Hàng nông sản của Việt Nam với chủng loại tương tự nhưng có chất lượng thấp hơn và giá thành cao hơn, khó có thể cạnh tranh với hàng hoá các nước nói trên vốn đã có mặt tại thị trường Ho
Trang 1MỤC LỤC
1.2.3 Việt Nam khai thác chưa hết tiềm năng của Hoa Kỳ 25
Hoa Kỳ là một nước đông dân trong khi người dân có thói quen mua sắm mạnh tay, hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu hơn 2.000 tỷ USD 25
Song, cho đến nay hàng hóa Việt Nam mới chỉ chiếm chưa tới 1% tổng nhu cầu nhập khẩu của nước này, dù Hoa Kỳ hiện là 1 trong 2 đối tác nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam (bảng 1.4) Hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam mới chỉ mang tính chất bổ xung cho cơ cấu hang hóa xuất nhập khẩu 25
(Đơn vị tính: 1000 USD) 25
Quốc gia 25
2008 25
2009 25
2010 25
2011 25
2012 25
Trung Quốc 25
1.308.191 25
1.121.539 25
1.789.986 25
2.612.752 25
2.853.232 25
Hoa Kì 25
583.256 25
551.409 25
774.213 25
1.018.280 25
1.245.524 25
Philipin 25
1.269.923 25
Trang 21.001.401 25
537.346 25
664.263 25
Malaixia 25
371.175 25
365.575 25
414.626 25
595.297 25
634.547 25
(Nguồn:Tổng cục thống kê) 25
Mặc dù hiệp định Thương Mại Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực, hàng hoá Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ được hưởng MFN nhưng chưa ở mức cao và thường xuyên, vẫn phải cạnh tranh quyết liệt với các hàng hoá của Trung Quốc, của các nước ASEAN và nhiều nước khác trên thị trường Hoa Kỳ, trong cuộc chiến này giá cả và chất lượng mang tính quyết định Hàng nông sản của Việt Nam với chủng loại tương tự nhưng có chất lượng thấp hơn và giá thành cao hơn, khó có thể cạnh tranh với hàng hoá các nước nói trên vốn đã có mặt tại thị trường Hoa Kỳ trước hàng hoá của Việt Nam hàng chục năm 25
Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang gặp một số khó khăn nhất định khi thâm nhập thị trường Hoa Kỳ đó là đa số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu ở nguyên liệu thô nên giá trị còn thấp, nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được các kênh bán lẻ, còn yếu về năng lực cạnh tranh về giá cả, chất lượng sản phẩm… 25
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
1.2.3 Việt Nam khai thác chưa hết tiềm năng của Hoa Kỳ 25
Hoa Kỳ là một nước đông dân trong khi người dân có thói quen mua sắm mạnh tay, hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu hơn 2.000 tỷ USD 25
Song, cho đến nay hàng hóa Việt Nam mới chỉ chiếm chưa tới 1% tổng nhu cầu nhập khẩu của nước này, dù Hoa Kỳ hiện là 1 trong 2 đối tác nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam (bảng 1.4) Hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam mới chỉ mang tính chất bổ xung cho cơ cấu hang hóa xuất nhập khẩu 25
Bảng 1.4: 4 thị trường hàng nông sản lớn nhất của Việt Nam 2008-2012
(Đơn vị tính: 1000 USD) 25
Quốc gia 25
2008 25
2009 25
2010 25
2011 25
2012 25
Trung Quốc 25
1.308.191 25
1.121.539 25
1.789.986 25
2.612.752 25
2.853.232 25
Hoa Kì 25
583.256 25
551.409 25
774.213 25
1.018.280 25
1.245.524 25
Philipin 25
Trang 4956.939 25
1.001.401 25
537.346 25
664.263 25
Malaixia 25
371.175 25
365.575 25
414.626 25
595.297 25
634.547 25
(Nguồn:Tổng cục thống kê) 25
Mặc dù hiệp định Thương Mại Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực, hàng hoá Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ được hưởng MFN nhưng chưa ở mức cao và thường xuyên, vẫn phải cạnh tranh quyết liệt với các hàng hoá của Trung Quốc, của các nước ASEAN và nhiều nước khác trên thị trường Hoa Kỳ, trong cuộc chiến này giá cả và chất lượng mang tính quyết định Hàng nông sản của Việt Nam với chủng loại tương tự nhưng có chất lượng thấp hơn và giá thành cao hơn, khó có thể cạnh tranh với hàng hoá các nước nói trên vốn đã có mặt tại thị trường Hoa Kỳ trước hàng hoá của Việt Nam hàng chục năm 25
Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang gặp một số khó khăn nhất định khi thâm nhập thị trường Hoa Kỳ đó là đa số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu ở nguyên liệu thô nên giá trị còn thấp, nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được các kênh bán lẻ, còn yếu về năng lực cạnh tranh về giá cả, chất lượng sản phẩm… 25
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Chúng ta đang sống trong một kỉ nguyên của sự hợp tác và phát triển,khi
mà việc trao đổi buôn bán hang hóa giữa các quốc gia không chỉ thắt chặt tìnhhữu nghị giữa các quốc gia mà còn đóng góp rất lớn vào việc thúc đẩy phát triểnkinh tế của từng nước
Trong bối cảnh đó Việt Nam chúng ta đang từng bước chuyển đổi nền kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa cũng không thể thiếu sự đóng góp củangành nông nghiệp.Là một quốc gia có lợi thế về điều kiên tự nhiên Việt Nam cótiềm năng lớn về sản xuất các loại nông sản.Dân số thế giới không ngừng gia tăngcùng với nhu cầu về lương thực Điều này tạo ra một cơ hội rất lớn cho ngành sảnxuất nông sản của Việt Nam
Hiện nay, cùng với xu hướng tăng xuất khẩu nông sản Việt Nam nói chungvào tất cả các thị trường, kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ cũng tăng trong nhữngnăm qua, đưa thị trường Hoa Kỳ trở thành thị trường nông sản lớn thứ 4 của ViệtNam sau EU,Trung Quốc,Nga
Thực tế,những năm gần đây thị phần xuất khẩu nông sản của Việt Nam sangHoa Kỳ liên tục tăng Tuy nhiên,nếu so sánh với các nước trong khu vực có tiềmnăng về sản xuất các loại nông sản như nước ta thì kim ngạch xuất khẩu nông sảncủa Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ còn thấp Điều đó chứng tỏ tiềm năng lớn vềxuất khẩu nông sản chưa được khai thác hiệu quả
Chuyên đề sẽ phân tích thực trạng xuất khẩu trong những năm gần đây và
đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Hoa
Kỳ cho tới năm 2020 là rất cần thiết góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩunông sản
Mục đích nghiên cứu
Chuyên đề sẽ phân tích thực trạng xuất khẩu trong những năm gầnđây.Từ đó,đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông sản của ViệtNam sang Hoa Kỳ cho tới năm 2020 góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩunông sản của cả nước
Trang 6Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Việtnam sang thị trường Hoa Kỳ
Phạm vi nghiên cứu: Chuyên đề tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩuhang nông sản của Việt Nam sang thị trường Hoa kì giai đoan 2008-2012
