Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn trở thành nhiệm vụ của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học lịch sử, nhằm cung cấp cơ sở khoa họ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng biểu 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
4 Nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu 12
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 13
6 Đóng góp của luận văn 14
7 Kết cấu của luận văn 14
NỘI DUNG Chương 1: Mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa trước 1986 15
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Thanh Hóa 15
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 15
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 17
1.2 Xây dựng và phát triển mô hình hợp tác trong nông nghiệp và nông thôn Thanh Hóa trước đổi mới 19
1.2.1 Trong những năm 1955 - 1957 19
1.2.2 Trong những năm xây dựng mô hình TTH nông nghiệp (1958–1980) 21
1.2.3 Trong những năm bước đầu thực hiện chính sách khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động (1981 – 1986) 35
CHƯƠNG 2: Bước đầu đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa (1986-1996) 43
2.1 Đường lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, chủ trương của Đảng bộ và Chính quyền tỉnh Thanh Hóa (1986 – 1996) 43
Trang 42.2 Quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn
Thanh Hóa (1986 – 1996) 47
2.2.1 Đổi mới mô hình HTXNN 47
2.2.2 Mô hình HTX phi nông nghiệp ở nông thôn Thanh Hóa …………63
2.2.3 Sự hình thành và phát triển của những hình thức tổ chức kinh tế hợp tác mới 64
2.3 Kết quả đổi mới HTXNN, phát triển các hình thức hợp tác ở nông thôn Thanh Hóa (1986 – 1996) 68
2.3.1 Những mặt đạt được 68
2.3.2 Hạn chế 70
Chương 3: Đẩy mạnh đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa (1997 - 2010) 73
3.1 Sự ra đời của Luật Hợp tác xã 73
3.1.1 Sự ra đời của Luật Hợp tác xã năm 1996 73
3.1.2 Sự ra đời của Luật HTX năm 2003 81
3.2 Chuyển đổi Hợp tác xã nông nghiệp theo luật 87
3.2.1 Giải thể HTXNN yếu kém, chuyển đổi HTXNN kiểu cũ sang HTX dịch vụ, thành lập mới HTXNN 87
3.2.2 Nội dung đổi mới HTXNN 93
3.3 Hoạt động của các HTX phi nông nghiệp ở nông thôn Thanh Hóa và các hình thức hợp tác khác 105
3.4 Kết quả đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa 113
3.4.1 Thành tựu 113
3.4.2 Những yếu kém và tồn tại 117
3.4.3 Nguyên nhân 119
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
PHỤ LỤC 133
Trang 5UBND : Ủy ban nhân dân
CNH, HDH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CT/TW : Chỉ thị - Trung ương
ĐVT : Đơn vị tính
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Sự phát triển tổ đổi công ở Thanh Hóa giai đoạn 1955 – 1958 16
Bảng 1.2: Số lượng và quy mô của HTXNN Thanh Hóa năm 1960 - 1965 23
Bảng 1.3: Kết quả sản xuất nông nghiệp những năm 1981 - 1985 34
Bảng 2.1: Số lượng và quy mô HTX năm 1995 so với năm 1988 43
Bảng 2.2: Mức độ hoạt động dịch vụ trước và sau khi tách HTX 44
Bảng: 2.3: Tình hình vốn quỹ của HTX Thanh Hóa năm 1995 so với năm 1988 49
Bảng 2.4: Hoạt động dịch vụ nông nghiệp của các HTX ở Thanh Hóa năm 1996 51
Bảng 2.5: Tình hình cán bộ quản lý HTX năm 1988 và 1995 54
Bảng 2.6: Chất lượng cán bộ HTX năm 1995 so với năm 1988 55
Bảng 2.7: Phân loại HTX Thanh Hóa theo chất lượng 58
Bảng 2.8: Giá trị bằng tiền các khâu HTX dịch vụ/ha 59
Bảng 2.9: Mức độ tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ đổi mới 66
Bảng 3.1: Tình hình giải thể HTX năm 1998 84
Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý HTXNN ở Thanh Hóa 93
Bảng 3.5: Số lượng HTX phi nông nghiệp (tính đến 31/10/2004) 102
Bảng 3.6: Kết quả hoạt động kinh doanh thương mại - dịch vụ của các HTX năm 2000, 2002 và 2004 105
Bảng 3.7: Số tổ, nhóm hợp tác trong những xã có sản xuất nông nghiệp 108
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống và sản xuất, con người không chỉ tác động vào giới tự nhiên mà còn tác động lẫn nhau Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau, sự kết hợp đó tồn tại như một quy luật tất yếu trong mọi hình thái kinh tế - xã hội
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, sự hợp tác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi các lý do: Một là, trong hệ thống các ngành kinh tế, nông nghiệp là ngành bị chi phối nhiều nhất bởi tự nhiên; từ xưa đến nay, người nông dân Việt Nam không thể sản xuất nếu không hợp tác với nhau chinh phục tự nhiên (thể hiện rõ nhất qua việc xây dựng các công trình thủy lợi: đê điều, sông đào, kênh mương, hồ, đập…) Hai là, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, ngành nông nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển nhưng phải đối mặt với không ít thách thức, để bảo vệ được quyền lợi của mình khi tham gia quá trình hội nhập, sự hợp tác giữa các hộ nông dân với nhau và giữa các hộ nông dân với các tổ chức thuộc nhiều ngành nghề khác càng trở nên cần thiết Ba là, ngày nay, kinh tế hộ gia đình được khẳng định là đơn vị kinh tế tự chủ, được tạo điều kiện để phát huy vai trò tích cực của mình trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên, kinh tế hộ nông nghiệp mới được tái lập, trình độ sản xuất thấp, phân tán, lại phải cạnh tranh trong cơ chế thị trường đầy biến động Do vậy, chỉ có tập hợp nhau trong một tổ chức hợp tác thì hộ nông dân mới bớt đi những khó khăn, rủi ro trong sản xuất, kinh doanh, khắc phục được một số hạn chế của bản thân kinh tế hộ
Ở mỗi một hình thái kinh tế - xã hội, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều cần phải có những hình thức hợp tác phù hợp Vì vậy, việc nghiên cứu, phát triển mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa quan
Trang 8trọng, đặc biệt đối với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay
Thanh Hóa là một tỉnh nông nghiệp, đa số người dân sống ở khu vực nông thôn Năm 2010 và xa hơn nữa, vị trí của nông nghiệp đối với Thanh Hóa vẫn còn nhiều ý nghĩa Do vậy, để xây dựng Thanh Hóa thành một tỉnh văn minh giàu mạnh phụ thuộc rất lớn vào quy mô, tốc độ tăng trưởng của việc giải quyết các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn
Sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc, với mong muốn giải phóng người lao động khỏi sự bóc lột của các quan hệ sản xuất cũ, phát triển sản xuất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước chủ trương nhanh chóng đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể trong các HTXNN Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, với những yêu cầu đặc biệt, HTX đã phát huy vai trò to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Tuy nhiên, do những nhận thức giản đơn về quá trình xây dựng mô hình HTX, về kinh tế hợp tác nên chúng ta đã mắc không ít sai lầm, khuyết điểm Trong suốt hơn 20 năm (1958 – 1980), kinh tế nông nghiệp ở miền Bắc nói chung, ở Thanh Hóa nói riêng gặp rất nhiều khó khăn, nhiều HTX tan vỡ, tình hình nông nghiệp, nông thôn lâm vào khủng hoảng trầm trọng
Trước tình hình đó, Đảng và Chính phủ đã có những chính sách quan trọng như Chỉ thị 100/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (1981), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988), Luật Hợp tác xã năm 1996, Luật Hợp tác xã năm 2003… nhằm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp Trong những năm đầu, mô hình kinh tế hợp tác kiểu cũ ở Thanh Hóa mới được thiết lập, nhiều mặt không theo kịp yêu cầu của thực tiễn sản xuất nông nghiệp, ngày càng bộc lộ những mặt hạn chế, dẫn đến tình trạng trì trệ, suy giảm và tan rã hàng loạt Để tiếp tục phát triển đòi hỏi các HTXNN kiểu cũ phải tiến hành đổi mới cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới và đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế nông nghiệp, nông thôn Thực tế, trong quá trình đổi mới, mô hình hợp tác mới đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, song cũng
Trang 9còn không ít khó khăn, vướng mắc Trong khi đó, từ những yêu cầu của sản xuất đã hình thành và phát triển các mô hình hợp tác đa dạng, đạt hiệu quả tốt, đáp ứng nguyện vọng của người lao động
Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn trở thành nhiệm vụ của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học lịch sử, nhằm cung cấp cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn để đánh giá, tổng kết quá trình đổi mới đường lối phát triển nông nghiệp của Đảng, đồng thời trên cơ sở tổng kết những mặt thành công, cũng như những mặt hạn chế của quá trình đổi mới sẽ tạo thêm cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn để Đảng và Nhà nước tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Thông qua việc tổng kết quá trình phát triển của mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa nhằm phát hiện và giải quyết những vẫn
