BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP ĐÔNG ĐÔKHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ ---KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI ĐỀ TÀI CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU CỦA THÁI LAN TRONG HỘI NHẬP
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP ĐÔNG ĐÔ
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
ĐỀ TÀI
CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU CỦA THÁI LAN TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ, KINH NGHIỆM
VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG VỚI VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : TS PHẠM HUY VINH
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cám ơn TS Phạm Huy Vinh đã tận tình chỉ bảo,hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian hoànthành khóa luận này
Em xin chân thành cám ơn các Thầy, Cô trong trường Đại học dân lậpĐông Đô, Thư viện Học viện Ngoại giao, gia đình và bạn bè đã tạo mọi điềukiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoànthành khóa luận
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Sinh viên
Ngô Thị Lan Hương
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
2 APEC Asia - Pacific Economic
Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
3 ASEAN Association of South East
Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
4 CMEA Council of Mutual
Economic Assistance Hội đồng tương trợ kinh tế
6 EEC European Economic
Community Cộng đồng kinh tế châu Âu
8 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
9 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
10 GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc gia
12 ICO International Coffee
Organization Tổ chức cà phê trên thế giới
13 IMF International Monetary
14 MFN Most Favoured Nation Nguyên tắc tối huệ quốc
15 MNE Multinations Enterprises Công ty đa quốc gia
16 NT National Treatment Đãi ngộ quốc gia
17 ODA Official Development
Assistance Viện trợ phát triển chính thức
19 VND Vietnamese Dong Việt Nam đồng
20 WTO Word Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế
giới
21 TNC Through Nation Company Công ty xuyên quốc gia
Trang 4DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU SỐ LIỆU
Trang 5STT Tên Bảng Biểu Trang
1 Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Cục Xúc tiến xuất khẩu Thái
4 Bảng 2.3: Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm (1972 -
1977) về gía trị xuất khẩu của Thái Lan với một số nước
8 Bảng 2.6: Tốc độ tăng trưởng (GDP) bình quân hàng năm của
Thái Lan trong tương quan với một số nước Đông Nam Á
Trang 6MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 3
1.1 Khái niệm xuất khẩu, các hình thức và vai trò của xuất khẩu trong sự phát triển kinh tế 3
1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu 3
1.1.2 Các hình thức xuất khẩu 4
1.1.3 Vai trò của xuất khẩu trong sự phát triển kinh tế 6
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu trong hội nhập kinh tế quốc tế 7
1.2.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế 7
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu trong hội nhập kinh tế quốc tế 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA THÁI LAN TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 12
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 12
2.2 Các chính sách ảnh hưởng đến xuất khẩu và tình hình xuất khẩu của Thái Lan trong hội nhập kinh tế quốc tế 13
2.2.1 Giai đoạn 1972 đến 1997 13
2.2.2 Giai đoạn từ năm 1997 đến nay 20
2.3 Đánh giá kết quả, hạn chế và những bài học kinh nghiệm từ hoạt động xuất khẩu của Thái Lan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 25 2.3.1 Kết quả và hạn chế 25
2.3.2 Bài học kinh nghiệm từ hoạt động xuất khẩu của Thái Lan trong hội nhập kinh tế quốc tế 34
Trang 7CHƯƠNG 3: KHẢ NĂNG VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CỦA THÁI LAN TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC
TẾ 37
3.1 Khái quát về chính sách và tình hình xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua 37
3.1.1 Chính sách ngoại thương với thúc đẩy xuất khẩu 37
3.1.2 Kết quả và hạn chế 41
3.2 Một số điểm tương đồng và khác biệt của Việt Nam và Thái Lan ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 50
3.2.1 Những điểm tương đồng 50
3.2.2 Những điểm khác biệt 51
3.3 Khả năng vận dụng một số chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Thái Lan với Việt Nam hiện nay 53
3.3.1 Hoàn thiện chính sách thương mại phù hợp với lộ trình gia nhập WTO 53
3.3.2 Đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu 55
3.3.3 Điều chỉnh chính sách tỷ giá có hiệu quả 57
3.3.4 Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu 58
3.4 Một số kiến nghị nhằm tăng thêm tính khả thi trong tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xuất khẩu của Thái Lan với Việt Nam 59
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 8Hoạt động xuất khẩu không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng, mà còn thúcđẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm mới và đưa nền kinh tếThái Lan hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế.
Thực tế thị trường xuất khẩu được mở rộng và đầu tư nước ngoài vào TháiLan có xu hướng ngày càng tăng lên Kết quả đạt được trong hoạt động xuất khẩuThái Lan có vai trò to lớn từ phía Nhà nước Nhà nước bằng những chính sách vàgiải pháp tích cực đã thúc đẩy hoạt đông xuất khẩu theo hướng đa dạng và ngàycàng có hiệu quả hơn
Ở nước ta, bước vào thời kỳ đổi mới cơ chế chính sách ngoại thương đã có
sự thay đổi, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua đã thu đượcnhững kết quả quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế Tuynhiên trong hoạt động xuất khẩu vẫn bộc lộ không ít những hạn chế ảnh hưởngđến kết quả của xuất khẩu
Thái Lan là nước sớm mở cửa nền kinh tế và tham gia tích cực vào thịtrường thương mại quốc tế để phát huy lợi thế của mình trong phát triển Đó là lý
do em chọn đề tài “Chính sách xuất khẩu của Thái Lan trong hội nhập kinh tế quốc tế, kinh nghiệm và khả năng vận dụng với Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của Thái Lan trong hội nhập kinh tếquốc tế để rút ra những bài học kinh nghiệm có khả năng vận dụng vào Việt Namhiện nay
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Về chính sách xuất khẩu của Thái Lan trong hội nhập kinh tế quốc tế
b Phạm vi nghiên cứu
- Các chính sách có ảnh hưởng đến xuất khẩu của Thái Lan trong hội nhập
- Kết quả và hạn chế trong xuất khẩu Thái Lan
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu tài liệu, phân tích, xử líthông tin, so sánh,…
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Ý kiến chuyên gia
- Nhóm phương pháp nghiên cứu toán học: thống kê, bảng biểu, biểu đồ,…
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu khóa luậngồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu trong hội nhập kinh tếquốc tế
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu của Thái Lan trong hội nhập kinh tế quốctế
Chương 3: Kinh nghiệm vận dụng các chính sách thúc đẩy xuất khẩu củaThái Lan trong hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TRONG
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm xuất khẩu, các hình thức và vai trò của xuất khẩu trong
sự phát triển kinh tế
1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặcdịch vụ ra thị trường nước ngoài; gồm hai loại hình là xuất khẩu hàng hóa (cònđược gọi là xuất khẩu hữu hình) và xuất khẩu dịch vụ (còn được gọi là xuất khẩu
vô hình) Xuất khẩu hàng hóa là tổng số các khoản thu của một nước về xuất khẩuhàng hóa Xuất khẩu hàng hóa được chia ra thành xuất khẩu thuần túy và xuất khẩuchung Xuất khẩu thuần túy gồm hàng hóa sản xuất trong nước và hàng tái xuất saukhi được chế biến trong nước Xuất khẩu chung gồm tất cả hàng hóa xuất khẩu kể
cả hàng nhập khẩu tái xuất không qua chế biến trong nước và hàng quá cảnh Xuấtkhẩu dịch vụ là tổng số các khoản thu của một nước về các dịch vụ: cho thuê tàu,bảo hiểm, chuyển giao công nghệ,v.v ở nước ta hiện nay, xuất khẩu hữu hình vẫnchiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị xuất khẩu khoảng 98%, còn xuất khẩu
vô hình chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ khoảng 2% Như vậy, xuất khẩu là việc mộtnước mang hàng hóa và dịch vụ của mình bán ra thị trường nước ngoài
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại những hiệu quả to lớn nhưngcũng có thể gây thiệt hại lớn vì khi tham gia xuất khẩu, các chủ thể phải đối đầuvới hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà họ không dễ dàng khống chế được
Theo Điều 2, Nghị định 57/1998/NĐ - CP ngày 31/07/1998 của Chính phủthì: “Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là hoạt động bán hàng hóa của thương nhânViệt Nam với thương nhân nước ngoài theo các hợp đồng mua bán hàng hóa, baogồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu hàng hóa”
