Vốn đầu tư trong nền sản xuất hàng hoá là vốn tiền tệ được tích luỹ của xã hội bằng nhiều nguồn, của các doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, trong hoạt động kinh tế xã hội nói chung nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 1Đề tài: Thực trạng và giải pháp để huy động và sử dụng có hiệu quả
nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Phần Mở Đầu
Hiện nay trên thế giới, nhiều quốc gia, tổ chức tài chính và những công tylớn đang nắm giữ một lượng vốn khổng lồ , có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài.Đây là một điều kiện thuận lợi với các nước thiếu vốn , có nhu cầu đầu tưlớn, đặc biệt là các nước đang phát triển Mặt khác, xu hướng và bối cảnhquốc tế cũng rất phức tạp , mang tính cạnh tranh cao, đòi hỏi mỗi nước phải
có chiến lược hợp lý, tài tình dể thu hút vốn, phát triển kinh tế xã hội Vìvậy, thu hút đầu tư nước ngoài đã trở thành vấn đề rất quan trọng đối vớinhiều nước
Đối với nước ta, để đạt tốc độ tăng trưởng và bền vững cần phải có mộtlượng vốn lớn Trong khi nền kinh tế còn chậm phát triển, khả năng tích luỹthấp, nguồn vốn trong nước chỉ đảm bảo được 50%, việc huy động vốn nướcngoài có ý nghĩa rất lớn Chính vì thế, việc xem xét đánh giá kết quả đầu tưnước ngoài trong thời gian qua, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, ách tắc, đưa
ra những giải pháp khuyến khích thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài đangđược chính phủ quan tâm và chỉ đạo Là một sinh viên theo học ngành kinh
tế, em rất muốn đóng góp phần kiến thức nhỏ bé của bản thân cho công cuộcphát triển của đất nước, nên em đã chọn nghiên cứu đề tài này Với sự hiểubiết còn nông cạn, chắc chắn bài viết của em sẽ có nhiều thiếu sót, kínhmong dược sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của thầy Em xin chân thành cảmơn
Phương pháp luận được sử dụng trong bài viết là các phương pháp thống kê,suy luận , phân tích tổng hợp, phương pháp logic…
Trang 2Việc nghiên cứu đề tài sẽ chỉ sử dụng kiến thức kinh tế chính trị học, đãđược hướng dẫn ở năm trước Và đây chỉ là một đề án nên phạm vi nghiêncứu sẽ không rộng như luận án hay các bài nghiên cứu khác cùng đề tài
Nội Dung
I)Một số vấn đề về cơ sở lí luận
Mọi quá trình sản xuất đều cần phải có hai yếu tố cơ bản là tư liệu sảnxuất và sức lao động Thiếu một trong hai yếu tố đó thì sẽ không có bất kìquá trình sản xuất nào, dù là sản xuất tự cung tự cấp, hay sản xuất hànghoá Để có được hai yếu tố đó, vấn đề đặt ra là cần có vốn đầu tư và thựchiện hoạt động đầu tư
Vốn đầu tư trong nền sản xuất hàng hoá là vốn tiền tệ được tích luỹ của
xã hội bằng nhiều nguồn, của các doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân vàvốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trìnhsản xuất kinh doanh, trong hoạt động kinh tế xã hội nói chung nhằm đạtđược hiệu quả cao nhất Vốn đầu tư co thể huy động từ trong nước cũngnhư nước ngoài Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế được đẩymạnh như thời đại ngày nay thì nguồn vốn nước ngoài ngày càng trở nênphổ biến và có vai trò không nhỏ Mặc dù đứng về lâu dài mà nói thì vốnđầu tư trong nước luôn giữ vai trò chủ yếu Vốn đầu tư được sử dụng chonhững mục đích nhất định Xét về bản chất thì việc sử dụng đó chính làquá trình thực hiện việc chuyển hoa vốn tiền tệ thành các yếu tố của quátrình tái sản xuất và được gọi là hoạt động đầu tư
Đầu tư nước ngoài( hay đầu tư quốc tế), như Lênin khẳng định, chính
là xuất khẩu tư bản trong thời kì chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn phát triểntột cùng của chủ nghĩa tư bản Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn còn làchủ nghĩa tư bản, số tư bản thừa vẫn còn được dùng để tăng thêm lợinhuận bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, vào những nước lạchậu Sở dĩ có thể xuất khẩu tư bản là vì một số nước nghèo đẫ bị cuốnvào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản thế giới Sở dĩ cần phải xuất khẩu tưbản là vì một trong số ít nước chủ nghĩa tư bản đã quá chín và tư bảnthiếu địa bàn đầu tư có lợi
