Lời mở đầu1.Tính cấp thiết của đề tàiTrong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, ngành chăn nuôinói chung và chăn nuôi lợn nói riêng luôn luôn có vị trí và vai trò quan trọng
Trang 1Lời mở đầu1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, ngành chăn nuôinói chung và chăn nuôi lợn nói riêng luôn luôn có vị trí và vai trò quan trọngbởi vì việc tăng nhanh thu nhập của người dân Việt Nam đã dẫn đến việc tiêuthụ ngày càng nhiều các sản phẩm động vật mà trong đó phải kể đến là nguồnthực phẩm chủ yếu từ thịt lợn Chăn nuôi có thể nói là ngành kinh tế quantrọng đúng góp cho nhu cầu ăn uống của từng người hiện nay và chăn nuôicủa Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể về quy mô cũng như hình thứcchăn nuôi để có những sản phẩm có chất lượng , năng suất cao Để hiểu vànắm rõ tình hình chăn nuôi và hiệu quả kinh tế đem lại cho người chăn nuụithỡ cần phải có những phân tích chi tiết về những biện pháp chăn nuôi cũngnhư có những đỏnh giá tổng quan tình hình chăn nuôi tại địa phương , điểnhình là tại huyện Nam Sách - Hải Dương
Bên cạnh những thuận lợi của ngành chăn nuôi mang lại thỡ cũn có rấtnhiều khó khăn như thị trường không ổn định , giá cả lên xuống thất thường ,nguồn vốn eo hẹp, thủ tục vay rườm rà , đất đai chật hẹp hay như dịchbệnh v.v đã làm cho chăn nuôi nhỏ lẽ , phân tán Do vậy mà cần phải cónhững nghiên cứu về quy mô cũng như hình thức chăn nuôi cụ thể để cónhững đỏnh giá về hiệu quả chăn nuôi của kinh tế Hộ trong giai đoạn hiệnnay.
2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
* Mục tiêu chung
Nghiên cứu các biện pháp chăn nuôi lợn trong các hộ gia đình từ đó tìm ranhững giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn ở huyện Nam Sách
* Mục tiêu cụ thể
Trang 2+ Đỏnh giá thực trạng chăn nuôi lợn trong các hộ gia đình tại huyệnNam Sách
+ Đỏnh giỏ cỏc biện pháp phát triển chăn nuôi lợn của các hộ giađình tại huyện Nam Sách
+ Xác định hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa trong các hộ gia đìnhtại huyện Nam Sách
+ Khuyến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôilợn trong các hộ gia đình tại huyện Nam Sách
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là : Điều tra các biện pháp pháttriển chăn nuôi lợn , phân tích hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn trong các hộ giađình tại huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương
* Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Chọn huyện Nan Sách tỉnh Hải Dương ( 5 Hợp tác xãchăn nuụi)là nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi và mô hình Hợp tác xã chăn nuôi
đã được phổ biến rộng Là địa phương có khí hậu thuận lợi cho chăn nuôi với quy
mô lớn và đã có quá trình chăn nuôi trong nhiều thập kỷ qua
+ Về thời gian: Bao gồm số liệu phân tích thực trạng điều tra từ năm
2002, 2003 và số liệu điều tra về biện pháp chăn nuụi thỏng 3, 4 năm 2007
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp điều tra số liệu
+ Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Huyện Nam Sỏch thuục tỉnhHải Dương: điều tra tại 5 Hợp tác xã chăn nuụi.(HTX chăn nuôi)
- HTX chăn nuôi Hiệp Cát ( xó Hiệp Cát huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương)
- HTX chăn nuôi Hợp Tiến ( xã Hợp Tiến huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương)
- HTX chăn nuôi Nam Sách ( xó Hợp Tiến, xã Nam Tân, xã An Bỡnh,
xó Phú Điền, xã Nam Hưng huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương)
Trang 3- HTX chăn nuôi Cộng Hòa ( xã Cộng Hoà huyện Nam Sách tỉnh HảiDương )
- HTX chăn nuôi Nam Hưng ( xã Nam Hưng huyện Nam Sách tỉnh HảiDương)
+ Phương pháp thu thập thông tin: Bao gồm số liệu của trung tâm phát triểnNông thôn _ Viện Chính sách & Chiến lược PTNNNT, các công trình khoa học
đã công bố, luận văn tốt nghiệp khoá 41, 44 khoa Kinh tế NN- trường ĐH Kinh tếquốc dân, và số liệu điều tra chăn nuôi lợn tháng 3, 4/2007
4.2 Phương pháp phân tích số liệu:
+ Phương pháp thống kê mô tả: Thông qua quan sát, thông tin , số liệutìm hiểu thực tế , qua các số liệu thứ cấp, được tiến hành mô tả sự phát triển
và thay đổi của đàn lợn ở các hộ chăn nuôi trong 5 HTX trong địa bàn huyệnNam Sách
+ Phương pháp so sánh: Để thấy được tác động và ảnh hưởng của cácbiện pháp chăn nuôi đến năng suất lợn của các hộ , em dùng phương pháp sosánh tình hình chăn nuôi, quy mô và sản lượng giữa các HTX với nhau vàgiữa các hộ trong HTX và ngoài HTX.Thụng qua kết quả so sánh sẽ cho thấyđược sự thay đổi của các hộ chăn nuôi trong các HTX
5 Nội dung của đề tài
+ Chương một: Cơ sở khoa học và phát triển chăn nuôi lợn của hộ gia đình
+ Chương hai: Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn năm 2003-2004 tạiNam Sách - Hải Dương
+ Chương ba: Định hướng và giải pháp phát triển chăn nuôi lợn tạihuyện Nam Sách – Hải Dương
Trang 4Chương một: Cơ sở khoa học và phát triển chăn nuôi lợn
trong hộ gia đình
1.Các khái niệm
1.1.Khái niệm về HTX chăn nuôi
Liên minh HTX quốc tế (ICA) được thành lập từ tháng 8/1895 tại thủ
đụ Luân Đôn đã định nghĩa về HTX như sau : “ HTX là một tổ chức tự trị củanhững người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọngchung của họ về kinh tế , xã hội và văn hó thông qua xí nghiệp cùng sở hữu
và quản lý dân chủ ” Định nghĩa này được hoàn thiện vào năm 1995 tại đạihôi liên minh HTX quốc tế lần thứ 31 tổ chức tại Manchester ( Anh ) như sau:
“ HTX là những hiệp hội tự chủ của những người tự nguyện liên kết lại vớinhau để đáp ứng những nguyện vọng và nhu cầu chung của họ về văn hoá xãhội, kinh tế thông qua một tổ chức do chớnh cỏc thành viên cùng làm chủ vàkiểm tra theo nguyên tắc dân chủ ”
Luật HTX ở Việt Nam định nghĩa như sau : “ HTX là tổ chức kinh tế tựchủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng gópvốn , góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể
và của từng xã viên nhằm giúp đỡ lần nhau thực hiện có hiệu quả hơn cáchoạt động sản xuất , kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống , góp phần pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước ”
Ở Việt Nam, trong lĩnh vực nông nghiệp HTX được định nghĩa nhưsau: “ HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tết tự chủ , do nông dân và nhữngngười lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn , góp sứclập ra theo quy định của pháp luật để phat huy sức mạnh của tập thể và củatừng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗtrợ cho kinh tế hộ gia đình của các xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản
Trang 5xuất , chế biến , tiêu thụ sản phẩm nông lâm nghiệp , nuôi trồng thuỷ sản vàkinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn, phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp HTX có ít nhất 7 xã viên ”
Tóm lại, khái niệm về HTX ở mổi giai đoạn lịch sử có những nột
riêng , cú sự diễn đạt khác nhau nhưng quan niệm về HTX ở hầu hết các giaiđoạn trên đều có những điểm chung , đều khẳng định HTX là tổ chức kinh tếcủa những cá nhân , tập thể tự nguyện liên kết với nhau với mục đích chungnhằm hỗ trợ , giúp đỡ lẫn nhau tiến hành công việc kinh doanh có hiệu quảnhất theo nguyên tắc HTX, HTX là tổ chức kinh tế mang tính xã hội , trongHTX yếu tố con người được nhấn mạnh , chứ không phải là yếu tố vốn , HTXcũng là tổ chức tự nguyện – các thành viên tham gia đều có quyền lợi nhưnhau , họ tham gia vào HTX để bảo vệ lợi ích cho chính họ
Vậy , HTX chăn nuôi là loại hình HTX tập trung những người lao động
để cùng sản xuất – chăn nuôi , loại hình này trong những năm gần đõy có vịtrí rất quan trọng bởi nó góp phần tăng quy mô đàn lợn nuôi và nâng cao chấtlượng sản phẩm chăn nuôi
1.2.Khái niệm về hiệu quả
Trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của con người đều nhằm tớimục đích là hiệu quả kinh tế Tuy nhiên , kết quả hoạt động đó không chỉ duynhất đạt được về mặt kinh tế , đồng thời tạo ra nhiều kết quả có liên quan đếnđời sống kinh tế , xã hội, môi trường
Xột trên một góc độ về nội dung của hiệu quả kinh tế thì : Hiệu quảkinh tế là kết quả đạt được về mặt chất lượng quá trình sản xuất kinh doanh.Trong nông nghiệp hiệu quả kinh tế biểu hiện về mặt năng suất cây trồng , vậtnuôi hay giá trị sản xuất (doanh thu) thì hiệu quả kinh tế mang lại trên mộtđồng vốn hay năng suất đất đai v.v Trong chăn nuôi lợn thì hiệu quả kinh tế
Trang 6thể hiện ở các chỉ tiêu : giá trị sản xuất,lói, thu nhập dòng, giá thành sảnphẩm, v.v trên chi phí chăn nuụi tớnh trờn một đơn vị ( con)
Nếu xột trờn góc độ môi trường thì : Hiệu quả môi trường là khả năngcải tạo bảo vệ môi trường sinh thái ngày càng tốt hơn , đồng thời duy trì vàphát triển tài nguyên môi trường về đất đai , nguồn nước , không khí , cânbằng sinh thái ngày càng tốt hơn Biểu hiện là việc chống ô nhiễm , bảo vệkhông khí , nguồn nước, bảo vệ sản phẩm sạch , không có chất tăng trọng từ
đó nâng cao chất lượng sản phẩm thịt khi đưa ra thị trường tiêu thụ
Trong 2 loại hiệu quả trờn thỡ hiệu quả kinh tế có vai trò quan trọngnhất bởi sản xuất sản phẩm thì phải đạt hiệu quả kinh tế và khi đã đạt đượchiệu quả kinh tế sẽ là cơ sở để nâng cao hiệu quả mội trường
