mùa” do huyện phát động trong các đội sản xuất, chỉ trong thời gian ngắn, hàng trăm mẫu ruộng từ
“Thượng Bồ cắt đến Hạ cõi lim” được cày phơi ải “Khí thế thi đua sản xuất cuốn hút mọi người ra đồng, cuốn hút thêm lao động tham gia hợp tác xã” [24, 54] Những khẩu hiệu “dốc sức ra đồng cấy trồng trước tết” hay “toàn Đảng, toàn dân vui xuân trên đồng ruộng” được thực hiện
Từ thời điểm ngày 16/5/1981, xã Phù Lưu Tế bắt đầu làm nghĩa vụ lương thực: nhập kho ngày đầu 50 tấn, ngày thứ hai 70 tấn, rồi ngày thứ ba
100 tấn và đúng trưa ngày thứ tư là ngày 19/5, kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ, hợp tác xã gặt được 50 % diện tích (nhanh gấp năm, sáu lần mọi năm) và đã hoàn thành nghĩa vụ lương thực vụ chiêm xuân với 260 tấn 905 kg (trong đó,
có 39 tấn trả nợ Nhà nước giúp đỡ lúc giáp hạt), vượt 105 kg so với kế hoạch
và vượt hơn 10 tấn so với vụ chiêm xuân năm ngoái 1115 gia đình có ruộng khoán thì 1106 gia đình vượt mức nghĩa vụ hợp tác xã giao, đã chọn thóc tốt, phơi khô, quạt sạch, nhập kho Nhà nước Những ngày cuối tháng 5, xã Phù Lưu Tế căn bản thu hoạch xong lúa xuân Các đội 1, 2, 4, 5, 6, 9 và đội 11 đều đạt từ 70 đến 85 kg/sào Các gia đình thương binh liệt sỹ, do có chính sách ưu tiên rõ ràng nên hầu hết đều đạt và vượt mức hợp tác xã giao Gia đình ông Bạch Văn Thiết (bố liệt sỹ) được giao 1440m2
thì 720m2 đạt bình quân 100
kg Gia đình ông Lê Văn Đức, cũng là gia đình liệt sỹ neo đơn, được giao 360m2, đạt 90 kg Mức ăn từ 6 kg/tháng tăng lên 14 kg/tháng là chuyện chưa bao giờ có ở xã Phù Lưu Tế, khiến cho xã viên ai cũng hiểu rằng đó là nhờ khoán cây lúa đến người lao động [24, 60]
Thắng lợi trên chứng tỏ Chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã phát huy được tác dụng của nó trong thực tiễn, cải thiện đáng
Trang 27kể điều kiện sống cho nông dân và góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của cả nước về sản xuất nông nghiệp trong năm
1981 thì bình quân lương thực của xã Phù Lưu Tế vẫn còn thấp Căn cứ vào báo cáo việc thực hiện công tác khoán của Bộ Nông nghiệp năm 1981 thì
“nhờ sản xuất phát triển lợi ích của xã viên được nâng lên rõ rệt, đại bộ phận các hộ đã tương đối đủ ăn và có phần lương thực dự trữ, khi chưa khoán sản phẩm chỉ có 10 % số hợp tác xã có mức thu nhập lương thực bình quân đầu người 1 tháng trên 20 kg, còn lại phổ biến là trên 10 kg Năm 1981 đã có
79 % số hợp tác xã có mức thu nhập lương thực bình quân đầu người 1 tháng trên 20 kg, chỉ có 21 % số hợp tác xã dưới 20 kg” [6, 12]
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng sau Khoán 100 mức lương thực bình quân đầu người ở Phù Lưu Tế vẫn thuộc vào loại thấp so với các địa phương khác trong cả nước là do mức khoán sản phẩm chưa hợp lý,
70 kg/sào là sản lượng cao nhất của vài năm trước khi thực hiện khoán 100, vậy mà ngay trong năm đầu tiên thực hiện khoán 100 Hợp tác xã lại định ngay mức khoán cao nên dù xã viên tích cực lao động, sản lượng cao hơn so với năm 1979, 1980 thì sản lượng vượt khoán cũng không đáng kể Để khắc phục được tình trạng trên, từ năm 1982 Đảng ủy và UBND xã Phù Lưu Tế đã xem xét lại mức khoán sản phẩm, đây là vấn đề mới và lớn Nó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất, vì vậy mức khoán sản phẩm lúa xuân và vụ mùa 1982 được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế tình hình nông hóa thổ nhưỡng trên 35 cánh đồng của xã như sau:
Dự kiến kế hoạch đầu năm thực hiện mức khoán vụ xuân 75 kg/sào, vụ mùa 65 kg/sào Sau khi nghiên cứu lại tình hình chất lượng ruộng đất, thực tế thời tiết cũng như trình độ thâm canh của xã viên và công tác đảm bảo vật tư nông nghiệp, Đảng bộ nhất trí chỉnh lại mức khoán sản lượng: vụ chiêm xuân
từ 75 kg/sào xuống 65 kg/sào; vụ mùa từ 65 kg/sào xuống 60 kg/sào (tính
Trang 28bình quân), đồng thời khuyến khích các hộ xã viên đầu tư cho sản xuất Với mức khoán trên, xã viên có thêm động lực để tăng gia sản xuất nhằm đạt được mức vượt khoán cao hơn
Kết quả cho thấy, trong năm 1982, cả hai vụ xuân, vụ mùa có
80 - 85 % hộ gia đình xã viên vượt mức khoán sản lượng Sản lượng bình quân đạt tới 85 - 90 kg/sào, mức lương thực bình quân đầu người đạt 16 kg/tháng, tăng 2 kg so với năm 1981 Với kết quả bước đầu này, trong các năm tiếp theo bà con xã viên thấy phấn khởi, “an cư” “lạc nghiệp”, nhiều gia đình đã tự mua trâu, bò để có thêm sức kéo, thêm nguồn phân chuồng, mua cày bừa và các dụng cụ lao động nông nghiệp khác để chủ động trong khâu làm đất và vận tải trong nông nghiệp Trong những năm sau đó, nhân dân xã Phù Lưu Tế không ngừng nỗ lực, phấn đấu trong lao động sản xuất để đạt được những thành tựu to lớn hơn, phát huy tính đúng đắn của Chỉ thị 100
Như vâ ̣y , viê ̣c thực hiê ̣n Chỉ thi ̣ 100-CT/TW là “Bước đô ̣t phá , mở đường cho quá trình đổi mới quản lý trong các hợp tác xã sản xuất nông
nghiê ̣p Chỉ thị đã hơ ̣p thức hóa hiê ̣n tượng khoán chui của mô ̣t số hợp tác xã , xóa bỏ tình trạng cấp trên ngăn cấm , cấp dưới làm chui về khoán go ̣n từng khâu công viê ̣c cho người lao đô ̣ng chủ đô ̣ng thực hiê ̣n” [53, 40]
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Chỉ thị 100 tại địa phương còn bộc
lộ những hạn chế sau đây:
Tinh thần chung trong lãnh đạo là coi trọng cả hai cây (lúa và dâu), hai con (tằm và lợn), song trong thực tế việc chỉ đạo chưa đồng bộ, nặng về cây lúa, cây màu, chưa thật sự coi trọng cây dâu nên sản lượng kén tằm có chiều hướng giảm
Sản xuất nông nghiệp trong khuôn khổ hợp tác xã có nhiều khâu liên quan chặt chẽ với nhau phụ thuộc vào nhau, khâu trước là tiền đề cho khâu sau phát triển Trong lao động thì mặt bằng sản xuất rộng, lại làm ở ngoài
Trang 29đồng nên càng đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng Song thực tế
có một số khâu chưa bảo đảm chất lượng và tiến độ Chẳng hạn, trong làm đất
có hiện tượng làm ẩu “cày gãi, bừa chùi” Về phân bón, có tình trạng khai khống, làm phân giả (chủ yếu là giả trong phân xanh, phân chuồng) Công tác bảo đảm giống chưa tốt: ngâm ủ mạ không đúng quy trình kỹ thuật dẫn đến thiếu mạ cấy
Việc chia ruộng khoán trên nhiều cánh đồng quá manh mún đã cản trở
sự phát triển của nông nghiệp sản xuất hàng hóa Trên nguyên tắc chia đều, ai cũng có gần, xa, tốt, xấu nên có những gia đình số thửa ruộng lên đến 22 mảnh ở nhiều cánh đồng khác nhau, có mảnh một sào, nửa sào, thậm chí có mảnh chỉ 5 thước (120m2) Như vậy, trong một vụ lúa, để hoàn thành được việc cấy, chăm bón và thu hoạch người xã viên phải mất rất nhiều thời gian để chuyển từ cánh đồng này đến cánh đồng kia Mà khoảng cách không phải nhỏ, có nhiều trường hợp, khoảng cách xa nhất giữa hai mảnh ruộng lên đến 2