đề tồn tại, vướng mắc nảy sinh trong quá trình đổi mới và phát triển, từ đó tiếp tục đẩy mạnh phát triển mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa với đúng vai trò, chức năng đích thực của nó
Đề tài “Quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông
thôn Thanh Hóa (1986 – 2010) xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó
Ngoài ra, với đề tài này, luận văn cũng góp phần cung cấp thêm tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu lịch sử địa phương thời kỳ hiện đại
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xây dựng mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn là một vấn đề lớn, có tác động không nhỏ tới sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội Vì vậy vấn đề này đã được đề cập đến với những mức độ khác nhau trong nhiều công trình nghiên cứu
Trong bộ Tư bản cũng như nhiều tác phẩm khác của Mác, sự hợp tác
được phân tích trong quá trình phát triển từ hình thức hợp tác giản đơn đến công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí Những quan điểm này của
Trang 10Mác sau này được vận dụng để xây dựng nguyên tắc hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn chủ nghĩa xã hội
Ph Ăng-ghen trong tác phẩm Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức đã nêu
lên những nguyên tắc cơ bản để đưa nông dân đi vào sản xuất hợp tác: tự nguyện, giúp đỡ của Nhà nước, của xã hội đối với HTH nông nghiệp
Phát triển lý luận về hợp tác của Mác và Ăng-ghen, V.I Lê-nin đã luận giải sự cần thiết, các tiền đề của kinh tế hợp tác và các nguyên tắc hợp tác của chủ nghĩa xã hội Đặc biệt, trong Chính sách kinh tế mới (NEP), Lê-nin đã nêu
ra bước đi của hợp tác là từ thương mại dần đi vào sản xuất Lê-nin nhấn mạnh tính thiết thực, cụ thể, phù hợp với từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, phù hợp với phong tục, tập quán, dân trí của từng vùng
Các học giả Traianov, Causki, Emelianov, Jacque Berthelot … cũng có những công trình nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn và vấn đề HTH
Các học giả trên đã đề cập đến vấn đề hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn trên nhiều phương diện có tính khoa học, đúng đắn, song do những hạn chế về thời gian và không gian, các học giả này chưa có điều kiện đề cập đến
mô hình hợp tác mang đặc thù ở các nước phương Đông; chưa nêu lên được các hình thức tồn tại và phát triển của kinh tế hợp tác trong cơ chế thị thường, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Đường cách mệnh” năm 1927 đã giành
một chuyên mục viết về HTX, trong đó nêu rõ lịch sử phát triển HTX của thế giới, các hình thức HTX, nguyên tắc tổ chức HTX, quản lý HTX Trong tác
phẩm “Về cách mạng xã hội chủ nghĩa” (1976, Nxb Sự thật), Hồ Chí Minh
cũng bàn về vấn đề đưa HTX, cách tổ chức HTX đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, đi từ thấp đến cao Nhiều tác phẩm khác của Người cũng đề cập đến vấn đề này với mức độ khác nhau
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã dày công tìm tòi, nghiên cứu, nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện và đề ra nhiều chính sách thiết lập một thể chế kinh tế mới phù hợp hơn với hoàn cảnh hiện tại Trong lĩnh
Trang 11vực nông nghiệp, nông thôn, chỉ thị 100 CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (1981) là khâu đột phá cởi trói cho một thời kỳ bị kìm hãm kéo dài, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988) về đổi mới cơ chế quản lý HTXNN tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động Luật HTX năm 1996, Luật HTX năm 2003 là cơ sở pháp lý cho việc đổi mới mô hình hợp tác xã
Nghị quyết các đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến lần thứ X (2006) đều khẳng định vai trò, vị trí của kinh tế tập thể trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định ra đường lối đổi mới các HTXNN, hoàn thiện cơ chế quản lý để tiếp tục tạo động lực cho nông nghiệp – nông thôn phát triển với tốc độ nhanh Những quan điểm, đường lối chủ trương trong công cuộc đổi mới thể chế kinh tế của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, là sự kế tục và sáng tạo những luận điểm khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể nước ta
Cùng với các văn kiện của Đảng và Nhà nước, có nhiều công trình nghiên cứu bàn về vấn đề đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam Trước hết là những bài viết của các nhà lãnh đạo như: Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở nước ta (Võ Chí Công, Tạp chí Cộng sản, tháng 6/1993), Đẩy mạnh đổi mới vì chủ nghĩa xã hội (Đỗ Mười, Nxb Chính chị quốc gia, 1995) Các tài liệu này đã
nêu những yêu cầu, định hướng đổi mới kinh tế hợp tác trong nông nghiệp
Vấn đề đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn còn thu hút nhiều nhà khoa học của các ngành khoa học khác nhau quan tâm nghiên cứu Đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ về vấn
đề này:
Năm 1990 đã diễn ra cuộc Hội thảo lớn do Ban Nông nghiệp Trung ương, kết hợp với Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam tiến hành nhằm đánh giá quá trình HTH ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và quan điểm về con đường chuyển nông thôn nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trang 12Trong một số công trình khác như: Một số vấn đề kinh tế của HTH nông nghiệp ở Việt Nam (GS Phạm Như Cương (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1991); HTH nông nghiệp Việt Nam Lịch sử - Vấn đề - Triển vọng
(Chử Văn Lâm, Nguyễn Thái Nguyên, Phùng Hữu Phú, Trần Quốc Toản,
Đặng Thọ Xương, Nxb Sự thật, 1992); Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp (Lâm Quang Huyên, Nxb Khoa học xã hội, 1995); Khảo sát các hình thức tổ chức hợp tác của nông dân nước ta hiện nay (Đào Thế Tuấn, Nxb Chính trị Quốc gia, 1995); Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn trên thế giới và Việt Nam (Nguyễn Điền, Nxb Thống kê, 1996); Kinh tế hợp tác – HTX ở Việt Nam thực trạng và định hướng phát triển
(Nguyễn Văn Bích - Chu Tiến Quang, Nxb nông nghiệp, 2001) Các công trình trên đã đề cập đến quá trình phát triển của kinh tế hợp tác dưới tác động của đường lối đổi mới, vai trò chức năng của kinh tế hợp tác trong cơ chế thị trường và một số những kinh nghiệm xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác trên thế giới
Như vậy, vấn đề đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn
là vấn đề lớn được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Tuy vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây thuộc phạm vi nghiên cứu của khoa học kinh tế, quản lý kinh tế, xã hội học và được nghiên cứu trên một phạm vi rộng của các nước trên thế giới và trong cả nước Các công trình nghiên cứu dưới góc độ khoa học lịch sử về mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn còn ít Riêng đối với Thanh Hóa cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu của khoa học lịch sử nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện
về sự phát triển của mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa dưới tác động của quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp
Chúng tôi hi vọng đề tài đang nghiên cứu sẽ đóng góp phần nào để làm
rõ quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa, cụ thể trong giai đoạn 1986 – 2010
Trang 133 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa thời kỳ đổi mới
Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1998), hợp tác là cùng
chung sức giúp đỡ lần nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung
Trong đề tài này mô hình hợp tác được hiểu là kiểu tổ chức hành động,
nhằm liên kết, phối hợp nguồn lực giữa các thành viên để đáp ứng nhu cầu sản xuất, gắn liền với phân công lao động xã hội Mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn gồm những kiểu tổ chức để thực hiện các yêu cầu hợp tác của các hộ nông dan trong quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh, có nhiều mô hình khác nhau như hợp tác vần công, đổi công, nhóm liên gia, tổ hợp, hợp tác trong các hiệp hội… HTX là một trong các mô hình hợp tác chứ không phải là
mô hình duy nhất HTX đăng ký và được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân trong khi các mô hình hợp tác khác không cần đăng ký tư cách pháp nhân HTX là mô hình hợp tác phổ biến, nó được xem là phương tiện thúc đẩy cho lực lượng sản xuất phát triển, nó ra đời tồn tại và ngày càng phát triển gắn
liền với quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa Quá trình hình thành các mô hình hợp tác là do tác động của các quy luật và nhu cầu phát triển sản xuất chứ không phải bằng ý chí chủ quan của bất kỳ một chế độ chính trị nào Có