2 Vị trí và vai trò của chăn nuôi lợn.
2.1.Vị trí của chăn nuôi
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệpViệt Nam , trong chăn nuụi thì đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôinhằm cung cấp các sản phẩm (thịt , trứng , sữa ) đáp ứng cho nhu cầu sử dụngcủa con người Ngành chăn nuụi luụn cung cấp những sản phẩm có giá trị kinh
tế cao và hàm lượng dinh dưỡng đầy đủ Có thể nhận ra rằng , khi xã hội ngàycàng phát triển, đời sống của con người ngày một được nâng lên thì nhu cầu sửdụng thực phẩm cũng tăng theo , và con người ngày càng đòi hỏi phải sành sỏihơn trong vấn đề ăn uống , sản phẩm sạch chất lượng đảm bảo và cao cấp.Trong một số ngành công nghiệp chế biến thì chăn nuôi cũng đúng góp mộtphần không nhỏ trong việc cung cấp những nguyên liệu đầu vào để tạo ra đượcnhững sản phẩm đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng
Trang 72.2Vai trò của chăn nuôi
2.2.1 Nghành chăn nuôi cung cấp nhiều thực phẩm quý, có thành phần dinh dưỡng cao cho nhu cầu của con người.
Gần 60% lượng dạm và 30% năng lượng con người thu được là từ sảnphẩm sản xuất ra trong nghành chăn nuôi , do đú viờc tiêu thụ ngày càngnhiều sản phẩm từ chăn nuôi cho nhu cầu đời sống của người dân cho thấy sựtiến bộ trong việc cải thiện đời sống sinh hoạt và mức sống của người dân đãtừng bước được nâng lên đáp ứng mọi nhu cầu của công cuộc xây dựng vàbảo vệ đất nước Trong xu thế hiện tại , sản xuất từng ngày có những bướctiến vượt bậc thì nghành chăn nuôi cũng không ngừng phát triển làm tăng khảnăng đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của xã hội
2.2.2 Chăn nuôi và trồng trọt luụn cú mối quan hệ mật thiết với nhau.
Sự gắn bó này là do quy trình công nghệ , những vấn đề về kinh tế và
tổ chức sản xuất quyết định Ngành chăn nuôi cung cấp không chi sản phẩmcho người tiêu dùng mà con cung cấp phân bón và sức kéo cho ngành trồngtrọt , nó làm tăng độ phì nhiêu của đất , đáp ứng nhu cầu tăng thâmcanh Nguồn phân bón dồi dào từ chăn nuôi không những có khả năng cungcấp dinh dưỡng cho cây trồng mà còn góp phần vào việc cải tạo môi trườngđất đai Điều này cũng phù hợp với mô hình sinh thái bền vững trong thờigian tới đõy Sức kéo của đại gia súc cũng đúng gúp khụng nhỏ trong côngtác làm đất , chăm sóc cây trồng kịp thời vụ , vận tải hàng hoá Đặc biệt làtrong nông thôn với trình độ canh tác còn thấp thì sức kéo là thành phầnkhông thể thiếu , tuy vậy trong những năm gần đõy với sự tiến bộ của khoahọc kĩ thuật thì sức kéo của đại gia súc không còn quan trọng với nhưng khuvực cú trình độ canh tác được cơ giới hoá
Trang 82.2.3 Chăn nuôi cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp nhẹ và nhiều ngành công nghiệp khác
Do phát triển chăn nuôi không những đảm bảo cân đối trong nội bộngành nông nghiệp mà cũn tác động tới các ngành công nghiệp khác Đối vớingành công nghiệp chế biến thì chăn nuôi giữ một vai trò tồn tại của các xínghiệp, các nhà máy chế biến sản phẩm của nghành chăn nuụi vỡ nó cung cấpnguyên liệu đầu vào cho các nhà máy này hoạt động Ngược lại thông qua cácnhà máy chế biến lại cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi Trước đõy chănnuôi chỉ được coi là một ngành phụ , tận dụng của trồng trọt do đó vai trò củachăn nuụi không được thể hiện , hiện nay khi xã hội phát triển, đời sống củangười dân ngày càng khỏ thỡ chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính trongnông nghiệp do đó mà vai trò của chăn nuôi trở nên quan trọng hơn
2.2.4 Chăn nuôi phát triển sẽ cung cấp nhiều sản phẩm cho xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của các nước trên thế giới
Vai trò của ngành chăn nuôi cũng được nâng lên một bước khi dạng sảnphẩm xuất khẩu thay đổi từ sản phẩm thô sang sản phẩm qua chế biến , giúpcho ngành có khả năng thâm nhập vào những thị trường khó tính như Mỹ ,Nhật , EU Việc xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi nói riêng và hàng hóa nóichung còn tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế , ngoại giao với các nướcnhằm trao đổi các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công cuộc xây dựng đấtnước theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
2.2.5 Chăn nuôi là ngành kinh doanh có thể thu được nhiều lãi
Chăn nuụi có điều kiện tăng năng suất cao và sử dụng hợp lý cá loại đấtđai , ngành chăn nuôi có thể tận dụng triệt để các loại phế phẩm của ngànhtrồng trọt và chế biến nông sản , đó là những sản phẩm có giá trị dinh dưỡngthấp được tổng hợp thành các loại thức ăn có giá trị hàm lượng dinh dưỡngcao thông qua các công tác chế biến cung cấp cho gia súc Có thể nói đó là
Trang 9nhân tố làm cho giá thành của sản phẩm của ngành chăn nuôi hạ xuống từ đó
sẽ có được khả năng phát triển nhanh chóng và rộng rãi tạo điều kiện thuậnlợi cho việc tăng thu nhập ,từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thầncho người dân
Mặt khác , ngành chăn nuôi còn là ngành cung cấp những sảm phẩmmang tính văn hoá phục vụ cho nhu cầu giải trí hay bảo vệ mùa màng như chómèo bắt chuột
Có thể thấy với những vai trò nổi bật trờn thỡ ngành chăn nuôi nóichung và chăn nuôi lợn nói riêng có một vỡ trớ quan trọng trong sản xuất kinhdoanh nông nghiệp và trong đời sống xã hội , khi mà nền nông nghiệp đượctừng bước thay đổi mình để hoà nhập cạnh tranh trong môi trường nôngnghiệp thế giới thì ngành chăn nuụi luôn đóng vai trò chủ đạo , cấp thiết củanông nghiệp nước nhà Phát triển chăn nuôi và phối hợp đúng đắn với ngànhtrồng trọt đó sẽ là cơ sở để phát triển nông nghiệp toàn diện ,bền vững trên cơ
sở sử dụng hợp lý , đầy đủ ruộng đất và sức lao động và các tư liệu sản xuấtkhác Chăn nuôi lợn trong giai đoạn hiện nay không còn mới mẻ nhưng luôntồn tại nhũng bức xúc xung quanh ngành chăn nuôi, việc nghien cứu sẽ từngbước tháo gỡ khó khăn và tìm ra được hướng đi đúng và hiệu quả cho chănnuôi lợn nói riêng và toàn ngành chăn nuôi nói chung
2.3.Vai trò của ngành chăn nuôi lợn ở Huyện Nam Sách_ Hải Dương.