Tóm lại, xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh nhưng phạm vi kinh doanhvượt ra khỏi biên giới quốc gia hay nói cách khác đó là hoạt động bán hàng hóa và
Trang 11dịch vụ ra thị trường nước ngoài Thông qua hoạt động xuất khẩu các quốc giatham gia và hệ thống phân công lao động quốc tế, chuyên môn hóa sản xuất trên cơ
sở phát huy các lợi thế của mình và nhờ đó có thể thu được những lợi ích to lớncho nền kinh tế trong nước
1.1.2 Các hình thức xuất khẩu
Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hóa và dịch vụ mà doanhnghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, xuất khẩu ranước ngoài thông qua các tổ chức của mình
Ưu điểm của hình thức này là lợi nhuận thu được của các doanh nghiệpthường là cao hơn các hình thức khác, có thể nâng cao uy tín của mình thông quaquy cách và phẩm chất hàng hóa, có thể tiếp cận trực tiếp thị trường, nắm bắt đượcnhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng
Bên cạnh đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn lớn đểsản xuất hoặc thu mua, rủi ro kinh doanh là rất lớn
Xuất khẩu gia công ủy thác
Theo hình thức này các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu đứng ranhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho các doanh nghiệp gia công, sau đó thuhồi thành phẩm để xuất khẩu cho bên nước ngoài Doanh nghiệp này sẽ đượchưởng phí ủy thác theo thỏa thuận với doanh nghiệp trực tiếp sản xuất
Hình thức này có ưu điểm là không cần bỏ vốn vào kinh doanh nhưng vẫnthu được lợi nhuận, ít rủi ro, việc thanh toán được bảo đảm vì đầu ra chắc chắn.Bên cạnh đó nó đòi hỏi nhiều thủ tục xuất, nhập khẩu do đó cần phải có những cán
bộ kinh doanh có kinh nghiệm và thành thạo nghiệp vụ xuất khẩu
Xuất khẩu ủy thác
Đây là hình thức mà các doanh nghiệp kinh doanh đứng ra đóng vai tròtrung gian xuất khẩu làm thay cho các đơn vị sản xuất những thủ tục cần thiết
để xuất khẩu hàng và hưởng phần trăm theo giá trị hàng xuất khẩu đã đượcthỏa thuận
Trang 12Ưu điểm là mức độ rủi ro thấp, ít trách nhiệm, người đứng ra xuất khẩukhông phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng Đặc biệt là không cần bỏ vốn ra
để mua hàng, nhận tiền nhanh, ít thủ tục, tương đối tin cậy
Buôn bán đối lưu
Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặtchẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi có giátrị tương đương với giá trị của lô hàng đã xuất
Các loại hình buôn bán đối lưu gồm: hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ, mua đốilưu, chuyển giao nghĩa vụ, mua lại sản phẩm
Xuất khẩu theo nghị định thư
Đây là hình thức xuất khẩu hàng hóa được ký kết theo nghị định thư giữa haichính phủ
Ưu điểm của hình thức này là tiết kiệm được các khoản chi phí trong việcnghiên cứu thi trường, tìm kiếm bạn hàng, đảm bảo được thanh toán
Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức mà hàng hóa và dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài biên giớiquốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó cũng giống như hoạt động xuất khẩu Đó làviệc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các đoàn ngoại giao, khách du lịch quốc tế.Hoạt động này có thể đạt hiệu quả kinh tế cao do giảm bớt cho phí bao bì, đóng góibảo quản, chi phí vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh
Gia công quốc tế
Là hình thức kinh doanh trong đó một bên nhập nguồn nguyên liệu bánthành phẩm (bên nhận gia công) của bên đặt gia công để chế biến thành phẩm giaolại cho bên đặt gia công và qua đó thu được phí gia công
Ưu điểm của hình thức này là giúp bên nhận gia công tạo công ăn việclàm cho người lao động, nhận được các thiết bị công nghệ tiên tiến để phát triểnsản xuất Hình thức này được áp dụng khá phổ biến ở các nước đang phát triển
có nguồn nhân công dồi dào với giá rẻ, nguồn nhiên liệu sẵn có của các nướcnhận gia công
Trang 131.1.3 Vai trò của xuất khẩu trong sự phát triển kinh tế
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng được lợi thế so sánh của
mình: Sức cạnh tranh của hàng hóa được nâng cao, tăng trưởng kinh tế trở nên ổn
định và bền vững hơn nhờ các nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả hơn.Qúa trình này cũng tạo ra cơ hội lớn cho tất cả các nước, nhất là những nước đangphát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa trên cơ sở ứng dụng thành quả của cuộc cáchmạng khoa học - công nghệ
Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đối với một số nước nghèo và chậm phát triển thì việc chọn bước đi công
nghiệp hóa là con đường thích hợp nhất Để thực hiện công nghiệp hóa đất nướctrong thời gian ngắn đòi hỏi phải có một số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc,thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến
Nhập khẩu cũng giống như vốn đầu tư của một nước thường dựa vào cácnguồn chủ yếu như: viện trợ, vay nợ, đầu tư nước ngoài, Tất cả các nguồn đó đềuphải hoàn trả lại dưới các hình thức khác nhau, còn phát triển xuất khẩu là sự bảođảm, quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu công nghiệp hóa - hiện đạihóa đất nước
Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển: Đây là yếu tố then chốt trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa Đồng
thời sự phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo và chế biến hàng xuất khẩuđược áp dụng kỹ thuật tiên tiến, sản xuất ra hàng hóa có tính cạnh tranh cao trên thịtrường thế giới tạo nguồn lực công nghiệp mới, tăng năng suất lao động, tiết kiệmchi phí lao động xã hội Bên cạnh đó tạo khả năng mở rộng thi trường, tạo điều
Trang 14kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của mộtnước sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chấtlượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sảnxuất, luôn thích ứng được với những thay đổi của thị trường Xuất khẩu còn đòihỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất
và kinh doanh góp phần cho sản xuất phát triển kinh tế ổn định
Xuất khẩu có tác động tích cực giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân: Sự phát triển của các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu sẽ
thu hút rất nhiều lao động vào việc làm với mức sống ổn định Ngoài ra xuất khẩucòn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống
và đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của con người
Xuất khẩu là nền tảng trong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại: Xuất
khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước, nâng cao vai trò củanhà nước trên trường quốc tế Nhờ có những hàng xuất khẩu mà đã có nhiều nước
đã, đang và sẽ thiết lập mối quan hệ buôn bán và đầu tư với nhau
Xuất khẩu góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên: Việc các nguồn tài nguyên thiên
nhiên tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, thông qua việc phát triển cácngành chế biến, xuất khẩu đã góp phần nâng cao giá trị hàng hóa, giảm bớt nhữngthiên tai do điều kiện thiên nhiên ngày càng trở nên bất lợi cho hàng hóa và nguyênliệu cho sản xuất
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu trong hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Vào những thập niên cuối của thế kỷ thứ XX, xu thế toàn cầu hóa và hộinhập kinh tế quốc tế đã phát triển ngày càng mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm nghiêncứu của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều học giả của mọi quốc gia trên thế giới
Khái niệm hội nhập (Integration) xuất phát từ phương Tây, ở Việt Nam, hộinhập còn là một khái niệm khá mới mẻ, được sử dụng từ giữa thập niên 1990 trởlại đây Cũng như các thuật ngữ liên kết và nhất thể hóa, thuật ngữ hội nhập có
Trang 15chung gốc tiếng anh là integration Các thuật ngữ này có sự khác biệt giữa chúngchủ yếu là cách dùng với hàm ý lịch sử, chính trị khác nhau Thuật ngữ nhất thểhóa được sử dụng chủ yếu trong bối cảnh hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩatrong khuân khổ Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) trước đây Thuật ngữ liên kếtđược sử dụng khá nhiều khi nói về hiện tượng phát triển các quan hệ kinh tế trên
cơ sở tự do hóa mậu dịch giữa các nước không phải là xã hội chủ nghĩa, đặc biệt làtrong khuân khổ các tổ chức kinh tế khu vực như Cộng đồng kinh tế Châu âu (EC),hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA) trong những thập niên sau Chiến tranhthế giới thứ hai Thuật ngữ hội nhập xuất hiện và được sử dụng phổ biến trong bốicảnh chúng ta xúc tiến mạnh mẽ chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệquốc tế, tích cực triển khai để gia nhập vào các định chế, tổ chức kinh tế thế giới
và khu vực
Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế
và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự
do hóa và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương.