km Điều này đã gây mất nhiều thời gian di chuyển giữa các thửa ruộng nên việc đảm bảo đúng tiến độ là rất khó và năng suất không được đồng đều, không cao so với các địa phương khác trong huyện
Bên cạnh đó, việc chia ruộng đất khoán theo lao động dẫn đến tình trạng có hộ xã viên phải nhận quá nhiều ruộng đất, trong khi đó sức lao động thiếu Còn có những gia đình có khả năng lao động thì lại nhận được ít ruộng Bởi vì, lao động được nhận ruộng phải là người từ 18 tuổi trở lên, vì vậy nếu gia đình có 2 vợ chồng và 1 con nhỏ thì phải nhận khoảng 14 sào ruộng và buộc phải sử dụng hết số diện tích đó, dẫn đến hiện tượng làm cố, trong tình trạng thiếu lao động như vậy mà ruộng đất lại manh mún nên năng suất không cao, khó hoàn thành được số sản phẩm khoán Trong khi đó, có gia đình gồm hai vợ chồng và 3 người con khoảng 15 - 17 tuổi thì cũng chỉ nhận được số ruộng đất như gia đình trong ví dụ trước, nhưng gia đình này lại có 3 lao động
Trang 30phụ hoàn toàn có thể tham gia lao động sản xuất mà lại thiếu ruộng đất để canh tác Vấn đề chia ruộng đất chưa hợp lý chính là nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tình trạng năng suất và bình quân lương thực đầu người của địa phương còn thấp so với các địa phương khác trong cả nước
Từ khi chuyển sang thực hiện Chỉ thị 100, kết quả sản xuất và thu nhập của những người nhận khoán có nâng lên rõ rệt, theo đó giá trị ngày công về lương thực của người lao động phổ biến là 1,2 - 1,6 kg/ngày Giá trị trước đây chỉ 1 kg trở xuống, có những trường hợp không được kg nào mà còn nợ hợp tác xã Tuy nhiên, giá trị ngày công phổ biến như trên cũng chỉ mới chiếm
15 - 20 % sản lượng thu hoạch, nơi khá nhất là 25 %, tức là còn rất thấp Tuy vậy, trên địa bàn xã hầu như không có tình trạng xã viên trả lại ruộng khoán
Vì những bất cập trên, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế nông nghiệp nói chung và vấn đề ruộng đất nói riêng
1.3.3 Trong những năm thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị
Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra đường lối đổi mới nhằm xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới về quản lý kinh tế theo phương thức hạch toán kinh doanh, có sự quản lý của Nhà nước nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của các đơn vị
và cá nhân người lao động Đại hội đề ra “Ba chương trình kinh tế” là lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Thực hiện chủ trương trên, chi bộ và các đoàn thể tại địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến “Ba chương trình kinh tế”, nhằm khai thác mọi tiềm năng đất đai, giải phóng năng lực sản xuất, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố sự đoàn kết trong Đảng, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa đảng bộ và nhân dân
