1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam

82 532 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù giành được những kết quả rất tích cực, ngành công nghiệp chế biếnsản phẩm gỗ của Việt Nam đang phát triển dựa trên một nền tảng không vững chắcvới nhiều rủi ro tiềm ẩn, chưa trở t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là: Hoàng Thị Hồng Minh

Sinh viên lớp: Kinh tế phát triển 50A

Tôi xin cam đoan bài chuyên đề này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi

và chưa từng được công bố trên bất kì phương tiện truyền thông nào Đây là chuyên

đề do tôi tự đọc tài liệu, tự nghiên cứu và viết Mọi trích dẫn đều ghi rõ nguồn,không sao chép Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường

Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2012 Tác giả chuyên đề

Hoàng Thị Hồng Minh

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính tất yếu của đề tài

Ngành chế biến gỗ của Việt Nam trong thập kỷ qua đã phát triển mạnh mẽtạo ra nhiều việc làm, cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho ngườidân, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo Sự phát triển của côngnghiệp chế biến sản phẩm gỗ Việt Nam được thể hiện rõ rệt qua sự gia tăng nhanhchóng về số lượng cơ sở chế biến, quy mô chế biến, khối lượng sản phẩm, chấtlượng sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm Ngoài việc cung cấp các sản phẩmđáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước, sản phẩm gỗ của ViệtNam hiện có mặt ở thị trường của trên 120 quốc gia Đặc biệt tại một số thị trườnglớn như Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU sản phẩm đồ gỗ Việt Nam đã có được một chỗđứng, vị thế quan trọng trên thị trường, chiếm một tỷ lệ thị phần đáng kể đặc biệt làthị trường Nhật Bản với tốc độ tăng thị phần khá nhanh, với kim ngạch xuất khẩungày càng tăng qua các năm, sản phẩm chủng loại khá đa dạng Số lượng lao độnglớn sử dụng trong các cơ sở chế biến hiện nay được đánh giá là đã góp phần quantrọng vào giải quyết việc làm cho người lao động ở nước ta So với nhiều ngànhkinh doanh khác, có thể thấy sự hấp dẫn của ngành gỗ đến từ tốc độ tăng trưởngdoanh thu, lợi nhuận, độ an toàn và ổn định của hoạt động sản xuất kinh doanh vàhơn nữa là lợi thế canh tranh của một quốc gia có nguồn nguyên liệu dồi dào

Mặc dù giành được những kết quả rất tích cực, ngành công nghiệp chế biếnsản phẩm gỗ của Việt Nam đang phát triển dựa trên một nền tảng không vững chắcvới nhiều rủi ro tiềm ẩn, chưa trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy sự tận dụngnhững tiềm năng và lợi thế về phát triển lâm nghiệp của đất nước, sức cạnh tranhyếu, thiếu sự liên kết Tuy đã đạt được những thành tựu nổi bật về xuất khẩu nhưngnếu so sánh với các đối thủ trên thị trường có cùng mặt hàng xuất khẩu thì kimngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn Thị phần chiếm lĩnh so vớicác đối thủ còn quá nhỏ Nguyên nhân chính là do thiếu nguyên liệu để sản xuất,phụ thuộc vào gỗ nguyên liệu của nước ngoài, nguyên liệu trong nước chưa được sử

Trang 5

dụng một cách có hiệu quả và những cáo buộc về sử dụng gỗ lậu; sản phẩm

có sức cạnh tranh kém; không có công nghiệp phụ trợ; ô nhiễm môi trường; thiếunhân công lành nghề và cơ sở sản xuất còn nhỏ lẻ;… Thực tế vừa nêu cho thấy rất

rõ rằng việc xây dựng một chiến lược phát triển công nghiệp chế biến gỗ là mộtviệc làm hết sức cấp thiết, và phải giải quyết những thách thức, mâu thuẫn và khókhăn, và hơn thế là tạo điều kiện để ngành công nghiệp chế biến gỗ nước ta phát

triển một cách bền vững Vì vậy em đã chọn đề tài “ Chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về chiến lược phát triển ngành và vai tròcủa ngành công nghiệp chế biến gỗ đối với nền kinh tế quốc dân Phân tích thựctrạng sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ Việt Nam trongnước và trên thị trường xuất khẩu để từ đó đề xuất các giải pháp đối với các doanhnghiệp và các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm khắc phục những điểm yếu và tồntại, phát huy điểm mạnh và cơ hội để ngành trở thành trụ cột của nền kinh tế quốcdân đồng thời hướng đến sự phát triển bền vững trong tương lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Nghiên cứu thực trạng phát triển của ngành công nghiệp chế biến gỗViệt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu ngành công nghiệp chế biến gỗ ViệtNam trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

- Phương pháp toán thống kê

Trang 6

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phục lục, mụclục thì nội dung của đề tài được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược phát triển ngành

Chương 2: Thực trạnh của ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam

Chương 3: Chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu và viết đề tài này do trình độ, thời gian, kinhnghiệm còn hạn chế và nguồn tài liệu còn hạn hẹp nên chắc chắn em không tránhkhỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy côgiáo Và em xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS TS Phan Thị Nhiệm đã tận tìnhgiúp đỡ em để em hoàn thành bài viết này

Trang 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC

PHÁT TRIỂN NGÀNH

I Sự ra đời và phát triển của khái niệm chiến lược phát triển kinh tế xã hội

1 Sự ra đời và phát triển của khái niệm chiến lược

Khái niệm “chiến lược” được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự, sau

đó trong lĩnh vực chính trị Ở Trung Quốc, vào khoảng thế kỷ thứ 7 trước Côngnguyên, khi vạch ra kế hoạch và chỉ huy chiến tranh người ta sử dụng khái niệm

“mưu toán” với ý nghĩa là chiến lược Trong quân sự, chiến lược được hiểu là “nghệthuật phối hợp các nghệ thuật quân sự, chính trị, tinh thần, kinh tế được huy độngvào chiến tranh để đánh thắng kẻ thù”, ở đây hai yếu tố cơ bản của chiến lược là

“cạnh tranh” và “bất ngờ” cũng được coi là những yếu tố cơ bản để dành chiếnthắng trong kinh doanh, vì thế cho đến nay khi du nhập vào các lĩnh vực khác nhaunhư chính trị văn hóa, xã hội, kinh tế,…đã làm xuất hiện ngôn ngữ mới trong ngônngữ khoa học tại các lĩnh vực này

Ở phương Tây, từ chiến lược bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ “Strategen” hoặc

“Strateges” Sau này nhiều nước sử dụng từ chiến lược lý giải với nghĩa chung là

“nghệ thuật thống soái”, về sau có nội dung của từ chiến lược ngày nay khác vớichiến thuật và chiến dịch

Theo đà phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, ở thời kỳ cận đại, từ chiếnlược dần được sử dụng vào lĩnh vực chính trị, các khái niệm chiến lược cách mạng,chiến lược chính trị nối tiếp nhau ra đời Là khái niệm chính trị, chiến lược có ýnghĩa bao quát hơn sách lược Sách lược phải phục vụ và phục tùng chiến lược

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở phương Tây lại lưu hành khái niệmchiến lược quốc gia Chiến lược quốc gia là chiến lược trên tầm vi mô, là chiến lượccao nhất ở tầm quốc gia Nó không những gộp chiến lược chính trị, kinh tế, chiếnlược quân sự thành một khối mà còn có sự chỉ đạo thực tế đối với chiến lược cáclĩnh vực Chiến lược này còn được gọi là đại chiến lược

Ngày nay, hòa bình và phát triển đã trở thành chủ đề của đời sống kinh tế thếgiới, và do vậy ra đời khái niệm chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược pháttriển kinh tế xã hội Chiến lược phát triển kinh tế ở đây có thể hiểu là chiến lượcphát triển của bản thân kinh tế, nghĩa là chiến lược tập trung vào các mặt như tăngquy mô, tăng tốc độ và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế

Trang 8

Từ những điều trình bày ở trên, có thể rút ra một nhận xét chung: đó lànhững vấn đề có tính chất toàn cục không thực hiện ngay một lúc được thì gọi làchiến lược Nhưng do điều kiện toàn cục không thể điều tiết một lúc được, vì thế nó

có tính lâu dài Hơn nữa những vấn đề toàn cục và lâu dài đều là những vấn đề quantrọng Do vậy, có thể hiều, chiến lược là những mưu tính và quyết sách đối vớinhững vấn đề trọng đại có tính chất toàn cục và lâu dài Khoa học nghiên cứunhững vấn đề lý luận và phương pháp đưa ra các quyết sách những vấn đề trọng đại

và lâu dài gọi là chiến lược học

Nhìn chung, chiến lược tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng đều cónhững đặc điểm sau:

- Thứ nhất: chiến lược có tính mục tiêu Chiến lược xác định một cách rõ ràng cácmục tiêu cơ bản, phương hướng cần phải đạt tới trong đúng thời kỳ và được quántriệt tới trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của một đơn vị nào đó

- Thứ hai: Chiến lược có tính liên tục Chiến lược phải được phản ánh liên tục trong

cả một quá trình từ khi xây dựng, tổ chức thực hiện đến đánh giá, kiểm tra và điềuchỉnh chiến lược

- Thứ ba: Tính định hướng lâu dài Chiến lược phải phác thảo hoạt động của mộtđơn vị nào đó trong dài hạn khung hoạt động trong tương lai

- Thứ tư: Chiến lược phải được xây dựng dựa trên lợi thế cạnh tranh của chủ thể,đảm bảo huy động tối đa, kết hợp tốt với việc khai thác và sử dụng các nguồn lựccủa chủ thể nhằm phát huy lợi thế và nắm bắt cơ hội để giành được ưu thế hay làmcho chiến lược trở nên khả thi

2 Khái niệm về chiến lược phát triển kinh tế xã hội

Như phần trên đã đề cập, khái niệm chiến lược bắt nguồn từ thuật ngữ quân

sự, thường hay đi liền với những từ như sách lược chung, mưu tính chung, bố tríhành động chung và rộng nghĩa hơn với từ chiến thuật

Từ những năm 50-60 của thế kỷ thứ XX, khái niệm chiến lược được sử dụngtrong lĩnh vực kinh tế, xã hội Nếu theo quan điểm quân sự hay chính trị, “chiếnlược” thường được hiểu là hướng và cách giải quyết nhiệm vụ đặt ra mang tính toàn

cục, tổng thể và trong thời gian dài Đi cùng khái niệm chiến lược là chiến thuật,

được hiểu là hướng và cách giải quyết nhiệm vụ mang tính từng mặt, từng thờiđiểm, từng khu vực nhằm thực hiện chiến lược đặt ra Quan điểm nói trên có điểmnhấn là khẳng định bản chất của chiến lược (so với sách lược), đó là sự lựa chọn

