Hiểu một cách tổng quát thì “Kế hoạch hóa là một phương thức quản lý theo mục tiêu, nó là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật xã hội và tự nhiên, đặc bi
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tên em là : Bùi Thị Quỳnh Hoa
Sinh viên lớp : Kinh tế Kế hoạch 50B
Em xin cam đoan nội dung đề tài dưới đây là những nghiên cứu của riêng
em, dựa trên những hướng dẫn của giáo viên và cán bộ hướng dẫn tại cơ sở thựctập Những số liệu, dẫn chứng, hình vẽ, bảng biểu… là hoàn toàn trung thực và cónguồn gốc rõ ràng
Hà nội, ngày 10 tháng 05 năm 2012.
Sinh viên
Bùi Thị Quỳnh Hoa
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ công nhân viên của Chi nhánhTổng Công ty Xây dựng Công Trình Giao thông 4, đặc biệt là các nhân viên phòngKinh doanh - kế hoạch Chi nhánh Tổng công ty đã giúp đỡ em trong quá trình thựctập Em cũng xin gửi lời cảm ơn của mình đến toàn bộ cán bộ giáo viên trongTrường Đại học Kinh tế Quốc dân đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tạitrường Và đặc biệt cảm ơn những thầy cô trong khoa Kế hoạch & Phát triển đãgiúp em có những kiến thức vững chắc để em hoàn thành được đề tài này Cuối cùng,
em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thạc sỹ Lê Huỳnh Mai, đã hướng dẫn và chỉbảo em tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Bùi Thị Quỳnh Hoa
Trang 3MỤC LỤC
2.1.3.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Chi nhánh trong giai đoạn 2007-
2011 39
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch 69
3.2.1.2 Chú trọng công tác hoạch định các mục tiêu chiến lược của Công ty 72
3.2.1.3 Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường và dự báo 76
a) Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường 76
a) Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường 76
b) Đẩy mạnh công tác dự báo 78
b) Đẩy mạnh công tác dự báo 78
3.2.1.4 Hoàn thiện hệ thống kế hoạch tác nghiệp 81
3.2.1.5 Củng cố Phòng Kinh doanh - Kế hoạch tổng hợp và tăng cường sự phối hợp hoạt động trong công tác kế hoạch 82
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện kế hoạch 84
3.2.2.1 Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện kế hoạch 84
3.2.2.2 Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với Chi nhánh 85
3.2.2.3 Đưa ra các quyết định điều chỉnh kế hoạch cần thiết và kịp thời 86
3.2.2.4 Bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ làm công tác kế hoạch 87
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CIENCO 4 : Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
2.1.3.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Chi nhánh trong giai đoạn 2007-
2011 39
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch 69
3.2.1.2 Chú trọng công tác hoạch định các mục tiêu chiến lược của Công ty 72
3.2.1.3 Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường và dự báo 76
a) Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường 76
a) Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường 76
a) Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường 76
b) Đẩy mạnh công tác dự báo 78
b) Đẩy mạnh công tác dự báo 78
b) Đẩy mạnh công tác dự báo 78
3.2.1.4 Hoàn thiện hệ thống kế hoạch tác nghiệp 81
3.2.1.5 Củng cố Phòng Kinh doanh - Kế hoạch tổng hợp và tăng cường sự phối hợp hoạt động trong công tác kế hoạch 82
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện kế hoạch 84
3.2.2.1 Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện kế hoạch 84
3.2.2.2 Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với Chi nhánh 85
3.2.2.3 Đưa ra các quyết định điều chỉnh kế hoạch cần thiết và kịp thời 86
3.2.2.4 Bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ làm công tác kế hoạch 87
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay và thực hiện nền kinh tế mở, cụ thể là Đại hội Đảng VI là cái mốc đánh dấu sự đổi mới nền kinh tế Việt Nam Sự chuyển mình sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi Công ty phải tạo ra được lợi thế cạnh tranh Hoạt động lập kế hoạch trong doanh nghiệp tuy chỉ là một mắt xích trong hệ thống kế hoạch hoá doanh nghiệp, nhưng hoạt động này chi phối những hoạt động khác, quyết định đến chất lượng hoạt động của doanh nghiệp Đối với các Công ty Xây dựng việc lập kế hoạch hàng năm mang một ý nghĩa rất quan trọng Đó là một công cụ không thể thiếu để vận hành và phát triển doanh nghiệp Hơn thế nữa lập kế hoạch là một vấn đề cơ bản nhất trong các chức năng quản lý bởi vì có gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai Chẳng những lập kế hoạch năm là chức năng cơ bản của tất cả các nhà quản lý ở mọi cấp trong một tổ chức mà ba chức năng còn lại của nhà quản lý cũng phải dựa trên đó
Trải qua gần 15 năm xây dựng và trưởng thành, Chi nhánh Tổng công ty Xây
Trang 6dựng công trình giao thông 4 tại Hà Nội tự hào đi cùng với với truyền thống đơn vịAnh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước củaTổng Công ty Xây dựng Công trình Giao Thông 4 Để có thể đứng vững và pháttriển được trong cơ chế cạnh tranh thị trường với các thách thức và cơ hội do tiếntrình hội nhập mang đến, trong những năm qua ban lãnh đạo Chi nhánh Tổng Công
ty Xây dựng Công trình Giao thông 4 tại Hà Nội đã chú trọng đến công tác xâydựng cũng như thực hiện kế hoạch năm phù hợp với đặc điểm Chi nhánh Do vậy,Chi nhánh đã đạt được những thành tựu đáng kể Tuy nhiên bên cạnh đó, Chi nhánhcòn nhiều bất cập trong công tác lập kế hoạch năm nên hiệu quả của công tác lập kế
hoạch năm còn nhiều hạn chế Đây chính là lý do em chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác lập kế hoạch năm của Chi nhánh Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4 tại Hà Nội”” nhằm đóng góp một vài ý kiến giúp Chi nhánh kinh
doanh đạt kết quả cao
1 Mục đích nghiên cứu của đề tài: trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng công
tác lập kế hoạch tại chi nhánh tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 tại
Hà Nội để đưa ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó từ đóđưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch năm của côngty
2 Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu công tác lập kế hoạch tại chi nhánh tổng
công ty xây dựng công trình giao thông 4 tại Hà Nội
3 Phạm vi nghiên cứu: thời gian khảo sát từ năm 2007 trở lại đây
4 Phương pháp nghiên cứu:
• Phương pháp điều tra
• Phương pháp tư vấn
• Phương pháp thống kê và so sánh
Chương I: Lý thuyết chung về lập kế hoạch của doanh nghiệp Chương II: Thực trạng công tác lập kế hoạch của Chi nhánh
Trang 7Tổng Công ty Xây dựng Công trình giao thông 4 tại Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế
hoạch của Chi nhánh Tổng Công ty Xây dựng Công trình giao thông
4 tại Hà Nội
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, do còn hạn chế về mặt nhậnthức cũng như thời gian và thông tin nên đề tài của em không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót vì vậy em rất mong nhận được sự sửa chữa, đóng góp của thầy cô giáo để
đề tài của em được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, một lần nữa em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Lê Huỳnh Maicùng các cán bộ công nhân viên của Chi nhánh Tổng Công ty Xây dựng Công trìnhGiao thông 4 tại Hà Nội đã giúp đỡ em rất nhiệt tình để em có thể hoàn thành luậnvăn tốt nghiệp này
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Kế hoạch hóa và vai trò của công tác kế hoạch hoá trong các doanh nghiệp
1.1.1 Kế hoạch hoá và công tác kế hoạch hoá
1.1.1.1 Kế hoạch hoá
Kế hoạch hóa từ lâu đã được coi như một công cụ để thiết lập cũng như thực
hiện các kế hoạch chiến lược Hiểu một cách tổng quát thì “Kế hoạch hóa là một phương thức quản lý theo mục tiêu, nó là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật xã hội và tự nhiên, đặc biệt là các quy luật kinh tế để
tổ chức quản lý các đơn vị kinh tế- kỹ thuật, các ngành, các lĩnh vực hoặc toàn bộ nền sản xuất xã hội theo những mục tiêu thống nhất”.
Theo cách hiểu trên, Kế hoạch hóa được thực hiện ở nhiều quy mô và phạm
vi khác nhau như: Kế hoạch hóa kinh tế quốc dân, kế hoạch hóa theo vùng, địa
Trang 8phương, Kế hoạch hóa ngành, lĩnh vực, Kế hoạch hóa doanh nghiệp Như vậy, cóthể thấy kế hoạch hóa doanh nghiệp là một bộ phận của hệ thống kế hoạch hóa.
