làm lành mạnh các quan hệ kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, góp phần tíchcực vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn đầu tư.Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, cùng với quá tr
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang 3DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
HĐQT: Hội Đồng Quản Trị
CP ĐTXD: cổ phần đầu tư xây dựng
KT: kế toán
TSCĐ: tài sản cố định
GTGT: giá trị gia tăng
BHXH: bảo hiểm xã hội
TKĐƯ: tài khoản đối ứng
NCTT: nhân công trực tiếp
QLDN: quản lí doanh nghiệp
HĐGK: hợp đồng giao khoán
ĐXL: đội xây lắp
BHYT: bảo hiểm y tế
KPCĐ: kinh phí công đoàn
GPMB: giải phóng mặt bằng CPSXKD: chi phí sản xuất kinh doanh DD: dở dang
NVLTT: nguyên vật liệu trực tiếp NCTT: nhân công trực tiếp
SXC: sản xuất chung MTC: máy thi công KC: kết chuyển
Trang 4Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất trang bị tài sản cốđịnh, năng lực sản xuất cho các ngành trong nền kinh tế quốc dân Hoạt độngxây dựng cơ bản mang tính chất đặc thù khác với ngành sản xuất khác cả vềphương thức tổ chức sản xuất, đặc điểm sản xuất và yêu cầu quản lý Trongnhững năm qua cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Nhànước, hoạt động xây dựng cơ bản không ngừng phát triển, khẳng định vị tríquan trọng trong nền kinh tế Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới,hoàn thiện hệ thống công cụ quản lý kinh tế trong đó có kế toán - một cụng cụquản lý kinh tế quan trọng
Với đặc điểm nổi bật của các ngành xây lắp là có vốn đầu tư lớn, thờigian thi công gồm nhiều khâu nên vấn đề đặt ra là phải quản lý vốn đầu tư tốt,
có hiệu quả đồng thời khắc phục được tình trạng thất thoát, lãng phí vốn trongquá trình sản xuất, giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm, tăng cạnh tranh chodoanh nghiệp
Để giải quyết được vấn đề trên mỗi doanh nghiệp nói chung và doanhnghiệp xây lắp nói riêng cần có những thông tin phục vụ cho quản lý sản xuấtkinh doanh đặc biệt là các thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Do vậy, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là mộttrong những công cụ hết sức hữu hiệu và đắc lực Chi phí sản xuất được tập hợpmột cách chính xác kết hợp với việc tính đúng tính đủ giá thành sản phẩm sẽ
Trang 5làm lành mạnh các quan hệ kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, góp phần tíchcực vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn đầu tư.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, cùng với quá trình họctập tại trường và qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựngHoàng Minh được sự giúp đỡ của các anh chị trong phòng kế toán Công ty, em
đã đi sâu nghiên cứu đề tài: " Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm trong Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hoàng Minh"
Kết cấu chuyên đề ngoài phần mở đầu và phần kết luận gồm 3 phần
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí và tính giáthành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
Chương 2: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thànhsản phẩm trong Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hoàng Minh
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng HoàngMinh
Do kiến thức còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên bài viếtcủa em còn nhiều thiếu xót Em mong được sự giúp đỡ và chỉ bảo của thầy cô vàcác bạn
Em xin trân thành cảm ơn!
Trang 6CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 Đặc điểm kinh doanh xây lắp có ảnh hưởng đến công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra
cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân So với các ngành sản xuất khác, kinhdoanh xây lắp có những đặc điểm kỹ thuật đặc trưng được thể hiện ở sản phẩm
và phương pháp tổ chức sản xuất
1.1.1 Sản phẩm xây lắp.
-Sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục công trình, vật kiến trúc cóquy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài Vì vậyviệc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải có dự toán, thiết kế thi công.Quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp phải so sánh với dự toán và lấy dự toán làmthước đo
-Sản phẩm xây lắp hoàn thành không thể nhập kho mà được tiêu thụ ngaytheo giá dự toán hoặc theo giá thoả thuận với chủ đầu tư từ trước Do đó tínhchất hàng hoá của sản phẩm xây lắp thể hiện không rõ
-Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, trong khi đó các điều kiện sảnxuất (xe máy, phương tiện, thiết bị, thi công…) phải di chuyển theo địa điểm đặtsản phẩm nên gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý chi phí và tính giá thànhsản phẩm
-Sản phẩm xây lắp được sản xuất ngoài trời nên phụ thuộc rất nhiều vàođiều kiện tự nhiên (mưa, gió, nắng…) Điều kiện tự nhiên thuận lợi hay khôngthuận lợi có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cũng như giá thành sản xuất thực
tế của công trình
Trang 7-Sản phẩm xây lắp được sử dụng trong thời gian dài nên đảm bảo thi côngđúng theo chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật như trong dự toán thiết kế, tạo điềukiện thuận lợi cho việc bàn giao công trình, ghi nhận doanh thu và thu hồi vốn.
1.1.2 Tổ chức sản xuất sản phẩm xây lắp.
-Sản xuất sản phẩm xây lắp diễn ra trong điều kiện ngoài trời nên gặp nhiềurủi ro gây nên những thiệt hại lớn bất ngờ (như thiệt hại về ngừng thi công haykéo dài thời gian thi công của công trình) Những thiệt hại này cần được theo dõimột cách chặt chẽ và có phương pháp hạch toán phù hợp căn cứ vào nguyênnhân gây ra
-Sản xuất xây lắp diễn ra trong thời gian dài do vậy phải tổ chức sản xuấthợp lý nhằm đẩy mạnh tiến độ thi công là điều kiện quan trọng để tránh nhữngrủi ro, tổn thất và ứ đọng vốn trong kinh doanh
-Hoạt động xây lắp thường diễn ra trong điều kiện thiếu tính ổn định, luônbiến đổi theo địa điểm và giai đoạn thi công Do vậy doanh nghiệp phải lựa chọnphương án thi công thích hợp
-Quá trình sản xuất diễn ra trong phạm vi hẹp nhưng với số lượng nhâncông và vật liệu lớn đòi hỏi công tác tổ chức xây lắp phải diễn ra với sự phốihợp đồng bộ chặt chẽ giữa các giai đoạn và các bộ phận công việc
-Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay chủ yếutheo phương thức khoán gọn các công trình, hạng mục công trình, khối lượngcông việc cho các đơn vị trong nội bộ các doanh nghiệp Trong giá khoán gọnkhông chỉ có tiền lương mà còn đầy đủ chi phí về vật liệu, công cụ dụng cụ thicông, chi phí chung của bộ phận nhận khoán
1.1.3 Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp xây lắp.
-Xuất phát từ quy định về lập dự toán công trình xây dựng cơ bản là phảilập theo khoản mục chi phí, kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩmtrong các doanh nghiệp xây lắp có những đặc điểm sau:
-Kế toán chi phí sản xuất nhất thiết phải được phân tách theo từng khoản
Trang 8tra việc thực hiện dự toán chi phí Qua đó xem xét nguyên nhân vượt kế hoạch,hụt dự toán và đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
-Đối tượng hạch toán chi phí có thể là toàn bộ công trình, các đơn đặt hàng,các giai đoạn kỹ thuật quy ước… Vì thế phải lập dự toán chi phí và tính giáthành sản phẩm theo từng hạng mục hay giai đoạn của công trình
-Giá thành lắp đặt công trình không bao gồm giá trị vật tư thiết bị do chủđầu tư chuyển đến mà chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp xây lắp bỏ ra
có liên quan đến công trình xây lắp đó
-Giá thành công tác xây dựng và lắp đặt kết cấu gồm: giá trị vật kiến trúc vàcác giá trị thiết bị kèm theo như các thiết bị vệ sinh, thông gió, thiết bị sưởi ấm,điều hoà nhiệt độ…
1.2 Chi phí và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.
1.2.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất.