nhiều loại mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn, trong đó HTXNN là một mô hình hợp tác đặc thù và khá phổ biến ở Việt Nam nói chung, Thanh Hóa nói riêng Vì vậy, luận văn tập trung nghiên cứu mô hình hợp tác là HTXNN, bên cạnh đó có trình bày một số mô hình hợp tác khác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa thời kỳ đổi mới
Luận văn nghiên cứu về quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông nghiệp ở Thanh Hóa, là một tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ có 1 thành phố, 2 thị xã, 24 huyện Thanh Hóa là tỉnh có số dân đông đứng thứ 3
cả nước (sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh), diện tích lớn thứ 6 cả nước, nông
Trang 14nghiệp, nông thôn vẫn giữ một vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh
Luận văn được giới hạn phạm vi nghiên cứu về quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa trong những năm 1986 – 2010 Năm 1986 là mốc quan trọng trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước mà nông nghiệp, nông thôn là một nội dung quan trọng Đến năm 2010, quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa
về cơ bản đạt được nhiều thành tựu nhưng cũng đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi phải giải quyết nhằm phát huy vai trò tích cực của các mô hình hợp tác đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
4 Nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: phân tích quá trình xây dựng, đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa theo chủ trương của Đảng, Nhà nước, trên cơ sở đó nêu rõ những chuyển biến tích cực cũng như những mặt còn tồn tại, bước đầu đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục phát triển các
mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở Thanh Hóa trước đổi mới tác động tới quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa
+ Dựng lại quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn (chủ yếu là mô hình hợp tác xã nông nghiệp) ở Thanh Hóa qua 2 giai đoạn 1986 – 1996; 1997 – 2010, với những thuận lợi, khó khăn, thành tựu, hạn chế riêng của từng giai đoạn
- Phân tích những mặt hợp lý, có tác động tích cực đến kinh tế nông nghiệp, nông thôn của mô hình hợp tác hiện nay của Thanh Hóa đồng thời cũng chỉ ra những bất cập, những vấn đề nảy sinh đang đòi hỏi phải tiếp tục giải quyết nhằm phát triển kinh tế hợp tác trong bối cảnh Thanh Hóa đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trang 155 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài chúng tôi sử dụng các nguồn tư liệu chủ yếu sau:
- Một số tài liệu kinh điển của các lãnh tụ như Mác, Ăng-ghen, Lê-nin,
Hồ Chí Minh…
- Hệ thống các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước, của các cấp ủy Đảng, chính quyền Thanh Hóa về kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung, kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng
- Các công trình nghiên cứu của các ngành khoa học: lịch sử kinh tế, quản lý kinh tế, địa lý kinh tế, xã hội học có đề cập đến nông nghiệp, nông thôn nói chung, kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nói riêng, đã được xuất bản thành sách hoặc đăng trên các tạp chí; một số kết quả của những đề tài khoa học, dự án khoa học, các luận án, luận văn có liên quan Đặc biệt là các công trình nghiên cứu về lịch sử, lịch sử Đảng bộ các cấp của Thanh Hóa
- Các báo cáo của Bộ Nông nghiệp, của Tổng cục Thống kê, Cục Thống
kê Thanh Hóa, Ủy ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa, Liên minh HTX Thanh Hóa
Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số tài liệu điều tra, điền dã ở một số HTX tiêu biểu để làm phong phú và cụ thể hóa hơn cho nội dung của đề tài
Cơ sở lý luận của đề tài dựa vào những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin , tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối của Đảng
về xây dựng và phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nói chung, kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng
Để thực hiện đề tài, tác giả chủ yếu vận dụng, kết hợp phương pháp lịch
sử với phương pháp lô gíc Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp: thống kê, so sánh, lập biểu đồ, điền dã để thực hiện đề tài
Trang 166 Đóng góp của luận văn
- Trình bày có hệ thống quá trình đổi mới và phát triển mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa qua các giai đoạn 1986 – 1996, 1997 – 2010 dưới tác động của đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, từ đó thấy được vị trí, vai trò, chức năng quan trọng của HTX đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa
- Từ thực tiễn quá trình nghiên cứu, luận văn phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, bất cập của mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp bước đầu nhằm tiếp tục phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở Thanh Hóa trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
Luận văn cũng cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy phần lịch sử địa phương
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn được cấu tạo trong 3 chương:
Chương 1: Mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa trước 1986
Chương 2: Bước đầu đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa (1986 – 1996)
Chương 3: Đẩy mạnh đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa (1997 – 2010)
Trang 17CHƯƠNG 1
MÔ HÌNH HỢP TÁC TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THANH HÓA TRƯỚC 1986
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Thanh Hóa
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thanh Hóa là vùng đất có lịch sử lâu đời Đây là nơi đã phát hiện được các di chỉ khảo cổ học thuộc hầu hết các thời đại khảo cổ học lớn của nước ta thời tiền sử và sơ sử Từ thời kỳ dựng nước cho tới hiện đại, Thanh Hóa luôn
là đơn vị hành chính hoàn chỉnh, đồng thời cũng được chọn làm kinh đô của đất nước dưới thời Hồ
Thanh Hóa hiện nay có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 2 thị xã và 24 huyện; 634 xã, phường, thị trấn trong đó có
584 xã Thanh Hóa có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình; phía Nam và Tây Nam giáp Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (Cô ̣ng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ); phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển c ủa dải đất liền dài hơn 100km và mô ̣t thềm lu ̣c
đi ̣a khá rô ̣ng Như vậy, Thanh Hoá là tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ nên có một vị trí rất thuận lợi trong giao lưu với các tỉnh, thành phố trong cả nước và giao lưu quốc tế
Với diện tích khá lớn, Thanh Hóa có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vùng rõ rệt:
- Vùng núi và trung du có diện tích đất tự nhiên 839.037 ha, chiếm 75,44% diện tích toàn tỉnh gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn phía nam Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú, có các loại gỗ quý hiếm như: lát, pơ-mu, sa mu, lim xanh, táu, sến, vàng tâm, dổi, de, chò chỉ Đặc biệt, Thanh Hoá là tỉnh có diện tích luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích năm 2006 trên 50.000 ha Vùng đồi
Trang 18núi thấp có đất đai màu mỡ, có hệ thống sông ngòi phong phú, tạo điều kiện tốt để phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc
- Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên là 162.341 ha, chiếm 14,61% diện tích toàn tỉnh, được bồi tụ bởi các hệ thống Sông Mã, Sông Bạng, Sông Yên và Sông Hoạt, xen kẽ có các đồi thấp và núi đá vôi độc lập Đồng bằng Sông Mã có diện tích lớn thứ ba sau đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng Bên cạnh ưu thế phát triển cây lương thực, cây ăn quả, trồng cói ở vùng ven biển và chăn nuôi gia súc, gia cầm, đồng bằng còn có lợi thế để phát triển công nghiệp, TTCN, dịch vụ
- Vùng ven biển có diện tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn tỉnh, từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia Đường bờ biển dài 102km có dạng cánh cung, địa hình tương đối bằng phẳng Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn thuận tiện cho tàu bè ra vào Biển Thanh Hóa có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát khác như Hải Tiến (Hoằng Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) ; có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ kinh tế biển
Khí hậu Thanh Hóa mang tính chất trung hòa giữa khí hậu Bắc kỳ và Trung kỳ Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nhiệt độ bình quân năm 24,30
C,