1.1.1.2 Khái niệm Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
Kế hoạch hóa hoạt động sản xuất kinh doanh (gọi tắt là kế hoạch hóa doanh nghiệp) là phương thức quản lý doanh nghiệp theo mục tiêu, nó bao gồm toàn bộ các hành vi can thiệp một cách có chủ định của các nhà lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của đơn vị nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra Hay nói cách khác Kế hoạch hóa doanh nghiệp là một quy trình ra
quyết định cho phép xây dựng một hình ảnh mong muốn về trạng thái tương lai củadoanh nghiệp và quá trình tổ chức triển khai thực hiện mong muốn đó Như vậy, Kếhoạch hóa doanh nghiệp là thể hiện kỹ năng tiên đoán mục tiêu phát triển và tổ chứcquá trình thực hiện mục tiêu đề ra
Công tác Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp bao gồm các hoạt động:
• Soạn lập kế hoạch
• Triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch
• Tổ chức công tác theo dõi, giám sát thực hiện kế hoạch
• Điều chỉnh và đánh giá kế hoạch
1.1.2 Hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp.
Đứng trên mỗi góc độ khác nhau, hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp đượcphân chia thành những bộ phận khác nhau, theo những tiêu thức khác nhau
1.1.2.1 Theo góc độ thời gian
Đây là thể hiện việc phân đoạn kế hoạch theo thời gian cần thiết để thực hiệnchỉ tiêu đặt ra Theo góc độ này, kế hoạch doanh nghiệp bao gồm ba bộ phận cấuthành:
- Kế hoạch dài hạn: bao trùm lên khoảng thời gian dài khoảng 10 năm Quátrình soạn lập kế hoạch dài hạn được đặc trưng bởi: thứ nhất là môi trường liên quanđược hạn chế bởi thị trường mà doanh nghiệp đã có mặt; thứ hai là dự báo trên cơ
sở ngoại suy từ quá khứ, bao gồm xu hướng dự tính của nhu cầu, giá cả và hành vicạnh tranh; thứ ba là chủ yếu nhấn mạnh các ràng buộc về tài chính; thứ tư là sửdụng rộng rãi các phương pháp kinh tế lượng để dự báo Kế hoạch dài hạn không
Trang 9đồng nghĩa với kế hoạch chiến lược vì kế hoạch chiến lược bao trùm nội dung kháckhông phải chỉ đứng trên góc độ thời gian.
- Kế hoạch trung hạn cụ thể hóa những định hướng của kế hoạch dài hạn racác khoảng thời gian ngắn hơn, thường là 3 hoặc 5 năm
- Kế hoạch ngắn hạn: thường là các kế hoạch hàng năm và các kế hoạch tiến
độ, hành động có thời hạn dưới một năm như: kế hoạch quý, tháng… Kế hoạchngắn hạn bao gồm các phương pháp cụ thể sử dụng nguồn lực của các doanh nghiệpcần thiết để đạt được mục tiêu trong kế hoạch trung và dài hạn
Tuy nhiên, việc phân chia thời hạn của các kế hoạch chỉ mang tính tươngđối, nhất là đối với những điều kiện thị trường hiện nay thay đổi với tốc độ nhanhhơn nhiều so với cách đây vài thập kỷ Do vậy, trong những lĩnh vực mà điều kiệnthị trường biến động nhiều (chu kỳ thay đổi công nghệ ngày càng nhanh, vòng đờisản phẩm ngày càng ngắn…) thì những kế hoạch từ 3 đến 5 năm cũng có thể coi làrất dài hạn
Ba loại kế hoạch ngắn, trung và dài hạn cần phải được liên kết chặt chẽ vớinhau và không được phủ nhận lẫn nhau Cần thiết phải nhấn mạnh đến tầm quantrọng của việc giải quyết mối quan hệ giữa các loại kế hoạch theo thời gian vì trênthực tế, đã nảy sinh nhiều lãng phí từ các quyết định theo những tình huống trướcmắt mà không đánh giá được ảnh hưởng của các quyết định này đối với các mụctiêu dài hạn hơn Nhiều kế hoạch ngắn hạn đã không những không đóng góp gì chomột kế hoạch dài hạn mà còn gây nhiều trở ngại, hay có những đòi hỏi nhiều đốivới các kế hoạch dài hạn
Để thực hiện được mối quan hệ giữa kế hoạch dài hạn, trung và ngắn hạn,các nhà lãnh đạo chủ chốt các doanh nghiệp nên thường xuyên xem xét và sửa đổicác quyết định trước mắt xem chúng có phục vụ các chương trình dài hạn haykhông và các nhà quản lý cấp dưới nên được thông báo một cách thường xuyên về
kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp sao cho các quyết định của họ phù hợp với cácmục tiêu dài hạn của doanh nghiệp
1.1.2.2 Đứng trên góc độ nội dung, tính chất hay cấp độ của kế hoạch:
Chúng ta có thể chia hệ thống kế hoạch doanh nghiệp làm hai bộ phận: kế
Trang 10hoạch chiến lược và kế hoạch chiến thuật (tác nghiệp).
- Kế hoạch chiến lược:
Khái niệm chiến lược xuất phát từ tiếng Hy Lạp và xuất hiện đầu tiên tronglĩnh vực quân sự Chiến lược có nghĩa là “nghệ thuật của tướng lĩnh” để tìm ra conđường đúng đắn nhất giành chiến thắng Lập kế hoạch chiến lược cho doanh nghiệpphổ biến vào những năm 1960 đối với các doanh nghiệp lớn khi mà hoạt động củachúng trở nên phức tạp hơn, đồng thời cạnh tranh gay gắt hơn, đa dạng hơn trongkhi các tiến bộ về khoa học công nghệ trở nên tăng tốc hơn khiến cho các doanhnghiệp khó khăn trong việc lựa chọn mục tiêu công nghệ và sản phẩm mới, thâmnhập thị trường, lựa chọn các phương thức phát triển…
Kế hoạch chiến lược áp dụng trong các doanh nghiệp là định hướng lớn chophép doanh nghiệp thay đổi, cải thiện, củng cố vị thế cạnh tranh của mình và nhữngphương pháp cơ bản để đạt được mục tiêu đó Soạn lập kế hoạch chiến lược khôngphải từ những kỳ vọng mà doanh nghiệp muốn đạt tới mà là xuất phát từ khả năngthực tế của doanh nghiệp và như vậy nó thể hiện sự phản ứng của doanh nghiệp đốivới hoàn cảnh khách quan bên trong và bên ngoài của hoạt động doanh nghiệp
Thường thì kế hoạch chiến lược được soạn thảo cho thời gian dài, tuy vậy nókhông đồng nghĩa với kế hoạch dài hạn Nhiều doanh nghiệp đã dựa vào những kếhoạch chiến lược ngắn hạn Nói đến kế hoạch chiến lược không phải là nói đến góc
độ thời gian của chiến lược mà nói đến tính chất định hướng của kế hoạch và baogồm toàn bộ mục tiêu tổng thể phát triển doanh nghiệp Trách nhiệm soạn thảo kếhoạch chiến lược trước hết là của nhà lãnh đạo doanh nghiệp, vì kế hoạch chiếnlược đòi hỏi trách nhiệm rất cao, quy mô hoạt động rộng lớn của các nhà quản lý
- Kế hoạch chiến thuật (tác nghiệp)
Là công cụ cho phép chuyển các định hướng chiến lược thành các chươngtrình áp dụng cho các bộ phận của doanh nghiệp trong khuôn khổ các hoạt động củadoanh nghiệp, nhằm thực hiện được các mục tiêu của kế hoạch chiến lược Kếhoạch tác nghiệp được thể hiện cụ thể ở những bộ phận kế hoạch riêng biệt trongtổng thể hoạt động kinh doanh như: kế hoạch sản xuất, kế hoạch marketing, kếhoạch tài chính, nhân sự của doanh nghiệp
Trang 11Kế hoạch chiến lược tập trung vào các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đếntương lai của doanh nghiệp, trong khi đó kế hoạch tác nghiệp liên quan đến tất cảcác lĩnh vực và tất cả các bộ phận của doanh nghiệp, quy trình kế hoạch hóa chiếnlược đòi hỏi chủ yếu là sự tham gia của các nhà lãnh đạo trong khi kế hoạch hóa tácnghiệp huy động tất cả các cán bộ phụ trách bộ phận.
1.1.3 Nội dung của công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp
Có nhiều cách tiếp cận về quy trình kế hoạch hóa trong doanh nghiệp, songnói một cách chung nhất, quy trình kế hoạch hóa bao gồm các bước tuần tự, chophép vạch ra các mục tiêu tại những thời điểm khác nhau trong tương lai, dự tínhcác phương tiện cần thiết và tổ chức triển khai sử dụng các phương tiện nhằm đạtcác mục tiêu Một trong những quy trình được áp dụng rộng rãi tại các doanhnghiệp ở các nước kinh tế thị trường phát triển, và đặc biệt được ưa chuộng tại NhậtBản, có tên là quy trình PDCA (Plan, Do, Check, Act) Các hoạt động liên quan đến
kế hoạch hóa doanh nghiệp (theo quy trình này) được chia làm một số giai đoạn cơbản thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.1 Quy trình kế hoạch hóa PDCA
Đánh giá và phân tích
quá trình thực hiện
Tổ chức thực hiện quy trình đã dự định
Trang 12doanh nghiệp, nó xác định các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch và đề xuất các chínhsách, giải pháp áp dụng Kết quả của việc soạn lập kế hoạch là một bản kế hoạch,
nó chính là cơ sở cho việc thực hiên công tác tiếp theo của Kế hoạch hóa Trong nềnkinh tế thị trường, việc dự đoán thị trường là rất khó khăn, trong khi việc xây dựng
kế hoạch cần dựa trên những giả thiết xảy ra trong tương lai Do đó, việc xây dựngnhiều kịch bản khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp có ngay những phương án kinhdoanh khi thị trường có sự thay đổi
Trang 13Hình 1.2: Quy trình với các bước lập kế hoạch
Bước 1: Phân tích môi trường và thiết lập nhiệm vụ, mục tiêu của doanh nghiệp trong thời kỳ kế hoạch:
Thông qua việc phân tích các yếu tố của môi trường bên trong và bên ngoài,doanh nghiệp nhận thức được các cơ hội và thách thức của mình, từ đó có thể đánhgiá được các mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự phát triển của doanh nghiệptrong tương lai, giúp cho doanh nghiệp có cái nhìn toàn cảnh về chỗ đứng của mình
và những đối thủ cạnh tranh mà doanh nghiệp phải đối mặt Trên cơ sở đó, doanhnghiệp xây dựng các mục tiêu phát triển trong giai đoạn tới
Trên cơ sở phân tích môi trường, doanh nghiệp đề ra các nhiệm vụ, mục tiêuxác định kết quả cần thu được, các công việc cần ưu tiên Trong suốt quá trình đócần có sự phối hợp giữa các nguồn lực bên trong và bên ngoài để hoàn thành tốt cácmục tiêu, nhiệm vụ đặt ra
Bước 2: Lập kế hoạch chiến lược.