Thực tế hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan với các nướctrong phát triển ngày nay Do vậy, Đại hội IX của Đảng đã nêu rõ: “Toàn cầu hóakinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừathúc đẩy hợp tác, vừa tăng cường sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhaugiữa các nền kinh tế” Trong bối cảnh đó, Đảng ta khẳng định cần phải: “Chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nângcao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,bảo vệ môi trường”
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu trong hội nhập kinh tế quốc tế
Yếu tố kinh tế
Thị trường cần có sức mua, cũng như người mua Sự thay đổi các thông sốkinh tế như thu nhập, chi phí sinh hoạt, lãi suất và kết cấu tiết kiệm của một quốcgia có tác động tức thời đến thương trường, các doanh nghiệp cần hiểu rõ những
Trang 16khuynh hướng chính yếu diễn ra trong vấn đề này Với một nước đang pháttriển, kinh tế mới chỉ đủ để sinh tồn và một phần nhỏ dùng đầu tư vào các cơ sở
hạ tầng trọng yếu, chưa có đủ vốn để xây dựng nhiều cơ sở sản xuất hiện đại đểxuất khẩu các mặt hàng tầm cỡ thế giới Chính vì vậy mà việc phải lựa chọn nhưthế nào để liên doanh hoặc xây dựng những nhà máy sản xuất chế biến thật cầnthiết cho nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay nhằm đẩy mạnh kinh tế phát triển
là cực kì quan trọng
Môi trường văn hóa - xã hội
Tính bền vững của những giá trị văn hóa cốt lõi: Dân chúng trong bất kỳ xãhội nào cũng đều lưu giữ một số giá trị là niềm tin, chúng mang tính bất di bất dịchkhá cao Những niềm tin ấy khuôn định và tô điểm cho các thái độ và cách xử thếđặc thù hơn, diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, chúng được truyền từ đời này quađời khác và được kiện toàn thêm qua các định chế quan trọng của xã hội, nhà thờ,chính quyền, trường học Những niềm tin và giá trị thứ cấp thì dễ thay đổi hơn, cácnhà quản lý có cơ may làm thay đổi yếu tố này nhưng ít có cơ may làm thay đổigiá trị cốt lõi của chúng
Môi trường chính trị - pháp luật
Các quyết định kinh doanh chịu sự tác động mạnh mẽ của những tiến triểntrong môi trường chính trị và pháp luật Môi trường này được tạo ra từ các luật lệ
cơ quan chính quyền và nhóm áp lực gây ảnh hưởng và ràng buộc tới mọi tổ chức
và cá nhân trong xã hội Pháp lý điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, trước hết là
để bảo vệ quan hệ giữa các công ty với nhau; thứ hai là, để bảo vệ người tiêu dùngtránh được các giao dịch buôn bán không công bằng (ví dụ như luật về đánh giáhàng tiêu dùng của Mỹ vào năm 1975: ngăn cấm việc sử dụng các thảo hiệp duy trìgiá giữa các nhà sản xuất và các nhà bán lẻ trong nội thương); thứ ba là, để bảo vệcác lợi ích rộng lớn của xã hội tránh khỏi những hành vi sai lạc vì hầu hết các công
ty đều không chịu những phí tổn xã hội trong hoạt động sản xuất hoặc trong sảnphẩm của họ
Yếu tố cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của một quốc gia là ưu thế giữa các quốc gia về lao động,
Trang 17vốn và sự thiên phú tự nhiên về tài nguyên, đất đai Phải sử dụng các lợi thế này đểtạo ra sản phẩm có chi phí thấp Một nước đông dân, ít vốn, lao động rẻ thì trướchết phải định hướng sản xuất các mặt hàng sử dụng nhiều lao động Tuy nhiên, lợithế cạnh tranh của bất kỳ quốc gia nào cũng mang tính tương đối trong quá trìnhbiến động và phát triển Vì vậy, cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng cũng phải thayđổi Tính quy luật của sự thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu là chuyển dần từ sảnphẩm sử dụng nhiều lao động rẻ, không cần tay nghề cao như sản phẩm dệt may,
da giầy sang các sản phẩm xuất khẩu sử dụng nhiều lao động có tay nghề caonhư ngành hóa chất, điện tử, sắt thép, ô tô Cuối cùng là chuyển sang các sảnphẩm cần nhiều vốn và công nghệ cao như cơ khí chính xác, tự động hóa, thiết bịviễn thông, tin học, hàng điện tự nghe nhìn cấp cao
Thúc đẩy tự do hóa thương mại, tự do hóa đầu tư làm gia tăng hoạt động thương mại quốc tế
- Thứ nhất, tăng cường mở rộng thị trường, tạo lập môi trường thương mại
ổn định thông qua việc: cắt giảm hàng rào thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuếquan, minh bạch hóa chính sách, và sự gia tăng của thương mại quốc tế
- Thứ hai, chính sách mở cửa, tự do hóa: Thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) giúp làm tăng nguồn vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu, tạo đàthúc đẩy cho xuất khẩu ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng Và làm giatăng của các nguồn lưu chuyển công nghệ và nhân công giữa các nước, tạo điềukiện tốt trong việc nâng cao năng suất lao động, tăng hàm lượng chất xám đốivới sản phẩm xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩutrên thị trường thế giới
- Thứ ba, sự quốc tế hóa hoạt động kinh doanh và vai trò của các công ty
xuyên quốc gia:
Xuất khẩu chịu ảnh hưởng của quốc tế hóa và công ty xuyên quốc gia Sựquốc tế hóa của sản xuất kinh doanh là hiện tượng các công ty mở rộng hoạt độngsản xuất kinh doanh ra khỏi phạm vi của một quốc gia Đây là một nguyên nhânquan trọng trực tiếp tạo ra xu thế toàn cầu hóa Quá trình sản xuất kinh doanh ngàycàng được quốc tế hóa rộng rãi và ở mức cao hơn, thông qua:
Trang 18+ Sự gia tăng trao đổi các yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh giữa cácnước (vốn, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên liệu, kỹ thuật, công nghệ, thông tin,nhân công ), phân công lao động và hợp tác quốc tế.
+ Vai trò ngày càng lớn của các công ty xuyên quốc gia (TNC) Vai trò quantrọng của các công ty xuyên quốc gia đối với xu thế toàn cầu hóa thể hiện ở chỗchúng không những đóng góp tích cực vào việc phát triển lực lượng sản xuất thếgiới mà còn trực tiếp liên kết các nền kinh tế quốc gia lại với nhau và làm cho quátrình phân công lao động quốc tế trở nên sâu sắc hơn thông qua các hoạt động chủyếu: đầu tư và tiến hành sản xuất kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới; tham giavào việc lưu chuyển tư bản các giao dịch tài chính và chuyển giao công nghệ giữacác nước trên thế giới; thúc đẩy thương mại toàn cầu và khu vực thông qua việclưu chuyển hàng hóa, dịch vụ nội bộ của các công ty xuyên quốc gia; gây ảnhhưởng đến chính sách của các nước
Trang 19CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA THÁI LAN TRONG
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội
Điều kiện tự nhiên: Thái Lan nằm ở khu vực trung tâm Đông Nam Á Diện
tích là 513.115km² Thái Lan xếp thứ 49 trên thế giới về diện tích, rộng thứ 3 tạiĐông Nam Á, sau Indonesiavà Myanmar Thái Lan có bờ biển dài khoảng1.840km trên bờ vịnh Thái Lan và 865km trên bờ Ấn Độ Dương; giáp Lào,Myanmar, Malaysia và Campuchia
Thái Lan được chia làm 4 vùng: phía Bắc có địa hình đồi núi, với điểm caonhất (2.576m) là Doi Inthanon; phía Đông Bắc là Cao nguyên Khorat có biên giới
tự nhiên về phía Đông là sông Mekong Miền cao nguyên vùng Đông Bắc TháiLan có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của gió mùa Thời tiết đượcphân ra 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô; nhiệt độ trung bình hàng năm daođộng từ 23,7 - 32,5°C Thái Lan có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và chịu ảnh hưởngcủa gió mùa Thời tiết nóng, mưa nhiều từ giữa tháng 5 cho tới tháng 9
Trung tâm của đất nước chủ yếu là vùng đồng bằng sông Chao Pharaya đổ
ra vịnh Thái Lan, đồng bằng màu mỡ miền Trung là vựa lúa của đất nước MiềnNam là eo đất Kra mở rộng về phía bán đảo Mã Lai, khu vực đồi núi phía Namgiàu tài nguyên thiên nhiên và những cánh rừng nguyên sinh Đây cũng là vùngtrồng cao su thiên nhiên và các cây nhiệt đới khác Chịu ảnh hưởng của gió mùaTây Nam nên đất canh tác ở hầu hết các vùng trong cả nước có độ màu mỡ thấp,đất bị mưa rửa trôi Từ tháng 10 đến giữa tháng 3, do chịu ảnh hưởng của gió mùaĐông Bắc khô, lạnh nên eo đất phía Nam luôn nóng, ẩm
Do vị trí địa lý với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thái Lan là một nước cónhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp Liên tục trong nhiều năm qua, Thái Lan lànước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo với mức 4 - 5 triệu tấn/năm Gạo TháiLan cạnh tranh được trên thị trường thế giới nhờ giá rẻ (so với Mỹ) và nhờ chấtlượng (so với Việt Nam) Thái Lan cũng là một trong 3 nước ở khu vực xuất khẩu
mủ cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới Ngoài ra, các cây trồng khác như bắp,
Trang 20khoai mỳ, cũng được trồng nhiều ở Thái Lan; đặc biệt là các loại cây ăn trái nhưnhãn, sầu riêng, xoài, rất có lợi thế xuất khẩu.