1.2.1.1 Chi phí sản xuất.
-Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiềncủa toàn bộ lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác màdoanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất xây lắp trong một thời kỳnhất định
-Tuy nhiên khi tiến hành xây dựng không phải tất cả các chi phí đều liênquan đến hoạt động sản xuất sản phẩm xây lắp mà còn có các khoản chi phíkhác ngoài sản xuất như chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí trả cho các khoảnphạt về vi phạm hợp đồng, hao hụt vật tư ngoài định mức… Vì thế chúng ta cầnphân biệt được sự khác nhau giữa chi phí và chi tiêu
- Chi phí sản xuất và những khoản chi phí để tiến hành hoạt động sản xuất.Ngược lại chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, hàng hoá, tài sản, tiềnvốn của doanh nghiệp bất kể nó được dùng vào mục đích gì? Chi phí và chi tiêu
là hai khái niệm khác nhau Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chitiêu thì không có chi phí Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp gồm toàn
bộ giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh tính
Trang 9vào kỳ này Chi phí và chi tiêu không chỉ khác nhau về lượng mà còn khác nhau
về thời gian, có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế lại chưa chitiêu (chi phí trích trước) và có những khoản chi tiêu kỳ này lại không được tínhvào chi phí (chi mua vật liệu nhập kho nhưng chưa sử dụng) Sở dĩ có sự khácnhau giữa chi tiêu và chi phí trong doanh nghiệp là do tính chất vận động,phương thức chuyển dịch giá trị từng loại tài sản vào quá trình sản xuất kinhdoanh và kỹ thuật hạch toán chung
-Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp phát sinh thường xuyên, liêntục trong suốt quá trình hoạt động Vì vậy để phục vụ cho công tác quản lý mộtcách có hiệu quả, chi phí sản xuất phải tập hợp theo từng thời kỳ (tháng, quý,năm) phù hợp với kỳ báo cáo, thời gian xây dựng và đưa vào sử dụng Hạchtoán chi phí đúng, hợp lý, hợp lệ để đảm bảo tính đúng giá thành sản phẩm Giábán sản phẩm xây dựng là giá thoả thuận trước với nhà đầu tư nên phải đảm bảohạch toán chi phí chính xác mới đảm bảo có lãi
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất.
-Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp bao gồm nhiều loại với nộidung kinh tế khác nhau Việc hạch toán chi phí theo từng tiêu thức sẽ nâng caotính chi tiêu của thông tin, là cơ sở cho việc phấn đấu giảm chi phí, nâng caohiệu quả sử dụng vốn và tăng cường hạch toán kinh tế trong các đơn vị xây lắp.-Với lý do trên để phục vụ công tác quản lý chi phí sản xuất có thể tiếnhành phân loại theo những tiêu thức sau:
a/ Phân loại theo yếu tố chi phí.
Theo cách phân loại này các chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế thìđược tập trung vào một yếu tố, không kế chi phí phát sinh ở đâu, dùng vào mụcđích gì Trong doanh nghiệp xây lắp gồm những yếu tố chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: xi măng, sắt, thép, gạch, vôi, đá, cát, sỏi…
- Chi phí công cụ dụng cụ: cốp pha, máy dầm, máy bơm, cuốc, xẻng…
- Chi phí nhân công: là toàn bộ tiền lương và các khoản phải trả cho người
Trang 10- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản
cố định sử dụng cho sản xuất của doanh nghiệp
- Chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác đánh giá tìnhhình thực hiện dự toán chi phí sản xuất là cơ sở lập kế hoạch cung ứng vật tư, kếhoạch quỹ lương, kế hoạch vốn giúp cho việc thực hiện công tác kế toán cũngnhư công tác quản lý chi phí sản xuất trở nên thuận lợi hơn
b/ Phân loại theo mối quan hệ của chi phí và quy trình sản xuất.
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí có liên quan trực tiếp tới quá trình sảnxuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định bao gồm: nguyên vật liệuxây dựng, tiền lương công nhân sản xuất, khấu hao máy móc thiết bị thi công.Chi phí này thường xuyên chiếm một tỷ lệ cao trong tổng chi phí của doanhnghiệp
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến quá trình sản xuất ranhiều loại sản phẩm, nhiều công việc, thường phát sinh ở bộ phận quản lý Vậy
kế toán phải phân bổ cho nhiều đối tượng liên quan theo một tiêu thức thích hợp.Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định phươngpháp tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách chính xác hợp lý
c/ Phân loại theo khoản mục chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích của chi phí trong sản xuất đểchia ra các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm toàn bộ các hao phí về nguyên,vật liệu, thiết bị mà đơn vị xây lắp bỏ ra để tạo nên thực thể công trình như: vậtliệu chính, vật liệu phụ, thiết bị lắp đặt, các khối kiện bê tông…
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản phải trả cho người laođộng trực tiếp sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ thuộc danh sách quản lý củadoanh nghiệp và cho lao động thuê ngoài theo từng loại công việc như: tiềnlương, tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương (bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn)
Trang 11- Chi phí sử dụng máy thi công: gồm toàn bộ các khoản chi phí mà đơn vịxây lắp bỏ ra liên quan trực tiếp đến việc sử dụngmáy thi công phục vụ cho xâydựng, lắp đặt công trình, hạng mục công trình.
- Chi phí sản xuất chung là chi phí phục vụ và quản lý sản xuất phát sinhtrong phạm vi phân xưởng và tổ đội sản xuất Chi phí sản xuất chung bao gồm:chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu và dụng cụ sản xuất dùng ở phânxưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng ở phân xưởng, chi phí khấu haomua ngoài và các chi phí bằng tiền khác
Trong hoạt động xây lắp khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ còn tính trên
cả lương của công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công vànhân viên quản lý đội (thuộc danh sách lao động trong doanh nghiệp), khấu haotài sản cố định dùng cho phân xưởng bộ phận sản xuất; chi phí đi vay nếu đượcvốn hoá tính vào giá trị tài sản đang trong quá trình sản xuất dở dang, chi phísửa chữa và bảo hành công trình xây lắp và những chi phí khác liên quan tớihoạt động của phân xưởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất
Cách phân loại chi phí theo khoản mục giúp cho việc quản lý chi phí theođịnh mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành, lập kế hoạch giá thànhđịnh mức chi phí cho kỳ sau
d/ Ngoài ra dựa theo tính chất của chi phí thì chi phí sản xuất còn được chia làm chi phí bất biến và chi phí khả biến.
- Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận vớibiến động về mức độ hoạt động Nó biến đổi theo căn cứ được xem là nguyênnhân phát sinh ra chi phí đó
Biến phí khi tính cho một đơn vị sản phẩm thì ổn định, không thay đổi.Biến phí khi không có hoạt động thì bằng không Tổng các biến phí thay đổi khisản lượng sản phẩm thay đổi
- Chi phí bất biến (định phí): là những chi phí không thay đổi khối lượnghoạt động thay đổi Định phí giữ nguyên trong phạm vi phù hợp của doanh
Trang 12+ Tổng định phí giữ nguyên khi khối lượng sản phẩm thay đổi trong phạm
vi phù hợp
+ Định phí tính trên một đơn vị sản phẩm thay đổi khi sản lượng thay đổi,trong các yếu tố của chi phí sản phẩm thì chỉ có một số yếu tố như chi phí sảnxuất chung được xét vào định phí như: chi phí thuê nhà xưởng, chi phí khấu haonhà xưởng của doanh nghiệp, chi phí khấu hao máy móc, thiết bị sử dụng trongphân xưởng theo phương pháp khấu hao đường thẳng, thuế nhà đất của phânxưởng, chi phí bảo hiểm chống trộm, chống cháy của phân xưởng
Tóm lại mỗi cách phân loại có một ý nghĩa riêng phục vụ cho từng yêu cầuquản lý, từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể nhưng chúng luôn bổ sungthông tin cho nhau nhằm quản lý có hiệu quả nhất các chi phí thực tế phát sinh
1.2.1.3 Đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
-Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là việc xác định phạm
vi giới hạn của chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịuchi phí nhằm phục vụ cho việc kiểm tra, phân tích và tính giá thành sản phẩm.-Việc lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp có
sự khác nhau Điều đó phụ thuộc vào đặc điểm, tình hình tổ chức kinh doanh,yêu cầu và trình độ quản lý cũng như qui trình sản xuất sản phẩm của doanhnghiệp Mặt khác, sản phẩm xây lắp có quy trình công nghệ phức tạp, sản phẩmđơn chiếc, thời gian thi công dài nên tuỳ thuộc vào công việc cụ thể và trình độquản lý của doanh nghiệp mà có đối tượng hạch toán chi phí khác nhau Đốitượng tập hợp chi phí có thể là công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hànghay từng giai đoạn công việc cụ thể…
-Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần thiếtcủa công tác tập hợp chi phí sản xuất Có xác định đúng đối tượng hạch toán, tậphợp chính xác các khoản chi phí phát sinh phù hợp với đặc điểm tổ chức tốtcông tác chi phí Xác định đúng đối tượng có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăngcường quản lý sản xuất, cho hạch toán kinh tế trong doanh nghiệp và tính toángiá thành kịp thời, chính xác
Trang 131.2.1.4 Phương pháp kế toán chi phí sản xuất xây lắp.
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất xây lắp là một hệ thống các phươngpháp được sử dụng để tập hợp và phân bổ loại chi phí phát sinh trong phạm vigiới hạn của đối tượng kế toán chi phí Với mỗi đối tượng cụ thể kế toán sẽ xácđịnh phương pháp hạch toán thích hợp Trong doanh nghiệp xây lắp có nhữngphương pháp hạch toán chi phí sau:
a/ Phương pháp hạch toán chi phí theo công trình, hạng mục công trình.
áp dụng khi đối tượng hạch toán chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ côngtrình hay hạng mục công trình Chi phí phát sinh trong kỳ liên quan đến hạngmục công trình nào hay nhóm công trình nào thù tập hợp cho công trình đó theophương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp
- Phương pháp trực tiếp: áp dụng đối với các chi phí sản xuất có quan hệtrực tiếp đến đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt Kế toán tổ chức ghi chép banđầu theo đúng đối tượng, từ đó tập hợp số liệu
- Phương pháp phân bổ gián tiếp: sử dụng các tiêu thức phân bổ cho phùhợp với từng loại chi phí
+ Xác định hệ số phân bổ (H):
n
T
C T
C H
Σ
=
=Với: C: là tổng chi phí đã tập hợp cần phân bổ
Tn: là tổng tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng nT: là tổng tiêu chuẩn cần phân bổ
+ Từ đó xác định được chi phí sản xuất phân bổ cho từng đối tượng liênquan
Cn = Tn x HVới: Cn: là chi phí đã phân bổ của đối tượng n
b/ Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng.
Trong kỳ, chi phí phát sinh sẽ được tập hợp và phân loại theo đơn đặt hàngriêng biệt Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng chi phí được tập hợp theo đơn
Trang 14đặt hàng sẽ là giá thành thực tế của đơn đặt hàng.
c/ Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn vị thi công (công trường, đội thi công).
-Các chi phí được tập hợp theo từng đơn vị thi công Trong từng đơn vị thicông lại được tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí như công trình, hạngmục công trình… Cuối kỳ kế toán tổng hợp chi phí phát sinh ở từng công trình,hạng mục công trình đó bằng phương pháp gián tiếp, phương pháp tổng cộng chiphí…
-Với các phương pháp này kế toán phải căn cứ vào đối tượng tập hợp chiphí sản xuất, điều kiện bảo quản, sử dụng vật tư, lao động, trình độ quản lý vàhạch toán của đơn vị để lựa chọn phương pháp hạch toán chi phí thích hợp nhất,đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp Tuy nhiên, có một số yếu tố chi phí phátsinh liên quan đến nhiều đối tượng, kế toán không chỉ quan têm đến việc tập hợpchi phí liên quan đến một đối tượng mà còn phải phân bổ các khoản chi phí mộtcách chính xác và hợp lý theo một trong hai phương pháp: phân bổ trực tiếphoặc gián tiếp
-Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp bao gồm rất nhiều loại khácnhau, phương pháp hạch toán và tính nhập chi phí vào giá thành cũng khácnhau Khi phát sinh chi phí, trước hết chi phí được biểu hiện theo yếu tố chi phímới biểu hiện thành khoản mục giá thành Vì thế khi tập hợp chi phí và tính giáthành phải được tiến hành theo một trình tự hợp lý và khoa học như sau:
Bước 1: Tập hợp các khoản chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từngcông trình, hạng mục công trình
Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của ngành sản xuất kinh doanh phụ cóliên quan trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình trên cơ sở khốilượng lao vụ phục vụ
Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình cóliên quan theo tiêu thức phù hợp
Bước 4: Tính giá thành sản phẩm hoàn thành
Trang 151.2.2 Giá thành sản phẩm xây lắp.
1.2.2.1 Giá thành sản phẩm xây lắp.
-Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất gồm hai mặt: hao phí sảnxuất và kết quả sản xuất Chi phí sản xuất thể hiện sự hao phí Để đánh giá xemchất lượng kinh doanh của các đơn vị kinh tế, chi phí phải được xem xét trongmối quan hệ chặt chẽ với kết quả sản xuất, đó cũng là vấn đề cơ bản của quátrình sản xuất Quan hệ này đã làm nảy sinh khái niệm giá thành sản phẩm.-Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của tổng số các hao phílao động sống và lao động vật hoá chi ra để tiến hành sản xuất ra một đơn vịkhối lượng sản phẩm xây lắp nhất định Trong đó sản phẩm xây lắp có thể là kếtcấu công việc, giai đoạn công việc có thiết kế và có dự toán, có thể là công trình,hạng mục công trình hoàn thành
-Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếphoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, những chi phí này phải được bồi hoànphục vụ cho việc tái sản xuất của doanh nghiệp Chi phí sản xuất được đưa vàogiá thành sản phẩm phải phản ánh giá trị thực của các tư liệu sử dụng cho sảnxuất và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí laođộng sống
-Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế, chất lượng tổng hợp quan trọng nhất baoquát mọi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp Việc
áp dụng qui trình mới hiện đại hoàn thiện kỹ thuật thi công, sử dụng tiết kiệmnguyên vật liệu, sử dụng hợp lý số nhân công hiện có… đều nhằm mục tiêu hạgiá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Vì khi nhận thầumột công trình thì giá bán(giá nhận thầu)đã được xác định trước khi thi công haygiá bán có trước giá thành thực tế, do đó giá thành thực tế quyết định tính lỗ, lãicủa doanh nghiệp
1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp.