Kế hoạch chiến lược xác định các mục tiêu lâu dài, chính sách để thực hiệnmục tiêu.Việc lựa chọn phương án cho kế hoạch chiến lược là khâu mang tính quyếtđịnh đến việc cho ra đời bản kế hoạch chiến lược Để lựa chọn một trong số cácphương án kế hoạch chiến lược phụ thuộc vào việc doanh nghiệp ưu tiên cho mục
Chương trình và
dự án
Kế hoạch tác nghiệp và ngân sách
Đánh giá
và hiệu chỉnh các pha của
kế hoạch
Trang 14tiêu phát triển là gì Có phương án mang lại lợi nhuận cao song lại cần vốn đầu tưlớn và thời gian thu hồi vốn chậm Có phương án lợi nhuận ít hơn nhưng cũng ít rủi
ro hơn… Do đó, các mục tiêu của kế hoạch chiến lược không chỉ thể hiện mongmuốn chủ quan của người lãnh đạo mà phải được kết hợp với những phân tích vềmôi trường cũng như các yếu tố nội bộ doanh nghiệp
Bước 3: Xác định các chương trình, dự án.
Kế hoạch chiến lược được phân chia thành các chương trình và dự án Đểhướng vào một trong các mặt hoạt động quan trọng của doanh nghiệp, doanh nghiệpthường lên một chương trình lớn hoặc một chương trình bộ phận, trong đó xác địnhcác mục tiêu, nhiệm vụ, các bước tiến hành, các nguồn lực cần thiết để tiến hànhchương trình hành động cho trước Còn dự án thường đi sâu vào định hướng đếnmột mặt hoạt động chi tiết hơn chương trình
Bước 4: Soạn lập hệ thống các kế hoạch chức năng và ngân sách
Để thực hiện các mục tiêu chiến lược đã chọn, doanh nghiệp cần xây dựngcho mình các kế hoạch cụ thể như kế hoạch sản xuất sản phẩm, kế hoạch nhân sự,
kế hoạch tài chính, kế hoạch marketing Hệ thống các kế hoạch tác nghiệp đó lànhững kế hoạch giúp chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược cũng như các chương trình, dự án
đã đề ra
Bước 5: Đánh giá hiệu chỉnh các pha của kế hoạch.
Đây là bước thẩm định cuối cùng trước khi cho ra một văn bản kế hoạch Bộphận lãnh đạo doanh nghiệp cùng với đội ngũ cán bộ làm kế hoạch kiểm tra lại cácmục tiêu, chỉ tiêu, các kế hoạch chức năng và kế hoạch ngân sách, từ đó tiến hànhcác phê chuẩn cần thiết để chuẩn bị chuyển giao nội dung kế hoạch cho các cấpthực hiện
1.1.3.2 Các hoạt động triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch
Kết quả hoạt động của quá trình này được thể hiện bằng những chỉ tiêu thực
tế của hoạt động doanh nghiệp Đây là khâu mang tính quyết định đến việc thựchiện những chỉ tiêu đặt ra trong các kế hoạch Nội dung của quá trình này bao gồmviệc thiết lập và tổ chức các yếu tố nguồn lực cần thiết, sử dụng các chính sách, các
Trang 15biện pháp cũng như các đòn bẩy quan trọng tác động trực tiếp đến các cấp thực hiệnnhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm bảo đảm các yêu cầu tiến
độ đặt ra trong các kế hoạch tác nghiệp cụ thể kể cả về thời gian, quy mô và chấtlượng công việc
1.1.3.3 Tổ chức công tác theo dõi, giám sát thực hiện kế hoạch.
Nhiệm vụ của quá trình này là thúc đẩy thực hiện các mục tiêu đặt ra và theodõi, phát hiện những phát sinh không phù hợp với mục tiêu Khi phát hiện nhữngphát sinh không phù hợp, điều quan trọng là cần phải tìm được các nguyên nhândẫn đến vấn đề đó Những nguyên nhân này có thể thuộc về các cấp thực hiện kếhoạch, ý thức chủ quan của các nhà lãnh đạo, quản lý hay là những phát sinh độtxuất nảy sinh trong quá trình triển khai kế hoạch
1.1.3.4 Điều chỉnh thực hiện kế hoạch
Từ những phân tích về hiện tượng không phù hợp với mục tiêu, các nhà kếhoạch đưa ra các quyết định điều chỉnh cần thiết và kịp thời Các quyết định điềuchỉnh đó có thể:
Một là thay đổi nội dung của hệ thống tổ chức Với cách điều chỉnh này, hệthống các mục tiêu đặt ra ban đầu trong kế hoạch không bị thay đổi Trên cơ sởphân tích đánh giá các khâu, các bộ phận có liên quan đến hệ thống quản lý và bịquản lý, đối chiếu với mục tiêu, một số bộ phận trong hệ thống tổ chức sẽ được điềuchỉnh, nhằm thực hiện mục tiêu kế hoạch đặt ra Có thể nói, điều chỉnh tổ chức làhình thức điều chỉnh tích cực nhất vì nó không ảnh hưởng đến mục tiêu của doanhnghiệp và những nhu cầu sản phẩm và dịch vụ vẫn được đáp ứng đầy đủ trên thịtrường
Hai là, thực hiện sự thay đổi một số mục tiêu bộ phận trong hệ thống mụctiêu đặt ra ban đầu Hình thức điều chỉnh thứ hai này chỉ nên áp dụng khi không thểthực hiện được sự thay đổi tổ chức hoặc chi phí của quá trình thay đổi tổ chức quálớn, không bảo đảm được yêu cầu hiệu quả kinh tế
Ba là, quyết định chuyển hướng sản xuất kinh doanh trong những điều kiệnbất khả kháng Các hướng chuyển đổi thường là những phương án dự phòng màdoanh nghiệp đã xác định trong quá trình lập kế hoạch
Trang 161.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch
1.1.4.1 Vốn tài chính của doanh nghiệp
Bất kì một doanh nghiệp nào muốn phát triển cũng cần đến vốn Nguồn vốntài chính của doanh nghiệp có vai trò quan trọng không chỉ trong sự phát triểnchung của doanh nghiệp mà còn quan trọng trong công tác kế hoạch hóa sản xuất.Vốn là tiền đề đầu tiên để doanh nghiệp tổ chức sản xuất kinh doanh Vốn tài chínhcủa doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng để xác định và xây dựng kếhoạch sản xuất một cách phù hợp Bên cạnh đó, vốn còn đóng vai trò quan trọngtrong việc hoàn thiện kế hoạch hóa sản xuất Nguồn vốn dồi dào sẽ giúp doanhnghiệp tổ chức thực hiện kế hoạch hóa sản xuất một cách thuận lợi hơn
1.1.4.2 Yếu tố nhân sự
Con người là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế, chính vì thế con người cóảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động có liên quan đến sự phát triển của doanhnghiệp Nhân sự là một trong những yếu tố quan trọng gây ảnh hưởng lớn đến côngtác kế hoạch hóa sản xuất trong doanh nghiệp Nếu đội ngũ nhân sự giỏi, có kinhnghiệm thì công tác kế hoạch hóa sản xuất sẽ thực hiện một cách trôi chảy Đặcbiệt, cán bộ quản lí, cán bộ kế hoạch với trình độ cao, nhiệt huyết, nhân cách tốt thì
kế hoạch hóa sản xuất sẽ phù hợp và thực hiện tốt hơn Bên cạnh đó, công tác kếhoạch hóa sản xuất cần có sự tham gia của tất cả các thành viên trong doanh nghiệpnên càng cần các cán bộ công nhân viên có năng lực cao để đáp ứng yêu cầu củacông tác kế hoạch hóa sản xuất
1.1.4.3Đặc tính của sản phẩm và thị trường
Mỗi một doanh nghiệp có một quy trình sản xuất khác nhau nên sản phẩmcủa mỗi doanh nghiệp có các đặc tính khác nhau, thị trường tiêu thụ khác nhau Bởivậy, việc tìm hiểu về sản phẩm và thị trường cho doanh nghiệp mình có ảnh hưởnglớn đến công tác kế hoạch hóa sản xuất ở chính doanh nghiệp Doanh nghiệp phảitìm hiểu sao cho đúng, sát thực về sản phẩm và thị trường để có kế hoạch sản xuấtsao cho phù hợp, để đáp ứng nhu cầu cao nhất của các khách hàng
1.1.4.4Nguyên vật liệu và nhà cung ứng
Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào quan trọng cho sản xuất, nguyên liệu thừa
Trang 17hay thiếu đều ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp Với mỗi doanhnghiệp, việc tính toán khối lượng nguyên vật liệu cung cấp cho sản xuất là việc hếtsức quan trọng Doanh nghiệp cần có kế hoạch cụ thể, rõ ràng để cung cấp nguyênvật liệu đáp ứng đầy đủ và đúng để sản xuất diễn ra theo đúng kế hoạch Từ đó, cácnhà cung ứng đầu vào cho sản xuất là hết sức quan trọng Như vậy, nguyên vật liệu
và nhà cung ứng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch hóa sản xuất của doanhnghiệp, đặc biệt là kế hoạch dữ trữ và cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất
1.1.4.6 Điều kiện phục vụ công tác lập kế hoạch
Điều kiện phục vụ cho công tác lập kế hoạch có ảnh hưởng lớn đến công tác
kế hoạch hóa sản xuất của doanh nghiệp Điều kiện phục vụ cho việc lập kế hoạch
có tốt thì việc lập kế hoạch mới diễn ra nhanh chóng và đúng với yêu cầu Các điềukiện phục vụ cho công tác lập kế hoạch sản xuất ở doanh nghiệp như: trình độ cán
bộ kế hoạch, điều kiện làm việc, phương pháp, công cụ, thông tin phục vụ cho lập
kế hoạch… Bản kế hoạch hợp lí cần có người cán bộ lập kế hoạch giỏi, có kinhnghiệm, nhiệt huyết với chính sự phát triển doanh nghiệp… Điều kiện làm việcnhư: chỗ làm việc, máy tính, máy in… đầy đủ sẽ giúp thu thập thông tin, số liệuphục vụ cho lập kế hoạch chính xác hơn, nhanh hơn Phương pháp, công cụ, thôngtin phục vụ cho lập kế hoạch ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bản kế hoạch Bởivậy yêu cầu phương pháp, công cụ, thông tin phục vụ cho lập kế hoạch phải chínhxác, phù hợp và kịp thời…
Trang 181.1.4.7 Yếu tố khác
Kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết không tách rờivới các kế hoạch khác như: kế hoạch nhân sự, kế hoạch marketing, kế hoạch tàichính… đặc biệt gắn liền với mục tiêu, chiến lược phát triển chung của doanhnghiệp Chính vì thế mà ngoài những nhân tố chính ở trên kế hoạch hóa còn chịuảnh hưởng của các nhân tố: kế hoạch tài chính, kế hoạch nhân sự, mục tiêu, chiếnlược phát triển chung của doanh nghiệp…