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp ViệtNam , sản phẩm chính của chăn nuôi không những đáp ứng được nhu cầu tiêudùng của con người mà còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệpchế biến và là nguồn hàng quan trọng cho mổi quốc gia Theo thống kê ngànhchăn nuôi và thú y Việt Nam trong 10 năm qua được đầu tư rất ít chỉ chiếm 4%
so với tổng đầu tư cho nông nghiệp Tuy nhiên , tốc độ phát triển chăn nuụi luônđạt trên mức 4.4% /năm tương đương với phát triển của trồng trọt (4.4%/năm)và
Trang 10cao hơn tốc độ phát triển dịch vụ nông nghiệp (3,2%/năm), đúng góp 19% giá trịxản xuất nông nghiệp trong nền nông nghiệp với giá trị tổng sản phẩm năm 2000
là 24.960 tỷ đồng ( tương đương 1,65 tỷ USD ) Bên cạnh đó chăn nuôi lợn đúnggúp khụng nhỏ và kết quả trên với tốc độ tăng trưởng khá : số đầu lợn năm 2000đạt 20,19 triệu con , đến năm 2002 là 23,17 triệu con , sang đến năm 2004 đã đạt26,14 triệu con , tốc độ tăng bình quân từ năm 2000-2004 là 5,89% Chăn nuôichủ yếu chỉ tập trung: Miền Bắc có Đồng Bằng Sông Hồng , Đông Bắc và BắcTrung Bộ; Miền Nam có : Đông Nam Bộ , Đồng Bằng Sông Cửu Long vàDuyên Hải Miền Trung
Bảng 1: Số lượng lợn theo địa phương
Đơn vị tính : Triệu con
Nguồn : Hội thảo quốc gia về khoa học và phát triển chăn nuôi _ Bộ Nông nghiệp
TT
Năm 2000 2001 % tăng so 2002 % tăng so 2003 % tăng so 2004 % tăng
so Tỷ lệ tăng
với năm với năm với năm với năm bình quân
trước trước trước trước 2000-2004
Trang 11Huyện Nam Sách thuộc tỉnh Hải Dương là một huyện có lợi thế vềchăn nuôi lợn thịt , ngoài việc tập huấn các vấn đề cơ bản cho người chănnuôi để khi thác có hiệu quả thỡ cũn cần phải tổ chức tốt công tác dịch vụ vềthú y, về con giống và nguồn thức ăn chăn nuôi để người chăn nuôi yên tâmsản xuất
Có thể thấy rằng ngành chăn nuôi lợn thịt tuy có nhiều thuận lợi songcũng là ngành gặp không ít khó khăn với độ rủi ro cao Khó khăn trước mắt
là về tài chính còn hạn chế , thứ hai là về trình độ hạn hẹp, sự hiểu biết vềkhoa học – kĩ thuật chăn nuụi cũn hạn chế nên chưa thể khai thác tối đa lợithế chăn nuôi, ngoài ra khó khăn về dịch bệnh không có thuốc chữa cũng làmcho người chăn nuôi nhiều khi phải trong cảnh nợ tiền vay ngân hàng bởi dịchbệnh làm đàn lợn chết không có khả năng thu hồi vốn.Như vậy , để phát triểnchăn nuôi lợn thì ngoài việc người chăn nuôi cần phải nắm rõ đặc điểm củangành , đặc điểm của lợn để tìm tòi vận dụng , khống chế sao cho chăn nuôiđạt hiệu quả cao nhất ,bên cạnh đó nhà nước và địa phương cần phải có nhữngchính sách hỗ trợ tạo điều kiện cho người chăn nuôi cũng là động lực quantrọng giúp cho sự phát triển của ngành chăn nuôi và toàn ngành nông nghiệp
3 Đặc điểm kinh tế kĩ thuật phát triển chăn nuôi lợn ở Việt Nam
Ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là hoạtđộng kinh tế phụ thuục rất lớn vào điều kiện tự nhiên , mà điều kiện tự nhiênlại diễn ra bất thường và phức tạp Điều này đã quy định tính đa dạng củahoạt động sản xuất trong chăn nuôi lợn và nó đòi hỏi các hình thức kinh tếhợp tác trong chăn nuôi lợn không thể theo một khuôn mẫu hay một hình thức
tổ chức nhất định mà cần xem xét một cách đầy đủ , kỹ lưỡng các đặc điểmcủa sản xuất chăn nuôi lợn để có những cái nhìn đỏnh giá tổng quan hơn
Đối tượng của sản xuất chăn nuôi lợn là sinh vật sống: Sinh vật cú cỏcquy luật sinh trưởng và phát triển riêng, đòi hỏi sự tác động , chăm sóc đỳng
Trang 12lúc , đúng kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của từng loại vật nuôi để nó sinhtrưởng, phát triển thuận lợi cho năng suất ,sản lượng cao nhất Từ đó trong tổchức sản xuất , cần gắn bó chặt chẽ giữa người lao động với đối tượng sảnxuất chăn nuôi lợn , hợp tác cả về mặt thời gian, không gianvà biện pháp kỹthuật tác động.
Quá trình sản xuất xen kẽ nhau về mặt thời gian nhưng vẫn phải đảmbảo chu kỳ sinh trưởng dẫn đến tính thời vụ ( theo lứa hoặc vụ sản xuất)trongsản xuất Đặc điểm này quy định trong chăn nuôi lợn không thể tổ chức theolối dây chuyền sản xuất hàng loạt như trong công nghiệp, mà hợp tác sản xuấtphải trên cơ sở phát huy thế mạnh và tận dụng hết khả năng , năng lực sảnxuất của từng đợn vị thành viên với tổ chức kinh tế hợp tác
Các sản phẩm của chăn nuôi lợn thường là sản phẩm tươi sống khó bảoquản trong kho , chuồng trại và trong quá trình vận chuyển cần phải được tiêuthụ nhanh Trong điều kiện sản xuất hàng hoá khối lượng sản xuất ra sẽ rấtnhiều, các sản phẩm này nếu không được tiêu thụ kịp thời sẽ rất nhanh giảmchất lượng hoặc ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất sau Vì vậy các hộ sản xuất ,các đơn vị sản xuất cần tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ sởgiết mổ tập trung và chế biết tiêu thụ sản phẩm