số giờ nắng trong năm là 1.573 giờ, lượng mưa các các tháng trong năm là 1679mm, rất thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển Mặt khác, do địa hình đa dạng, phức tạp nên Thanh Hóa có những vùng tiểu khí hậu riêng biệt Đặc thù về khí hậu đó là yếu tố thuận lợi để phát triển ở Thanh Hóa một nền nông nghiệp đa dạng, có các sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới là chính, nhưng do có mùa đông lạnh, kéo dài 3 đến 4 tháng với nhiệt độ xuống dưới 200C nên còn có thể sản xuất nhiều nông sản của vùng cận nhiệt, ôn đới
Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 1.113.341 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 824.122 ha chiếm 74% Trong diện tích đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp 245.726 ha chiếm 29,8%, đất lâm nghiệp có rừng là 566.040
ha chiếm 68,7%; đất nuôi trồng thủy sản là 11.275 ha chiếm 1,3 %; đất nông
Trang 19nghiệp khác chiếm 1,5% Có nhiều nhóm đất thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả
Thanh Hóa có 4 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Bạng, sông Yên với tổng chiều dài 881km, tổng diện tích lưu vực là 39.756km2 Ngoài ra còn có một hệ thống ao hồ phong phú: Hồ Yên Mỹ, hồ sông Mực, đập Bái Thượng… và hàng trăm hồ đập nhỏ nằm rải rác ở các vùng Đây là nguồn cung cấp nước dồi dào cho sản xuất nông nghiệp
Với tất cả các đặc điểm về điều kiện tự nhiên như trên sẽ tạo ra điều kiện để Thanh Hóa phát triển ngành kinh tế đa dạng, trong đó nông nghiệp là ngành chủ đạo
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
1.1.2.1 Dân số và lao động
Theo Niên giám thống kê Thanh Hóa năm 2009, Thanh Hoá có số dân khá đông 3,405 triệu người (đứng thứ 2 sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội); có 7 dân tộc sinh sống là: Kinh, Mường, Thái, H'Mông, Dao, Thổ, Khơ-
mú Mật độ dân số là 306 người/km2
Số dân từ năm 2001 đến nay tương đối
ổn định (năm 2001 là 3,463 triệu người, năm 2009 là 3,406 triệu người) Số dân sinh sống ở khu vực nông thôn năm 2009 là 3,049 triệu người, chiếm 89,5% dân số toàn tỉnh Lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ cao (71% lao động toàn tỉnh) [33; 3]
Nguồn lao động của Thanh Hóa tương đối trẻ, có trình độ học vấn khá, lao động dưới 30 tuổi chiếm tỷ trọng cao Lực lượng lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%, trung học 4,0%, công nhân kỹ thuật 12,9% [33; 4]
1.1.2.2 Cơ sở vật chất – kĩ thuật
Thanh Hóa có một hệ thống giao thông khá thuận lợi cả về đường sắt, đường bộ và đường thuỷ Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn Thanh Hoá dài 92km với 9 nhà ga Đường bộ có tổng chiều dài trên 8.000km, bao gồm hệ thống quốc lộ quan trọng như: quốc lộ 1A, quốc lộ 10 chạy qua vùng
Trang 20đồng bằng và ven biển, đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng trung du và miền núi; Quốc lộ 45, 47 nối liền các huyện đồng bằng ven biển với vùng miền núi, trung du của tỉnh, quốc lộ 217 nối liền Thanh Hoá với tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào Thanh Hoá có hơn 1.600km đường sông, trong đó có 487km đã được khai thác cho các loại phương tiện có sức chở từ 20 đến 1.000 tấn Cảng Lễ Môn với năng lực thông qua 300.000 tấn/ năm, các tàu trọng tải 600 tấn cập cảng an toàn Cảng biển nước sâu Nghi Sơn
có khả năng tiếp nhận tàu trên 5 vạn tấn, hiện nay đang được tập trung xây dựng thành đầu mối về kho vận và vận chuyển quốc tế Hiện tại, Thanh Hóa
có sân bay Sao Vàng và đang dự kiến mở thêm sân bay quốc tế sát biển phục
vụ cho Khu kinh tế Nghi Sơn và khách du lịch [85; 986]
Thanh Hóa có hệ thống công trình thủy lợi tương đối hoàn chỉnh và không ngừng được củng cố: Đập Bái Thượng, hệ thống thủy lợi sông Chu, sông Mã, hệ thống tiêu sông Hoành, sông Lý, Trường Lệ… Công trình thủy điện, hồ chứa nước Cửa Đạt đang được xây dựng ở huyện Thường Xuân là một trong những công trình có quy mô lớn nhất miền Bắc
Mạng lưới cung cấp điện của Thanh Hoá ngày càng được tăng cường cả
về số lượng và chất lượng, đảm bảo cung cấp điện ổn định cho sản xuất và sinh hoạt Năm 2009, điện lưới quốc gia đã có 508km đường dây điện cao thế; 3.908km đường dây điện trung thế, 4.229km đường dây điện hạ thế; 9 trạm biến áp 110/35/6-10 KV; 38 trạm trung gian; 2.410 trạm phân phối 27/27 huyện, thị, thành phố với 94% số xã phường và 91% số hộ được dùng điện lưới quốc gia [85; 985]
Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nông nghiệp được trang
bị ngày càng nhiều, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nếu năm 1996, khu vực nông thôn có 244 đầu máy kéo lớn, 1067 máy kéo nhỏ, 3700 tàu thuyền đánh bắt cá cơ giới, đến năm 2004 đa tăng lên lần lượt là: 875, 5955, 5868 [27; 12] Ở trong dân, phong trào mua sắm các công cụ phát triển mạnh mẽ ở các huyện trong tỉnh Ở hầu hết các xã, dân đều tự mua các máy công suất nhỏ như máy làm đất, bơm nước, vận
Trang 21chuyển và tuốt lúa để phục vụ cho nhu cầu sản xuất của gia đình và làm dịch
vụ cho các hộ xung quanh Nhiều gia đình còn đầu tư mua các loại máy gặt đập liên hợp để nâng cao năng suất lao động Tuy còn ít và tự phát nhưng nó
đã phần nào giải quyết được những nhu cầu về máy móc trong tỉnh
1.2 Xây dựng và phát triển mô hình hợp tác trong nông nghiệp và nông thôn Thanh Hóa trước đổi mới
1.2.1 Trong những năm 1955 - 1957
Từ xa xưa ở nước ta đã có những hình thức hợp tác, tương trợ giữa các
hộ nông dân: hội hiếu hỷ, hội làm nhà, hội chơi họ, đổi công sản xuất Đây là những hình thức hợp tác giản đơn, theo quy ước không thành văn nhưng được các thành viên thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả cao, trong đó có những hình thức trở thành cơ sở của những hình thức hợp tác trong nông nghiệp sau năm 1945
Cách mạng Tháng Tám thành công mang lại ruộng đất cho nông dân là điều kiện để xuất hiện các hình thức hợp tác trong sản xuất nông nghiệp
Để đảm bảo người nông dân nào cũng có ruộng đất cày cấy, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã chỉ đạo việc chia lại công điền, công thổ và ruộng đất của bọn Việt gian phản quốc cho nông dân và kiên quyết đấu tranh thực hiện giảm tô 25%, vận động các gia đình có nhiều ruộng đất hiến điền Năm 1948 đã có 2.497 điền chủ thực hiện giảm tô trên diện tích 13.760 mẫu ruộng Năm 1950, hầu hết các chủ ruộng đất đã giảm tô 25% Quan hệ sản xuất mới bước đầu đã hình thành ở nông thôn, kể cả vùng thượng du [53; 43] Nông dân Thanh Hóa bước đầu hợp tác trong việc làm thủy lợi, phục hồi ruộng đất hoang hóa, giúp
đỡ nhau cấy hết diện tích, tăng gia sản xuất khiến sản lượng nông nghiệp có bước phát triển đáng kể
Có ruộng đất cày cấy, nông dân phấn khởi sản xuất, nông nghiệp, nông thôn đạt được nhiều thành tựu mới Năm 1947, Thanh Hóa sản xuất 26 vạn tấn thóc, 7.800 tấn ngô, 48.000 tấn khoai lang, 547 tấn bông Nhân dân trong tỉnh đã tự túc được lương thực Diện tích trồng cấy cũng được mở rộng: năm
Trang 221949, diện tích trồng lúa tăng thêm 10.000 mẫu, bông 6.149 mẫu, ngô 3.494 mẫu, khoai 9.428 mẫu, lạc 383 mẫu, ngô 3494 mẫu, vừng 150 mẫu, đậu 1785 mẫu [53; 44]
Sau khi được hoàn toàn giải phóng (1955), Thanh Hóa cùng với miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, đồng thời tiếp tục hoàn thành cải cách ruộng đất, tạo tiền đề đưa miền Bắc quá độ tiến lên CNXH
Từ 1954 – 1956, Thanh Hóa đã thực hiện 5 đợt cải cách ruộng đất Trong đó đợt 1 (1954) là đợt thí điểm của Liên khu IV ở 6 xã Dân Lực, Dân Quyền, Dân Lý, Minh Dân, Minh Sơn, Minh Châu (huyện Nông Cống) được tiến hành xong trong cuộc kháng chiến chống Pháp; còn các đợt từ đợt 2 đến đợt 5 được hoàn thành từ sau khi hòa bình lập lại cho đến tháng 7 năm 1956 Tuy phạm phải những sai lầm, khuyết điểm to lớn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng nhưng cuộc cải cách ruộng đất thực sự là một cuộc đổi đời của nông dân, giúp họ phấn khởi sản xuất, tạo ra bước phát triển trong nông nghiệp, nông thôn
Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, Tỉnh ủy Thanh Hóa vận động nông dân tham gia các tổ đổi công để chuẩn bị cho sự ra đời của mô hình hợp tác cao hơn Các tổ đổi công phát triển mạnh mẽ trong những năm 1955 – 1958
Bảng 1.1: Sự phát triển tổ đổi công ở Thanh Hóa giai đoạn 1955 – 1958
Nguồn: Hội Nông dân Việt Nam – Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Thanh
Hóa (1993), Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Thanh Hóa 1930 –
1992, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 52
Trang 23Năm 1955, toàn tỉnh đã có 15.810 tổ đổi công, trong đó có 6.236 tổ đổi công thường xuyên toàn diện Năm 1957, phong trào xây dựng tổ đổi công phát triển thêm một bước Ở miền xuôi đã có 63% số hộ nông dân vào tổ đổi công, ở miền núi có 60,7% Các huyện Thọ Xuân, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Thiệu Hóa, Yên Định, Vĩnh Lộc, Như Xuân, Ngọc Lặc có 80% số hộ nông dân đã vào tổ đổi công Tổ đổi công Nguyễn Công Thiệp có nhiều kinh nghiệm tốt, được nhiều nơi học tập [53;53]