Xuất phât từ đặc điểm của ngành xây lắp là sản phẩm sản xuất ra(công
Trang 16nên các chỉ tiêu giá thành khác nhau Hiện nay giá thành sản phẩm xây lắp đượcphân loại theo các cách sau:
a/ Căn cứ vào thời điểm và nguồn số liệu tính giá thành thì giá thành sản phẩm xây lắp gồm 3 loại:
*/ Giá dự toán: là tổng số chi phí dự toán để hình thành khối lượng côngtrình xây lắp, được xác định theo định mức và theo khung giá quy định áp dụngtheo từng vùng lãnh thổ, từng địa phương do cấp có thẩm quyền ban hành
Trong đó:
+ Giá dự toán của công trình là chỉ tiêu dùng làm căn cứ cho các doanhnghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất của đơn vị Đồng thời cũng làm căn cứ đểcác cơ quan quản lý nhà nước giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp xây lắp Đây là chi phí cho công tác xây dựng, lắp ráp cấu kiện,lắp ráp các máy móc thiết bị Nó gồm các chi phí trực tiếp, chi phí chung và lợinhuận định mức
+ Lợi nhuận định mức là chỉ tiêu Nhà nước qui định để tích luỹ cho xã hội
do ngành xây dựng cơ bản tạo ra
*/ Giá thành kế hoạch: là chỉ tiêu được xác định dựa trên giá thành dự toángắn với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Giá thành kế hoạch sản phẩm xây lắpđược lập dựa vào chi phí nội bộ của doanh nghiệp xây lắp, về nguyên tắc địnhmức nội bộ phải tiên tiến hơn (thấp hơn) định mức dự toán:
Với doanh nghiệp không có giá thành dự toán thì giá thành kế hoạch đượcxác định dựa trên cơ sở giá thành thực tế năm trước và các định mức kỹ thuậtcủa doanh nghiệp Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp,
là cơ sở đánh giá tình hình thực hiện giá thành và hạ giá thành của doanhnghiệp Mức hạ giá thành dự toán dựa trên điều kiện doanh nghiệp có thể khai
Trang 17thác được nguồn nguyên vật liệu rẻ, chất lượng tốt, chi phí vận chuyển thấp.
*/ Giá thành thực tế là chỉ tiêu giá thành được xác định theo hao phí thực tếliên quan đến khối lượng xây lắp hình thành gồm chi phí định mức, chi phí vượtđịnh mức và các chi phí khác
Về nguyên tắc mối quan hệ giữa ba loại giá thành trên phải đảm bảo như sau:
Việc so sánh giữa giá thành thực tế so với giá thành dự toán cho phép tađánh giá trình độ quản lý của doanh nghiệp trong mỗi quan hệ với các doanhnghiệp xây lắp khác Việc so sánh giữa giá thành thực tế so với giá thành kếhoạch cho phép ta đánh giá sự tiến bộ hay còn non yếu của doanh nghiệp xây lắptrong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất, trình độ tổ chức quản lý của bản thândoanh nghiệp
b/ Căn cứ vào phạm vi tính giá thành thì giá thành được chia ra làm hai loại:
*/ Giá thành hoàn chỉnh : gồm tất cả các chi phí liên quan đến công trình,hạng mục công trình dược bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận Chỉ tiêu nàycho phép ta đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu quả sản xuất thi côngtrọn vẹn một công trình, hạng mục công trình, nhưng lại không đáp ứng kịp thờicác số liệu cần thiết cho việc quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩmtrong suốt quá trình thi công công trình
Ngoài ra trong xây dựng cơ bản còn sử dụng hai chỉ tiêu giá thành (thựcchất là giá bán) sau:
- Giá đấu thầu xây lắp: là giá do chủ đầu tư đưa ra để các doanh nghiệpcăn cứ vào đó tính giá thành sản phẩm của mình (còn gọi là giá dự thầu côngtác xây lắp)
- Giá đấu thầu xây lắp: là loại già thành dự toán xây lắp ghi trong hợp đồngđược ký kết giữa chủ đầu tư và và đơn vị xây lắp sau khi thoả thuận giao nhậnthầu Về nguyên tắc giá thành hợp đồng chỉ được nhỏ hơn hoặc bằng giá đấuthầu công tác xây lắp
Trang 18Việc áp dụng các loại các loại giá thành sản phẩm xây lắp trên là yếu tốquan trọng của việc hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế trong xây dựng tạo sựmềm dẻo trong quan hệ giữa chủ đầu tư và đơn vị xây lắp thông qua quan hệtiền hàng.
-Qua phần lý luận trên ta có thể thấy giưa chi phí sản xuất xây lắp và giáthành sản xuất xây lắp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất
để tạo ra sản phẩm Chi phí biểu hiện mặt hao phí, còn giá thành biểu hiện mặtkết quả của quá trình sản xuất Vậy bản chất của giá thành sản phẩm là sựchuyển dịch của những yếu tố chi phí vào sản phẩm, công việc nhất định nào đóhoàn thành Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt thống nhất củamột quá trình
CPSX dở dang cuối kỳ
-Qua đó ta thấy chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự giống vàkhác nhau Chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm, nhưng không phải tất
cả những chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều được tính vào giá thành sảnphẩm Chi phí sản xuất luôn gắn liền với thời kỳ phát sinh chi phí, còn giá thànhsản phẩm lại gắn liền với một khối lượng công việc, sản phẩm lao vụ, dịch vụhoàn thành
-Giá thành không bao gồm những khoản chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ,những khoản chi ra nhưng chờ phân bổ ở kỳ sau Nhưng nó lại bao gồm chi phísản xuất dở dang ở kỳ trước chuyển sang, những chi phí trích trước nhưng thực
tế chưa phát sinh và những chi phí kỳ trước chuyển sang phân bổ cho kỳ này
-Như vậy chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiếtvới nhau mặc dù có những mặt khác nhau Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí đều
có tác động trực tiếp đến việc giảm hoặc tăng giá thành sản phẩm quản lý giáthành sản phẩm bao giờ cũng gắn liền với quản lý chi phí sản xuất Các biệnpháp mà doanh nghiệp áp dụng để tiết kiệm chi phí sản xuất cũng chính là mục
Trang 19tiêu hạ giá thành sản phẩm.
1.2.2.3 Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp.
a/ Đối tượng và kỳ tính giá thành.