Trang 9

hướng và cách đi tối ưu mang tính tổng thể và dài hạn Theo góc độ đó thì kháiniệm trên không chỉ đúng cho lĩnh vực quân sự, chính trị mà cả cho lĩnh vực kinh

tế, xã hội

Trên thực tế nhìn từ góc độ quản lý, chiến lược là một quyết sách toàn cụccủa một phạm vi không gian rộng lớn, trong một thời gian dài Chiến lược phát triểnchính là sự trù tính của chủ thể đối với toàn cục phát triển của sự vật Chúng ta cầnphân biệt các khái niệm có liên quan: chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược pháttriển xã hội, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Chiến lược phát triển kinh tế là khái niệm do nhà kinh tế học người Mỹ A.Hechman đưa ra Tác phẩm “chiến lược phát triển kinh tế” của Ông được chínhthức xuất bản vào năm 1958 Đây là tác phẩm đầu tiên trên thế giới mang tên là

“chiến lược phát triển kinh tế” Chiến lược phát triển kinh tế được hiểu là hệ thốngcác quan điểm, mục tiêu và phương hướng phát triển của đất nước (ngành, cơ sở)trong một thời kỳ nhất định trong tương lai (10-15 hoặc 20 năm)

Chiến lược phát triển kinh tế tập trung vào các mặt như tăng quy mô, tăngtốc độ, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế, trong chiến lược phát triển kinh tế, người taquan tâm trước hết đến các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế như: tổng giá trị sản xuất,tổng giá trị quốc nội, thu nhập quốc dân hoặc thu nhập bình quân theo đầu người.Tuy rằng mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế là nâng cao mức sống về vật chất

và tinh thần, thỏa mãn nhu cầu cho con người, nhưng mục đích này được ẩn chứatrong chiến lược phát triển kinh tế mà không biểu hiện rõ nét Chiến lược phát triểnkinh tế cũng phản ánh mục tiêu biến đổi chất lượng nền kinh tế, tức là thay đổitrong cơ cấu sản xuất, kết cấu kỹ thuật

Trong lĩnh vực kinh tế, cũng có khá nhiều quan niệm bàn về chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội (gọi tắt là chiến lược phát triển) Tổ chức phát triển côngnghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO) cho rằng: thông thường chiến lược phát triển

có thể mô tả như một bản phác thảo quá trình phát triển nhằm đạt được những mụctiêu đã định cho một thời kỳ dài Chiến lược cung cấp một “tầm nhìn” của một quátrình phát triển mong muốn và giải pháp tổng thể tiến hành; chiến lược hướng dẫncác nhà hoạch định chính sách trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực Kháiniệm của UNIDO cũng có phần giống quan điểm của các nhà quân sự, chính trị, tuyvậy có muốn gắn kết chiến lược với hoạch định các chính sách và các văn bảnhoạch định khác Theo cách hiểu của Trung tâm kinh tế Quốc tế của Úc (CIE), thìchiến lược thể hiện ở việc mô tả điểm xuất phát, và mục tiêu cuối cùng của quá

Trang 10

trình phát triển, phải xây dựng thể chế và tận dụng yếu tố thị trường để đạt được cácmục tiêu phát triển Quan điểm này chú trọng đến nội dung cấu thành chiến lược vàgắn chiến lược với môi trường kinh tế thị trường.

Có thể thấy, chiến lược phát triển kinh tế xã hội là hệ thống các mục tiêuphát triển cả lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội, đặt ra trong mối quan hệ tác độngqua lại với nhau cùng các quyết sách, giải pháp nhằm thực hiện được những mụctiêu kinh tế - xã hội đó trong thời kỳ dài hạn, trong điều kiện bên trong và bên ngoàinhất định của một quốc gia hay một địa phương

Như vậy, trên thực tế có thể có nhiều thuật ngữ khác nhau liên quan tới chiếnlược Chúng ta cũng gặp những thuật ngữ này trong tài liệu, sách báo, khi dùngthuật ngữ “chiến lược phát triển” với hàm ý nói đến chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội hay chiến lược phát triển kinh tế Thực tế, khái niệm “phát triển kinh tế” theonghĩa rộng đã bao hàm trong đó cả sự tăng trưởng kinh tế và biến đổi tiến bộ cơ cấu

và giải quyết các nhu cầu cơ bản của con người Đặt ra vấn đề phân biệt trên đây,chẳng qua chỉ để làm rõ bản chất của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà thôi

Tổng hợp các góc độ phân tích khác nhau nói trên, có thể rút ra kết luận:

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu ở tầm quốc gia, và được hiểu đầy đủ

là một hệ thống các phân tích, đánh giá và lựa chọn thể hiện quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu của một quá trình phát triển mong muốn, sự nhất quán về con đường và các giải pháp cơ bản để thực hiện Các bộ phận chiến lược thuộc phạm vi chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội xét trên phạm vi tổng thể quốc gia, bao gồm: chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; chiến lược phát triển ngành, lĩnh vựccủa nền kinh tế quốc dân; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng, tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương Các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp hay chiếnlược sản phẩm của doanh nghiệp không thuộc phạm vi của chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội xét trên phạm vi tổng thể quốc gia Chiến lược phát triển cấp ngành

là một hệ thống các quan điểm cơ bản (tư tưởng chỉ đạo và chủ đạo), các mục tiêutổng quát và mục tiêu chủ yếu, các định hướng phát triển chủ yếu trong các lĩnh vựccủa ngành, các biện pháp thực hiện của ngành để thực hiện và các giải pháp cơ bản

để thực hiện các mục tiêu Trong đó, chiến lược phát triển của ngành phải phụ thuộcvào chiến lược quốc gia

II Nội dung của chiến lược phát triển ngành

Thông thường, nội dung của chiến lược phát triển ngành bao gồm ba phần

Trang 11

chính: một là, quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển; hai là, nội dung chiếnlược; ba là, các giải pháp chủ yếu và các chương trình trọng điểm Khi xây dựngchiến lược theo các bước trên, chiến lược của ngành sẽ mang tính chất khoa học, rõràng trong việc “phác họa bức tranh tương lai” sau thời kỳ chiến lược, nêu rõ nhữngbước thực hiện cơ bản là gì và những phương án hay cách thức đạt được chiến lược

đó Bên cạnh đó, nhờ vào ba bước nêu trên, người đọc có thể dễ dàng theo dõi vànắm được nội dung của chiến lược ngành một cách lôgic

1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển

1.1 Quan điểm phát triển: Trong quan điểm phát triển, tiềm lực, vị trí, tiềm

năng và triển vọng phát triển của ngành trong tổng thể nền kinh tế hay trong mộtlĩnh vực nào đó sẽ được nêu bật Qua đó, người đọc có thể hình dung cụ thể hơn về

ý nghĩa của ngành trên trong thời kỳ chiến lược

Quan điểm cơ bản của chiến lược là những tư tưởng chỉ đạo và chủ đạo thểhiện tính định hướng của chiến lược Quan điểm thể hiện trung thành những ýtưởng của người hoạch định đường lối phát triển Nó quyết định con đường sẽ đi vàphương hướng của các giải pháp lớn Việc xác định các quan điểm cơ bản và có ýnghĩa quan trọng trong việc tìm ra các bước ngoặt của con đường phát triển, tạo rađộng lực cơ bản xuyên suốt trong quá trình phát triển của ngành

Quan điểm cơ bản là bộ khung, là hành lang cho việc xác định các mục tiêukinh tế - xã hội cùng những giải pháp lớn Các quan điểm cơ bản hình thành nênmột hệ quan điểm Hệ quan điểm phát triển thể hiện rõ mô hình phát triển và cáchthức để đạt tới mục tiêu định hướng trong một thời kỳ nhất định Ở mỗi thời kỳchiến lược khác nhau, hệ quan điểm cũng sẽ có những thay đổi nhất định cho phùhợp với tình hình và điều kiện mới

Ngoài ra, quan điểm chiến lược cần phải vạch rõ trong sự phát triển củangành đó thì những lĩnh vực nào sẽ được quan tâm chú trọng vào, đâu sẽ là giảipháp chính dẫn đến sự thành công của chiến lược phát triển trên hay nói cách khác

là đạt được mục tiêu và tầm nhìn đề ra

1.2 Mục tiêu phát triển: Phần này cần nêu bật vị trí và sức phát triển của

ngành đang ở đâu trong thời điểm sau chiến lược bằng các chỉ tiêu cụ thể là các con

số tuyệt đối và tương đối Điều đó giúp cho chúng ta dễ dàng hình dung ra bứctranh của tương lai một cách sáng sủa hơn

Mục tiêu phát triển là mức phấn đấu cần đạt được qua một thời kỳ nhất định

Trang 12

Mục tiêu bao gồm cả phần định tính và định lượng, phản ánh một cách toàn diệnnhững biến đổi quan trọng của nền kinh tế.

Về mặt định tính: Mục tiêu định tính được diễn đạt bằng lời văn, mô tả bướctiến mới của ngành trên những phương diện: trình độ hiện đại hóa của ngành, nănglực cạnh tranh của ngành khi ngành kết thúc thời kỳ chiến lược (ra khỏi khủnghoảng, bước phát triển cao hơn, giai đoạn ngành cất cánh, đến độ chín muồi, trưởngthành…), sức mạnh tổng hợp của ngành, thu nhập bình quân đầu người

Về mặt định lượng: Mục tiêu định lượng hướng vào một số chỉ tiêu quantrọng và chủ yếu nhất: Mức tăng trưởng bình quân GDP trong thời kỳ (% và sốtuyệt đối), sản phẩm chủ yếu, tố chất của ngành (khả năng cạnh tranh trong nước vàquốc tế, đóng góp của khoa học công nghệ trong nền kinh tế, tỷ lệ các sản phẩmhàng đầu trong nước và quốc tế), chỉ tiêu về môi trường sinh thái

Việc xác định mục tiêu phát triển phải xuất phát từ khả năng thực tế, đòi hỏicủa cuộc sống, của thời đại, hướng tới việc không ngừng nâng cao khả năng cạnhtranh cho các doanh nghiệp trong ngành, bộ mặt ngành được thay đổi, tạo vị thế củangành ở trong nước cũng như quốc tế, tăng cường vào hội nhập Việc xác định mụctiêu phải trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo Mục tiêu phải đảm bảo tínhkhả thi Muốn vậy, phương pháp xác định mục tiêu phải khoa học Mục tiêu phảilựa chọn trên nhiều phương án, sao cho vừa đảm bảo tính hiện thực, tích cực, vữngchắc nhưng đảm bảo tính linh hoạt và mềm dẻo

1.3 Định hướng phát triển: đây là mục nêu ra những định hướng, những

con đường để tiến tới các mục tiêu phát triển của ngành Định hướng phát triển luônđược xác định cụ thể tại một thời điểm trong tương lai, từ 10 đến 15 năm Trong đó,luôn có những mục tiêu tổng quát cụ thể được đặt ra bằng số tương đối và tuyệt đối

Ví dụ như mục tiêu cần đạt được về tốc độ tăng trưởng hay doanh thu trong giaiđoạn chiến lược

2 Nội dung của chiến lược

Để đạt được những mục tiêu chiến lược nêu trên, nội dung của chiến lượcphải bao gồm những phần, những công việc lớn mà chiến lược cần phải hướng tới,thực hiện và triển khai Trong đó, nội dung chiến lược cụ thể hóa là ngành cần phảiphát triển những lĩnh vực nào trong thời gian chiến lược Nói cách khác, nội dungchiến lược chính là các biện pháp cần thực hiện chiến lược Thông thường, nó bao

Trang 13

gồm một số nội dung như sau: phát triển nguồn nhân lực đầy đủ về số lượng cũngnhư về chất lượng cho ngành trong thời gian chiến lược; phát triển và ứng dụngcông nghệ nhằm đẩy nhanh cơ giới hóa sản xuất, tận dụng các công nghệ và xuhướng phát triển của thế giới chẳng hạn là thương mại điện tử và kinh doanh điệntử; hay phát triển hạ tầng về cơ sở vật chất (đường xá, cầu cống, nhà xưởng,…) làmthuận tiện giao thông liên lạc và hệ thống trao đổi, liên lạc thông tin trên Internet.