Trang 31Bước sang năm 1988, nhân dân ta phấn khởi trước tin vui: Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 10/BCT – TW ngày 5/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Cơ chế khoán sản phẩm tiếp tục được hoàn thiện Từ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, nay theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị chuyển sang “Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm hộ và hộ xã viên, đến người lao động và tổ đội sản xuất, tùy theo điều kiện ngành nghề cụ thể ở từng nơi Trong trồng trọt về cơ bản khoán đến nhóm hộ và hộ xã viên” Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, bổ sung những nội dung quan trọng về quản lý kinh tế mà chỉ thị 100 chưa đề cập tới hoặc chưa làm rõ Ban chấp hành Đảng bộ xã Phù Lưu Tế sau khi quán triệt tinh thần, hướng dẫn của huyện ủy Mỹ Đức đã nhanh chóng tổ chức hội nghị triển khai thực hiện Nghị quyết 10 đến toàn thể cán bộ, đảng viên cùng nhân dân trong xã Với mục đích giúp mọi người nhận thức rõ tình hình sản xuất nông nghiệp của nước nhà những năm trước đây và sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, từ đó có biện pháp giải quyết đúng đắn các mối quan hệ trong sản xuất nhằm tổ chức sản xuất hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao hơn
Trong cuộc họp ngày 20/6/1988, Đảng ủy xã Phù Lưu Tế đề ra một số biện pháp thực hiện cụ thể như sau:
Giữ nguyên hiện trạng ruộng đất ở các đội sản xuất, không xáo trộn
Có hai quỹ đất: quỹ đất 1 tập trung 90 - 95 % quỹ đất canh tác chia theo khẩu hiện có mặt tại xã Theo đó, mỗi khẩu được 1 sào 5 thước Với cách chia này, ruộng đất được phân thành những mảnh với diện tích nhỏ hơn nhằm đảm bảo mỗi nhân khẩu có những phần đất tốt thuận lợi cho sản xuất, và cũng phải nhận những phần đất xấu, ở xa cho công bằng với các hộ xã viên khác
Số đất còn lại gọi là quỹ đất 2, xã dành ra một số ruộng khoán thầu nhằm tăng thêm diện tích cho những gia đình nhiều lao động, giỏi thâm canh
Trang 32để phát triển sản xuất Số ruộng khoán thầu nêu trên còn giúp gia đình công nhân viên chức nhà nước công tác tại địa phương cải thiện đời sống Ngoài ra còn giao cho đoàn thể sản xuất để gây quỹ hoạt động Nhưng số ruộng loại này không để quá 0,5 - 0,7 % tổng diện tích canh tác Đất 5 % trước đây được giữ nguyên hiện trạng Cách làm này có sự tiến bộ hơn so với thời kỳ thực hiện Nghị quyết 100, vì nó khắc phục được tình trạng bất hợp lý trong việc chia ruộng đất Chẳng hạn hộ xã viên có 2 vợ chồng và 3 con trong độ tuổi lao động phụ, nếu như trước đây chỉ có bố mẹ được chia ruộng thì đến nay cả 3 lao động phụ đó đều được chia Gia đình này sẽ có đủ số ruộng đất để canh tác Nếu gia đình này làm ăn giỏi, vẫn có thể làm thêm thì họ xin đấu thầu ruộng đất trong quỹ đất 2 của Hợp tác xã Bên cạnh đó, những gia đình công nhân viên chức sinh sống tại địa phương, nếu có nhu cầu tham gia lao động sản xuất thì họ sẽ được nhận phần ruộng đất khoán thầu, đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống, đảm bảo lương thực cho gia đình trong khi đồng lương còn ít
ỏi
Ổn định ruộng khoán cho hộ xã viên, thực hiện ưu tiên cho các đối tượng chính sách là bố, mẹ liệt sĩ, thương binh và vợ con liệt sĩ
Về sản lượng khoán, tổ chức bình lại sản lượng ở các xứ đồng cho hợp
lý, nhưng không thấp hơn sản lượng hợp tác xã quy định: vụ mùa
70 kg/sào, vụ xuân 80 kg/sào Với mức khoán này, không có gì thay đổi so với các năm trước, trong khi đó nhu cầu về ruộng đất của xã viên về cơ bản đã được đảm bảo, việc giao ruộng khoán ổn định trong thời gian dài khiến cho xã viên phấn khởi, yên tâm đầu tư vào sản xuất Theo sự hướng dẫn của tỉnh ủy