-Đối tượng tính giá thành: Việc xác định đối tượng tính giá thành cũng
phải căn cứ vào đặc điểm cơ cấu tổ chức sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệsản phẩm, yêu cầu hạch toán kinh tế và quản lý của doanh nghiệp Như vậy đốitượng tập hợp chi phí và tính giá thành giống nhau ở bản chất chung Chúng đều
là phạm vi giới hạn đế tập hợp chi phí theo đó và cùng phục vụ công tác quản lý,phân tích kiểm tra chi phí, giá thành Tuy nhiên chúng có những điểm khác nhauchủ yếu sau: xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định phạm vi phát sinhchi phí, còn xác định đối tượng tính giá thành là xác định những khoản chi phí
có liên quan đến kết quả của quá trình sản xuất Một đối tượng tập hợp chi phí
có thể có nhiều đối tượng tính giá thành
-Kỳ tính giá thành: Là mốc thời gian bộ phận kế toán giá thành, tổng hợp
số liệu để tính giá thành thực tế cho các đối tượng tính giá thành Kỳ tính giáthành trong xây dựng cơ bản phụ thuộc vào đặc điểm của tổ chức sản xuất, chu
kỳ sản xuất và hình thức nghiệm thu bàn giao khối lượng công trình hoàn thành
+ Với những công trình nhỏ, thời gian thi công ngắn (nhỏ hơn 12 tháng)
kỳ tính giá thành là từ khi khởi công đến khi công trình hoàn thành
+ Đối với những công trình lớn, thời gian thi công dài (trên 12 tháng), khinào có một bộ phận, hạng mục hoàn thành có giá trị sử dụng và được nghiệmthu kế toán tiến hành tính giá thành bộ phận, hạng mục đó
Trang 20những bộ phận nhỏ không thể tách ra đưa vào sử dụng được, khi từng phần xâylắp đạt điểm dừng kỹ thuật hợp lý theo thiết kế, kế toán sẽ tính giá thành chokhối lượng công trình hoàn thành, bàn giao Kỳ tính giá thành lúc này là kể từkhi bắt đầu thi công đến khi đạt điểm dừng kỹ thuật.
b/ Phương pháp tính giá thành.
Tuỳ theo đặc điểm tập hợp chi phí, quy trình công nghệ sản xuất và đốitượng tính giá thành đã xác định mà lựa chọn phương pháp túnh giá thành chophù hợp
*/ Phương pháp tính giá thành trực tiếp.
-Phương pháp này áp dụng đối với doanh nghiệp có đối tượng tập hợp chiphí sản xuất, kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo Khi đó giá thành sảnphẩm được tính theo công thức:
+
CPSX phát sinh trong kỳ
-CPSX kinh doanh dở dang cuối kỳ
-Trong trường hợp chi phí sản xuất tập hợp theo cả công trình nhưng giáthành thực tế phải tính riêng cho từng hạng mục công trình, kế toán có thể căn
cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm và hệ số kỹ thuật qui định cho từng hạngmục công trình để tính giá thành thực tế của công trình đó
x
Tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế
Trang 21Khi đó giá thành sản phẩm được tính theo công thức:
Z = D đầu kỳ + C 1 + C 2 + … + C n – D cuối kỳ
Trong đó: C1, C2, C3…Cn là chi phí ở từng đội sản xuất hay từng hạngmục công trình
*/ Phương pháp tính giá thành theo định mức.
-Mục đích của phương pháp này là kịp thời vạch ra các chiphí sản xuấtthoát ly ngoài định mức nhằm tăng cường công tác phân tích, kiểm tra các sốliệu kế toán và đơn giản hoá các thủ tục tính toán Nội dung của phương phápnày cụ thể như sau:
- Căn cứ vào định mức hiện hành kết hợp với dự toán chi phí được duyệt,
kế toán tiến hành tính giá thành theo định mức
- So sánh chi phí thực tế phát sinh với định mức để xác định số chênhlệch, kịp thời tìm ra các biện pháp khắc phục nhằm hạ giá thành sản phẩm
- Trên cơ sở tính giá thành định mức, số chênh lệch do thay đổi định mức,
kế toán tiến hành xác định số thực tế của sản phẩm xây lắp theo công thức sau:
Giá thánh thực tế
Giá thành định mức sản phẩm
+
Chênh lệch
do thay đổi định mức
+
Chênh lệch
so với định mức
Phương pháp này rất phù hợp với đặc điểm của ngành xây lắp Tuy nhiên
để phương pháp này thật sự phát huy hết tác dụng, kế toán cần tổ chức xây dựng
hệ thống định mức tương đối chính xác và cụ thể, công tác hạch toán ban đầuphải chính xác và chặt chẽ
*/ Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng.
áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp ký kết với bên giao thầu hợpđồng thi công gồm nhiều công việc khác nhau mà không cần hạch toán riêngtừng công việc Toàn bộ chi phí thực tế tập hợp cho đơn đặt hàng từ lúc khởicông đến khi hoàn thành chính là giá đơn đặt hàng đó
Z = D i x H
Trang 22Trong đó: H là tỷ lệ phân bổ H = C /∑Di
C là tổng chi phí tập hợp cho từng đơn vị phải tính giá thành
Di là giá dự toán của hạng mục công trình i
Đặc trưng của kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm theo đơndặt hàng là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phísản xuất chung được tính cộng dồn hoặc tính luỹ kế theo công việc
Quy trình sản xuất theo đơn đặt hàng được tiến hành theo trình tự sau:
Sơ đồ 1.1:Quy trình sản xuất theo đơn đặt hàng
1.2.3 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất, và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
Cũng như các ngành sản xuất vật chất khá, hoạt động của doanh nghiệpxây lắp cũng bao gồm sự hao phí vật chất và lao động để tạo ra những sản phẩm
có giá trị sử dụng phục vụ mục đích của con người Và bất kỳ một doanh nghiệpkinh doanh xây lắp nào cũng mong muốn với khoản chi phí bỏ ra ít nhất họ cóthể sản xuất ra một khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chất liượng cao nhất Vì
Đơn đặt hàng
Quyết định sản cuất Lệnh sản xuất
lao động
Mức phân bổ chi phí sản xuất chung
Phiếu tính giá thành theo đơn đặt hàng
Trang 23thế, các nhà quản trị doanh nghiệp cấn thấy được những khoản chi phí mà họ đã
bỏ ra được sử dụng như thế nào? Giá thành sản phẩm mà họ sản xuất ra có xuấtphát từ những chi phí thực tế bỏ ra hay không? Để đáp ứng yêu cầu này, việccung cấp thông tin cho nhà quản trị là nhiệm vụ của kế toán nói chung và kếtoán chi phí sản xuất tính giá thành nói riêng Tập hợp chi phí một các chínhxác, phân bổ chi phí một cách khoa học, tính đúng, tính đủ giá thành sẽ làm lànhmạnh hoá các mối quan hệ tài chính, phản ánh chính xác tình hình sản xuất kinhdoanh, là cơ sở để các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định tối ưu
Để thực hiện mục tiêu trên nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm cần hoàn thành tốt các nhiệm vụ sau:
- xác định đúng đối tượng hạch toán chi phí, lựa chọn pương pháp tập hợp
và phân bổ chi phí một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệpxây lắp
- Tổ chức hạch toán chi phí một cách trung thực kịp thời, kịp thời thôngqua hệ thống chứng từ gốc và chứng từ kế toán chi phí sản xuất
- Xác định chính xác đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành và loạigiá thành cần tính Từ đó liựa chọn phương pháp tính giá thành một cách phùhợp
- Xác định một cách chính xác các khoản làm giảm chi phí sản xuất tínhgiá thành và lập thẻ tính giá thành, so sánh giá thành thực tế với giá thành kếhoạch và giá thành dự toán, từ đó rút ra các ý kiến đóng góp cho nhà quản trị
1.3 Kế toán tổng hợp chi phí và tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp.
Trước đây trong doanh nghiệp xây lắp, để hạch toán hàng tồn kho trongdoanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp kê khai thường xuyên hoặc kiểm kêđịnh kỳ Hiện nay theo chế độ quy định hiện hành, hạch toán chi phí trong doanhnghiệp xây lắp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên tất cả các nghiệp vụkinh tế phát sinh đều được phản ánh kịp thời và đầy đủ trên tài khoản liên quan.Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyêncho phép
Trang 24vật tư, hàng hoá, thành phẩm…
1.3.1 Kế toán chi phí trong doanh nghiệp xây lắp.
1.3.1.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
a/ Tài khoản kế toán sử dụng.
