1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài giáo dục chương trình địa phương_Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn

32 1,5K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 333 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người Nguồn sống ở tất cả 16 xã và thị trấn của huyện Minh Hóa, trong đó sốngtập trung chủ yếu các xã Hồng Hóa, Yên Hóa, Xuân Hóa, Tân Hóa, Trung Hóa, HóaPhúc, sống xen kẽ với người Kinh

Trang 1

Rằm tháng 3 – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn 24

Trang 2

Rằm tháng ba, ai dẫu chỉ một lần đến thôi cũng sẽ không bao giờ quên đượcnhững ấn tượng đặc biệt của nó Đó là vẻ huyền ảo của ánh trăng rằm miền sơn cướcquyện trong tiếng hát đúm, sắc bùa, làn điệu hôi lên (những điệu hát giao duyên củangười Nguồn) những là điệu thân thương để bày tỏ tình yêu đôi lứa

Chơi đêm trăng, bạn sẽ thấy những nam thanh nữ tú với những bộ áo quần đẹp nhất với những chiếc ô thổ cẩm đủ sắc màu, dưới ánh trăng thanh, hiu hiu gió quạt, họtrao nhau nụ cười, lúng liếng ánh nhìn, chênh chao câu hát đúm Và đã có biết bao cặp

ở cách xa nhau hàng ngày đường núi, đêm hội rằm đã bén duyên nên vợ nên chồng Ánh trăng của đêm Rằm tháng ba bây giờ vẫn thanh trong như dát bạc lên những cánh rừng Những người con Nguồn dù có ở xa vẫn xao xuyến nhớ đến ngày hội

“Xa rừng xa rú lâu nayVẫn không quên được ngày rằm tháng ba”

Đó là lời mời gọi bàn bè bốn phương, là lời nhắc nhở những người Nguồn xa quê,hãy nhớ và về với hội rằm như là hướng về nguồn cội

Cuốn tiểu luận này là quá trình tìm hiểu, nghiên cứu Nhóm chúng tôi hi vọngrằng đó là món quà ý nghĩa cho những ai thích tìm hiểu, thích nghiên cứu, thích khámnhững nét đặc sắc của văn hóa dân gian người Nguồn

Xin chân thành cảm ơn

Nhóm tác giả: Đinh Ngọc Tú

Trần Thị Kim Hòa - Đinh Thị Tuyết Nhung

Cao Mạnh Thành - Trương Thị Hoa Lí - Đặng Phúc Như

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xa xưa, người dân Minh Hóa đã dặn lòng với nhau rằng:

“Thà rằng đau ốm mà nằm,

Trang 3

Ai đã từng đến dự lễ hội rằm tháng ba ở Minh Hóa, dẫu chỉ một lần thôi cũng sẽkhông bao giờ quên được những ấn tượng đặc biệt của nó Đó là vẻ huyền ảo của ánhtrăng rằm miền sơn cước quyện trong tiếng hát đúm, sắc bùa và làn điệu hôi lên(những điệu hát giao duyên của người Nguồn), những làn điệu bày bày tỏ tình yêu đôilứa

Là những người Nguồn, sinh ra và lớn lên nơi vùng đất đầy nắng và gió lào, giữabốn bề núi đá Hội rằm tháng ba từ lâu đã là thành niềm tự hào của mỗi chúng tôi, một

lễ hội chỉ có riêng tại Minh Hóa

Tự hào về quê hương, hướng về cội nguồn và mong muốn được “khoe khoang”nét văn hóa địa phương với mọi người, đồng thời cũng là cơ sở để chúng tôi được tìmhiểu thêm về văn hóa nguồn cội, làm tư liệu cho dạy học văn hóa – lịch sử địaphương… Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài: Rằm tháng 3 – Nét đặc sắc trong văn hóatruyền thống người Nguồn

2 Phương pháp – Nhiệm vụ nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tiểu luận này, chúng tôi đã tìm hiểu, điều tra thực tế, tiếp xúc lấythông tin từ những người lớn tuổi Đặc biệt chúng tôi được tham khảo các tài liệunghiên cứu của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Đinh Thanh Dự, tác giả Hoàng Mai,diễn đàn Minhhoa Info.com Sau đó dùng phương pháp thống kê, phân tích tài liệu,

so sánh đối chiếu giữa tài liệu và thực tế hiện nay…

b Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu khái quát đặc điểm tự nhiên – xã hội của người Nguồn

- Đi sâu vào nghiên cứu hội rằm tháng ba, các nét văn hóa đặc sắc của ngườiNguồn trong hội rằm

3 Đóng góp mới của quá trình nghiên cứu.

