Và khi đã ổn định được nỗi lo phải giải quyết khó khăn khi tổn thất xảy ra, nó đã góp phần làm tang khả năng lao động của chủ tàu thuyền 1.1.3.2 Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế t
Trang 1MỤC LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU 2
1.1 Tàu biển và sự cần thiết phải bảo hiểm thân tàu 2
1.1.1 Giới thiệu về tàu biển 2
1.1.2 Sự cần thiết phải bảo hiểm thân tàu 3
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm thân tàu 5
1.1.3.1 Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất 5
1.1.3.2 Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất 5
1.1.3.3 Sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác 6
1.1.3.4 Tăng thu cho ngân sách nhà nước 6
1.1.3.5 chỗ dựa tinh thần cho các chủ tàu, thuyển 6
1.2 Nội dung của nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu 7
1.2.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm 7
1.2.1.1 Đối tượng bảo hiểm 7
1.2.1.2 Phạm vi bảo hiểm: 8
1.2.2 Giá trị bảo hiểm, số tiền bồi thường và phí bảo hiểm 11
1.2.2.1 Giá trị bảo hiểm 11
1.2.2.2 Số tiền bồi thường 11
1.2.2.3 Phí bảo hiểm 12
1.2.3 Giám định và bồi thường tổn thất 14
1.2.3.1 Giám định tổn thất 14
1.2.3.2 Bồi thường tổn thất 15
1.2.3.2.a Quy tắc bồi thường theo rủi ro đầu tiên: 15
1.2.3.2.b Quy tắc áp dụng mức miễn thường 15
1.2.4 Hợp đồng bảo hiểm thân tàu 16
1.2.4.1 Khái niệm và các loại hợp đồng 16
1.2.4.1.a Khái niệm 16
1.2.4.1.b Phân loại 16
Trang 21.2.4.3 Trách nhiệm và quyền lợi các bên trong hợp đồng 17
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THÂN TÀU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP 20
2.1 Vài nét giới thiệu về công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp 20
2.1.1 Sự ra đời và phát triển 20
2.1.2 Cơ cấu, tổ chức bộ máy 20
2.1.3 Kết quả hoạt động của công ty 21
2.2 Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp 22
2.2.1 Công tác khai thác 22
2.2.2 Công tác giám định và bồi thường 36
2.2.2.1 Giám định 36
2.2.2.2 Công tác bồi thường 40
2.3 Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp 50
CHƯƠNG III KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP (ABIC) 55
3.1 Thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu biển ở ABIC 55
3.1.1 Thuận lợi 55
3.1.2.Khó khăn 57 3.2 Phương hướng hoạt động của bảo hiểm thân tàu tại công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp 59
3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt đọng của nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu 61
3.3.1 Phát triển và mở rộng khai thác 61
3.3.2 Hoàn thiện công tác đề phòng và hạn chế tổn thất 62
3.4 Kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu của công ty bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp 64
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 3DANH MỤC VIẾT TẮT
1 NHNN : Ngân hàng nông nghiệp
2 BHTT : Bảo hiểm thân tàu
3 TS : Tiến sĩ
4 GVHD : Giáo viên hướng dẫn
5 STBH : Số tiền bảo hiểm
6 TNDS : Trách nhiệm dân sự
7 ABIC : Công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng nông nghiệp
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU HèNH BẢNG:
Bảng 1: Sơ đồ quy trỡnh khai thỏc nghiệp vụ bảo hiểm tàu thủy 24
Bảng 2: Sơ đồ hướng dẫn xử lý khai thỏc viờn phõn cấp 27
Bảng 3: Kết quả khai thỏc bảo hiểm tàu của ABIC giai đoạn 2008- 2012 33
Bảng 4: Tốc độ tăng phớ bảo hiểm của ABIC qua cỏc năm 2008-2012 34
Bảng 5: Kết quả cụng tỏc đề phũng và hạn chế tổn thất bảo hiểm thõn tàu của ABIC giai đoạn 2008-20012 35
Bảng 6: Sơ đồ quỏ trỡnh giỏm định 37
Bảng 7: Kết quả công tác giám định của ABIC giai đoạn 2008-2012 39
Bảng 8: Sơ đồ quỏ trỡnh giải quyết bồi thường thõn tàu 41
Bảng 9: Kết quả cụng tỏc bồi thường của ABIC giai đoạn 2008-2012 49
Bảng 10: Kết quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm thõn tàu của ABIC giai đoạn 2008-2012 50
Bảng 11: Hiệu quả kinh doanh của ABIC giai đoạn 2008-2012 51
HèNH: Hỡnh 1: Sơ đồ bộ mỏy tổ chức: 20
Hỡnh 2: Tỷ trọng nghiệp vụ của ABIC 52
Hỡnh 3: Thị phần nghiệp vụ bảo hiểm thõn tàu biển của ABIC năm 2012 52
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Từ giữa thế kỷ XVII, với những thành tựu đạt được của cuộc cách mạng công
nghiệp, Anh Quốc diễu võ dương oai không chỉ bằng các đội quân lê dương mà còn
bằng các đội thương thuyền đầy ắp hàng hoá trải rộng trên khắp thế giới Thời bấy
giờ, ở phố Lom-ba London, các nhà buôn, các thuyền trưởng và thuỷ thủ thường tụ
tập tên Lloyd Họ bàn bạc về những phi vụ có lợi nhuận cao, cũng như những vùng
đất vừa khai phá và cả những tiêc nuối về những vụ tổn thất, thiệt hại, về những
người xấu số đã mất trên những cuộc hải trình cam go kéo dài Người chủ quán
không chỉ giỏi chế biến cà phê, mà còn có tư duy rất đặc biệt của một nhà kinh tế
Từ những thông tin thu được ông lập ra bản tin Lloyd về hàng hải, được giới thương
gia và hàng hải nồng nhiệt chào đón Và cũng từ những thông tin thu được ấy, một
công ty bảo hiểm hàng hải đầu tiên trên thế giới ra đời thu hút hầu hết các thương
gia và nhà hàng hải Anh tham gia
Trên ba trăm năm trôi qua, kể từ ngày ấy, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm
chủ tàu đã trở thành thông lệ ở khắp nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam Là một
nghiệp vụ quan trọng của bảo hiểm thương mại, việc tìm hiểu và nghiên cứu về bảo
hiểm thân tàu và trách nhiệm chủ tàu trong bối cảnh nền kinh tế mở, khi đất nước
bước sang giai đoạn CNH-HĐH là hết sức cần thiết
Với vị trí quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm chủ tàu
như vậy, em muốn đi sâu nghiên cứu về nghiệp vụ này Vì vậy, em chọn đề tài:
“Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại công ty cổ phần bảo hiểm
ngân hàng nông nghiệp (ABIC)” Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được
chia thành 3 phần chính:
CHƯƠNG 1 : Lý luận chung về bảo hiểm thân tàu
CHƯƠNG 2 Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại công
ty cổ phần ngân hàng nông nghiệp
CHƯƠNG 3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ bảo
hiểm thân tàu tại công ty cổ phần ngân hàng nông nghiệp
Em đã cố gắng nghiên cứu cả về lý thuyết về sản phẩm, tuy nhiên do hạn chế
của bản thân bài viết sẽ có những sai sót nhất định nên rất mong các thầy, cô giáo
đóng góp ý kiến để chuyên đề hoàn thiện hơn và có thể áp dụng ra thực tiễn
Trang 6CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU
1.1 Tàu biển và sự cần thiết phải bảo hiểm thân tàu
1.1.1 Giới thiệu về tàu biển
Quốc gia nào muốn thúc đẩy và phát triển kinh tế đều phải có hệ thống giao
thông thông suốt Hệ thống giao thông của mỗi nước được đánh giá trên cả ba lĩnh
vực: đường thuỷ, đường bộ và đường không Có thể khẳng định rằng hầu hết các
nước trên thế giới đều có hệ thống giao thông đường thuỷ và sự phát triển hay
không lại phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của mỗi nước Một trong những điều
kiện không thể thiếu khi muốn phát triển giao thông đường thuỷ là phải có một đội
tàu chuyên dùng Lợi ích của giao thông đường thuỷ mà trực tiếp là từ các đội tàu
mang lại cho các quốc gia nguồn lợi lớn trong kinh tế quốc phòng v.v Có thể thấy
rằng tàu biển là một phương tiện vận tải quan trọng trong hệ thống giao thông vận
tải và là một nhân tố khó có thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân
Tàu biển là thuật ngữ dùng để chỉ những phương tiện nổi trên mặt nước có
khả năng chuyên chở hàng hoá, vật phẩm, hành khách hoặc sử dụng vào mục đích
khác trên biển hoặc trên những vùng nước khác mà tàu có thể đi lại được Ngoài ra,
còn có các khái niệm khác nhau về tàu thuỷ; chẳng hạn, trong "qui tắc phòng ngừa
va chạm tàu thuyền trên biển" (International regulation for preventing collision at
sea, 1972) thì tàu biển bao gồm tất cả các phương dùng hoặc có thể dùng làm
phương tiện vận chuyển trên mặt nước, kể cả các loại tàu thuyền không có trọng
lượng chiếm nước và thuỷ phi cơ
Như vậy tàu biển bao gồm các tàu lớn, nhỏ chuyên chở hàng hoá, hành
khách, tàu chuyên dùng (đông lạnh, chở dầu ), sà lan, thuyền máy, thuyền buồm, tàu
lai dắt, tàu cứu hộ, tàu kéo, cần cẩu nổi Ngoài ra, người ta còn cho tất cả các trang
thiết bị của một con tàu bao gồm: neo, xuồng cứu sinh, máy móc đều được coi là
các bộ phận của một con tàu Tàu biển được coi là tàu hoạt động phải đạt được các
yêu cầu sau:
dùng để chuyên chở hoặc sử dụng vào những mục đích khác nhau đã định
Trang 7Cách 1: Theo tấn dung tích đăng ký toàn phần (GRT- GROSS REGISTERED
TONNAGE)
Cách 2: Theo tấn dung dịch tịnh (NRT- NET REGISTERED TONNAGE,
1NRT= 2,83 m3
Cách 3: Theo tấn sâu mớm nước (DWT- DEAT WEIGHT TONNAGE)
