Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 của thế kỉ 20 bởi Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh "ghi lại bài giảng" mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh.. Khá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
LÝ LUẬN & PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA K23
GVHD: PGS.TS Đặng Thị Oanh HVTH: Trần Thị Thu Yên
Chuyên đề: Các phương pháp dạy học hiện đại
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG
SƠ ĐỒ TƯ DUY & GRAP TRONG DẠY HỌC
Trang 2SƠ ĐỒ TƯ DUY
GRAP
Trang 4Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20) bởi Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh "ghi lại bài giảng" mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn.
Lịch sử phát triển của Sơ đồ tư duy
Đến giữa thập niên 70, Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã truyền bá kĩ xảo về giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện giáo dục
Trang 51 Khái niệm
Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng
và đào sâu các ý tưởng
Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ
tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà các ý tưởng thông thường không thể làm được
Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh,…gây ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa (hệ thống cổ áo) của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lí, rút ra kết luận hoặc xây dựng
mô hình về đối tượng cần nghiên cứu
Trang 62 Mục tiêu
- Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy
- Đây là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não
- Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó: “Sắp xếp” ý nghĩ
Trang 7Tác dụng
Cơ sở
sinh lý
thần kinh
Cơ sở tâm lý học
3 Tác dụng
Trang 8- Não trái đóng vai trò thu thập số liệu; còn não phải đóng vai trò xây dựng sơ
đồ thí nghiệm, bố trí các dụng cụ đo, thu thập hình ảnh về đối tượng cần nghiên cứu
- Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh, kết quả bất ngờ của thí nghiệm,…gây
ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa (hệ thống cổ áo) của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích,
xử lí, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu
Cơ sở sinh lý thần kinh
Trang 9Mô phỏng chức năng của não với các công cụ sử dụng trong sơ đồ tư duy
Trang 10- Tìm hiểu những gì ta biết, giúp xác định những khái niệm chốt, thể hiện mối liên hệ giữa các ý tưởng và lập nên một mẫu có nghĩa từ những gì ta biết và hiểu, do
Cơ sở tâm lý học
Trang 11So với các cách thức ghi chép truyền thống thì phương pháp giản đồ ý có những điểm vượt trội như sau:
• Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng
• Quan hệ tương hỗ giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính.
• Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác.
• Ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn.
• Thêm thông tin (ý) dễ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào giản đồ.
• Mỗi giản đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ
• Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bất chấp thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một
cách nhanh chóng và linh hoạt cho việc ghi nhớ.
• Có thể tận dụng hỗ trợ của các phần mềm trên máy tính
Trang 125 Cách tiến hành:
- Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa
thể hiện một ý tưởng hay khái niệm chủ đạo
- Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính và thường tô đậm nét
- Từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các hình ảnh hay từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Trên các nhánh, ta có thể thêm các hình ảnh hay các kí hiệu cần thiết
- Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này
sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm
một cách đầy đủ và rõ ràng
Trang 13HCTCT: Cl2
C hình e:2s22ps5
Tính khửTính Oxh
khí màu vàng
TCVL
Trang 14Sơ đồ tư duy theo đề cương (Toàn bộ nội dung chính của 6 chương trong SGK lớp 10
ban Nâng Cao)
Trang 15SĐTD theo chương Chương I: NGUYÊN TỬ
Trang 16SĐTD theo chương Chương VI: Nhóm Oxi
Trang 17SĐTD theo ý chính bài
“Khái quát nhóm Oxi”
Trang 19SĐTD bài Oxi
Trang 20Lớp 11: SĐTD bài Anken
Trang 21SĐTD bài Benzen- ankylbenzen
Trang 22SĐTD bài dẫn xuất Halogen
Trang 23Lớp 12:SĐTD bài Este
Trang 24SĐTD bài Lipit
Trang 25SĐTD tính chất vật lí của chất hữu cơ
Trang 26SĐTD cách viết đồng phân các chất hữu cơ
Trang 27SĐTD nhận biết vô cơ
Trang 28SĐTD vẽ tay phần điện phân dung dịch
Trang 29SĐTD vẽ tay bài anken
Trang 30Phiếu học tập theo pp SĐTD bài Clo
Trang 32Đầu thế kỷ XVIII, nhà toán học người Thụy Sỹ Leonhard Euler đề xuất những tư tưởng cơ bản của lý thuyết grap Ông sử dụng grap để giải bài toán nổi tiếng “ bảy cây cầu ở Konigsburg”
Những năm cuối thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của toán, những nghiên cứu về vận dụng lý thuyết grap có những bước tiến nhảy vọt
a Trên thế giới
Lịch sử phát triển của Grap
- Từ năm 1971, giáo sư Nguyễn Ngọc Quang là người đầu tiên nghiên cứu chuyển hoá graph toán học thành graph dạy học Ông đã nghiên cứu những ứng dụng cơ bản của lý thuyết graph trong khoa học giáo dục, đặc biệt trong giảng dạy hoá học
- Sau đó cũng đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu trong lĩnh vực này
b Ở Việt Nam
Trang 331 Khái niệm
Grap nội dung dạy học là sơ đồ phản ánh trực quan tập hợp những kiến thức chốt cơ bản (cần và đủ) của một nội dung dạy học và cả logic phát triển bên trong nó
Trang 34- Tính khái quát: Khi nhìn vào Grap ta sẽ thấy được tổng thể kiến thức, logic phát triển của vấn đề và các mối liên hệ giữa chúng.
- Tính trực quan: Thể hiện ở việc sắp xếp các đường liên hệ rõ, đẹp, bố trí hình khối cân
đối, có thể dùng kí hiệu, màu sắc, đường nét đậm nhạt để nhấn mạnh những nội dung quan trọng
- Tính hệ thống: Dùng Grap có thể thể hiện được trình tự kiến thức của chương, logic phát triển của kiến thức và tổng kết được các kiến thức chốt và những kiến thức có liên quan
- Tính súc tích: Grap cho phép dùng các kí hiệu, qui ước viết tắt ở các đỉnh nên đã nêu lên
được những dấu hiệu bản chất nhất của các kiến thức
- Về tâm lí lĩnh hội: Học sinh dễ dàng hiểu được các kiến thức chủ yếu, quan trọng ở các đỉnh của Grap và cả logic phát triển của cả một hệ thống kiến thức
2 Tính năng của phương pháp Grap
Trang 35Các bước lập grap nội dung
- Xác định đỉnh của grap, tìm kiến thức chốt của bài lên lớp.
- Mã hoá kiến thức chốt
- Xếp đỉnh
- Lập cung, tức là xác định mối liên hệ giữa các đỉnh
Các bước lập grap bài lên lớp ( grap giáo án)
- Nêu mục đích của bài lên lớp
- Nêu hệ thống câu hỏi tương ứng với các đỉnh của grap
- Chọn phương pháp dạy học và phương tiện dạy học cụ thể cho mỗi đỉnh và toàn bài.
- Kiểm tra lại toàn bộ grap của bài lên lớp vừa mới xây dựng
để chỉnh lý cho hoàn thiện.
3 Các bước lập Grap
Trang 36Benzen
và đồng đẳng
Trang 371 Dựa vào tỷ khối hơi
2 Dựa vào khối lượng riêng của chất khí
M = D.22,4
3 Hai khí A,B có cùng v (cùng điều kiện t0,p)
VA = VB nA = nB
Công thức phân tử Grap cho bài tìm CTPT cho HC hữu cơ dựa vào % Kl nguyên tố có trong hợp chất
Trang 38Viết pt
Lập tỷ lệĐặt số mol
Giải x, y, t
Dựa vào M, giải z
Trang 39Muối nhôm AlCl3 ,Al(NO3)3 AlPO4,Al2O3
Muối nhôm Aluminat NaAlO2, KAlO2,Ca(AlO2)2
Grap cho bài Nhôm
Trang 40Cám ơn cô và các anh chị đã
theo dõi
Trang 41SĐTD cũng có những nét tương đồng với Grap dạy học và bản đồ khái niệm ở tính khái quát, tính trực quan, tính hệ thống, tính súc tích, tâm lí của sự lĩnh hội…
Nhưng bên cạnh đó còn có rất nhiều ưu điểm vượt trội là sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng, có hình ảnh để hình dung đến kiến thức, sử dụng nhiều màu sắc để làm nổi bật thông tin, sử dụng nhiều từ khóa để cô đọng kiến thức Đa số các giáo viên khi áp dụng phương pháp Grap chưa phát huy tối đa sức mạnh của màu sắc, chưa tận dụng tối đa các từ khóa, thường Grap được đóng khung theo mỗi đỉnh, và trong khung đó có thể là tổng thể nhiều kiến thức được sắp xếp theo kiểu liệt kê, làm giảm khả năng kết nối thông tin Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh trong SĐTD đã đem lại một công dụng trong việc tăng cường kết hợp giữa trí tuệ và tính sáng tạo Việc nối các nhánh chính tới hình ảnh trung tâm và nối các nhánh cấp 2, cấp 3 với nhánh cấp 1, cấp 2 Khi đó, HS sẽ hiểu và ghi nhớ dễ dàng hơn rất nhiều.