1.2 Chức năng, vai trò và nguyên tắc của kế hoạch hoá trong doanh nghiệp
1.2.1 Chức năng của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp.
Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp với tư cách là công cụ quản lý theo mụctiêu vì vậy nó có vai trò quan trọng trong công tác quản lý vi mô trong doanhnghiệp, nó được thể hiện qua các chức năng sau đây
Thứ nhất, chức năng ra quyết định Kế hoạch hóa cho phép ta xây dựng quy
trình ra quyết định và phối hợp các quyết định Vì trong doanh nghiệp có nhiều bộphận, đơn vị chức năng khác nhau và mỗi bộ phận đơn vị chức năng này có nhữngvai trò khác nhau trong doanh nghiệp Nên nhiều khi các bộ phận này có thể khôngthống nhất với nhau trong quá trình quyết định các hoạt động của doanh nghiệp vìvậy kế hoạch hóa sẽ giúp cho quá trình ra quyết định của các bộ phận sẽ theo mộtquy trình thống nhất để tránh tình trạng xung đột giữa các đơn vị bộ phận Nhưngkhi đã ra được quyết định rồi thì việc phối hợp các quyết định đó lại với nhau cũngkhông phải đơn giản vì vẫn có sự khác biệt giữa các quyết đinh của các bộ phậnchức năng cho nên nó cần có công tác kế hoạch hóa để phối hợp các quyết định đósao cho các hoạt động của doanh nghiệp được vận hành suôn sẻ Đây có thể là mộttrong những điểm mạnh của hệ thống kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
Thứ hai, chức năng giao tiếp Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp có chức
năng giao tiếp vì nó tạo điều kiện cho các nhà lãnh đạo và quản lý của doanh nghiệp
có thể giao tiếp được với nhau, cho phép lãnh đạo các bộ phận có thể phối hợp traođổi xử lý các thông tin và những vấn đề trong doanh nghiệp Khi có một quy trình
kế hoạch thống nhất, nó sẽ góp phần cung cấp trao đổi thông tin giữa các phòng banchức năng trong doanh nghiệp với nhau; các lãnh đạo của các bộ phận khác nhau có
Trang 19thể nắm bắt được những thông tin và các hoạt động của các bộ phận khác để từ đó
có được những phương án hoạt động cho bộ phận mình sao cho phù hợp với cácphòng ban bộ phận khác để đảm bảo cho mục tiêu của doanh nghiệp được thực hiệnđúng theo kế hoạch đề ra
Bản kế hoạch với tư cách là một tài liệu chứa đựng các chiến lược phát triểncủa doanh nghiệp trong tương lai, trong đó còn chứa đựng các kế hoạch hành độngcủa các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp như kế hoạch sản xuất và dự trữ, kếhoạch Marketing, kế hoạch nhân sự, kế hoạch tài chính, kế hoạch nghiên cứu triểnkhai cũng như kế hoạch tổng thể của doanh nghiệp Vì vậy, kế hoạch đóng vai trònhư một kênh thông tin từ ban lãnh đạo xuống các phòng ban chức năng cũng nhưtới từng nhân viên trong doanh nghiệp để huy động nguồn lực giúp thực hiện cácmục tiêu đề ra đồng thời phản hồi những thông tin từ dưới lên tới ban lãnh đạo vềquá trình thực hiện kế hoạch Từ thông tin phản hồi đó, ban lãnh đạo có thể kiểm trađánh giá được công tác tổ chức thực hiện nếu thấy những sai lệch sẽ có phương ánđiều chỉnh Kế hoạch không chỉ đóng vai trò là kênh thông tin dọc mà nó còn cóchức năng là kênh thông tin ngang giữa các phòng ban chức năng Vì các kế hoạchchức năng có mối quan hệ với nhau rất mật thiết nên việc trao đổi thông tin vớinhau giữa các phòng ban là rất quan trọng, nó sẽ giúp cho các bộ phận nắm đượctiến độ của các bộ phận khác từ đó có những điều chỉnh để kế hoạch bộ phận cũngnhư kế hoạch tổng thể đi đúng tiến độ
Thứ ba, chức năng quyền lực Khi một bản kế hoạch được xây dựng hoàn
chỉnh phù hợp với những điều kiện bên trong và bên ngoài doanh nghiệp thì bản kếhoạch đó như là một bản tuyên bố của ban lãnh đạo doanh nghiệp tới các bộ phận
và các nhân viên trong doanh nghiệp về chiến lược phát triển của doanh nghiệptrong tương lai, trong đó sẽ ghi rõ những mục tiêu mà doanh nghiệp cần đạt đượctrong thời gian tới Với những mục tiêu nhiệm vụ được đặt ra trong bản kế hoach,ban lãnh đạo doanh nghiệp đã khẳng định quyền lực lãnh đạo của họ trong doanhnghiệp cũng như với các nhân viên Nhờ có kế hoạch mà các hoạt động trong doanhnghiệp được quản lý một cách chặt chẽ, hợp lý và từ đó sẽ giúp cho mọi người đều
có thể tham gia đóng góp ý kiến vào bản kế hoạch
Trang 201.2.2 Vai trò của Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
1.2.2.1 Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung
Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là một nền kinh tế dựa trên cơ sở chủ yếu
là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sự thống trị của nhà nướcchuyên chính vô sản Kế hoạch hóa là mệnh lệnh trực tiếp phát ra từ trung ương tớicác thành phần trong nền kinh tế là các doanh nghiệp nhà nước vì vậy mà không có
sự khác biệt rõ rệt giữa kế hoạch của nền kinh tế và kế hoạch doanh nghiệp Theo
đó, hình thức giao dịch chủ yếu là sự giao nhận từ trung ương tới các đơn vị sảnxuất Các doanh nghiệp không được tự chủ trong việc sản xuất cái gì, sản xuất nhưthế nào, sản xuất cho ai mà những câu hỏi đó đều do nhà nước quyết định và giaoxuống cho các doanh nghiệp từ nguyên liệu đầu vào với số lượng bao nhiêu, sảnxuất bao nhiêu và phân phối như thế nào Vì vậy, các chỉ tiêu kế hoạch trong doanhnghiệp cũng chính là các chỉ tiêu pháp lệnh toàn diện, các kế hoạch tiến độ, kếhoạch điều độ sản xuất đều do cơ quan trung ương quyết định và chi phối toàn bộhoạt động của doanh nghiệp Vai trò lớn nhất của kế hoạch hóa trong thời kì này làtạo ra tiết kiệm và tích lũy lớn, thực hiện các cân đối trong nền kinh tế, nhờ đó tạo
ra tăng trưởng nhanh, hướng các nguồn lực vào những mục tiêu ưu tiên
Nhưng bên cạnh vai trò đó thì nó còn có nhiều hạn chế Đó là hạn chế tínhnăng động, sáng tạo trong sản xuất, không gắn trách nhiệm sản xuất với người laođộng vì vậy mà hiệu quả sản xuất thấp Do kế hoạch mang tính mệnh lệnh, triệt tiêucác qui luật kinh tế và cạnh tranh trong thị trường nên nền kinh tế không có độnglực phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh Thiếu tính sáng tạotrong sản xuất nên hạn chế sự tiến bộ của khoa học công nghệ Việc nghiên cứu vàứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất không được tiến hành Cũng dokhông áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nên công nghệ sản xuất trở lên lạchậu dẫn đến năng suất thấp hiệu quả kinh tế không cao
1.2.2.2 Trong cơ chế kinh tế thị trường
Kể từ khi nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới nền kinh tế từ cơ chế kế hoạchhóa tập trung sang nền kinh tế thị trường thì tình hình hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp có nhiều thay đổi Trong thời gian đầu các doanh
Trang 21nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung đã loại bỏ hoàn toàn công tác kế hoạchhóa ra ngoài, phủ nhận hoàn toàn vai trò của kế hoạch hóa trong nền kinh tế vàtrong từng doanh nghiệp Họ coi kế hoạch hóa là sản phẩm của cơ chế cũ và nókhông còn phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường, họ coi thị trường là yếu tố quyếtđịnh còn kế hoạch thì không có vai trò gì cả.