Theo luật quốc tế, tàu cắm cờ nước nào là mang quốc tịch nước đó được coi
như lãnh thổ nổi mang chủ quyền nước đó Những nước tham chiến hay thù địch
lẫn nhau không cho mang cờ của nước đối phương ra vào cảng của mình hoặc thậm
chí còn bắt giữ khám xét tàu đối phương
1.1.2 Sự cần thiết phải bảo hiểm thân tàu.
Trong lĩnh vực giao thông nói chung và giao thông đường thuỷ nói riêng dù có
quan tâm ngăn ngừa nhưng vẫn có những rủi ro bất ngờ không lường trước được có
thể xảy ra Những rủi ro đó đã dẫn đến những tổn thất rất lớn Theo thống kê của tổ
chức hàng hải thế giới IMO những vụ tổn thất này đã lên tới con số khổng lồ: Năm
1976 có 277 vụ đắm tàu với tổng số 2,7 triệu GRT Chỉ trong thời gian từ
1970-1976 số tiền thiệt hại do đắm tàu đã tăng lên gấp đôi Năm 1982 có 402 vụ tàu gặp
tai nạn trong đó 250 tàu đã bị đắm Người ta có thể tính được rằng hàng năm cứ
trung bình 2 ngày có ít nhất 1 con tàu trọng tải từ 500 GRT trở lên bị đắm trên thế
giới và xác suất đắm tàu là 0,5%/ năm
Ở Việt Nam năm 1989 có 120 vụ tổn thất về thân tàu trong đó phải kể đến vụ
tàu Hồng Lam 10 bị chìm ở Vinh do bão gây ra, thiệt hại con tàu lên tới 1 triệu
USD Năm 1990 có 189 vụ tổn thất về thân tàu được Bảo Việt bồi thường 1,6 tỷ
VND Năm 1991 có 280 vụ tổn thất về tàu trong đó có tàu Thành Tô bị mắc cạn do
bão đẩy lên cạn ở Nhật thiệt hại kéo về Việt Nam sửa chữa lên tới 300.000 USD
Những thiệt hại về tài sản, về con người do rủi ro đường thuỷ gây ra có thể là
nhỏ, có thể là lớn song những thiệt hại đó không những ảnh hưởng đến kinh tế, đến
tình cảm gia đình của từng cá nhân trong xã hội mà còn ảnh hưởng đến cả cộng
đồng Để khắc phục những ảnh hưởng đó người ta sử dụng các biện pháp khác nhau
như tiết kiệm, đi vay, tương trợ, bảo hiểm Mỗi biện pháp có những hạn chế nhất
định nhưng hiệu quả hơn cả vẫn là áp dụng biện pháp bảo hiểm Hoạt động bảo
hiểm trước hết là nhằm khắc phục hậu quả của rủi ro, hơn nữa, các tổ chức bảo
hiểm còn có trách nhiệm nghiên cứu rủi ro, thống kê tai nạn, tổn thất, xác định
nguyên nhân và đề ra các biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro
Trang 8Tàu biển có 1 số ưu, nhược điểm sau:
Ưu điểm:
- Khả năng vận chuyển của tàu biển lớn: Khối lượng hàng hoá vận chuyển của
một tàu biển cỡ trung bình cũng có thể lớn hơn rất nhiều so với các phương tiện vận
chuyển trong các lĩnh vực giao thông vận tải khác Mặt khác tàu biển chứa đựng
được hầu hết các loại hàng hoá: hàng cồng kềnh, siêu trường, siêu trọng, hàng
lỏng, đều có thể vận chuyển được
- Giao thông đường biển với các tuyến đường hầu như là có sẵn do đó vận
chuyển bằng tàu biển không tốn nhiều chi phí mở đường có chăng đó chỉ là chi
phí để xây dựng các công trình trên biển để hỗ trợ như bến cảng, cầu cảng, đèn
hải đăng
- Giá thành vận chuyển rẻ: là do khối lượng vận chuyển lớn đồng thời hệ
thống giao thông đường thuỷ nhiều khi không bị hạn chế bởi địa hình nên có thể rút
ngắn lại và thuận tiện hơn
Nhược điểm:
Bên cạnh những ưu điểm trên tàu biển còn có một số nhược điểm đòi hỏi phải
được hạn chế và khắc phục Đó là:
- Tốc độ tàu biển chậm: Với hình khối lớn và khả năng vận chuyển nhiều lại
hoạt động rộng khắp trên các vùng biển sóng nước tàu biển thường có tốc độ thấp,
tốc độ tối đa của tàu biển khoảng 30 hải lý (1 hải lý = 1,852 km) Chính vì tàu biển
có tốc độ chậm mà kéo theo hành trình của con tàu dài ngày Điều này có ảnh
hưởng lớn về mặt kinh tế Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự nhanh nhạy kịp
thời, có những thời cơ chớp nhoáng nếu không nắm bắt ngay sẽ lỡ mất cơ hội, bỏ
trống mất thị trường Vì vậy, đối với những mặt hàng yêu cầu nhanh không thể vận
chuyển bằng đường biển được
- Tàu biển thường gặp nhiều rủi ro gây tổn thất lớn cho chủ tàu, chủ hàng:
Giao thông đường thuỷ là lĩnh vực chịu ảnh hưởng rất nhiều của thiên nhiên Hành
trình dài ngày trên biển thì sự ảnh hưởng đó càng lớn Với trọng tải và sức chứa lớn
như vậy nên khi gặp rủi ro sẽ là một tổn thất đối với chủ tàu và các chủ hàng
- Do hoạt động của con tàu gần như là độc lập, lênh đênh trên biển nên việc
cứu ứng, hạn chế tổn thất gặp nhiều khó khăn
Như vậy, sự ra đời của bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm chủ tàu là rất cần
thiết đối với các chủ tàu và những người liên quan Cùng với các nghiệp vụ bảo
hiểm khác, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm chủ tàu góp phần bảo vệ tài sản, ổn
định cuộc sống của mọi người, mang lại sự an toàn cho xã hội
Trang 91.1.3 Vai trò của bảo hiểm thân tàu.
1.1.3.1 Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất
Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng
xuất phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời Như chúng ta đã biết, Việt
Nam có vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á, dễ dàng cho
việc thông thương bằng đường biển Đội tàu biển của Việt Nam tuy không lớn song
các vụ tổn thất cũng gây không ít khó khăn cho các chủ tàu Đặc biệt khi tàu biển
vừa là phương tiên đi lại, vừa là công cụ lao động của rất nhiều hộ dân sống bám
biển Vì vậy, khi tổn thất xảy ra, họ vừa có nguy cơ đối mặt với rủi ro, tổn thất về
hàng hóa đồng thời cũng ảnh hưởng đến khả năng, cơ hội lao động trở lại trong
trường hợp phương tiện lao động bị phá hủy Vai trò này đã đánh đúng tâm lý tâm
lý của chủ tàu khi ra khơi nên ngày càng thu hút được số lượng đông đảo tham gia
để đáp ứng trách nhiệm cũng như quyền lợi về kinh tế Và khi đã ổn định được nỗi
lo phải giải quyết khó khăn khi tổn thất xảy ra, nó đã góp phần làm tang khả năng
lao động của chủ tàu thuyền
1.1.3.2 Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm thân tàu còn
góp phần thực hiện một nội dung trong các biện pháp kiểm soát rủi ro Đó là đề
phòng và hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra Nhờ đó, những
thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế
- xã hội cũng được chủ động phòng tránh Dựa trên cơ sở các rủi ro xảy ra hàng
năm, các tổ chức kinh doanh bảo hiểm sẽ tiến hành nghiên cứu các rủi ro, thống kê
các tai nạn trên biển, tổn thất, từ đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách
quan dẫn đến thiệt hại Những nghiên cứu này giúp các công ty bảo hiểm có thể đề
ra được các biện pháp kiểm soát ngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất nhằm giảm đến
mức thấp nhất tổn thất có thể xảy ra
Việc các công ty bảo hiểm tích cực thực hiện các biện pháp phòng tránh rủi ro
không chỉ để giảm bớt chi phí bồi thường nhằm nâng cao lợi nhuận cho mình, mà
quan trọng hơn, nó góp phần giảm bớt những hậu quả đáng tiếc về vật chất cũng
như tinh thần khi xảy ra tổn thất Khi xây dựng các qui tắc, điều khoản, biểu phí
cũng như trong quá trình triển khai nghiệp vụ, kể từ khi đánh giá rủi ro, ký kết hợp
đồng, quản lý hợp đồng cho đến lúc giám định tổn thất, giải quyết bồi thường, các
tổ chức bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng
tránh cần thiết Việc đó không chỉ nhằm bảo vệ đối tượng bảo hiểm mà còn góp
Trang 10phần bảo đảm an toàn cho tính mạng, sức khoẻ con người, của cải vật chất của toàn
xã hội
Các công ty bảo hiểm cũng luôn đôn đốc các cá nhân, tổ chức tham gia mua
bảo hiểm tăng cường các biện pháp bảo vệ tài sản của chính mình Đồng thời, họ
cũng tuyên truyền, giáo dục mọi tầng lớp nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ
an toàn giao thông, an toàn lao động Do bảo hiểm không có nghĩa là đổ hết trách
nhiệm cho người bảo hiểm nên ở các cơ quan, xí nghiệp thường có các qui tắc, qui
định cho an toàn lao động, các qui định về phòng cháy chữa cháy, các thiết bị chống
trộm, báo cháy
1.1.3.3 Sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn
để đầu tư vào những lĩnh vực khác
Bảo hiểm đã trở thành lựa chọn tối ưu trong môi trường đầy rủi ro hiện nay,
đảm bảo mức độ an toàn tương đối về khả năng tài chính khi xảy ra rủi ro mà vẫn
không gây đọng vốn Thông thường, phi sẽ được thu trước khi rủi ro và các sự kiện
bảo hiemr xảy ra với đối tượng bảo hiểm Chính vì thế, sẽ tích tụ được 1 nguồn vốn
lớn, càn phải có biện pháp quản lý để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo
hiểm Thêm vào đó, giữa thời điểm xả ra rủi ro do tổn thất, và thời điểm chi trả và
bồi thưởng luôn có khoảng cách, với đọ dài thời gian khác nhau Cùng với sự phát
triển của nghiệp vụ cũng như số người tham gia, và số phí được tích tụ thu gom
ngày càng nhiều Đây là cơ sở để bên bảo hiểm, sử dụng nguồn vốn để gia tang khả
năng tài chính, khả năng thanh toán của mình ở các nghiệp vụ khác nhau, cũng như
nhằm đảm bảo khả năng chi trả khi có tổn thất xảy ra
1.1.3.4 Tăng thu cho ngân sách nhà nước
Hàng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã đóng góp một phần không
nhỏ vào ngân sách Nhà nước Là 1 nguồn tài chính ổn định, hằng năm, số tiền thuế
mà bảo hiểm đóng góp cho ngân sách nhà nước là rất quan trọng Đòng thời, nó mở
rộng mối quan hệ đói ngoại giữa các nước trong môi trường hoạt động kinh doanh
bảo hiểm thông qua tái bảo hiểm và đồng bảo hiểm, đặc biệt với loại hình mà rủi ro
bồi thường có chi phí lớn như bảo hiểm thân tàu Bên canh đó, do đã góp phần san
sẻ rủi ro, mất mát giữa những người tham gia bảo hiểm, đã góp phần làm nhẹ gánh
nặng cho chi phí trợ cấp, hỗ trợ với những biến cố xảy ra với người chịu tổn thất
cho ngân sách nhà nước
1.1.3.5 chỗ dựa tinh thần cho các chủ tàu, thuyển
Thông qua các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế , đề phòng tổn thất cuốc sống
Trang 11của người dan an toàn hơn, họ tự tin ra khơi để mưu sinh mà tránh những nối lo có
thể ảnh hưởng đến cả gia đình Cùng với đó, họ -phải tuân theo những chỉ dẫn để
ngăn ngừa tổn thất, không ra khơi vào những ngày bão lớn đổ bộ, không đánh bắt
xa bờ, vượt qua vùng lãnh hải cho phép, phải duy trì bảo dưỡng, nâng cấp hệ thống
óng laic ho tàu biển cũng như các biện pháp cứu hộ, pháo sang trong trường hợp
xảy ra biến cố
Chỉ với 1 mức lệ phí nhỏ, dựa trên nguyên tắc số đông bù số it, mà có thể giải
quyết được những hậu quả, rủi ro khôn lường trong cuộc sống Chính vì thế, bảo
hiểm than tầu chính là chỗ dựa cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận
tài biển yên tâm đương đầu với sóng gió ngoài khơi
1.2 Nội dung của nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu
1.2.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
1.2.1.1 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu là toàn bộ con tàu
và trang thiết bị của con tàu đó
Do đặc điểm hoạt động của tàu biển nên đối tượng bảo hiểm cần được kê khai
chi tiết các mục sau:
- Tên tàu: Mỗi một con tàu khi đưa vào hoạt động cũng như con người khi
được sinh ra đều mang một tên riêng biệt và bắt buộc phải ghi vào phía sau đuôi
tàu Luật hàng hải không cho phép đặt trùng tên chiếc tàu biển; muốn thay đổi tên
tàu phải khai báo và phải được chính quyền cho phép Trong thực tế, cũng có khi
gặp tàu trùng tên, muốn phân biệt người ta phải xét đến quốc tịch của tàu
- Tên cảng đăng ký trụ sở của chủ tàu hay người thuê tàu định hạn
- Quốc tịch của con tàu
- Năm và nơi đóng tàu: Người tham gia bảo hiểm phải ghi đầy đủ năm và
nơi đóng con tàu được bảo hiểm để người bảo hiểm theo dõi tàu và chất lượng
tàu khi đóng
- Cấp của con tàu: Căn cứ vào cấp do đăng kiểm xếp hạng Trong thời gian
hiệu lực của bảo hiểm cấp tàu phải không thay đổi Nếu gặp tổn thất được bảo hiểm
ảnh hưởng đến cấp tàu thì người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm cho đến khi tàu về
đến cảng kế tiếp hoặc cảng lánh nạn và cả thời gian tàu neo đậu an toàn tại cảng
- Trọng tải và sức kéo của con tàu:Người bảo hiểm cần biết được thông tin này
để theo dõi hoạt động của con tàu, xét xem con tàu vận chuyển có đúng mức trọng
tải và sức kéo đã đăng ký, khai báo hay không Nếu có rủi ro xảy ra, tỷ lệ bồi
Trang 12thường tổn thất sẽ khác nhau nếu trọng tải và sức kéo của con tàu thực hoạt động
không đúng với trọng tải và sức kéo của bản thân nó.