Thái Lan là nước có ngư trường lớn thứ ba ở Châu Á (sau Nhật Bản vàTrung Quốc) Năm 2000, Thái Lan đứng thứ 9 trên thế giới về sản lượng thủy sản(3,6 triệu tấn) nhưng về xuất khẩu lại đứng thứ nhất (4,4 tỷ USD) Từ đầu nhữngnăm 1980 đến nay, Thái Lan là nước xuất khẩu cá ngừ lớn nhất thế giới, chiếmkhoảng 80% sản lượng cá ngừ xuất khẩu trên thị trường thế giới, riêng vào thịtrường Mỹ đã chiếm tới 60% sản lượng xuất khẩu cá ngừ của Thái Lan
Thái lan là quốc gia có nhiều động vật quý hiếm trên thế giới sinh sống: nổibật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ Nhiều loại đang đứng trước hiểm họa diệtchủng do nạn săn trộm và phá rừng
Điều kiện xã hội: Dân số Thái Lan là 64.5 triệu người, tỷ lệ tăng trưởng
khoảng 1,3% Ngoài người Thái, người Hoa chiếm đa số , kế đến là người Mã Lai,người Khmer, người Lào và người Việt, còn có một số dân tộc thiểu số sống ởvùng núi như H’mông, Môn,
Về chính trị: Thái Lan thực hiện chế độ quân chủ lập hiến Quốc hội Thái
Lan gồm hạ nghị viện do dân bầu và thượng nghị viện được bổ nhiệm Đứng đầuNhà nước Thái Lan là Vua, đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng
2.2 Các chính sách ảnh hưởng đến xuất khẩu và tình hình xuất khẩu của Thái Lan trong hội nhập kinh tế quốc tế
2.2.1 Giai đoạn 1972 đến 1997
Chính sách xúc tiến xuất khẩu
Cũng như những tổ chức xúc tiến thương mại của các nước Nhật Bản hayHàn Quốc, cơ quan tiến hành hoạt động xúc tiến xuất khẩu của Thái Lan cũng trựcthuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Thương mại Thái Lan Là cơ quan có vai trò hếtsức quan trọng của chính phủ Cục xúc tiến xuất khẩu Thái Lan có các nhiệm vụchính như sau:
- Đề xuất các khuyến nghị về chính sách và kế hoạch hành động đối vớinhững vấn đề liên quan đến thương mại và marketing; đồng thời trong quá trìnhnày đưa ra các định hướng và biện pháp mang tính chiến lược đối với hoạt độngxúc tiến xuất khẩu
Trang 21- Cung cấp thông tin thương mại cho những nhà sản xuất và nhà xuất khẩuThái Lan và tăng cường vài trò của công nghệ thông tin trong hoạt động xúc tiếnxuất khẩu.
- Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng và quan hệ công chúng đểxúc tiến xuất khẩu các sản phẩm quan trọng của Thái Lan
- Nâng cao kiến thức và kỹ năng của nhân viên trong lĩnh vực ngoại thươngnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu
- Tăng cường phối hợp và hợp tác với các tổ chức và thể chế quốc tế để hỗtrợ sự tăng trưởng của xuất khẩu
Để thực hiện chức năng trên, Cục Xúc tiến xuất khẩu Thái Lan được cơ cấu
tổ chức như hình sau:
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Cục Xúc tiến xuất khẩu Thái Lan
Trang 22Trong những năm qua, các hoạt động chính của Cục Xúc tiến xuất khẩuThái Lan bao gồm:
Phát triển thương hiệu quốc gia Thái Lan
Cục Xúc tiến xuất khẩu cùng với các cơ quan khác luôn khuyến khích cácnhà sản xuất và xuất khẩu Thái Lan nhận thức được tầm quan trọng của việc xúctiến bán sản phẩm với thương hiệu của chính mình trên thị trường thế giới Sángkiến được Cục Xúc tiến xuất khẩu đưa ra là xây dựng thương hiệu quốc gia nhưmột công cụ để nâng cao nhận thức và sự tin tưởng của người tiêu dùng vào cácsản phẩm của Thái Lan Thương hiệu sẽ được xây dựng để xây dựng hình ảnh TháiLan như những nhà sản xuất và xuất khẩu hiệu quả đối với nhiều hàng hóa và dịch
vụ chất lượng cao Cục Xúc tiến xuất khẩu hy vọng rằng thương hiệu sẽ gia tănggiá trị cho sản phẩm của Thái Lan và đem lại cho Thái Lan lợi thế cạnh tranh bềnvững Chương trình này đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà sản xuất vàxuất khẩu Thái Lan Đến nay, gần 1000 doanh nghiệp đã đăng ký với chương trình
để sử dụng thương hiệu quốc gia cùng với thương hiệu của mình
Điều hành chương trình giải thưởng xuất khẩu của Thái Lan của Thủ tướng Chính phủ
Chính phủ Thái Lan thông qua Cục Xúc tiến xuất khẩu, Bộ Thương mạiđang thực hiện chương trình giải thưởng xuất khẩu cho những nhà xuất khẩu TháiLan xuất khẩu sản phẩm do chính mình sản xuất và thiết kế ra thị trường thế giới.Giải thưởng xuất khẩu được trao cho những nhà sản xuất hàng hóa và cung cấpdịch vụ tốt nhất để đảm bảo chất lượng hàng hóa và dịch vụ của Thái Lan trên thịtrường thế giới Giải thưởng được bắt đầu năm 1992 do H.E Anand Punyrachun,cựu thủ tướng Thái Lan thành lập Năm 2004, giải thưởng này được trao cho 22công ty bao gồm: 4 nhà sản xuất lớn nhất, 9 nhà sản xuất có thương hiệu tốt nhất, 4nhà xuất khẩu có thiết kế sản phẩm của Thái Lan, 5 nhà cung cấp dịch vụ uy tínnhất Qua các năm giải thưởng đã thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu quốc gia thôngqua việc liên tục phát triển chất lượng và thiết kế sản phẩm
Khuyến khích xuất khẩu là một phần quan trọng trong chính sách thươngmại của Thái Lan Vì vậy, đối với các hàng hóa xuất khẩu chỉ có một số loại thuế
Trang 23nhất định Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan còn áp dụng nhiều quy định mangtính khuyến khích để thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu Các thành phần kinh tếđược phép xuất khẩu cũng rất đa dạng: các công ty công cộng hoặc trách nhiệmhữu hạn; các tổ chức kinh doanh nhà nước hoặc tư nhân; các hợp tác xã hoặc cácnhóm nông dân.