3 Các giải pháp chủ yếu và các chương trình trọng điểm

Các giải pháp chủ yếu và các chương trình trọng điểm là hướng dẫn cụ thể

về cách thức thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành các mục tiêu chiến lược đề ra Đểthực hiện thắng lợi các mục tiêu còn cần các giải pháp có tính đột phá của chiếnlược, nhằm vào các khâu yếu, khó khăn và phức tạp mà thực hiện nó sẽ tạo ra độnglực khai thác tốt nhất các nguồn lực cho phát triển

3.1 Các giải pháp chủ yếu: Thông thường sẽ có rất nhiều giải pháp để giải

quyết một vấn đề, tuy nhiên mức độ logic và bao trùm giữa các giải pháp cần đượcxem xét một cách kỹ lưỡng Trên đây là những giải pháp quan trọng cần phải thựchiện ngay tức thì hay từng bước một để nhằm đạt được mục tiêu chiến lược Nhữnggiải pháp trên không chỉ với mong muốn đạt được mục tiêu mà còn góp phần hoànthiện dần môi trường phát triển cho ngành hay bản thân của ngành đó Thôngthường, mỗi bản chiến lược phát triển ngành tập trung vào các giải pháp mang tính

cụ thể khác nhau Tuy nhiên, do đặc thù nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổisang nền kinh tế thị trường, sức cạnh tranh nội tại của các ngành còn kém và rời rạc

do ảnh hưởng từ thời kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, nên phần lớn các giảipháp thường tập trung vào: huy động nguồn vốn thực hiện chiến lược, phát triểnnguồn nhân lực, phát triển hệ thống nghiên cứu triển khai hay tăng cường hợp tác,liên kết trong nước và quốc tế

3.2 Các chương trình trọng điểm: bao gồm các chương trình phải được

thực hiện song song trong quá trình thực hiện đồng thời với các giải pháp đã nêu.Chúng là những công việc cụ thể phải cần thực hiện, trong đó còn là những dự ánmang tính cấp bách cần phải triển khai nhằm hỗ trợ cho các giải pháp và địnhhướng lớn thực hiện chiến lược Các chương trình trọng điểm có thể diễn ra đồngthời tùy thuộc vào tiềm lực tài chính đầu tư thêm hay năng lực sẵn có của ngành

Trang 14

III Tầm quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội

1 Vai trò đối với quốc gia

Không phải ngẫu nhiên mà khái niệm chiến lược lại được chuyển nhanh từquân sự, chính trị sang kinh tế, xã hội Nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trườnghội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nền kinh tế của mỗi nước trở thành một mắtxích trong hệ thống kinh tế thế giới, việc xây dựng và quản lý bằng chiến lược pháttriển là một yêu cầu bức thiết đặt ra và có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi quốcgia Sự cần thiết phải có chiến lược phát triển được lý giải bởi các lý do sau đây:

Thứ nhất, xuất phát tính chất cạnh tranh ngày càng sâu sắc của nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tê Nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế làm cho mỗi

quốc gia trở thành một khâu trong chuỗi dây chuyền giá trị toàn cầu, điều đó tạonhiều cơ hội để các nước có thể nhanh chóng thực hiện được mục tiêu phát triển.Tuy vậy, nó cũng tạo ra những thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nướcđang phát triển, vì thị trường chính là chiến trường Tính chất cạnh tranh trở nênngày càng khốc liệt hơn đòi hỏi mỗi quốc gia phải chủ động trong quá trình lựachọn, xác định tầm nhìn bao quát, tìm ra hướng đi trong dài hạn Như vậy, xây dựng

và quản lý bằng chiến lược phát triển sẽ giúp các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch địnhchủ động xem xét và xác định đất nước sẽ đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới,

là cơ sở cho sự thành công và chiến thắng trên bước đường thực hiện mục tiêu pháttriển của mình một cách có hiệu quả nhất

Thứ hai, những hạn chế, bất cập của nền kinh tế thị trường Trong điều kiện

nền kinh tế thị trường mở, điều kiện môi trường mà các quốc gia phải đối mặt luônbiến đổi nhanh chóng, những biến đổi nhanh chóng thường tạo ra hay làm mất đinhững cơ hội và nguy cơ bất ngờ trong các yếu tố môi trường phát triển Phươngthức quản lý bằng chiến lược giúp các nhà hoạch định chủ động và kịp thời dự báo,tính toán và xác định cơ hội và thách thức, nhằm tận dụng và khai thác triệt để cơhội, giảm thiểu tác động tiêu cực của thách thức để thực hiện mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội trong tương lai

Thứ ba, Chiến lược cung cấp một tầm nhìn và khuôn khổ chung cho xây dựng và triển khai các văn bản hoạch định ở các cấp thấp hơn Chúng ta hình dung

một người lái tầu trên biển cả mênh mông, nếu anh ta nhìn thấy ngọn đèn hải đăng,thì mặc dù ngọn đèn ấy hiện còn đang ở rất xa, nhưng nó có tác dụng định hướng,tạo niềm tin, cơ sở vững chắc để người lái tầu thực hiện các thao tác nghiệp vụ kỹthuật và xử lý tình huống Chiến lược đóng vai trò là ngọn đèn hải đăng trên biển,

Trang 15

nó được coi là một định hướng, là cơ sở cho xây dựng chính sách, quy hoạch và kếhoạch ngắn hạn, trung hạn Chiến lược cung cấp tầm nhìn và khuôn khổ tổng quátcho việc thực hiện các quan hệ hợp tác hay hội nhập quốc tế một cách chủ động và

có hiệu quả

2 Vai trò đối với ngành nói chung

Thứ nhất, chiến lược là căn cứ để hoạch định kế hoạch phát triển ngành.

Hoạt độn quản lý nền kinh tế - xã hội bằng kế hoạch được thực hiện bằng các kếhoạch trung hạn, ngắn hạn của Nhà nước và các ngành, các địa phương, vùng, lãnhthổ Các kế hoạch được xây dựng đều có đối tượng và nhiệm vụ riêng Nhưng tất cảcác kế hoạch đó không thể tránh được sự chỉ đạo chung của chiến lược, vì chiếnlược là sự trù tính cho toàn cục trong một thời kỳ nhất định Thực hiện các kế hoạch

cụ thể phải phục tùng chiến lược phát triển chung Chiến lược phát triển ngành trởthành chỗ dựa, là căn cứ căn bản để xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội ngành

Thứ hai, chiến lược là cương lĩnh hành động của quản lý kinh tế - xã hội ngành Hoạt động quản lý kinh tế - xã hội ngành rất rộng lớn và phức tạp Trong

điều kiện của nước ta, “Cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước XHCN”,Đảng và Nhà nước đã khẳng định: quản lý kinh tế - xã hội bằng nhiều công cụ chủyếu là lực lượng kinh tế nhà nước, trong đó Khoa học là công cụ chủ yếu quantrọng Tuy nhiên, kế hoạch không phải là quản lý, vì quản lý là khái niệm rất rộng.Một loạt các hoạt động khác không phải là kế hoạch như: chính sách, nhất là cácchính sách xã hội, lập pháp nhưng lại thuộc phạm trù quản lý Muốn đưa mọi hoạtđộng quản lý thuộc các lĩnh vực khác nhau, có đặc tính quản lý khác nhau vào trongmột tầm suy nghĩ chung, thì cần phải có chiến lược Vì vậy, chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội ngành đảm nhiệm chức năng là cương lĩnh thống nhất, hành độngquản lý mọi hoạt động kinh tế - xã hội ngành Ngoài ra, trong cơ chế Nhà nướcquản lý, thực hiện và quản lý do các đơn vị được Nhà nước giao nhiệm vụ ví dụnhư: các Bộ, các Tổng công ty 91… thì chiến lược là cụ thể hóa một bước đường lốiphát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, là cầu nối giữa đường lối với thực tiễnquản lý của Nhà nước, các đơn vị chủ quản và các doanh nghiệp tổ chức có liênquan trong ngành trên

Trang 16

IV Những nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triển ngành

1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô bao gồm tổng thể các nhân tố bên ngoài ngành, có tácđộng nhiều mặt đến các hoạt động của ngành, ảnh hưởng đến việc kinh doanh củadoanh nghiệp, đến việc hoạch định ra chiến lược thị trường của ngành Các nhân tốcủa môi trường vĩ mô bao gồm: môi trường quốc tế và môi trường trong nước

1.1 Môi trường quốc tế

Trong điều kiện ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa đời sống kinh tế - xã hộiđang diễn ra ngày một sôi động Nền kinh tế quốc gia là một bộ phận của nền kinh

tế khu vực và thế giới Các nền kinh tế đều mở cửa ra bên ngoài, đẩy mạnh các quan

hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế trở thành một xu thế bắt buộc, tất yếu Ảnhhưởng của môi trường quốc tế đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một nước chủyếu biểu hiện ở 3 mặt: lịch sử, hiện trạng và tương lai

Nếu so sánh tình hình phát triển của một đất nước nào đó với các nước cóchế độ kinh tế - xã hội khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế xã hội khác có thểthấy được chỗ mạnh, chỗ yếu về phương diện phát triển kinh tế - xã hội của nước

đó, tạo cơ sở cho một sự phát triển tiên tiến hơn, khoa học hơn

Việc tham khảo các nước tiên tiến, cho phép học hỏi kinh nghiệm, tránh lặplại những vết xe đổ, tránh đi đường vòng và cho phép lựa chọn con đường rút ngắnnhằm đạt tới mục tiêu một cách hiệu quả

Môi trường quốc tế chứa đựng nhiều yếu tố tác động đến nền kinh tế - xã hộicủa một nước: khoa học – công nghệ, quan hệ thương mại, thị trường, đầu tư, cảnhững vấn đề chiến lược quân sự, chính trị Vì vậy, phân tích môi trường quốc tế làmột căn cứ quan trọng trong việc hoạch định chiến lược

Bối cảnh quốc tế và khu vực là điều kiện bên ngoài của sự phát triển mỗiquốc gia Trong điều kiện ngày nay, điều kiện trong nước phải được xem xét trongmối quan hệ chặt chẽ với điều kiện quốc tế mới có khả năng phát triển được và hơnnữa là phát triển năng động có hiệu quả Bối cảnh thế giới và khu vực là một trongnhững căn cứ khoa học quan trọng khi hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xãhội của mỗi quốc gia

Phân tích bối cảnh quốc tế bao gồm:

- Xu thế hòa bình và hợp tác tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững và lâudài, tránh được tổn hại do chiến tranh hay các cuộc tranh chấp thương mạikhông đáng có gây nên