Để theo dõi chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản621- “chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” Tài khoản này dùng phản ánh chi phínguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho việc xây dựng, lắp đặt các công trình,hạng mục công trình Tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng Cácthiết bị đưa vào lắp đặt do chủ đầu tư bàn giao không phản ánh ở tài khoản này
mà phản ánh ở tài khoản 002
Khi hạch toán TK621 cần tôn trọng một một số quy định sau:
- Chỉ hạch toán vào chi phí nguyên vật liệu(gồm cả nguyên liệu,vật liệuchính và vật liệu phụ) được sử dụng trực tiếp phục vụ cho công tác xây dựng,lắp đặt công trình, hạng mục công trình Chi phí nguyên liệu,vật liệu phải tínhtheo giá thực tế khi xuất sử dụng
- Trong kỳ kế toán thực hiện việc ghi chép, tập hợp chi phí nguyên liệu,vật liệu trực tiếp vào bên Nợ TK621- “chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” theotừng đối tượng sử dụng trực tiếp các nguyên liệu, vật liệu này(nếu khi xuấtnguyên liệu,vật liệu cho quá trình sản xuất xác định cụ thể rõ ràng cho từng đốitượng sử dụng): Hoặc tập hợp chung cho quá trình xây dựng lắp đặt công trình(nếu khi xuất dùng không thể xác định cụ thể rõ ràng cho từng đối tượng sửdụng)
- Cuối kỳ kế toán thực hiện kết chuyển(nếu nguyên liệu,vật liệu đã đượctập hợp riêng cho từng đối tượng sử dụng), hoặc tiến hành tính phân bổ và kếtchuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu(nếu không tập hợp riêng biệt cho từng đốitượng sử dụng) vào tài khoản 154 phục vụ cho việc tính giá thành công trình,hạng mục công trình hoàn thành trong kỳ kế toán Khi tiến hành phân bổ trị giánguyên liệu,vật liệu vào giá thành sản phẩm, doanh nghiệp phải sử dụng các tiêuthức phân bổ hợp lý như: tỷ lệ theo định mức…
Trang 25- Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phưong pháp khấutrừ, nếu mua nguyên liệu,vật liệu sử dụng cho sản xuất sản phẩm thuộc đốitượng chịu thuế giá trị gia tăng hoặc nếu mua nguyên liệu, vật liệu không quanhập kho đưa vào sử dụng ngay cho hoạt động xây dựng, lắp đặt thì trị giánguyên liệu, vật liệu sẽ không bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấutrừ, nếu mua nguyên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất sản phẩm không thuộcđối tượng chịu thuế giá trị gia tăng hoặc thuộc đối tượng chịu thuế giá trị giatăng và doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp thìtrị giá nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh sẽ bao gồm cả thuếgiá trị gia tăng của khối lượng nguyên liệu, vật liệu mua đưa vào sử dụngngay không qua kho
Phần chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường khôngđược tính vào giá thành sản phẩm, dịch vụ xây lắp mà phải kết chuyển ngay vàoTK632- “Giá vốn hàng bán”
b/ Phương pháp kế toán.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong chiphí sản xuất(khoảng 60 % - 80%) bao gồm toàn bộ vật liệu chính(Gạch,cát,ximăng ), vật liệu phụ(đinh, vít, gỗ…), các cấu kiện bê tông, các bộ phận rời lẻ
và các vật liệu khác dùng cho việc xây dựng lắp đặt công trình
Giá trị vật liệu nói trên bao gồm cả giá mua vật liệu, chi phí thu mua, vậnchuyển đến chân công trình, chi phí bảo quản Vật liệu sử dụng cho công trìnhnào thì tính cho công trình đó theo giá thực tế đã sử dụng Trường hợp khôngtính riêng được thì phải phân bổ cho từng công trình theo tiêu thức phù hợp
Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công trình hoàn thành tiến hành kiểm kê vậtliệu còn lại nơi sản xuất(nếu có) để ghi giảm trừ chi phí nguyên vật liệu đã tínhcho công trình
Trang 26Sơ đồ 1.2:
Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
1.3.1.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
a/ Tài khoản kế toán sử dụng
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp trong các doanh nghiệp xây lắp kếtoán sử dụng tài khoản 622 – “chi phí nhân công trực tiếp”.Tài khoản này dùngphản ánh các khoản thù lao lao động(gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấplương, lương phụ có tính chất ổn định, phải trả cho người lao động trực tiếp xâylắp các công trình, nhân công phục vụ máy thi công Chi phí nhân công trực tiếpkhông bao gồm tiền lương công nhân điều khiển và phục vụ máy thi công
Khi hạch toán TK622 cần tôn trọng một số quy định sau:
Không hạch toán vào tài khoản những khoản phải trả về tiền lương,tiềncông và các khoản phụ cấp… cho nhân viên quản lý, nhân viên của bộ máy quản
lý doanh nghiệp, nhân viên bán hàng
Trong hoạt động xây lắp không hạch toán vào tài khoản này khoản tiềnlương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương trả cho công nhântrực tiếp điều khiển xe, máy thi công, phục vụ máy thi công, khoản trích BHXH,BHYT, KPCĐ tính trên quỹ lương phải trả cho công nhân trực tiếp của hoạtđộng xây lắp, điều khiển máy thi công, nhân viên phân xưởng.TK622 phải mở
Trang 27chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh.
Phần chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường không đượctính vào giá thành sản phẩm xây lắp mà kết chuyển ngay vào TK632 – “Giá vốnhàng bán”
b/ Phương pháp kế toán.
Chi phí nhân công trực tiếp chủ yếu được tính vào giá thành theo Phươngpháp trực tiếp.Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp liên quan đến nhiều đốitượng hay nhiều công trình thì có thể phân bổ theo tiêu thức định mức tiền lươngmỗi công trình hay hệ số với tỷ lệ xây lắp hoàn thành
Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp được tiến hành trên cơ sở “hợpđồng giao khoán” và bảng “chấm Công” Trên các công trường sau đó chuyển
về phòng kế toán làm căn cứ tính lương vào các tài khoản liên quan
Trang 28a/ Tài khoản kế toán sử dụng.
Để tập hợp chi phí sử dụng máy thi công kế toán sử dụng TK623 – “Chiphí sử dụng máy thi công” Tài khoản này dùng tập hợp và phân bổ chi phí sửdụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình trongtrường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình theo phương thức thicông hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy
Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn thành theophương thức bằng máy thi công không sử dụng TK623- “Chi phí sử dụng máythi công”mà hạch toán trực tiếp vào tài khoản 621,622,627
Không hạch toán vào TK623 khoản trích về BHXH, BHYT, KPCĐ tríchtrên tiền lương công nhân sử dụng xe, máy thi công Phần Chi phí sử dụng máythi công vượt trên mức bình thường không tính vào giá thành công trình xây lắp
mà được kết chuyển ngay vào TK632 – “Giá vốn hàng bán”
Tài khoản 623 - “Chi phí sử dụng máy thi công”, có 6 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 6231- “Chi phí nhân công”
- Tài khoản 6232 - “Chi phí vật liệu”
- Tài khoản 6233 – “Chi phí dụng cụ sản xuất”
- Tài khoản 6234- “Chi phí khấu hao máy thi công”
- Tài khoản 6237 –“ Chi phí dịch vụ mua ngoài”
- Tài khoản 6238 – “Chi phí bằng tiền khác”
b/ Phương pháp kế toán.