4 Một số chỉ tiêu nghiên cứu đỏnh giá kết quả và hiệu quả phát triển chăn nuôi lợn
4.1 Chỉ tiêu kết quả và chi phí.
4.1.1 Giá trị sản xuất ( GO ): Giá trị sản xuất được tính theo 1 chu kỳ sinh
sản Chỉ tiêu này được tính theo số lượng sản phẩm nhân với giá cả tươngứng với từng loại sản phẩm Trong chăn nuôi lợn thịt thì sản phẩm tạo ra làtổng trọng lượng(kg) lợn nuôi trong một chu kỳ (lứa) Ngoài ra lượng phâncũng là nguồn thu được tính và giá trị GO
Nếu giá trị sản xuất kí hiệu là : GO thì công thức tính là:
Trang 13Pi : Giá bán lợn tạI thờI điểm khảo sát
4.1.2 Chi phí trung gian (IC)
Chi phí trung gian là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụđược sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm trong một lứa lợn nuôi.Chi phí trung gian bao gồm các chi phí : thức ăn thú y, giống v.v Chi phídịch vụ là những khoản chi phí hộ gia đình bỏ tiền ra thuê mướn như dịch vụthú y, dịch vụ thuê lao động
IC : Chi phí trung gian
KHTS : Khấu hao tài sản
T : Thuế
Trang 144.1.5 Lợi nhuận (lãi) Pr
Là phần giá trị sản xuất sau khi trừ đi chi phí trung gian , khấu hao, thuế,lao động gia đình( hoặc thu nhập hỗn hợp trừ đi giá trị lao động gia đình)
Pr = MI – L Pi
Trong đó: Pr : Là lợi nhuận
MI : Là thu nhập hỗn hợp
L : Là số lượng lao động gia đình
Pi : Giá trị ngày công lao động
( Lao động gia đình được xác định theo thời điểm điều tra và giá trịngày công được xã hội thừa nhận tại thời điểm điều tra)
4.2 Các chỉ tiêu hiệu quả
4.2.1 So sánh với tổng chi phí( CPSX)
- Giá trị tổng sản phẩm / Chi phí sản xuất
- Giá trị gia tăng (VA)/ Chi phí sản xuất
- Thu nhập hỗn hợp(MI)/Chi phí sản xuất
4.2.2 Hiệu quả tớnh trờn một ngày lao động
- Giá trị tổng sản phẩm/1ngày lao động
- Giá trị gia tăng(VA)/1ngày lao động
- Thu nhập hỗn hợp(MI)/1ngày lao động
4.3 Một số chỉ tiêu về xã hội
- Các mối quan hệ của nhóm ( bên trong và bên ngoài)
- Tạo việc làm và tăng thu nhập cho nông hộ
- Nâng cao mức sống của người dân
- Tác động đến thể chế chính sách
Trang 155 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn
5.1.Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam
* Giai đoạn 1960 – 1972 : Trong thời kỳ này HTX nông nghiệp mới
được xây dựng và phát triển ,để khuyến khích phát triển chăn nuôi kinh tế hộgia đỡnh,HTX đã giành quỹ đất 5% để chia cho các hộ gia đình ( gọi là đất5%) Đổi lại cá hộ gia đình phải nộp một khối lượng lợn nghĩa vụ nhất địnhcho HTX và Nhà nước theo lao động Mặt khác HTX còn đổi thóc lấy lợn đểkhuyến khích phát triển chăn nuôi Trong tất cả các HTX nông nghiệp đề cửngười đi học chuyờn môn về chăn nuôi và thú y để về xã phục vụ xã viên.Đếnnăm 1962,1963 hầu hết các HTX đều tiến hành thành lập trại chăn nuôi tạpthể với mục đích xây dựng thành các trung tâm chăn nuôi trong cỏc xã đểthúc đẩy chăn nuôi gia đình phát triển Lúc này các trại chăn nuôi tập thể làmnhiệm vụ cung ứng giống cho các hộ gia đình và làm cầu nối giữa HTX vàNhà nước trong việc mua bán , trao đổi sản phẩm giữa người chăn nuôi vàNhà nước Mặt khác , để khuyến khích phát triển chăn nuôi của nông hộ thìNhà nước đã khuyến khích nông dân bán lợn cho Nhà nước bằng việc bán lạihàng tiêu dùng cho người chăn nuôi hoặc HTX mua lợn thịt của nông dân vớigiá 6kg thóc /1kg lợn hơi Chớnh vỡ lý do này mà trong chăn nuôi lợn đã tănglên nhanh chóng cả về số hộ nuôi lợn và số đầu lợn Sau một thời gian , sảnphẩm lợn thịt vượt quá khả năng tiêu thụ của HTX và các cơ quan Nhànước , do vậy đã xuất hiện nhiều tiêu cực trong việc mua bán sản phẩm đãdẫn đến nông dân gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, lúc này tưthương kinh doanh lợn thịt đã có điều kiện phát triển mạnh mẽ để tiêu thụ sảnphẩm cho nông dân , những người có sản phõm không bán được cho Nhànước và HTX Mặc dù bỏn cho tư thương luôn thua thiệt về giá so với báncho Nhà nước và HTX nhưng nông dân có thể bán bất kỳ lúc nào và thanhtoán tiền nhanh chóng
Trang 16* Giai đoạn 1973 – 1988: Đõy là thời kỳ bắt đầu có sự khủng hoảngcủa HTX, chăn nuôi tập thể không phát triển Sự tồn tại của các trang trạichăn nuôi tập thể lúc này chủ yếu dựa vào quỹ đất 5% nhưng chăn nuôi trongcác hộ gia đình vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, số lượng lợn nuôi trung bình
2 con/hộ/năm Sản phẩm lợn thịt được sản xuất ra đã vượt xa khả năng thumua của HTX và Nhà nước Do đó lúc này thị trường mổ lợn tự do của tưnhân đã phát triển mạnh mẽ Đến những năm 1980 , chăn nuôi tập thể doHTX đảm nhận đã bị tan rã , chăn nuôi hộ gia đình tiếp tục phát triển Saunhiều năm được HTX , Nhà nước , tư thương mua lợn dễ dàng với giá cao,đến lúc này nông dân thực sự khó khăn trong việc bán sản phẩm chăn nuôilợn của mỡnh.Số đầu lợn bị giảm nhẹ , tuy nhiên công tác tiêm phòng vẫnđược duy trì và hoạt động tốt với tỷ lệ tiêm phòng vẫn đạt từ 80 –95% tổngđàn với sự bao cấp của HTX và Nhà nước, đàn lợn đực giống tại các địaphương được quản lý tương đối tốt
* Giai đoạn từ 1988 đến nay: Sau khoán 10(1988) , các HTX chuyểnsang làm dịch vụ sản xuất nhưng các dịch vụ sản xuất chăn nuụi thỡ không cóHTX nào đảm nhận thực hiện Lúc này hoạt động chăn nuôi của các nông hộhoàn toàn bị cô độc , ít được sự quan tâm của các cấp chính quyền và HTXnhư thời kỡ cũn bao cấp Mặc dù vậy , các hộ nông dân vẫn tiếp tục pháttriển chăn nuôi với mức đầu tư dinh dưỡng cao hơn( với sự ra đời và pháttriển của các công ty chế biến thức ăn gia súc ) và giống lợn nuôi có tỷ lệ máungoại cao hơn
Trên phạm vi cả nước , từ khi có nghị quyết 10 ,sản xuất nông nghiệp
đã có những sự phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu đáng khích
lệ trong sản xuất , chế biến và xuất khẩu lương thực , thực phẩm và một sốhàng hoỏ khác
Trang 175.2 Các nhân tố ảnh hưởng
5.2.1 Nhân tố tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên như: Vị trí địa lý , địa hình đất đai , nguồn nước,thời tiết khí hậu …đều tác động làm ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinhtrưởng và phát triển cũng như quá trình chăm sóc , thu hoạch sản phẩm, chếbiến và tiêu thụ nông sản phẩm Đối với sinh trưởng và phát triển của lợn thìkhí hậu, thời tiết, nguồn nước, thổ nhưỡng đất đai đều có những ảnh hưởnglớn không chỉ là khả năng tăng trọng nhanh hay chậm của lợn , khả năng tiêuthụ và phõn hoỏ thức ăn mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ , chất lượng conlợn Đặc biệt đối với lợn nuôi thịt thì muốn sinh trưởng khoẻ mạnh, phát triểnnhanh đều thì yêu cầu thời tiết khí hậu phải mát mẻ thoáng , có tính cân đối sẽcho năng suất cao, nếu như nhiệt độ quỏ núng hay quá lạnh sẽ ảnh hưởng rấtlớn đến tốc độ tăng trọng và rất dễ mắc những bệnh thường gặp ở lợn như Ho