Nhưng trong thực tế của những năm qua và kinh nghiệm của các doanhnghiệp lớn trên thế giới đã cho thấy rằng dù ở trong nền kinh tế thị trường phát triểnthì các doanh nghiệp vẫn phải có chiến lược và kế hoạch kinh doanh Doanh nghiệpnào có chiến lược và kế hoạch hợp lý thì doanh nghiệp đó hoạt động càng hiệu quả
và ngày càng phát triển Kế hoạch chiến lược đóng vai trò như một kim chỉ namhướng doanh nghiệp tới các mục tiêu nhiệm vụ cần đạt được trong tương lai Dovậy, trong nền kinh tế thì trường, kế hoạch hóa trong doanh nghiệp vẫn có nhữngvai trò rất quan trọng
Thứ nhất nó tập trung sự chú ý của các hoạt động trong doanh nghiệp vào các mục tiêu:
Nội dung quan trọng trong công tác lập kế hoạch là đề ra các mục tiêu pháttriển trong thời kỳ kế hoạch Việc đặt ra các mục tiêu sẽ giúp doanh nghiệp tậptrung sự chú ý trong các hoạt động của mình vào những mục tiêu kế hoạch Để đạtđược những mục tiêu đề ra, doanh nghiệp phải dự kiến được những cơ hội, tháchthức có thể xảy ra để quyết định nên làm gì? làm như thế nào? khi nào làm? và ailàm? trong một thời kỳ nhất định Thị trường luôn luôn biến động và chúng ta ít khitiên đoán chính xác tương lai, các yếu tố nằm ngoài kiểm soát đôi khi phá vỡ cảnhững kế hoạch tốt nhất Thế nhưng không vì thế mà chúng ta không thực hiện kếhoạch hoá, không đặt ra các mục tiêu phát triển cho doanh nghiệp Bởi vì nếu không
có kế hoạch hóa và tổ chức quá trình hoạt động thông qua các mục tiêu định lậptrước thì có nghĩa chúng ta đã để cho các sự kiện có liên quan đến sinh mệnh củadoanh nghiệp mình diễn ra một cách ngẫu nhiên và tính rủi ro trong hoạt động củadoanh nghiệp sẽ tăng lên
Thứ hai, Công tác kế hoạch hóa giúp cho việc ứng phó với những bất định
và đổi thay của thị trường tốt hơn.
Trang 22Tương lai thường không chắc chắn, việc dự báo được tương lai là rất khókhăn Với việc lập kế hoạch, việc dự kiến trước những gì sẽ diễn ra trong tương laicũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải có những biện pháp, những kịch bảnsẵn có để ứng phó với những thay đổi sẽ diễn ra và không bị động khi giải quyết cáctình huống Ngay cả khi tương lai có độ chắc chắn cao thì các nhà quản lý vẫn cầntìm cách tốt nhất để đạt mục tiêu đặt ra Hoạt động kế hoạch hoá không chỉ dừng lại
ở việc đặt ra các mục tiêu, dự kiến các kịch bản trong tương lai trong khâu lập kếhoạch mà còn bao gồm cả công đoạn triển khai thực hiện và đánh giá kiểm tra vàđiều chỉnh các hoạt động đó để phù hợp với những thay đổi của thị trường nhằmbảo đảm thực thi các mục tiêu kế hoạch đặt ra
Thứ ba Công tác kế hoạch hoá tạo khả năng tác nghiệp kinh tế trong doanh nghiệp.
Là một công cụ quản lý, kế hoạch hóa đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp củacác hoạt động trong doanh nghiệp Công tác kế hoạch hóa thường hướng tới cực tiểuhoá chi phí vì nó chú trọng vào các hoạt động hiệu quả Kế hoạch thay thế sự hoạtđộng manh mún, không được phối hợp bằng những nỗ lực có định hướng chung, thaythế luồng hoạt động thất thường bởi một luồng đều đặn và thay thế những phán xétvội vàng bằng những quyết định có cân nhắc kỹ lưỡng Đối với các doanh nghiệp sảnxuất mang tính dây chuyền và được chia thành nhiều công đoạn, việc có được kếhoạch hợp lý sẽ tạo được sự liên kết chặt chẽ giữa các công đoạn cả về số lượng, tiến
độ và tạo cơ sở cho doanh nghiệp nhìn nhận logic các nội dung hoạt động có liênquan chặt chẽ với nhau trong quá trình tiến tới mục tiêu sản xuất sản phẩm và dịch vụcuối cùng, đảm bảo cho sản xuất không bị rối loạn và ít bị tốn kém
1.2.3 Nguyên tắc của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
Khi chúng ta làm một việc gì thì thông thường đều có những nguyên tắc nhấtđịnh Vì vậy trong công tác kế hoạch hóa cũng không thể không có những nguyêntắc trong xây dựng kế hoạch Nhờ có những nguyên tắc này sẽ giúp cho bản kếhoạch được xây dựng một cách hợp lý, sát với thực tế hơn và giảm thiểu những rủi
ro có thể xảy ra Vậy kế hoạch hóa trong doanh nghiệp được tuân theo nhữngnguyên tắc sau đây
Trang 23Thứ nhất, nguyên tắc thống nhất Do doanh nghiệp được cấu thành từ
nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận có hoạt động chức năng riêng lẻ khác nhau.Cho nên trong công tác quản lý doanh nghiệp cần có sự thống nhất để đảm bảo hoạtđộng của doanh nghiệp được thống nhất Trong doanh nghiệp có các mối quan hệdọc và mối quan hệ ngang Mối quan hệ dọc thể hiện quan hệ từ trên xuống giữaban lãnh đạo doanh nghiệp và các phòng ban chức năng cũng như các nhân viêntrong doanh nghiệp và mối quan hệ này cũng thể hiện quan hệ quyền lực lãnh đạocủa người chủ doanh nghiệp với các nhân viên Mối quan hệ ngang là mối quan hệgiữa các phòng ban chức năng với nhau, nó thể hiện quan hệ tác nghiệp trao đổithông tin với nhau giữa các bộ phận trong doanh nghiệp Nhờ có mối quan hệ này,các bộ phận trong doanh nghiệp có thể nắm bắt hoạt động của nhau từ đó có thểgiúp đỡ lẫn nhau trong quá trình thực hiện
Trong doanh nghiệp có nhiều đơn vị chức năng với các kế hoạch của riêngmình để thực hiện chức năng của mình Cho nên có sự phân định rất rõ ràng vềchức năng giữa các bộ phận Nhưng khi các bộ phận tiến hành xây dựng kế hoạchcho bộ phận mình đều phải căn cứ vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp nhằmthực hiện những mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp vì vậy kế hoach tổng thểcủa doanh nghiệp không thể chỉ là sự lắp ghép đơn thuần của các bộ phận mà nócòn phải là một hệ thống các kế hoạch có liên quan chặt chẽ với nhau thể hiện sựthống nhất từ trên xuống và giữa các kế hoạch bộ phận
Thứ hai, nguyên tắc tham gia Nguyên tắc này có mối quan hệ với nguyên
tắc thống nhất, theo đó thì nguyên tắc này cho phép mọi thành viên trong doanhnghiệp đều có thể tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng kế hoạch Nhờ
có sự tham gia này, bản kế hoạch sẽ thể hiện đầy đủ ý chí của mọi thành viên trongdoanh nghiệp chứ không của riêng ban lãnh đạo Nó thể hiện sự thống nhất giữa cácthành viên trong doanh nghiệp Nếu nguyên tắc này được thực hiện một cách đầy đủthì nó sẽ đem lại những lợi ích sau
-Các thành viên trong doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin cho nhau, nhờ
đó mà họ sẽ có được những hiểu biết sâu sắc hơn về doanh nghiệp cũng như hoạtđộng của các bộ phận trong doanh nghiệp Do vậy, mà bản kế hoạch sẽ nhận được
Trang 24đầy đủ thông tin từ mọi phía phản ánh chính xác tình hình bên trong và bên ngoàidoanh nghiệp.