Trang 17

- Tác động của khoa học – công nghệ, đây là yếu tố tạo bước đột phá quantrọng nhất trong thời đại hiện nay Nhờ có sự tác động của khoa học côngnghệ mà rất nhiều công việc đã thực hiện được trong những lĩnh vực ngoàitầm của con người, ví dụ như phát minh ra các rô bốt đi lên và thăm dò mặttrăng…

- Toàn cầu hóa và khu vực hóa, giúp cho các nước và các khu vực trở lên gầngũi nhau hơn, đặc biệt thông qua Internet đã là thế giới truyền tải thông tinmột cách hiệu quả và nhanh chóng hơn

- Những xu hướng biến đổi môi trường và yêu cầu phát triển bền vững toàncầu tác động đến mỗi nước

Từ phân tích bối cảnh quốc tế, có thể rút ra những cơ hội và khó khăn tháchthức

Những cơ hội:

- Tranh thủ được điều kiện hòa bình ổn định trong khu vực để tập trung sứcphát triển kinh tế

- Ngăn ngừa được phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế

- Có điều kiện phát huy lợi thế so sánh, mở rộng thị trường quốc tế, thu hútđầu tư, chuyển giao công nghệ

- Có cơ hội đấu tranh để được hưởng ưu đãi dành cho các nước chậm pháttriển và các nền kinh tế đang chuyển đổi

- Nâng cao vị thể đất nước trong đàm phán quốc tế

Những khó khăn thách thức:

- Chênh lệch về trình độ phát triển, đặc biệt là sự tụt hậu ngày càng xa hơn sovới các nước, dẫn đến năng suất lao động luôn thấp hơn so với các nước vàphụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài

- Sức ép của cạnh tranh trong môi trường kinh tế chung, đó chính là một phầncủa hội nhập, sức ép đó ngày càng mạnh thêm khi quá trình hội nhập ngàycàng sâu sắc hơn

- Tiến trình hội nhập có thể làm giảm thu ngân sách do giảm thuế nhập khẩu

- Tình hình thế giới đòi hỏi phải chú ý đến an ninh – quốc phòng trong bố tríchiến lược v.v…

Trang 18

1.2 Môi trường trong nước

Môi trường kinh tế vĩ mô

Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hường rất mạnh tới tìnhhình kinh doanh của doanh nghiệp, các ảnh hưởng chủ yếu của môi trường này baogồm: tốc độ tăng trường kinh tế, lãi suất ngân hàng, chu kỳ kinh tế, cán cân thanhtoán, chính sách tài chính tiền tệ Môi trường kinh tế có thể là nguy cơ hoặc manglại cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp Một môi trường kinh tế tăng trưởng ổnđịnh, khống chế được lạm phát, kiểm soát được tiền tệ… sẽ tạo thuận lợi cho doanhnghiệp Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định cũng ảnh hưởng đến khả năng sảnxuất, đến tổng cầu và tổng cung về hàng hóa dịch vụ Kinh tế tăng trưởng cao tạođiều kiện gia tăng thu nhập của dân cư và từ đó ảnh hưởng đến khả năng tăng nhucầu về hàng hóa dịch vụ của hãng

Môi trường chính trị, pháp luật

Các yếu tố thuộc môi trường chính trị pháp luật có ảnh hưởng ngày càng lớnđến hoạt động của doanh nghiệp Các yếu tố đó bao gồm:

- Tình hình chính trị quốc gia và xu hướng phát triển của nó

- Cơ cấu giai cấp và xã hội

- Chủ trương, chính sách và các đường lối của Đảng

- Nếu môi trường chính trị ổn định, các chính sách và hệ thống pháp luật rõràng minh bạch, công bằng…sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanhmột cách lâu dài và ổn định

Môi trường văn hóa, xã hội

Đây là một yếu tố hết sức phức tạp, để có thể nắm bắt được nó không phải làđiều dễ dàng và không thể thực hiện ngay được nhưng nó lại có tác động khá mạnhtới việc xây dựng chiến lược thị trường cho doanh nghiệp Nhân tố văn hóa là tổng

tể các yếu tố tập quán, truyền thống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, đời sống tâmlinh của con người…Nó có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi, tập quán, thói quen, thịhiếu của người tiêu dùng Như vậy, để có một chiến lược thị trường thành công thìdoanh nghiệp cần phải hiểu một cách cặn kẽ về đặc điểm của người tiêu dùng để từ

đó đưa ra chiến lược một cách phù hợp nhất

Trang 19

Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đếnnguồn lực đầu vào cần thiết cho nhà sản xuất và ảnh hưởng cả đến vấn đề tiêu thụcủa doanh nghiệp Việc phân tích cặn kẽ môi trường tự nhiên trước hết giúp doanhnghiệp đánh giá được tình trạng cung ứng các nguồn năng lượng hay nguyên liệu,đánh giá được vấn đề môi trường tự nhiên của doanh nghiệp

Môi trường khoa học công nghệ

Môi trường khoa học và công nghệ có ảnh hưởng rất lớ tới đặc điểm sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Nó tác động tới việc đổi mới máy móc thiết bị đangsản xuất của doanh nghiệp Sự phát triển sản xuất của doanh nghiệp phụ thuộc vào

sự phát triển của khoa học và công nghệ Do vậy, một khi doanh nghiệp nắm bắtđược sự phát triển của khoa học công nghệ, chú ý đổi mới công nghệ sản phẩm phùhợp với thị hiếu người tiêu dùng thì doanh nghiệp đó sẽ chiếm lĩnh được thị trường

2 Các nhân tố thuộc môi trường nội bộ ngành

Việc hiểu biết và phân tích môi trường ngành giúp cho những nhà hoạchđịnh chiến lược tránh được nhiều sai sót hơn với thực tế phát triển ngành Thực tế,các doanh nghiệp luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cạnh tranh nhau mộtcách khốc liệt đối với các doanh nghiệp trong ngành Các doanh nghiệp khi hoạtđộng kinh doanh thì luôn phải chịu 5 áp lực cạnh tranh (theo Michael Porter) đó là:

- Sức ép từ phía đối thủ cạnh tranh

Các đối thủ cạnh tranh cũng có những tham vọng, những kế sách, chiến lượcriêng Do vậy, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp cần phải hướng vào tạo ra

Trang 20

sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh của mình trên những lĩnh vực then chốt bằngcách so sánh các yếu tố, khả năng của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh.

V Sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ

1 Cơ sở pháp lý nghiên cứu chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ

Dưới đây là một số văn bản pháp lý tạo điều kiện cho việc hình thành chiếnlược phát triển ngành Công nghiệp chế biến gỗ nhằm giúp Ngành phát triển mạnh

mẽ hơn, đủ sức đáp ứng nhu cầu về sản phẩm chế biến gỗ của thị trường nội địa và

đủ sức hội nhập vào nền kinh tế thế giới

- Luật Doanh nghiệp, số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và các văn bảndưới Luật;

- Luật Bảo vệ Môi trường, số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và các vănbản dưới Luật

- Luật Đấu thầu, số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và các văn bản dướiLuật;

- Luật Bảo vệ Môi trường, số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và các vănbản dưới Luật;

- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục

vụ phát triển nông thôn;

- Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 4/6/2010 của Chính Phủ về chính sáchkhuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;

- Quyết định số 150/2004/QĐ-TTg ngày 20/06/2004 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu nông lâm nghiệp và thuỷ sản của cảnước đến năm 2010 và tầm nhìn 2020;

- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020;

- Chỉ thị số 19/2004/CT-TTg ngày 01/6/2004 về Một số giải pháp phát triểnngành chế biến gỗ và xuất khẩu sản phẩm gỗ

Trang 21

- Quyết định 2511/BNN-KH ngày 20/8/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp

và phát triển nông thôn về việc chuẩn bị các dự án trong kế hoạch năm 2009;

- Quyết định số 20/2008/QĐ-BNN ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Nôngnghiệp và PTNT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaCục Chế biến, Thương mại nông lâm thuỷ sản và nghề muối;

- Thông tư số 95/2004/TT-BTC ngày 11/10/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫnmột số chính sách hỗ trợ tài chính và ưu đãi về thuế phát triển vùng nguyên liệu vàcông nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, muối

2 Cơ sở khách quan nghiên cứu chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ

Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010, công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đãđạt được tốc độ tăng trưởng đáng kể cả về quy mô phát triển, chất lượng sản phẩm

và đặc biệt là giá trị kim ngạch xuất khẩu Với hơn 1200 doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực chế biến gỗ năm 2000, đến năm 2009, cả nước đã có trên 2500 doanhnghiệp, trong đó nhiều doanh nghiệp đã phát triển thành các tập đoàn lớn Chấtlượng sản phẩm gỗ được nâng cao, minh chứng là giá trị kim ngạch xuất khẩu sảnphẩm gỗ của Việt Nam liên tục tăng trong 10 năm qua: giá trị kim ngạch xuất khẩunăm 2000 đạt 219 triệu USD; năm 2009 đạt 2.620 triệu USD; tính bình quân giá trịkim ngạch xuất khẩu đồ mộc tăng bình quân 500 triệu USD/năm Sản phẩm gỗ củaViệt Nam đã có mặt trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó các thị trườngxuất khẩu chủ yếu là Hoa Kỳ (chiếm 38%-41% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu),các nước thuộc khối EU (chiếm 28-44% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu) và NhậtBản (chiếm 12-15% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu)

Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng và thuận lợi của ngành, hiện nay, côngnghiệp chế biến gỗ của nước ta cũng đang gặp rất nhiều khó khăn và bộc lộ nhữngđiểm yếu kém từ khi chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung mệnh lệnh sang cơchế thị trường Những năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến gỗ phát triển cóbước phát triển vượt bậc song chưa vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiếnlược, tính cạnh tranh chưa cao, sự liên kết và phân công sản xuất chưa tốt (chưa có

sự chuyên môn hoá, chưa có phân công sản xuất theo vùng, tiểu vùng…), chưa xâydựng được thương hiệu trên thị trường thế giới, thiếu vốn đầu tư cho phát triển vàhiện đại hoá công nghệ

Trang 22

Trong cuộc cạnh tranh mạnh mẽ của ngành chế biến gỗ Việt Nam trên thịtrường chế biến gỗ thế giới hiện nay, sau hội nhập WTO, ngành chế biến gỗ ViệtNam đã bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế về mẫu mã, chất lượng, thương hiệu, phápluật thương mại quốc tế, tiêu chuẩn, chứng chỉ quốc tế, thương mại điện tử…v.v.