Quy mô một tổ đổi công có khoảng 10 hộ nông dân, hoạt động tập trung vào các công việc như cày bừa, cấy trồng, chống úng, chống hạn, thu hoạch, làm nhà… Trong đó các hội nông dân hợp tác với nhau về mặt lao động mang tính giản đơn như “công đổi công”, “việc đổi việc” và hợp tác về công cụ lao động Hình thức tổ đổi công là hình thức hợp tác giản đơn nhưng hiệu quả vì phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nông thôn sau cải cách ruộng đất, phù hợp với nhận thức và nguyện vọng của nông dân Các tổ đổi công không chỉ phát huy tích cực trong công việc sản xuất cụ thể
mà còn góp phần bước đầu cải tạo đồng ruộng, cải tiến kỹ thuật, đóng góp cho phúc lợi xã hội, bước đầu hình thành quan hệ sản xuất mới ở nông thôn
Tuy nhiên, mô hình tổ hợp tác chưa giải quyết được nhu cầu phát triển của ngành nông nghiệp như vấn đề làm các công trình thủy lợi lớn, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất…) Vì vậy, việc xây dựng mô hình hợp tác có quy mô, trình độ cao hơn có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cần được đẩy tới trên các mặt: quản lý lao động, quản lý sản xuất, quản lý tài vụ…
1.2.2 Trong những năm xây dựng mô hình TTH nông nghiệp (1958 – 1980)
Tháng 11/1958, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (khóa II) đề ra kế hoạch ba năm cải tạo và phát triển kinh tế miền Bắc (1958 – 1960) Trong đó
có chủ trương xây dựng các HTXNN ở khắp các vùng nông thôn theo mô hình TTH, đại diện cho khu vực kinh tế tập thể
Căn cứ vào tình hình cụ thể của tỉnh, Tỉnh ủy Thanh Hóa chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách tích cực, thận trọng, vững chắc
Trang 24Trong cải tạo nông nghiệp, Tỉnh ủy đề ra kế hoạch tiến hành từng bước vững chắc, từ thấp lên cao, bảo đảm đúng nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi; lúc khởi đầu thì thu nạp bần cố nông và trung nông lớp dưới; khi HTX đã tương đối ổn định, phát triển tương đối khá sẽ thu nạp trung nông lớp trên
Tuy nhiên, khi chủ trương xây dựng HTX đi vào thực tiễn lại được triển khai với khí thế cách mạng đặc biệt Các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng hăng hái, nỗ lực vận động, giáo dục, thuyết phục quần chúng Thậm chí, do muốn đẩy mạnh phong trào, chạy theo thành tích, có nơi đã áp dụng biện pháp có tính cưỡng bức Vì vậy, phong trào hợp tác hóa phát triển với một tốc độ vượt xa so với dự kiến Thanh Hóa trở thành tỉnh dẫn đầu về phong trào xây dựng HTX ở miền Bắc (về quy mô, tốc độ và thời gian)
Vào năm 1958, tỉnh Thanh Hóa đã bắt đầu chỉ đạo thí điểm xây dựng HTX ở một số địa phương để rút kinh nghiệm Đó là xã Đông Thịnh (Đông Sơn) là vùng thuần túy sản xuất nông nghiệp, nhiều đồng chiêm trũng; thôn Hữu Khánh (xã Hoằng Khánh, Hoằng Hóa) là vùng trồng cả lúa và màu; xã Xuân Thành (Thọ Xuân) có đất đai bằng phẳng, thủy lợi tốt, có phong trào thâm canh khá trong tỉnh
Tỉnh ủy chỉ đạo các ngành trong tỉnh phục vụ đắc lực phong trào HTX
ở nông thôn Ngân hàng cho vay vốn, ngành vật tư cung cấp nông cụ, phân bón, ngành tài chính, ngành nông nghiệp đào đạo kế toán, đào tạo cán bộ kỹ thuật cho các HTX
Theo kế hoạch Nhà nước, đầu năm 1958 toàn tỉnh chỉ xây dựng 177 HTX bậc thấp, quy mô xóm nhằm rút kinh nghiệm, nhưng cuối năm 1958 đã xây dựng được 1.293 HTX [53;56]
Để thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển, Tỉnh
ủy tổ chức Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh từ ngày 5 đến ngày 15/4/1959 để đánh giá kết quả bước đầu cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp và đề ra chủ trương, biện pháp tiến hành cải tạo trên tất cả các lĩnh vực một cách cụ
thể Nghị quyết hội nghị ghi rõ: “Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải tạo xã hội
Trang 25chủ nghĩa đối với nông nghiệp, TTCN, người buôn bán nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh”[1;54]
Thực hiện nghị quyết hội nghị đại biểu Đảng bộ, các huyện miền xuôi tiếp tục giáo dục, vận động nông dân gia nhập HTX Cuối năm 1959 đã có 60,2% hộ nông dân vào làm ăn tập thể Tỉnh ủy mở hội nghị 7 huyện miền núi (trừ Thạch Thành) triển khai chỉ thị 159 của Ban bí thư Trung ương về xây dựng HTXNN kết hợp với cải cách dân chủ
Tháng 12/1959, Hội nghị HTXNN toàn miền Bắc do Ban Bí thư Trung ương Đảng triệu tập và đồng chí Lê Duẩn chủ trì đã họp tại Nông Cống để nghiên cứu kinh nghiệm về HTXNN của Thanh Hóa Sau hội nghị, Ban công tác nông thôn tỉnh cùng với một số huyện ủy miền núi xây dựng thí điểm HTX
ở 4 xã Minh Sơn (huyện Ngọc Lặc), Cẩm Bình (huyện Cẩm Thủy), Long Vân (huyện Bá Thước), Sơn Thủy (huyện Quan Hóa)
Ngày 27 tháng 3 năm 1960, các huyện miền núi đồng loạt tiến hành cải cách dân chủ, xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất, rừng núi của địa chỉ, thổ ty lang đạo, xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân Cùng với cải cách dân chủ, người dân miền núi Thanh Hóa gia nhập HTX một cách tự nguyện, phấn khởi
Có thể nói, cải cách dân chủ đến đâu, HTX được xây dựng đến đó
Phong trào HTH ở Thanh Hóa được khích lệ đã diễn ra với tốc độ nhanh Từ 1.293 HTX sản xuất nông nghiệp cuối năm 1958, đến cuối năm
1960, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, toàn tỉnh đã có 4.336 HTX, trong đó có
587 HTX bậc cao, thu hút 271.100 hộ nông dân (chiếm 91,5% tổng số nông
hộ toàn tỉnh), trong đó 24,7% tổng số nông hộ đã gia nhập HTX bậc cao, TTH 83% diện tích canh tác 85% nông hộ ở miền núi, 82,4% nông hộ ở miền biển, 94,5% nông hộ làm nghề muối đã đi vào con đường làm ăn tập thể Ở vùng có đồng bào theo đạo Thiên chúa, 63,8% nông hộ giáo dân đã gia nhập HTX [1;58] Nông dân Thanh Hóa từ người nông dân cá thể đã trở thành người nông dân tập thể
Trang 26Ở vùng biển, do đặc điểm kinh tế của địa phương, Tỉnh ủy đề ra chủ trương tổ chức các HTX chuyên đánh cá hoặc bán nông – bán ngư, hoặc sản xuất kinh doanh nhiều ngành kết hợp nông – ngư – diêm – thủ công nghiệp Năm 1959 các huyện miền biển Thanh Hóa đã có 80% ngư dân gia nhập HTX [1;59] HTX nghề cá được xây dựng thí điểm ở Quảng Tiến (nay thuộc thị xã Sầm Sơn) Khác với các HTXNN, Nhà nước thu mua toàn bộ thủy sản đánh bắt được và phân phối cho xã viên theo lao động và theo cổ phần đóng góp
Tĩnh Gia là huyện có phong trào mạnh cả về số lượng và chất lượng Năm 1959, toàn huyện đã xây dựng được 32 HTX (bằng một nửa tổng HTX nghề cá trong tỉnh) [1;59] Trong đó, xã Hải Bình xuất hiện hai đơn vị tiên tiến của tỉnh là HTX làm muối Tiền Phong và HTX đánh cá Liên Hải
Cùng với phong trào gia nhập HTX sản xuất nông nghiệp, nông dân trong tỉnh đã hăng hái gia nhập HTX mua bán và HTX tín dụng HTX mua bán được xây dựng ở Thanh Hóa từ năm 1955, bước đầu hình thức, quy mô hoạt động còn hạn hẹp Trong những năm 1959 – 1960, hầu hết xã viên HTXNN đều đóng góp cổ phần gia nhập HTX mua bán Hệ thống HTX mua bán đã góp phần thúc đẩy phong trào HTXNN phát triển nhanh và mạnh Năm
1958, trong nông thôn Thanh Hóa đã xuất hiện HTX tín dụng, đến năm 1960
đã thu hút được 505.000 hội viên ở 558 cơ sở [1;67] HTX tín dụng đã kết hợp với ngân hàng Nhà nước tổ chức quỹ tiết kiệm, cho các HTXNN vay vốn phát triển sản xuất
Như vậy, đến năm 1960, phong trào xây dựng HTX trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa đã hoàn thành căn bản HTX tạo điều kiện thuận lợi tiến hành thủy lợi hóa và ứng dụng khoa học kỹ thuật trên một số mặt, một số khâu trong sản xuất nông nghiệp Tốc độ TTH ở Thanh Hóa diễn ra nhanh chóng,
đó cũng là thực trạng chung của cả nước
Các HTX được thành lập trong những năm 1958 - 1960 chủ yếu là HTX bậc thấp, quy mô thôn, bình quân mỗi HTX có khoảng 50 -70 hộ và 80 - 90 ha đất canh tác; tư liệu sản xuất chủ yếu vẫn là sở hữu của xã viên nhưng được
Trang 27đưa vào HTX để HTX thống nhất quản lý và sử dụng; xã viên được chia thành các tổ đội sản xuất, làm việc theo kẻng; phân phối theo ngày công
Bước đầu làm ăn hợp tác, người nông dân hăng hái tham gia sản xuất,
có tác dụng tích cực trong việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là việc khai hoang phục hóa, xây dựng thủy lợi, cải tạo đồng ruộng… mà trước kia hộ nông dân đơn lẻ không làm được hoặc làm không hiệu quả
Tuy nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật của HTX còn nghèo nàn, vốn quỹ ít
ỏi, việc áp dụng cải tiến kỹ thuật còn hạn chế, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất lớn Cán bộ quản lý HTX chủ yếu xuất thân từ bần nông, trước đây chỉ biết làm thuê cuốc mướn, trình độ văn hóa thấp Khi vào HTX điều hành sản xuất tập thể với một quy mô lớn, vượt quá khả năng của mình, dẫn đến lúng túng trong quản lý, gây lãng phí