-Nhờ có sự tham gia của các thành viên trong doanh nghiệp mà bản kế hoạch
sẽ không còn là của riêng ban lãnh đạo doanh nghiệp nữa mà nó sẽ là sản phẩm củatất cả mọi thành viên trong doanh nghiệp Khi đây đã là sản phẩm của toàn thểdoanh nghiệp thì các thành viên sẽ cảm thấy mình có trách nhiệm với bản kế hoạch
và cố gắng thực hiện một cách tốt nhất bổn phận trách nhiệm của mình trong bản kếhoạch, từ đó sẽ giúp bản kế hoạch được thực hiện có hiệu quả hơn
-Cho phép mọi người tham gia vào công tác kế hoạch hóa sẽ giúp cho mọingười phát huy được tính chủ động sáng tạo của họ, tạo cho họ có động lực để laođộng có hiệu quả hơn
Để có thể thu hút được mọi người cùng tham gia xây dựng và thực hiện kếhoạch của doanh nghiệp thì ban lãnh đạo của doanh nghiệp cần có những chínhsách mô hình khuyến khích mọi người tham gia, làm cho họ cảm thấy khi tham giavào công tác kế hoạch hóa họ có được lợi ích trong đó
Thứ ba, nguyên tắc linh hoạt Do các doanh nghiệp hoạt động trong nền
kinh tế thị trường, với rất nhiều biến động diễn ra từng ngày từng giờ Cho nên côngtác kế hoạch hóa không thể cứng nhắc mà đòi hỏi phải luôn linh hoạt chủ động để
có thể đối phó được với những thay đổi bất ngờ của thị trường Kế hoạch được xâydựng càng linh hoạt mềm dẻo thí sẽ càng giảm thiểu được những rủi ro do thay đổicủa thị trường gây ra Nguyên tắc linh hoạt được thể hiện thông qua các yếu tố sau
Kế hoạch được xây dựng phải có nhiều phương án, mỗi phương án là mộtkịch bản mô phỏng tương ứng với từng điều kiện thị trường và cách huy độngnguồn lực cụ thể
Trong xây dựng kế hoạch thì thì chúng ta không chỉ xây dựng kế hoạchchính mà còn phải xây dựng những kế hoạch phụ, kế hoạch dự phòng và kế hoạch
bổ sung, để trong những tình huống bất khả kháng chúng ta có thể thay đổi kếhoạch hành động
Các kế hoạch cần phải được xem xét một cách thường xuyên liên tục Dotrong các kế hoạch đều đặt ra các mục tiêu cho tưong lai mà tương lại là một thứ xa
Trang 25vời khó nắm bắt vì vậy người lãnh đạo doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi,kiểm tra để phát hiện những thay đổi trong quá trình thực hiện, tìm ra những nguyênnhân của những phát sinh đó để từ đó có những điều chỉnh và bước đi phù hợp đểgiải quyết những vấn đề phát sinh đảm bảo cho kế hoạch đi đúng hướng Nhờ cótính linh hoạt trong xây dựng và thực hiện kế hoạch mà các nhà xây dựng và thựchiện kế hoạch không cảm thấy kế hoạch là sự cứng nhắc mang tính rằng buộc và bị
kế hoạch chi phối mà trái lại họ cảm thấy họ là người chủ động trong công tác xâydựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch, họ thấy mình là chủ thể kế hoạch chi phối kếhoạch chứ không phải bị kế hoạch chi phối
1.3 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế hoạch hoá trong doanh nghiệp
1.3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp
1.3.1.1 Công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường:
Nói đến kế hoạch hoá là người ta nghĩ ngay đến thời kỳ bao cấp khi mà mọihoạt động sản xuất đều được tuân theo các mệnh lệnh phát ra từ trung ương Các chỉtiêu kế hoạch của doanh nghiệp chính là các chỉ tiêu pháp lệnh mang tính toàn diện,chi tiết mà cơ quan quản lý cấp trên giao xuống trên cơ sở cân đối chung toàn ngành
và tổng thể kinh tế quốc dân Các kế hoạch tiến độ, điều độ sản xuất của doanhnghiệp đều là cụ thể hoá các chỉ tiêu pháp lệnh được cấp trên giao xuống và nó chiphối toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trườngcác quan hệ kinh tế được diễn ra và tuân theo các quy luật của thị trường, khôngchịu sự tác động mang tính chủ quan của con người thì phải chăng kế hoạch hoákhông còn tác dụng nữa? Thực tế cho thấy, thậm chí trong những nền kinh tế màcông ty tư nhân chiếm ưu thế như ở Mỹ, Anh và Nhật, kế hoạch hóa cũng đóng vaitrò sống còn, mặc dù tương đối gián tiếp trong tiến trình kinh tế Trong nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung, hoạt động kế hoạch hoá chỉ có vai trò là hướng các hoạtđộng của nền kinh tế và doanh nghiệp theo những mục tiêu đã định trước Trongnền kinh tế thị trường, vai trò của kế hoạch hóa không chỉ dừng lại ở việc hướngnền kinh tế và doanh nghiệp theo những mục tiêu đã định trước mà còn đề ra cácbiện pháp, giải pháp để đạt được mục tiêu đó Đồng thời để đối phó với những thayđổi bất định của thị trường, hoạt động kế hoạch hoá còn đưa ra các kịch bản có thể
Trang 26xảy ra đối với doanh nghiệp và nền kinh tế và các biện pháp để xử lý tình huống đó.Như vậy, có thể thấy trong nền kinh tế thị trường hoạt động kế hoạch hoá khôngnhững không mất đi vai trò của nó mà còn thể hiện là 1 công cụ quản lý không thểthiếu đối với cả nền kinh tế và doanh nghiệp.
1.3.1.2 Hoàn thiện công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng của công tác kế hoạch trong doanh nghiệp, đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, sự tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh giúp cácdoanh nghiệp chủ động hơn trong mọi hoạt động của mình Tuy vậy, chính sự tự docạnh tranh mà trong khi hoạt động vì lợi ích của doanh nghiệp này mà có thể gâythiệt hại đến một hoặc một số doanh nghiệp khác, đây là một trong các khuyết tậtcủa thị trường Các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường phải biết tậndụng cơ hội và hạn chế thách thức Yếu tố then chốt để đảm bảo thành công là biếtkhai thác những thế mạnh để làm tăng sức cạnh tranh của mình Để tạo ra năng lực
đó cần thiết phải có công cụ quản lý có hiệu quả đó là kế hoạch hóa Do đó, hoànthiện công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp là một yêu cầu bức thiết đối với doanhnghiệp muốn hoạt động trên thị trường Để đối phó với những thay đổi do nền kinh
tế thị trường đưa lại thì doanh nghiệp luôn luôn phải có một số kế hoạch để điềuchỉnh từng bước đi để cuối cùng đạt được mục tiêu đã đề ra Trong quá trình xâydựng kế hoạch, các nhà quản lý buộc phải nhìn về phía trước, dự đoán những thayđổi của nội bộ doanh nghiệp cũng như môi trường kinh doanh, cân nhắc những ảnhhưởng của chúng và đưa ra những ứng phó thích hợp Kế hoạch đưa ra phải đảmbảo tính linh hoạt mềm dẻo tuỳ vào tình hình thay đổi của thị trường Hoạt động củadoanh nghiệp cuối cùng vẫn là vì mục tiêu lợi nhuận, chính vì thế các kế hoạch đặt
ra thường có tham vọng rất lớn Để đảm bảo được tính khả thi cho các kế hoạch nàythì công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp phải kết hợp mục tiêu chiến lược với mụctiêu tình thế Vì thế, không chỉ xây dựng các kế hoạch tác nghiệp ngắn hạn mà trướchết phải xây dựng kế hoạch chiến lược để làm căn cứ
Các doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới mục tiêu hiệu quả, nó là tiêuchuẩn hàng đầu cho việc xây dựng, lựa chọn và quyết định phương án kế hoạch củadoanh nghiệp Kế hoạch tạo ra thế chủ động tức là tạo ra một sự định hướng Chủđộng khai thác mọi nguồn khả năng tiềm tàng về vốn, vật tư, lao động hiện có, chủ
Trang 27động trong việc mua sắm hàng hoá, trong việc đổi mới thiết bị và công nghệ, chủđộng trong việc tìm thị trường tiêu thụ, thị trường nguyên vật liệu đầu vào.
Ngoài ra, kế hoạch có thể giảm được sự chồng chéo, giảm được những hoạtđộng lãng phí Kế hoạch không chỉ đơn thuần là các mục tiêu, là những hướng đicủa doanh nghiệp mà nó còn thể hiện các cách để đạt mục tiêu đó Kế hoạch chỉ ranhiệm vụ và trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận trong việc thực hiện mụctiêu kinh doanh, vì thế hiện tượng lãng phí được giảm đến mức thấp nhất góp phầnđem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
1.3.1.3 Hoàn thiện công tác kế hoạch hoá tạo điều kiện cho các nhà quản lý trong công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp
Kế hoạch thiết lập nên những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công tác kiểm tra,kiểm soát của doanh nghiệp Những người quản lý không thể kiểm tra công việc củacấp dưới nếu không có được mục tiêu đã định để đo lường Công tác kế hoạch hoágiúp cho các doanh nghiệp chủ động hoạch định các mục tiêu cũng như thực hiệnchúng Kế hoạch bảo đảm an toàn chống rủi ro kinh doanh cho doanh nghiệp thôngqua việc đề ra các phương án khả thi, các mục tiêu tối ưu trong đó rủi ro có thể xảy
ra nhưng ở mức thấp nhất Khi xây dựng kế hoạch, người ta thường tính toán saocho khắc phục được tình trạng dàn trải nguồn lực, xác lập đánh giá lựa chọn cácphương án phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để thựchiện có kết quả tốt các mục tiêu sản xuất kinh doanh Thông qua kế hoạch kinhdoanh khuyến khích các nhà lãnh đạo, quản lý thường xuyên suy nghĩ đến triểnvọng của doanh nghiệp mình, xây dựng các chỉ tiêu hoạt động để sau này làm căn
cứ kiểm tra, đánh giá đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng đối phó với nhữngthay đổi của môi trường, bảo đảm sử dụng có hiệu quả nguồn lực, nó gắn liền tráchnhiệm của nhà quản lý với toàn bộ nhân viên trong toàn doanh nghiệp
1.3.2 Nội dung hoàn thiện công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp
1.3.2.1 Hoàn thiện quy trình lập kế hoạch
Các doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đều không tránhkhỏi sự cạnh tranh khốc liệt mà thị trường đem lại Do đó, muốn tồn tại và đảm bảokinh doanh có hiệu quả, công ty thường xuyên phải có những nghiên cứu đánh giá
về thị trường, phải có sự chuẩn bị cho mọi tình huống phát sinh Thế nên quy trình
Trang 28kế hoạch hoá trong doanh nghiệp cũng phải được xây dựng nhằm đáp ứng đượcnhững đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Như trên đã đưa ra, thông thường, quytrình kế hoạch hoá thường đi theo 4 bước: xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khaithực hiện kế hoạch, tổ chức kiểm tra theo dõi kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch Tuynhiên trong thực tế, việc phân biệt 4 hoạt động này trong quy trình kế hoạch hoá củacác công ty không được rõ ràng, một số hoạt động đôi khi không được thực hiện,hoặc thực hiện một cách sơ sài làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và kế hoạchđưa ra thường không đem lại hiệu suất cao nhất Chính vì thế, hoàn thiện quy trình