1.2.1.2 Phạm vi bảo hiểm:
a) Những rủi ro được bảo hiểm thường bao gồm các rủi ro chính và các rủi ro
thường và rủi ro riêng biệt
Rủi ro chính:
Nhóm rủi ro chính là những rủi ro được bảo hiểm ngay từ những ngày sơ khai
của bảo hiểm hàng hải Những rủi ro đó thường gây nên tổn thất lớn gồm có:
Mắc cạn: Là hiện tượng đáy tàu sát liền với đáy biển hoặc nằm trên một
chướng ngại vật khác làm cho tàu không chạy được và thường phải nhờ đến ngoại
lực tàu mới nổi lên hoặc thoát khỏi mắc cạn được Mắc cạn phải thoả mãn điều kiện
là hiện tượng bất bình thường Bị mắc cạn do thuỷ triều hay do đi qua kênh đào
sông rạch theo quy định của bảo hiểm là rủi ro lường trước được Bị mắc cạn do
giông bão, địch đuổi buộc phải ra khỏi hành trình là không lường trước được Bị
mắc cạn do tàu thuỷ có nguy cơ đắm cố tình lao vào chỗ cạn, tuy lường trước được
nhưng vẫn thuộc rủi ro được bảo hiểm
Chìm đắm: Là hiện tượng tàu chìm hẳn xuống nước không chạy được và
hành trình bị chấm dứt Nếu tàu chỉ ngập một phần hoặc còn bập bềnh trên mặt
nước thì không gọi là đắm vì trường hợp này thường xảy ra chỉ khi sóng to gió lớn
trừ phi người ta chứng minh là do tính chất của hàng hoá nên tàu không thể chìm
sâu hơn nữa Cho nên đối với tàu bè ở trạng thái bình thường thì chỉ khi nào toàn bộ
phần nổi trên mặt nước bị chìm trong nước và không chạy được nữa mới gọi là
đắm Khi một chiếc tàu bị đắm, hành trình coi như không hoàn thành được
Đối với rủi ro đắm tàu, trách nhiệm bảo hiểm cũng tương tự như rủi ro về mắc
cạn, nghĩa là tổn thất bộ phận vẫn được bồi thường trong trường hợp tham gia bảo
hiểm với điều kiện F.P.A và không tính tỷ lệ phần trăm với điều kiện W.A
Cháy: Nói chung, cháy là do lửa gây nên Lửa bốc cháy ở trên tàu là một vấn
đề rất nghiêm trọng vì so với một vụ cháy ở trên bờ thì khó dập tắt hơn Lửa phải
đến mức làm cho hành trình của tàu bị gián đoạn chứ chỉ làm hỏng một phần cơ cấu
của tàu thì không gọi là cháy Có nhiều nguyên gây ra cháy:
+ Do biến cố thiên nhiên như sét đánh
+ Do sơ suất của con người gây ra như hút thuốc, nhóm lửa
+ Do chủ tâm gây ra như cố ý phóng hoả nhằm một mục đích nào đó
Đứng về trách nhiệm bảo hiểm mà nói thì bảo hiểm chỉ bồi thường những tài
Trang 13sản bảo hiểm phát nhiệt bất ngờ do nguyên nhân khách quan gây ra Thông thường
cháy là phải có sức nóng, có ánh sáng Tuy nhiên cũng có trường hợp lửa chỉ cháy
ngầm không phát ra ánh sáng hoặc cháy mà không tìm ra nguyên nhân Cho nên
cháy to hay cháy nhỏ đều thuộc phạm vi trách nhiệm của bảo hiểm Theo mẫu hợp
đồng thông thường thì bảo hiểm chịu trách nhiệm về cháy kể cả cháy do sét đánh
hoặc do hơi khói Ngoài ra bảo hiểm còn nhận bồi thường những trường hợp cháy
do sơ suất hoặc vô ý của thuyền trưởng hay thuỷ thủ
Bảo hiểm cũng chịu trách nhiệm nếu tàu cháy trong hoàn cảnh chính đáng như
đốt cháy để tránh khỏi bị bắt hoặc để tiêu diệt một thứ bệnh truyền nhiễm Nhưng
bảo hiểm không bồi thường những trường hợp bốc cháy tự phát do bản thân hàng
hoá gây ra Để bác bỏ trách nhiệm của mình trong những trường hợp đó bảo hiểm
phải chứng minh là hàng hoá đã xếp lên tàu trong tình trạng không thích hợp Tuy
nhiên nếu hàng bốc cháy tự phát mà cháy lan sang những hàng hoá khác thì bảo
hiểm lại chịu trách nhiệm về những hàng cháy lan này Những tổn thất do chữa
cháy gây ra đối với những hàng hoá được bồi thường
Đâm va: Đâm va tức là các công cụ vận chuyển va chạm với các vật thể
chuyển động hay cố định khác Tai nạn đâm va chỉ hạn chế trong trường hợp tàu
này đâm va tàu khác theo như quy định của điều khoản đâm va Đâm va giữa tàu
với tàu được mở rộng bao gồm: tàu thuyền, xà lan, cần cẩu nổi, tàu kéo, tàu lai
dắt, tàu mới hạ thuỷ, tàu bị đắm dưới biển, mỏ neo và thuyền của con tàu Tai
nạn đâm va còn mở rộng đâm va với các vật thể khác như tảng băng trôi, đá ngầm,
cầu, các công trình của cảng sông, công trình kiến trúc trên sông biển, máy bay, vệ
tinh nhân tạo
Rủi ro phụ:
Thực ra đây là nhóm rủi ro mở rộng thêm sau thời kỳ sơ khai của bảo hiểm
hàng hải và người ta quen gọi là rủi ro thông thường được bảo hiểm
Nhóm rủi ro này bao gồm các rủi ro sau:
Hành vi phi pháp của thuyền trưởng và thuỷ thủ đoàn là những người không
đồng sở hữu với chủ tàu đối với con tàu
Hành vi phi pháp bao hàm hành vi xảo trá hay lường gạt của thuyền trưởng
hoặc thuỷ thủ gây ra đối với tàu có hại cho chủ tàu hoặc người thuê tàu Những
hành vi phi pháp này không bao gồm những sai lầm về cách xét đoán, giải quyết
vấn đề hoặc những sai lầm do bất cẩn thông thường gây ra Những hành động buôn
lậu của thuyền trưởng, việc lái tàu đi chệch hướng quy định vì mục đích riêng của
Trang 14mình đều là hành vi phi pháp Làm đắm tàu, hoặc để tàu bị bắt giữ Để phục vụ
cho lợi ích riêng của thuyền trưởng hay thuỷ thủ cũng là hành vi phi pháp Tuy
nhiên nếu chủ tàu biết về việc làm sai trái của thuyền trưởng hay thuỷ thủ thì không
gọi là phi pháp vì họ không thể đồng ý cho một người đại diện của họ làm một việc
có hại đến quyền lợi của chính bản thân họ Trường hợp thuyền trưởng có cổ phần
trong tàu thì những hành động làm hại đến quyền lợi của những người có cổ phần
khác cũng gọi là hành vi phi pháp thông thường trong những trường hợp này quyền
lợi của người được bảo hiểm đã bị ảnh hưởng Cho nên giữa người bảo hiểm và
người được bảo hiểm có thoả thuận bồi thường những tổn thất vì hành động phi
pháp hay lỗi lầm của chủ tàu và đại lý của họ gây ra
Mất tích: Khi một chiếc tàu không đến cảng đã quy định và sau một thời gian
hợp lý không nhận được tin tức gì về tàu đó thì người ta coi là con tàu đã bị mất
tích Thế nào là một thời gian hợp lý thì còn phải tuỳ thuộc vào loại tàu, loại hàng,
tính chất hành trình và con đường dài ngắn khác nhau Hơn nữa thời gian này còn
phải tuỳ thuộc vào luật lệ cụ thể của từng nước Luật hàng hải 1906, mục 58 có quy
định: "Nếu một chiếc tàu bảo hiểm bị mất tích và sau một thời gian hợp lý không
nhận được tin tức về chiếc tàu đó thì coi là một tổn thất toàn bộ thực tế" vì vậy
trong mọi trường hợp khi tàu bị mất tích thì bảo hiểm chịu trách nhiệm như các rủi
ro được bảo hiểm
Rủi ro cướp biển: Trước đây rủi ro cướp biển được coi là một phần của rủi ro
chiến tranh và được xếp vào loại rủi ro riêng Ngày nay người ta coi tổn thất do
hành động cướp biển là sự mở rộng của quy mô mất cắp
Rủi ro riêng biệt:
Là rủi ro không được bảo hiểm với điều kiện bảo hiểm thông thường trừ khi
người bảo hiểm chấp nhận tham gia thêm rủi ro này Phí bảo hiểm cho rủi ro này
thường rất cao Tách ra thành rủi ro riêng còn tăng thêm ý nghĩa thương mại để
người bảo hiểm thu hút khách hàng (vì không phải tất cả các tuyến đường chuyên
chở đều bị rủi ro này để đe doạ)
Rủi ro riêng trong bảo hiểm thân tàu là rủi ro chiến tranh Chiến tranh là hậu
quả biến động của kinh tế xã hội Người bảo hiểm chịu trách nhiệm về hậu quả do
hành động đối địch có tính chất chiến tranh dù có tuyên bố hay không tuyên bố
gồm: nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa, xung đột dân sự, bạo động phiến
loạn phát sinh từ những biến cố hay hành động thù địch chống lại các thế lực đang
tham chiến Chiến tranh có thể dẫn đến hậu quả là tài sản bị chiếm giữ, bắt giữ, tịch
Trang 15thu hoặc tài sản bị trúng mìn, thuỷ lôi, bom đạn pháo hoặc bất kỳ một thứ vũ khí
chiến tranh nào khác huỷ hoại
Trách nhiệm của bảo hiểm chiến tranh được giới hạn trên phạm vi mặt nước
Giải quyết bồi thường rủi ro chiến tranh là rủi ro này phải là nguyên nhân trực tiếp
và không phải tính mức miễn thường Ví dụ: Vì chiến tranh tàu chạy ban đêm
không dám bật đèn gây đâm va vào tàu khác và bị tổn thất thì chiến tranh là nguyên
nhân gián tiếp
b) Rủi ro loại trừ:
Trong bảo hiểm thân tàu còn có những trủi ro mà người bảo hiểm không nhận
bảo hiểm, gọi là những rủi ro loại trừ Bao gồm:
- Hành vi sơ suất, lỗi lầm, cố ý của người được bảo hiểm Đây là vấn đề có
tính nguyên tắc vì người bảo hiểm và người được bảo hiểm cũng có chung một
quyền lợi là giá trị tàu được bảo hiểm
- Chậm trễ hành trình: Là sự kéo dài thời gian hành trình so với hành trình
bình thường không phải vì lý do cứu nạn, bị tai nạn dẫn đến tổn thất cho con tàu