Trang 4

Đây là Tiểu luận nghiên cứu về hội rằm tháng ba ở Minh Hóa Đi sâu vào nhữngnét văn hóa đặc sắc của người Nguồn trong lễ hội Hy vọng đó sẽ là tư liệu tham khảocho mọi người tìm hiểu, nghiên cứu, là món ăn tinh thần cho những ai đam mê vănhóa địa phương và là tư liệu cần thiết cho quá trình giảng dạy văn hóa – lịch sử địaphương.

PHẦN II: NỘI DUNG

1 Vài nét khái quát văn hóa người Nguồn ở huyện Minh Hóa.

a Lịch sử hình thành.

Người Nguồn là tên gọi cộng đồng người gồm 3,5 vạn nhân khẩu, sinh sống ởhuyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam Hiện vẫn còn chưa có sự thống nhất vềviệc người Nguồn có phải là một sắc tộc riêng hay không

Trên vùng đất hai tổng Cơ Sa và tổng Kim Linh xưa (thuộc châu Bố Chính, trấnNghệ An ngày xưa) của huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình đã có người Nguồn sinhsống Người Nguồn có ngôn ngữ riêng bền vững, có các sinh hoạt văn hoá riêng biệt

và các giá trị văn nghệ dân gian khá phong phú

Người Nguồn sống xen kẽ với người Sách và người Rục ở Thượng Hóa, Hóa Sơn,người Mày, người Khùa, và người Arem ở xã Dân Hóa và xã Trọng Hóa

Người Nguồn sống ở tất cả 16 xã và thị trấn của huyện Minh Hóa, trong đó sốngtập trung chủ yếu các xã Hồng Hóa, Yên Hóa, Xuân Hóa, Tân Hóa, Trung Hóa, HóaPhúc, sống xen kẽ với người Kinh ở thị trấn Quy Đạt, xã Quy Hóa, Hóa Thanh, sốngxen kẽ với người Sách, người Rục ở xã Thượng Hóa, Hóa Sơn, Hóa Hợp, Hóa Tiến,với người Mày và người Khùa ở xã Dân Hóa và xã Trọng Hóa.Hiện nay, các văn bằng chứng chỉ ghi ông thủy tổ của người Nguồn là người họTrương, họ Thái ở "Lang Ni thôn, Kim Linh nguyên, Bố Chính châu, Tiên Bình phủ,Đại Việt Quốc", là người họ Đinh, họ Cao ở "Quy Đạt thôn", hoặc Phôốc Lác thôn,

Cơ Sa nguyên, Bố Chính châu, Tiên Bình phủ, Đại Việt Quốc

Trang 5

Theo những người già của người Nguồn kể lại: Trước khi ông thủy tổ của họ đến

Cơ Sa nguyên và Kim Linh nguyên thì tại đây đã có người bản xứ là người Cọi sinhsống: một bộ phận ở trong các hang lèn là người Rục, một bộ phận ở trong các dãy lèn

là người Sách, một bộ phận ra ở ngoài làng trên các bồn địa nhỏ và thung lũng hẹp haibên bờ khe suối gọi là người ngoài làng Hiện nay chưa có tài liệu nào chắc chắn vềông thủy tổ của người Nguồn Người già của người Chứt cũng kể lại: Quê hương tổtiên của họ trước ở Cá Tràu, Cha Nghét, Hung Đèng, Hung La Ken, Hung Thón, Sạt,Xét, Trem Sau đó bị người Nguồn ép nên lên Chôông Cún, Gia Óc Sách ở làm ăncho đến nay

Người Nguồn và người Chứt đều kể lại cho con cháu mình nghe câu chuyện dângian "Người Nguồn và người Mày là hai anh em con trai một nhà mà ra" Chuyện kểrằng: Ngày xưa cha mẹ sinh ra hai người con trai, hỏi vợ, lập gia đình cho con xongthì cha mẹ chết cả Vợ chồng người anh chiếm hết tài sản của cha mẹ, ở lại vùng đấtbằng làm ăn già có, sinh con cháu thành người Nguồn Vợ chồng người em chỉ lấyđược một cuốn sách của cha, đem nhau lên núi cao ở làm ăn, sinh con, sinh cháuthành người Mày, tức là người Chứt Từ đó, họ cho rằng, Người Chứt và người Nguồn

có quan hệ huyết thống giòng tộc với nhau Trong dân gian người Nguồn còn lưutruyền những câu ca dao đầy tình nghĩa:

Mạ khinh con Cọi ở hungThiếng ăn, thiếng chốn cúng chung ngoài làng

Nghĩa là

Chớ khinh con Cọi ở hung Tiếng ăn, tiếng nói cùng chung ngoài làng

Mạ khinh con Cọi ở hung

Thiếng ăn, thiếng chốn cúng ngoài làng thua xa

Trang 6

Nghĩa là

Chớ khinh con Cọi ở hung

Tiếng ăn, tiếng nói cùng ngoài làng thua xa

Như vậy, có thể nói từ xa xưa, tại vùng Cơ Sa và Kim Linh này đã có người bản

xứ mà người địa phương gọi là người Cọi sinh sống Có lẽ trong quá trình biến đổilịch sử đã phân hóa thành người Rục tiếp tục ở hang lèn, người Mày ở trên các sườnnúi đầu ngọn nước các khe suối, dưới chân núi Giăng Màn, người Sách ở trong cáchung dưới chân các dãy lèn và người ngoài làng là người Nguồn ở trên các bồn địanhỏ và thung lũng hẹp Rồi người Tàu, người Lào, và chủ yếu là người Kinh từ cácnơi đến đây đã cộng hôn, cộng cư, cộng canh sinh sống với người Cọi, đem "họ" vàvăn hóa giòng họ “người cha đẻ” đến cho người Cọi – “người mẹ đẻ” - được ngườiCọi tiếp thu và đồng hóa văn hóa các dòng họ của người cha đẻ từ các nơi khác đến ở

Cơ sa và Kim Linh về tiếng nói, sinh hoạt văn hóa và đổi cả họ gốc thành họ ngườiNguồn ở Cơ Sa và Kim Linh, làm thành khối người Cọi - người tiền sử Cơ Sa - KimLinh phân hóa thành một bộ phận là người Chứt, dân tộc Chứt (Rục, Mày, Sách) vàmột bộ phận người Nguồn

Tìm hiểu các truyện dân gian của người Nguồn như: Sự tích sinh ra các dân tộc,Ôông Đùng, Mầy thằng Sắt, Thương con xóc côốc ăn vô lóc rọt, Pụt chộ tha, thakhôông chộ Pụt cho ta thấy "bóng dáng lịch sử" nguồn gốc tổ tiên người Nguồncùng sinh ra từ cội nguồn nguyên thủy (Proto Việt - Mường) tại Sa Cơ - Kim Linh vớingười Sách, Mày, Rục thuộc dân tộc Chứt Chính người Nguồn gốc bản địa đã tiếp thuNguồn hóa người Kinh từ các nơi đến qua các thời kì lịch sử khác nhau về tiếng nói,văn hóa kể cả họ tên nữa, nếu có giữ được tên họ thì cũng bị Nguồn hóa hoàn toàn vềtiếng nói là tiếng Nguồn, về văn hóa mẹ đẻ là văn hóa Nguồn

b Đặc điểm, không gian văn hóa người Nguồn

Minh Hóa là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Bình Bắc

và Đông giáp huyện Tuyên Hoá Nam giáp huyện Bố Trạch Tây giáp Lào Vùng đất

Trang 7

này nổi tiếng với chè xanh mật ngọt thắm đượm tình quê như trong lời ca Khúc

"Đường lên Quy Đạt" của nhạc sĩ Trần Hoàn

Với diện tích: 1.412,71km2 và dân số: 46.851 người Trong đó người Nguồnchiếm đa số, số còn lại có khoảng 3.000 người Kinh, 1.000 người Khùa, Mày, Rục,Sách Mật độ: khoảng 29 người/km2.

Huyện có đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á, quốc lộ 12A chạy qua Từ thànhphố Đồng Hới bạn có thể đến huyện Minh Hóa bằng hai con đường: Con đường thứnhất từ Đồng Hới chạy theo quốc lộ 1A về thị trấn Ba Đồn huyện Quảng Trạch, sau

đó chạy theo quốc lộ 12A lên Minh Hóa Con đường thứ hai chạy theo đường Hồ ChíMinh, xuất phát từ Cộn chạy hướng Bắc khoảng 120 km là tới nơi, với con đường này

sẽ thật hấp dẫn cho những ai đi du lịch Dọc theo đường xuyên Á, bạn sẽ lên cửa khẩuCha Lo nơi có chợ biên giới giao thương với nước bạn Lào

Thị trấn Quy Đạt là trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của huyện, hàng nămvào hội rằm tháng ba, nhân dân khắp các xã của huyện và người dân ở các huyện kháctrong tỉnh tập trung về đây để thưởng thức không khí lễ hội nhộn nhịp với những tròchơi dân gian, những điệu hôi lên đằm thắm mượt mà, ẩm thực đặc sắc cơm pồi và ốcđực, chè xanh và mật ong rừng của huyện bởi thế mới có câu ca:

"Thà rằng đau ốm mà nằm

Ai lại nở bỏ hội rằm tháng ba.”