Hà Sơn Bình, hợp tác xã Phù Lưu Tế cùng một số hợp tác xã khác trong huyện đã áp dụng cách khoán mới, đó là khoán bằng đơn giá thay cho khoán bằng công điểm Qua làm thử cho thấy, trong điều kiện sản xuất bình thường,
Trang 33với chi phí vật chất ở mức trung bình, cứ 100 kg thóc của sản lượng khoán, đã hình thành tỷ lệ phân bố cho các khoản như sau:
Theo cách khoán này, kế hoạch sản xuất đi liền với kế hoạch phân phối ngay từ đầu, đồng thời lên kế hoạch giao khoán đi liền với kế hoạch thanh toán, làm cho xã viên thấy trước thành quả lao động của mình sẽ đạt được, trong đó có phần mình được hưởng, coi đó là quyền lợi của mình, và các khoản chi phí mình có trách nhiệm đóng góp, coi đó là nghĩa vụ của mình Điều đó làm cho xã viên tin tưởng hơn và ra sức phấn đấu vượt năng suất, sản lượng khoán
Theo cách khoán mới trên, nhất thiết phải chuyển khoán bằng công điểm sang khoán bằng đơn giá (hiện vật và giá trị) Hiện vật thì lấy thóc làm chuẩn, giá trị thì lấy giá thóc làm chuẩn Giá thóc thì lấy giá thị trường tự do ở thời điểm phân phối mà thanh toán Thanh toán lúc nào, phải theo giá thị trường tự do lúc ấy Vì giá thóc cứ biến động theo chiều hướng đi lên, mà giá
Trang 34cả chưa quản lý được, cho nên buộc phải lấy giá thị trường tự do theo thời điểm thanh toán Tuy nhiên, việc công bố trước, thanh toán sau theo thời giá trước là thiệt cho người lao động
Cách khoán mới trên đây, thường được các tỉnh gọi là “khoán gọn”, nghĩa là khoán gọn theo từng khâu sản xuất, từng khoản chi phí Kế hoạch khoán đến đâu thì đi liền kế hoạch thanh toán gọn đến đấy Khoán gọn như vậy, tuyệt nhiên không phải khoán trắng
Đến năm 1989, sau một năm thực hiện Nghị quyết 10, diện tích cấy lúa hai vụ đạt 1.112 mẫu, năng suất 117 kg/sào Tổng sản lượng lương thực đạt 2.935 tấn, vượt 505 kg/người/năm Xã Phù Lưu Tế nằm trong tốp xã sớm hoàn thành nghĩa vụ lương thực với Nhà nước
Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị
đã bộc lộ những hạn chế như tình trạng manh mún về ruộng đất, sử dụng đất lãng phí, người dân chưa được hưởng những quyền cơ bản trên phần ruộng đất được giao
Tiểu kết
Có thể thấy, từ những năm 70 đến những năm 90 của thế kỷ XX, vấn
đề quản lý và sử dụng đất đai của nước ta không ngừng biến đổi cho phù hợp hơn với thực tế và xu hướng phát triển của thời đại Trong dòng chảy ấy, tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và vấn đề ruộng đất của xã Phù Lưu Tế nói riêng đã có nhiều thay đổi
Trong thời gian từ năm 1976 - 1980, sở hữu tập thể về ruộng đất giữ vai trò chủ đạo, theo đó, hợp tác xã quản lý mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp Trong thời gian này, nhiều hình thức khoán được áp dụng nhưng đều dẫn đến một thực trạng “cha chung không ai khóc”, người dân không có trách nhiệm đến sản phẩm cuối cùng Vì vậy, việc quản lý và sử dụng ruộng đất chưa thực sự hiệu quả
Trang 35Từ năm 1981, chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ghi một dấu mốc quan trọng trong đổi mới cơ chế quản lý và sử dụng đất đai,