Nguyên nhân của những hạn chế trên là nhận thức giản đơn về hợp tác, HTXNN, nôn nóng muốn xây dựng nhanh HTX, nhiều HTX được xây dựng ở những nơi chưa đủ điều kiện, bỏ qua việc duy trì và củng cố tổ đổi công trong khi nó vẫn còn phát huy tác dụng Trong khi đó, quản lý và tổ chức sản xuất trong HTX còn yếu kém; việc phân phối còn bất hợp lý, tỷ lệ để lại phân phối cho ngày công lao động và hoa lợi ruộng đất thấp
Từ thực trạng trên có thể thấy mô hình HTX - TTH đã bộc lộ những yếu
tố bất hợp lý ngay từ thời kỳ xác lập nhưng trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, vấn đề hiệu quả kinh tế không được xem xét một cách khách quan, khoa học Sự yếu kém của các HTX được xem như sự phát triển chưa hoàn thiện của mô hình này Do đó, nội dung của công tác cải tiến quản lý kinh tế nông nghiệp được khẳng định theo hướng đã vạch sẵn, củng cố mô hình HTX
- TTH, nhanh chóng đưa các HTX bậc thấp lên HTX bậc cao ở những năm tiếp theo
Trên cơ sở sự phát triển mạnh mẽ của phong trào HTX, ngày 13/3/1961, Tỉnh quỷ quyết định xây dựng HTX bậc cao có quy mô thôn, liên thôn và xã
Trang 28Tỉnh ủy chủ trương năm 1961 sẽ đưa 90% HTX bậc thấp lên bậc cao quy mô thôn, trong đó có từ 40 đến 50% HTX có quy mô rộng hơn
Đến cuối năm 1961, toàn tỉnh Thanh Hóa có 2.356 HTXNN, trong đó chiếm 75% tổng số HTX có quy mô toàn thôn; 95,5% tổng số nông hộ đã gia nhập HTX, trong đó 39,6% nông hộ ở HTX bậc cao Năm 1963 có 78,3% HTX bậc cao Năm 1967, có 49% HTX liên thôn và toàn xã Năm 1973 toàn tỉnh có 260 HTX có từ 90 hộ xã viên trở lên, 3 HTX quản lý từ 700 – 800 ha ruộng đất [1;65]
Khắp nông thôn Thanh Hóa bừng lên không khí phấn khởi thi đua “Học tập, đuổi kịp và vượt HTX Đại Phong” (Thái Bình) mà nội dung quan trọng là
“phá xiềng 3 sào”, mở rộng HTX lên quy mô thôn, xã
Ngày 16/10/1961, Ủy ban hành chính tỉnh tổ chức hội nghị sơ kết phong trào thi đua đuổi kịp và vượt Đại Phong Trên từng vùng, từng lĩnh vực đã xuất hiện các điển hình tiên tiến HTX Yên Trường (Thiệu Yên) đã mở rộng diện tích canh tác, tăng diện tích vụ chiêm thêm 43%, tăng diện tích trồng ngô lên 2 lần, được tuyên dương là Đại Phong của ngành nông nghiệp toàn tỉnh Hai HTX Kim Ngọc và Ngọc Thắng (Ngọc Lặc) đạt trên 800 kg lương thực cho 1 người 1 năm, được tuyên dương là Đại Phong của 8 huyện miền núi HTX Liên Hải (xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia) được tuyên dương là Đại Phong của vùng biển HTX Quảng Hải (Quảng Xương) được tuyên dương là lá cờ đầu Đại Phong về chăn nuôi HTX Tam Hòa (Tĩnh Gia) được tuyên dương là
lá cờ đầu về sản xuất muối HTX Xuân Lai (Thọ Xuân) được công nhận là lá
cờ đầu về cải tiến nông cụ
Toàn tỉnh có 53 HTX đạt danh hiệu là Đại Phong và hàng trăm thanh nhiên là “trai gái Đại Phong” Nhờ đó vụ chiêm và vụ mùa năm 1961 đạt sản lượng lương thực cao, lương thực tính theo đầu người đạt 328 kg [1;66]
Thanh Hóa là một tỉnh có nhiều nghề thủ công truyền thống, vì vậy Tỉnh ủy đã chủ trương phát triển các HTX TTCN ở nông thôn Thanh Hóa để phát triển sản xuất
Trang 29Ngày 01/5/1962, HTX thủ công nghiệp chiếu cói Dân Thành (xã Nga Thanh, huyện Nga Sơn) được thành lập gồm 90 xã viên Sau 8 tháng hoạt động, HTX đã làm được 18.000m2
chiếu Để có đủ nguyên liệu làm chiếu, HTX đã chuyển một phần diện tích trồng lúa năng suất thấp sang trồng cói, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Thanh Hóa theo hướng hợp lý, đạt hiệu quả cao [1;66]
Từ kinh nghiệm của HTX Dân Thành, Huyện ủy Nga Sơn đã chỉ đạo thành lập các HTX thủ công nghiệp ở các xã Nga Trung, Nga Thủy, Nga Bạch, Nga Liên Việc tổ chức các HTX thủ công nghiệp và mở rộng sản xuất chiếu cói đã tạo thêm công ăn việc làm cho hàng ngàn gia đình ở huyện Nga Sơn
Các HTX bậc cao hình thành trong những năm 1961 – 1965 có quy mô sản xuất được mở rộng hơn (trước một thôn có 1 đến 2 HTX, sau này HTX được mở rộng quy mô đến toàn thôn, liên thôn và quy mô toàn xã, thậm chí có nơi liên xã) Những tư liệu sản xuất chủ yếu trước kia là cổ phần đóng góp, giai đoạn này được TTH hoàn toàn: đất đai, trâu bò, nông cụ, vốn… Hộ gia đình xã viên chỉ được giữ lại khoảnh đất 5% để làm kinh tế phụ gia đình Chế
độ phân phối trong HTXNN bậc cao hoàn toàn dựa vào ngày công lao động được tính bằng điểm, quỹ hoa lợi ruộng đất bị bãi bỏ Về thực chất người xã viên trở thành người làm công cho HTX
Bảng 1.2: Số lƣợng và quy mô của HTXNN Thanh Hóa năm 1960 - 1965
1960 1961 1962 1964 1965 1- Tổng số HTXNN (HTX)
Trong đó: Bậc thấp
Bậc cao
2- Quy mô của HTXNN
- Diện tích canh tác bình quân 1 HTX (ha)
+ HTX bậc thấp + HTX bậc cao
4.440 3.749
587
34.7 30.0 64.0
3.256 2.372
884
45.2 35.0 73.0
3.191
884 2.307
47.1 46.0 60.0
3.880 2.392 1.488
42,7 44,0 57,1
3.935 1.701 2.234
43,1 51,4 30,0
Trang 30- Số hộ xã viên bình quân 1 HTX (hộ)
+ HTX bậc thấp + HTX bậc cao
- Quy mô HTX theo hộ (HTX)
984
390
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa (1965), Số liệu thống kê kinh tế - xã
hội tỉnh Thanh Hóa năm 1960 - 1965, Nhà xuất bản Thống kê, tr 38
Qua bảng trên ta thấy, số lượng HTX đến năm 1965 có sự giảm sút đáng kể so với năm 1960 (Năm 1960 là 4.440 HTX, năm 1965 là 3.935 HTX, giảm 505 HTX) Không phải là nền kinh tế hợp tác suy yếu mà các HTX đã có
sự chuyển biến, mở rộng về quy mô, nhiều HTX gộp lại thành các HTX có quy mô liên thôn, toàn xã, liên xã
HTX bậc cao đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để đầu tư khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh công tác thủy lợi, thực hiện các chính sách xã hội HTX có vai trò to lớn trong việc huy động sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc
Cùng với việc xây dựng các HTXNN bậc cao, các lĩnh vực TTCN, ngư nghiệp, diêm nghiệp cũng tiến hành TTH cao độ và do HTXNN thống nhất quản lý Các HTXNN đều thành lập các tổ, đội chuyên sản xuất thủ công, chuyên chăn nuôi, chuyên nuôi cá, tổ hợp tác mua bán… Ở những nơi không
đủ điều kiện để thành lập tổ sản xuất thủ công, tổ mua bán… thì những lao động này chuyển sang sản xuất nông nghiệp
Việc mở rộng quy mô HTX tuy có tạo ra một số điều kiện thuận lợi, nhưng do kinh nghiệm quản lý yếu kém nên sản lượng và năng suất có nguy
cơ giảm dần: Năm 1959 năng suất lúa đạt 23,3 tấn/ha, năm 1960 chỉ đạt 18,3
Trang 31tấn/ha, năm 1962 chỉ còn lại 16,8 tấn/ha Lương thực bình quân đầu người trong 1 năm cũng giảm dần: năm 1959 đạt 394 kg, năm 1960 còn lại 305kg, năm 1962 là 282kg [1;71]
Nhằm nâng cao trình độ tổ chức quản lý HTX, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy quyết định triển khai cuộc vận động cải tiến quản lý HTX nhằm nâng cao trình độ tổ chức quản lý HTX, đẩy mạnh sản xuất nâng cao thu nhập cho nông dân Kế hoạch tiến hành được chia thành nhiều đợt, mỗi đợt sẽ chỉ đạo cải tiến ở một số HTX
Đợt 1 tiến hành cải tiến ở 32 HTX thuộc 12 huyện miền xuôi Cùng với
300 cán bộ của Ban công tác nông thôn được Trung ương tăng cường, Tỉnh ủy còn điều động hàng trăm cán bộ trực tiếp chỉ đạo quản lý HTX Tỉnh ủy chủ trương hoàn thành cải tiến quản lý HTX vào cuối năm 1964 Nhưng cuối năm
1964 chỉ tiến hành được 1.268 HTX ở miền xuôi và 8 HTX ở miền núi Năm
1965 , Tỉnh ủy tiếp tục chỉ đạo hoàn thành cải tiến quản lý HTX, nhưng chiến tranh phá hoại diễn ra ác liệt nên việc chỉ đạo cải tiến HTX gặp nhiều khó khăn
Sau khi tiến hành cải tiến, phần lớn các HTX đã xây dựng được phương
án, kế hoạch sản xuất, một số đã thực hiện 3 khoán, 3 quản, hệ thống sổ sách
kế toán thống kê rành mạch rõ ràng khoa học hơn Một số cán bộ yếu kém về năng lực, vi phạm sai lầm tham ô, mất dân chủ bị xử lý và thay thế Năm 1965
đã có 48% tổng số HTX trong toàn tỉnh đạt loại khá, 40% loại trung bình, 2 HTX Xuân Thành và Đông Phương Hồng (xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân) đạt loại tiên tiến [1;112]
Nhiều HTX đã trở thành điển hình toàn diện trở thành điển hình từng mặt HTX Yên Trường trở thành lá cờ đầu trong tỉnh, HTX Định Tăng (Yên Định) điển hình về cải tiến công cụ sản xuất HTX Thúy Đại (Nông Cống) điển hình về trồng cây công nghiệp, HTX Diên Lộc, Mỹ Lược (Hoằng Hóa) điển hình về thâm canh tăng năng suất
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ 6 (7/1963), Tỉnh ủy Thanh Hóa đã phát động cuộc vận động đồng bào miền xuôi tham gia phát
Trang 32triển kinh tế miền núi, phương châm của cuộc vận động là dựa vào lực lượng HTX và nhân dân là chủ yếu, nhà nước giúp đỡ một phần Cuộc vận động này
đã dẫn đến sự ra đời của một loạt HTX ở miền núi Thanh Hóa Huyện ủy Bá Thước đã chỉ đạo xây dựng 10 HTX định canh, định cư, 46 HTX xen ghép ở các xã Quý Lương, Hồ Điền, Long Văn, Ban Công…
Điển hình của các HTX ở miền núi Thanh Hóa là HTX Lốc Toong (xã Trung Hạ huyện Quan Hóa) HTX Lốc Toong thành lập vào tháng 8/1959, tất