Tuy dân số không đông, nhưng Minh Hoá lại có nhiều dân tộc anh em cùng chungsống Họ đã góp phần làm nên nét phong phú và độc đáo trong đời sống văn hoáhuyện nhà Năm 2002, một đoàn sưu tầm gồm 5 cán bộ Viện Âm nhạc, kết hợp vớimột số cán bộ sở Vǎn hóa Thông tin tỉnh Quảng Bình đã bắt đầu chuyến điền dã từngày 24/4 đến ngày 1/5/2002 tại nhiều xã của huyện Minh Hóa Với sự phong phú vềlàn điệu, độc đáo về thể loại và phong cách diễn xướng, đoàn sưu tầm đã tìm hiểu kỹ

về từng thể loại, đồng thời tổ chức thu thanh và ghi hình tại chỗ những thể loại âm

Trang 8

nhạc dân gian của người Nguồn và phân loại ra đó là các làn điệu: Hôi lên, sắc pùa, hò thuốc

cá, hát đúm…

c Chủ thể văn hóa người Nguồn.

Theo các tài liệu nghiên cứu thì người Nguồn ở huyện Minh Hóa sống xen kẻ vớingười Kinh và một số dân tộc khác như Vân kiều, Bru, Khùa, Mày, Rục, Sách Ngườinguồn có khoảng 3,5 vạn người và phân bố khắp 16 xã thị trấn trong huyện

Với tỷ lệ đông, văn hóa người Nguồn có những bản sắc riêng và nó ảnh hưởng đếncác dân tộc khác trong huyện Rằm tháng 3 – nét văn hóa đặc sắc truyền thống củangười Nguồn đã ảnh hưởng và trở thành lễ hội truyền thống của huyện Minh Hóa

2 Những nét cơ bản về bản sắc văn hóa người Nguồn.

a Cách thức sản xuất

Trang 9

Người Nguồn sống bằng nghề làm rẫy, đánh cá, săn bắt, lấy mật ong Ngoài cácnghề này, cho đến nay vẫn còn phổ biến các nghề hái lượm tự nhiên để có cái ăn hàngngày của người nguồn như bắt ốc, pách (hái) quả cà lào, hái rau rừng, đào khoai mài .

b Làm rẫy

Người Nguồn gọi công việc làm rẫy là "Mần mùa dộn" (trực dịch là "ở rẫy").Người Nguồn định cư thành từng bản, từng làng Ngoài định canh cày bừa làm lúavãi, lúa nước ít ỏi tại bản làng, thì bộ phận lớn người Nguồn còn du canh phát rừnglàm nương rẫy, Họ trồng khoai, ngô (trỉa sậu), v.v cứ ở chỗ này năm bảy năm lạichuyển đi chỗ khác Cứ như thế đi hết hung (thung lũng núi hẹp) này sang hung Tậpquán "mần mùa dộn" này được ghi lại khá đầy đủ trong văn học dân gian ngườiNguồn bằng câu chuyện "Thương con xóc côốc, ăn vôn lóc rọt " và trong bài "xẻ nát"của bài hát "sắc bùa"

c Đánh cá

Người Nguồn có phương pháp đánh cá tập thể Họ dùng rễ cây Tèng làm cá ngộđộc, say rồi bắt Vài ba người trở lên có khi cả một bản, một làng cùng nhau vào rừnglấy rễ cây tèng về, lên đầu thác ghềnh của khe suối lấy đá đắp thành cối bỏ rễ tèng vàocùng nhau dùng cây gỗ vát dẹt hai đầu giã cho nước tèng chảy ra giữa vực sâu làmcho cá chết rồi bắt lấy chia nhau về ăn Chính từ nghề thuốc cá này mà người Nguồn

đã sáng tạo cho mình điệu hò thuốc cá (đánh cá bằng thuốc), một điệu hò độc đáo chỉ

có người Nguồn mới có

d Săn bắt thú rừng

Người Nguồn săn bắt thú rừng bằng đủ mọi cách: Dùng ná (nỏ), dùng tên độc bắn,dùng bẫy vòng, bẫy tó ho Đặc biệt người Nguồn có cách săn bắn thú rừng tập thểbằng lưới đày còng, mác, chó săn Một bản một làng lập thành phường săn sắm mộtvàng lưới gồm năm bảy chục tay lưới cùng nhau vào rừng tìm nơi hiểm yếu căng lưới