mở ra thời kỳ giao khoán ruộng đất cho hộ xã viên Đến thời kỳ này, người nông dân bước đầu ý thức được vai trò chủ thể của mình trên phần ruộng đất được giao Tuy nhiên, với chế độ giao khoán này, người dân vẫn chưa hoàn toàn chủ động trong sản xuất, bên cạnh đó vấn đề ruộng đất manh mún là một trở ngại lớn trong quá trình sản xuất nông nghiệp
Bước vào thời kỳ đổi mới, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10 (1988), giao khoán ruộng đất lâu dài đến nhóm hộ và hộ xã viên Người dân nhìn thấy được quyền lợi của mình một cách cụ thể, vì vậy mà họ hăng hái lao động, sản xuất Điều này đã tạo ra những chuyển biến mới trong nông nghiệp, nông thôn tại địa phương Tuy nhiên, việc chia ruộng đất ở thời kỳ này đã làm cho ruộng đồng bị “băm nát” thành những thửa ruộng nhỏ, không thuận tiện cho người dân trong quá trình lao động, sản xuất
Với những mặt tích cực và hạn chế như trên, đòi hỏi tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và sử dụng đất đai nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Trang 36CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA VÀ TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT
Đối với vấn đề dồn điền, đổi thửa, Hiến pháp cũng quy định cụ thể quyền lợi và nghĩa vụ của người nông dân đối với phần ruộng đất được giao Tuy nhiên, với các hình thức sử dụng ruộng đất trước đây, người nông dân không có quyền trên mảnh đất mà họ sử dụng, bản thân họ không thấy gắn bói với ruộng đất, và tâm lý không yên tâm để đầu tư sản xuất…Để giải quyết những bất cập đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa VII của Đảng (tháng 6/1993) chủ trương hộ nông dân được giao quyền sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Tiếp đó, tháng 7/1993, Quốc hội Việt Nam công bố bộ Luật Đất đai, xác nhận bằng hình thức pháp luật quyền sử dụng đất lâu dài và địa vị chủ thể kinh tế của nông dân, quy định rõ thời hạn sử dụng đất có thể lên đến 50 năm, sau khi hết hạn
có thể được gia hạn thêm Sau đó, Việt Nam lần lượt sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai vào năm 1998 và 2001, công bố Luật Đất đai vào năm 2003, thời hạn
sử dụng đất kéo dài nhất tới 50 năm và hộ nông dân được giao quyền sử dụng
Trang 37đất có thêm 5 quyền nữa: quyền cho thuê lại quyền sử dụng đất, tặng quyền
sử dụng đất, sử dụng quyền sử dụng đất để bảo lãnh, sử dụng quyền sử dụng đất để góp vốn, và quyền được đền bù khi quyền sử dụng đất bị thu hồi
Những nội dung cơ bản trên của Luật Đất đai, so với Chỉ thị CT/TW và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị có một số nét mới sau: quyền hạn của người nông dân đối với đất đai được Nhà nước giao cho đã được thừa nhận và khẳng định Về mặt pháp lý, đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý, trên thực tế người nông dân gần như là chủ sở hữu phần ruộng đất được giao trong một khoảng thời gian nhất định Sự nới rộng các quyền hạn của nông dân đối với ruộng đất và việc thể chế hóa bằng pháp luật
100-đã tạo điều kiện thuận lợi về kinh tế, pháp lý và tâm lý để phát huy các tiềm năng to lớn của kinh tế hộ gia đình
Trong bối cảnh cả nước thực hiện Nghị định 64Cp và Luật đất đai
1993, Tỉnh ủy Hà Tây đã ban hành Kết luận 41 ngày 13/7/1993 và Nghị quyết tại kỳ họp thứ 4 tháng 7/1993 về giao ruộng đất ổn định, lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất đến hộ nông dân
Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII là động lực giúp Đảng
bộ và nhân dân huyện Mỹ Đức tiếp tục vươn lên thu được nhiều kết quả quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là trong việc đổi mới cơ chế quản lý đất đai ở nông thôn Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tây, Ban Thường vụ Huyện
ủy đã tiến hành chỉ đạo triển khai giao ruộng ở tất cả các xã trong toàn huyện 23/23 hợp tác xã nông nghiệp đã hoàn thành việc giao ruộng đất đến từng hộ nông dân, đảm bảo đúng luật, giữ được ổn định và đoàn kết trong nông thôn, tạo một bước chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp
Những chủ trương, chính sách trên đã đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, nhất là người nông dân Mặt khác, những chủ
Trang 38trương, chính sách đó đã “tạo ra cơ sở pháp lý để giải quyết những vấn đề gay gắt về ruộng đất Tinh thần của các văn bản đó đã từng bước cụ thể hoá, thể chế hoá quyền và nghĩa vụ của những người được giao đất Từ quan niệm chung về quyền sở hữu của Nhà nước đối với ruộng đất, dưới cấp tối cao đó
là các doanh nghiệp Nhà nước và các hợp tác xã, đến chỗ thừa nhận cá nhân cũng có thể được giao đất; thừa nhận một phần thành quả lao động trên đất là hàng hoá có thể sang nhượng Có thể nói, những thay đổi về mặt pháp lý, chính sách, chủ trương của Nhà nước, của Đảng ta, trong quan hệ ruộng đất đang thích ứng dần với xu thế phát triển tất yếu của cơ chế thị trường, đó là những căn cứ để uốn nắn những xu thế lệch lạc, những xu thế quá khích dẫn đến làm mất ổn định nền kinh tế, chính trị của Nhà nước, mà vẫn đảm bảo tạo
ra được cơ chế làm tăng hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp” [53, 51] Thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cũng như của Tỉnh uỷ Hà Tây, Huyê ̣n ủy Mỹ Đức làm cho vấn đề quản lý ruộng đất và tình hình sử dụng ruộng đất ở xã Phù Lưu Tế đã có sự chuyển biến lớn
2.1.2 Quá trình tổ chức thực hiện
Từ năm 1993, xã Phù Lưu Tế cũng như các địa phương khác trong cả nước đã bắt tay vào thực hiê ̣n viê ̣c giao ruô ̣ng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hô ̣ nông dân Chính quyền và nhân dân xã Phù Lưu Tế đã thực hiện việc giao ruộng đất có hiệu quả , góp phần vào công cuô ̣c đổi mới chế đô ̣ sở hữu và sử dụng ruô ̣ng đất của nông dân , phát triển nền kinh tế - xã hội địa phương
Nhận thức được đây là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, động chạm đến vấn đề nhạy cảm của nông dân ở nông thôn, nên trong quá trình thực hiện Đảng ủy và Chính quyền xã Phù Lưu Tế luôn thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Tỉnh và Huyện, đồng thời dựa vào đặc điểm riêng
Trang 39của địa phương để thực hiện một cách phù hợp, đảm bảo lợi ích của mọi người dân
Nguyên tắc đầu tiên, là phải tôn trọng diện tích đất đai hiện có của các
hộ xã viên, chính quyền không được tranh thủ cơ hội để thay đổi diện tích đất đai theo ý muốn chủ quan của mình
Nguyên tắc thứ hai, giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đai cho những nhân khẩu sinh từ ngày 15/10/1993 trở về trước, còn những người sinh sau thời gian trên thì không được chia ruộng
Nguyên tắc thứ ba, trong quá trình tiến hành đo đạc diện tích đất đai,