Đó là chưa kể đến những cạnh tranh (kể cả cạnh tranh không lành mạnh) trong nội

bộ các doanh nghiệp trong nước, cũng là một trong số các nguyên nhân làm cho cácdoanh nghiệp Việt Nam chỉ gia công sản phẩm gỗ xuất khẩu mà không mangthương hiệu của mình trên thị trường quốc tế

Xuất phát từ thực tế trên đây, việc xây dựng Chiến lược phát triển ngànhCông nghiệp chế biến gỗ là hết sức cần thiết Chiến lược này sẽ là cơ sở để gópphần giải quyết những yếu kém, khó khăn thách thức của công nghiệp chế biến gỗViệt Nam và định hướng cho công nghiệp chế biến gỗ nước ta phát triển một cách

- Mục đích của chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ là đánhgiá hiện trạng, cân đối giữa năng lực và mục tiêu phát triển, đề ra giải pháp sử dụngtối đa năng lực đầu tư, xác định nhu cầu và đầu tư chiều sâu, đầu tư mới và các nhucầu khác, từ đó nhằm tổ chức lại và xây dựng công nghiệp chế biến gỗ trở thànhmũi nhọn kinh tế của ngành Lâm nghiệp với trình độ chuyên môn hóa cao và phâncông sản xuất tối ưu theo vùng, tiểu vùng, hình thành và phát triển các Tập đoànphân phối sản phẩm gỗ Việt Nam cả trên thị trường quốc tế và thị trường nội địa.Tiếp thu ứng dụng khoa học công nghiệp chế biến mới, đưa thương mại sản phẩm

gỗ Việt Nam đạt trình độ tiên tiến, hiện đại cả về công nghệ thiết bị và khả năngtham gia chuỗi giá trị toàn cầu

Trang 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ

BIẾN GỖ Ở VIỆT NAM

I Giới thiệu chung về ngành công nghiệp chế biễn gỗ ở Việt Nam

1 Giới thiệu chung

Công nghiệp chế biến gỗ hiểu theo nghĩa rộng là ngành bao gồm tất cả cáchoạt động sử dụng máy móc, thiết bị và hoá chất thực hiện quá trình chuyển hoá gỗthành các sản phẩm thoả mãn các nhu cầu của con người Theo nghĩa hẹp, côngnghiệp chế biến gỗ là ngành bao gồm các hoạt động sử dụng nguyên liệu là gỗ đểsản xuất ra các sản phẩm gỗ ngoài trời, trong nhà, ván nhân tạo, đồ gỗ mỹ nghệ, vàcác sản phẩm gia dụng có sự kết hợp giữa gỗ với các vật liệu khác, Nhìn chung sựkhác biệt chủ yếu giữa hai cách hiểu là việc có bao gồm hay không bao gồm cáchoạt động sản xuất giấy, dầu sinh học – tức là các hoạt động sử dụng gỗ làm nguyênliệu và các phương pháp hoá học để tạo ra những sản phẩm Ở đây, ngành côngnghiệp chế biến gỗ được hiểu theo quan niệm hẹp và các vấn đề liên quan đến quyhoạch cũng chỉ xem xét trong phạm vi của quan niệm hẹp

2 Vị trí, vai trò của ngành trong nền kinh tế quốc dân

Công nghiệp chế biến sản phẩm gỗ của Việt Nam cho đến nay vẫn được coi làmột ngành không thể thiếu được trong nền kinh tế quốc dân Vị trí này xuất phát từnhững đặc điểm sau đây:

Một, đây là ngành sản xuất và cung cấp các sản phẩm rất cần thiết cho đờisống hàng ngày của người dân Việt Nam – cho đến nay mặc dù trình độ khoa học,công nghệ đã phát triển nhưng vẫn chưa tạo ra được sản phẩm thay thế có hiệu quảhơn Không có số liệu thống kê đầy đủ nhưng dễ dàng nhìn thấy rằng ngành côngnghiệp chế biến gỗ của nước ta đang tạo ra hàng nghìn loại sản phẩm đáp ứng cácnhu cầu của người dân, trong đó có nhiều sản phẩm không chỉ đơn thuần mang ýnghiã tiêu dùng mà còn mang nặng những ý nghĩa văn hoá và tâm linh, với tổng giátrị mỗi năm đạt hàng nghìn tỷ đồng

Trang 24

Biểu đồ 1 Giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam trong 5

năm vừa qua

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010, Tổng cục Thống kê, 2011)Hai, sự phát triển của công nghiệp chế biến đang có vai trò rất quan trọngtrong vấn đề tạo việc làm cho người lao động Hiện tại, bên cạnh việc sử dụng một

nửa triệu công nhân trong các cơ sở chế biến, công nghiệp chế biến gỗ với nhu cầutiêu dùng hàng triệu m3 gỗ nguyên liệu từ rừng trồng đang góp phần giải quyết việclàm và thu nhập cho hàng triệu hộ gia đình nông dân nghèo ở những vùng có điều

kiện sản xuất nông nghiệp khó khăn của nước ta

Ba, sự phát triển theo hướng sản xuất và cung cấp các sản phẩm cho thị trườngquốc tế không chỉ làm tăng thêm thu nhập cho sản xuất mà còn đóng góp vào thu ngoại

tệ cho các hoạt động thương mại và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Bảng 1 Số hộ gia đình có rừng trồng ở Việt Nam

Vùng Tổng số Số HGĐ phân theo quy mô diện tích trồng củaDT rừng

HGĐ (ha)

<1 ha 1-3 ha 3-5 ha >5 haToàn quốc 1.010.869 677.898 256.487 46.381 30.103 1.219.919

Trang 25

Biểu đồ 2 Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam

trong 5 năm qua

(Nguồn: Tổng Cục Thống kê, 2011)

Bốn, sự phát triển của công nghiệp chế biến đóng vai trò to lớn đối với môitrường và sự phát triển bền vững của toàn xã hội Sự phát triển của công nghiệp chếbiến gỗ chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế, lợi nhuận và bỏ qua việc thực hiện các hoạtđộng hoặc các tác động đến môi trường sẽ gây ra những thảm hoạ về ô nhiễmkhông khí, ô nhiễm nguồn nước, kích thích sự phá rừng … Do vậy, luôn phải đặt sựphát triển công nghiệp chế biến gỗ trong mối quan hệ với bảo vệ môi trường tức làgiảm thiểu những tác động tiêu cực đến không khí, môi trường nước và sự phárừng

Năm, dân số và điều kiện kinh tế càng phát triển thì nhu cầu của con ngườiđối với các sản phẩm gỗ ngày càng gia tăng cả về số lượng, chủng loại và chấtlượng

Sáu, làm tăng giá trị gia tăng của các mặt hàng chế biến từ gỗ

II Các điều kiện và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp chế biến gỗ

1 Các yếu tố thuận lợi

1.1 Những yếu tố tự nhiên là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp chế biến gỗ

Nước ta có chiều dài bờ biển tới 3.260 km với nhiều cảng biển chạy dọc theochiều dài của đất nước là yếu tố địa lý thuận lợi cho vận chuyển nguyên vật liệu,

Trang 26

trao đổi sản phẩm trong nước và quốc tế Theo đánh giá chung, đây là yếu tố đang

và sẽ góp phần tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến cácsản phẩm gỗ Sự thực, hệ thống cảng và vận tải đường biển đang góp phần vào tạo

ra những lợi thế so sánh cho các hoạt động chế biến gỗ bởi thông qua yếu tố này các

cơ sở chế biến của nước ta hàng năm có thể vận chuyển hàng triệu m3 gỗ nguyênliệu nhập khẩu từ nhiều nước trên thế giới với chi phí thấp, đồng thời xuất khẩuhàng triệu tấn sản phẩm để bán ra thị trường quốc tế cũng với giá thành vận chuyểnthấp

Hàng chục triệu ha đất lâm nghiệp có khả năng và điều kiện đất đai, khí hậuphù hợp với nhiều loài cây mọc nhanh để cung cấp gỗ nguyên liệu: Hiện tại cả nước

có 6,3 triệu ha đất lâm nghiệp đang được sử dụng để sản xuất gỗ và lâm sản Sảnlượng gỗ sản xuất ra ở diện tích này đang có mức tăng trưởng khá

Bảng 2 Hiện trạng và quy hoạch rừng sản xuất ở Việt Nam

Loại rừng và đất lâm nghiệp

Hiện trạngrừng năm2005

Quy hoạchNăm 2010 Năm

2020Tổng diện tích đất lâm nghiệp 19,02 16,24 16,24

(Nguồn: Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020)

Biểu đồ 3 Sản lượng gỗ khai thác hàng năm của Việt Nam giai đoạn 2000-2010

(Nguồn: Tổng Cục Thống kê, 2011)

Trang 27

1.2 Những yếu tố kinh tế - xã hội là điều kiện thuận lợi cho công nghiệp chế biến gỗ

Một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự pháttriển của ngành công nghiệp chế biến gỗ chính là đường lối và chính sách phát triểnkinh tế theo hướng hội nhập, khuyến khích đầu tư nước ngoài, đầu tư của tư nhântrong nước và các chương trình, định hướng phát triển lâm nghiệp luôn được nhấnmạnh trong các văn bản, báo cáo chính trị của Đảng và Nhà nước, trong đó vấn đềphát triển trồng rừng phục vụ cho các hoạt động chế biến đặc biệt được coi trọng Bên cạnh đó, sự quan tâm của Nhà nước đến phát triển các hoạt động sảnxuất và kinh doanh các sản phẩm gỗ của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh làrất lớn Thật vậy, cho đến những năm cuối 1990, hệ thống chế biến lâm sản của ViệtNam chỉ là một số lượng nhỏ các doanh nghiệp chế biến lâm sản của nhà nước vớinhững máy thiết bị chế biến lạc hậu, sản xuất theo kế hoạch của nhà nước, sử dụngnguyên liệu là gỗ rừng tự nhiên, và hầu hết các doanh nghiệp này đều nằm trongtình trạng làm ăn thua lỗ Đường lối và chính sách đổi mới nhằm phát triển cácthành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã tạo ra sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngànhcông nghiệp chế biến gỗ Tính đến cuối năm 2007 Việt Nam có 2.526 doanh nghiệpchế biến các sản phẩm gỗ, tăng 2,8 lần so với năm 2000, và 7,7 lần so với năm

1990 Trong đó, 96% tổng số doanh nghiệp chế biến gỗ hiện nay là doanh nghiệpdân doanh

Nhu cầu tiêu dùng đồ gỗ trong nước tiếp tục tăng: Nền kinh tế trong nướctăng trưởng khá và tạo ra những chuyển biến tích cực về thu nhập và điều kiện sốngcủa người dân Theo thống kê, tổng sản phẩm trong nước năm 2010 tính theo giáthực tế ước đạt 1.980.914 tỷ đồng, tăng 2,36 lần so với năm 2005 GDP bình quânđầu người năm 2010 ước đạt 22,79 triệu đồng Thu nhập bình quân đầu người đãđạt 16,65 triệu đồng, tăng 2,18 lần so với năm 2006 Những chuyển biến về thunhập và đời sống đang kéo theo sự gia tăng về nhu cầu tiêu dùng sản phẩm gỗ

Bảng 3 Sự tăng trưởng về GDP bình quân một người giai đoạn 2001- 2010

Trang 28

km đường quốc lộ nối liền các khu vực có dân số lớn, bên cạnh đó hệ thống cácđường tỉnh lộ, huyện lộ và hệ thống đường giao thông liên huyện và liên xã đã cónhững sự cải thiện rất lớn, đang tạo ra điều kiện thuận tiện cho luân chuyển hànghoá nói chung và các sản phẩm gỗ nói riêng đến phục vụ nhu cầu của người dântrên địa bàn cả nước Mặt khác, hệ thống đường bộ có chất lượng cao đến các cửakhẩu các nước láng giềng (Lào, Campuchia, Trung Quốc) đã được hoàn thành trongthời gian gần đây cũng đã bắt đầu phát huy tác dụng trong vận chuyển gỗ nguyênliệu và tiêu thụ sản phẩm gỗ.