Trang 10

ra, lấy đày chống lên, chọn chục chàng trai đem chó săn đuổi, còn tất cả ngồi nấp kín

ở hai đầu lưới Khi đoàn săn vừa đánh cồng, vừa đuổi chó săn đuổi con thú chạy vàovàng lưới, thì cả làng xông ra đuổi con thú khiến cho nó chỉ có cách đâm thẳng vàolưới, lưới sập, người chỉ dùng mác (giáo) đâm chết con thú, đốt lửa nướng, mổ thịtchia nhau đem về ăn Nghề đi săn này cũng được ghi lại trong bài dân ca "Ti mán" (Đisăn) của văn học dân gian người Nguồn

e Nghề lấy mật ong rừng

Vào mùa tháng 3 đến tháng 6 âm lịch hàng năm, nam giới người Nguồn vào rừngtìm oong mạch (ong mật) đánh lấy mật Ong mật làm tổ dưới các cành cây cao nhưcây ngá, cây trôi, cây seng Nếu tổ ong mới ở chưa có mật thì lấy dây buộc vào cộicây, nhét một cành cây vào làm nêu, báo cho người sau biết, tổ ong trên cây đã có chủ.Khi tổ ong đã có mật, dùng dây bắc đày, dùng bối lá bó ỏn (đuốc) đốt lấy khói đuổicon ong đi mà lấy mật

Làm nghề này hay gặp tai nạn do đứt dây, gẫy cành gây chế người Điều này cũngđược ghi lại trong các câu chuyện dân gian người Nguồn như truyện "Sự tích hang mụ

tá Pạc" (Sự tích động bà đá Bạc)

f Công cụ sản xuất

Ngoài cày, bừa, cưa, đục tiếp thu kỹ thuật tiến bộ của người Kinh ra, người Nguồndùng các công cụ sản xuất phù hợp với nghề sản xuất của họ, đó là rựa rìu, chày trỉa,ống trỉa lúa rẫy, chày giã tèng bằng gỗ tạp, dùng xong là vứt ngay tại rẫy, chôốngchôồng, troi, pài, v.v

Về đồ đong đựng thì có oi, teo, típ, gié,(dụng cụ đựng), giôống (nông), thúm cúm(nia)…

g Văn hóa vật chất

*Ẩm thực

Trang 11

Người Nguồn thường ăn cơm Pồi, thau lang (rau khoai), ôốc tực (ốc đá vặn), càlào

Cơm pồi là món ăn hàng ngày của người Nguồn Nguyên liệu chủ yếu ngày xưa làsậu (ngô) hoặc là "thoóc" (lúa), sắn; ngày nay có thêm đậu (đỗ) Dụng cụ làm cơm pồigồm cối, chày, mẹt, sảy, dần, nồi nân, chõ đồ

Người Nguồn nấu nước sôi lên thì bắc xuống, cho ngô vào ngâm vài ba tiếng đồng

hồ, rồi vớt ra để ráo nước, bỏ vào cối giã, dần lấy bột, thấm nước lã, nhồi kỹ, đánh tơi

ra, bỏ vào "nghè hôông" (một dạng chõ) cùng với nước gọi là "nồi nân", lấy mo chuốivấn quanh miệng, rồi bỏ chõ đồ có bột ngô lên, bắc lên bếp đun lửa đồ chín thành

"cơm pồi"

Nếu là lúa, thì xay bỏ bớt trấu, vò nước nóng, để ráo, giã dần lấy bột rồi rồi làmtiếp như "Pồi" bột ngô Nay thêm sắn thì ngoài việc giã ngô, giã lúa thì sắm thêm bànmài, bàn ép Đào sắn tươi về rửa sạch, bóc lấy vỏ mài sắn, ép sắn, rồi trộn bột ngôhoặc lúa vào nhồi kỹ Cứ mỗi ngày hai bữa ăn thì phải hai lần "tâm pồi", bóc sắn, màisắn ép sắn và "xôi pồi"

Đây là một công việc vất vả và chủ yếu là việc của người phụ nữ, của người vợ

Ca dao người Nguồn có câu chan chứa tình yêu nam nữ:

Trời mưa dác chẳn queng hồi

Eng khôông lế cấy, ai tâm pồi cho eng ăn

Nghĩa là

Trời mưa nước chảy quanh hồi

Anh không lấy vợ, ai giã bồi cho anh ăn

Hoặc là

Lo xi cái xuyện tâm PồiDún lên, dún xuống một hồi ăn sức ănNghĩa là

Lo chi cái chuyện đâm bồi

Trang 12

Nhún lên, nhún xuống một hồi ăn sức ănCác món ẩm thực khác được nhắc đến như sau.