- Tàu không đủ khả năng đi biển: Là tàu không đủ máy móc trang thiết bị,
đội ngũ sĩ quan thuỷ thủ thuyền viên, nhiên liệu thực phẩm dự trữ cho hành trình
đã quy định
- Tàu đi chệch hướng: Là tàu đi sai trình tự hoặc đi ra ngoài trình tự được quy
định không vì nguyên nhân cứu nạn, lánh nạn hay tránh gặp rủi ro
1.2.2 Giá trị bảo hiểm, số tiền bồi thường và phí bảo hiểm
1.2.2.1 Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế tàu biển tại thời điểm tham gia bảo hiểm và
được xác định như sau:
Giá trị bảo hiểm của tàu biển là tổng giá trị của tàu biển vào thời điểm bắt đầu
bảo hiểm Giá trị này còn bao gồm giá trị của máy móc, trang thiết bị, phụ tùng dự
trữ của tàu cộng với toàn bộ phí bảo hiểm Giá trị của tàu biển còn có thể bao gồm
cả tiền lương ứng trước cho thuyền bộ và chi phí chuẩn bị chuyến đi được thỏa
thuận trong hợp đồng;
1.2.2.2 Số tiền bồi thường
Trong bảo hiểm vật chất thân tàu các công ty bảo hiểm trên thế giới thông
thường chỉ chấp nhận bảo hiểm với một số tiền nhất định so với giá trị bảo hiểm
nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của các chủ tàu
Bảo hiểm thân tàu là dạng bảo hiểm tài sản, cho nên số tiền bảo hiểm được
Trang 16tính trên cơ sở giá trị theo giá thị trường của đối tượng bảo hiểm Điều đó có nghĩa
là số tiền bảo hiểm bao gồm giá trị vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị trên con tàu
Số tiền bảo hiểm = Giá trị bảo + Cước phí chuyên chở + Phí điều hành
Thông thường, chủ tàu bảo hiểm thấp hơn giá trị con tàu Trong trường hợp
chủ tàu tham gia bảo hiểm theo điều kiện “bồi thường tổn thất đầu tiên”, khi có tổn
thất phát sinh, nếu các tổn thất nhỏ hơn hoặc bằng số tiền bảo hiểm, bảo hiểm sẽ bồi
thường theo thiệt hại thực tế; nếu tổn thất lớn hơn số tiền bảo hiểm, bảo hiểm sẽ bồi
thường bằng số tiền bảo hiểm
Chủ tàu không chỉ đăng kí bảo hiểm con tàu mà con đăng ký bảo hiểm cước
phí chuyên chở hàng hoá, chi phí điều hành
Cước phí chuyên chở hàng hoá là số tiền cước mà chủ tàu phải trả lại cho chủ
hàng do chủ tàu không đưa hàng về đến bến (vì bị thất lạc, tổn thất) Theo quy định,
tiền bảo hiểm cước phí cao nhất bằng 25% số tiền bảo hiểm thân tàu
Chi phí điều hành là những chi phí quản lý, lãi kinh doanh v.v… Chủ tàu bảo
hiểm thêm chi phí điều hành nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh Số tiền bảo hiểm
chi phí điều hành (theo quy định của ITC sửa đổi ngày 01/10/1983) cao nhất bằng
25% số tiền bảo hiểm thân tàu
Vậy số tiền bảo hiểm thân tàu gồm: Số tiền bảo hiểm thân con tàu, số tiền bảo
hiểm cước phí chuyên chở và số tiền bảo hiểm chi phí điều hành
1.2.2.3 Phí bảo hiểm
Sau khi đã xác định được STBH, bước tiếp theo là xác định mức phí phải nộp
Phí bảo hiểm là mức tiền mà người tham gia bảo hiểm (chủ thân tàu) phải nọp cho
người bào hiểm dựa trên giá trị bảo hiểm và tỉ lệ phí Phí này bao gồm
Phí bồi thường tổn thất toàn bộ
Phí bồi thường tổn thất bộ phận bao gồm các chi phí sửa chữa tạm thời,
chính thức hoặc chưa sửa chữa
Phụ phí bao gồm chi phí quản lý, chi phí đề phòng hạn chế tổn thất hoặc
chi phí tuyên truyền quảng cáo
P = Sb x R
Sb: Số tiền bào hiểm đề cập
R : Tỷ lệ phí phụ thuộc vào độ tuổi, tầm vóc hay trang thiệt bị của con tàu
Tàu càng lâu đời( thường tính trên 15 tuổi), kích cỡ lớn, trạng thiết bị kém hiện đại
thì tỷ lệ phí càng cao Tỷ lệ này do các công ty xác định
Có 1 số cách tính tỉ lệ phí:
Trang 17R2: phụ thuộc vào tình trạng bảo dưỡng sửa chữa hoặc vào tuyến đường và
phạm vi hoạt động của tàu, hay tình trạng tổn thất các năm trước đó của đội tàu
(trên tuyến đường) v.v
R3: phụ thuộc vào chi phí quản lý hành chính, chi phí đề phòng hạn chế tổn
thất, lập quỹ dự phòng, tỷ lệ lạm phát mất giá đồng tiền v.v
C3: Có những công ty lại chia tỷ lệ phí thành hai bộ phận là
R = R1 + R2
R1: Tỷ lệ phí chính thống
R2: Tỷ lệ phí tàu già
Tuy nhiên xét về mặt lý thuyết tỷ lệ phí phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Xác suất rủi ro của những năm trước đó
- Điều kiện bảo hiểm
- Phạm vi hoạt động của con tàu
- Trình độ nghề nghiệp của thuỷ thủ
- Tình trạng thực tế của con tàu (độ tuổi, sửa chữa lớn, công suất mã lực v.v.)
Dù phân chia tỷ lệ phí thế nào chăng nữa thì các công ty bảo hiểm cũng phải
tính toán được và lập thành bảng tỷ lệ phí Do đó dễ dàng tính toán phí bảo hiểm
cho các chủ tàu
Cũng như các nghiệp vụ khác, phí bảo hiểm thân tàu phải đóng ngay khi
hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực Mỗi nước có quy định riêng về tỷ lệ hoàn phí bảo
hiểm cho tàu ngừng hoạt động liên tục phù hợp với điều kiện bảo hiểm của nước đó
Phí bảo hiểm có thể nộp một lần hay nhiều lần do hai bên thoả thuận thông
thường các công ty bảo hiểm trên thế giới quy định như sau:
Nếu tàu ngừng hoạt động trên 30 ngày chủ tàu báo cho nhà bảo hiểm biết và
Trang 18nhà bảo hiểm hoàn lại phí trong thời gian đó Mức hoàn lại được tính như sau:
- Hoàn lại 90% số phí mà hai bên thoả thuận
- Hoàn lại 70% số phí nếu tàu neo đậu sửa chữa
- Hoàn lại 50% số phí nếu tàu neo đậu ở cảng nước ngoài
Giám định bảo hiểm chỉ chấp nhận yêu cầu giám định trong những trường hợp
xảy ra tai nạn, có tổn thất, thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm Vì vậy, đối với
những trường hợp phát hiện không thuộc phạm vi bảo hiểm cần có ý kiến ngay để
bên tham gia bảo hiểm có hướng giải quyết
Tuỳ từng nghiệp vụ bảo hiểm mà tổ chức giám định tổn thất cho phù hợp
Có thể khái quát quy trình giám định theo các bước sau đây:
- Chuẩn bị giám định: Trước khi tiến hành giám định phải chuẩn bị đầy đủ
các loại giấy tờ cần thiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm như: Đơn bảo hiểm hoặc
giấy yêu cầu bảo hiểm, bảng kê chi tiết các loại tài sản được bảo hiểm, giấy ra viện,
các chứng từ, hoá đơn sửa chữa, thay thế v.v Ngoài ra, nếu cần thiết còn phải chuẩn
bị hiện trường giám định Thống nhất thời gian và địa điểm giám định, tổ chức mời
các bên có liên quan trong khi giám định (công an, chính quyền địa phương, y bác
sỹ, các nhà chuyên môn v.v.)
- Tiến hành giám định: Công việc giám định phải được tiến hành khẩn trương,
ý kiến của chuyên viên giám định đưa ra phải chuẩn xác, hợp lý và nhất quán Với
những nghiệp vụ bảo hiểm phải giám định dài ngày, chuyên viên giám định phải
bám sát hiện trường để theo dõi, thu thập thông tin và đưa ra các phương án giải
quyết phù hợp Trong quá trình giám định phải tập trung vào các công việc sau đây:
+ Kiểm tra lại đối tượng giám định;
+ Phân loại tổn thất;
+ Xác định mức độ tổn thất;
+ Tổn thất của người thứ ba (nếu có) v.v
Những ý kiến nêu ra trong quá trình giám định phải có cơ sở khoa học và
thực tiễn, không được chủ quan, tuỳ tiện và vội vã khi đưa ra những kết luận
- Lập biên bản giám định: Đây là tài liệu chủ yếu để xét duyệt bồi thường
Trang 19hoặc chi trả bảo hiểm và khiếu nại người thứ ba Vì vậy, nội dung văn bản này phải
đảm bảo tính trung thực, chính xác, rõ ràng, cụ thể Các số liệu phải phù hợp với
thực trạng và không được mâu thuẫn khi đối chiếu với các giấy tờ có liên quan Với
những vụ tổn thất lớn, nghiêm trọng và phức tạp cần phải lấy ý kiến tập thể của
những người liên quan và lãnh đạo doanh nghiệp bảo hiểm trước khi hoàn tất biên
bản giám định Thông thường biên bản giám định được lập ở hiện trường và sau khi
đã thống nhất phải lấy chữ ký của các bên có liên quan Biên bản giám định chỉ cấp
cho người có yêu cầu giám định Không được tiết lộ nội dung giám định cho người
khác khi chưa có yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm
1.2.3.2 Bồi thường tổn thất
1.2.3.2.a Quy tắc bồi thường theo rủi ro đầu tiên:
Theo quy tắc này số tiền bồi thường tổn thất của từng đợt như sau: tổn thất bao
nhiêu bồi thường bấy nhiêu nhưng không vượt quá số tiền bảo hiểm hoặc giá trị bảo
hiểm Tổn thất bộ phận của các đợt kế tiếp nhau diễn ra trong thời hạn bảo hiểm,
cộng lại có thể lớn hơn số tiền bảo hiểm Trong tai nạn đâm va người bảo hiểm
ngoài bồi thường tổn thất đâm va cho thân tàu theo quy tắc này còn bồi thường
trách nhiệm đâm va
1.2.3.2.b Quy tắc áp dụng mức miễn thường.