Do vậy mà trong chăn nuôi lợn thương phẩm đòi hỏi phải có kĩ thuật chămsóc cẩn thận chu đáo , chống nóng , thoáng mát mùa hè, ấm kớn, mùa đông làrất cần thiết nhằm hạn chế những yếu tố bất lợi đến việc nâng cao năng suấtchất lượng thịt lợn và tăng hiệu quả kinh tế
Khí hậu thời tiết còn ảnh hưởng tới sản xuất và cung cấp thức ăn,tỡnhhình dịch bệnh và thị trường tiêu thụ sản phẩm Nếu thời tiết khí hậu thuận lợitạo điều kiện cho con lợn có không khí thoáng mát, chuồng trại sạch sẽ , mầmmống gây bệnh không có chỗ tồn tại và công tác tiêu thụ sản phẩm thuận tiệnhơn
Bên cạch đó , nguồn nước cho lợn uống cũng rất quan trọng.Nước vừa
là nước uống , vừa là pha trộn với thức ăn do đó nếu nguồn nước sạch thỡtránh cho lợn không bị bệnh , lợn đẹp và tăng trọng nhanh,mặt khác nhu cầutắm rữa cho lợn và vệ sinh chuồng trại cũng cần một khối lượng lớn do đó khilên kế hoạch chăn nuôi cũng cần phải lưu ý tính toán kỹ những yếu tố điều
Trang 18kiện tự nhiên sao cho tạo được điều kiện thuận lợi nhất cho công tác chăm sóc
và nuôi dưỡng đàn lợn nhằm đem lại nguồn thu nhập cao cho người chăn nuôi
5.2.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
5.2.2.1 Nhân tố kinh tế
Đất đai,vốn sản xuất, thị trường tiêu thụ , cơ sở vật chất - kỹ thuật, giáthức ăn , công tác thỳ y… có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệuquả kinh tế chăn nuôi lợn thương phẩm Đất đai thuận lợi tạo điệu kiện mởrộng chuồng trại chăn nuôi , vốn cho sản xuất tạo điều kiện cho đầu tư muacon giống , xây sữa chuồng trại, mua cám, và đặc biệt thị trường tiêu thụ có ýnghĩa quyết định đến mở rộng và phát triển chăn nuôi lợn
Đất đai là vấn đề đầu tiên khi chăn nuôi, người chăn nuôi đa phần ởnông thôn, diện tích đất đai nhiều thuận lợi cho xây dựng chuồng trại nhưngtập trung trong khu dân cư do vậy luôn gặp khó khăn trong việc xử lý chấtthải Có đất quy hoạch ,đó là vấn đề hiện nay người chăn nuôi ở nông thôncần nhất bởi có đất quy hoach tạo thành một khu chăn nuôi tách riêng khu dân
cư như thế không ô nhiễm nguồn nước hay không khí cho dân cư
Vốn là điều kiện kiên quyết để chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nóiriêng , có vốn mới mua được con giống ,đặc biệt là mua được cám với giá rẻ
Có vốn mới mở rộng chăn nuôi, xây dựng thêm chuồng trại, đầu tư trang thiết bịcho chăn nuôi Vốn ban đầu cho chăn nuôi lợn là rất lớn , đa phần người chănnuôi phải vay vốn với lãi suất cao ,thời gian thu hồi vốn nhanh và thủ tục vaycòn phức tạp, do vậy để đầu tư cho chăn nuôi cần phải nghiên cứu và các hộchăn nuôi phải có tiềm lực về kinh tế , có hiểu biết về khoa học hay kinh nghiêmchăn nuôi để giảm thiểu tối đa mức độ rủi ro trong chăn nuôi
Giá thức ăn cho lợn khá cao , chất lượng thức ăn chưa được kiểm soát,chi phí thức ăn trong giá thành sản phẩm chăn nuôi chỉ chiếm 70% ( số liệuthống kê năm 2002) Chất lượng thức ăn tại các nhà máy ở Việt Nam có chất
Trang 19lượng khác nhau và giá bán cũng khác nhau Hệ thống nhà máy sản xuất thức
ăn công nghiệp còn thiếu , quy mô lớn chưa nhiều ,điều kiện giảm giá thànhthức ăn cũn luụn gặp khó khăn đã đưa đến mức giá cao ( cao hơn các nướcxung quanh từ 20% đến 30% )
Thị trường tiêu thụ sản phẩm là nơi để người chăn nuôi có thể thu vềgiá trị sức lao động đã bỏ ra ( vốn + lãi) để có thể quay vòng chăn nuôi tái sảnxuất Chăn nuôi lợn với đặc thù của sản phẩm là tỷ lệ nạc do vậy thị trườngtiêu thụ luôn đòi hỏi chất lượng con lợn cao, do đó ngành chăn nuôi lợn thịtđòi hỏi Nhà nước và người chăn nuôi phai có tầm nhìn dài hạn về thị trườngtiêu thụ sản phẩm để đảm bảo khả năng hoàn vốn và có lãi để người chăn nuôiyên tâm xoay vòng vốn và mở rộng sản xuất
Hệ thống giống vật nuôi là nguồn cung cấp cho thị trường những conlợn có chất lượng giống chuẩn cho con lợn đẹp ,nạc nhiều và giá thành bántren thị trường cao,được người tiêu dùng chấp nhận Theo số liệu thống kênăm 2005 thì cơ cấu giống trong chăn nuôi lợn ở Việt Nam thì lợn đực chỉchiếm 5-7% trong đó : đực lai là 30-32%, đực thuần là 68-70% Còn lợn náichiếm tới 93- 95% trong đú: Nái lai là 63-65%, Nái thuần là 35-37% Trongđàn nái ngoại thuần thỡ nỏi Yorshire và Landrance chiếm tỷ lệ từ 80-90%, náiDuroc và Pietrain chỉ chiếm 2-3%, số còn lại là nỏi khỏc
Tình hình dịch bệnh cũn khú kiểm soát , hệ thống kiểm soát còn nhiềuhạn chế do thiếu các phương tiện máy móc trang thiết bị, nhân lực và nhậnthức của người chăn nuụi cũn hạn chế Công tác thanh tra, kiểm tra còn chưathường xuyên, hiệu quả của công tác này còn chưa cao do đó người chăn nuôi
đa phần là tự kiểm soát phàng bệnh cho đàn lợn nuôi của mỡnh,và khôngtránh khỏi lợn cho ăn chất tăng trọng ,lợn bị dịch bệnh được đưa ra bán ngoàithị trường
Trang 205.2.2.2 Nhân tố xã hội
Nguồn lao động,tập quán , kinh nghiêm sản xuất và trình độ kỹ thuậtchăm súc nuụi dưỡng của người chăn nuôi lợn đó là những nhân tố xã hội cóảnh hưởng lớn đến phương thức chăn nuôi và năng suất ,hiệu quả kinh tế.Thực tế cho thấy rằng ở địa phương nào có tập quán ,kinh nghiệm và ngườichăn nuụi cú trình độ hiểu biết thì nơi đó chất lượng đàn lợn luôn cao,lợn đẹp,không bệnh tật và hiệu quả kinh tế cao hơn so với những nơi thiếu kinhnghiệm,thiếu trình độ
Nguồn lao động chăn nuôi lợn không đòi hỏi phải cú trình độ caonhưng phải biết chăm sóc và nuôi dưỡng đúng quy trình để có con lợn ‘sạch’
và chất lưọng Để nâng cao năng suất và chất lượng thịt đòi hỏi người chănnuôi phải không ngừng học hỏi kinh nghiệm , thường xuyên trao đổi kiếnthức , tham gia cỏc khoá đào tạo kỹ thuật để có thể tiến hành chăn nuôi manglại hiệu quả cao hơn
Tập quán kinh nghiệm sản xuất đó là những cái đã có từ rất lâu , có nhữngnơi có tập quán ,kinh nghiệm chăn nuôi mang lại hiệu quả cao đó như công tácchọn giống, công tác chăm sóc , cho ăn, công thức cho ăn hay như cách phòngchống bệnh và điều rị bệnh cho lợn Đó là những tập quán kinh nghiệm mà cầnphải được nhân rộng và phát huy , ngược lại có những tập tục ,kinh nghiệmkhông đúng, không phù hợp thì cần có giải pháp khắc phục loại bỏ
Các chính sách kinh tế xã hội ở nước ta đang trong giai đoạn hoàn thiện từmột nền kinh tế hành chính quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường , do vậy mànhững chính sách đó phải tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi lợn , nhữngchính sách đó đòi hỏi Nhà nước cần phải có sự quan tâm đúng mức và được phổbiến sâu rộng xuống từng người dân Vai trò định hướng của Nhà nước là rấtquan trọng bởi nó là tiền đề cho các bước tiếp theo để cho ngành nông nghiệpnói chung và chăn nuôi lợn nói riêng phát triển một cách bền vững
Trang 21Túm lại,cỏc yếu tố tự nhiên , kinh tế , xã hội có ảnh hưởng tích cựchoặc tiêu cực đến chăn nuôi lợn ,nhưng nếu người chăn nuôi biết phát huyđược những mặt thuận lợi đó và hạn chế những mặt khó khăn thì trong mộtthời gian tới chăn nuôi lợn thịt sẽ phát triển mạnh hơn nữa , trở thành ngànhmang lại ngoại tệ lớn cho nước ta.