Trôông cho mau tếng mùa pồiNhớ con ôốc tực tang ngồi trên vâmNghĩa là

Trông cho mau đến mùa pồiNhớ con ốc vặn đang ngồi trên mâm

Mặt trời tá các tôộng ngồi

Ti nô cúng nhớ cơm pồi, thâu lang

Nghĩa là

Mặt trời đã gác bên đồi

Đi đâu cũng nhó cơm pồi, rau khoai

* Ở

Người Nguồn định cư thành từng bản, từng làng Những địa danh quen thuộc là:Phôốc Lác, Sạt, Lang Cầu, Ang, Pắt Nàng, Lim, Cụng, Phôốc Dứa, Lang Ni, Xét, LồHang, Trem, Pộôc, Thón, Sẩm, Pặt, Gieo, Các bản này hợp thành tổng Cơ Sa vàKim Linh ở trên cao nguyên Quy Đạt Nhưng người nguồn có tập quán du canh du cư,thích thì ở, không thích thì bỏ bản, bỏ làng đến nơi khác lập bản, lập làng làm ăn sinhsống

Trước Cách mạng tháng Tám, trừ một số nhà giàu làm nhà cặp còn đa số ở nhà pè.Nhà pè là loại nhà nền đất, toàn bộ cột trồng xuống nền nhà sâu từ 50 đến 60 cm vànện chặt Nếu nhà 3 căn thì có 4 vài (vì), còn nhà 2 căn thì có 3 vài Mỗi vài có 2 cộtchái (trước và sau), 2 cột mê (trưóc và sau), và một cột doóc (cột nóc), và một páng sa(băng ngang) gác lên hai đòn tay mệ ngay hai đầu cột mệ Có hai mái chính (trưóc vàsau) hình thang cân, mỗi mái có ba đòn tay: một đòn tay trái gác lên đầu các cột mệ,một đòn tay chồng 9 chồng 10 gác lên đầu các páng sao cho song song với đòn tay

Trang 13

mệ, cả hai mái chung nhau một đòn tay doóc 9 nóc tức là tòn tôông; hai mái hồi hìnhtam giác cân ở hai đầu hồi, mỗi mái có ba đòn tay: một đòn tay chái gác lên cột cháihồi ở hai đầu buộc vào hai đầu đòn tay trái của hai mái chính, một đòn tay doóc buộcvào ran 2 mái chính, một đòn tay mệ buộc vào 2 đòn tay chôồng của hai mái chính.Trình tự lắp đặt ngôi nhà pè như sau Trước tiên trồng hai cây cột mệ trước và cột

mệ sau, rồi gác đòn tay mệ lên đầu các cột mệ, rồi gác páng sa lên đầu các cột mệ, rồigác đòn tay chôồng lên đầu các páng sa song song với đòn tay mệ rồi tiếp trông cộtdoóc, gác tòn tôông, và trồng hai hàng cột chái, gác hai đòn tay chái Xong bộ khung,lợp lèng (tranh), hoặc là lá tro (lá cọ) Chung quanh nhà, hai phía đầu hồi và phía saurào kỹ, trét đất hoặc thưng lá tro, liếp nứa thật kín, phía trước làm của, dùng liếp nứathưng kín, tối lại đóng chặt của chống thú dữ Tri huyện Trần Mạnh Đàn đã viết:

Năm là nhà của bịt bùng

Tứ bề sinh khí không thông chút nào

Đó là kiểu nhà pè theo truyền thống của người Nguồn Ngày nay kiểu nhà pè nàyhầu hết được thay thế bằng nhà lợp ngói Một số ít được thay thế bằng nhà xây

* Mặc

Trước Cách mạng tháng Tám, người Nguồn trồng bông kéo sợi, dệt vải, cắt may

đồ đạc Nam giới mặc áo dài thân ngắn hoặc áo bốn thân cổ đứng, may quần đũngchè Chỉ có chèn để vận túm ngang rốn, rồi dùng một dải vải hoặc lụa gọi là “chạclưng” buộc vào Lúc đầu mặc trắng, sau đó nhuộm nu (nâu), hoặc chàm mà mặc chobền Nữ giới mặc áo dài năm thân hoặc áo ngắn bốn thân cổ kiềng (tròn) và may váymặc Váy của người Nguồn thường nhuộm chàm, không có chàm thì nhuộm bùn,xong rồi nhuộm vải nâu cho đen, vận túm trước bụng để che rốn