Định kỳ, Bộ Thương mại Thái Lan lại lập danh sách các hạng mục hàng hóaphải chịu sự kiểm soát xuất khẩu theo Luật kiểm soát xuất, nhập khẩu Các ưu đãi
về thuế quan và miễn thuế được áp dụng cho các tổ chức và công ty kinh doanh đãđạt được tiêu chuẩn theo luận định
Đối với các hàng hóa xuất khẩu thuộc loại thực phẩm thiết yếu như là gạo,đường, trước hết phải được dự trữ đủ cho tiêu dùng nội địa rồi mới được xuấtkhẩu Đặc biệt là gạo, để đảm bảo đáp ứng nhu cầu nội địa, đồng thời để kiểm soátđược giá gạo trong nước thì các nhà sản xuất phải đóng thuế xuất khẩu
Các tổ chức và công ty xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu các sản phẩm nôngnghiệp, ngoài việc phải chịu sự kiểm soát của một số luật riêng như Đạo luật buônbán gạo, còn phải là hội viên của các hội buôn bán thích hợp có liên quan tới việcbuôn bán thứ hàng hóa mà họ muốn xuất khẩu
Chính sách thị trường
Chính sách thị trường là một phần quan trọng trong chính sách thương mạicủa Thái Lan Thái Lan hiện có quan hệ thương mại trên 170 nước và xuất khẩunhiều mặt hàng quan trọng như: nông sản, thực phẩm chế biến, đá quý nguyên vậtliệu, các mặt hàng chế tạo, hàng dệt may, hóa chất, Các đối tác thương mại củaThái Lan cũng rất đa dạng, từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển ởnhiều châu lục Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu chủ yếu của Thái Lan vẫn là cácnước công nghiệp phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, các nước Liên minh EU, sau đóđến các nước ở Đông Bắc Á (Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc), rồi đến các quốcgia trong hiệp hội ASEAN và Trung Quốc Việc Thái Lan luôn chọn đối tác xuấtkhẩu lớn là các nước công nghiệp phát triển được giải thích bằng hai lý do:
Thứ nhất, về mặt thị trường, các nước công nghiệp phát triển luôn là bạn
hàng truyền thống của Thái Lan, là nơi tiêu thụ chủ yếu các nguyên liệu và các mặt
Trang 24hàng nông sản của nước này Chính nhờ vào thị trường các nước phát triển này vànhờ vào lợi thế thương mại của mỗi bên mà giá trị xuất khẩu của Thái Lan gia tăngliên tục, đạt tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm cao nhất trong so sánh với một
số nước ASEAN khác
Thứ hai, chính các nước công nghiệp phát triển lại là các thị trường chủ
chốt, quan trọng cung cấp các mặt hàng nông nghiệp, máy móc, phương tiện và cácthiết bị sản xuất thiết yếu mà Thái Lan cần để phát triển sản xuất trong nước
Các đối tác thương mại quan trọng của Thái Lan hiện nay vẫn là Mỹ, NhậtBản và EU Với thị trường Mỹ, có hơn 80% hàng hóa xuất khẩu là các mặt hàngchế tạo (hàng dệt may, linh kiện máy tính, hàng điện tử, đồ hộp, ) Còn với thịtrường Nhật Bản và EU, Thái Lan chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng dệt may, cao
su, đồ gỗ, hàng thủy sản, các linh kiện điện tử, máy vi tính
Bảng 2.1: Xuất khẩu của Thái Lan tới EU, Mỹ, Nhật Bản
Nguồn: Dẫn theo cuốn: “East Asian Economic Pespectives” (EAEP), Vol II,
February 2000, Kitakyushu, Janpan, pp 147-148
Trong khi buôn bán của Thái Lan với các nước công nghiệp phát triển ngàycàng tăng thì buôn bán với các nước đang phát triển vẫn tiến triển chậm Điều nàyđược giải thích bởi nhiều lý do, trong đó có nguyên nhân về cơ cấu buôn bán trùnglặp giữa Thái Lan và các nước đang phát triển khác, đặc biệt là các nước trong hiệphội ASEAN (hầu hết đều đi theo con đường công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩunhư Nhật Bản và các nước công nghiệp mới) Tuy nhiên, từ nửa sau những năm 90trở lại đây, buôn bán của Thái Lan với các bạn hàng trong Hiệp hội ASEAN có xuhướng tăng lên do những điều kiện ưu đãi về thuế quan mà AFTA mang lại, đồngthời đây vừa là thị trường tiêu thụ, vừa là nơi cung cấp nguyên liệu cho nền côngnghiệp hướng tới xuất khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và bối cảnh
Trang 25nguồn tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt Vì vậy, các nước ASEAN cũng trởthành các đối tác thương mại ngày càng quan trọng của Thái Lan với tỷ lệ đạt từ 21
- 24% trong tổng xuất khẩu của Thái Lan những năm gần đây
Hiện nay và trong tương lai, với sự mở cửa của Trung Quốc và Việt Nam thìThái Lan đang và sẽ đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt về giá do lợi thế về chi phíthấp và nhân công rẻ Tuy nhiên, với việc đưa ra các chương trình nâng cao khảnăng cạnh tranh của hàng xuất khẩu, bao gồm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu côngnghiệp từ chi phí lao động cao sang sử dụng hàm lượng công nghệ cao, khuyếnkhích sự phát triển và áp dụng công nghệ hiện đại nhằm làm tăng phần giá trị giatăng trong các ngành công nghiệp sử dụng chi phí lao động cao, Thái Lan hy vọngvẫn duy trì được khả năng cạnh tranh của mình
Chính sách sản phẩm
Chính sách sản phẩm của Thái Lan là cơ sở để xác định cơ cấu hàng hóaxuất nhập khẩu Trong lịch sử đã có những bằng chứng về sự thành công hay thấtbại của một chiến lược kinh tế gắn liền với việc xác định chiến lược sản phẩm.Chính sách sản phẩm là việc cụ thể hóa những lợi thế so sánh của đất nước trongbuôn bán quốc tế, trong đó, sự uyển chuyển trong việc thay đổi cơ cấu hàng hóaxuất nhập khẩu phản ánh sự phản ứng của một nước đối với sự biến đổi lợi thế sosánh của nước đó
Nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, chúng tathấy, ngoại trừ một số nước giàu tài nguyên như các nước xuất khẩu dầu mỏ, còncác nước đang phát triển khác, trong đó có Thái Lan, sở dĩ đạt được thành côngtrong phát triển kinh tế là nhờ chuyển từ xuất khẩu sản phẩm sơ chế sang các mặthàng chế tạo
Như vậy, căn cứ để xác định chiến lược sản phẩm là xác định xem đất nướcđang ở giai đoạn nào của quá trình công nghiệp hóa và đề ra chiến lược chuyểntiếp cho giai đoạn đó Trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, chiếnlược sản phẩm của Thái Lan muốn thành công đòi hỏi phải được đầu tư lớn choviệc nghiên cứu và triển khai, bởi vì các sản phẩm xuất khẩu ngày nay khôngnhững là những sản phẩm cần nhiều cơ bắp mà còn chứa nhiều năng lực trí tuệ
Chính sách tỷ giá
Trang 26Trong lĩnh vực xuất khẩu, tỷ giá hối đoái có vai trò cực kỳ quan trọng Thực tếvận động tỷ giá hối đoái ở Thái Lan trong suốt một thời gian dài cho thấy, các cơquan chức năng ở Thái Lan luôn tìm cách để giữ cho đồng bạt có một tỷ giá tương đối