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp thống kê,tổng hợp, phân tích, sosánh.Các số liệu và nghiên cứu lấy từ các báo cáo tổng hợp,sách báo, tạp chí đãđược công bố,các trang web liên quan tới đề tài này để thực hiện đề tài nghiêncứu
Kết cấu của đề tài gồm 3 chương chính
Chương 1:Tổng quan về thị trường Hoa Kỳ và sự cần thiết phải thúc đẩyxuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
Chương 2:Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản trên thị trường Hoa Kỳ giaiđoạn 2008-2012
Chương 3:Định hướng,giải pháp nhằm thúc nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàngnông sản sang thị trường Hoa Kỳ cho đến năm 2020
Em xin cảm ơn cô giáo PGS.TS.Ngô Thị Tuyết Mai đã tận tình chỉ bảo
em trong đợt thực tập này.Do kiến thức vẫn còn hạn chế nên trong bài viếtkhông tránh được những thiếu sót,em rất mong nhận được sự góp ý của cácthầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 7CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG HOA KỲ VÀ
SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
1.1.Tổng quan về thị trường thị trường nông sản của Hoa Kỳ
1.1.1 Tình hình nhập khẩu hàng nông sản của Hoa Kỳ
Năm 2012,kim ngạch nhập khẩu hàng hóa dịch vụ vào khoảng 2200
tỷ USD
Trong cơ cấu nhập khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ,các sản phẩm nông nghiệpchiếm tỷ trọng đáng kể
Bảng 1.1:Giá trị nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp của Hoa Kỳ 2008-2012
(Nguồn:Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ)
Năm 2008 tuy là năm bắt đầu khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng vẫn chưalàm ảnh hưởng tình trạng nhập khẩu nông sản của Hoa Kỳ.Giá trị nhập khẩu đạt79,3 tỷ USD tăng 13.1% so với năm 2007.Bước sang năm 2009,khủng hoảng kinh
tế đã khiến cho kim ngạch nhập khẩu hàng nông sản của Hoa Kỳ mang giảm 7.44%
so với năm 2008 tương ứng giá trị 73,4% USD.Năm 2010,những chính sách phụchồi nền kinh tế của chính quyền tổng thống Obama cũng đem lại chút khởi sắc nềnkinh tế đưa giá trị nhập khẩu đạt 79 tỷ USD tăng 7,63 với năm 2009 nhưng mới chỉbằng một nửa năm 2008 Từ năm 2011 đến năm 2012,khủng hoảng nợ công Châu
Âu khiến mức tăng trưởng này giảm xuống 3.16% và 2.44% đạt giá trị 81.5 và 83.5
tỷ USD.Tuy chịu ảnh hưởng lớn từ hai cuộc khủng hoảng nhưng giá trị nhập khẩunông sản của Hoa Kỳ giai đoạn 2008-2012 trung bình đạt 79,3 tỷ USD
Tuy Hoa Kỳ là một nước nông nghiệp phát triển có nên sản xuất hiện đại vào
Trang 8hạng bấc nhất thê giới nhưng hàng năm vẫn phải nhập khẩu đến 80% mặt hàng thủysản, 40% các mặt hàng nông sản mà chủ yếu là các loại rau và sản phẩm từ rau
Bảng 1.2:Top 5 nhà cung cấp nông sản nhập khẩu vào Hoa Kỳ trong tài khoá 2011
(Đơn vị:Tỷ USD)
(Nguồn:Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ)
Hoa Kỳ nhập khẩu nông sản từ rất nhiều nước nhưng Mexico, Canada vàLiên minh châu Âu vẫn là những nhà cung cấp nông sản chính cho Hoa Kỳ trongnăm 2012 (cung cấp gần 8%),tiếp theo đó là Trung Quốc,Brazil Tính theo khốilượng (tấn) thì những nước cung cấp lớn nhất năm 2011 là Canada, Mexico,Guatemala, Costa Rica, và Malaysia Tính theo khu vực thì các nước Đông Nam Á
đã tăng xuất khẩu nông sản gấp hơn 2 lần tính theo khối lượng vào thị trường Hoa
Kỳ cũng như Liên minh châu Âu
Tuy nhiên, EU vẫn đứng sau Canada về trị giá xuất khẩu nông sản sang Hoa
Kỳ Sau Mexico, Nam Mỹ đứng trên Đông Nam Á về trị giá xuất khẩu sang 5 khuvực hàng đầu này cung cấp hơn ¾ tổng nông sản nhập khẩu vào Hoa Kỳ
Do có một nhu cầu lớn đến như vậy nên đây trở thành thị trường hàng đầucần hướng tới của rất nhiều nhà xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàng nông sản nóiriêng
1.1.2.Chính sách nhập khẩu hàng nông sản của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ trở thành thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới chủ yếu
do chính sách đa dạng nguồn cung và nhu cầu tiêu dung phong phú của ngườidân.Chính điều đó đã khiến rất nhiều nước coi đây là thị trường trọng tâm để thúcđẩy xuất khẩu Những năm gần đây,dể hạn chế hàng hóa nhập khẩu, Hoa Kỳ đãgia tăng các hàng rào thương mại nhằm giảm lượng hàng hóa nước ngoài vào thịtrường Nhằm khôi phục và thúc đẩy phát triển nền kinh tế sau khủng hoảng kinh
tế thế giới, chính quyền mới của tổng thống Obama đã có hàng loạt những điềuchính lớn trong chính sách bảo hộ hàng nông sản để bảo hộ thị trường trong nước
Obama kêu gọi đưa ra luật lao động và môi trường chặt chẽ hơn, cũng như
Trang 9các biện pháp nhằm giảm thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ Châu Á xem đó lànhững biện pháp bảo hộ kinh tế Hoa Kỳ trong thời điểm khủng hoảng tài chính toàncầu khiến việc xuất khẩu trở nên quan trọng hơn Ông còn muốn yêu cầu các nềnkinh tế đang phát triển cam kết giảm ô nhiễm và bổ sung các tiêu chuẩn về lao động
và môi trường trong các thỏa thuận về thương mại Những điều chỉnh này đã khiếncho các nhà xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn khi muốn xuất khẩu hàng hóa sangthị trường Hoa Kỳ
Khi gia nhập WTO, Hoa Kỳ cũng như mọi nước thành viên phải cam kết lộtrình cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu Chính vì vậy để hạn chếlượng nhập khẩu hàng nông sản, Hoa Kỳ đã sử dụng các rào cản phi thuế quan Cácrào cản này phụ thuộc vào chính sách của mỗi quốc gia và chưa được quy định mộtcách chặt chẽ giữa các quốc gia thành viên WTO đã khiến đây là một công cụ bảo
hộ rất tinh vi, buộc các nhà xuất khẩu phải tuân theo
Những nước chậm và đang phát triển là một nguồn cung rất lớn cho thịtrường Hoa Kỳ Tuy nhiên, do trình độ sản xuất ở các nước này còn thấp đã giúpHoa Kỳ dễ dàng gây khó khăn cho các nước xuất khẩu hàng nông sản vào Hoa Kỳbằng các nâng cao quy định về chất lượng sản phẩm,yêu cầu qui trình sản xuất chếbiến phải đảm bảo vệ sinh,an toàn thực phẩm,nguồn gốc phải được ghi rõ ràng …
vv Để đáp ứng các yêu cầu này,các nhà sản xuất phải tốn rất nhiều thời gian và chiphí
Trong thời gian gần đây, đối với các nước xuất khẩu hàng hóa vào Hoa Kỳ,muốn xuất khẩu phải đạt được sự cho phép của các đoàn kiểm tra thực tế tại cơ sởsản xuất, chi phí thuộc của các đoàn này là rất cao và hoàn toàn do phía doanhnghiệp chi trả Nếu đạt các yêu cầu về các quy định về chất lượng sản phẩm,vệsinh,dư lượng thuốc bảo vệ thực vật….doanh nghiệp mới được cấp mã để xuất khẩuhàng
Với lý do tăng cường quản lý đối với mặt hàng nông sản vào thị trường trongnước, Hoa Kỳ yêu cầu các nhà xuất khẩu nước ngoài phải đăng ký với Cơ quanquản lý thực phẩm thường xuyên hơn đồng thời Hoa Kỳ cũng yêu cầu các nhà xuất
Trang 10khẩu phải có đầu mối liên lạc tại Hoa Kỳ.