Hệ thống sông ngòi có dòng chảy từ các vùng miền núi, là các vùng sản xuất

gỗ nguyên liệu, xuống vùng đồng bằng, là khu vực có đông dân cư, thuận tiện đểphát triển các cơ sở chế biến gỗ và đổ ra biển, là nơi có thể trao đổi hàng hoá quốc

tế, đang ngày càng đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngànhcông nghiệp chế biến gỗ có đặc điểm là khối lượng nguyên liệu sử dụng lớn, kíchthước phức tạp và cồng kềnh

Hệ thống thông tin liên lạc đã có sự phát triển mạnh mẽ Chính sự phát triểncủa hệ thống thông tin liên lạc đã đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự pháttriển của các hoạt động chế biến gỗ trong thời gian qua, đặc biệt trong việc giúpnhững nhà sản xuất sản phẩm gỗ của Việt Nam thực hiện được việc quảng bá sảnphẩm ra thị trường quốc tế, kết nối với những bạn hàng ở nước ngoài và thực hiệncác giao dịch thương mại điện tử … Trong khi đó hệ thống liên lạc điện thoại đanggiúp cho việc thu nhận, tìm kiếm thông tin và mua bán nguyên vật liệu phục vụ sảnxuất thuận tiện hơn ở gần như tất cả mọi nơi trong lãnh thổ của Việt Nam

Nguồn nhân lực Việt Nam đang ở trong giai đoạn dân số vàng, nên lực lượnglao động đang khá dồi dào Theo số liệu thống kê, năm 2010 nước ta có lực lượnglao động là 50,4 triệu người, chiếm 58% tổng dân số So với năm 2005, lực lượnglao động của nước ta đã tăng lên 12,2%, tức là bình quân mỗi năm lực lượng laođộng tăng thêm 2% Về cơ bản lực lượng lao động đều là lao động trẻ và có trình độhọc vấn ở cấp độ phổ thông khá cao

Biểu đồ 4 Dân số và lao động phân theo vùng, năm 2010

Trang 29

2 Các yếu tố không thuận lợi

2.1 Những yếu tố tự nhiên là điều kiện không thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp chế biến gỗ

Điạ hình phức tạp và chia bị cắt mạnh: Hầu hết diện tích đất lâm nghiệp đượcquy hoạch để sản xuất gỗ nguyên liệu của nước ta đều có điạ hình phức tạp và rấtphức tạp, độ dốc lớn và nhiều nơi bị chia cắt rất mạnh Điều này không chỉ gây khókhăn cho các hoạt động xây dựng cơ bản khâu lâm sinh (sản xuất gỗ), mà còn gâykhó khăn cho vận chuyển gỗ khai thác được và gia tăng chi phí vận chuyển

Khả năng cung cấp gỗ của rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm: Hiện tại ViệtNam có 10,3 triệu ha rừng tự nhiên, trong đó có 4,17 ha rừng tự nhiên sản xuất.Song, phần lớn diện tích rừng tự nhiên là rừng nghèo kiệt – trữ lượng thấp – bị khaithác quá mức Rất nhiều khu vực rừng tự nhiên sản xuất đã mất khả năng tái sảnxuất gỗ Mặt khác, diện tích rừng tự nhiên sản xuất tiếp tục bị suy giảm do việcchuyển đổi đất canh tác

Trang 30

2.2 Những yếu tố kinh tế - xã hội là điều kiện không thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp chế biến gỗ

- Sự hạn chế về khả năng đầu tư: Trong một thời gian dài, tư duy, lý luận vàthực hành phát triển sản xuất của Việt Nam nói chung và trong các hoạt động chếbiến gỗ nói riêng không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế, các loạihình tổ chức sản xuất của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Tuy nhiên từ năm

1986, Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới theo hướng pháttriển kinh tế, các thành phần kinh tế và các loại hình tổ chức sản xuất Từ đó đếnnay, thành phần kinh tế tư nhân đã có sự phát triển mạnh mẽ Tuy vậy, tiềm năngvốn sản xuất của thành phần kinh tế tư nhân còn rất nhỏ bé, trình độ và năng lực tổchức sản thấp Nhìn chung, thành phần kinh tế tư nhân của nước ta vẫn chưa thể cóđược khả năng đầu tư phát triển sản xuất với dây chuyền công nghệ hiện đại để sảnxuất ra sản phẩm có chất lượng và quy mô lớn

- Thiếu công nhân lao động lành nghề: Nước ta đang có một số lượng lớn laođộng trẻ và có sức khoẻ tốt, nhưng phần lớn số lao động này chưa được đào tạo để

có chuyên môn, kỹ thuật và kỹ năng lao động đáp ứng ngày càng tăng nhu cầu pháttriển sản xuất theo hướng ứng dụng khoa học, công nghệ và phân công lao độngquốc tế Điều này đang dẫn đến Việt Nam thừa lao động, nhưng lại thiếu nhữngcông nhân có thể làm việc được trong những nhà máy, xưởng sản xuất có thiết bị vàcông nghệ chỉ ở mức độ trung bình hiện nay

- Sự không thống nhất trong tổ chức thực hiện chính sách của các cấp chínhquyền địa phương: Trong những năm vừa qua, đã có nhiều chính sách tạo điều kiện

để các thành phần kinh tế, những người có khả năng về tài chính đầu tư phát triểncác hoạt động trồng rừng và chế biến lâm sản nhưng trong thực tế, do việc thựchành chính sách ở các tỉnh rất khác nhau nên việc phát triển công nghiệp chế biến

gỗ của cả nước có phần bị hạn chế

- Các chính sách quản lý và sử dụng rừng tự nhiên không phù hợp: Việt Nam

đã từng được coi là một nước có diện tích rừng tự nhiên với trữ lượng, sự đa dạngcủa các loại gỗ cao Tuy nhiên, do những sự yếu kém trong hoạch định và tổ chứcthực hiện các chính sách quản lý và sử dụng không hợp lý nên về cơ bản rừng tựnhiên đã bị khai thác cạn kiệt, mất khả năng tự phục hồi Kể cả khi xây dựng được

và thực hiện tốt các chính sách phát triển bền vững rừng tự nhiên thì cũng phải đợi

từ 20 đến 30 năm nữa sản lượng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên của Việt Nam mới cóthể có khối lượng tăng lên đáng kể so với sản lượng khai thác hiện tại

Trang 31

- Hoạt động kinh doanh rừng trồng mới chưa trở thành phong trào phổ biến:

Do những bất cập trong thực thi các chính sách khuyến khích phát triển các hoạtđộng kinh doanh rừng nên mới chỉ có một số tỉnh trong Vùng Đông Bắc và VùngBắc Trung Bộ (như: Phú Thọ, Yên Bái, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, ThừaThiên Huế) có nhiều người quan tâm đầu tư phát triển rừng trong những năm gầnđây Điều này cũng có nghiã là diện tích rừng trồng chưa cung cấp được nhiều gỗ

để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

- Trình độ kinh doanh rừng còn thấp: Lực lượng then chốt thực hiện trồngrừng và cung cấp gỗ hiện nay là hộ gia đình Đại bộ phận hộ gia đình sử dụng cácloài cây mọc nhanh để trồng rừng với kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác rừngchủ yếu xuất phát từ những kinh nghiệm cá nhân và học hỏi từ người quen Chính

vì vậy, năng suất rừng thường thấp, sản phẩm thu được phần lớn là gỗ đường kínhnhỏ và chỉ thích hợp cho công nghiệp sản xuất giấy hoặc ván nhân tạo Mặt khác,các hoạt động kinh doanh chưa quan tâm đến cải tạo đất và hạn chế những tác độngtiêu cực đến môi trường

III Đánh giá thực trạng phát triển của ngành công nghiệp chế biến gỗ thời gian qua

1 Tổng quan về số lượng, loại hình tổ chức sản xuất và phân bố của các cơ sở chế biến gỗ ở Việt Nam

1.1 Số lượng và các loại hình tổ chức sản xuất

Trong 10 năm vừa qua ngành công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam đã cónhững thay đổi về số lượng doanh nghiệp chế biến gỗ và có sự biến đổi sâu sắc vềphân bố của các doanh nghiệp chế biến gỗ Số lượng doanh nghiệp chế biến gỗ ởViệt Nam đã có sự tăng trưởng rất nhanh Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, sốlượng các doanh nghiệp chế biến gỗ đã tăng lên 3126 doanh nghiệp, tăng 23,75%;

và năm 2009 là 3930 doanh nghiệp, tăng 25,72% so với năm 2008 và 55,58% so với

số liệu thống kê năm 2007 Số lượng doanh nghiệp chế biến gỗ ở miền Bắc vẫn tiếptục xu hướng tăng chậm, trong khi miền Nam vẫn tiếp tục xu hướng tăng mạnh Sốlượng doanh nghiệp của miền Nam hiện chiếm 80% số lượng doanh nghiệp của cảnước Ở miền Bắc, có nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ đã được thành lập ở các vùngĐông bắc và Đồng bằng Sông Hồng Ở miền Nam, số lượng doanh nghiệp tập trung

ở vùng Duyên Hải Miền Trung (Đà Nẵng, Bình Định), Tây Nguyên (Gia Lai, LâmĐồng), Đông Nam Bộ (Bình Dương, Đồng Nai)

Trang 32

Cùng với sự tăng trưởng về số lượng là sự phát triển của các loại hình tổ chứcsản xuất Việc thực hành Luật Doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho sự hình thànhnhiều các loại hình tổ chức kinh doanh chế biến gỗ Đến nay, ngành chế biến gỗ củaViệt Nam có các loại hình tổ chức sản xuất và kinh doanh, như công ty trách nhiệmhữu hạn (TNHH), doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần và tập đoàn.