xác minh quyền sử dụng của người dân, cán bộ phải tiến hành công khai, nhanh chóng, chính xác, không được sách nhiễu người dân, không được ỷ quyền, cậy thế để chuộc lợi cho bản thân hoặc cho người thân
Với những nguyên tắc như trên, xã Phù Lưu Tế đã tiến hành giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nông dân trên địa bàn như sau:
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 651,4 ha, trong đó đất nông nghiệp là 438,34 ha, chiếm 67,3 % Diện tích đất giao cho các hộ nông dân sử dụng là 412,36 ha, chiếm 94,1 % diện tích đất nông nghiệp, và chiếm 63,3 % tổng diện tích đất tự nhiên của xã Diện tích đất còn lại trong quỹ đất nông nghiệp là đất chuyển đổi khoảng 29 ha, quỹ đất 5 % (khoảng 57 mẫu 8 sào, nhưng trong thực tế là trên 100 mẫu), do các thế hệ lãnh đạo trước đây của xã
đã để lại diện tích ruộng đất là hơn 10 % chứ không phải 5 % theo đúng quy định
Dân số của xã là 7500 nhân khẩu, 1548 hộ gia đình, trong đó có 6540 nhân khẩu được giao ruộng và có quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chiếm 87,2 %, số còn lại không nằm trong chỉ tiêu được cấp Tất cả các hộ thuộc chỉ tiêu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều đã có giấy chứng nhận, đạt 100 % chỉ tiêu
Trang 40Trong khi đó, theo số liệu thống kê đất đai ngày 01/01/2008, tính trung bình trên cả nước chỉ có 57,88 % diện tích đất nông nghiệp đã được giao cho các hộ gia đình sử dụng; Cả nước đã cấp được 13,99 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với diện tích 7,59 triệu ha, đạt 83,8 % so với diện tích cần cấp Trong đó có 28 tỉnh đạt trên 90 %, 13 tỉnh đạt từ 80 đến 90 %, 9 tỉnh đạt
từ 70 % đến dưới 80 %, 12 tỉnh đạt từ 50 đến 70 %, 2 tỉnh còn lại đạt dưới 50%
So sánh với số liệu trung bình trên cả nước, thì rõ ràng công tác giao quyền sử dụng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã nằm trong nhóm thứ nhất, đạt trên 90 %
Tuy nhiên, trên thực tế ở xã Phù Lưu Tế, người nông dân lại chưa được cầm tấm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Nhà nước cấp, mặc dù chính quyền xã đã nhận đủ số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Huyện Lí giải
về vấn đề này, lãnh đạo xã nói rằng: do vấn đề ruộng đất quá manh mún, nhỏ
lẻ nên chính quyền chưa muốn phát giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân Về phía người dân, khi được hỏi, thì có người cho rằng: việc được Nhà nước giao ruộng đất lâu dài là một điều kiện vô cùng thuận lợi để họ ổn định sản xuất, yên tâm đầu tư Còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là biểu hiện về mặt pháp lý chủ quyền của người nông dân, trước sau gì họ cũng được nhận, nên nhận lúc nào không phải là điều quan trọng Nhưng cũng có người có ý kiến: việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hết sức quan trọng, nhất là trong những trường hợp nhạy cảm, cần phải chứng minh chủ thể
sử dụng của mảnh đất đó, như cho thuê, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp…Vì vậy, trong một thời gian dài khi người dân chưa được cầm mảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nó cũng gây ra những khó khăn nhất định trong quá trình sản xuất, kinh doanh Trong khi đó, nhìn sang các xã khác trên địa bàn huyện, thì hầu hết các xã đều đã hoàn thành việc giao ruộng và cấp