Một yêu cầu khác cũng rất gây khó khăn, tốn kém chi phí cho các nhà xuấtkhẩu là các hàng hóa nông sản nhập khẩu phải tăng cường sử dụng chứng từ củabên thứ ba
Tuy nhiên điều gây khó khăn nhất cho doanh nghiệp xuất khẩu sang thịtrường Hoa Kỳ không phải từ các biện pháp phòng ngừa từ xa mà ở các biện phápkiểm tra tại Cảng Hoa Kỳ đã tăng cường việc kiểm tra từ mức lấy mẫu lên mứckiểm tra 100% hàng xuất khẩu tại Cảng Điều này nâng mức lượng hàng cần kiểmtra lên rất lớn vượt quá mức làm việc của cơ quan kiểm tra Do vậy,hàng xuất khẩu
sẽ phải chờ ở Cảng Không chỉ khiến doanh nghiệp xuất khẩu phải chịu thêm chiphí mà còn mất rất nhiều thời gian,rủi ro suy giảm chất lượng hàng hóa,rủi ro vềthời hạn giao hàng Nếu gặp phải trường hợp này thì doanh nghiệp rất dễ phải bồithường hợp đồng vì đã không giao hàng đúng với cam kết khiến cho các nhà xuấtkhẩu lâm vào tình trạng phá sản
1.1.3.Những quy định về hàng nông sản nhập khẩu của Hoa Kỳ
a.Luật Hiện đại ATTP
Trong nhiều năm qua, việc quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) đã trở thànhvấn đề được ưu tiên hàng đầu ở Hoa Kỳ Vấn đề này không chỉ mang lại sự an toàncho sức khỏe của người dân, mà còn tiết kiệm đáng kể cho ngành y tế
Một trong những dấu mốc thành công của công tác quản lý ATTP ở Hoa Kỳ
là đưa Đạo luật Hiện đại hóa ATTP (FSMA) vào thực tế Đạo luật FSMA được ký
từ tháng 1.2011 là một cách tiếp cận có hệ thống trong hoạt động quản lý ATTP dogiới khoa học, ngành công nghiệp thực phẩm và nhà nước thiết lập trong suốt 2 thập
kỷ qua Theo tính toán, việc áp dụng các quy định mới về an toàn thực phẩm sẽ làmgiảm 60% số ca ngộ độc và tiết kiệm cho ngành y tế Hoa Kỳ khoảng 1 tỷ USD
Nói cách khác, FSMA là “cỗ máy” soi thực phẩm kỹ càng và thắt chặt hơn.FSMA tập trung vào việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa đối với toàn bộ dâychuyền thực phẩm, từ trang trại đến bàn ăn, thay vì chỉ đi giải quyết sự cố khi cócác vụ việc vi phạm ATTP như thông thường
Trang 11Tiêu chuẩn “từ trang trại đến bàn ăn”- cách tiếp cận mang tính phòng ngừatrong đạo luật đã cho thấy sự đồng thuận dựa trên cơ sở khoa học và quản lý đối vớiviệc làm thế nào để tăng cường hệ thống kiểm soát ATTP Đạo luật FSMA dựa trên
nỗ lực hiện đại hóa hệ thống quản lý ATTP được áp dụng từ những năm 1980
Các nguyên tắc của FSMA
Luật Hiện đại và an toàn thực phẩm(FSMA) được xây dựng dựa trên bốnnguyên tắc:
1.Linh hoạt trong quản lý kiểm soát mối nguy
FSMA coi cách đối phó với các mối nguy an toàn thực phẩm hiệu quả nhất lảphải phòng ngừa ngộ độc thực phẩm.Theo đó,đạo luật yêu cầu các nhà xuất khẩuphải tìm hiểu,đánh giá các mối nguy và chịu các biện pháp kiểm soát phòng ngừamối nguy nhằm đảm bào nguồn thực phẩm an toàn.Trước khi có đạo luậtnày,USDA chỉ quy định HACCP đối với các sản phẩm nước ép,thủy sản,thịt và giacầm
Từ những hiệu quả trong việc áp dụng HACCP,Cơ quan quản lý thực phẩm
và dược phẩm Hoa Kỳ(FDA) cảm thấy nên mở rộng áp dụng quy định này đối vớihàng thực phẩm
2.Thu hồi sản phẩm và cảnh báo cho cộng đồng
Không chỉ nâng cao mức độ yêu cầu đối hàng thực phẩm nhập khẩu,FSMAcòn rất chú trọng đến vấn đề thu hồi và cảnh báo cho người tiêu dùng khi phát hiện
ra tình trạng nhiễm độc thực phẩm.Nếu nguyên nhân ngộ độc thuộc về phía nhàxuất khẩu,họ sẽ chịu trách nhiệm trả chi phí bồi thường và phí phạt vi phạm vì đãkhông đảm bào được các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm
Khi vấn đề nảy sinh,theo luật FSMA,FDA có quyền sử dụng 3 biện pháp:-FDA có quyền ra lệnh cho nhà xuất khẩu thu hồi toàn bộ sản phẩm không
an toàn trên thị trường Hoa Kỳ
-FDA có thể giữ lại các sản phẩm vi phạm các quy định về an toàn thựcphẩm hoặc đình chỉ đăng ký của công ty để ngăn chặn việc phân phối sản phẩm viphạm một cách hợp pháp
Trang 12-FDA sẽ công bố thông tin các sản phẩm vi phạm và việc thu hồi sản phẩmtrên internet.
3.Hệ thống truy suất nguồn gốc cần thiết đối với các sản phẩm tăng cườngquan hệ đối tác
Nhằm nhanh chóng xác định các nguồn gây nhiễm độc,FSMA quy định cáccông ty phải có khả năng truy xuất hoạt động phân phối sản phẩm của mình
.Trước khi có FSMA,việc áp dụng các mô hình truy xuất giống nhau trongmọi lĩnh sản xuất của các ngành thực phẩm không có tác dụng rõ rệt khi xảy ra viphạm khiến lãng phí Kể từ khi FSMA được áp dụng,quy định truy suất nguồn gốcmới đã giúp tăng hiệu quả rất nhiều cho các cuộc điều tra của Trung tâm Kiểm soát
và Phòng ngừa bệnh dịch (CDC) khi phát hiện nhiễm độc vì đã tìm đặc điểm chungcác vụ vi phạm ở các nhóm hàng có nguồn gốc giống nhau.Hệ thống truy suất nàycũng được đánh giá là linh hoạt hơn với sự thay đổi, cải tiến, nâng cao công nghệsản xuất.Song song với hệ thống truy suất nguồn gốc của khu vực tư nhân,FSMAcũng đã có những những quy định đối với các tổ chức mới như ký hợp đồng,hợptác,lien kết dọc để dễ dàng truy suất nguồn gốc
4.Khoanh vùng các tác nhân và thực phẩm gây ngộ độc chủ yếu
a.Luật Hiện đại hóa ATTP
Theo đạo luật mới FSMA, FDA có nhiều quy đinh hơn về an toàn thực phẩm
và hoạt động thanh tra để tăng cường khả năng phát hiện và kiểm soát đối với cácmối nguy hại thực phẩm gây tổn hại cho sức khỏe.Theo đó,FSMA sẽ xem xét các sốliệu về tình hình kinh doanh của công ty xuất khẩu,tìm hiểu trong quá khứ các vụ viphạm của công ty và các vụ việc ngộ độc đã và đang xảy ra ở nước xuất khẩu
Các nội dung cơ bản của FSMA
Trước những thay đổi trong quá trình sản xuất và sự đa dạng hóa các hìnhthức kinh doanh,FSMA ra đời hướng FDA đến sự hiện đại hóa hệ thống quản lý antoàn thực phẩm,tăng cường phối hợp giữa các nguồn lực công và tư,coi việc tiếnhành phòng ngừa và biện pháp quản lý chặt chẽ là công cụ chủ chốt trong việc quản
Trang 13lý vệ sinh an toàn thực phẩm nhập khẩu.
Theo đó,FSMA gồm các nội dung chính sau đây:
-Kể từ khi FSMA có hiệu lực, tất cả các sản phẩm nông sản và thực phẩmkhi nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ phải có chứng nhận HACCP tức là áp dụng
Hê thống phân tích và kiểm soát các mối nguy trong quá trình sản xuất và chế biếnthực phẩm.Đây là thay đổi lớn nhất cũng là công cụ quan trọng nhất mà FDA ápdụng từ khi FSMA ra đời
-Cũng theo luật mới của FSMA,cứ 2 năm một lần,các công ty xuất khẩu phảiđăng ký lại hàng hóa xuất khẩu với FDA.Việc đăng ký lại sẽ được xem xét trongquý bốn các năm chẵn bắt đầu từ thàng 10-2012 đến 31-12-2012.Tất cả các đăng kýtrước đó đều sẽ không còn hiệu lực thực hiện.Để nâng cao hơn nữa mối quan hệgiữa FDA và các nhà xuất khẩu, FSMA quy định các cơ sở sản xuất ở nước ngoàiphải có một đại diện ở Hoa Kỳ theo Luật chống khủng bố sinh học 2002.Đồngthời,theo FSMA, FDA sẽ tăng tần suất thanh tra, giám sát các cơ sở này và có thể tiếnhành đột xuất khi cảm thấy có sự nguy hại đối sức khỏe ngươi dân.Đối với các sảnphẩm có nguy cơ cao cho sức khỏe như hải sản,hàng đông lạnh sẽ chịu số lần kiểm tranhiều nhất Doanh nghiệp không phải trả chi phí cho lần thanh tra đầu tiên của FDATuy nhiên, nếu doanh nghiệp phạm lỗi, FDA sẽ tính phí cho những lần tái kiểm tra, chiphí mỗi lần thanh tra cơ sở sản xuất trong nước là 224 đô la Mỹ/giờ và 325 đô laMỹ/giờ đối với các cơ sở ở nước ngoài.Dựa vào số vi phạm,mức độ nghiêm trọng đượcghi trong bản tóm tắt thanh tra,doanh nghiệp sẽ phải thay đổi cải tiến quy trình sản xuấtcho hợp với yêu cầu đến lần thanh tra tiếp theo.Cũng theo FSMA, từ năm 2011 đến2016,hàng năm số cuộc thanh tra sẽ tăng gấp đôi, bắt đầu là 600 chuyến và kêt thúc