Xem xét từ góc độ sở hữu, các đơn vị chế biến gỗ hiện nay có thể xếp vào bốnnhóm: Các cơ sở chế biến do nhà nước làm chủ sở hữu, các cơ sở chế biến do tưnhân làm chủ sở hữu (doanh nghiệp dân doanh), các cơ sở chế biến do các cá nhân

và tổ chức nước ngoài làm chủ sở hữu và các cơ sở sở hữu hỗn hợp, trong đó chiếmđại bộ phận các doanh nghiệp chế biến của công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam

là doanh nghiệp dân doanh Theo số liệu tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, sốlượng doanh nghiệp dân doanh trong nước hiện nay chiếm xấp xỉ 87,5% tổng sốdoanh nghiệp chế biến gỗ

Tổng số doanh nghiệp chế biến gỗ có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạtđộng từ năm 1990 đến tháng 6 năm 2008 là 421doanh nghiệp, trong đó doanhnghiệp liên doanh là 22 và 399 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Các nhà đầu tưvào ngành chế biến gỗ của Việt Nam đến từ 26 nước và vùng lãnh thổ, trong đó Đàiloan có nhiều doanh nghiệp nhất và số lượng là 183, chiếm 43,5% tổng số doanhnghiệp, sau đó là Hàn quốc, Anh, Nhật và Trung quốc

Từ năm 2000 đến nay số lượng và vị trí của các doanh nghiệp nhà nước đã có

sự suy giảm rất lớn do kinh doanh không có hiệu quả, thiếu đầu tư và tình trạngtham nhũng ở các cơ quan quản lý các quan chức năng Hiện chỉ còn một số lượngnhỏ DNCBGNN tập trung ở một số vùng như Tây nguyên, Tây Bắc và Đông Bắc

1.2 Phân bố của các doanh nghiệp

Chính phủ luôn có chủ trương và thực hiện khuyến khích xây dựng doanhnghiệp chế biến gỗ gần vùng nguyên liệu, nhưng trong thực tiễn các doanh nghiệpchế biến gỗ từ trước đến nay lại phân bố tập trung ở các thành phố lớn, vùng đôngdân cư, gần vùng tiêu thụ và có cơ sở hạ tầng tốt, chứ không gần vùng nguyên liệu.Phát triển công nghiệp chế biến hướng về xuất khẩu, nên những năm gần đây rấtnhiều doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu được xây dựng trong các khu côngnghiệp hoặc khu chế xuất, gần cảng biển thuận tiện cho việc nhập khẩu gỗ nguyênliệu và xuất khẩu sản phẩm, như khu công nghiệp Phú Tài ở tỉnh Bình Định, hoặc ởkhu công nghiệp Sóng Thần ở tỉnh Bình Dương Đặc biệt, các doanh nghiệp chế

Trang 33

biến dăm gỗ xuất khẩu đều phân bố ở các tỉnh duyên hải có các cảng biển nước sâu

và các doanh nghiệp có công suất lớn thường được đặt tại các cảng cho tàu trọng tảitrên 8.000 tấn

Mặt khác do diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam đã bị cạn kiệt, rừng trồngphân tán và chỉ cung cấp gỗ tròn có đường kính nhỏ, trong khi đó các doanh nghiệpcần gỗ có đường kính lớn và sản phẩm được sản xuất ra để xuất khẩu, nên cácdoanh nghiệp chế biến sản phẩm phải tập trung vào những khu vực gần cảng biển

để thuận tiện cho nhập khẩu gỗ nguyên liệu và xuất khẩu sản phẩm

Sự phân bố tập trung của các doanh nghiệp chế biến gỗ ở khu vực Đông Nam

Bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ có thể xem xét thêm từ về góc độ thuận lợi về môitrường sản xuất kinh doanh của các Tỉnh, Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh vàmột tỉnh miền Đông Nam Bộ, Vùng Duyên Hải miền Trung có Đà Nẵng, BìnhĐịnh, Quảng Nam đều có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI ở mức khá đến rấttốt Điều đó thể hiện tại các vùng này, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệpchế biến gỗ nói riêng sẽ tiết kiệm được chi phí gia nhập thị trường, chi phí thời gianthực hiện các thủ tục hành chính, doanh nghiệp thuận lợi hơn trong tiếp cận đất đai

và ổn định trong sử dụng đất Ngoài ra, doanh nghiệp còn gặp nhiều thuận lợi trongtiếp cận các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ pháp lý và đào tạo nguồn nhân lực

Ở miền Bắc, các tỉnh có chỉ số PCI từ mức khá trở lên không nhiều Đặc biệt, cáctỉnh miền núi, trung du phần lớn đều ở mức trung bình đến thấp Vấn đề này thểhiện những khó khăn, trở ngại cho sự phát triển các cơ sở chế biến gỗ mặc dù khuvực phía Bắc có diện tích rừng trồng lớn và khả năng cung cấp nguyên liệu cho chếbiến ngày càng gia tăng

Từ những lý do trên đây dẫn đến sự phát triển công nghiệp chế biến gỗ ở cácvùng rất khác nhau Cụ thể:

Trang 34

Bảng 4 Phân bố doanh nghiệp chế biến và phân bố rừng sản xuất Vùng

Diện tích rừng sản xuất Doanh nghiệp chế

biến gỗ Diện tích (ha) Cơ cấu

(%)

Số lượng

Tỷ trọng (%)

2 Cung ứng và tiêu dùng gỗ nguyên liệu

2.1 Nguyên liệu trong nước

Nguồn nguyên liệu gỗ trong nước cung cấp cho công nghiệp chế biến đượckhai thác từ rừng tự nhiên và rừng trồng Diện tích rừng của nước ta trong giai đoạn

từ 2004 đến 2010 được tổng hợp tại bảng sau

Trang 35

Bảng 5 Diện tích rừng giai đoạn 2004 – 2010 Năm Loại rừng Tổng cộng

Diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp

Rừng đặcdụng

Rừng phònghộ

Rừng sảnxuất

2004 Diện tích có rừng 12.306.858 1.920.453 5.920.688 4.465.717

Rừng tự nhiên 10.088.288 1.837.076 5.105.961 3.145.251 Rừng trồng 2.218.570 83.378 814.726 1.320.466

2005 Diện tích có rừng 12.616.700 1.929.304 6.199.682 4.487.714

Rừng tự nhiên 10.283.173 1.849.049 5.328.450 3.105.674 Rừng trồng 2.333.526 80.255 871.232 1.382.040

2006 Diện tích có rừng 12.873.850 2.202.888 5.268.789 5.402.172

Rừng tự nhiên 10.410.141 2.086.935 4.599.900 3.723.305 Rừng trồng 2.463.709 115.953 668.889 1.678.867

2007

Diện tích có rừng 12.837.333 2.078.265 4.979.188 5.779.880 Rừng tự nhiên 10.283.965 2.002.335 4.363.541 3.918.089Rừng trồng 2.553.369 75.930 615.648 1.861.7912008

Diện tích có rừng 13.118.773 2.061.675 4.739.236 6.199.294 Rừng tự nhiên 10.348.591 1.984.587 4.168.116 4.170.374 Rừng trồng 2.770.182 77.088 571.120 2.028.920

2009 Diện tích có rừng 13.258.843 1.999.915 4.832.962 6.288.246

Rừng tự nhiên 10.339.305 1.921.944 4.241384 4.147.005 Rừng trồng 2.919.538 77.971 591.578 2.141.241

2010

Diện tích có rừng 13.388.075 2.002.275 4.846.196 6.373.491 Rừng tự nhiên 10.339.305 1.922.465 4.231.931 4.097.041 Rừng trồng 3.083.259 79.810 614.265 2.276450(Nguồn: Quyết định của Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc Công bố hiệntrạng rừng toàn quốc 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010)

Ở những thập niên cuối thế kỷ XX, sau thời gian dài chịu tác động của nhiềuyếu tố, trong đó có nguyên nhân khai thác tài nguyên quá mức, rừng tự nhiên ViệtNam đã bị thoái hóa, nghèo kiệt, nhiều khu rừng trước đây nay đã trở thành đấttrống, đồi núi trọc Để bảo vệ diện tích rừng tự nhiên còn lại và phục hồi chất lượngrừng, nước ta đã thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên Từ bảng số liệu trêncho thấy diện tích rừng tự nhiên trong giai đoạn 2004- 2010 cũng đã gia tăng được951.790 ha Đối với diện tích rừng trồng, đã gia tăng được 955.984 ha Công táctrồng rừng đã có sự chuyển biến mạnh mẽ từ mục tiêu “phủ xanh đất trống, đồi núitrọc” sang trồng các tập đoàn cây mọc nhanh cho năng suất và chất lượng cao phục

vụ cho sản xuất hàng hóa Diện tích rừng trồng sản xuất được chú trọng hơn

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT sản lượng gỗ được phép khai thác từ rừng

Trang 36

tự nhiên do Bộ phê duyệt trong những năm qua đã giảm xuống dưới 200.000 m3năm Cụ thể, lượng gỗ nguyên liệu là gỗ khai thác từ rừng tự nhiên trong nước năm

2004 là 300.000 m3 và năm 2005 giảm xuống 150.000 m3, năm 2008 là 180.000m3, năm 2009 là 150.800 m3 và năm 2010 là 80.650 m3

Sản lượng gỗ rừng trồng của Việt Nam đang ngày một gia tăng Mức tăngtrưởng tính bình quân là xấp xỷ 8%/năm Tuy nhiên, trong thực tế chỉ có khoảng từ

30 – 40% (khoảng 1,2 – 1,5 triệu m3) sản lượng này đã được dùng cho công nghiệpchế biến đồ gỗ

2.2 Nguyên liệu nhập khẩu

Bảng 6 Giá trị kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu gỗ giai đoạn 2004- 2010

Tiêu chí Đơn vị

tính

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Giá trị gỗ

nguyên liệu

nhập khẩu

TriệuUSD 78 667 760 1.022 1.095 1.134 1.021

(Nguồn: Tổng Cục Thống kê 2009 và 2011)

Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, xuất khẩu sản phẩm gỗ, hàng năm ngành chếbiến gỗ của Việt Nam vẫn phải nhập khối lượng gỗ nguyên liệu rất lớn Trong 3năm (2006-2008), các doanh nghiệp đã phải chi ra tới hơn 2,7 tỷ USD, hay 41,54%tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ, để nhập nguyên liệu Giá trị nhậpkhẩu gỗ nguyên liệu năm 2009 đã tăng lên 1,134 tỷ đô la, năm 2010 giảm gần 10%

so với năm 2009, nhưng vẫn đạt mức 1,02 tỷ đô la

Nguồn cung cấp gỗ nguyên liệu chủ chốt cho công nghiệp chế biến gỗ củaViệt Nam bao gồm: Trung Quốc đã trở thành nguồn chính cung cấp các loại vánnhân tạo cho Việt Nam; Lào, Thái Lan, Mianma, Campuchia và Inđônêxia ở ĐôngNam Á cung cấp các loại gỗ có đường kính lớn, gỗ cứng từ rừng tự nhiên, gỗ rừngtrồng và ván nhân tạo; Niu Di lân thuộc châu Đại Dương cung cấp các loại gỗ gỗKeo, Bạch đàn có đường kính lớn; Các nước Nam Mỹ, như Braxin, Chi Lê,Paraguay và Uruguay, cung cấp gỗ Bạch đàn từ rừng trồng; Mỹ cung cấp các loại

gỗ có chất lượng cao như Sồi, Anh đào Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu gỗ từcác nước như Chi Lê, Đài Loan, Úc, Thuỵ điển, Đức, Canada, Hàn quốc, Nam Phi,Camorun…

Trang 37

2.3 Thực trạng sử dụng gỗ nguyên liệu

Bảng 7 Sử dụng gỗ nguyên liệu và cơ cấu sử dụng giai đoạn 2003-2010

2003

Năm 2005

Năm 2008

Năm 2010

1 Tổng khối lượng gỗ nguyên liệu đã sử

2 Cơ cấu sử dụng (%)

- Gỗ sử dụng cho công nghiệp chế biến

- Gỗ làm nguyên liệu cho chế biến ván

- Gỗ cho công nghiệp chế biến giấy và

- Các doanh nghiệp ở vùng miền núi phía Bắc và đồng bằng Sông Hồng sửdụng 256.699 m3 gỗ nguyên liệu, trong đó lượng gỗ nhập khẩu chiếm 27,9%, cònlại gần 72,1% là gỗ từ rừng của nội vùng

- Các doanh nghiệp ở vùng Miền Trung sử dụng 1.673.435 m3 gỗ nguyênliệu, trong đó lượng nguyên liệu gỗ nhập khẩu chiếm tới 89,9%, nguyên liệu gỗ nộiđịa chỉ chiếm xấp xỷ 10% Sở dĩ có tình trạng sử dụng tỷ lệ nguyên liệu gỗ nhậpkhẩu lớn như vậy là do khu vực này tập trung sản xuất đồ gỗ ngoài trời và đồ gỗ mỹnghệ xuất khẩu

- Các cơ sở chế biến gỗ ở Tây nguyên sử dụng 210.784 m3 với tỷ lệ gỗ nhậpkhẩu chỉ chiếm 18% Lượng gỗ này chủ yếu cung cấp cho các doanh nghiệp chếbiến đồ mộc xuất khẩu Các doanh nghiệp chế biến ván nhân tạo như MDF Gia Lai

và các cơ sở sản xuất gỗ xẻ, gỗ xây dựng chủ yếu sử dụng nguyên liệu nội địa

- Tại khu vực miền Nam, tỷ lệ sử dụng nguyên liệu gỗ nhập khẩu chiếm tới

Trang 38

36,6%, nguyên liệu gỗ nội địa chiếm xấp xỷ 63,4% Các doanh nghiệp khảo sát tạiđây, bao gồm cả các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ nội thất xuất khẩu và và gỗ xẻ, gỗxây dựng Do đó, tỷ lệ sử dụng gỗ nội địa cũng cao hơn so với khu vực Miền Trung.