ổn định so với đồng đô la Mỹ Điều này một mặt chứng tỏ đồng đô la Mỹ có ảnhhưởng to lớn đối với sự phát triển kinh tế ở Thái Lan; mặt khác cho thấy về mặt chủquan, Thái Lan muốn lấy đồng đô la Mỹ bảo đảm cho giá trị đồng bản tệ
Trong suốt 10 năm từ 1970 đến 1980, đồng bạt Thái luôn dao động ở mức
20 - 20,8 ăn một đô la Mỹ Từ năm 1981 đến 1984, tỷ giá có nhích hơn một chútnhưng chỉ giao động trong khoảng 21,82 - 23,64 bạt/1USD Ngoại trừ năm 1985,
tỷ giá nhích lên tới 27,13 bạt/1USD; còn lại suốt từ năm 1986 cho đến 1996, tỷ giáhối đoái giữa đồng bạt và đồng đô la Mỹ luôn giao động ở mức trên dưới 25 - 26bạt ăn một đô la Mỹ
Việc cố định không chính thức vào đồng đô la Mỹ hay sự ổn định của tỷ giáhối đoái đã có mặt tích cực của nó: đó là góp phần vào sự tăng trưởng của khu vựcxuất khẩu và kích thích các luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Thái Lan
Chính sách đầu tư
Ban đầu, Chính phủ Thái Lan áp dụng chính sách kiểm soát tỷ giá hối đoáinhằm ổn định đồng tiền bản địa và khuyến khích việc đầu tư của cả hai khu vựcnhà nước và tư nhân, tạo ra sự hấp dẫn về thương mại và đầu tư Song những chínhsách này đã có tác động tiêu cực, thâm hụt cán cân thanh toán và thâm hụt tàikhoản vãng lai ngày càng gia tăng, tỷ lệ lãi suất cho vay trong nước tương đối cao
đã khuyến khích việc vay vốn ngắn hạn nước ngoài với mục đích đầu cơ Chínhđiều này đã làm mất quyền kiểm soát của Chính phủ, đồng Bạt phá giá không thểcứu vãn nổi - là ngòi nổ của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997
Sau đó, nhờ chính sách tự do hóa tài chính năm 1993 đã giúp Thái Lan hộinhập khá thành công vào thị trường tài chính quốc tế, dỡ bỏ những trở ngại đối với
sự phát triển của thị trường vốn nội địa Các ngành dịch vụ tài chính - ngân hàng,bảo hiểm và kinh doanh bất động sản tăng lên với tốc độ chóng mặt, từ khoảng 5%những năm 1970 lên 12,6% năm 1994 FDI ồ ạt chảy vào
Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài ưu đãi với sản phẩm xuất khẩu
Trang 27Thái Lan đã thực hiện những chính sách ưu đãi rất cụ thể dành cho các nhàđầu tư như: miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ trực tiếp cho sản xuất,miễn thuế thu nhập từ 3 đến 5 năm tùy theo khu vực đầu tư, giảm giá tiền thuê đấtđai nhà xưởng,v.v Thái Lan đã thông qua Luật khuyến khích đầu tư trong nước
và nước ngoài từ đầu những năm 60 thế kỷ XX và liên tục bổ sung, điều chỉnh cácđiều khoản cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế nhằm hấp dẫn các nhàđầu tư tư nhân trong và ngoài nước
Những khuyến khích chung nhằm hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư mà TháiLan đưa ra là :
- Cho phép các nhà đầu tư sở hữu đất đai để tiến hành các hoạt động sảnxuất kinh doanh
- Cho phép các nhà đầu tư đưa tới Thái Lan các chuyên gia và các nhà kỹthuật để phục vụ cho các dự án phát triển công nghiệp
- Cho phép các nhà đầu tư mang hoặc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài
2.2.2 Giai đoạn từ năm 1997 đến nay
Trong giai đoạn này Thái Lan có những điều chỉnh về chính sách để thúcđẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu
Điều chỉnh chính sách hỗ trợ xuất khẩu
Từ năm 1999 tới cuối năm 2002, Thái Lan đã ngừng những chương trình hỗtrợ xuất khẩu như cấp tín dụng dài hạn Tuy nhiên, các chương trình hỗ trợ cho vayxuất khẩu khác của Thái Lan vẫn tiếp tục được duy trì Các chương trình hỗ trợcho vay xuất khẩu bao gồm: chương trình hỗ trợ cho vay vốn trước khi giao hàng,
hỗ trợ cho vay vốn đối với các hợp đồng xuất khẩu, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu,v.v Nói cách khác, việc điều chỉnh chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Thái Lanđược thực hiện theo đúng quy định của WTO có tính đến thực tiễn yêu cầu củaxuất khẩu trong nước Cụ thể:
* Đối với ngành nông nghiệp
Để tham gia hiệu quả vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ TháiLan đã điều chỉnh chính sách thương mại theo hướng tăng cường ứng dụng côngnghệ mới, công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp Năm 2005, Thái Lan
Trang 28đã triển khai chương trình quy mô lớn thúc đẩy canh tác công nghiệp hữu cơ.Theo chương trình này, Chính phủ chọn các nông dân tiêu biểu từ 23 tỉnh củaThái Lan để thực hiện thí điểm canh tác nông nghiệp tiên tiến theo phương pháp
sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu sinh học và cách sử dụng nguồn nước tưới tiêusạch một cách hiệu quả nhất Mục tiêu của chương trình này là nhằm nhanhchóng đưa Thái Lan trở thành nước đi đầu trong khu vực về phát triển nôngnghiệp sạch, đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới về các nông sản canh táctheo phương pháp hữu cơ
Chương trình này thành công cho phép ngành nông nghiệp Thái Lan tiếtkiệm được 2,2 tỷ bạt (tương đương 53,65 triệu USD) tiền nhập khẩu phân bón hóachất, trong khi lợi nhuận của nông dân tăng 20% và xuất khẩu các sản phẩm nôngnghiệp hữu cơ sạch tăng 100%/năm Trong chương trình kế hoạch đến năm 2009,Thái Lan sẽ xây dựng trên phạm vi cả nước các nhà máy phân bón sinh học để gópphần giảm bớt chi phí vận chuyển và cung ứng kịp thời sản phẩm cho nông dân
Là một nước nông nghiệp, Thái Lan là nước xuất khẩu gạo số một trên thếgiới Giờ đây, Thái Lan lại điều chỉnh chính sách thương mại theo hướng tăngcường sử dụng công nghệ sinh học ở trong nước để phát triển ngành nông nghiệpsạch Đây là chiến lược hội nhập thông minh của Thái Lan dựa trên lợi thế so sánhnhằm tạo cơ sở vật chất vững chắc cho quá trình CNH, HĐH
* Đối với ngành công nghiệp ô tô
Thuế quan nhập khẩu ô tô nguyên chiếc tăng từ 20% đến 33% vào tháng 1năm 2000 Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào ô tô thay đổi từ 0% đến 48% tháng 5năm 2003 Hạn chế nhập khẩu số lượng dưới hình thức giấy phép không tự độngđược áp dụng cho một số loại máy chạy dầu diesel Nhập khẩu xe máy và xe con bịcấm trừ một số trường hợp xe công tạm nhập tái xuất Thái Lan bãi bỏ yêu cầu vềhàm lượng nội địa đối với ô tô, trước đó Thái Lan quy định hàm lượng nội địa baogồm: không ít hơn 54% nội địa đối với xe con, 60% đối với xe tải cỡ nhỏ, 40% đốivới xe tải lớn và xe khách, động cơ nội địa là bắt buộc đối với xe máy Bộ Giaothông và Công nghiệp ban hành các yêu cầu về kỹ thuật trong sản xuất ô tô.Khoảng 217 công ty trong ngành được nhận chứng chỉ ISO 9000, sáu công ty được
Trang 29nhận chứng chỉ do Viện Tiêu chuẩn Công nghiệp cấp.
Chính sách tỷ giá
Khi xảy ra khủng hoảng tài chính - tiền tệ vào ngày 2/7/1997, Chính phủThái Lan buộc phải thả nổi tỷ giá hối đoái và vào thời điểm cuối năm 1997 đồngbạt bị mất giá ở mức 47,27 bạt ăn một đô la Mỹ Tình trạng xuống giá khôngphanh của đồng bạt Thái trong nửa cuối năm 1997 và bi thảm hơn khi bước sangđầu năm 1998 đạt mức kỷ lục 53,7 bạt ăn một USD, đã không còn tạo cho nướcnày lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu mà còn khiến cho tình trạng hoảng loạn bịđẩy đến cực điểm Tuy nhiên, từ nửa cuối năm 1998 trở đi, nhờ các can thiệp vĩ mô
và sự kiểm soát nguồn vốn khá chặt chẽ của Chính phủ, nên mức độ mất giá củađồng bạt đã được hạn chế chỉ còn khoảng 30% - 40% so với trước khủng hoảng.Mức độ “mất giá cạnh tranh” này đã được coi là đủ để kích thích xuất khẩu, đồngthời giúp không chồng chất thêm nữa những món nợ nước ngoài
Từ 1999 đến nay, Thái Lan tích cực áp dụng nhiều biện pháp nhằm phục hồi
và ổn định kinh tế, trong đó thực thi chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt có điều tiết
đã giúp cho việc bình ổn tỷ giá (dao động trong khoảng 31 - 41 bạt ăn một đô laMỹ), làm tăng khả năng đoán trước được ít nhất là trong tầm trung hạn của tỷ giá,giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh, khôi phục lòng tin của các nhàđầu tư và tiêu dùng, nhờ đó kích thích tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, tăngcường năng lực CNH hướng về xuất khẩu
Điều chỉnh cơ cấu tổ chức hoạt động ngoại thương và cải thiện hoạt động của hệ thống ngành hàng xuất khẩu
Xuất khẩu là động lực tăng trưởng kinh tế Nó chiếm tới 70% GDP hàngnăm và tập trung vào một số mặt hàng chủ lực, trong đó chỉ riêng 19 mặt hàng đãchiếm 49% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1996 Từ năm 1995 - 1996, xuất khẩucủa nước này đã bị chững lại do giá cả không còn đạt mức cạnh tranh, cơ cấu xuấtkhẩu không phù hợp với nhu cầu thị trường Trong điều kiện khả năng tăng năngsuất lao động trong nước trước mắt gặp nhiều khó khăn, việc điều chỉnh cơ cấungành cần phải có thời gian và nguồn lực nhất định, Chính phủ Thái Lan chủtrương một mặt giảm nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, mặt khác tăng cường xuất khẩu
Trang 30trên cơ sở khắc phục những trở ngại đang đặt ra cho các hàng xuất khẩu truyềnthống, tăng cường xuất khẩu dịch vụ, tìm kiếm mặt hàng mới, thị trường mới, đadạng hóa mặt hàng, tiếp tục tự do hóa để nâng cao khả năng cạnh tranh chohàng xuất khẩu, điều chỉnh chính sách và tổ chức theo hướng có hiệu quả hơn.
So với các nước châu Á bị khủng hoảng khác, Thái Lan đã ưa thích việc banhành các chính sách tác động trực tiếp đến việc thúc đẩy xuất khẩu hơn là cácchính sách tác động gián tiếp Có thể tóm tắt những điều chỉnh cơ bản trongđiều tiết hoạt động thương mại quốc tế mà Chính phủ Thái Lan đã thực hiện trongthời gian qua như sau:
* Điều chỉnh định hướng xuất khẩu: Để có thể gia tăng kim ngạch xuất khẩu
một cách nhanh chóng, bên cạnh các thị trường truyền thống mà chủ yếu là cácnước công nghiệp phát triển, sau khủng hoảng, Chính phủ Thái Lan rất quan tâmđến việc kiếm thị trường mới, trong đó đặc biệt chú trọng đến thị trường các nướcđang phát triển Ngay từ năm 1998, các nhà lãnh đạo Thái Lan đã xác định thịtrường xuất khẩu mới bao gồm 7 nhóm với 127 nước và tích cực hỗ trợ các doanhnghiệp thúc đẩy xuất khẩu bằng cách tổ chức các chuyến công du ra nước ngoài đểkhám phá những thị trường này Bảy nhóm đó là các nước thành viên mới củaASEAN, Trung Quốc, Đông Âu, Trung và Nam Mỹ, Trung Đông, Châu Phi và MỹLatinh, và Caribe, trong đó quan tâm đặc biệt đối với các nước thành viên mới củaASEAN và các nước Mỹ Latinh, mở ra một thị trường rộng lớn, đa dạng, tàinguyên thiên nhiên phong phú, nhóm nước này sẽ là những địa điểm rất hấp dẫnđối với hàng xuất khẩu của Thái Lan Để hỗ trợ xuất khẩu sang các thị trường mới,Chính phủ Thái Lan đã áp dụng nhiều biện pháp như: hỗ trợ một phần lãi suất tiềnvay với mức bù lãi suất là 5% trong vòng 5 năm cho các nhà xuất khẩu sang các thịtrường mới, một số doanh nghiệp còn được trợ giúp tiền để tiến hành các hoạtđộng xúc tiến xuất khẩu (cho đến cuối năm 1999, khoảng 40 doanh nghiệp đã đượctrợ giúp 7,7 tỷ bạt)
* Điều chỉnh cơ cấu thương mại quốc tế: Chính phủ Thái Lan tiếp tục đề
cao vai trò của khu vực dịch vụ (hiện chiếm khoảng 50% GDP, so với 40% củakhu vực công nghiệp và 10% của khu vực nông nghiệp) Thái Lan đã xác định 5
Trang 31ngành dịch vụ được ưu tiên xuất khẩu trong thời gian sau khủng hoảng là các nhàhàng món ăn Thái Lan, văn hóa phẩm, khu giải trí và sân gôn, mỹ viện, chăm sócsức khỏe và dịch vụ y tế Thái Lan cũng là nước đề nghị thúc đẩy hơn nữa tự dohóa thương mại dịch vụ trong phạm vi ASEAN Theo họ, có 7 lĩnh vực dịch vụnên ưu tiên tự do hóa trong ASEAN là vận tải hàng không, dịch vụ kinh doanh,xây dựng, tài chính, vận tải biển, viễn thông và du lịch.
* Điều chỉnh cơ cấu tổ chức hoạt động ngoại thương: Thái Lan chủ trương
điều chỉnh cơ cấu tổ chức, phân định rõ chức năng của các trung tâm và văn phòngthương mại ở nước ngoài Hiện tại, các trung tâm có nhiệm vụ theo dõi các thịtrường và những vấn đề liên quan đến thương mại Các văn phòng thương mại cónhiệm vụ chính là triển khai chính sách thương mại của Chính phủ Thái Lan ởnước ngoài, báo cáo kịp thời các vấn đề phát sinh và đề ra phương án giải quyết
Bộ Thương mại và Công nghiệp quốc tế có nhiệm vụ giám sát các hoạt động sản
xuất và thương mại quốc tế, tăng cường khả năng xuất khẩu thông qua các chuẩnmực sản xuất cao hơn, phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường ở nước ngoài.Trong các ngành có tiềm năng xuất khẩu lớn và lâu dài như điện và điện tử, ngànhsản xuất trang sức và đá quý, Chính phủ Thái Lan còn đề ra các kế hoạch thành lậpcác trung tâm xúc tiến xuất khẩu Trong các trung tâm này, việc thực hiện các quyđịnh hành chính liên quan đến hoạt động xuất khẩu được thực hiện đáng kể, việcgắn kết sản xuất với thương mại được quan tâm đặc biệt và có sự phối hợp hoạtđộng chặt chẽ và phân định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng giữa các cơ quan bộ,ngành liên quan
* Cải thiện hoạt động của hệ thống ngân hàng xuất nhập khẩu: Trước hết,
Chính phủ Thái Lan đã đề ra các nguyên tắc hoạch toán mới Đó là: 1) không tínhlãi đối với các khoản nợ gốc và lãi suất đã quá hạn trả nợ trên 3 tháng; 2) lãi suấtlũy kế không được trở thành thu nhập; 3) phân loại vốn vay theo khả năng trả đặcbiệt lưu ý (không quá hạn trên 3 tháng), kém chất lượng (không quá hạn trên 6tháng), nợ khó đòi (không quá hạn trên 12 tháng) và mất (không xác định được khảnăng hoàn trả nợ); 4) yêu cầu thành lập quỹ dự phòng để ùn kinh phí cho nhữngkhoản lỗ có thể xảy ra; 5) cơ cấu lại các tài khoản theo phân loại nợ mới; và 6)
Trang 32phải đánh giá tổng quan các danh mục vốn vay và đồ thế chấp, đặc biệt khi thànhlập quỹ dự phòng và trong trường hợp khoản nợ được phân loại là kém chất lượng,khó đòi hoặc mất Song song với việc làm trên, Chính phủ Thái Lan đã trao cho hệthống ngân hàng thương mại thực hiện các chương trình hỗ trợ tín dụng xuất khẩu
có quy mô lớn như Chương trình bảo lãnh tín dụng xuất khẩu cho Thái Lan
* Hỗ trợ các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu
Thứ nhất, đối với sản xuất hàng xuất khẩu truyền thống như dệt may, thực
phẩm đông lạnh, một số hàng nông sản, giày dép, đồ nhựa, đồ trang sức, đá quý, thì Chính phủ tiếp tục hỗ trợ về vốn và công nghệ cho việc đổi mới mẫu mã, nâng caochất lượng và sức cạnh tranh quốc tế, giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu, máy móc vàphụ tùng, giảm thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập, điều chỉnh các chính sách vàchiến lược phát triển Chiến lược mới về nông nghiệp được thông qua với các trọngtâm cơ bản là tăng năng suất, giảm giá thành, khuyến khích tiêu thụ các sản phầmtrồng trọt có chất lượng cao gắn phát triển công nghệ với bảo vệ môi trường và quyvùng cho trồng trọt nhằm đạt được tăng trưởng bền vững trong dài hạn
Thứ hai, Thái Lan tăng cường xúc tiến việc tìm kiếm các sản phẩm xuất
khẩu mới bằng việc chuyển mạnh sang các ngành sản xuất sử dụng công nghệ cao
và bám sát nhu cầu thị trường
Thứ ba, tăng cường cải thiện môi trường pháp lý để thu hút FDI, trong đó
chú trọng cải cách chính sách thu hút FDI theo phương châm “Trải thảm đỏ”, đổimới quy chế quản lý ngoại hối, ban hành luật phá sản doanh nghiệp, tăng cường sửdụng công cụ thuế nhằm giúp định hướng cho thương mại và đầu tư
2.3 Đánh giá kết quả, hạn chế và những bài học kinh nghiệm từ hoạt động xuất khẩu của Thái Lan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 33tỷ bạt, đạt 45,23 tỷ USD, và đến năm 1997 đạt 1.806,6 tỷ bạt.