cả xã viên là người Thái Ruộng đất của HTX phân bố không đều: nơi cao, nơi thấp, cánh đồng nọ cách cánh đồng kia từ 2-3km; nạn úng hạn luôn đe dọa Nhưng năm 1964, HTX Lốc Toong đã phấn đấu đạt hơn 6 tấn thóc/ha gieo trồng; mỗi hộ bình quân nuôi 4 con lợn HTX còn tổ chức nuôi cánh kiến, nuôi
cá nước ngọt và trồng 1.356 bụi luồng HTX Lốc Toong trở thành ngọn cờ đầu
về sản xuất nông – lâm nghiệp ở miền núi Thanh Hóa [1;113]
Phong trào TTH ở Thanh Hóa trong năm năm tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội (1961 – 1965) đã góp phần làm cho diện mạo nông nghiệp và nông thôn Thanh Hóa có những chuyển biến đáng
kể Do huy động được sức người, sức của, hệ thống hồ đập, kênh mương tưới tiêu được xây dựng rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh Lần đầu tiên, các phương tiện cơ giới như máy cày, bừa, máy bơm nước, máy xay xát đã đến với nông thôn, phục vụ sản xuất nông nghiệp Toàn tỉnh nỗ lực phấn đấu đạt mục tiêu 5 tấn thóc, 2 con lợn trên 1 ha gieo trồng Các HTX Thắng Lợi, Xuân Thành, Đông Phương Hồng, Khoan Hồng, Lốc Toong, Yên Trường là những đơn vị dẫn đầu về năng suất cây trồng, vật nuôi trong tỉnh Các lĩnh vực ngư nghiệp, diêm nghiệp, lâm nghiệp cũng phát triển mạnh Ngân hàng đã đầu tư cho các HTX ngư nghiệp vay vốn sắm sửa hàng trăm thuyền các loại Nhờ đó năm
1965, giá trị tài sản cố định đã tăng lên 1.675 tỷ đồng, sản lượng cá khai thác đạt 24.480 tấn Diện tích làm muối mở rộng gấp ba lần năm 1960, sản lượng muối đạt 13.425 tấn [1;113]
Trang 33Trong những năm 1965 – 1968, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt Thanh Hóa là một trong những trọng điểm đánh phá của không quân và hải quân Mỹ trong suốt hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc Hoàn cảnh chiến tranh ác liệt càng khích lệ cho tinh thần hợp tác phát triển nhanh chóng
Tỉnh ủy chỉ đạo 8 huyện miền núi kết hợp với Ty Lâm nghiệp đẩy mạnh khai thác lâm sản phục vụ cho chiến đấu Nhiều HTX sơn tràng đã được thành lập trong thời kỳ này Trong 4 năm (1965 – 1968) toàn tỉnh đã khai thác gần nửa triệu khối gỗ, 15 triệu cây luồng, 45 triệu cây nứa và nhiều lâm sản khác phục vụ chiến đấu và đời sống Song song với khai thác là việc gieo trồng, chăm sóc hàng vạn ha rừng [1;118]
Sản xuất nông nghiệp cũng được đẩy mạnh Các HTX tích cực cải tiến
kỹ thuật Việc sử dụng phân chuồng bón ruộng và vôi chống chua phèn được nhân rộng Việc sử dụng cào cải tiến 64A và cày 51 đã trở thành phong trào Nhờ thay đổi tập quán canh tác, năng suất lúa từ 20 tạ/ha năm 1965 đã tăng lên 28 tạ/ha năm 1967 Phong trào chăn nuôi gia súc cũng đạt được nhiều thành tựu HTX Khe Bình (Như Xuân) có 34 hộ đã làm 20 gian chuồng trại chăn nuôi 250 con bò (bình quân mỗi hộ 7,3 con) và đã đào đắp 1 hồ tưới nước dung lượng 49.000m3
nước HTX Cổ Lũng (Bá Thước) với phong trào thi đua 10 nhất đã trở thành HTX điển hình của khu vực miền núi [1;119]
Ở khu vực đồng bằng, giặc Mỹ đánh phá ác liệt nhưng với mục tiêu 5 tấn, 2 con trên 1 ha gieo trồng, trong nông nghiệp nông thôn cũng giành được nhiều thành tựu Huyện Thọ Xuân bằng các biện pháp tổng hợp (thủy lợi, giống mới, kỹ thuật canh tác và phân bón) đã phấn đấu trở thành huyện đầu tiên đạt 5 tấn/ha gieo trồng Trong đó các HTX Thắng Lợi, Xuân Thành và Đông Phương Hồng đạt 7,5 đến 8 tấn/ha gieo trồng được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi
Nhân rộng điển hình sản xuất giỏi, Tỉnh ủy đã tổ chức cho 3.000 cán bộ quản lý trong tỉnh về Đông Phương Hồng học tập kinh nghiệm thâm canh,
Trang 34tăng năng suất lúa và kinh nghiệm trồng dâu nuôi tằm Tháng 12 năm 1966, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã về thăm và khen ngợi nghề trồng dâu nuôi tằm
ở Đông Phương Hồng
Ở vùng biển, ngư dân kiên cường vừa sản xuất vừa chiến đấu Điển hình là HTX Trung Thành, Thành Lập (huyện Quảng Xương), HTX làm muối Tiền Phong (huyện Tĩnh Gia) Nhờ đó mà từ 1965 – 1968, tổng sản lượng tôm
cá bắt được trên 60 nghìn tấn Năm 1968, sản lượng muối đạt 14 nghìn tấn, tăng gấp 2 lần năm 1964 [1;120]
Trong năm 1965, toàn tỉnh có 787 HTXNN chuyển lên bậc cao nâng tổng số HTX bậc cao lên 3.069 HTX chiếm 785 số HTX trong tỉnh Trong tỉnh, bất cứ nơi nào cũng xuất hiện những điển hình tiên tiến về thâm canh, chăn nuôi, làm thủy lợi, cải tạo đồng ruộng…
Năm 1974, Hội nghị nông nghiệp ở Thái Bình đã tổng kết chặng đường
10 năm HTX Sau khi dự Hội nghị ở tỉnh Thái Bình, Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo huyện Thọ Xuân và hai HTX Xuân Thành, Trần Phú tổ chức lại sản xuất theo hướng sản xuất lớn Số HTX quy mô toàn
xã hàng năm tăng dần Đến cuối năm 1974, số HTX quy mô toàn xã là 326 HTX (chiếm 80% số xã ở vùng đồng bằng) [1;120] Ở miền núi, tỉnh làm thí điểm ở một số địa phương có điều kiện thuận lợi như xã Cẩm Sơn (huyện Cẩm Thủy) Nhiều HTX đã trang bị máy phát lực cỡ nhỏ để nghiền thức ăn gia súc, tuốt lúa, bơm nước, phun thuốc trừ sâu…
Sau 1975, chiến tranh kết thúc, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Cũng như cả nước, đây là thời kỳ mô hình HTX - TTH Thanh Hóa nói riêng phát triển tới trình độ cao nhất trong cả lý luận lẫn thực tiễn Từ 4.440 HTX bậc thấp, quy mô nhỏ năm 1960, đến năm 1976 do hợp nhất lại theo quy
mô toàn xã nên chỉ còn 1.223 đơn vị, trong đó có 90% là HTX bậc cao Bình quân ở đồng bằng 1 HTX quản lý sử dụng 300 ha, ở trung du miền núi 552 ha đất nông lâm nghiệp (trong đó 77,2% là đất lâm nghiệp) Riêng vùng núi cao
Trang 35đến cuối năm 1976 đã chuyển 534 thôn bản thành 360 HTX với 17.438 hộ và 118.796 nhân khẩu [2;28]
Để đưa sản xuất nông nghiệp lên sản xuất lớn XHCN, triển khai Nghị quyết 02 (tháng 10 năm 1977) của Trung ương Đảng, ngày 22/10/1977, Tỉnh
ủy ra Nghị quyết 6 NQ/TU nhằm tập trung mọi lực lượng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp Ngày 08/8/1977, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra
Nghị quyết về bồi dưỡng cán bộ HTX học tập và làm theo gương điển hình tiên tiến thi đua với HTX Định Công Mỗi HTX cử 15 người đi học tập trong
thời gian 3 tháng tại 4 HTX tiên tiến: Định Công, Đông Hòa, Xuân Thành, Điền Lư)
Phong trào “Định Công hóa” các HTXNN đã gắn với việc củng cố quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn, áp dụng khoa học - kỹ thuật Do đó, các HTX đã xác định được phương hướng sản xuất, cải tiến một bước công tác
tổ chức quản lý lao động Tính đến ngày 15/3/1978, trong 7 huyện, thị xã đã
có 127 HTX đăng ký thi đua với Định Công Trong đó huyện Hoằng Hóa có
38 HTX, huyện Đông Thiệu (gồm huyện Đông Sơn, Thiệu Hóa và Yên Định ngày nay) có 19 HTX, huyện Nông Cống có 30 HTX, huyện Vĩnh Thạch (gồm huyện Vĩnh Lộc và Thạch Thành ngày nay) có 16 HTX, huyện Thọ Xuân có 15 HTX, huyện Hậu Lộc có 6 HTX, TX Thanh Hóa có 3 HTX Trong thời gian này đã xuất hiện nhiều điển hình tốt toàn diện và từng mặt như các HTX Định Công (Thiệu Yên), Đông Hòa (Đông Sơn), Phú Lộc (Hậu Lộc), Hà Châu (Trung Sơn), Tiến Nông (Triệu Sơn), Tượng Văn (Nông Cống), Hoằng Hợp (Hoằng Hóa), Điền Lư (Bá Thước)… Nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ nông nghiệp được tăng cường Năm 1978, hệ thống HTX đã xây dựng hoàn chỉnh nhà kho, sân phơi, mua sắm nông cụ, xe vận chuyển và
500 đầu máy kéo nhỏ [2;34]
Bên cạnh trồng trọt, các ngành TTCN, diêm nghiệp, nuôi trồng thủy sản
và một số lĩnh vực vốn trước đây được tiến hành trong khuôn khổ kinh tế hộ gia đình như nuôi lợn, gia cầm cũng được TTH Năm 1977, Tỉnh ủy chỉ đạo
Trang 36mở rộng quy mô HTX Từ 1.223 HTX năm 1976 đã sát nhập, còn lại 1.071 HTX năm 1977, trong đó có 428 HTX quy mô toàn xã [2;35]
Quan hệ sản xuất mới được xác lập về khách quan đã có tác dụng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nông nghiệp – nông thôn Thanh Hóa nhất là trong việc khai hoang mở rộng diện tích, thâm canh cây trồng vật nuôi,
bố trí lại cơ cấu mùa vụ, tạo được một số vùng chuyên canh trong tỉnh Xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng, nổi bật là các hệ thống thủy lợi tưới tiêu như sông Lý, sông Hoàng, sông Quảng Châu, hệ thống thủy lợi nội đồng và các công trình lưới điện, giao thông đã làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt nông thôn và ngày càng phát huy hiệu quả
Những thành quả về xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ canh tác… mà mô hình TTH nông nghiệp ở Thanh Hóa đã đạt được trong thời kỳ này có ý nghĩa to lớn và lâu dài, tạo tiền đề cho sự phát triển của kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp Thanh Hóa trong giai đoạn sau