kế hoạch hoá ngày càng được các công ty chú trọng hơn
1.3.2.2 Hoàn thiện căn cứ xây dựng kế hoạch.
Để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh đúng đắn, khoa học và thực tế, doanhnghiệp cần phải dựa vào những tiêu thức nhất định có liên quan đến toàn bộ hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đó là việc xác định các căn cứ và dựavào đó để tiến hành lập kế hoạch cho phù hợp
Căn cứ vào chiến lược kinh doanh trong dài hạn của công ty Mỗi doanhnghiệp hoạt động kinh doanh đều có những giấc mơ vể cái mà doanh nghiệp mongmuốn trở thành, đó chính là tầm nhìn chiến lược Và để hoàn thành sứ mạng chiếnlược hay chính là để biến giấc mơ thành hiện thực thì doanh nghiệp thường đặt chomình những mục tiêu chiến lược, đó là các kết quả mà doanh nghiệp mong muốnđạt tới tại một thời điểm nhất định trong tương lai Các kế hoạch năm chính là việc
cụ thể hoá từng bước trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược Do đó các mụctiêu chiến lược là một trong những căn cứ đầu tiên có ý nghĩa quan trong trong việcxây dựng kế hoạch
Căn cứ vào việc phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm kỳ trước, năm trước.Đây là căn cứ thiết yếu cho công tác lập kế hoạch Với những chỉ tiêu đã hoànthành kế hoạch thì cần tăng cường đầu tư, phát huy tối đa khả năng nguồn lực, đemlại hiệu quả cao hơn Với những chỉ tiêu chưa hoàn thành thì tìm ra nguyên nhân vàhướng khắc phục
Căn cứ vào đơn đặt hàng hoặc hợp đồng đã ký được Từ những hợp đồnghoặc đơn đặt hàng công ty sẽ có những kế hoạch sản xuất và dự trữ phù hợp đảmbảo nguồn hàng cung cấp
Trang 29Căn cứ vào các dự báo về thị trường Đối với doanh nghiệp kinh doanh trongnền kinh tế thị trường, căn cứ về thị trường là một trong những căn cứ quan trọngtrong hoạt động xây dựng kế hoạch Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn cácđơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án sản xuất kinh doanh cóhiệu quả Do đó dự báo nhu cầu của thị trường giúp cho doanh nghiệp xác địnhđược phướng án kinh doanh tối ưu, không bỏ lỡ các cơ hội phát triển thị trườngcũng như phát triển doanh nghiệp đồng thời tránh được các rủi ro đáng tiếc.
Căn cứ vào năng lực sản xuất của công ty Bằng việc phân tích các số liệuthời kỳ trước cũng như các nhận định về thị trường, doanh nghiệp có thể dự đoánđược mức tiêu thụ sản phẩm của thị trường thời gian tới Tuy nhiên để có thể xâydựng được một kế hoạch mang tính khả thi, doanh nghiệp còn phải căn cứ vào khảnăng đáp ứng nhu cầu thị trường của chính doanh nghiệp
1.3.2.3 Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu
Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch hoá doanh nghiệp bao gồm nhiều loại tuỳ theohoạt động của từng doanh nghiệp
Căn cứ vào tính chất các chỉ tiêu gồm: chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu địnhtính Chỉ tiêu định lượng phản ánh hướng phấn đấu của doanh nghiệp về mặt quy
mô, số lượng của các hoạt động: tổng số lao động, tổng giá trị sản phẩm, lợi nhuậnròng thu được, giá trị tài sản cố định…Chỉ tiêu định tính phản ánh mặt chất lượngcủa hoạt động sản xuất kinh doanh: năng suất lao động, tỷ lệ lợi nhuận…
Căn cứ vào đơn vị tính toán bao gồm các chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị.Các chỉ tiêu hiện vật là các chỉ tiêu được đo lường bằng đơn vị hiện vật, còn các chỉtiêu giá trị là các chỉ tiêu được đo lường bằng các đơn vị tiền tệ
Để hoàn thiện công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp thì hệ thống chỉ tiêu cầnđổi mới theo xu hướng tăng dần các chỉ tiêu định tính và giảm dần các chỉ tiêu địnhlượng, sử dụng các chỉ tiêu lồng ghép tạo cơ sở tốt cho việc đánh giá hiệu quả sảnxuất kinh doanh và qua đó định hướng các hoạt động sản xuất kinh doanh vàonhững mục tiêu mong muốn
Trang 30CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH NĂM
CỦA CHI NHÁNH TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
GIAO THÔNG 4 TẠI HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về Chi nhánh Tổng Công ty Xây dựng Công trình giao thông 4 tại HàNội
2.1.1 Giới thiệu về tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4(CIENCO 4)
Tên chính thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên - Tổng công tyxây dựng công trình giao thông 4
Tên tiếng Anh: Civil Engineering Construction Corporation No 4 Ltd
Tên viết tắt: CIENCO 4 Trụ sở chính:Số 29 - Quang Trung - TP Vinh - TỉnhNghệ An
Điện thoại: 84-38-3844198
Fax:84-38-3843329
E-mail:cienco4na@gmail.com
Website: www.cienco4.com.vn hoặc www.cienco4.vn
Văn phòng đại diện Hà Nội: Số 19 - Ngõ 1043 - đường Giải phóng - phườngThịnh Liệt - quận Hoàng Mai - Hà Nội
Điện thoại: 84-4-6420382
Fax: 84-4-6811275
Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 4 (CIENCO 4) là đơn vị kế thừatruyền thống Cục Công trình - Bộ Giao thông vận tải được thành lập ngày27/12/1962 để thực hiện nhiệm vụ đảm bảo giao thông trong chiến tranh chống Mỹcứu nước Trải qua gần 50 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, Tổng công ty
đã nhiều có 8 lần đổi tên Ngày 25/6/2010, Bộ Giao thông vận tải ra Quyết định số1757/QĐ-BGTVT chuyển Công ty mẹ - Tổng công ty Xây dựng công trình giaothông 4 thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tổng công ty với độingũ cán bộ công nhân viên được tôi luyện trong chiến đấu và trong xây dựng kinh
Trang 31tế, với ý chí vươn lên mạnh mẽ, không ngừng đổi mới tổ chức quản lý, đầu tư thiết
bị công nghệ, duy trì và phát triển nguồn nhân lực, đa dạng hóa ngành nghề, nângcao chất lượng sản phẩm, bảo đảm đời sống ổn định cho người lao động, coi trọnglợi ích của khách hàng và các đối tác, thực hiện cạnh tranh lành mạnh, phát triểnTổng công ty bền vững Từ năm 2000 đến 2010 Tổng công ty liên tục là đơn vị dẫnđầu phong trào thi đua của Ngành Giao thông vận tải, được Đảng, Nhà nước vàChính phủ tặng nhiều phần thưởng cao quý, năm 2008 Tổng công ty được tặngthưởng Huân chương Hồ Chí Minh
Thương hiệu CIENCO 4 ngày càng được khẳng định là thương hiệu mạnhtrong lĩnh vực xây dựng giao thông
Trang 32Hình 2.1 :Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty Xây dựng Công
trình Giao thông 4
Trang 332.1.2 Giới thiệu về Chi nhánh Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4 tại Hà Nội
Trang 34a) Tên chi nhánh
- Tên : Chi nhánh của Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4 tại HàNội được thành lập ngày 17 tháng 7 năm 2000 theo quy định số447/2000/TCCB-LĐ Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4
- Địa chỉ: tầng 4, số nhà 19, ngõ 1043 đường Giải Phóng, phường Thình Liệt,quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
- Số điện thoại : 04 6420368 ; FAX : 04 6420382
- Thư điện tử: cnhn-cienco4vnn.vn
- Sản xuất vật liệu xây dựng, cấu kiện bê tông đúc sẵn
- Liên doanh, liên kết với các đơn vị trong và ngoài Tổng công ty tại Chinhánh Hà Nội hiện tại
- Phối hợp với chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan trong việc thựchiện các mặt công tác, đời sống, đất đai, bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hộitheo quy định của địa phương và pháp luật của Nhà nước
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đơn vị sản xuất kinh doanh phụ thuộc công
ty mẹ - Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4
c) Vốn điều lệ: phụ thuộc vốn công ty mẹ
d) Quan hệ giữa Chi nhánh và Tổng công ty
- Chịu sự quản lý điều hành trực tiếp và điều phối chung của công ty mẹ nhằmđảm bảo kinh doanh có hiệu quả nhất, thực hiện chế độ phân cấp hạch toán
do công ty mẹ quy định, đồng thời chủ động trong hoạt động theo phân cấp
và tự chịu trách nhiêm về hoạt động theo quy định của pháp luật và phân cấpcủa công ty mẹ
- Xây dựng điều lệ, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch trình Hộiđồng quản trị Công ty mẹ phê duyệt, chịu sự điều hành sản xuất kinh doanh
và các hoạt động khác trực tiếp của Tổng giám đốc
Trang 35- Chịu sự kiểm tra và thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch và báo cáo tài chính.