Thị trường xuất khẩu đa dạng Hoạt động xuất khẩu của Thái Lan hướng tớicác thị trường lớn là Mỹ, EU, Nhật Bản, các nước này chiếm một tỷ trọng lớntrong giá trị hàng xuất khẩu của Thái Lan Ví dụ năm 1992, Mỹ chiếm 22,49%, EUchiếm 21,75%, Nhật Bản chiếm 17,51% Đầu năm 1997, tỷ lệ giá trị hàng xuấtkhẩu của Thái Lan vào Mỹ, EU, Nhật Bản có giảm xuống nhưng không đáng kể, ở
Mỹ là 19,38%, EU là 19,94%, Nhật Bản là 15,71% Đồng thời hoạt động xuất khẩucủa Thái Lan còn hướng vào các thị trường khác như Trung Quốc, Malaysia, HànQuốc, Việt Nam, v.v Hoạt động xuất khẩu của Thái Lan vào các nước có thể thấyđược qua bảng biểu sau:
Bảng 2.2 Xuất khẩu của Thái Lan tới các thị trường chủ yếu
Nguồn: Dẫn theo cuốn: East Asian Economic Perspectives
Thực tế cho thấy, tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu của Thái Lan cao hơn so với
Trang 34một số nước ASEAN như Singapore, Malaysia, Philipines và Indonesia Từ năm
1972 đến 1997, tốc độ tăng xuất khẩu hàng năm của Thái Lan là 9,8%, Malaysia là8,8%, Indonesia là 4,5% và Philipines là 5%
Bảng 2.3: Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm (1972 - 1997)
về giá trị hàng xuất khẩu của Thái Lan với một số nước ASEAN
Nguồn: Dẫn theo Lim Chong Yan, trong cuốn: “Đông Nam Á: Chặng đường dài
trước”, NXB Thế giới, Hà Nội, 2002.
Hình 2.2: Mức tăng trưởng trung bình của một số nước ASEAN (%)
Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu có sự biến đổi theo hướng tích cực Các mặt
Trang 35hàng xuất khẩu trong lĩnh vực nông nghiệp tăng rất chậm trong tổng xuất khẩu, từ73,0 tỷ bạt năm 1981, sau 12 năm chỉ tăng tới 110,7 tỷ bạt Trong khi đó, giá trịcác mặt hàng chế tạo đã gia tăng với tốc độ lớn, từ 54,7 tỷ bạt năm 1981 lên tới752,6 tỷ bạt năm 1993 Nếu tính tỷ lệ phần trăm trong tổng xuất khẩu thì thấy, năm
1981 tỷ trọng các mặt hàng chế tạo mới chỉ chiếm 35,8% trong tổng xuất khẩu củaThái Lan, nhưng đến năm 1993, nó đã chiếm tới 80,4% Đây là một sự tiến bộ vượtbậc cho thấy những thay đổi to lớn trong cơ cấu xuất khẩu của Thái Lan
Bảng 2.4: Cơ cấu giá trị xuất khẩu của Thái Lan (1981 - 1993)
Sự cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu trên thị trường
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu cũng như cơ cấu việc làm và sản xuất có nhữngthay đổi đáng kể Khu vực sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao trong GDP(44 - 56%) trong năm 1986, đã giảm xuống rất nhanh tới mức dưới 20% năm1995.Ngược lại, ngành chế tạo máy có tỷ lệ tăng trưởng nhanh từ dưới 4% năm 1979 lên
Trang 36hơn 40% năm 1998 Sự phát triển trong ngành chế tạo máy tính và thiết bị vănphòng (đặc biệt là đĩa cứng và các thiết bị khác) cũng như trong ngành viễn thông
và sản xuất máy móc điện tử khác gây được ấn tượng mạnh Các lĩnh vực chế tạokhác cũng đạt mức tăng trưởng cao trong suốt hai thập kỷ qua và tăng mạnh vàođầu thập niên 90 trước khi bị suy giảm Các ngành dệt, đồ trang sức, thuộc da và
đồ may mặc chiếm phần lớn thị phần xuất khẩu của Thái Lan trước đây nay đều
bị suy giảm mạnh mà nguyên nhân là do các mặt hàng xuất khẩu của Thái Lantrong các lĩnh vực này những năm gần đây phải cạnh tranh quyết liệt với các nướcláng giềng như Trung Quốc, Việt Nam và những nước xa hơn như Mexico trongviệc thâm nhập vào thị trường Mỹ
Bất cập về chính sách tỷ giá đối với đồng đô la Mỹ
Trong giai đoạn trước khủng hoảng, các nước Đông Á neo giữ tỷ giá cố định
so với đồng USD Với Thái Lan việc thi hành chính sách tỷ giá hối đoái cố định sovới đồng USD đồng nghĩa với việc đánh giá quá cao giá trị của đồng Bạt nên đãlàm giảm sút năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Thái Lan Ngay từ đầu năm 1996,nhiều nghiên cứu cho thấy các đồng tiền Châu Á, trong đó đồng Bạt được neo giữvới đồng USD, trong khi giá trị của đồng USD so với đồng Yên Nhật và các đồngtiền khác tăng rất mạnh Tuy tỷ giá chính thức giữa đồng Bạt so với đồng USD cótăng lên, nhưng nếu theo học thuyết ngang sức mua thì đồng Bạt đã giảm giákhoảng 20% so với đồng USD, nhưng chỉ được điều chỉnh rất ít (khoảng 6%) Do
đó, việc đồng Bạt bị thả nổi là hiện tượng cần thiết để trả lại giá trị đích thực cho
nó, nếu không, việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu củaThái Lan sẽ gặp khó khăn vì giá hàng hóa đã tăng một cách tương đối so với giáhàng hóa ở nước ngoài Hơn nữa, khi các nhà đầu cơ dự đoán thấy đồng Bạt đượcđịnh giá quá cao họ sẽ đua nhau đi vay đồng Bạt ở ngân hàng, rồi đem số tiền đó
để đi mua USD và chờ đợi khi đồng Bạt bị phá giá thì họ sẽ thu lợi lớn Đây là yếu
tố “cộng hưởng” cho cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan Ngoài ra, cũng giốngnhư ở nhiều nước trên thế giới, nạn tham nhũng, hối lộ ở Thái Lan đã gây ra tìnhtrạng trì trệ kinh tế dẫn đến xuất khẩu giảm, thâm hụt cán cân thanh toán và do đódẫn đến phá giá tiền tệ Ngày 2/7/1997, cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á thảm