Hợp đồng bảo hiểm thân tàu thường có quy định mức miễn giảm bồi thường
của người bảo hiểm trong giá trị tài sản bị tổn thất Mức miễn thường được ghi rõ
ràng trong các đơn bảo hiểm Có 2 loại mức miễn thường:
- Mức miễn thường thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm của giá trị tiền bồi
thường Tuỳ theo trường hợp, người bảo hiểm dùng mức miễn thường có khấu trừ
hoặc miễn thường không khấu trừ
- Mức miễn thường ấn định rõ ràng bằng số tiền cụ thể
Mức miễn thường cụ thể như sau:
- Miễn thường áp dụng cho các tổn thất khi xét bồi thường trừ tổn thất bộ phận
do 4 rủi ro chính gây ra (Theo I.T.C mức miễn thường là 15% số tiền bảo hiểm cho
tổn thất thực tế, không cộng các tổn thất riêng, chung, chi phí tố tụng, chi phí cứu
nạn, chi phí đề phòng hạn chế một vụ tai nạn để đạt mức miễn thường)
- Miễn thường tổn thất gây ra do rủi ro phụ, ẩn tỳ, bất cẩn (I.T.C quy định là
10% giá trị tổn thất thức tế sau khi đã trừ miễn thường chung) Rủi ro phụ được hiểu
là tai nạn trong lúc xếp dỡ, do di chuyển hàng hoá, nhiên liệu, do nổ ngay trên tàu
hoặc nơi nào khác
Trang 20+ Sơ suất lỗi lầm bao gồm sự bất cẩn của thuỷ thủ đoàn, hoa tiêu, người sửa
chữa trước đó nhưng không phải là người được bảo hiểm hoặc người có cổ phần
vốn mua hoặc thuê tàu đó
Việc đề ra mức miễn thường này là ràng buộc trách nhiệm người được bảo
hiểm chăm sóc bảo quản sử dụng con tàu hợp lý mẫn cán hơn để đề phòng hạn chế
tổn thất
-Miễn thường khi tàu vi phạm quy định thông báo tổn thất khi chủ tàu hoặc
người khai thác được cung cấp tin tức về rủi ro tổn thất mà không báo ngay cho
người bảo hiểm thì mức miễn thường là 15% số tiền tổn thất thực tế được bảo hiểm
1.2.4 Hợp đồng bảo hiểm thân tàu
1.2.4.1 Khái niệm và các loại hợp đồng
1.2.4.1.a Khái niệm
Hợp đồng bảo hiểm thân tàu là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa người bảo
hiểm và người được bảo hiểm, qua đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho
người được bảo hiểm về những mất mất hư hại xảy ra với vỏ tàu, máy móc và các
thiết bị trên tàu, đồng thời bảo hiểm cước phí, các chi phí hoạt động của tàu và 1
phần trách nhiệm mà chủ tàu phải chịu trong trường hợp 2 tàu đâm va, trong thỏa
thuận, người được bào hiểm phải trả trước cho người bảo hiểm 1 khoản tiền phí
1.2.4.1.b Phân loại
Việc phân loại sẽ dựa trên các hình thức của bảo hiểm thân tàu, gồm có:
+ Hợp đồng bảo hiểm theo thời hạn là hợp đồng bảo hiểm thân tàu trong
khoảng thời gian nhất định, chủ yếu từ 3 -> 12 tháng, nếu khoảng thời gian là lớn
hơn 12 tháng thì hợp đồng đó bị coi là không có hiệu lực ngay lúc thỏa thuận Hình
thức bảo hiểm này có thế áp dụng cho nhiều loại tàu khác nhau: tàu buôn( 100GRT
trở lên), tàu đánh cá, tàu nạo vét đáy, kéo xà lan, bè gỗ, dàn khoan dầu cố định hay
di động cũng như các hình thức khai thác dàu khác Chúng được bảo hiểm theo các
điều kiện ITC-AR, ITC-FPA, ITC-FOD
+Hợp đồng bảo hiểm theo chuyến là hợp đồng bảo hiểm cho tàu trong mỗi
chuyến chở hàng nhất định, được chia thành: hợp đồng “tại” và “từ” (at and from),
hợp đồng từ (from)
Đối với hợp đồng thứ 1 “tại” và “từ”, khi đã ký kết hợp đồng, thì ngay khi con
tàu có mặt ở cảng, thì từ lúc đó hợp đồng sẽ có hiệu lực đối với mọi rủi ro tổn thất,
được quy định trong hợp đồng tính ngay từ cảng đó
Đối với hợp đồng thứ 2 “từ”, hiệu lực của hợp đồng được tính từ 1 cảng riêng
Trang 21Và ngay khi tàu rời khởi cảng riêng đó, hiêu lực của hợp đồng có giá trị ngay lập
tức và duy trì cho tới khi tàu đến được cảng đích được ghi rõ trong hợp đồng Hợp
đồng nay hay được ký kết với các tàu mới đóng dùng cho mục tiêu xuất khẩu, hay
những con tàu đang được đem đi sửa chữa và bảo dưỡng, dựa trên các điều khoản
( IVC-FPA, IVC-AR )
1.2.4.2 Nội dung hợp đồng
Nội dung đơn bảo hiểm bao giờ cũng chặt chẽ, đầy đủ Đơn bảo hiểm thân tàu
có nội dung cơ bản sau:
- Tên người được bảo hiểm hoặc người có quyền lợi được bảo hiểm
- Đối tượng bảo hiểm
- Các hiểm hoạ, rủi ro được bảo hiểm
- Số lượng chuyến đi hoặc thời hạn thực hiện hợp đồng bảo hiểm, tuỳ theo hợp
đồng đó là hợp đồng bảo hiểm chuyến hặc hợp đồng bảo hiểm thời hạn
-Số tiền bảo hiểm
- Nơi, ngày tháng và giờ cấp đơn bảo hiểm
- Chữ ký và xác nhận của người bảo hiểm
1.2.4.3 Trách nhiệm và quyền lợi các bên trong hợp đồng
Trách nhiệm của người được bảo hiểm:
- Người được bảo hiểm có thể là người chủ tàu hoặc người kinh doanh khai
thác con tàu dưới dạng thuê tàu định hạn Mặc dù không cam kết trong hợp đồng
nhưng theo tập quán quốc tế người được bảo hiểm phải có trách nhiệm đảm bảo cho
con tàu được bảo hiểm đạt các ngụ ý đảm bảo sau:
+ Tàu đủ khả năng đi biển trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, bao
gồm các yếu tố:
Tàu phải có đầy đủ trang thiết bị đang ở trong trạng thái hoạt động tốt phục vụ
cho việc kinh doanh khai thác và có khả năng đối phó với những rủi ro tai nạn thông
thường trên biển từ khi bắt đầu khởi hành Người được bảo hiểm phải có trách
nhiệm khai thác sử dụng tàu hợp lý, bảo quản sửa chữa bảo dưỡng đăng kiểm,
thường xuyên, định kỳ, kiểm tra xử lý những hư hỏng kịp thời Những hư hại phát
sinh mà trước đó bằng phương tiện kiểm tra hợp lý cần mẫn vẫn không phát hiện
được làm cho tàu không đủ khả năng đi biển vẫn thuộc trách nhiệm của người được
bảo hiểm
Việc xếp hàng lên tàu phải đảm bảo trọng tải, làm cho tàu cân đối sắp xếp
Trang 22hàng vào những nơi thích hợp không bị tổn thất vị lỗi chất xếp thương mại gây nên.
Tai nạn tổn thất gây ra do vi phạm quy định này là lỗi của người được bảo hiểm
Tàu phải đảm bảo đầy đủ nhiên liệu, lương thực thực phẩm và trang thiết bị
thích hợp trên từng chặng đường trong suốt hành trình quy định
Tàu phải biên chế đầy đủ người làm việc, có đội ngũ sĩ quan thuỷ thủ, thuyền
viên thực sự giúp ích cho tàu
Người được bảo hiểm phải có đầy dủ khả năng tài chính ngay cả khi gặp thiên
tai tai nạn phát sinh thêm chi phí (Việc thuỷ thủ đoàn đình công hay có hành động
quá khích phá hoại tàu và hàng hóa do không trả lương hoặc trả lương không đủ
thuộc lỗi này)
+ Quốc tịch tàu không đổi trong suốt thời gian bảo hiểm Việc lựa chọn quốc
tịch tàu nhiều khi phụ thuộc vào mục đích khai thác sử dụng và phạm vi hoạt động
của con tàu Tàu viễn dương cần ra vào các cảng trên thế giới không phân biệt chế
độ ch ính trị xã hội thường đăng ký quốc tịch tại một nước trung lập Quốc tịch tàu
không đổi có nghĩa là rủi ro về thù địch, đối địch hoặc hành động có tính chất chiến
tranh cũng không thay đổi
+ Hành trình của con tàu phải hợp pháp Trong thời gian hiệu lực của hợp
đồng bảo hiểm có thể phát sinh những lệnh bao vây, cấm vận, phong toả, bắt giữ
kiềm chế hàng hoá hoặc con tàu đang chuyên chở hàng hoá đó Nếu chủ tàu không
từ bỏ hành trình vi phạm một trong những lệnh trên thì được coi là hành trình bất
hợp pháp
- Ngoài những trách nhiệm trên theo hợp đồng bảo hiểm người được bảo hiểm
còn có những nghĩa vụ sau đây:
+ Phải khai báo đầy đủ các các điều kiện cần thiết khi lập hợp đồng bảo hiểm
Nếu khi lập hợp đồng bảo hiểm mà lại chưa có đủ điều kiện khai báo tất thì sau khi
hợp đồng đã xác lập phải khai báo cho người bảo hiểm biết ngay nếu nắm được tình
hình mới nhất là những yếu tố làm tăng giảm mức độ rủi ro
+ Khi đã ký xong hợp đồng bảo hiểm phải thực hiện mọi biện pháp nhằm
phòng ngừa hoặc hạn chế tổn thất phát triển Người bảo hiểm có quyền từ chối bồi
thường phần thiệt hại do người được bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ đó gây ra
+ Khi xảy ra tai nạn thuộc phạm vi trách nhiệm của hợp đồng bảo hiểm làm
cho tài sản được bảo hiểm bị hư hại mất mát phải kịp thời báo ngay cho người bảo
hiểm hoặc giám định viên đã được chỉ định tại nơi xảy ra tai nạn để yêu cầu giám
định tổn thất và cấp biên bản giám định tổn thất Biên bản giám định không do giám
Trang 23định viên bảo hiểm hoặc người đại lý giám định được chỉ định lập, sẽ không có giá
trị để làm cơ sở yêu cầu giải quyết bồi thường bảo hiểm Mọi hành động do người
được bảo hiểm hoặc người bảo hiểm đã thực hiện để cứu vớt, phòng ngừa tổn thất
phát triển, hoàn toàn không phải là biểu hiện của sự từ bỏ hoặc chấp nhận từ bỏ tài
sản được bảo hiểm
Trách nhiệm của người bảo hiểm:
- Người bảo hiểm chịu trách nhiệm bảo hiểm với số tiền bảo hiểm tối đa bằng
giá trị con tàu tại thời điểm tham gia bảo hiểm Ngoài ra để đảm bảo kinh doanh cho
chủ tàu hoặc người khai thác tàu, người bảo hiểm có thể nhận thêm:
+ Bảo hiểm cước phí chuyên chở có thể thu được
+ Phí tổn điều hành, lời lãi thặng dư của con tàu trong phạm vi khống chế
(không quá 25% số tiền bảo hiểm thân tàu)
Hai khoản nhận bảo hiểm thêm không vượt quá 80% giá trị của bản thân con tàu
Trách nhiệm của người bảo hiểm về không gian và thời gian được ghi rõ trong
hợp đồng bảo hiểm:
+ Về thời gian bắt đầu từ 24 giờ ngày ký kết hợp đồng và kết thúc vào 24 giờ
ngày kết thúc hợp đồng Nếu tàu còn ở ngoài khơi thì được gia hạn cho đến khi tàu
về cảng cuối cùng
+ Về không gian với hợp đồng chỉ rõ "tại và từ cảng quy định" thì hiệu lực bắt
đầu khi tàu vào cảng đó mặc dù lúc ký kết hợp đồng tàu chưa về tới cảng này Khi
tàu về đến cảng phải là đoàn tàu trong trạng thái an toàn về thể chất và khoảng thời
gian từ khi ký kết hợp đồng đến khi tàu về cảng phải là thời gian hợp lý, nếu vi
phạm người bảo hiểm có quyền từ bỏ hợp đồng với hợp đồng chỉ rõ "từ một cảng
quy định" thì trách nhiệm của bảo hiểm phát sinh chỉ khi tàu khởi hành đi từ cảng
đó đến một nơi khác theo quy định của hành trình Nếu thay đổi hành trình không
được chấp thuận của người bảo hiểm thì họ có quyền trút bỏ trách nhiệm của mình
Trang 24CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ
BẢO HIỂM THÂN TÀU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
2.1 Vài nét giới thiệu về công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
2.1.1 Sự ra đời và phát triển
Thực hiện Quyết định 161/2001/QĐ-TTg ngày 26/10/2001 của Thủ tướng
Chính Phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu trở thành tập đoàn Tài
chính - Ngân hàng hàng đầu trong khu vực, Hội đồng quản trị và tập thể Lãnh đạo
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã quyết nghị đề xướng
thành lập Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (Bảo hiểm Agribank/
ABIC), hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực Bảo hiểm Phi nhân thọ và đầu tư tài
chính Đề xuất này đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tại công văn số 3092/
CV-NHNN ngày 26 tháng 4 năm 2006 Trên cơ sở đó, ngày 18/10/2006, Bộ trưởng
Bộ Tài chính đã cấp giấy phép thành lập và hoạt động chính thức cho ABIC tại
quyết định số 38/GP-KDBH Ngày 08/8/2007 Công ty CP Bảo hiểm Ngân hàng
Nông nghiệp chính thức khai trương đi vào hoạt động
2.1.2 Cơ cấu, tổ chức bộ máy
Hình 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức:
Trang 25Hội Đồng Quản Trị:
Chủ tịch: Ông Nguyễn Văn Minh
Ủy viên: Ông Hà Sỹ Vịnh
Ủy viên: Ông Nguyễn Hồng Long
Ủy viên: Ông Đặng Thế Vinh
Ủy viên: Bà Bùi Minh Hường
Ban Điều Hành:
Tổng Giám đốc: Ông Nguyễn Văn Minh
Phó Tổng Giám đốc: Ông Đỗ Minh Hoàng
Phó Tổng Giám đốc: Bà Hoàng Thị Tính
Phó Tổng Giám đốc: Ông Quách Tá Khang
Các cổ đông sáng lập:
1 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)
2 Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE)
3 Công ty cho thuê tài chính I NHNo&PTNT Việt Nam (ALC I)
4 Công ty cho thuê tài chính II NHNo&PTNT Việt Nam (ALC II)
2.1.3 Kết quả hoạt động của công ty
Doanh thu bán hàng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 52%, riêng
năm 2011 tổng doanh thu bán hàng là 505 tỷ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm
đạt 426 tỷ đồng và đã có lãi trong kinh doanh bảo hiểm
- Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trích lập các quỹ dự phòng nghiệp
vụ đạt 94%
- 5 năm hoạt động, ABIC đóng góp trên 121 tỷ đồng cho Ngân sách Nhà
nước
- Lợi nhuận tăng trưởng đều qua các năm, tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt
bình quân 127%, năm 2011 tỷ lệ chi trả cổ tức là 10%
- Thu nhập và đời sống của người lao động được bảo đảm, với mức thu nhập
bình quân đạt trên 10 triệu đồng/người/tháng
- Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản bình quân hàng năm đạt 60%, vốn điều lệ
được bảo toàn và phát triển
- Quyền lợi của các cổ đông và người lao động được bảo đảm phát triển ổn
định, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, thực hiện chi trả bồi
thường bảo hiểm theo các cam kết để bảo đảm quyền lợi của khách hàng tham gia
bảo hiểm
Trang 26- Các chỉ tiêu kinh doanh, chỉ tiêu tài chính luôn đảm bảo được các chỉ số an
toàn hoạt động theo quy định chung của ngành bảo hiểm và đã đóng góp vào sự
phát triển chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam
2.2 Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu tại công ty cổ
phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp
2.2.1 Công tác khai thác
Việc định phí bảo hiểm ở công ty bảo hiểm cổ phần ABIC được tiến hành
như sau:
Phí bảo hiểm thân tàu thủy bao gồm:
- Phí bồi thường cho tổn thất toàn bộ
- Phí bồi thường tổn thất bộ phận bao gồm các chi phí sửa chữa tạm thời,
chính thức và chưa sửa chữa
- Phụ phí gồm chi phí quản lý, chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất, chi phí
tuyên truyền quảng cáo…
Vậy:
phí bảo phí bồi phí bồi phụhiểm thân = thường tổn + thường tổn + phítàu thủy thất toàn bộ thất bộ phận khác Phí bảo hiểm không được quá số phí bảo hiểm thực sự cho tất cả các quyền
lợi được bảo hiểm trong thời gian không quá 12 tháng, được giảm dần mỗi tháng
theo tỷ lệ (loại trừ những chi phí bảo hiểm đã được bảo hiểm theo các đoạn trên,
song nếu yêu cầu thì được bao gồm cả phí bảo hiểm hoặc đóng góp ước tính về bảo
hiểm với Hội chủ tàu hay rủi ro chiến tranh)
Phí bảo hiểm hoàn lại: Số tiền bảo hiểm không được quá số thật sự được
hoàn lại, được thừa nhận theo mọi bảo hiểm song không được hoàn lại trong trường
hợp tổn thất toàn bộ của tàu do hiểm họa được bảo hiểm hay thế nào khác
Việc hoàn lại phí như sau:
Theo tỉ lệ tháng phí bảo hiểm thuần cho mỗi tháng chưa được bảo hiểm nếu
bãi bỏ bảo hiểm này theo thỏa thuận
Cho mỗi thời hạn 30 ngày liên tục khi tàu đậu trong cảng hay nơi đậu khác
miễn là cảng hay nơi đậu đó đã được bảo hiểm chấp thuận (với những chiếu cố đặc
biệt dưới đây)
- Phần trăm phí thuần nếu không sửa chữa
- Phần trăm phí thuần nếu đang sửa chữa
Trang 27Tàu không được tính là trong thời hạn sửa chữa nếu công đoạn này nhằm
để khắc phục hào mòn hoặc cũ kỹ, bảo trì thông thường của tàu và trong văn bản
khuyến cáo giám định của các cấp phân loại tàu, thì loại sửa chữa liên quan đến sửa
chữa tổn thát hay tổn hại của tàu, hoặc là ảnh hưởng đến cấu trúc của tàu, thì không
cần xét đến việc có được bảo hiểm theo hợp đồng này hay không đều sẽ được xác
nhận là đang trong thời gian tu sửa
Nếu tàu sửa chữa trong một phần thời gian được tính để đòi lại phí bảo
hiểm thì phí bảo hiểm hoàn lại sẽ được tính theo tỷ lệ số ngỳ nói ở (a) và (b)
Quy định:
- Phải là không có tổn thất toàn bộ của tàu dù do những hiểm họa được bảo
hiểm hay không đã xảy ra trong thời hạn hiệu lực của bảo hiểm này hay trong thời
gian gia hạn bảo hiểm
- Phí sẽ không được hoàn trả nếu người tham gia bảo hiểm không tuân theo
chỉ dẫn ai toàn mà neo đậu ở những nơi nguy hiểm, dễ xảy ra tổn thất, hoặc không
làm theo hướng dẫn khi nhập, xuất cảng dẫn đến rủi ro, hoặc những nơi bị cấm đã
ghi rõ trong hợp đồng của người bảo hiểm
- Vẫn được hoàn lại phí bảo hiểm khi có công tác bốc dỡ hay dỡ hàng hoặc
khi còn hàng hóa trên tàu nhưng không được hoàn lại phí bảo hiểm cho bất cứ thời
gian nào đã sử dụng tàu để chứa hàng hoặc để vận chuyển hàng như một sà lan
- Trường hợp có sửa đổi giá phí bảo hiểm năm các ngạch giá trên đây phải
được điều chỉnh theo đó
- Trường hợp hoàn lại phí trên cơ sở 30 ngày liên tục mà lại lấn sang bảo
hiểm kế tiếp lập cho cùng người được bảo hiểm ấy thì bảo hiểm này chỉ chịu trách
nhiệm về số tiền được tính theo tỷ lệ ngạch giá hạn ký ở(a) và/hoặc (b) trên cho số
ngày thuộc thời hạn của bảo hiểm này và là thời hạn thực sự được tính hoàn lại phí
bảo hiểm Tùy theo chọn lựa của người được bảo hiểm, thời gian lấn sang đó có thể
tính từ ngày bắt đầu đậu hoặc tính từ ngày đậu củ kỳ hạn 30 ngày liên tục như đã
quy định ở (a) hay (b) hay phần “quy định” trên
Trang 28Bảng 1: Sơ đồ quy trỡnh khai thỏc nghiệp vụ bảo hiểm tàu thủy
XemB2Phõn cấp khai thỏc
Hồ sơ, số liệu củakhỏch hàng
Xem B3 và 1.3 (I)Điều khoản, biểu phớbảo hiểm theo từngloại nghiệp vụ được
ỏp dụng cho từng loạihỡnh bảo hiểm
Xem B4Khỏch hàng phải cúGiấy yờu cầu bảohiểm bằng văn bản
Xem B4Quy chế quản lý ấnchỉ
Xem B5Vào sổ khai thỏc/
thống keTheo mức phớ và thủtục
Tìm kiếm thông tin
Thông báo tái bảo hhiehiể m
Cấp đơn bảo hiểm Thu phí bảo hiểm
Phân tích, tìm hiểu,
đánh giá rủi ro
Tiến hành chào,
đàm phán, chào phí