2.1.3 Đặc điểm Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi nhánh Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4 tại Hà Nội
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Chi nhánh
Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh đã trải qua các giai đoạnkhác nhau, ở mỗi giai đoạn bộ máy tổ chức của Công ty có những đặc điểm khácnhau Mô hình quản lý hiện nay của Chi nhánh được thể hiện ở bảng và sơ đồ sau:
Bảng 2.1 Mô hình quản lý của Chi nhánh Tổng Công ty Xây dựng
Công trình Giao thông 4 tại Hà Nội
STT Cơ cấu tổ chức Định biên hiện tại(người) Ghi chú
Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Tổng Công ty Xây dựng Công
trình Giao thông 4 tại Hà Nội
Trang 36(Nguồn: Phũng nhõn sự)
Giỏm đốc, Phú Giỏm đốc, Kế toỏn trưởng do Tổng Giỏm đốc Tổng Cụng ty
bổ nhiệm, bói nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và chịu trỏch nhiệm trước Tổng Giỏmđốc về kết quả hoạt động kinh doanh của Cụng ty
Cỏc trưởng phũng, phú phũng, giỏm đốc cỏc nhà mỏy xớ nghiệp, giỏm đốccỏc dự ỏn do Giỏm đốc Chi nhỏnh bổ nhiệm, bói nhiệm …chịu trỏch nhiệm trướcGiỏm đốc về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của cỏc phũng ban, đơn vị màmỡnh phụ trỏch
2.1.3.2 Chức năng nhiệm vụ của cỏc phũng ban trong cơ cấu tổ chức của Chi nhỏnh.
Giỏm đốc C hi nhỏnh
Là người phụ trỏch toàn bộ cụng việc chung của Chi nhỏnh, là người chịutrỏch nhiệm với toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Chi nhỏnh, cútrỏch nhiệm phõn cụng cấp phú giỳp việc Giỏm đốc Giỏm đốc cú quyền quyếtđịnh việc điều hành hoạt động của Chi nhỏnh theo kế hoạch, chớnh sỏch phỏp luật
Phòng
N - C TC - KT Phũng KT-CN Phũng Giám đốc
Đội cầu 2 Đội cầu 9
Trang 37của Nhà nước, nghị quyết đại hội cán bộ công nhân viên và chịu trách nhiệm trướcpháp luật.
Phó Giám đốc Chi nhánh
Giúp việc Giám đốc, thay thế Giám đốc điều hành Chi nhánh khi Giám đốc
đi vắng và đựoc sự ủy quyền của Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Chi nhánh vềnhiệm vụ được giao
Phòng nhân sự - hành chính
Phòng nhân sự - hành chính tham mưu cho giám đốc các mặt công tác về tổchức cán bộ, lao động tiền lương, hành chính cụ thể như: cơ cấu tổ chức và quản lýcán bộ, công nhân viên chi nhánh; báo cáo nhu cầu CBCNV đáp ứng sản xuất kinhdoanh của Chi nhánh, gửi kế hoạch tuyển dụng về Tổng công ty duyệt; phụ tráchcông tác BHXH, BHYT và các loại bảo hiểm khác nếu xét thấy cần thiết…
Phòng kinh doanh-kế hoạch
Đây là phòng thực hiện công tác quản lý kế hoạch cho chi nhánh, tham mưucho giám đốc trong công việc: xác lập mục tiêu kinh doanh cho từng giai đoạn,đồng thời cân đối, huy động các nguồn lực để đạt mục tiêu đó với năng suất, chấtlượng và hiệu quả cao nhất Nhiệm vụ chính của phòng kinh doanh bao gồm:
-Đấu thầu tìm kiếm việc làm
-Hợp đồng thanh quyết toán với chủ đầu tư
-Lập kế hoạch hàng tháng, quý, năm cho chi nhánh và giao kế hoạch sảnxuất, làm hợp đồng giao khoán và thanh lý hợp đồng giao khoán với các đội
-Công tác điều độ và các hợp đồng phụ trợ
-Thanh quyết toán nội bộ
-Báo cáo thống kê
- Lập kế hoạch mua sắm vật tư và điều động nội bộ thiết bị, thuê ngoài theotiến độ từng công trình cho phù hợp với thiết kế tổ chức thi công và tổchức thực hiên kế hoạch đó
-Trình duyệt khối lượng và kế hoạch vay vốn với Tổng công ty
Phòng kỹ thuật
Trang 38Phòng kỹ thuật chịu trách nhiệm trước giám đốc về triển khai biện pháp tổchức thi công và bản vẽ thi công (nếu phù hợp), kỹ thuật thi công công trình;chất lượng, khối lượng và tiến độ công trình; quản lý hồ sơ, bản vẽ thi công (mọi
hồ sơ thuộc về kỹ thuật công trình); công tác nghiệm thu, hoàn công và bàn giaocông trình…
Phòng tài chính-kế toán
Thực hiện chức năng tham mưu cho Giám đốc về mặt tài chính, thu thập sốliệu phản ánh vào sổ sách và cung cấp thông tin kinh tế kịp thời phục vụ cho việc raquyết định của Giám đốc Thường xuyên báo cáo kịp thời tình hình tài chính, đưa racác biện pháp hạ giá thành, tiết kiệm chi phí, chi tiêu hợp lý, hợp pháp làm nghĩa vụngân sách với Nhà nước, quản lý kế toán các đội, xưởng sản xuất, quyết toán cáccông trình Theo dõi, đôn đốc công nợ đối tác của Chi nhánh
Phòng vật tư-thiết bị
Quản lý và theo dõi toàn bộ vật tư, hàng hóa, phương tiện dụng cụ trong toànChi nhánh Thống kê tình hình thu mua vật tư hàng hóa của các đơn vị sử dụng saukhi đã hoàn thành công trình Thường xuyên kiểm tra các loại mặt hàng vật tư cótrong kho và có kế hoạch bảo dưỡng định kì, sắp xếp vật tư theo từng chủng loại và
vệ sinh kho thường xuyên
Trang 392.1.3.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Chi nhánh trong giai đoạn 2007- 2011
Bảng 2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Chi nhánh Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4 tại Hà Nộitrong giai đoạn 2007 – 2011.
(Nguồn: Phòng kế hoạch – kinh doanh)
STT Các chỉ tiêu chủ yếu Đơn vị
tính
Năm2007
Năm2008
Năm2009
Năm2010
Năm2011
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ
TriệuĐồng 30464 46624 109438 72450 184681
3 Doanh thu thuần về bán hàng vàcung cấp dịch vụ " 30464 46564 109438 72450 184681
5 Lợi nhuận gộp về bán hang vàcung cấp dịch vụ " 3754 6584 11251 9245 19990
6 Doanh thu hoạt động tài chính " 3,96 19,51 22,82 20,75 31,59
- Trong đó lãi vay " 1690 3183 2292 3857 9673
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp " 2557 3836 8446 8120 13040
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế " 47 23 584 268 1571
15 Chi phí thuế thu nhập doanhnghiệp hiện hành " 19 162 75 401
16 Chi phí thuế thu nhập doanhnghiệp hoãn lại "
17 Lợi nhuận sau thuế thu nhậpdoanh nghiệp " 47 4 422 193 1170
18 Lãi cơ bản trên cổ phiếu "
(Nguồn: Phòng Tài chính-kế toán)
Tình hình tài chính của Chi nhánh giai đoạn 2006-2010 đã có sự tăng trưởng
Trang 40rõ rệt, tất cả các chỉ tiêu đều có tăng trưởng cao, ổn định
- Tổng giá trị doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ từ năm 2007 đến
2009 là 443,657 tỷ đồng Từ năm 2007 đến 2011 doanh thu bán hàng và cung cấpdịch vụ đã tăng gấp 6 lần từ 30 tỷ lên đến gần 185 tỷ đồng Tăng trưởng bình quângiai đoạn 2007-2010 là 70%
- Doanh thu hoạt động tài chính: đã tăng từ 3,96 tỷ năm 2007 lên 31,59 năm
2011 ( tăng 7,98 lần so với năm 2007), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 113,3%năm Riêng năm 2011 doanh thu của hoạt động tài chính là 32 triệu đồng tăng52,4% so với năm 2011
- Tổng số tiền phải nộp ngân sách nhà nước từ 2007 đến 2011 là 657 triệu đồng Trong đó nộp ngân sách nhà nước năm 2011 là 401 triệu tăng gấp 21 lần so với năm 2008 Năm 2011 tổng số tiền phải nộp ngân sách nhà nước của Chi nhánh Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4 tại Hà Nội là 401 triệu đồng tăng gấp 5,3 lần so với năm 2010 và tăng gấp 2,5 lần so với năm 2009
- Theo cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của doanh thu thì chi phí của chinhánh trong giai đoạn 2007-2011 cũng tăng đáng kể:
+ Chi phí tài chính tăng từ 1,69 tỷ đồng năm 2007 lên 9,67 tỷ đồngnăm 2011 tăng gấp 5,7 lần Lãi vay trong năm 2011 tăng gấp 2,5 lần so với năm
2011 và tăng gấp 4,2 lần so với năm 2009
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng từ 2.56 tỷ năm 2007 lên 13,04 tỷnăm 2011 tăng gấp 5,09 lần Đặc biệt năm 2011 chi phí quản lý doanh nghiệp tăng60.6% so với năm 2010
- Tổng lợi nhuận sau thuế từ 2007-2011 là 1,84 tỷ đồng Lợi nhuận sau thuếtăng từ 47 triệu năm 2007 lên 1,17 tỷ năm 2011 tăng gấp 24,9 lần Đây là một con
số rất cao thể hiện tình hình kinh doanh của chi nhánh
Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy trong giai đoạn 2007-2011, Chi nhánhTổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4 tại Hà Nội đã có những bước tiến
rõ rệt Phải kể đến nhất là năm 2011 vừa qua là một năm rất thành công của chinhánh với con số lợi nhuận gấp 6 lần so với năm 2010 Sở dĩ có sự tăng mạnh này
là do chi nhánh liên tục được nhận những dự án lớn như Cầu vượt Liêm Tuyến, cầu