* Văn hoá tinh thần

Người Nguồn đã tiếp thu nguồn văn hoá người Kinh và phát huy kho tàng ca dao

và làn điệu dân ca của mình như hát sắc bùa, hát bội, hát nhà trò tiếp thu cách làm

Trang 14

thầy cúng tế thần linh, tang lễ the "thọ mai gia lễ" Nhưng cơ bản cho đến nay,người Nguồn vẫn bảo tồn và phát huy những phong tục tập quán sinh hoạt văn hoátinh thần của mình.

* Tín ngưỡng

Pụt: Là vị thần linh trên hết được người Nguồn thờ cúng để cầu tự tài lộc, cầu thọ.

Theo tâm linh người Nguồn được người già kể lại: Pụt là người tài giỏi đức độ biếnhoá không lường Pụt đã tạo ra con người Sau đó, ai không có con đến chỗ Pụt cầuxin Pụt có thể biến thành người hiền từ giúp người lương thiện gặp hoạn nạn,trừngtrị kẻ tham lam độc ác Pụt hoá thành tượng đá bên chóp lèn ông ngoi Sau đó dượcngười Nguồn mang xuống thác Dác Giòn, Lập bàn thờ Pụt tại đó Cho đến nay thácDác Giòn được gọi là thác Pụt Hằng năm, vào ngày rằm tháng ba âm lịch, hàng tổng

tổ chức làm chay tế cho Pụt, cầu cho mưa thuận gió hoà dân làng bình yên làm ăn.Các thầy cúng tế dịch chữ Pụt thành Phật, với hiệu mời là "Thập nhị Đức Phật nhưlai", rồi sau đó làm nhà thờ Pụt gọi là nhà Chùa (Tân Kiều – Yên Hóa), nên làm chonhiều nhà nghiên cứu lầm tưởng người Nguồn cũng theo đạo Phật như người Kinh.Nhưng người Nguồn thờ Pụt như là vị thần tổ đã sinh ra người mình, luôn luôn ở bênmình, giúp người mình mọi điều tốt lành

Nhân thần: Là những người bản xứ - người Cọi - lương thiện, tài giỏi, có công

giúp vua đánh giặc như ông Đỏ mỏ, hoặc người đi làm ăn ngộ nạn như ông Lâm Vọ,ông Lục Cục Họ chết hóa thành thần linh được người nguồn lập miếu thờ cúngđược vua phong sắc thần "đương cảnh chi thần" hợp thành hệ thống thần giang sơnbản mệnh của bản, làng, phù hộ cho mưa thuận gió hoà, dân làng bình yên làm ănthịnh vượng Mỗi làng bản ngươi Nguồn đều lập miếu thờ các Nhân thần Theo quanniệm của người Nguồn, nơi nào có người ở làm ăn thì nơi đó có nhân thần Có nhânthần đựợc vua sắc phong, nhưng phần nhiều không được vua sắc phong mà vẫn đượcngười Nguồn thờ cúng như Mụ Tá Pạc, Mệ Ngó, Cha Ngan, Ôông Mo, Thằng Xích

Trang 15

Sau Cách mạng tháng Tám tất cả các vị thần được lập miếu thờ ở Cơ Sa và Kim Linh,đều làm lễ tập trung ở tại Cầu Púng, thuộc xã Yên Hoá

Thần giang sơn: Mỗi bản làng người Nguồn đếu có hệ thống thần giang sơn (thần

khe núi) làm bản mệnh Gồm các vị thần được lập miếu thờ và các thần trời đất, khenúi trong bản làng Nơi thờ các thần có miếu thờ thì thờ cúng tại miếu, các thần khácđược chọn một nơi rừng rậm um tùm của vùng đồi gọi là lùm thần hay miệu, đóng 13

bộ vì để gác mâm lễ vật lên mà cúng Ở làng Sạt có lùm thần Dăm De, bản CầuNghiêng có lùm thần Dổm Sòi, làng Quy Hợp có lùm thần Dổm Pầu Lễ cúng cầunguyện hàng năm gồm:

- Lễ khai sơn vào mồng 7 tết: Lễ vật cúng gồm mỗi mâm một hoặc vài chiếc péng(bánh) rò to vuông vức do dân đem đến theo lệ bản làng đã quy định