Chấp nhận bảo hiểm
Theo dõi thu phí tiếp nhận giải quyết mới
L u hồ sơ
Xem xột
Tái bảo hiểm
Trang 29Các b ớc trong quy trình khai thác
B1- Nhận thông tin từ khách hàng:
- Tiếp xỳc với 1 số cơ quan, đơn vị , đoàn thể, cỏc cụng ty kinh doanh vận tải
để tỡm hiểu thụng tin , tiếp cận việc mua sắm, hoặc lắp rỏp chế tạo tàu mới, hoặc
những tàu chưa tham gia bảo hiểm
- Tiếp xỳc khỏch hàng để tỡm hiểu, tuyờn truyền thụng tin, vận động thờm
người tham gia, mở rộng nguồn vốn, cũng như thu hỳt được sự ủng hộ của cỏc đại
lý bảo hiểm
- lắng nghe, chăm súc khỏch hàng để tỡm hiểu cỏc thụng tin về dối tượng được
bảo hiểm để đỏnh giỏ được tiềm năng phỏt triển
- Phản ứng kịp thời trước cỏc thắc mắc, và nhu cầu phỏt sinh của khỏch hàng
B2- Phân tích, tìm hiểu và đánh giá rủi ro:
- Thu thập số liệu, làm cụng tỏc thụng kờ, để đỏnh giỏ thị trường đồng thời tư
vấn ra quyết định cho cỏc cấp lónh đạo để cú chiến lược kinh doanh phự hợp với
nhu cầu thị trường
- Dựa vào thụng tin, cũng như biểu phớ cú sẵn, khai thỏc viờn tiếp cận khỏch
hàng và cung cấp dịch vụ, chào hàng với mức phớ bảo hiểm thớch hợp
- Khai thỏc viờn hoặc giỏm định viờn trực tiếp tiếp xỳc, tỡm hiểu thụng tin cơ
bản để trờn cơ sở đú đỏnh giỏ rủi ro của cỏc đối tượng tham gia bảo hiểm( người, tài
sản, trỏch nhiệm dõn sự)
- Tựy vào trường hợp dặc biệt, sẽ cần sự tư vấn của cỏc giỏm định viờn cao
cấp độn từ nước ngoài để hỗ trợ
B3- Xem xét đề nghị bảo hiểm:
- Trờn cơ sơ khai thỏc khỏch hàng, cũng như dựa trờn số liệu thống kờ, khai
thỏc viờn hỗ trợ, tư vấn cho khỏch hàng tỡm hiểu mức phớ, hợp đồng bảo hiểm phỳ
hợp với nhu cầu và khả năng tài chớnh
- Trờng hợp phải tham khảo phí bảo hiểm của thị trờng tái bảo hiểm, thì chỉ
chào phí bảo hiểm cho khách hàng khi đã nhận đợc thông báo phí của thị trờng tái
bảo hiểm
- Với tàu tham gia bảo hiểm ở cụng ty bảo hiểm khỏc trước đú, cần tỡm hiểu
kỹ hơn về tổn thất rủi ro trong quỏ khứ, loại hợp đồng, mức phớ đó tham gia cũng
như nguyờn nhõn chủ yếu để chuyển đổi cụng ty bảo hiểm và xỏc định khả năng tài
chớnh của chủ tàu
- Đối với tàu đó từng tham gia bảo hiểm ở cỏc cấp dại lý khỏc của ABIC,
thỡ tiếp tục gia hạn hợp đồng dựa trờn biểu phớ và mức cước trước đõy Tuy
Trang 30gia hạn hợp đồng
+ Khai thỏc viờn hoàn toàn cú thể từ chối bảo hiểm nếu xột thấy cỏc yờu cầu
của đối tượng được bảo hiểm khụng thỏa món
+ Trờng hợp những dịch vụ đặc biệt có gí trị lớn, khách hàng lớn, tính kỹ
thuật phức tạp, Khai thác viên đề xuất với Lãnh đạo Phòng, Lãnh đạo Chi nhánh
hoặc Lãnh đạo Công ty phơng án đàm phán
+ Nếu trên mức phân cấp khai thác, Chi nhánh trực thuộc ABIC tiến hành
các bớc theo nh nh mục các b ớc trong quy trình khai thá c và đợc cụ thể hóa dới
đây
H
ớng dẫn xử lý khai thác trên phân cấp
Trường hợp nếu loại hỡnh khai thỏc quỏ lớn, vượt qua cả hạn mức cho phộp
của đại lý thỡ để tiếp tục, cần phải thụng bỏo lờn cơ quan cấp trờn để cú biện phỏp
xử lý kịp thời
Nội dung công văn do Lãnh đạo Chi nhánh ký, gồm những điểm chính nh sau:
số liệu về khách hàng, về đối tợng bảo hiểm, ý kiến phân tích, đề xuất hớng giải
quyết nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng
Khai thác viên nghiên cứu, đề xuất phơng án giải quyết Lãnh đạo Phòng Hàng
hải xem xét, nếu thuộc phân cấp của Lãnh đạo Phòng thì thông báo cho Chi nhánh
ngay
Trờng hợp giá trị tham gia bảo hiểm lớn, mức trách nhiệm cao, vợt mức đợc
phân cấp của Lãnh đạo Phòng, Phòng Hàng hải làm tờ trình phơng án giải quyết gửi
các Phòng liên quan (Tái bảo hiểm) và báo cáo Lãnh đạo Công ty xin ý kiến dhỉ
đạo nếu cần có thể tiến hành đàm phán với Lãnh đạo đơn vị khách hàng
Sau khi Lãnh đạo Công ty đồng ý phê duyệt, Phòng nghiệp vụ thông báo cho
Chi nhánh để tiến hành cấp Đơn bảo hiểm
Trang 31Bảng 2: Sơ đồ hướng dẫn xử lý khai thác viên phân cấp
_ Phân cấp khaithác
_ Hồ sơ, số liệucủa khách hàng
Xem xét đề xuất của đơn vị
Thông báo các đơn vị
Xem xét chào phí
nhận bảo hiểm
Trang 32B4- Tiến hành đàm phán và chấp nhận bảo hiểm:
- Tiến hành đàm phỏn trong trường hợp khỏch hàng khụng chấp nhận mức
phớ chào hàng, lỳc này, lónh đạo phũng, lónh đạo chi nhỏnh tựy thuộc vào mức độ
cú thể xem xột để thay đổi lại mức phớ theo thỏa thuận của 2 bờn
- Quỏ trỡnh đàm phỏn cú thể phức tạp, kộo dài nhiều ngày và liờn quan
đến nhiều bộ phận của cụng ty, nhưng phải đặt mục tiờu thu hỳt khỏch hàng lờn
hàng đầu
- Trong quá trình đàm phán, các yếu tố liên quan nh Quy tắc bảo hiểm, biểu
phí, hồ sơ số liệu về khách hàng, chính sách khách hàng, phí của nhà tái bảo hiểm
hàng đầu sẽ đợc Lãnh đạo xem xét để đa ra đợc mức phí phù hợp, đáp ứng đợc nhu
cầu bảo hiểm của khách hàng
- Người ra quyết định cuối cựng là cấp lónh đạo sau khi đàm phỏn thành cụng
và khỏch hàng đó vừa lũng với mức tiếp thị của cụng ty
B5- Cấp Đơn bảo hiểm:
- Khi khách hàng chấp nhận bản chào phí bảo hiểm, đề nghị gửu Giấy yêu
cầu bảo hiểm hoàn chỉnh chính thức bằng văn bản cho ABIC (yêu cầu có ký tên và
đóng dấu)
- Giấy yờu cầu bảo hiểm cú tớnh phỏp lý cao, là cơ sở để thể hiện khỏch hàng
đó đồng ý tham gia bảo hiểm và đồng thời là 1 bộ phận quan trọng để sau này thành
lập nờn hợp đồng bảo hiểm
B5.a Nguyên tắc chung:
Việc cấp Đơn, Giấy yêu cầu bảo hiểm phải theo đúng những quy định theo:
Phân cấp quản lý nghiệp vụ bảo hiểm tàu thủy
Hợp đồng bảo hiểm đã ký kết giữa ABIC và chủ tàu
Hớng dẫn bảo hiểm tàu thủy hàng năm của Công ty
B5.b Cấp Đơn bảo hiểm:
Kiểm tra giấy tờ, kiểm tra tàu
Nhận và kiểm tra Giấy yêu cầu bảo hiểm:
Khi nhận đợc Giấy yêu cầu bảo hiểm của chủ tàu, cán bộ khai thác phải
kiểm tra Giấy yêu cầu bảo hiểm có hợp lệ không Giấy yêu cầu bảo hiểm đợc coi là
hợp lệ khi ghi đầy đủ các mục sau:
Tên ngời đợc bảo hiểm
Tên tàu và các đặc điểm riêng của tàu nh: quốc tịch, cảng đăng ký, năm nơi
đóng tàu, loại tàu, GT, DWT v.v
Giá trị tàu, giá trị tham gia bảo hiểm (đối với trờng hợp có tham gia bảo hiểm
thân tàu)
Phạm vi hoạt động
Thời hạn tham gia bảo hiểm
Điều kiện tham gia bảo hiểm
Kiểm tra tàu:
Trang 33Đối với những tàu tham gia bảo hiểm lần đầu tại ABIC và/ hoặc tham gia
bảo hiểm không liên tục thì Chi nhánh bắt buộc phải kiểm tra tàu trứơc khi nhận bảo
hiểm Khi kiểm tra tàu phải điền đầy đủ các nội dung theo mẫu Biên bản kiểm tra
đính kèm h ớng dẫn này Riêng đối với các tàu đóng mới và mua nhận ở nớc ngoài
thì có thể căn cứ hồ sơ Đăng Kiểm tàu mà không cần kiểm tra trớc
Cấp Đơn, Giấy yêu cầu bảo hiểm
Sau khi kiểm tra Giấy yêu cầu bảo hiểm, hồ sơ Đăng kiểm của tàu và tình
trạng kỹ thuật của tàu, nếu tàu đủ khả năng hoạt động an toàn theo quy định thì căn
cứ vào Giấy yêu cầu bảo hiểm t iến hành cấp Đơn, Giấy chứng nhận bảo hiểm trong
vòng 05 ngày kể từ ngày nhận đợc yêu cầu bảo hiểm hợp lệ Trờng hợp từ chối cấp
Đơn bảo hiểm hoặc cấp Đơn chậm hơn 05 ngày thì phải thông báo rõ lý do từ chối
hoặc chậm trễ cho chủ tàu
Trờng hợp trên mức phân cấp, Chi nhánh phải thông báo cho Công ty các
nội dung sau:
Tên ngời đợc bảo hiểm
Tên tàu và các đặc điểm riêng của tàu nh: quốc tịch, cảng đăng ký, năm nơi
đóng tàu, loại tàu, GT, DWT…
Giá trị tàu, giá trị tham gia bảo hiểm (đối với trờng hợp có tham gia bảo hiểm
thân tàu)
Phạm vi hoạt động
Thời hạn tham gia bảo hiểm
Điều kiện tham gia bảo hiểm
Các kiến nghị của Chi nhánh đối với việc bảo hiểm tàu
Chỉ sau khi có ý kiến xác nhận đồng ý bảo hiểm của Công ty thì Chi nhánh
mới tiến hành cấp Đơn hoặc Giấy chứng nhận bảo hiểm cho tàu
Những tr ờng hợp cần l u ý khi cấp Đơn, Giấy chứng nhận bảo hiểm :
Trờng hợp cho tàu hoạt động tuyến nớc ngoài thì phí bảo hiểm phải thanh toán
bằng ngoại tệ ( thường là USD) Trong trường hợp mà bảo hiểm được đúng phớ theo
tiềng Việt Nam thỡ khi thanh toỏn phớ bảo hiểm, cụng ty chỉ phải trả mức tiền tương
ứng với giỏ trị ngoại tệ quy đổi tớnh tại thời điểm thanh toỏn
Nếu người tham gia bảo hiểm đúng phớ dưới mức yờu cầu, thỡ phải ghi rừ
trong Đơn bảo hiểm về giỏ trị thực tế cũng như tỷ lệ phớ đó đúng, đõy là cơ sở để
cụng ty thực hiện trỏch nhiệm bồi thường về sau
Trường hợp bờn bảo hiểm đó kiểm tra và yờu cầu khắc phục sửa chữa về mặt
kỹ thuật cơ sở vật chất trờn tàu nhưng khụng được chủ tàu tuõn theo, bờn bảo hiểm
cú quyền ghi rừ vào Đơn bảo hiểm mức độ vi pham để loại bỏ trỏch nhiệm của
mỡnh Đặc biệt khụng tham gia thực hiện bảo hiểm với những tàu khụng đủ khả
năng ra khơi
Đối với những tàu trước đó tham gia bảo hiểm ở cụng ty bảo hiểm khỏc, cần
Trang 34định cú nờn tham gia bảo hiểm hay khụng?
Cần lưu ý với những trường hợp đó từng tham gia bảo hiểm tại chi nhỏnh
khỏc, xem xột nguyờn nhõn thay đổi chi nhỏnh Nếu tỡnh trạng nợ xấu, tham gia
đúng phớ khụng đều đặn, vẫn nợ tiền thỡ nhất quyết khụng được nhận bảo hiểm
Cấp Đơn, Giấy chứng nhận, vào sổ thống kê:
Đơn bảo hiểm thân tàu, Giấy chứng nhận bảo hiểm P&I in 7 bản, giao cho chủ
tàu 3 bản (2 bản chính, 1 bản phụ), 1 bản chính chuyển KT- TV theo dõi hạch toán,
lu 1 bản chính, 1 bản phụ và gửu 1 bản chính về Công ty để theo dõi (thời gian gửi
không chậm quá 03 ngày kể từ ngày cấp)
Khi cấp Đơn, Giấy chứng nhận bảo hiểm phải vào sổ thống kê (lấy số Đơn,
Giấy chứng nhận theo số thứ tự trong sổ) Khai thác viên phải cập nhật vào phần
mềm máy tính các thông tin theo yêu cầu của nghiệp vụ
L u ý :
Sổ cấp Đơn, Giấy chứng nhận bảo hiểm phải phân ra từng loại nh : tàu chạy
trờn tuyến nước ngoài, hoặc chạy đường sụng nước
Cấp giấy Sửa đổi bổ sung (nếu có):
Nếu sau khi cấp Đơn, Giấy chứng nhận bảo hiểm chủ tàu có yêu cầu thay
đổi: giá trị bảo hiểm, phạm vi hoạt động, điều kiện tham gia bảo hiểm, thời hạn bảo
hiểm… thì Chi nhánh cấp Giấy sửa đổi bổ sung theo quy định sau:
Đối với tàu tham gia bảo hiểm bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam (có giá
trị bảo hiểm trên mức phân cấp của Chi nhánh) chỉ cấp Giấy sửa đổi bổ sung khi đợc
Công ty chấp nhận
Đối với tàu tham gia bảo hiểm bằng đồng Việt Nam (có giá trị bảo hiểm dới
mức phân cấp của Chi nhánh) Chi nhánh chủ động cấp giấy sửa đổi bổ sung theo
yêu cầu của chủ tàu và gửi 1 bản về Công ty
Nếu xét thấy sự thay đổi đó làm tăng thêm trách nhiệm của ABIC thì phải
thu thêm phí bảo hiểm
Thông báo thu phí bảo hiểm, hoàn phí bảo hiểm, thanh toán hoa hồng:
Thông báo thu phí bảo hiểm:
- Phí bảo hiểm đợc thu theo định ký nh đã quy định tại Hợp đồng bảo hiểm đã
kỹ giữa ABIC và chủ tàu
- Thông báo thu phí, hoàn phí phải thể hiện rõ các nội dung sau:
Tên tàu bảo hiểm, số Đơn bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm
Cách tính số phí phải nộp
Số tài khoản của đơn vị
Ấn định thời gian nộp phớ
- Tỷ lệ phớ, mức phớ bảo hiểm ỏp dụng căn cứ vào văn bản hướng dẫn triển
khai nghiệp vụ hàng năm hoặc theo hướng dẫn riờng của Cụng ty
- Đối với cỏc tàu phải thu xếp tỏi bảo hiểm thỡ Cụng ty thụng bỏo cho tỏi
Trang 35bảo hiểm.
Theo dõi thu phí bảo hiểm:
- Sau khi phát thông báo thu phí, cán bộ nghiệp vụ phối hợp cùng Phòng Kế
toán theo dõi, đôn đốc việc nộp phí của chủ tàu
- Phí bảo hiểm bằng ngoại tệ tiền gì thì phải thu bằng loại tiền đó trừ trường
hợp đã được Lãnh đạo có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản cho thanh toán bằng loại
tiền khác hoặc theo quy định bắt buộc của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
- Khi thu phí bảo hiểm phải cấp hóa đơn V.A.T để thuận lợi cho việc kiểm
tra, nộp thuế
- Tiến hành thanh toán hoa hồng theo chế độ đại lý
Hoàn phí bảo hiểm:
- Trường hợp chủ tàu thông báo bằng văn bản hủy Hợp đồng bảo hiểm hoặc
tàu ngừng hoạt động v.v phải vào sổ theo dõi và báo cáo ngay về Công ty
- Hoàn phí bảo hiểm phải được thực hiện theo đúng quy định trong Hợp đồng
bảo hiểm đã ký giữa ABIC và chủ tàu (đối với tàu biển) hoặc Quy tắc bảo hiểm (đối
với tàu hoạt động trong vùng biển Việt Nam)
- Sau khi tiến hành hoàn phí cho chủ tàu phải thông báo về Công ty để thống
kê theo dõi
B6- Theo dõi, tiếp nhận giải quyết mới:
- Theo dõi đối tượng được bảo hiểm, đôn đốc thu phí bảo hiểm
- Sửa đổi bổ sung các điều kiện bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm… theo yêu
cầu của người được bảo hiểm, các nhà nhận Tái bảo hiểm hoặc thay đổi cho phù
hợp với tình hình mới
- Làm các công tác tuyên truyền, đề phòng hạn chế tổn thất…
Theo dõi tình hình bảo hiểm:
Dựa vào kế hoạc đặt ra, hàng tháng, hàng quý tiến hành đối chiếu phí phát
sinh, phí thu, số tàu tham gia với kế hoạch đề ra
Thường xuyên đôn đốc khách hàng nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng kỳ hạn
Thường xuyên liên hệ với chủ tàu để khai thác bảo hiểm những tàu mới
Chú trọng tập trung khai thác những đội tàu lớn mà phí thu chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng số phí thu
Nghiên cứu đầy đủ các văn bản hướng dẫn bảo hiểm tàu thủy hàng năm của
Công ty Nắm vững Quy tắc, Điều khoản, biểu phí áp dụng nếu có gì vướng mắc
cần báo cáo về Công ty để có hướng giải quyết.
Trang 36Kết hợp với bộ phận bồi thường để tính kết quả bảo hiểm của từng chủ tàu
để có biện pháp vận động bảo hiểm thích hợp Tập hợp các kiến nghị của chủ tàu
để kịp thời đề xuất ý kiến với Công ty điều chỉnh tỷ lệ phí, Quy tắc, Điều khoản,
Hợp đồng bảo hiểm cho thích hợp nhằm đáp ứng với nhu cầu của khách hàng.
Cuối năm cần chuẩn bị đầy đủ số liệu để họp với khách hàng, tổng kết công
tác bảo hiểm trong năm, hướng triển khai năm tới Nắm vắt những khó khăn cũng
như yêu cầu của chủ tàu để có hướng khắc phục ngày càng tốt hơn
Lưu ý:
Đối với tàu tham gia bảo hiểm chuyến phải theo dõi ngày tàu khởi hành,
ngày tàu kết thúc chuyến hành trình và phải thông báo ngay cho Công ty để thu xếp
Tái bảo hiểm nếu cần thiết
Trường hợp cấp Đơn bảo hiểm qua đại lý thì Công ty phải tổ chức hướng
dẫn đại lý cấp Đơn bảo hiểm theo đúng hướng dẫn trên và quy định chung của Nhà
nước Phải thường xuyên kiểm tra để kịp thời uốn nắn các sai sót
Kết quả khai thác ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh bảo hiểm thân
tàu Kết quả khai thác bảo hiểm thân tàu của ABIC trong những năm gần đây được
thể hiện qua bảng sau
Trang 37Bảng 3: Kết quả khai thác bảo hiểm tàu của ABIC giai đoạn 2008- 2012
242.021.401,75
341.250.176,47
580.125.300,00
725.321.400,00
2.130.362.7 05,16
Nguồn: Phòng kinh doanh - ABIC
Qua bảng 3, trong năm 2010 số tàu khai thác là 78 chiếc với tổng trọng tải là
241.800 MT có tổng giá trị bảo hiểm là 226.188.225,94$ và thu được 1.809.505,81$
phí bảo hiểm Thì đến năm 2001 khai thác được 82 tàu có tổng trọng tải là 257.650
MT với tổng giá trị bảo hiểm là 242.021.401,75$ và thu được 1.887.766,93$ phí
bảo hiểm
Sang năm 2010 bắt đầu có sự tăng nhanh các chỉ tiêu khai thác, số tàu khai
thác là 112 chiếc tăng 30 chiếc có tổng trọng tải là 36.145 MT tăng 104.495MT với
tổng giá trị bảo hiểm là 341.250.176,47$ tăng 99.228.774,72$ và thu được
2.388.751,24$ phí bảo hiểm tăng 500.984,31$
Năm 2011 là năm có nhịp độ phát triển khai thác lớn nhất, số tàu khai thác
tăng 84 chiếc tổng trọng tải tăng 252.855 MT với tổng giá trị bảo hiểm tăng
238.875.123,53$ tương ứng với số phí bảo hiểm tăng 1.904.175,98$ Đây là một
con số rất đáng mừng đối với Công ty trong việc triển khai nghiệp vụ này thể
hiện sự nỗ lực của Lãnh đạo, nhân viên của Công ty trước sự cạnh tranh gay gắt
của thị trường
Năm 2012 tiếp tục gia tăng các chỉ tiêu, số tàu là 237 chiếc tăng 41 chiếc, tổng
Trang 38trọng tải là 815.124 MT tăng 200.124 MT tổng giá trị bảo hiểm của năm là
725.321.400,00$ tăng 145.196.100,00$ và phí bảo hiểm là 5.077.249,80$ tăng
784.322,58$
Để thấy rõ hơn tình hình khai thác của ABIC có thể nhìn vào bảng 4
Bảng 4: Tốc độ tăng phí bảo hiểm của ABIC qua các năm 2008-2012
Nguồn: Phòng kinh doanh - ABIC
Qua bảng 4 tốc độ tăng phí bảo hiểm gia đoạn 2002-2003 là cao nhất tăng
79,71%, sau đó là giai đoạn 2001-2002 tốc độ tăng là 26,54% , giai đoạn 2003-2004
tốc độ tăng là 18,27% thấp nhất là giai đoạn 2000-2001 tăng chỉ 4,32%
2 Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất.
Đề phòng và hạn chế tổn thất là công việc Công ty thực hiện thông qua nhiều
biện pháp, dựa trên hồ sơ lưu trữ,và các thông tin thu thập được
Các chi phí hợp lý khác thuộc trách nhiệm bảo hiểm
- Chi phí đề phòng hạn chế tổn thất: bao gồm những chi phí cần thiết và hợp
lý đã chi ra để ngăn ngừa và hạn chế tổn thất (như chi phí cứu hộ, cứu nạn, cứu
cháy v.v ), về nguyên tắc các chi phí này phải thông báo trước bằng văn bản và
được ABIC chấp thuận bằng văn bản, tuy nhiên trong trường hợp cần thiết phải
hành động ngay thì chủ tàu có thể vừa tiến hành cứu tàu vừa thông báo cho ABIC
- Các chi phí khác: chi phí giám định, phục vụ giám định, chi phí đăng kiểm
giám sát sửa chữa v.v các chi phí nói trên đều phải cần thiết, hợp lý
Tổng các chi phí nêu trên cộng với chi phí sửa chữa không được vượt quá giá
trị bảo hiểm tàu
Lưu trữ hồ sơ
Hồ sơ đã giải quyết bồi thường đều phải vào sổ, phân loại theo dạng tổn thất,
rủi ro được bảo hiểm và theo đơn vị chủ tàu để có số liệu tính phí và hướng đề
phòng hạn chế tổn thất
Các hồ sơ giải quyết bồi thường xong phải sắp xếp theo thứ tự thời gian, đơn