19200 chuyến.Điều này giúp FDA xây dựng bảng danh sách đánh giá mức độ an toàncủa các công ty xuất khẩu.Từ đó,xây dựng hệ thống quản lý hiệu quả và đảm bảo sựbền vững trong tương lai
-Nếu cảm thấy nghi ngờ sản phẩm nhập khẩu lẫn các loại mầm mống gâybệnh hay nhãn mác sai với quy định hoăc không khớp số liệu trên chứng từ, FDA
có quyền chủ động lưu giữ hàng hóa trong 30 ngày đế tiến hành điều tra.Doanh
Trang 14nghiệp sẽ chịu mức phạt 2500 USD bao gồm phí phát sinh để lưu hang tại kho.Sau
đó, FDA sẽ thông báo lên toàn liên bang tên doanh nghiệp vi phạm.Đối với các lôhàng sau của doanh nghiệp FDA sẽ tiến hành kiểm tra chặt chẽ các quy đinh về vệsinh an toàn thực phẩm của FSDA.Điều này không chỉ gây thiệt hại về kinh tế chocác nhà xuất khẩu mà còn làm suy giảm lòng tin người tiêu dung Hoa Kỳ vào sảnphẩm gây thiệt hại về lâu dài đối với doanh nghiệp
-Khi xảy vi phạm,hàng hóa vi phạm bị phong tỏa tai Cảng và chỉ được tiếptục lưu thông khi FDA kiểm tra cơ sở sản xuất đã khắc phục và xử lý các vi phạm,không còn gây nguy hại đến sức khỏe con người Sau đó,FDA mới cho phép giấyphép đăng ký tiếp tục có hiệu lực
-Việc đánh giá các mối nguy không chỉ được thực hiện phía FDA,FDA yêucầu các doanh nghiệp phải đánh giá các mối nguy này dựa trên cơ sở khoa học, có
kế hoạch kiểm soát phòng ngừa và các biện pháp khắc phục và phải được cụ thể hòabằng văn bản FDA có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các văn bản này bất
cứ lúc nào.Đối với các doanh nghiệp nhỏ có thu nhập dưới 500.000USD/năm có thểđược miễn hoặc được thực hiện các tiêu chuẩn ở mức tương đối thấp.Bên cạnhđó,các doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng các chương trình xác nhận sự an toàncho các chuyến hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ,giấy chứng này có thể phải có với mỗichuyến hàng.Đối với nhà nhập khẩu đã đạt tiêu chuẩn, FDA sẽ có một chương trìnhgiảm bớt yêu cầu kể từ ngày 4/7/2012
-Một điểm đăc biệt mới trong FSMA, đó là các tiêu chuẩn an toàn trong sảnxuất tại trại nuôi.Theo đó qui trình sản xuất hàng nông sản, thực phẩm xuất khẩu cónguồn tại trại nuôi phải đạt được tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt( GMPs-GoodManufacturing Practies) đảm bảo điều kiện VSATTP
-Đối với các công ty xuất khẩu có cơ sở sản xuất ở nước ngoài,kiểm tra củalĩnh vực tư nhân do FDA kiểm soát FDA cũng tiến hành tổ chức lai hệ thống thanhtra an toàn chất lượng thực phẩm nhập khẩu thông qua chứng nhân bên thứ 3 vàsớm tiến tới công nhận kết quả này
Dựa theo nội dung cơ bản của Luật Hiện đại hóa An toàn thực phẩm
Trang 15(FSMA) mới ta có thể thấy quy trình kiểm tra đối với các sản phẩm hàng hóa củatất cả các nước khi xuất khẩu vào thị trường này, bao gồm nông sản, đồ ăn, đồ uốngtrở nên hết sức ngặt nghèo Vì vậy, hàng hóa nông sản Việt Nam xuất khẩu vào Hoa
Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn Khi xảy ra các vi phạm,các doanh nghiệp hoàn toàn
có thể mất trắng số hàng hóa xuất khẩu.Chính vì vậy, doanh nghiệp xuất khẩu cầnphải tìm hiểu một cách kĩ càng FSMA.Từ đó,xây dựng hệ thống sản xuất đạt yêucầu
b Một số qui định đố với hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ
Quy định về xuất xứ hàng hoá của Hoa Kỳ
-Nguyên tắc chung và cơ bản
Nước xuất xứ của hàng hóa là nước chế tạo, sản xuất hoặc nuôi trồng ra hànghóa Tuy nhiên, trong điều kiện quốc tế hóa sản xuất hiện nay, không phải không cóphức tạp và khó khăn trong việc xác định nước xuất xứ hàng hóa, bởi vì rất nhiềuhàng hóa được sản xuất, chế tạo hoặc lắp ráp từ các nguyên phụ liệu, linh kiện, bộphận được sản xuất từ nhiều nước khác nhau
Nguyên tắc chung và cơ bản để xác định nước xuất xứ của hàng hóa là dựavào sự biến đổi đặc tính và giá trị gia tăng của hàng hóa Theo nguyên tắc này, nướcxuất xứ của hàng hóa là nước cuối cùng sản xuất ra hàng hóa đó với điều kiện hànghóa đó đã biến dạng để mang tên mới và có đặc tính sử dụng mới Ví dụ, túi xáchtay sản xuất ở Việt Nam bằng da nhập khẩu được coi là hàng có xuất xứ Việt Nam
Tuy nhiên, trong trường hợp nước cuối cùng sản xuất ra hàng hóa chỉ tiếnhành những công việc lắp ráp đơn giản, không tạo ra bản sắc riêng của hàng hóahoặc trị giá gia tăng được tạo ra quá thấp thì nước cuối cùng sản xuất ra hàng hóa
đó cũng không được coi là nước xuất xứ hàng hóa Ví dụ, để được coi là hàng cóxuất xứ từ Thái lan để được hưởng GSP của Hoa Kỳ thì hàng đó phải có ít nhất35% giá trị gia tăng được tạo ra tại Thái lan
Do vậy, ngoài nguyên tắc chung và cơ bản nêu trên, còn có những qui định
cụ thể cách xác định nước xuất xứ hàng hóa cho một số hàng hóa cụ thể
Trang 16-Qui định dán nhãn xuất xứ đối với một số sản phẩm nông nghiệp
Theo qui định của Luật an ninh nông nghiệp và phát triển nông thôn (gọi tắt
là Luật nông nghiệp 2002) được Tổng thống George W Bush ký ban hành ngày13/5/2002, một số nông sản: rau quả, thịt (bò, cừu, bê, lợn), và thủy sản bán tại cáccủa hàng bán lẻ bắt buộc phải có nhãn xuất xứ Đối với thủy sản, nhãn xuất xứ cònphải ghi rõ sản phẩm được đánh bắt tự nhiên hay nuôi trồng Cũng theo qui định củaluật này, các cơ sở bán lẻ còn phải lưu giữ hồ sơ xác nhận xuất xứ hàng hóa
Do việc dán nhãn xuất xứ nông sản rất tốn kém và phức tạp, và gặp phải sựphản đối của giới kinh doanh cho nên đến nay những qui định này vẫn chưa đượcthực hiện Ngày 22 tháng 7 năm 2004, Uỷ ban nông nghiệp thuộc Hạ viện đã thôngqua Dự luật quảng bá thực phẩm năm 2004 (The Food Promotion Act of 2004)trong đó qui định việc dán nhãn xuất xứ một số loại nông sản như nói trên là tựnguyện thay vì cho bắt buộc Tuy nhiên, dự luật này còn phải chờ Hạ viện vàThượng viện thông qua
Truy xuất nguồn gốc sản phẩm
Chính phủ Hoa Kỳ đã thông qua Luật Khủng bố Sinh học, Luật này yêu cầutất cả các nhà xuất khẩu phải đăng ký với Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dượcphẩm (FDA) và đưa ra thông báo trước khi sản phẩm đến Hoa Kỳ
Chương trình ghi nhãn nước xuất xứ (COOL) yêu cầu thực hiện ngày 30 tháng
9 năm 2008 tên nớc xuất xứ phải được ghi rõ trên nhãn của sản phẩm đối với một sốmặt hàng nông sản COOL sẽ có ảnh hởng đến các qui định về truy xuất nguồn gốccủa Hoa Kỳ tới các nước cung cấp
Qui định kiểm dịch thực vật
Tại Hoa Kỳ, Các thanh tra viên của Cơ quan Thanh tra sức khỏe Động Thựcvật (một cơ quan thuộc bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ) phải kiểm tra và chứng nhận tất cảcác lô hàng trước khi khai báo Hải quan Nếu có dấu hiệu của sâu hại hoặc dịchbệnh đợc phát hiện, sản phẩm có thể bị khử trùng (hoặc xử lý theo cách khác), bị trảlại nước xuất khẩu hoặc bị tiêu hủy
Khai báo hải quan
Cơ quan hải quan chỉ có thể cấp phép nhập cho các sản phẩm vào Hoa Kỳ sau
Trang 17khi đã được APHIS và FDA kiểm tra tại nơi nhập khẩu Các nhà xuất khẩu cũngphải trả các loại thuế cần thiết tại đó, khi đã xác định được số lượng, giá trị, kiểudáng và nước xuất xứ Để đẩy nhanh thời gian xử lý ở cửa khẩu, các nhà xuất khẩu
có thể hoàn tất một số thủ tục hải quan nhất định trước khi vận chuyển Ví dụ, thôngqua Dịch vụ Quốc tế của APHIS mà hiện nay có thể thực hiện tại một số nước đểkhai báo trước chứng từ nhập khẩu như giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật
Quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ
Tiêu chuẩn về sản phẩm, trình tự đăng ký và thẩm định các hệ thống chứngnhận sản phẩm có sự phân biệt đối với sản phẩm nhập khẩu Luật pháp của Hoa Kỳquy định tiêu chuẩn sản phẩm trong thương mại dựa theo hiệp định GATT, WTO,Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ
-Quy định tiêu chuẩn kỹ thuật
Chính sách của Hoa Kỳ về áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục quytrình công nhận chất lượng hàng nhập khẩu dựa trên Hiệp định hàng rào kỹ thuậtđối với thương mại của vòng đàm phán Uruguay cùng với Luật ápdụng các hiệpđịnh của WTO và chương 9 của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ và các văn bảnluật ápdụng hiệp định này
Được áp dụng vì mục đích an toàn sức khoẻ đối với sản phẩm nhập khẩu với
số lượng lớn, gồm:
thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, mỹ phẩm, thuốc, thiết bị y tế, máy X-quang và
xe có động cơ Nói chung, các hàng hóa được bán ở thị trường Hoa Kỳ dù là sảnphẩm nội địa hay nhập khẩu đều phải đáp ứng được những đòi hỏi của Nhà nước vềnhãn hiệu, độ an toàn và đảm bảo sức khoẻ Nhà sản xuất nhất thiết phải chịu tráchnhiệm đối với việc đáp ứng những yêu cầu trên khi đưa sản phẩm ra thị trường Các
cơ quan chức năng sẽ tiến hành những biện pháp cưỡng bức nếu những quy địnhtrên bị vi phạm
Hệ thống quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật có thể do Uỷ ban cố vấn khu vực
tư nhân cấp liên bang, tiểu bang, quận huyện đưa ra Một số tiêu chuẩn do công tybảo hiểm tư nhân đòi hỏi, sản phẩm muốn được các công ty này bảo hiểm phải thoảmãn các tiêu chuẩn của họ đề ra Các tiêu chuẩn này có thể bao gồm các thông số,
Trang 18đặc điểm cho mỗi loại hàng hoá Ví dụ như:
+ Quy định về an toàn và đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng Đặc biệt lànhóm hàng công cộng bắt buộc nước xuất khẩu phải thực hiện đầy đủ quy trình sảnxuất theo tiêu chuẩn của hệ thống HACCP
+ Hoa Kỳ áp dụng theo tiêu chuẩn quốc tế đối với các nhà sản xuất sử dụnglao động theo độ tuổi, được phép đảm bảo quyền lợi và chế độ bồi thường chongười lao động và cho phép họ thực hiện quyền tự do hội họp và tham gia vào cáchiệp hội khác nhau
+Quy định về bảo vệ môi trường dựa theo tiêu chuẩn ISO 19000 Trong đócác nhà sản xuất phải tuân thủ các yêu cầu về thực hiện trách nhiệm xử lý môitrường và việc sử dụng nguyên liệu không làm mất cân bằng sinh thái và các sảnphẩm sản xuất ra phải đảm bảo đạt các tính chất không gây ô nhiễm môi trường
+Quy định về tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa được áp dụng theo tiêuchuẩn ISO 9000 Đây cũng không phải là tiêu chuẩn bắt buộc đối với hàng hóa XKvào Hoa Kỳ
Mặc dù tuân thủ theo các thông số kỹ thuật này có thể không phải là bắt buộcnhưng những ai không tuân thủ thì thị trường tẩy chay
-Các quy định về vệ sinh dịch tễ:
Ở Hoa Kỳ có 4 cơ quan khác nhau phụ trách vấn đề vệ sinh dịch tễ:
• Cơ quan phụ trách thực phẩm và thuốc (FDA có nhiệm vụ đảm bảo rằngcác thực phẩm nhập vào Hoa Kỳ phải là các sản phẩm an toàn, sạch, không độc hại,đúng nhãn mác với đầy đủ các thông tin về sản phẩm Thực phẩm, mỹ phẩm, thuốcbệnh, thiết bị, dụng cụ y tế phải tuân theo quy định của luật FDCA, do FDA giámsát thi hành Cấm nhập các dược phẩm chưa được FDA duyệt Hàng năm các điềutra viên và các thanh tra viên của FDA, tiến hành các cuộc viếng thăm tới 15.000 cơ
sở sản xuất trong và ngoài nước để xem xét xem các sản phẩm có được làm theotiêu chuẩn vệ sinh không và nhãn mác hàng hoá có phù hợp không, nhằm đảm bảothực phẩm phải thật an toàn khi ăn, mỹ phẩm không được gây hại, dược phẩm vàdụng cụ y tế đảm bảo an toàn và có hiệu quả
Trang 19• Cục kiểm định an toàn thực phẩm của Bộ Nông nghiệp
• Cơ quan bảo vệ môi trường bảo vệ sức khỏe con người và bảo vệ môitrường thiên nhiên
• Cục kiểm định y tế động thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp bảo vệ sức khoẻcủa cây và con, có trách nhiệm đưa ra quy định bảo đảm an toàn cho người tiêudùng cũng như các nguồn động thực vật khỏi bệnh từ nước ngoài
Hàng rào phi thuế quan của Hoa Kỳ đã dập tắt cơ hội đối với các sản phẩmnhư đồ chơi trẻ em, bật lửa và thuốc đông y của Trung Quốc thâm nhập thị trườngHoa Kỳ Điển hình như tiểu bang California của Hoa Kỳ đã quy định rõ trên 110loại thuốc đông y của Trung Quốc có chứa hàm lượng kim loại nặng vượt quá mứccho phép theo tiêu chuẩn về nước uống ở California và yêu cầu tất cả các vị thuốcđông y này phải dán nhãn “độc dược”
Quy định về kiểm tra chất lượng của FDA, cụ thể là theo chương trìnhHACCP.chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài nào đã thực hiện chương trìnhHACCP có hiệu quả mới được xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Hoa Kỳ Để đượcphép đưa hàng thuỷ sản vào Hoa Kỳ, doanh nghiệp phải gửi kế hoạch, chương trìnhHACCP cho Cục Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) FDA xem xét khi cầnthì kiểm tra NẾu FDA kết luận là đạt yêu cầu thì cấp phép cho doanh nghiệp đó.FDA kiểm tra từng lô hàng nhập khẩu Nếu phát hiện có lô hàng không đảm bảo antoàn, vệ sinh thực phẩm hoặc có các vi phạm khác, lô hàng sẽ bị FDA từ chối nhậpkhẩu, bị gửi trả về nước hoặc tiêu huỷ tại chỗ với chi phí do doanh nghiệp chịu;đồng thời, tên doanh nghiệp sẽ bị đưa lên mạng Internet ở chế độ “Cảnh báo nhanh”(Detention) 5 lô hàng tiếp theo của doanh nghiệp này sẽ bị tự động giữ ở cảng nhập
để kiểm tra theo chế độ tự động Chỉ sau khi cả 5 lô hàng đó đều đảm bản an toàn,
vệ sinh và doanh nghiệp làm đơn đề nghị, FDA mới xoá tên doanh nghiệp đó rakhỏi danh sách “Cảnh báo nhanh”
1.2 Sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Hoa kỳ
Trang 201.2.1 Hoa kỳ là một thị trường lớn,tiềm năng đối với hàng nông sản Việt Nam
Hoa Kỳ là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới với dân số vào khoảng313.847.465 (dự kiến 7/2012)
Hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu trên dưới 10 tỷ USD rau, củ, quả; nhập khẩukhoảng 3,5 tỷ USD cà phê; nhập khẩu trên 9 tỷ USD cao su; thịt các loại khoảngtrên 2,5 tỷ USD; nhập khẩu các sản phẩm chế biến từ ngũ cốc khoảng 1,5 tỷ USD…Tương tự như các mặt hàng khác, nước Hoa Kỳ nhập khẩu nông sản rất đa dạng vềchủng loại, trong đó nhiều loại Việt Nam có khả năng cung cấp cho thị trường Hoa
Kỳ Mặc dù Hoa Kỳ luôn trong tình trạng thâm hụt thương mại nhưng lại thặng dưtrong thương mại nông sản Sản phẩm nông nghiệp có giá trị xuất khẩu lớn, khoảng
75 - 80 tỉ USD mỗi năm.Theo số liệu năm 2009, Hoa Kỳ xuất khẩu 98,45 tỷ đô-la,trong năm 2010 giá trị xuất khẩu của nhóm mặt hàng này đạt 103,12 tỷ USD, trong
đó, phần lớn nhất được xuất sang các nước Châu Á, mặc dù Canada và Mêhicô làhai thị trường có đóng góp lớn nhất trong sự tăng trưởng mới đây của xuất khẩunông sản ngô ) Mặc dù hiện nay, nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trongGDP nhưng các trang trại vẫn duy trì được sức mạnh kinh tế và chính trị của mình.Trong những năm gần đây, giá trị thị trường khoảng ¼ sản lượng đầu ra của cácnông trại Hoa Kỳ được xuất khẩu
Dân Hoa Kỳ được xem là dân có sức tiêu dùng lớn nhất trong các nước cónền công nghiệp phát triển,tỷ lệ tiết kiệm cá nhân chỉ vào khoảng 2-3% thấp hơn 10lần so với người dân Châu Á Với một nền kinh tế có cơ cấu thương mại-dich vụ
Trang 21vào khoảng 70% như Hoa Kỳ,xuất nhập khẩu luôn đóng góp rất lớn vào sự pháttriển nền kinh tế.Thêm vào đó,chính sách đa dạng hóa nguồn cung nhằm giảm rủi ronên tạo nhiều cơ hội cho các nước xuất khẩu nói chung và Việt Nam nói riêng.
Người Hoa Kỳ là một dân tộc chuộng mua sắm và tiêu dùng Họ có tâm lý làcàng mua sắm nhiều càng kích thích sản xuất và dịch vụ tăng trưởng, do đó nền kinh tếcũng phát triển Ngày nay, tâm lý này không chỉ ảnh hưởng đến riêng nền kinh tế Hoa
Kỳ mà còn tác động sâu rộng đến các doanh nghiệp xuất khẩu trên thế giới Hàng hoánói chung và hàng nông sản nói riêng dù chất lượng cao hay vừa đều có thể bán đượctrên thị trường Hoa Kỳ vì các tầng lớp dân cư này đều tiêu thụ hàng hoá( do tính đadạng của thị trường và kênh marketing xuất khẩu hàng nông sản của Hoa Kỳ)
Chất lượng hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ rất linh hoạt, vì phương châmkinh doanh thương mại của Hoa Kỳ là “ tiền nào của nấy” Dân Hoa Kỳ có mứcsống rất đa loại, nên có hệ thống cửa hàng cho người có thu nhập cao, cửa hàng chongười có thu nhập thấp Chính vì vậy, hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ rất đa dạng, đaloại từ nhiều nước khác nhau phục vụ cho các phân khúc thị trường khác nhau
Theo kết quả nghiên cứu của Dịch vụ nghiên cứu kinh tế thuộc Bộ Nôngnghiệp Hoa Kỳ về những thay đổi trong xu hướng tiêu dùng nông sản trên thịtrường này trong hai mươi lăm năm qua, các xu hướng về thực phẩm và nhân khẩuhọc tại Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thay đổi xu hướng tiêu dùng nông sản, tăng tiêu dùng cácsản phẩm tươi và giảm tiêu dùng các sản phẩm nông sản đóng hộp Đồng thời,người tiêu dùng Hoa Kỳ cũng có xu hướng hướng tới tiêu dùng nhiều sản phẩm đadạng và tiện lợi hơn Tiêu dùng mặt hàng nông sản sẽ tiếp tục tăng mạnh nếu thunhập theo đầu người phục hồi trở lại sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế và tỷ lệ người
có trình độ giáo dục cao tăng lên Đồng thời, để đảm bảo các lợi ích về sức khỏe,chính phủ đang có chính sách khuyến khích tiêu dùng nông sản nhiều hơn với tất cảcác nhóm độ tuổi, đặc biệt là những người tiêu dùng trẻ tuổi
Nhiều yếu tố khác nhau đã ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng hàng thựcphẩm trên thị trường Hoa Kỳ trong hai mươi lăm năm qua Các xu hướng tiêu dùngchính ảnh hưởng đến việc tiêu dùng hàng thực phẩm bao gồm: nhu cầu đối với các
Trang 22loại thực phẩm có chất lượng cao, tiện dụng và đa dạng; nhu cầu ngày càng tăng đốivới độ “tươi” của sản phẩm và các loại thực phẩm có hương vị ngon và xu hướngsẵn sàng thưởng thức thực phẩm ở cả nhà hàng và tại nhà; cơ cấu dân số (xét theodân tộc) thay đổi làm tăng nhu cầu đối với các loại thực phẩm có nguồn gốcChâu Á và Mỹ Latinh; người tiêu dùng ngày càng hiểu biết hơn về các chế độ ănkiêng và mối liên kết cũng như tầm quan trọng của việc duy trì sức khỏe tốt;đồng thời ngày càng nhiều người có ý thức hơn về bệnh béo phì; sự bùng nổ củacác nghiên cứu về chất dinh dưỡng và chất chống ôxy hóa từ thực vật và tácdụng của chúng đối với sức khỏe con người; các chính sách của Hoa Kỳ liênquan đến sức khỏe con người gắn liền với lợi ích của việc tiêu dùng rau quả nhưngày càng sẵn có các loại rau quả trong các trường học và các hướng dẫn mới vềdinh dưỡng (MyPlate); và mối quan tâm ngày càng tăng của người tiêu dùng vềviệc thực phẩm được sản xuất ở đâu và như thế nào cũng làm tăng nhu cầu đốivới các sản phẩm sản xuất trong nước, hệ thống thực phẩm truyền thống và thựcphẩm hữu cơ Các xu hướng này đều ảnh hưởng đến việc pha trộn và loại hìnhthực phẩm được tiêu dùng trên thị trường Hoa Kỳ.
Tất cả những điều này đã đưa Hoa Kỳ trở thành nước nhập khẩu nhiều nôngsản nhất thế giới, một thị trường tiềm năng cũng đầy thách thức cho các doanhnghiệp xuất khẩu nông sản sang Hoa kỳ nói chung và của Việt Nam nói riêng
1.2.2 Việt Nam có nhiều lợi thế về sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản
-Về đất đai:
Việt Nam có diện tích 330.363 km2.Cuối năm 2008,đất nông nghiệp đạt25triệu ha (chiếm 75% tổng diện tích Việt Nam) Đất màu và đất cây lâu năm duytrì ổn định Đất rừng tăng lên 14.8 triệu ha và đất chưa sử dụng tiếp tục giảm xuốngcòn 4.5 triệu ha Đất phi nông nghiệp đã tăng lên tới mức 3.4 triệu ha, trong đó đấtnhà ở đô thị tăng lên nhiều nhất và tới mức 113 ngàn ha Tổng sản lượng nôngnghiệp bao gồm chủ yếu là sản lượng cây hàng năm, chiếm 78% tổng sản lượngnông nghiệp Có một diện tích đất nông nghiệp lớn đến như vậy đã giúp Việt Nam
từ nước nghèo, thiếu lương thực thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới (sau
Trang 23Thái Lan) Việt Nam cũng xuất khẩu một lượng lớn cao su, cà phê, điều….
-Về khí hậu
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa do ảnh hưởng sâu sắc của chế độ giómùa Châu Á Khí hậu Việt Nam rất đa dạng, phân biệt rõ rệt từ miền Bắc vào miềnNam Miền Bắc có mùa đông lạnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng BằngSông Cửu Long có khí hậu kiểu Nam Á Đây là điều kiện khí hậu thuận lợi để đadạng hoá các loại cây trồng Ngoài ra tiềm năng nhiệt độ, độ ẩm và gió dồi dào phân
bổ khá đồng đều trên phạm vi cả nước Tiềm năng nhiệt của nước ta được xếp vàodạng giàu có với số giờ nắng cao, cường độ bức xạ lớn, độ ẩm tương đối trong nămlớn hơn 80%, lượng mưa khoảng 1800 - 2000 mm/năm là điều kiện lý tưởng chonhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát triển
-Vị trí địa lý và các cảng khẩu
Từ trước đến nay, một khối lượng lớn hàng nông sản xuất khẩu của ViệtNam được vận chuyển bằng đường biển So với các phương thức vận tải quốc tếbằng đường sắt, đường ống và đường hàng không thì phương thức vận tải này cónhiều thuận lợi hơn, thông dụng hơn và có mức cước phí rẻ hơn
Trong thực tiễn chuyên chở bằng đường biển, các doanh nghiệp Việt Nam cónhiều thuận lợi nổi bật Đường biển Việt Nam có hình chữ “S”, hệ thống cảng biểnnói chung đều nằm sát đường hàng hải quốc tế trải dọc từ Bắc, Trung, Nam, có thểhành trình theo tất cả các chuyến đi Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Thái Bình Dương,Trung cận Đông, Châu Phi, Châu Mỹ Một số cảng có khả năng bốc xếp hàngxuống tàu lớn, có hệ thống kho bảo quản tốt, lại gần đường hàng hải quốc tế
-Về nguồn nhân lực
Dân số nước ta năm 2012 ước tính vào khoảng 88,78 triệu người,cơ cấu laođộng từ 15 tuổi trở lên đang làm việc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là47,5% Đây là một lực lượng lao động hùng hậu cung cấp cho khu vực nôngnghiệp.Người Việt Nam có truyền thống và kinh nghiệm phong phú trong sản xuấtnông nghiệp Mặc dù chất lượng lao động của Việt Nam còn thấp hơn so với nhiềuquốc gia khác trên thế giới nhưng con người Việt Nam với bản chất cần cù sáng tạo,
Trang 24ham học hỏi là tiềm năng lớn góp phần vào chất lượng lao động ngành nông nghiệpViệt Nam
-Về hình kinh tế của Việt Nam
Sau 26 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệt quantrọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho trước hết
là khoảng 70% dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần pháttriển kinh tế đất nước và ổn định chính trị - xã hội
Gần đây,dù tình hình kinh tế rất khó khăn do bị tác động của khủng hoảng
và suy thoái kinh tế thế giới, ngành Nông nghiệp vẫn tiếp tục thể hiện vai trò cộttrụ, “đỡ” nền kinh tế tiếp tục ổn định và có mức tăng trưởng hợp lý Năm 2011,theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, xuất khẩu nông - lâm -thủy sản đạt gần 25 tỷ USD, tăng trưởng 29% so với năm 2010 Thặng dưthương mại toàn Ngành năm 2011 đạt trên 9,2 tỷ USD, góp phần giảm nhập siêucho cả nước; nông nghiệp đóng góp khoảng 20% GDP và chiếm 30% kim ngạchxuất khẩu quốc gia Năm 2012, nông nghiệp vẫn giữ đà tăng trưởng của năm
2011 với giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cả nước ước tăng 3,4%,trong đó: nông nghiệp tăng 2,8%, lâm nghiệp 6,4%, thủy sản 4,5% Tốc độ tăngtrưởng toàn ngành (GDP) đạt 2,7%
Đặc biệt, năm 2012 chứng kiến sự thành công của xuất khẩu các mặthàng nông - lâm, thủy sản với 8 mặt hàng lọt vào “Câu lạc bộ 1 tỷ USD”, trong
đó có 3 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch từ 3 tỷ USD trở lên là: gạo, cà phê
và đồ gỗ Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn Ngành đạt 27,5 tỷ USD, tăng 9,7% sovới năm trước
Tóm lại nhờ có nhiều tiềm năng phát triển như: vị trí địa lý thuận lợi và nằmtrong khu vực năng động, là trung tâm sản xuất mới của Đông Á và mạng lưới củaFTA, dân số trẻ (thời kỳ vàng), chính trị ổn định…với thực trạng của nền kinh tếthế giới và trong nước, Việt Nam hoàn toàn có khả năng đưa việc xuất khẩu nôngnghiệp trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đưa nông sản tiêu biểu của Việt Namnhư gạo, cà phê ,hạt điều chè….trở thành những thương hiệu nổi tiếng trên thị
Trang 25trường thế giới.
1.2.3 Việt Nam khai thác chưa hết tiềm năng của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một nước đông dân trong khi người dân có thói quen mua sắmmạnh tay, hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu hơn 2.000 tỷ USD
Song, cho đến nay hàng hóa Việt Nam mới chỉ chiếm chưa tới 1% tổng nhucầu nhập khẩu của nước này, dù Hoa Kỳ hiện là 1 trong 2 đối tác nhập khẩu lớnnhất của Việt Nam (bảng 1.4) Hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam mới chỉmang tính chất bổ xung cho cơ cấu hang hóa xuất nhập khẩu
Bảng 1.4: 4 thị trường hàng nông sản lớn nhất của Việt Nam 2008-2012
với hàng hoá các nước nói trên vốn đã có mặt tại thị trường Hoa Kỳ trước hàng hoá
của Việt Nam hàng chục năm
Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang gặp một số khó khăn nhất định khithâm nhập thị trường Hoa Kỳ đó là đa số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu ở nguyên liệuthô nên giá trị còn thấp, nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được các kênh bán lẻ,còn yếu về năng lực cạnh tranh về giá cả, chất lượng sản phẩm…
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN QUA THỊ TRƯỜNG HOA KỲ GIAI ĐOẠN 2008-2012
2.1 Khái quát về hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị
Trang 26trường Hoa Kỳ
Một những thành tựu lớn của nền kinh tế Việt Nam trong trong thời kỳ đổi mới là tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, trong đó có sự đóng góp rất lớn từ sự phát triển của nông nghiệp Giai đoan 2008-2012 , nông nghiệp tuy phát triển chậm hơn tốc độ chung của nên kinh tế nhưng tỉ lệ không đáng kể Cũng trong giai đoạn này, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp thường giao động ở mức 22%(bảng 2.1) Điều đó cho thấy nông nghiệp luôn là gánh đỡ quan trọng cho nền kinh tế Việt Namtrước sự suy giảm của kinh tế thế giới
Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP theo ngành kinh tế của Việt Nam 2008-2012
Nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam đang nằm trong top đầu trên thị trường thế giới Việt Nam trở thành nước xuất khẩu đứng thứ nhất về hồ tiêu (chiếm khoảng 14,3% thị phần), đứng thứ hai về lúa gạo (12% thị phần) và hạt điều (9,5% thi phần), tháng 7 năm 2012 Việt Nam chính thức vượt qua Braxin để trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, giá trị kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm ước đạt 2.599 triệu USD
Trang 272.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
Hiện nay,Hoa kỳ đã trở thành đối tác thương mại hàng đầu của ViệtNam.Thành công đó có được nhờ sự nỗ lực từ hai quốc qia và được biểu hiện quahiệp định thương mại hai chiều giữa Viêt Nam-Hoa Kỳ(BTA) năm 2001.Từ đó đếnnay,kim ngạch giữa hai quốc gia đã tăng hơn 13 lần từ mức 1,5 tỷ USD 2001 lênhơn 22 tỷ USD tính đến 2012
Trong cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hoa Kỳ thì hàng nôngsản luôn chiếm tỷ trọng lớn, góp phần quan trọng trong việc xúc tiến thương mạiViệt Nam-Hoa Kỳ.Đến năm 2012, Việt Nam nằm trong nhóm 15 nước có kimngạch xuất khẩu lớn nhất các mặt hàng nông sản sang Hoa Kỳ
Bảng 2.2:Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Hoa
Năm 2009 là một năm khó khăn đối với kinh tế toàn cầu.Cùng với việc Hoa
Kỳ chưa dành cho Việt Nam quy chế hưởng Hệ thống thuế quan phổ cập (GSP) vàcông nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường đã gây không ít khó khăn chocác doanh nghiệp các mặt hàng nông sản sang thị trường Hoa Kỳ khiến giá trị xuất
Trang 28khẩu hàng nông sản sụt giảm xuống 551,409 triệu USD giảm 5,46%.
Bước sang năm 2010,cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế Hoa Kỳ, xuấtkhẩu nông sản sang thị trường này tăng mạnh đạt giá trị 774,213 triệu USD với mứctăng 40,4%
Năm 2011,tiếp tục đà tăng 2010,giá trị xuất khẩu hàng nông sản đạt mức1.1018,28 triệu USD,tăng 31.5% Thống kê của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cho thấy,hầu hết các mặt hàng nông sản mà Việt Nam có thế mạnh như cao su, cà phê, chè,hoa quả tươi, tôm, cá tra… đã tăng đột biến về lượng vào thị trường Hoa Kỳ Tiêubiểu là cao su đạt 86,6 triệu USD, cà phê đạt 487,5 triệu USD…
Tính đến tháng 6 năm 2012, có 36 loại rau của Việt Nam xuất khẩu vào Hoa
Kỳ với tổng kim ngạch đạt 1,1 triệu USD, trong đó, nấm rơm muối, nấm rơm đónglon đạt kim ngạch cao nhất Tiếp đến là mặt hàng ngô non đóng lon, ngô luộc Còndưa chuột vẫn là một trong những mặt hàng rau xuất khẩu mạnh nhất trong nhữngnăm qua
Tuy nhiên, theo đánh giá của giới chuyên gia, trong thời gian tới, hàng nôngsản Việt Nam xuất vào Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn Nguyên do là nền kinh
tế hàng đầu thế giới này sẽ thực hiện kiểm tra chất lượng theo Luật Hiện đại hóa antoàn thực phẩm (FSMA) mới được Chính phủ nước này ban hành Theo đó, từ năm
2012, Hoa Kỳ sẽ thực hiện quy trình kiểm tra hết sức ngặt nghèo đối với các sảnphẩm hàng hóa của tất cả các nước khi xuất khẩu vào thị trường này, bao gồm nôngsản, đồ ăn, đồ uống Theo FSMA, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ sẽ có quyền ra lệnhkiểm tra hoặc thu hồi sản phẩm xuất khẩu vào Hoa Kỳ nếu không đảm bảo chấtlượng đồng thời tính phí cho chủ hàng xuất khẩu sản phẩm đó
Mặc dù tình hình khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 tácđộng sâu rộng lên tất cả các nền kinh tế trên thế giới và tình hình kinh tế vĩ mô củanước ta chưa ổn định, nhưng giá trị xuất khẩu nông sản nước ta trong các 2008-2012 đãtăng cả về số lượng lẫn về giá trị, là ngành duy nhất mang lại giá trị thặng dư cho cáncân thương mại nước nhà trong suốt thập niên qua, thị trường xuất khẩu ngày càng mởrộng, danh mục các mặt hàng nông sản tham gia xuất khẩu tăng đáng kể theo thời gian
Trang 292.3 Cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa kỳ
Một số mặt hàng nông sản của Việt Nam như cà phê, hạt tiêu,chè, hạt điều…
đã có mặt trên thị trường Hoa Kỳ, đứng hàng thứ 3 đến thứ 9 trong số các nước cóhàng nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ.Cụ thể ở một sô mặt hàng chủ yếu như sau:
Bảng 2.3:Cơ cấu mặt hàng nông sản chính xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ 2008-2012
Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét sự gia tăng xuất khẩu sang thị trường của một
số tiêu biểu để có cái nhìn rõ hơn đối với mỗi ngành
Điều
Theo hiệp hôi điều Việt Nam (Vinacas), Việt Nam hiện có khoảng400.000héc ta hạt điều, trồng chủ yếu ở các tỉnh phía nam với năng suất 1,06tấn/hec ta
Với nguồn lao động sẵn có và chi phí chế biến rẻ là một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra lợi thế so sánh trong xuất khẩu, đây cũng là một trong những đặc điểm củ
a các quốc gia đang phát triển.Ngành điều hiện nay thu hút khá lớn nguồn lao động tham gia chế biến xuất khẩu, hơn nữa lại chủ yếu là lao động phổ thông nên mứclương lai giữ ở mức thấp Việc nguồn lao động, chi phí rẻ và có khả năng đáp ứng
Trang 30tạo ra lợi thế lớn cho Việt Nam trong việc
Việc nguồn lao động, chi phí rẻvà có khả năng đáp ứng tạo ra lợi thế lớn cho Vi
ệt Nam trong việc xuất khẩu nhân điều ra thế giới
Bên cạnh đó, hiện nay ở Việt Nam đã có công nghệ chế biến điều riêng thay vì nhập khẩu máy móc rất đắt từ nước ngoài Với năng suất cao, tỷ lệ hạt
bễ vỡ thấp hơn nữa giá thành lại rẻ, đây là một trong những yếu tố góp phần đưaViệt Nam trở thành nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu nhân điều
Theo đánh giá của Bộ công thương thì: “Công nghệ chế biến hạt điều Việt N
am chính là báu vật, bí kíp vì đã góp phần vào sự thành công của ngành điều trong nước trong vòng 20 năm trở lại đây”
Cà phê:
Việt Nam là nước sản xuất và XK cà phê đứng thứ hai thế giới, sau Brazilvới kim ngạch XK năm 2011 đạt mức 2,7 tỷ USD và hơn 1,2 triệu tấn cà phê đãđược XK Trong đó, Hoa Kỳ là nước NK cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm11,7% tổng số cà phê mà Việt Nam bán ra nước ngoài Tuy nhiên, XK cà phê sangthị trường này còn tiềm ẩn nhiều rủi ro khi cà phê Việt Nam phải cạnh tranh gay gắtvới các thương hiệu lớn cùng với những hàng rào kỹ thuật qui định về tiêu chuẩncũng như chất lượng cà phê NK
Nhìn chung, sự tăng giảm trong khối lượng và kim ngạch XK cà phê củaViệt Nam sang Hoa Kỳ là do tác động của nhiều yếu tố trong các giai đoạn khácnhau, như diễn biến trái chiều của thời tiết, nhu cầu thị trường chất lượng cà phê
XK của Việt Nam còn thấp, thương hiệu cà phê Việt Nam chưa được biết đến nhiềutrên thị trường Hoa Kỳ, các rào cản NK…
Tiêu thụ cà phê của Việt Nam hiện nay phần lớn phụ thuộc vào XK với trên90% sản lượng nên gây khó khăn trong việc chủ động về giá tiêu thụ Ngoài ra, chấtlượng cà phê XK của Việt Nam bị các nhà NK Hoa Kỳ đánh giá thấp và khôngđồng đều dẫn đến cà phê bị ép giá
Các DN Việt Nam thường ký kết hợp đồng kinh doanh XK cà phê theo 2phương thức là bán hàng giao ngay và bán hàng giao xa không chốt giá Về hình
Trang 31mức độ rủi ro thấp; mặt khác, việc nắm bắt thông tin về thị trường Hoa Kỳ của các
DN Việt còn hạn chế, qui mô hoạt động nhỏ lẻ, chưa có uy tín trên thị trường, thiếuliên kết nên chưa hình thành mạng lưới tiêu thụ ở nước ngoài trong khi các nhà rangxay cà phê Hoa Kỳ có xu hướng mua cà phê từ các trung tâm kinh doanh cà phê lớnnhằm đảm bảo nguồn hàng có chất lượng tốt, đa dạng
Hạt tiêu:
Từ năm 1996, diện tích canh tác tiêu đã được mở rộng, với mức tăng gần30%, đạt trên 52 nghìn ha vào cuối năm 2004 Các vùng trồng tiêu lớn nhất cả nướcthuộc các tỉnh Tây Nguyên như Đắk Lắk, Gia Lai và Đắk Nông và các tỉnh ĐồngNai, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu
Việt Nam hiện xuất khẩu hạt tiêu vào hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, chỉchiếm 30% lượng hạt tiêu tiêu thụ hạt tiêu toàn cầu Với điều này, ngành sản xuấttiêu của Việt Nam có rất nhiều triển vọng phát triển trong những năm tới,
Trong 24 thị trường xuất khẩu hạt tiêu chính của Việt Nam, Hoa Kỳ thịtrường nhập khẩu hạt tiêu chính của Việt Nam (chiếm 21,13%) Cụ thể, trongtháng 1/2010, kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu sang Hoa Kỳ đạt gần 3,8 triệu USD,chiếm 16,1% tổng kim ngạch; tăng 9,46% so với tháng 12/2009 và tăng 61,97%
so với cùng kỳ năm 2009
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), trong thời gian gần đây, thịtrường hồ tiêu Hoa Kỳ đang có nhiều thuận lợi, nhu cầu nhập khẩu tăng mạnh vàgiá hạt tiêu xuất khẩu cũng tăng ở mức cao Dự báo, trong thời gian tới, giá tiêuxuất khẩu sẽ tiếp tục biến động theo chiều hướng tăng vì nhu cầu tiêu thụ trên thếgiới chưa có dấu hiệu giảm
Cao su:
Việt Nam lại là quốc gia phát triển cao su bậc nhất Bởi lẽ, như các số liệuthống kê cho thấy, trong vòng 10 năm 1999-2008, trong khi tổng sản lượng cao sucủa Việt Nam chỉ đạt 4,236 triệu tấn, thì tổng khối lượng xuất khẩu ra thị trường thếgiới đã đạt 4,908 triệu tấn, tức là tổng khối lượng xuất khẩu cao hơn tổng sản lượng673.000 tấn và 15,9%.Đặc biệt, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ luôn đạt nhữngtín hiệu đáng khích lệ khi sản lượng luôn tăng đồng đều ở mức
Trang 32Không những vậy, đây cũng không phải là hiện tượng nhất thời, mà là yếu tố
có tính chất truyền thống Bởi lẽ, trong 10 năm trước đó, trong khi tổng sản lượngchỉ đạt 1,062 triệu tấn, thì tổng khối lượng xuất khẩu đã đạt 1,228 triệu tấn Cónhiều khả năng nguyên nhân dẫn đến tình trạng hiếm có này là do các doanh nghiệpnước ta đã thu hút được nguồn nông sản nguyên liệu này từ hai quốc gia láng giềngcòn kém phát triển hơn để xuất khẩu ra thị trường thế giới
Bên cạnh đó, điều cũng quan trọng không kém là hoạt động thương mạitrong lĩnh vực này đã đạt hiệu quả có lẽ cao hơn bất cứ loại nông sản nào khác củaViệt Nam trong suốt 50 năm qua
Bởi lẽ, từ các số liệu thống kê của FAO có thể thấy, tuy cũng có lúc trồi, khisụt, nhưng tính chung cho cả thời kỳ 1961-2008, với bình quân 1.212 đô la Mỹ/tấn,giá cao su xuất khẩu của Việt Nam cao hơn giá bình quân của thế giới tới 26,1%.Trong đó, nếu chỉ tính 10 năm gần đây nhất (1999-2008), với bình quân 1.400 đô laMỹ/tấn, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam cũng cao hơn giá bình quân của thế giớitới 8,8% Hơn thế, điều còn đáng mừng hơn nữa là, đây chính là những mức giá tốtnhất trong các nước xuất khẩu cao su của thế giới tính cho tới thời điểm này
Rau và chế phẩm từ rau
Là một nước có ngành nông nghiệp phát triển và được Chính phủ rất quan
tâm nhưng trong 10 năm trở lại đây, nhập siêu rau quả của Hoa Kỳ ngày càng tăng lên Theo số liệu của Bộ Thương mại Hoa Kỳ, năm 2009, nhập khẩu rau quả của
Hoa Kỳ lên tới gần 16 tỷ USD (nhậpsiêu rau quả là 6 tỷ USD) Mặc dù có những
bước tiến lớn về khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp nhưng từ một nước xuất siêu rau quả vào những năm 1970, hiện nay Hoa Kỳ là một trong những nước nhập siêu rau quả lớn nhất thế giới Trái cây nhập khẩu chiếm khoảng 40% tổng nhu cầu tiêu
thụ trái cây của Hoa Kỳ trong khi tỷ lệ này ở nhóm rau quả là 13-15%
Bảng 2.4:So sánh thị phần các nước xuất khẩu lớn và Việt Nam mặt hàng rau
quả vào Hoa Kỳ năm 2012
(%)
Tăng trưởng trung bình giai đoạn 2008- 2012
(%)