5.2.3 Nhân tố kỹ thuật và quản lý
* Về Quy mô chăn nuôi :
Theo kết quả điều tra tình hình chăn nuôi tại hộ gia đình năm 2006 ta
có bảng số liệu như sau:
Bảng 2: Quy mô chăn nuôi lợn thịt của hộ gia đình năm 2006
nghèo
Loại thức ăn
Cám công
Nguồn: Số liệu điều tra các hộ chăn nuôi tại huyện Nam Sách năm 2006 -2007
Quy mô chăn nuôi của các hộ gia đình trong huyện Nam Sách chủ yếutập trung ở những hộ kinh tế trung bình,và giầu cũn hộ nghèo hầu như khôngchăn nuôi lợn thịt mà có chăn chỉ chăn nuôi lợn nái để bán con giống Trong
đó diện tích chăn nuôi của các hộ trung bình chiếm 71.32% trong tổng số diệntích chăn nuôi của các hộ cũn các hộ giầu chỉ có 28.68% Về khả năng chănnuôi và mật độ thả cũng như khả năng chăm sóc cho ăn nhìn tổng thể các hộgiầu đều vượt trội hơn so với các hộ trung bình , điều đó có thể lý giải mộtphần ở chổ các hộ giầu có khả năng tài chớnh vượt trội hơn các hộ trungbình , do đó họ luôn có xu hướng chăn nuôi với quy mô lớn và đầu tư cao để
Trang 22giảm thời gian chăm sóc , quay vòng chăn nuôi nhiều hơn, tạo nguồn thu nhậplớn Cũn các hộ trung bình , tuy với diện tích chăn nuôi nhiều nhưng đa phầnvốn thiếu nên khả năng chăn nuôi thấp , đầu tư cho con lợn ít , và chăm sócchủ yếu theo cách lấy ngắn nuôi dài Từ bảng 2 ta dễ nhận thấy con lợn 7/8mỏu ngoại được chăn nuôi là chủ yếu trong nông hộ, tuy nhiên ở những hộgiầu thì ngoài con lợn 7/8 mỏu ngoại ra thì cũn lại là 3/4 nhưng ở những hộtrung bình lại tập trung vào con lợn siêu nạc cho năng suất cao, điều đó xuấtphát từ nhu cầu mong muốn tăng hiệu quả kinh tế chăn nuôi của những hộnày.
* Về hình thức chăn nuôi:
Bảng 3: Hình thức chăn nuôi lợn thịt trong hộ gia đình năm 2006
nghèo
Nuôi bán công
Nguồn : Số liệu điều tra các hộ chăn nuôi tại huyện Nam Sách năm 2006-2007
Từ bảng số 3 ta nhận thấy rằng các hộ nghèo chăn nuôi không phải lànghề chớnh nên đa phần là nuôi tận dụng những sản phẩm phụ dư thừa cótrong gia đình ( chiếm 2.22% trong tổng số các hộ điều tra) Ở những hộ giầuthì lại nuôi theo hình thức công nghiệp là chớnh ( 20% ) bởi sụ tiện lợi trongchăn nuôi và tiết kiệm tối đa thời gian và lao động , cũn nuôi bán công nghiệpchie chiếm 6.67% trong tổng số hộ điều tra Ở những hộ kinh tế trung bình thìkhả năng chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp tương đối như nhau ,điều này có thể hiểu như sau ; các hộ trung bình khả năng vốn chăn nuôi thấpnhưng họ có khao khát làm giầu nên có những hộ vay vốn ngõn hang hay vayngoài để mua cám chăn nuôi theo hướng công nghiệp nhằm nõng cao năng
Trang 23suất và thu hồi vốn nhanh, bên cạnh đó cũng có những hộ vừa cho ăn theohướng công nghiệp nhưng họ có nhiều thời gian nhàn rỗi nên phối trộn thêmcác loại thức ăn tổng hợp khác nhằm tăng thêm dinh dưỡng và giảm giá thànhthức ăn chăn nuôi.
6 Kinh nghiệm của một số địa phương chăn nuôi lợn
6.1 Mô hình chăn nuôi lợn của anh Trần Văn Minh
Đó là trang trại chăn nuôi của gia đình anh Trần Văn Minh và chị PhạmThị Vân ở xã Quảng Tùng ( huyện Quảng Trạch- Quảng Bình ) Trong nhữngtháng đầu năm 2007 , khi mà dịch lở mồm long móng gia súc đang diễn ra khánghiêm trọng thì cơ sở chăn nuôi của gia đình anh chị vẫn không hề bị ảnhhưởng , đó là do anh chị đã làm tốt công tác phòng bệnh Đõy là một trongnhững cơ sở chăn nuôi gia đỡnh có quy mô và loại lớn của tỉnh Quảng Bình
Với ý tưởng phát triển một trang trại chăn nuôi theo hướng công nghiệp, từ đầu năm 2006, vợ chồng anh đã dồn hết vốn liếng , vay bạn bè đầu tư xâydựng chuồng trại Hệ thống chuồng trại được xây dựng theo mô hình chănnuôi công nghiệp có sức nuụi trờn 1000 đầu lợn thịt Sau khi hoàn thành hệthống chuồng trại , anh chị đầu tư nuôi 120 con lợn nái , 700 con lợn thịt vàhàng trăm con lợn giống Tính trung bình mổi ngày anh chị bỏ ra gần 4triệuđồng để đầu tư nguồn thức ăn cho đàn lợn , tính cả tháng là hơn 100 triệuđồng… Như vậy tính ra từ khi lập trang trại đến nay , vợ chồng anh chị đãđầu tư khoảng 3 tỷ đồng Cơ sở có năng lực cung cấp lợn giống với số lượnglớn và chất lượng đảm bảo , riêng lợn thịt không đáp ứng kịp nhu cầu tiêu thụcủa thị trường , nhất là vào các dịp cao điểm Để đảm bảo cho đàn lợn pháttriển tốt nhất về chất lượng lẫn số lượng , căn cứ vào quy mô trang trại vợchồng anh chị đã tiến hành phân loại đàn lợn để nhằm có phương pháp chămsóc tốt nhất , thích hợp cho từng giai đoạn phát triển của lợn Nhờ vậy mà lợn
Trang 24giống và lợn thịt từ trang trại của anh chị luôn có chất lượng cao , giá cả lạihợp lý nên ngày càng được thị trường chấp nhận ưa chuộng
6.2 Mô hình chăn nuôi lợn của gia đỡnh ông Nguyễn Hoài Phong
Ông Nguyễn Hoài Phong ở xã HợpTiến ( thôn Cao Đôi xã Hợp Tiếnhuyện Nam Sách tỉnh Hải Dương) Là Bộ đội về hưu , hai ông bà cùng vớidiện tích 7200m2 đất chuyển đổỉ đã canh tác trên mảnh đất đó làm giầu và trởthành một hộ làm kinh tế điển hình của Huyện Trên mảnh đất 7200m2 ông,
bà đào ao thả cá và chăn nuôi lợn, trong đó ông dành 600m2 để xõy chuồngtrại chăn nuôi , hằng năm với diện tích như vậy ông thả bình quõn từ 300 đến
350 con /năm , nếu hạch toán doanh thu thì bình quõn hằng năm ông bà thu
về trên dưới 100 triệu đồng tiền lói từ bán lợn thịt Ông cho biết ngoài cáchcho ăn theo một khẩu phần nhất định của từng loại lợn và chế độ ăn khácnhau thì công tác tiêm phòng cho đàn lợn hết sức quan trọng Ngoài lợn mẹ1năm 2 lần tiêm định kì các loại vaccine thì con lợn con sinh ra cũng phảitiêm phòng đầy đủ để đảm bảo sinh trưởng khoẻ mạnh và chống chịu đượcbệnh tật Mặt khác ông thiết kế các ô chuồng rất khoa học, bình quõn 1conlợn/1m2 và chuồng luôn mát về mùa hè , ấm vào mùa đông vì thế mà con lợncủa ông đẹp và được lái thương đánh giá cao Phõn lợn được ông lấy mộtphần vào bioga cũn lại cho xuống ao nuôi cá vừa tiết kiệm được tiền mua thức
ăn cho cá, vừa tăng gia sản xuất vừa có chất đốt Là một mô hình kinh tế giỏinên gia đình ông luôn được lấy làm mô hình kinh tế cho các đoàn nông dõntham quan học hỏi kinh nghiệp và phương pháp chăn nuôi
Trang 25Chương hai: Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn
năm 2003-2004 tại huyện Nam Sách _ Hải Dương
1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Nam Sách có ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn
1.1 Điều kiện tự nhiên
Nam sách là huyện đồng bằng,nằm giữa châu thổ sông Hồng,ở phía bắccủa tỉnh Hải Dương Phía bắc giáp huyện Chí Linh, phía nam giáp thành phố HảiDương và huyện Thanh Hà, phía đụng giáp huyện Kim Thành và huyện KinhMôn, phía tây giáp huyện Cẩm Giàng và huyện Lương Tài ( tỉnh Bắc Ninh)
Diện tích tự nhiên của huyện là 132.8km2, chiếm 8.2% diện tích tựnhiên của tỉnh Hải Dương Nam Sách nằm trong vùng trọng điểm phía Bắc_một trong 3 vùng năng động nhất của Việt Nam hiện nay, gần thành phố HảiDương, Hà Nội , Hải phòng và Hạ Long nên Nam Sách có nhiều thuận lợitrong việc liên kết trao đổi , giao lưu hàng hoá , công nghệ, lao động kỹ thuật.Huyện được bao bọc bởi 3 con sông lớn là sông Thái bình , sông Kinh Thầy
và Hữu sông Lai Vu Nam Sỏch cú cỏc trục đường quốc lộ 5A, 183 và tuyếnđường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy qua,cựng với các tuyến đường sông chophép huyện có vị trí thuận lợi trong giao lưu kinh tế với bên ngoài Huyệnnằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc trưng nóng ẩm, mưa vàomùa hè và hanh khô vào mùa đụng, ít chịu ảnh hưởng của bão,đõy là một điềukiện thuận lợi cho phát triển một hệ thống sinh thái đa dạng và bền vững,thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nói chung Khí hậu và số giờ nắng trongnăm trên địa bàn tương đối thích hợp, cùng với đặc điểm đất đai phì nhiêu ,địa hỡnh khỏ bằng phẳng nên có rất nhiều điều kiện thâm canh cây lúanước,cõy ăn quả và các loại rau mầu cây thực phẩm khác Tài nguyên nướccủa huyện dồi dào,bao gồm nguồn nước mặt và nước ngầm ,đảm bảo yêu cầu
Trang 26phục vụ cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt Đồng thời vớidiện tích trên 800ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, 1038.5 ha sông ngòi tựnhiên và 500 ha đất bãi trũng cấy lúa được chuyển đổi sang đào ao lập vườn,đõy không chỉ là nguồn nước phụ vụ cho các nhu cầu sử dụng nước tại chổ
mà còn có ý nghĩa lớn đối với phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Nam Sách nằm trong vùng thuộc nền văn minh lúa nước, tập quán sảnxuất nông nghiệp có từ lâu đời Nam Sỏch cũn cú làng nghề truyền thống nổitiếng là gốm Chu Đậu( xó Thỏi Tõn),hiện đang được khôi phục, tái chế Thêmvào đó với bờ đê dài 51km, với các dải bãi bồi phù xa nằm giữa vùng đồngbằng tươi tốt, bờn cỏc triền sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Lai Vunhư các dải lụa quanh co bao bọc, nơi đõy sẽ trở thành một vựng nờn thơ, cósức hấp dẫn khách du lịch Mặt khác, vị trí địa lý của Nam Sách tạo choHuyện trở thành một địa bàn chiến lượng quan trong trong chiến lược quốcphòng toàn dân, vừa có thể giữ , vừa có thể tiến công khi có chiến tranh xảy
ra Với những con sông và hệ thống 51km đê bao bọc , Nam Sách được coi làkhu vực phòng thủ quan trọng bảo vệ thành phố Hải Dương, thủ đô Hà Nộikhi có địch tấn công từ phía Đông vào
Theo số liệu thống kê ngày 31/12/2002 , dân số toàn huyện là138.265người, mật độ trung bình 1042 người /1km2 và được phân bố tương đối đồngđều ở 23 xã , thị trấn trong huyện, trong đó số người trong độ tuổi lao độngchiếm 54,78% Về cơ bản dân số huyện Nam Sách là dân số trẻ Chất lượnglao động của huyện ngày một tăng: số người cú trình độ đại học , cao đẳng từ5% năm 1997 tăng 6.5% năm 2000, số người có kỹ năng tay nghề từ 12%năm 1997 lên trên 15% năm 2000, số người lao động giản đơn từ 85% xuốngcòn 78,5% năm 2000 Với nguồn nhân lực dôi dào , được giáo dục và đào tạotốt và có truyền thống lao động cần cù, đoàn kết ham học hỏi, luôn phấn đấu
Trang 27xây dựng huyện thành huyện giầu mạnh, đó là cơ sở để tiếp cận với khoa họccông nghệ và tri thức cho sự phát triển kinh tế- xã hội của huyện
Mặc dù tỷ trọng công nghiệp , dịch vụ đã tăng lên chiếm 66,2% ,nôngnghiệp chỉ còn 33,8% nhưng Nam Sách vẫn còn 65% số lao động làm nôngnghiệp Đời sống kinh tế của người dân phần lớn phụ thuộc vào nghề nông dovậy đảng bộ huyờn luụn coi trọng phát triển kinh tế nông nghiệp Năm 2006 ,năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết đại hội đảng bộ huyện lần thứ 25(nhiệm
kỳ 2005 – 2010) , huyện sớm xây dựng 5 chương trình , với 18 đề án pháttriển toàn diện kinh tế - xã hội trong đú có đề án phát triển nông nghiệp theohướng phát triển hàng hoá , chất lượng và hiệu quả cao
Trong những năm qua , huyện đã tổ chức hàng nghìn lớp tập huấnchuyển giao tiến bộ kỹ thuật về trồng trọt , bảo vệ thực vật , chăn nuôi thú y ,nuôi trồng thuỷ sản cho hàng chục nghìn lượt nông dân, tới nay gần 90% diệntích đã áp dụng công nghệ cấy mạ non hoặc gieo thẳng Đã có những xã thâmcanh cây lúa đạt năng xuất bình quân 13-14 tấn /ha/năm, dẫn đầu năng suấtlúa toàn tỉnh, năm 2006 đạt 12,37 tấn ha/năm( tăng 0.46 tạ/ha so với năm
2005 Toàn huyện đã cú trờn 1000 ha lúa hàng hóa có chất lượng gạo ngon.Giá trị sản xuất bình quân trên 1ha đất nông nghiệp năm 2006 đạt 42 triệuđồng ,tăng 2 triệu đồng so với năm 2005…
Với lợi thế là một huyện có nhiều đê, bãi bồi ven sông, những năm gầnđõy , đàn bò thịt , bò sinh sản được khuyến khích phát triển nhanh chóng Năm
2006 toàn huyện đã có 9250 con bò , tăng gấp đôi so với 5 năm trước đõy Tỷ lệ
bò lai sản đạt trên 75% Nam Sách đã triển khai dự án chăn nuụi bũ thịt cao ởcỏc xó Cộng Hoà , Tân Thượng Đại , Hiệp Cát Đàn lợn thịt đã cú trờn 98 nghìncon ,trên 90% là lợn hướng nạc và lợn siêu nạc Đã có nhiều trang trại tập trungvới quy mô lớn Trên địa bàn huyện xuất hiện mô hình chăn nuôi mới , đó là các
hộ liên gia chăn nuôi , rồi mở rộng thành HTX chăn nuôi
Trang 28Đàn gia cầm toàn huyện nay đã cú trờn 700 nghìn con Trong đó trang trạinuôi gà đẻ trứng với quy mô 110 nghìn con, là một trong những trang trại gà lớnnhất các tỉnh phía Bắc Hằng ngày xuất bỏn trên 70 nghìn trứng gà cho thị trường
Để nông nghiệp Nam Sỏch cú những bước phát triển bền vững , từnhiốu năm qua, huyện ủy, UBND huyện tập trung chỉ đạo , tiếp tục nâng caochất lượng hoạt động của các HTX dịch vụ,đảm bảo đáp ứng kịp thời về điện
và nước, làm đất phân bón , thức ăn chăn nuôi , thú y …… Với những cáchnghĩ ,cách làm mới,năng động và quyết đoán ,tin tưởng rằng trong những nămgần đõy nông nghiệp Nam Sách sẽ có những bước đột phá mới
1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
Cùng với xu thế phát triển chung của cả nước và của tỉnh Hải Dương,nền kinh tế huyện Nam Sách đã có những bước tăng trưởng khỏ,giai đoạn1997-2002, tốc đọ tăng trưởng kinh tế bình quân của huyện đạt 11.9%; trong
đó giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ tăng nhanh nhất , đạt 22.8%; tiếp theo
là ngành công nghiệp – xây dựng đạt 15.8% , ngành nông nghiệp đạt 8.7%
Xu hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo ngành tương đôi rừ
* Về phát triển kinh tế: Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần từ 61%năm 1997 xuống còn 49.3% năm 2000 Tỷ trọng nghành công nghiệp – xâydựng tăng mạnh từ 10% năm 1997 lên 17.7% năm 2000 Tỷ trọng ngành dịch vụtăng từ 28.8 % năm 1997 lên 33% năm2000 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếhuyện Nam Sách là sự chuyển dịch đúng hướng , phù hợp với điều kiện và lợithế của huyện, góp phần đảm bảo cho nền kinh tế huyện phát triển ổn định , bềnvững và phù hợp với yêu cầu đảy mạnh tiến trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá
+ Về sản xuất nông nghiệp Những năm qua sản xuất nông nghiệp củahuyện đã phát triển nhanh Cơ cấu ngành nông nghiệp đang có sự chuyển dịchvới sự tăng nhanh ngành chăn nuôi , giảm dần ngành trồng trọt.Sản phẩmnông nghiệp cũng đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng sản lượng các sản
Trang 29phẩm hàng hoá và đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp ,đáp ứng nhu cầu tiêudùng trong huyện và cung cấp cho các vùng phụ cận như Quảng Ninh , HàNội, Hải Phòng và cho xuất khẩu, năng suất lúa của huyện không ngừng tăngcao: năm2002 là 122,4 tạ/ha, vụ chiêm xuân năm 2003 là 64,2 tạ/ha Giá trịtrên 1ha canh tác được nõng lờn ,năm 2002 đạt 34,7 triệu đồng
+ Về xây dựng kết cấu hạ tầng Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước , củatỉnh những năm qua , huyện đã tích cực huy động các nguồn vốn cho đầu tưxây dựng kết cấu hạ tầng ; hệ thống điện ,đường , trường ,trạm được xây dựngnâng cấp, thay đổi đáng kể Trong đó đã hoàn thành xây dựng kiên cố 74,4%
số phòng học , kiên cố hoá 11,4% số kênh mương, 705 đường bê tông thônxóm, 100% số hộ nông dân được sử dụng điện sinh hoạt tạo điều kiện choviệc sản xuất chăn nuôi được thuận tiện hơn
+ Về sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ Đõy là các ngànhkinh tế quan trọng , nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện; năm
2002 huyện đã cú trờn 1800 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ,phân bố ở khắp cỏc xã , thị trấn ; trong đó nhiều nhất là ở cỏc xó Nam Trung ,Nam Hưng , Quốc Tuấn,An Lâm, Hợp Tiến Bên cạnh các nghề và sản phẩmtruyền thống như sản xuất ghạch nung , khai thác cát, huyện đã chú trọng khôiphục lại nghề gốm Chu Đậu và hình thành một số nghề mới như chế biến nôngsản, mây , giang , làm hương, cỏn thép, đóng tầu thuyền Cùng với duy trì và đẩymạnh phát triển các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp , Chính phủ đã phêduyệt khu công nghiệp Nam Sách với diện tích 63ha, tỉnh phê duyệt cụm côngnghiệp An - Đồng với diện tích 35,18ha Đến nay đã có 40 doanh nghiệp đầu tưvào địa bàn, trong đú có 8 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
2 Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn
Trong những năm gần đõy cùng với sự phát triển kinh tế nói chung củatỉnh thì nền kinh tế của huyện đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong
Trang 30đó phải kể đến đúng góp của ngành chăn nuôi lợn Hàng năm chăn nuôi lợnluôn đạt ở mức tăng trưởng khá , tổng đàn lợn năm 2004 đạt 81920 con sangnăm 2006 là 98645 con tăng 16684 con như vậy bình quân hàng năm tăng8342con hay đạt 110,18% hằng năm Trong năm 2004 huyện có 17805 conlợn nái chiếm 21,74% trong tổng số lợn và lợn đực chiếm 25 con tươngđương với 0,003% , như vậy 1 con lợn đực giống ứng với 7122 con nái ,đếnnăm 2006 số nái của huyện đạt 18252 tăng so với năm 2004 là 447 con trongkhi đó con đực giống từ 25 đã tăng lên 35 con Năm 2004 trọng lượng xuấtchuồng trung bình là 47,95kg/con
Bảng 4: Số lượng đàn lợn năm 2004 toàn tỉnh Hải Dương
Tổng số (con)
Lợn nái Lợn thịt Đực giống lợn thịt thịt hơi
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương
Trang 31Tổng đàn bò của huyện năm 2004 là 7601 con , riêng đàn bũ nỏi sinhsản phát triển mạnh , sản lượng thịt hơi xuất chuồng hàng năm luôn đạt 159tấn Còn đàn trâu năm 2004 đạt 1814 con trong đó được dùng cho cày kéochiếm 1778 con Tổng đàn gia cầm của huyện năm 2004 đạt 638518 con thuđược 1286 tấn sản phẩm và 8194000 quả trứng các loại.
Năm 2004 toàn huyện có 64072 con lợn thịt , trong đó chủ yếu là conlai F1.Nhỡn chung chất lượng của đàn lợn thịt ở huyện còn thấp Đàn náitrong huyện có 17805 con thì phần lớn do nông dân tự chọ gõy nỏi Nông dânthường chọn lợn nái được sinh ra tại địa phương từ những con nái không rõnguồn gốc , sau đó lại cho phối với tinh lợn đực Đại bạch hoặc Landrace đểtạo ra con lai nuôi thịt , hoặc cho phối trực tiếp với lợn đực không rõ nguồngốc để tạo ra con thương phẩm Đối với đàn lợn con mua từ nơi khác về nuôicũng phần lớn là 7/8 hoặc ắ không rõ nguồn gốc
Mặt khác phần lớn nông dân ở đõy thiếu hiểu biết về nhu cầu dinhdưỡng của lợn còn hạn chế Kỹ thuật cân đối khẩu phần thức ăn cho lợn cũngcòn hạn chế Một số hộ chăn nuôi chỉ cho ăn những loại thức ăn có sẵn tronggia đình được tận dụng triệt để như cám gạo, ngô, khoai , sắn , có những hộcho ăn thờm cỏc sản phẩm thức ăn giầu đạm như cá ,đậu tương hoặc cám docác công ty thức ăn sản xuất nhưng với tỷ lệ thấp Họ không pha trộn theomột công thức hoặc theo tỷ lệ nào cụ thể mà cho ăn rất tuỳ tiện Còn lại phầnlớn các hộ chăn nuôi ( thường là với số lượng lớn trên 30 con ) cho ăn cámcông nghiệp hoặc ăn thẳng hoặc phối trộn theo tỷ lệ nhất định Mức đầu tưcủa các hộ cũng khác nhau , một số hộ cho ăn nhiều , phối trộn thờm cámđậm đặc hay kết hợp với cám tự chế biến thì chất lượng lợn thường cao hơn
và trọng lượng nuôi tăng, thời gian nuôi giảm, còn những hộ đầu tư cho ănthấp nên lợn nuôi chậm lớn , còi cọc Bên cạnh đú có những nông dân chưahiểu hết tầm quan trọng của công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn lợn ,
Trang 32trình độ thú y của cơ sở còn hạn chế nên việc tổ chức tiêm phòng còn chưatốt, đa phần là người chăn nuôi tự tìm thuốc và tiêm Người chăn nuụi cú ớtthông tin về thị trường , sản phẩm chăn nuôi được tiêu thụ trong phạm vi hẹpchủ yếu là các vùng lân cận như Quảng Ninh ,Hải Phũng nên đôi khi bị tưthương ộp giá , lợn nuôi ra khó tiêu thụ
Từ những tồn tại đã và đang diễn ra trong lĩnh vực chăn nuôi tại địaphương đã có nhiều người chăn nuôi không muốn đầu tư vào lĩnh vực chănnuôi lợn vì sợ rủi ro và tỏ vẻ băn khoăn , lúng túng trong việc giải quyết khókhăn về kỹ thuật chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm Một vài hộ chăn nuôi nhiềulợn ở đõy đôi khi cũng đã có những hình thức liên kết để mua chung thức ăncho lợn để giảm chi phí vận chuyển hoặc cùng nhau mua vaccin về tiêmphòng cho đàn lợn Họ cũng thấy được lợi ích khi họ cùng mua một khốinguyên liệu , thức ăn gia súc tương đối lớn ( giảm được cước vận chuyển, giá
rẻ hơn )
Qua những số liệu cho thấy chăn nuôi của huyện chủ yếu tập trung vàocon lợn với số lượng và doanh thu lớn nhất trong tất cả các ngành chăn nuôi ởđịa phương Tuy nhiên trong chăn nuôi lợn ở địa phương hiện nay bên cạnhnhững thuận lợn cũn cú những khó khăn trở ngại đang gặp phải
+ Thuận lợi : trước hết phải kờt đến :
- Chăn nuôi lợn luôn là ngành nghề truyền thống và gắn liền vớinềnvăn minh lúa nước của người Việt Nam Từ lâu đời cha ông ta đã biếtthuần hoá động vật hoang dã thành vật nuôi trong gia đình , trả qua hàng ngànnăm tích luỹ kinh nghiệm được đúc kết trở thành những kinh nghiêm chănnuôi quý báu và ngành chăn nuôi trở thành một ngành gắn liền với lịch sửhình thành ,là một ngành nghề truyền thống
- Hơn 70% hộ nông dân chăn nuôi lợn ,đó là một con số khả quan , nócho thấy khả năng phát triển kinh tế tạo thu nhập cho người chăn nuôi từ