- Lễ xuống chôống: Tức lễ tra, vại giống đầu tiên trong vụ mùa vào tháng 4 âmlịch

- Lễ cho trâu vào kiệt, lễ cầu thóoc lỗ (Lúa trổ) vào tháng bảy

- Lễ cuối năm chạp miệu vào 20 tháng chạp với lễ vật cúng của mỗi lễ này là làxôi, gà do dân làng góp lại theo quy định của bản làng Người đứng cúng những lễ này

là do ông Thủ từ do thần Giang sơn bản mệnh chọn trong buổi lễ sám tế thần bản làngvào rằm tháng giêng bằng cầm keo, ai được 3 keo sấp, 1 keo ngã bạc là được làmcúng bái Lời cúng là lời cúng xạ tình cầu nguyện gì thì nói nấy

Thờ cúng ông bà tổ tiên: Trước Cách mạng tháng Tám, người Nguồn ở Cơ Sa và

Kim Linh chỉ có họ Đinh của ông Lý Vị có nhà thờ họ tại làng Sạt, nhưng sau cáchmạng, nhà thờ đã hư hỏng, tất cả các họ khác không có nhà thờ họ, không có đấthương hoả từ đường Việc thờ cúng ông bà tổ tiên được con cháu trai đã có gia đình ởnhà riêng lập bàn thờ tại nhà Về bên nội, thờ từ ông cao tằng tổ, bà cao tằng tổ đếncha mẹ (đã chết) Về bên ngoại chỉ có thờ ông bà ngoại và cha mẹ vợ Việc cúng giỗông bà tổ tiên vào các dịp: Tết nguyên Đán, rằm tháng ba, ăn cơm mới, ăn mừng con,cưới hỏi, kỵ giỗ ông bà cha mẹ Trong đó đặc biệt là cúng tết nguyên đán, chiều 28

Trang 16

tết làm lễ "ngước ông vãi" mời ông bà tổ tiên về bàn thờ, bàn thờ được mở của cả đêmngày, trong các ngày 29, 30, mùng 1, 2 tết Mỗi ngày 2 buổi trưa và chiều gác cơmcanh cho ông bà tổ tiên ăn bữa, đến chiều ngày mồng 2 tết làm lễ "Tưa ông vãi" tiễnông bà tổ tiên quy hồi phần mộ, quy hồi bổn sòng, của bàn thờ được đóng lại mới hếtcúng tết nguyên đán Cho đến nay người Nguồn vẫn thờ cúng ông bà tổ tiên mình nhưvậy, không cần có mâm ngũ quả trong ngày tết nguyên đán như các nơi khác

Thành Hoàng làng: Từ xa xưa người Nguồn chỉ chỉ thờ Pụt bằng bàn thờ ở thác

Pụt và ở nhà Chùa, thờ nhân thần và thờ Giang sơn bản mệnh tại miếu và lùm thần,thờ ông bà tổ tiên tại nhà thờ con cháu Còn văn hoá đình làng và thờ thành hoànglàng thì mới có khoảng năm 1920 về sau, như đình làng Quy Đạt, Yên Đức, và KimBảng khánh thành năm 1925 Theo văn bản văn tế bằng chữ Hán có được thì thần thờtại các đình làng đó là: Đức vua Cao Các Mạc Sơn, Đức vua Cao Sơn tằng phongphúc, đức đại vương và các ông "Sung hậu thần", là ông thuỷ tổ của các họ trong làng

h Phong tục

Tang chế, ma chay

Người Nguồn lập bàn thờ đặt phục vị người chết thờ cúng cơm ngày hai buổi chongười chết "ăn bữa" suốt 24 tháng, con cháu để tang khó cho tới khi làm lễ mãn tang,hết khó, cho người chết nhập tổ, lên bàn thờ cúng ông bà tổ tiên mới thôi cúng cơm

Cưới xin

Ngày xưa, sau lễ sế cấy (lễ ăn hỏi), con trai phải đi làm rể ba năm mới xin cưới,cưới xong phải làm rể thêm một thời gian nữa mới xin được rước du (rước dâu) Đếnlúc đó, nhà trai mới làm lễ ngước cấy (đón vợ) về nhà chồng Từ đó vợ chồng mới thật

sự ăn ở với nhau Nay người Nguồn đã bỏ làm rể, mà vừa cưới và ngước cấy vào mộtngày luôn

Sinh đẻ

Ngày đăng: 22/03/2015, 22:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w