Tuy nhiên, các quy luật của chiến tranh che lấp các hạn chế của mô hình hợp tác trước kia không còn nữa Quy mô HTX càng được mở rộng, bộ máy quản lý càng lớn, trở nên cồng kềnh, xa rời thực tiễn sản xuất Những bất cập của cơ chế quản lý hành chính tập trung đã tỏ ra rất nghiêm trọng Tình trạng rong công phóng điểm đã trở thành phổ biến Thu nhập từ kinh tế tập thể của người lao động ở mức rất thấp Nguồn thu từ kinh tế tập thể đã trở thành nhỏ bé (30 – 40% tổng thu nhập) so với các nguồn thu khác Ở nhiều HTX ngày công chỉ còn 3 lạng thóc, thậm chí còn âm Tình trạng “chân ngoài dài hơn chân trong”, xã viên quay về với đất 5%, các ngành nghề phụ khác trở thành phổ biến Nhiều nơi ruộng đất bị bỏ hoang hóa (mặc dù ruộng đất bình quân đầu người rất thấp) Hơn thế nữa, những chính sách kinh tế từ tầm vĩ mô đối với nông nghiệp như chính sách giá thu mua nông sản thấp, giá bán hàng công nghiệp cao… càng làm trầm trọng thêm những bức xúc của nông nghiệp do yếu
tố nội tại của quá trình tổ chức và quản lý trong từng HTX
Trang 37Tình trạng trên đã dẫn tới kết quả là: vào những năm cuối của thập kỷ
70, sản xuất nông nghiệp bị giảm sút nghiêm trọng Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp Sản xuất phát triển chậm và không ổn định, nhất là vào giai đoạn
1975 – 1980, sản lượng lương thực toàn tỉnh từ 599.000 tấn năm 1975 đến năm 1980 chỉ còn 435.000 tấn; bình quân lương thực đầu người từ 256,3 kg năm 1970 đến thời kỳ 1976 – 1980 chỉ còn 227kg [2;34]
Nguyên nhân của tình trạng trên trước hết là do nhận thức sai lệch về bản chất, phương thức và mô hình kinh tế hợp tác, dẫn tới quan niệm một cách giản đơn, cứng nhắc và áp đặt một cách máy móc về mô hình chủ nghĩa xã hội trong
tổ chức HTX Khi tiến hành HTX lại coi HTX đồng nhất với TTH tư liệu sản xuất của xã viên, tư liệu sản xuất được đưa vào sản xuất tập trung trong các HTX nhưng việc quản lý và sử dụng lãng phí, hiệu quả thấp, hơn nữa làm cho người lao động không gắn bó với tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất Xã viên HTX chỉ chú ý làm sao để được tính nhiều công điểm nên nảy sinh hiện tượng làm ẩu, dựa dẫm nhau, chọn việc dễ, bỏ việc khó mà không quan tâm đến hiệu quả lao động, đến kết quả cuối cùng Việc tổ chức, thành lập các HTX thiên về
số lượng, quy mô, hình thức dẫn đến nóng vội, gò ép nông dân vào HTX, không tôn trọng nguyên tắc tự nguyện của người lao động
Từ những khó khăn của kinh tế hợp tác và sự xuất hiện các hình thức làm ăn mới, có hiệu quả của các HTXNN đòi hỏi mô hình hợp tác phải có sự đổi mới, tìm ra một hướng đi mới với cơ chế mới nhằm tiếp tục củng cố và phát triển kinh tế hợp tác và phát triển sản xuất nông nghiệp ở địa phương
1.2.3 Trong những năm bước đầu thực hiện chính sách khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động (1981 – 1986)
Vào cuối những năm 70 đầu năm 80 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế -
xã hội của đất nước nói chung, Thanh Hóa nói riêng gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn Sau hơn 20 năm xây dựng, củng cố và phát triển, kinh tế hợp tác theo mô hình HTH đã không mang lại hiệu quả
Trang 38Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa IV) họp tháng 8/1979 đã ra Nghị quyết về những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, điều chỉnh một số vấn đề kinh tế, làm cho “sản xuất bung ra”, mở ra thời kỳ phát triển mới của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Nghị quyết TW 6
đã nhanh chóng được triển khai ở Thanh Hóa và được nông dân nhiệt tình hưởng ứng Tỉnh ủy Thanh Hóa đã chỉ đạo hệ thống HTX cho xã viên mượn đất hoang hóa, ao hồ chưa được sử dụng để sản xuất và miễn các khoản đóng góp trong 3 năm Nghĩa vụ lương thực, thực phẩm, hãng xuất khẩu bán cho Nhà nước số lượng ổn định trong 5 năm, phần còn lại các HTX được bán cho Nhà nước hoặc bán ra thị trường với giá thỏa thuận Nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp tiếp tục được quan tâm hơn
Hình thức khoán hộ đang được gọi là “khoán chui” ở Thanh Hóa có điều kiện mở rộng Khoán hộ đối với rau, màu (khoán đất nhàn rỗi) được áp dụng tương đối phổ biến và công khai trong các HTXNN Nhiều HTX đã tiến hành khoán hộ đối với một số loại cây công nghiệp (lạc, đay, mía, dâu tằm, đậu tương) đem lại hiệu quả tốt Từ đó nhiều HTX đã mở rộng hình thức khoán hộ đối với cây lúa
Tháng 12 năm 1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị nông nghiệp toàn quốc tại Thanh Hóa để phổ biến Thông báo số 22 (21/10/1980) ghi nhận và cho phép các địa phương làm thử hình thức khoán sản phẩm đối với cây lúa Sau hội nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100/CT-TW (13/1/1981), chính thức quyết định thực hiện chủ trương khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong các HTXNN
Chỉ thị 100 là bước đột phá đầu tiên vào mô hình kinh tế hợp tác TTH cùng với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp của nó Đồng thời nó chấm dứt quá trình cải tiến cơ chế quản lý nông nghiệp theo xu hướng mở rộng quy mô HTX, tăng cường quản lý tập trung thống nhất ở mức độ cao
HTH-Ngay sau khi Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng được ban hành, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã kịp thời chỉ đạo các cấp tổ chức cho người lao
Trang 39động trong tất cả các HTXNN, ngư nghiệp học tập và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ xã và HTX nghiên cứu triển khai Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng thời tổ chức các đoàn cán bộ của tỉnh, huyện trực tiếp chỉ đạo
Quá trình sản xuất được chia ra làm 8 khâu, xã viên đảm nhận 3 khâu, HTX đảm nhận 5 khâu Hộ xã viên được giao một số diện tích ruộng đất với một số khoảnh nhất định Xã viên nhận giống, phân bón và thực hiện 3 khâu công việc cấy trồng, chăm sóc và thu hoạch - những khâu dựa vào cách làm thủ công mà từng hộ có thể làm tốt Những khâu công việc đòi hỏi kỹ thuật, gắn với sử dụng cơ sở vật chất, kỹ thuật chung như tuyển giống, làm mạ, làm đất, thủy nông, phân bón, phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ mùa màng… do tập thể đảm nhiệm HTX thành lập những đội chuyên như chuyên làm đất, chuyên giống, chuyên bảo vệ thực vật… hoạt động theo sự điều hành của HTX, theo chế độ khoán việc Trên mảnh ruộng được giao, hộ xã viên tự điều hành lao động và thời gian lao động, thực hiện theo tiến độ của HTX Sau khi thu hoạch, hộ xã viên nộp phần sản lượng khoán cho HTX, còn phần vượt khoán
họ được hưởng Trong chăn nuôi cũng thực hiện khoán cho hộ, HTX giao khoán con giống, thức ăn cho gia đình xã viên hoặc giao đất cho hộ nông dân chăn nuôi cho HTX
Tỉnh ủy Thanh Hóa hướng dẫn điều chỉnh quy mô HTX, đội sản xuất và cho tiến hành khoán sản phẩm cuối cùng đối với cây lúa Chủ trương đó được đông đảo nông dân hưởng ứng và nhiều địa phương thực hiện Trước khi triển khai Chỉ thị 100, những năm 1979 – 1980, Thanh Hóa đã được Trung ương chỉ đạo khoán thử ở huyện Triệu Sơn Đúc kết kinh nghiệm Triệu Sơn, tỉnh ủy chỉ đạo triển khai ở hầu hết các loại cây trồng, vật nuôi, ngành nghề trong các HTXNN, ngư nghiệp, TTCN Khoán sản phẩm tiến hành đồng thời với các chính sách kinh tế mới của Nhà nước đã thúc đẩy kinh tế phát triển Vụ chiêm xuân năm 1981, hầu hết các HTXNN trên địa bàn tỉnh đã triển khai thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Ở đồng bằng đã có 79% tổng số
Trang 40HTX tiến hành khoán sản phẩm đối với cây lúa Việc khoán sản phẩm tuy có một số lệch lạc, nhưng về cơ bản, các nơi đều làm nhanh, có hiệu quả rõ rệt, nông dân rất phấn khởi
Năm 1981, năm đầu tiên thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong các HTXNN, toàn tỉnh phải khắc phục hậu quả nặng nề của cơn bão số 2 có cường độ gió cấp 11, 12 vào Thanh Hóa ngày 3 thán 7 năm 1981, nhiều đoạn
đê biển ở các huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương, Hoằng Hóa và Hậu Lộc bị vỡ, nước mặn tràn vào làm ngập 12.659 ha lúa, làm mất trắng 3.961 ha lúa Tuy nhiên, toàn tỉnh vẫn đạt được những thành tựu mới [2;65]
Bảng 1.3: Kết quả sản xuất nông nghiệp những năm 1981 - 1985
Danh mục ĐV tính 1981 1982 1983 1984 1985
Tổng diện tích gieo trồng 1.000 ha 378,8 381,0 383,4 391,3 398,7 Tổng sản lượng lương thực 1.000 tấn 687,2 722,7 700,0 750,0 800,0 Bình quân lương thực đầu
Nguồn: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2005), Những sự kiện lịch
sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 1975 - 2000, Nhà xuất bản Thanh Hóa, tr 76
Tổ chức và quản lý trong HTXNN được củng cố và cải tiến 100% số HTX thực hiện khoán màu và cây công nghiệp, 95% tổng số HTX miền xuôi
và 15% tổng số HTX miền núi khoán lúa chiêm xuân 100% tổng số HTX miền xuôi và 75% tổng số HTX miền núi khoán lúa mùa 54% tổng số lợn tập thể được khoán theo hình thức gia công Kết quả là hơn 50% tổng số hộ vượt khoán sản phẩm lúa Năm 1982, nông nghiệp Thanh Hóa đạt sản lượng lương