*/ Trưòng hợp máy thi công thuê ngoài.
Trang 29Sơ đồ 1.5:
Sơ đồ hạch toán Chi phí sử dụng máy thi công
(Trường hợp không tổ chức đội xe, máy thi công riêng; hoặc có tổ chức đội xe,máy thi công riêng nhưng không có tổ chức đội máy thi công riêng cho đội)
TK133
Tổng giá thanh toán
Giá chưa thuế
Thuế VAT đầu vào
Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công
Nguyên vật liệu, công cụ, dụng
cụ sử dụng cho máy thi công
Khấu hao máy thi công
Chi phí dịch vụ mua ngoài
Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công
TK 133 Thuế GTGT
Trang 301.3.1.4 Kế toán chi phí sản xuất chung
a/ Tài khoản kế toán sử dụng
Để hạch toán chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng TK627 – “Chi phísản xuất chung” Tài khoản này dùng để phản ánh những chi phí phục vụ xây lắpphát sinh tại các tổ đội và các bộ phận sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Đối với hoạt động kinh doanh xây lắp, khoản trích bảo hiểm xã hội, bảohiểm ytế, kinh phí công đoàn còn tính trên cả lương của công nhân trực tiếpxây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội(thuộc danhsách trong Công ty); khấu hao tài sản cố định dùng cho phân xưởng sản xuất;chi phí đi vay nếu được vốn hoá tính vào giá trị tài sản dang trong quátrìnhsản xuât dở dang; chi phí khác liên quan tới hoạt động của phân xưởng,
bộ phận tổ đội sản xuất, …
Khi hạch toán TK627 cần tôn trọng một số quy định sau:
Tài khoản 627 dược mở chi tiết cho từng bộ phận, tổ đội sản xuất
Chi phí sản xuất chung phản ánh trên TK627 dược hạch toán chi tiết theohai loại: chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi.Trong đó:
- Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp,thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí bảo dưỡngmáy móc thiết bị, nhà xưởng và chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng,
bộ phận, tổ đội sản xuất …
- Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp,thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo khối lượng sản phẩm sảnxuất, như chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp
Cuối kỳ kế toán tiến hành tính toán, phân bổ, kết chuyển chi phí sản xuấtchung vào bên Nợ TK154 - “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
Trang 31Tài khoản 627 không có số dư cuối kỳ.
Tài khoản 627 – “Chi phí sản xuất chung” có 6 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 6271 – “Chi phí nhân viên phân xưởng”
- Tài khoản 6272 - “Chi phí vật liệu”
- Tài khoản 6273 – “Chi phí dụng cụ sản xuất”
- Tài khoản 6274 – “ Chi phí khấu hao tài sản cố định”
- Tài khoản 6277 – “Chi phí dịch vụ mua ngoài”
- Tài khoản 6278 – “Chi phí bằng tiền khác”
b/ Phương pháp kế toán.
Do chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng đội và liên quan đếnnhiều công trình nên cuối kỳ kế toán phải tiến hành phân bổ cho các đối tượngliên quan theo tiêu thức phù hợp, như tiền lương công nhân sản xuất, chi phínhân công trực tiếp…
Công thức phân bổ như sau:
Trình tự hạch toán chi phí sản xuất chung được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 32Sơ đồ 1.6:
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất chung.
1.3.2 Kế toán các khoản thiệt hại.
Các khoản thiệt hại luôn có trong mọi quy trình sản xuất Thiệt hại xảy ra
có thể do chủ quan của con người như tay nghề kém, ý thức kỷ luật chưa cao …Cũng có thể do nguyên nhân khác quan như máy móc thiết bị của doanh nghiệp
Xuất nlvl, ccdc laọi phân
Tiền lương nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lương
Tiền lương nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lương
Chi phí dịch vụ mua
ngoài
Số dự phòng phải trả về xây lắp
Khi sửa chữa, bảo dưỡng hoàn thành tính vào chi phí
trị giá phế liệu thu hồi Ccdc phân bổ
nhiều lần
TK142,242
TK133 Thuế giá trị gia tăng đầu vào
Trang 33quá cũ mà chưa được thay thế, do thiên tai…Có khi lại do cả hai nguyên nhânchủ quan và khách quan.
Cũng như các nghành sản xuất kinh doanh khác, trong hoạt động thi côngxây lắp có thể phát sinh các khoản thiệt hại trong quá trình thi công, xuất phát từthời điểm, thời gian thi công công trình tương đối dài và việc sản xuất thi côngthường diễn ra ngoài trời chịu tác động trực tiếp bởi điều kiện môi trường, thiênnhiên, thời tiết, sản xuất cũng phần nào mang tính chất thời vụ Các khoản thiệthại phát sinh có thể do ngừng sản xuất, hoặc do sai phạm kỹ thuật trong quátrình thi công phai phá đi làm lại
1.3.2.1 Thiệt hại do phá đi làm lại.
Trong quá trình thi công có thể có những khối lượng công trình hoặc phầnviệc phải phá đi làm lại để đảm bảo chất lượng công trình Nguyên nhân gây ra
có thể do thiên tai, hoả hoạn, do lỗi của bên giao thầu(bên A)như sửa đổi thiết
kế, hay thay đổi một bộ phận thiết kế của công trình, hoặc có thể do lỗi của bênthi công(bên B)gây ra do tổ chức sản xuất không phù hợp, chỉ đạo thi côngkhông chặt chẽ, sai phạm kỹ thuật của công nhân, hoặc do những sai phạm khác
Trang 34- Nếu do thiên tai gây ra được coi là koản thiệt hại bất thường.
- nếu do bên giao thầu gây ra thì bên giao thầu phải bồi thường thiệt hại,bên thi công coi như đã thực hiện xong khối lượng công trình và bàn giao tiêuthụ
- Nếu do bên thi công gây ra thì có thể tính vào giá thành hoặc có thể tínhvào khoản thiệt hại bất thường sau khi trừ đi phần giá trị bắt người phạm lỗi phảibồi thường thiệt hại và phần giá trị phế liệu thu hồi
Toàn bộ các khoản thiệt hại phá đi làm lại được tập hợp vào bên NợTK1381 sau đó tuỳ thuộc vào từng trường hợp xử lý để kế toán ghi sổ như sau:
Nợ TK 111,112,152 – Trị giá phế liệu thu hồi
Nợ TK 1388 - Chưa xác định được nguyên nhân
Nợ TK 111,112,152 - Trị giá phế liệu thu hồi
Nợ TK 131 - Giá chủ đầu tư đồng ý bồi thường
Có TK 1381
Nếu thiệt hại trong thời gian bảo hành thì toàn bộ chi phí thiệt hại đượchạch toán vào tài khoản 621, 622, 627(chi tiết theo từng công trình) Khi thờigian bảo hành kết thúc, toàn bộ chi phí bảo hành được tổng hợp vào TK1544.Sau đó kết chuyển như sau:
Nợ TK 6415 - Nếu chi phí phát sinh nhỏ
Nợ TK 142, 242 - Nếu chi phí phát sinh nhỏ
Nợ TK 335 - Nếu chi phí bảo hành phát sinh lớn
Có TK 1544
1.3.2.2 Thiệt hại do ngừng sản xuất.
Thiệt hại ngừng sản xuất là những khoản thiệt hại xảy ra do ngừng sản
Trang 35xuất trong một khoảng thời gian nhất định vì những nguyên nhân chủ quan haykhách quan nào đó Ngừng sản xuất có thể do thời tiết, thời vụ hoặc do tình hìnhcung cấp nguyên, vật liệu, nhiên liệu, máy móc thi công và các nguyên nhânkhác Các khoản thiệt hại phát sinh do ngừng sản xuất gồm: tiền lương phải trảtrong thời gian ngừng việc, giá trị nguyên, nhiên vật liệu, động lực phát sinhtrong thời gian ngừng sản xuất.