2.4 Nhu cầu tiêu dùng gỗ nguyên liệu trong tương lai của công nghiệp chế biến gỗ

- Việc trả lời câu hỏi nhu cầu tiêu dùng gỗ nguyên liệu trong tương lai là mộtviệc làm khó khăn đối với hầu hết các doanh nghiệp chế gỗ Điều này trước hết là

do những điều kiện khách quan như sự bất ổn trong phát triển của nền kinh tế quốc

tế, khả năng phục hồi kinh tế trong thời gian tới, chính sách ở các thị trường chủchốt (Mỹ, Eu, Nhật ) Mặt khác là những nguyên nhân chủ quan từ chính các nhàsản xuất Hầu hết các cơ sở chế biến đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đều mang tínhchất gia công, không có đơn đặt hàng thì dừng sản xuất

- Dựa vào tốc độ phát triển của ngành công nghiệp chế biến gỗ trong một thập

kỷ vừa qua để ước lượng nhu cầu gỗ nguyên liệu của công nghiệp chế biến gỗ Tínhbình quân tăng trưởng của nguyên liệu gỗ đạt từ 13,74%/năm đến 21%/năm Nếungành chế biến gỗ tiếp tục phát triển theo mức độ tăng trưởng này thì hàng nămlượng gỗ nguyên liệu cần sử dụng sẽ từ 1,85 triệu m3 đến 2,8 triệu m3 quy theo gỗtròn Đây là một khối lượng rất lớn và nếu không có sự tính toán kỹ lưỡng thì ngànhcông nghiệp chế biến gỗ sẽ rơi vào khủng hoảng thiếu nguyên liệu

- Việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam

sẽ ngày càng gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nước đã ra lệnh cấm xuất khẩu gỗtròn và hạn chế xuất khẩu gỗ xẻ Hơn thế, việc xuất và nhập khẩu gỗ phải được các

cơ quan có trách nhiệm xác nhận nguồn gốc khai thác hợp pháp và cấp chứng chỉFSC Nhưng hiện nay không phải quốc gia nào cũng có tổ chức cấp chứng chỉ FSC.Trong khi đó, việc nhập khẩu gỗ từ một số quốc gia có nền lâm nghiệp chưa pháttriển đang đứng trước những nguy cơ bị các tổ chức phi chính phủ quốc tế lên án và

bị xử lý theo luật và các quy định về sử dụng gỗ bất hợp pháp Nhìn chung, côngnghiệp chế biến của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu không có sựchuẩn bị trước kế hoạch phát triển nguyên liệu trong những năm tới

3 Quy mô vốn đầu tư, thiết bị và công nghiệp chế biến

3.1 Quy mô vốn đầu tư

Nhìn chung các cơ sở chế biến gỗ của nước là đều có quy mô đầu tư nhỏ

Trang 39

Trong tổng số 3562 cơ sở chế biến gỗ (cưa, xẻ, sản xuất ván nhân tạo), chế biến trenứa, số cơ sở có quy mô vốn đầu tư dưới 1 tỷ đồng chiếm 28,5%, số cơ sở có quy

mô đầu tư từ 1 đến 5 tỷ đồng là 43,82%, có quy mô từ 5 đến 10 tỷ đồng là 12,52%,

từ 10 đến 50 tỷ là 12,66%, từ 50 đến 200 tỷ đồng là 2,13%, quy mô vốn đầu tư từ

200 đến 500 tỷ là 0,34%, và trên 500 tỷ là 0,03%

Trong tổng số 3930 cơ sở chế biến giường, tủ và bàn ghế, số cơ sở có quy môvốn đầu tư dưới 1 tỷ đồng chiếm 15,83%, số cơ sở có quy mô đầu tư từ 1 đến 5 tỷđồng là 47,84%, có quy mô từ 5 đến 10 tỷ đồng là 12,54%, từ 10 đến 50 tỷ là15,95%, từ 50 đến 200 tỷ đồng là 5,73%, quy mô vốn đầu tư từ 200 đến 500 tỷ là1,53%, và trên 500 tỷ là 0,59%

Biểu đồ 5 Số lượng cơ sở chế biến gỗ, tre nứa và chế biến giường, tủ và

bàn ghế phân theo quy mô vốn đầu tư

(Nguồn: Tổng Cục Thống kê, 2010)

3.2 Thiết bị và công nghệ

Hiện tại hơn 50% số cơ sở chế biến sản phẩm gỗ là các đơn vị quy mô nhỏ,trang thiết bị đơn giản phục vụ sơ chế và sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh có chấtlượng thấp, phục vụ tiêu thụ nội địa hoặc gia công (sơ chế) nguyên liệu phục vụ cácdoanh nghiệp có quy mô lớn Số còn lại, bao gồm khoảng 970 doanh nghiệp chếbiến sản phẩm gỗ xuất khẩu của các tổ chức và cá nhân trong nước và 421 doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có thiết bị và công nghệ ở mức độ trung bình khá

Trang 40

Theo đánh giá của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam và các chuyên gia,công nghiệp chế biến gỗ Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ chủ yếu tập trung vào sảnphẩm gỗ ngoại thất phục vụ xuất khẩu Nhìn chung, 100 % dây chuyền sản xuất củacác doanh nghiệp được khảo sát là bán tự động Khoảng 30 % trong số đó trình độcông nghệ ở trình độ khá, còn lại 70% có trình độ công nghệ ở mức trung bình Gần80% số doanh nghiệp được khảo sát có hệ thống thiết bị xử lý môi trường đảm bảosức khỏe cho người lao động (thực chất chỉ là các thiết bị hút mùn cưa, mảnh gỗ).Kết quả khảo sát 20 doanh nghiệp chế biến gỗ khu vực miền Tây Nguyên chothấy, hầu hết các doanh nghiệp có công nghệ thiết bị trung bình Nhiều doanhnghiệp đầu tư thiết bị không đồng bộ có nguồn gốc khác nhau Hiện tại, có khoảng

57 % số doanh nghiệp được khảo sát có hệ thống thiết bị xử lý môi trường đảm bảosức khỏe cho người lao động

Theo đánh giá của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, nhiều doanh nghiệp tạivùng Đông Nam Bộ đã đầu tư và đổi mới thiết bị hiện đại để sản xuất đồ mộc nộithất, ngoại thất xuất khẩu, chủ yếu phục vụ xuất khẩu Nhiều doanh nghiệp đã đầu

tư mua sắm thiết bị công nghệ đồng bộ, có thể tổ chức sản xuất khép kín, hiện đại từcác nước Đài Loan, Trung Quốc, Đức, Nhật Bản, Italia… Nhiều dây chuyền côngnghệ thiết bị được đánh giá tương đương trình độ trong khu vực Một số doanhnghiệp đã đầu tư các thiết bị xử lý môi trường

Có thể nói rằng vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng có hoạt động chếbiến gỗ kém phát triển nhất ở Việt Nam Trong vùng này chỉ có một số lượng rấtnhỏ doanh nghiệp chế biến gỗ Theo kết quả khảo sát và đánh giá của các chuyêngia, phần lớn doanh nghiệp chế biến gỗ tại Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long cócông nghệ thiết bị cũ, lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ và chủ yếu là phục vụ nhu cầutiêu dùng ở địa phương

Ngày đăng: 21/03/2015, 23:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Quyết định số 279/2005/QĐ-TTg ngày 03/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia giai đoạn 2006 – 2010 Khác
17. Quyết định số 69/2007/QĐ-TTg ngày 18/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác
18. Quyết định của Bộ trưởng Bộ NN &amp;PTNT về công bố Hiện trạng rừng toàn quốc năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009 Khác
19. Quyết định số 20/2008/QĐ-BNN ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thuỷ sản và nghề muối Khác
20. Thông tư số 95/2004/TT-BTC ngày 11/10/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số chính sách hỗ trợ tài chính và ưu đãi về thuế phát triển vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, muối Khác
23.Nguyễn Việt Trung (2009), Thực trạng và dự báo thị trường lâm sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Khác
24. Trần thị Thu Thủy (2010), Nghiên cứu Chính sách và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh ghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông lâm sản trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Khác
25. UBND tỉnh Hà Tĩnh (2008), Báo cáo tóm tắt thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến, kinh doanh nông – lâm sản tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2008 – 2015, tầm nhìn đến năm 2020 Khác
26. UBND tỉnh Hà Tĩnh (2011), Quy hoạch mạng lưới bảo quản, chế biến nông – lâm- thủy sản và ngành nghề nông thôn giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số hộ gia đình có rừng trồng ở Việt Nam - Chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam
Bảng 1. Số hộ gia đình có rừng trồng ở Việt Nam (Trang 24)
Bảng 4. Phân bố doanh nghiệp chế biến và phân bố rừng sản xuất - Chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam
Bảng 4. Phân bố doanh nghiệp chế biến và phân bố rừng sản xuất (Trang 34)
Bảng 5. Diện tích rừng giai đoạn 2004 – 2010 - Chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam
Bảng 5. Diện tích rừng giai đoạn 2004 – 2010 (Trang 35)
Bảng 7. Sử dụng gỗ nguyên liệu và cơ cấu sử dụng giai đoạn 2003-2010 - Chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam
Bảng 7. Sử dụng gỗ nguyên liệu và cơ cấu sử dụng giai đoạn 2003-2010 (Trang 37)
Bảng 8. Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) sản phẩm gỗ trong những năm gần đây - Chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam
Bảng 8. Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) sản phẩm gỗ trong những năm gần đây (Trang 43)
Bảng 10.  Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế của công nghiệp chế biến gỗ - Chiến lược phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam
Bảng 10. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế của công nghiệp chế biến gỗ (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w