Căn cứ vào các tiêu thức nhất định, có thể phân chia đầu tư thành các loại
- Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, khoa học kĩ thuật, cơ sở hạtầng( theo lĩnh vực hoạt động)
- Đầu tư cơ bản đầu tư vận hành( theo đặc điểm hoạt động)
- Đầu tư ngắn hạn, đầu tư dài hạn( theo thời gian chu chuyển)
Trang 3- Đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp( theo quan hệ quản lý của chủ đàutư)
Đầu tư trực tiếp là đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản
lý điều hành quy trình thực hiện và có thể quyết định toàn bộ mọi hoạtđộng nếu là xí nghiệp 100% vốn, hoặc tham gia quyết định nếu là xínghiệp liên doanh Trong hình thức này, người có vốn có thể bỏ vốn vào
để tăng thêm năng lực sản xuất hoặc có thể tạo ra năng lực sản xuất mới,song cũng có thể mua lại một số cổ phần để hy vọng thu được lợi tức cổphần Người bỏ vốn ra có thể là người trong nước mà cũng có thể làngười nước ngoài( nếu được luật pháp của nước chủ nhà cho phép).Trong trường hợp vốn và người có vốn là người nước ngoài thì hoạt độngđầu tư trực tiếp đó là đầu tư trực tiếp nước ngoài
1 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Invesment_ FDI)là
dạng đầu tư trực tiếp do nguồn vốn từ bên ngoài mà chủ thể của nó là tưnhân hay nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế được nước chủ nhà cho phépđầu tư vào những ngầnh hoặc lĩnh vực nào đó của một nước nhằm thựchiện một mục tiêu nhất định
Theo quan niệm của tổ chức OECD thì FDI là nguồn tài trợ của tư nhân,nhưng thật ra chủ thể của FDI không phải duy nhất chỉ có tư nhân( mặc
dù tư nhân là chủ yếu) mà còn có nhà nước và các tổ chức quốc tế khác
1.1 Đặc điểm của FDI:
Một là, FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận mà cùng với vốn
có thể có cả kỹ thuật, công nghệ, bý quyết kỹ thuật, sản xuất kinh doanh,năng lực Marketing Chủ đầu tư khi đưa vốn vào đầu tư là đẫ tiến hành tổchức sản xuất kinh doanh Sản phẩm làm ra phải được tiêu thụ ở thịtrường nước chủ nhà hoặc thị trường lân cận
Hai là, việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ cho nước chủnha, trái lại nó còn tạo ra điều kiện phát triển tiềm năng trong nước
Ba là, chủ thể của FDI chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia Cáccông ty này chiếm tới 90% khối lượng FDI của thế giới
Bốn là, FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song những hình thức cơ bảnlà: + Chủ đầu tư bỏ vốn vào thành lập xí nghiệp 100% vốn của mình + Chủ đầu tư mua lại toàn bộ hoặc một phần xí nghiệp của nước chủnhà
+ Chủ đầu tư cùng góp vốn với các đối tác nước chủ nhà với những tỷ
lệ khác nhau để thành lập xí nghiệp liên doanh
+ Chủ đầu tư bỏ vốn xây dựng công trình vận hành sau đó chuyểngiao cho nước chủ nhà theo hợp đồng thoả thuận giữa hai bên( BOT) haycác hình thức tương tự xây dựng- chuyển giao-kinh doanh( BTO), xâydựng- chuyển giao( BT)…
Trang 4Mỗi hình thức đều có những ưu nhược điểm khác nhau song nhìnchung hình thức liên doanh tỏ ra là hình thức dược ưa chuộng nhất
Ngày nay, FDI đã và đang trở thành một tất yếu kinh tế trong điều kiệnquốc tế hoá sản xuất, lưu thông và được tăng cường mạnh mẽ Nó đóngvai trò quan trọng to lớn, không chỉ với những nước đang phát triển mà
cả những nước phát triển , có tiềm lực kinh tế , khoa học kỹ thuật như
Mỹ, Nhật và các nước EU
1.2 Vai trò tích cực của FDI
- Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho nước chủ nhà để bù đắp sựthiếu hụt của nguồn vốn trong nước Hầu hết các nước nhất là các nướcđang phát triển đếu có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá.Thực tế ở nhiều nước đang phát triển mà nổi bật ềt các nước ASEAN vàĐông Á, nhờ có FDI giải quyết một phần khó khăn về vốn nên đã thựchiện thành công quá trình công nghiệp hoá đất nước, trở thành nhữngNICs ( thế hệ I hoặc II)
- Thứ hai, cùng với việc cung cấp vốn là kỹ thuật, qua thực hiện FDI,các công ty( mà chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỹthuật công nghệ từ các nước đầu tư( hoặc các nước khác ) sang nước chủnhà Mặc dù sự chuyển giao này còn nhiều mặt hạn chế do những yếu tốchư quan va khách quanchi phối Song điều không thể phủ nhận là chínhnhờ có sự chuyển giao đó mà các nước chủ nhà đó có được kỹ thụâtt tiêntiến, kinh nghiệm quản lý và năng lực mảketing, đội ngũ lao động đượcđào tạo bồi dưỡng về nhiêu mặt
- Thứ ba, do tác động của vốn, cua khoa học cong nghệ,FDI sẽ tácđộng mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu ngành, cơ cấu kỹthuật, cơ cấu sản phẩm và lao động sẽ được biến đổi theo chiều hướngtiến bộ
- Thứ tư, FDI là một trong những hình thức hợp tác quốc tế thông qua
cá hình thức đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà sẽ có thêm điều kiện mở rộngquan hệ kinh tế quốc tế
Tuy nhiên FDI không phải khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tácđộng tích cực với đòi sống kinh tế xã hội của nuớc chủ nhà Nó chỉ có thểphát huy tác dụng tốt trong môi trường kinh tế, môi trường chính trị xãhội ổn định và đặc biệt là nhà nước biết sử dụng và phát huy vai trò quản
lý của mình Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hútFDI ở nước ta cũng đã chỉ ra rằng FDI có không ít mặt hạn chế
1.3 Hạn chế của FDI
Nguồn vốn của FDI mang lại cho nước chủ nhà song trên thực tế dochủ đầu tư quản lý trực tiếp và sử dụng theo những mục tiêu cụ thể củamình( tuy nhiên trong khuôn khổ pháp luật của nước chủ nhà)
Trang 5Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng chỗ sơ hở trong luật pháp
và trong quản lý của nhà nước để trốn thuế, gây tác hại đến môi trườngsinh thái và lợi ích của nước chủ nhà
Chuyển giao công nghệ là mặt tác động lớn của FDI, song còn tồn tạinhiều tiêu cực, trong đó có việc chuyển giao nhỏ giọt , từng phần vàthong thường là công nghẹ lạc hậu gây o nhiễm… với giá cao hon mặtbằng quốc tế
Trong số các nhà đầu tư không phải không có trường hợp hoạt độngtình báo, gây rối loan an ninh, chính trị vv vv…
Chính do những mặt hạn chế trên mà nhiều nước chủ nhà đã lên tiếngphản đối Tông thống Philippin cũng từng nhận xét rằng: “Nếu không có
sự kiểm soát thì đầu tư nước ngoài không kém gì sự xâm lược” Nêu lênnhững hạn chế của FDI không có nghĩa là phủ nhận tác dụng của nó màchỉ để lưu ý không nên quá ảo tưởng về nó Nhà nước cần có những biệnpháp kiểm tra, kiểm soát và đói sách hưu hiệu để phát huy mặt tích cực,hạn chế mặt tiêu cực của FDI
2- Đầu tư gián tiếp là đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham
gia quản lý và điều hành hoạt động đầu tư, họ chỉ căn cứ vào kết quả màmình đã phân tích thẩm định những dự án mà người trực tiếp quản lýđiều hành đưa ra
Đầu tư gián tiếp là nhận vốn tín dụng của nước ngoài để tự sản xuất kinhdoanh Vốn tín dụng này được trả bằng tiền cả gốc lẫn lợi tức dưới hìnhthức tiền tệ hay hình thức hàng hoá
Những chủ thể cung cấp vốn chủ yếu của hình thức đầu tư gián tiếp làcác tổ chức quốc tế ( hoặc cơ quan đại diện của chinh phủ cung cấp),trong đó có các tổ chức như: Ngân hàng thế giới(WB), Quỹ tiền tệ quốctế(IMF), chương trình phát triển liên hiệp quốc( UNDP)…
Đầu tư gián tiếp bao gồm nhiều hình thức khác nhau,trong đó quan trọngnhất là viện trợ phát triển chính thức(Official Development Assistance-ODA) Đó cũng chính là hình thức chúng ta sẽ nghiên cứu trong bài viếtnày ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản vay
ưu đãi dưới các hình thức: hỗ trợ cán cân thanh toan, hỗ trợ theo chươngtrình, hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ dự án
2.1 Đặc điểm của ODA:
- Nó là nguồn vốn vay với thời gian dài, khối lượng vay tương đối lớn
và lãi suất được ưu đãi( có thể từ 0%-5%/năm)
- ODA là hình thưc viện trợ chính thức không bao gồm các khoản tàitrợ tư nhân kể cả khi có chính phủ nước đó đứng ra bảo lãnh
Trang 6- Cũng tương tự viện trợ của các tổ chức phi chính phủ( NGOs) cũngkhông được tính vào ODA, mặc dù các tổ chức này vẫn nhận được sự hỗtrợ về tài chính của chính phủ.
Để phân biệt viện trợ và cho vay, các nước đã có quy ước chỉ khi nào yếu
tố cho không( tức là bộ phận không phải hoàn lai) chiếm từ 25% tổng sốviện trợ trở lên thì khoản viện trợ đó mới được coi là ODA
2.2Vai trò tích cực của ODA
Cũng như FDI, ODA có một vai trò quan trọng dặc biệt Nó có vai trò bổsung nguồn vốn trong nước Dưới dạng viện trợ không hoàn lại, ODA sẽgiúp tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhânlực, hoàn thiện cơ cấu kinh tế Nó tác động tích cực đến quá trình pháttriển kinh tế xã hội, ngoài ra, ODA còn có tác động tăng khả năng thu hútvốn FDI và tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển
Tuy nhiên, ODA cũng có những hạn chế, tiêu cực do nguyên nhân kháchquan hoặc chủ quan
2.3 Hạn chế của ODA
Các nhà tài trợ ODA đặt ra những quy chế và thủ tục khá phức tạp, từkhâu chuẩn bị chương trình dự án đến việc ký kết và giải ngân, mà nướcchủ nhà muốn nhận viện trợ buộc phải chấp nhận Hơn nữa ODA vàchính trị đi liền với nhau Các nước và các tổ chức cung cấp ODA thườnghay gắn với nhau nhiều điều kiện để mưu tìm lợi ích kinh tế hoặc chínhtrị Trong số các điều kiện được đặt ra, không ít điều kiện không phù hợpvới định hướng chiến lược phát triển của nước chủ nhà
Bên cạnh đó là nhưng hạn chế do chính sách sử dụng và quản lý củanước chủ nhà ODA uy có phần ưu đãi song lại là nguồn vốn vay phải trảtrong một thời gian nhất định Vì thế, nó đòi hỏi sự chuẩn bị, phân tích vàcân nhắc kỹ càng trước khi tiếp nhận
3- Quan hệ giữa nguồn vốn trong và ngoài nước
Như chúng ta đã xem xét ở trên, nguồn vốn nước ngoài đang ngày càngtrở thành phổ biến và có vai trò không nhỏ đới với sự phát triển kinh tế
xã hội của các nước Mặc dù vậy đứng về lâu dài mà nói thì vốn đầu tưtrong nước luôn giữ vai trò chủ yếu Mỗi nước phải tự lực cánh sinh nắmquyền chủ động thì mới có được bước phát triển vững mạnh và lâu dài.Giống như một liều thuốc tốt, FDI và ODA đã có vai trò to lớn đối với sựphát triển của các nền kinh tế Nguồn lực bên ngoài này đã góp phần hữuhiệu, nhất là đối với các nước đang phát triển thực hiên công nghiệp hoáđất nước Tuy nhiên nếu không được tiếp tục sử dụng hợp lý, cân nhắc vềliều lượng, lộ trình thì nó sẽ gây ra những khó khăn mới về lâu dài
II) Thực trạng và giải pháp
1-Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 71.1 Thuận lợi và khó khăn
1.1.1 Thuận lợi:Ở Việt Nam hiện nay đang có những ưu thế từng xuất
hiện ở Nhật Bản trong thập kỷ 60, đó là hoạt động kinh tế sôi động, tiềncông lao động thấp, giá thành rẻ, cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện, có nhiều
cơ hội làm ăn và nhiều triển vọng Các nhà đầu tư nước ngoài có thể tìmthấy ở Việt Nam những gì thuận lợi cho công cuôc làm ăn của mình Tuy
bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, nhưng kinh tếViệt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng, thu nhập quốc dân tiếp tục tăng, kimngạch xuất khẩu cũng tăng cao Nhiều nhà đầu tư đã thu được lợi nhuậncao Đặc biệt, Việt Nam có tài nguyên thiên nhiên phong phú, tiềm năngthị trường lớn, vị trí địa lí phù hợp Hơn nữa, tình hình chính trị xã hộiViệt Nam rất ổn định Tuy hệ thống đường sắt và đường bộ chưa pháttriển, nhưng Việt Nam nằm ở trung tâm Châu Á, có ưu thế lớn về giaothông đương thuỷ với bờ biển kéo dài và nhiều dòng sông nối với cácnước láng giềng Cùng với những ưu đãi vốn có, nhà nước ta cũng thựchiện chính sách mở cửa, khuyến khích và tạo điều kiện cho đầu tư nướcngoài vào Việt Nam
1.1.2Nhưng chúng ta cũng phải xem xét đến các khó khăn đang phải đối mặt:
Do nhận thức tư tưởng về đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa nhất quánthông suốt Một mặt , do chúng ta thiếu vốn trầm trọng nên muốn khuyếnkhích thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để xây dựng, phát triển đấtnước Mặt khác, chúng ta lại sợ sự phát triển của cởu nghĩa tư bản ngaytrong lòng nước ta mà không khống chế được nên lại tìm cách ngăn chặn.Việc đóng mở thất thường sẽ làm các nhà đầu tư ngán ngại, không muốnđầu tư lớn và lâu dài ở nước ra
Do môi trường đầu tư của Việt Nam chưa đủ sức hấp dẫn Tuy chính phủViệt Nam đã thường xuyên lắng nghe các nhà đầu tư và ban hành nhiêùbiện pháp cải thiện moi trường đầu tư, nhưng hiện nay vẫn còn nhiềuvuớng mắc Môi trường đầu tư của ta còn nhiều rủi ro, một số lợi thế sosánh đã bị mất đi, chính sách về thuế , ngoại hối thường thay đổi quánhanh, thị trường còn hạn hẹp Đặc biệt là yếu tố thị trường, sức mua ởnước ta còn rất hạn hẹp Những sản phẩm mà thị trường có sức tiêu thụkhá thì nhiều công ty trong và ngoài nước đã đầu tư và hiện năng lực sảnxuất đã vượt quá sức mua, như: ximăng, đường, xe máy, thép xâydựng… Còn nhiều mặt hang khác, thị trường Việt Nam lại chưa có nhucầu hoặc nhu cầu còn quá nhỏ Khi không có thị trường, không có ngườimua thì chúng ta không thể thuyết phục nhà đầu tư đổ thêm vốn vào ViệtNam Còn đầu tư ở Việt Nam dể xuất khẩu ra nước ngoài thì chúng ta đã
và đang để mất nhiều lợi thế
Trang 8Do thiếu một hệ thống luật pháp và đầu tư hoàn chỉnh Trong nhiều nămqua, Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam đã được sửa đổi nhiều lầnnhằm tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng hệ thống phápluật về đầu tư vẫn thiếu sự đồng bộ nhất quán , thiếu tính rõ rang dẫn đếnnhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau làm cho các nhà đầu tư ngần ngại
Do khâu quy hoạch thu hút đầu tư nước ngoài còn nhiều yếu kém, thiếu
sự khoa học và họp lý, dẫn đến việc cấp giấy phép đầu tư cho một sốngành hàng, lĩnh vực vượt quá nhu cầu, gây lãng phí thiệt hại cho đấtnước, làm các nhà đầu tư mất niềm tin
Do khâu quản ký của nhà nước đối với đầu tư nước ngoài còn kém hiệuquả Nhà nước quá buông lỏng trong một số mặt , nhưng lại can thiệp quásâu vàp một số mặt khác như hoạt động của các doanh nghiệp Cơ chếmột cửa , một đầu mối- dù đã được thống nhất nhưng nhiều nơi vẫn chưathực hiện tốt
Còn thiếu một đội ngũ cán bộ có đủ tài đủ đức để tham gia quản lý cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,và một đội nguc công nhân lànhnghề để cung cấp cho khu vực đầu tư nước ngoài
Chúng ta xem xét, nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn để từngbước có biện pháp hạn chế khó khăn, phát huy lợi thế, đẩy mạnh côngcuộc phát triển của đất nước
1.2 Thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
1.2.1Đánh giá chung
Theo Bộ Kế Hoach Và Đầu Tư, tính đến ngày 15-5-2001 trên cả nước có
2725 dự án Đầu tư nước ngoài còn hiệu lực vơi tổng số vốn dăng ký trên35,56 tỷ USD, vốn pháp định trên 16.25 tỷ USD Vốn đầu tư thực hiên từnăm 1988 đến nay đạt khoảng 20 tỷ USD, trong đó bên nước ngoài đưavào khoảng 17,7 tỷ USD Tổng doanh thu đạt khoảng 26 tỷ USD( chưa
kể liên doanh dầu khí Vietsopetro) xuất khẩu khoảng 12 tỷ USD, nộpngân sách nhà nước khoảng 1,8 tỷ USD, tạo việc làm cho hơn 350.000lao động trực tiếp Bên cạnh những con số có ý nghĩa nêu trên, thì mộtthành tựu rất đáng ghi nhận của thành phần kinh tế có vốn ĐTNN là hợptác toàn diện trong lĩnh vực dầu khí từ khâu tìm kiếm, thăm dò, khai thácđếnchế biến ồa cung cấp dịch vụ Lĩnh vực này đã thu hút được nhiềuvốn và công nghẹ hiện đại từ các tập đoàn dầu khí lớn của nhiều quốc giatrên thế giới Hoạt động ĐTNN cũng đã đưa mạng viễn thong Viẹt Namđạt trình đọ quốc tế, thúc đẩy khai thác nhanh các dự án công nghiệp điện
tử, ô tô, xe máy, hoá chất , dệt may giày dép và góp phần thay đổi bộmặt của đất nước ta ĐTNN đã góp phần nâng cao năng lực của nền kinh
tế với nhiều công nghệ mưói hiện đại, tạo ra một bước ngoặt quan trọngtrong một số ngành kinh tế mũi nhọn
Trang 9Bảng 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ1988-2000
Nguồn: Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư
Từ số liệu bảng trên cho thấy:
Trong 9 năm từ 1988 đến 1996 ĐTTTNN ở VN tăng khá, số dự án đăng kýtăng bình quân 31.5%/ Năm, vốn dăng ký tăng 45%/ năm Nhưng từ 1997 đếnnay tốc độ đầu tư giảm sút rõ rệt Nguyên nhân do khủng hoảng tài chínhtrong khu vực và môi trường đầu tư Việt Nam không đủ sức hấp dẫn Sangnăm số dự án cấp phép đã bắt đầu tăng trở lại( tăng 12%/ năm so với năm1998), nhưng số vốn dăng ký mới chỉ bằng 43% so với năm 1998 Năm 2000tình hình có phân khả quan hơn, với số dự án đăng ký tăng 11% và vốn đăng
ký tăng 26% Sự phục hồi bước đầu ĐTNN vào Việt Nam là dấu hiệu đángmừng trong bối cảnh đầu tư vào các nước ASEAN vẫn đang giảm sút Kết quảnày có được là nhờ những tác động tích cực củ các giải pháp cait thiện môitrường ĐTNN của Nhà Nước Việt Nam trong thời gian gần đây, đặc biệt lànhững cải thiện về môi trường pháp lý kinh doanh cho các nhà ĐTNN
Trang 10Cũng từ bảng trên cho thấy: việc góp vốn triển khai dự án là khá tích cực.Tính đến ngày 31.12.99, tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký là 42% Nếu
so với các nước trong khu vực( con số này dao dộng từ 30-40%) thì tỷ lệ gópvốn của Việt Nam la thuộc loại cao
Xét về quy mô dự án thì quy mô dự án ĐTTTNN ở Việt Nam không lớn,trung bình 12,6 triệu USD/năm Đặc biệt trong năm 1999 quy mô bình quânmột dự án quá nhỏ:5,1 triệu USD/dự án-thấp nhất trong 12 năm trước đó.Năm 200 có phần khá hơn đạt 5,7 Triệu USD/ Năm
1.2.2Phân tích cơ cấu ĐTNN theo đối tác đầu tư nước ngoài
Cho đến nay Việt Nam đã thu hút được 67 quốc gia đưa vốn vào đầu tư Nếucăn cứ vào số vốn đăng ký cũng như vốn pháp định theo thứ tự giảm dần thì
có thể xếp 10 quốc gia sau đây theo nhóm đã đóng góp đáng kể vào sự pháttriển nền kinh tế
Số dự án và vốn phân theo quốc gia
Nguồn: Bộ Kế Hoạch Và Đầu tư
Nhìn vào số vốn và số dự án của từng quốc gia có thể thấy quy mô vốn bìnhquân của từng quốc gia như sau: Anh 27,63 triệu;Singarpore:21,24 triệu;Islands 18,93 triệu;Pháp 13,86 triệu; Mỹ 11,08 triệu; Nhật 10,69 triệu; Hànquốc 10,53 triệu; Hông Kông 10,02 triệu; Đài Loan7,57 triệu; Nga 21,27triệu.Như vậy có thể nói rằng các quốc gia đầu tư quan tâm đến nhiều lĩnh vựckhác nhau chứ không chú trọng vào một lĩnh vực nào cả Ngày càng xuất hiệnnhiều các công ty xuyên quốc gia, các tập đoàn có năng lực tài chính và tiền
tệ, công nghệ Đạc biệt những chính sách thích hợp để chuyển hướng thu hútđầu tư của Việt Nam trong năm 1998 đã có tác động tích cực nên cơ cấu đốitác nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp đã coa sự thay đổi quan trọng.Nếu như giai đoạn đầu các chủ đầu tư lớn đều thuộc các nước láng giềng, thì
Trang 11gần đây ĐTNN từ các nước châu Âu, Mỹ tiếp tục chiếm tỷ lệ cao trong tổng
số vốn đầu tư
1.2.3 Phân tích cơ cấu đầu tư theo ngành cho thấy: Các dự án ĐTTTNN đã
có mặt ở hầu khắp mọi ngành của nền kinh tế quốc dan và đang có sự chuyểndich cho phù hợp với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoáđất nước Nếu giai đoạn đầu các dự án đầu tư chủ yếu tập trung vào xây dựngkhách sạn, nhà hang, văn phòng cho thuê; thì ngày nay chủ yếu tập trung vàongành công nghiệp Cụ thể tính chung cho giai đoan 1988-1999: công nghiệpnặng – 16,7%; công nghiệp dầu khí- 8,3%; công nghiệp nhẹ-10,45%;côngnghiệp thực phẩm-5,89%, xây dựng 9,75%, xây dựng đô thị- 9,14% Cơ cấuđầu tư theo ngành có thể coi là thích hợp Ta có bảng số liệu phân tích cơ cấukinh tế theo ngành:
Vốn đầu tư nước ngoài phân theo ngành tính đến 31.10.2000
Công nghiệp dầu khí 63 3086443 2283113
Văn phòng cho thuê 105 3000225 1072107
ký Trong năm 2000, ĐTTTNN có sự chuyển biến lớn về chất so với các năm
Trang 12trước; tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất( chiếm 94% số vốn đăngký), trong đó lĩnh vực công nghiệp chiếm 90,98%, lĩnh vực nông –lâm –ngưnghiệp chiếm 2,76% Dịch vụ du lịch chỉ còn chiếm 2,02% Đã co những dự
án khá lớn đầu tư vào lĩnh vực y tế- giáo duc chiếm 3,41%
Phân tích cơ cấu đầu tư theo địa phương
1.2.4 Phân tích theo hình thức đầu tư
Nếu phân tích theo hình thức đầu tư thì bức tranh ĐTNN tại Việt Nam đangchuyển biên theo khuynh hướng ngày càng tăng, hình thức kiên doanh ngàycàng giảm Nếu chia 13 năm thu hút ĐTNN của Việt Nam thành những giaiđoạn nhỏ, ta sẽ thấy:
Giai đoan 1988-1992: Hình thức liên doanh đóng vai trò chủ đạo, chiếm trên70% tổng số dự an ĐTNN, hình thức 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 12%Giai đoạn 1993-1996: Số dự án 100% vốn nươc ngoài đã tăng lên 38%
Giai đoạn 1996-1999: số dự án 1ô% vốn nước ngoài chiếm 64% tổng số dự anRiêng năm 2000, số dự án 100% vốn nước ngoài đã lên đến 286gấp 5 lần số
dự án lien doanh( 58 dự án)
1.2.5 Phân tích cơ cấu đầu tư theo địa phương
Tính đến hết năm 1999, ĐTTTNN đã có mặt trên 61 tỉnh thành phố trong cảnước, nhưng tập trung chủ yếu ở các trọng điểm ở miềm Nam và miền BắcTính chung cho 12 năm đầu( 1988-1999), bảy tỉnh va thành phố là, TP Hồ ChíMibg, Hà Nội, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Duong, Hải Phòng vàQuảng Ngãi đã tập trung thu hut 75% số dự án và 76% số vốn đầu tư đăng kýtrong cả nước Riêng trong năm 1999 có 36 tỉnh và thành phố có dự ánĐTNN Trong đó TP Hồ Chí Minh vẫn giữ vị trí dẫn đầu Tiếp theo đó là cáctỉnh Bình Dương, Hà Nội, Bà Rịa –Vũng Tàu, Đồng Nai, Long An và HảiPhòng So với năm 1998 thì năm 1999 đã có thêm một số địa phương mới ởđịa bàn kinh tế-xã hội khó khăn có dự án ĐTNN như Lào Cai,Sơn La, HoàBình, Phú Thọ, Bình Phước, Bến Tre
Năm 2000 thực hiện chủ trương phân cấp trong lĩnh vực cấp giấy phépĐTNN Bộ Kế Hoạch Và Đầu tư chỉ cấp 24 giấy phép( với tổng vốn đăng kýgần 1.300 triệu USD) trong khi UBND các tỉnh và thành phố trực thuộc TrungƯơng cấp tới 166 giấy phép(197,7 triệu USD), ban quản lý các KCN-KCXcấp 154 giấy phép( 475 triệu USD) Vị trí xếp hạng trong năm vê thu hútĐTNN giữa các địa phương cũng có sự thay đổi đáng kẻ Dẫn đầu là BìnhDương, tiếp đó là các tỉnh thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa- VũngTàu, Hà Nội…
1.2.6 Phân tích cơ cấu đầu tư theo vùng kinh tế
a)Chủ trương chính sách đầu tư vùng
Việt Nam là một nước đang phát triển với các nguồn vốn đầu tư còn hạn chế.Trong điều kiện đó Đảng và nhà nước chủ trương thực hiện chiến lược đầu tư
Trang 13có trọng điểm và phát triển kinh tế dựa trên thế mạnh và lợi thế so sánh củatừng vùng Dự thảo” Chiến lược phát triểnkinh tế -xã hội” trình đậi hội Ĩ củaĐảng nhấn mạnh ở các nội dung xây dựng và phát triển ở sáu vùng Đó là bavùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ,miền Trung,phía Nam và ba vun khó khănhơn là trung du, miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên và Đông Bằng Sông CửuLong Việc tạo rat rung tam kinh tế mạnh trong mỡi vùng không chỉ là đọnglực phát triển bản thân vùng kinh tế đó mà còn tạo ra sức hấp dẫn, tác độngmạnh mẽ vào sự phát triển của các vùng có liên quan.
Để đạt được mục tiêu chiến lược đó, cần phải có chính sách đầu tư thích hợp
và cơ chế tăng cường liên kết quản lý vùng Đối với các vùng co lợi thế, việc
ưu tiên đầu tư vào cơ sở hạ tầng sẽ nhanh chóng tạo ra một môi trường kinhdoanh hấp dẫn đầu tư Đối với các vung khó khăn, việc đầu tư vào cơ sở hạtầng sẽ rất tốn kém vì vốn đầu tư rất lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, do đó hiệuquả đầu tư thường không cao
Trong những năm qua một số chính sách liên quan đến phát triển vùng đãđược ban hành dưới nhiều hình thức Thủ tướngChính Phủ đã phê duyệt kếhoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội các vùng
Đối với các vùng khó khăn, Nhà Nước đã có những luật và chính sách khuyếnkhích nhằm huy động nhiều nguồn vốn đầu tư khác nhau như luật đầu tư nướcngoài, chương trình 135…)
b)Tình hình trong thời gian vừa qua
Như vậy đầu tư nước ngoài vào các vùng kinh tế trọng điểm chiếm tỉ trọnglớn, các dự án có quy mô lớn và quan trọng hầu hết tập trung vào các vùngkinh tế trọng diểm Nam Bộ và Bắc Bộ, nơi có cơ sở hạ tầng tương đối hoànchỉnh, sức tiêu thụ lớn, điều kiện phát triển kinh tế hoàn chỉnh, sức tiêu thụlớn, điều kiện phát triển kinh tế thuận lợi hơn cả Vốn đầu tư còn hiệulực của
ba vùng kinh tế trọng điểm hiẹn chiếm 83.9% vốn còn hiệu lực của cả nước.Trong đó cùng kinh tế trọng điểm Nam ớoj chiếm trên 47% so với cả nước,riêng vùng núi phía Bắc và Tây Bắc tỉ lệ thu hút vốn ĐTTTNN còn quá ít ỏiNgòai ra, cơ cấu vốn đầu tư theo ngành cho thấy tình hình đầu tư nước ngoàivào các vùng kinh tế có sự khác biệt nhau rõ rệt
Các vùng kinh tế trọng điểm vốn đầu tư phân bổ không cần tập trung mà dàntrải vào nhiều ngành nghề khác nhau trong khi đó các vùng đầu tư kinh tếkhác vốn đầu tư tập trung hơn cho một số ngành nghề chủ yếu chiếm gần100% tổng số vốn của cùng Tuy nhiên sự tập trung đó cũng chưa thật hợp lývới điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của vùng, trừ Tây Nguyên đã tập trung54,6% số vốn đầu tư vào thế mạnh của vùng là nông –lâm nghiệp Vùng đồngbằng song Cửu Long lại quá chú trọng vào ngành xây dựng chiếm gần 60%tổng số vốn đầu tư Trong khi nông nghiệp là thế mạnh của vùng chỉ chiếm10%
Trang 14Về quy mô vốn bình quân/ tỉnh và vốn thực hiện cũng cho thấy vốn đầu tưnước ngoài chủ yêu tập trung vào các tỉnh Nam bộ và Bắc Bộ
Các khu công nghiệp, các khu chế xuất cũng tập trung chủ yếu ở ba vùng kinh
tế trọng điểm Vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ 33 khu với tổng diện tích7.110 ha; Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 10 khu với tổng diện tich 1.307 ha;Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ 8 khu với tổng diện tích 14.682 ha
c) Đánh giá tình hình đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài vào các vùng kinh tế có sự chênh lệch khá lớn Ở các vùngkinh tế trọng điểm mặc dù không được ưu đãi về tiền thuê đất, tiền thuê nhưnglại có điều kiện thuận lợi về thị trường tiêu thụ sản phẩm, lao động và cơ sỏ hạtầng… nên các dự án đầu tư vào các vùng này vẫn có lợi hơn nhiều so với cácvung kinh tế khó khăn do hoạt động có hiệu quả hơn nên thu hồi vốn nhanhhơn Tuy nhiên vùng trọng điểm Trung Bộ chưa tạo được môi trường đầu tưthuận lợi nên khó thu hút được đầu tư
+ Các vùng chưa phát huy được thế mạnh của mình trong thu hút đầu tư nướcngoài Vùng kinh tế trọng điểm Bắc và Nam đều có cơ sở hạ tầng thuận lưọinhưng đầu tư nước ngoài vào vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ chỉ bằng 55%
về vốn và 37% số dự án so với vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ
+ Vùng núi Bắc Bộ có 12 tỉnh chỉ thu hút được 264 triệu USD vốn đầu tưnước ngoài trong khi Tây Nguyên chỉ có 3 tỉnh lại thu hút được 898 triệu USDvốn, gấp 3,4 lần
Trong nội bộ từng vùng có sự khác biệt đáng kể Chẳng hạn vùng núi Bắc BộPhú Thọ có 6 dự án còn hiệu lực với vốn đăng kí 119 triệu USD trong khi HàGiang chỉ có một dự án vốn đăng kí 0,5 triệu USD; Cao Bằng, Bắc Cạn không
có dự án nào
+ Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Trong khi Hà Nội hiện có 354 dự án với8.102 triệu USD thì ở Hưng Yên cách Hà Nội không xa khoang trên dưới 20
km đường quốc lộ chỉ có 9 dự án với số vốn 75 triệu USD
+ Vùng kinh tế trọng diểm Nam Bộ: Nếu như TP Hồ Chí Minh có 815 dự ánvới 9.763 triệu USD thì Bà Rịa-Vũng Tàu chỉ có 60 dự án1.100 triệu USD.Như vậu mặc dù nằm trong một cùng kinh tế với những điều kiện kinh tế xãhội gần giống nhau nhưng thu hút đầu tư nước ngoài rất khác nhau
Cơ cấu đầu tư theo ngành còn nhiều bất cập vì nhà đầu tư nước ngoài chỉ tậptrung đầu tư ngắn hạn vào những ngành có thể mang lai lợi nguận nhiều vànhanh mà ít chú ý khai thác đúng tiềm năng của mỗi địa phương
Các khu công nghiệp có 60/67 khu công gnhiệp đầu tư cơ sở hạ tầng nhưngmới thực hiện dược khoảng30% vốn đăng kí hoặc dự án đầu tư được duyệt
Số lượng các khu chế xuất-khu công nghiệp đã hoàn thành hoặc cơ bản hoànthành cơ sở cơ sở hạ tầng còn quá ít ỏi Đầu tư như vậy nên khai thác gặp khókhăn Tính đến cuối năm 2000 mới chỉ cho thuê được 2600 ha và chủ yếu là ở