Trong trường hợp ngừng việc theo thời vụ hoặc ngừng việc theo kế hoạch,doanh nghiệp lập dự toán chi phí trong thời gian ngừng việc và tiến hành tríchtrước chi phí ngừng sản xuất vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh Khi kếtthúc niên độ kế toán hoặc khi công trình hoàn thành bàn giao kế toán xác định
số chênh lệch giữa số đã trích trước với chi phí thực tế phát sinh Nếu chi phítrích trước lớn hơn chi phí thực tế phát sinh thì phải lập bút toán hoàn nhập sốchênh lệch
- Khi trích trước, kế toán ghi:
Trang 36Có TK 335Đối với trường hợp thiệt hại đột xuất ngoài kế hoạch, kế toán cần theo dõiriêng trên tài khoản 1381 chi tiết ngừng sản xuất ngoài kế hoạch Trình tự hạchtoán như sau:
Sơ đồ 1.7:
Sơ đồ kế toán các khoản thiệt hại ngừng sản xuất ngoài kế hoạch.
1.3.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp bao gồm:những chi phí liên quan tới việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã dượctập hợp vào bên nợ của các tài khoản: 621, 622, 623, 627 Để tính được giáthành cho từng đối tượng kế toán thực hiện việc kết chuyển chi phí đối với cácchi phí đã tập hợp riêng theo từng đối tượng, kế toán phải tính, phân bổ các chiphí này theo tiêu thức thích hợp
Để có số liệu kết chuyển hoặc phân bổ chi phí cho từng đối tượng, kế toánphải tổng hợp các chi phí phát sinh trong kỳ được tính vào chi phí sản xuất kinhdoanh Trước khi kết chuyển hoặc phân bổ chi phí cho tưng đối tượng phải loại
ra các khoản làm giảm chi phí trong giá thành như: giá trị vật liệu sử dụngkhông hết ngày cuối tháng làm giảm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, giá trị vậtliệu, nhiên liệu, phụ tùng dụng cụ đã xuất dùng, ngày cuối tháng sử dụng khônghết làm giảm chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung, kế toán ghi:
Các khoản thu hồi về phế liệu, bồi thường
Thiệt hại về ngừng sản xuất
Trang 37Căn cứ vào đối tượng hạch toán đã được mở sổ, thẻ kế toán chi tiết chi phísản xuất thì chi phí sản xuất trong tháng liên quan đến đối tượng nào thì vào sổ,thẻ của đối tượng đó.
Đối với chi phí cần phân bổ phải tập hợp riêng và phân bổ cho từng đốitượng liên quan theo tiêu thức thích hợp
*/ Phân bổ chi phí sử dụng máy thi công.
Chi phí sử dụng máy thi công được phân bổ cho các đối tượng xây lắp theocác tiêu thức thích hợp, căn cứ vào số ca máy hoặc khối lượng phục vụ thực tế
Trường hợp các chi phí sử dụng máy được theo dõi riêng cho từng loạimáy Xác định chi phí phân bổ cho từng đối tượng như sau:
Tính phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho từng đối tượng theo số camáy tiêu chuẩn
Trang 38Tổng số ca máy chuẩn(đã được quy đổi)của các loại máy
*/ Phân bổ chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng đối tượngcông trườnghoặc đội thi công và tính phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình theophương pháp thích hợp Tiêu thức để phân bổ chi phí sản xuất chung thườngđược sử dụng có thể là phân bổ theo chi phí sản xuất chung định mức, phân bổtheo giờ công sản xuất kinh doanh định mức hoặc thực tế, phân bổ theo ca máythi công , phân bổ theo chi phí nhân công , phân bổ theo chi phí trực tiếp(chi phínguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp)
Cuối kỳ tiến hành tổng hợp toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh theo từngđối tượng và toàn bộ doanh nghiệp để tính giá thành sản phẩm hoàn thành
Giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm toàn bộ các khoản chi phí nguyên vậtliệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sảnxuất chung phát sinh trong kỳ liên quan liên quan tới giá thành công trình
Để tính giá thành sản phẩm xây lắp , các chi phí được kết chuyển hoặcphân bổ vào bên Nợ TK 154 – “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
Tài khoản 154 có 4 TK cấp 2:
- Tài khoản 1541: Xây lắp
- Tài khoản 1542 – sản phẩm khác
- Tài khoản 1543 - dịch vụ
- Tài khoản 1544: chi phí bảo hành xây lắp
Sản phẩm xây lắp không phải làm thủ tục nhập kho mà chỉ làm thủ tụcnghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng Tuy nhiên trong trường hợp sản phẩmxây lắp đã hoàn thành nhưng còn chờ tiêu thụ như xây nhà để bán, hoặc sảnphẩm đã hoàn thành nhưng chưa bàn giao thì cũng coi là sản phẩm được nhậpkho thành phẩm (TK155)
Trang 39Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công
Kết chuyển chi phí sản xuất chung
Chi phí thanh lý máy móc thiết bị Thuế VAT đầu vàoTK1331
Chi phí thanh lý máy móc thiết bị
TK133 Trị giá bàn giao
đã xác định tiêu
Phản ánh các khoản chi phí không thể thu hồi
Nhập kho vl thừa khi kết thúc hợp đồng xây dung, phế liệu thu hồi nhập kho
Khoản phải thu về bán phế liệu thu bồi thường vật
chất
Số thu về thanh lý máy móc thiết bị TK33311
Thuế VAT phải nộp Giá thành sản xuất xây lắp hoàn thành bàn giao
Sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao dưa vào sử
dụng
Bàn giao cho Công ty khi
bộ phận giao khoán có tổ chức kế toán riêng nhưng không xác định dược kết quả kinh doanh
Trang 401.4 Các hình thức kế toán
Hình thức kế toán là hệ thống tổ chức sổ kế toán bao gồm: số lượng sổ, kếtcấu mẫu sổ, mối quan hệ giữa các loại sổ ding để ghi chép, tổng hợp hệ thốnghoá số liệu từ các chứng từ gốc theo một trình tự và phương pháp ghi sổ nhấtđịnh nhằm cung cấp số liệu cần thiết để lập các báo cáo kế toán
Hiện nay, mỗi doanh nghiệp được quyền lựa chọn áp dụng một trong nămhình thức kế toán như sau:
Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ phát sinh theo trình tự thời gian với việc hệ thống hoá các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế Kết hợprộng rãi việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng một sổ một quá trình ghi chép
Hình thức này sử dụng các loại sổ kế toán sau:
- Nhật ký chứng từ
- Bảng kê
- Sổ cái
- Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết
Đối với các doanh nghiệp sử dụng hình thức ghi sổ này sẽ tiến hành trình tự ghi sổ như sau: