Với doanh nghiệp, thực hiện tốt công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý, giám sát các hoạt động.. được tham gia trực tiế
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNNM&XD Công nghệ Nền móng và xây dựng
CPDDCK Chi phí dở dang cuối kỳ
CPDDĐK Chi phí dở dang đầu kỳ
CT, HMCT Công trình, hạng mục công trình
KHTSCĐ Khấu hao Tài sản cố định
NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU BẢNG
Biểu 2.08: 58
Sổ chi tiết tài khoản 6274-VY 01công trình vĩnh yên 58
quý iv năm 2011 58
Biểu 2.10: 61
Sổ chi tiết tài khoản 154-VY01quý IV năm 2011 61
công trình cầu Vĩnh Yên 61
Trang 9Biểu 2.10: 61
Sổ chi tiết tài khoản 154-VY01quý IV năm 2011 61
công trình cầu Vĩnh Yên 61
Trang 14LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư lớn
Sản phẩm xây lắp không chỉ đơn thuần là những công trình lớn, có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài, có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, mà còn là những công trình có tính thẩm mỹ cao, thể hiện phong cách, lối sống của dân tộc đó, đồng thời có ý nghĩa lớn về mặt văn hóa – xã hội
Trong bối cảnh nước ta hiện nay – đang hội nhập với thế giới, tình trạng đô thị hóa nhanh nên việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng đang là một đòi hỏi hết sức cấp thiết Điều đó không chỉ có ý nghĩa khối lượng công việc của ngành xây dựng cơ bản tăng lên, mà song song là vốn đầu tư vào ngành xây dựng cơ bản cũng tăng lên Vấn đề đặt ra là làm sao quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát vốn trong điều kiện sản xuất kinh doanh xây lắp phải trải qua nhiều giai đoạn (thiết kế, lập dự toán, thi công, nghiệm thu, bảo hành….) và thời gian kéo dài
Chính vì thế, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phần cơ bản trong công tác kế toán, lại càng có ý nghĩa đối với doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung Với doanh nghiệp, thực hiện tốt công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý, giám sát các hoạt động Từ đó khắc phục những tồn tại và phát huy những tiềm năng mới đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại
và phát triển trong xã hội cạnh tranh hiện nay Do vậy, tổ chức công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá tành sản phẩm là yêu cầu thiết thực và là vấn
đề đặc biệt quan tâm trong điều kiện hiện nay
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, qua thời gian thực tập,
Trang 15được tham gia trực tiếp vào công tác kế toán thực tế tại công ty Cổ phần Công
nghệ nền móng và xây dựng, em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công
ty Cổ phần đầu tư Công nghệ xây dựng và nền móng” làm khóa luận tốt
nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Công nghệ Nền móng và xây dựng :đề cập và phân tích những khái niệm, bản chất, nội dung kinh tế và các cách phân loại chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm; các đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm; các đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành; các hình thức sổ kế toán áp dụng cho một hình thức kế toán cụ thể……
Trên cơ sở thực tế công tác kế toán tại công ty, khóa luận đánh giá những mặt
ưu nhược điểm, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao để từng bước hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty
Cổ phần Công nghệ Nền móng và xây dựng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp, cụ thể tại Công ty Cổ phần Công nghệ Nền móng và xây dựng
- Phạm vi nghiên cứu: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Công nghệ Nền móng và xây dựng thời gian quý
IV năm 2011, cụ thể hơn là tháng 12 năm 2011
Trang 164 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Các phương pháp toán học, phương pháp thống kê học, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp trình bày kết hợp giữa diễn giải và quy nạp, giữa luận văn và sơ đồ minh họa đồng thời luận văn kết hợp lý luận khoa học chuyên ngành kế toán - kiểm toán để giải quyết nhiệm vụ
5 Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận tốt nghiệp gồm có 3 chương sau: Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Chương 2: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tình giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty Cổ phần Công nghệ Nền móng và xây dựng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty Cổ phần Công nghệ Nền móng và xây dựng
Trang 17
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP 1.1 Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp.
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất quan trọng cho nền kinh tế quốc dân Vai trò và ý nghĩa của xây dựng cơ bản có thể nhìn thấy rõ tư sự đóng góp của lĩnh vực nay trong quá trình tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, cải tạo lại, hay hiện đại hóa các công trình hiện có thuộc mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân (như công trình giao thông thủy lợi, các khu công nghiệp, các công trình quốc phòng, các công trình dân dụng khác) Một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của quỹ tích lũy cùng với vốn đầu tư của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản
So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh
tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo
ra sản phẩm của ngành Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
Đối với nhà thầu, việc tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo ghi chép đầy
đủ, kịp thời tình hình về hoạt động xây lắp nhằm ghi nhận chính xác các chi phí sản xuất, từ đó tính giá thành sản phẩm xây lắp Trên cơ sở đó cung cấp thông tin cho người sử dụng để ra quyết định về quản lý, về đầu tư,…… Để thực hiện điều này, trước hết việc tổ chức kế toán ở nhà thầu cần phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm của sản xuất xây lắp
Hoạt động xây lắp có những đặc điểm sau:
- Sản xuất xây lắp là một loại sản xuất công nghiệp đặc biệt theo đơn đặt
Trang 18hàng Sản phẩm xây lắp mang tính chất đơn chiếc, riêng lẻ Do đặc điểm này nên chi phí bỏ ra để thi công xây lắp các công trình có nội dung và cơ cấu không đồng nhất như các loại sản phẩm công nghiệp Dẫn đến kế toán phải tính đến việc theo dõi ghi nhận chi phí, tính giá thành và tính kết quả thi công cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt hoặc từng nhóm sản phẩm xây lắp nếu chúng được xây dựng theo cùng một thiết kế mẫu và trên cùng một địa điểm nhất định.
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ
- Sản phẩm xây lắp thì cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện sản xuất như: máy thi công, người lao động… di chuyển theo địa điểm Nên sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng lớn bởi môi trưởng, và các công ty xây lắp cần mua bảo hiểm cho từng công trình nhằm hạn chế rủi ro Cũng do việc phải di chuyển theo địa điểm lên các loại vật tư phục vụ sản xuaát dễ hao hụt mất mát, công nhận trực tiếp sản xuất thuê theo thời vụ… Do vậy mà việc quản lý tài sản, con người có nhiều khó khăn Đặc điểm này làm cho công tác hạch toán chi phí sản xuất trở nên phức tạp hơn
- Do đặc tính kỹ thuật phức tạp và thời gian sản xuất lâu dài của công trình xây lắp mà công trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều công việc khác nhau đòi hỏi tổ chức quản lý, giám sát công trình chặt chẽ để đảm bảo tiến độ công trình theo thiết
kế và dự toán
- Sản phẩm xây lắp khi hoàn thành không nhập kho như các ngành sản xuất vật chất khác mà tiêu thụ tại chỗ Đây vừa là sản phẩm hoàn chỉnh (công trình, hạng mục công trình), vừa là sản phẩm hoàn thành theo giai đoạn quy ước
Trang 19
-1.2.Một số vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất.
1.2.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất:
Bất kỳ doanh nghiệp nào, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có đủ 3 yếu tố cơ bản: đối tượng lao động, tư liệu lao động và lao động sống Lao động là hoạt động một cách có ý thức của người lao động tác động một cách có mục đích lên đối tượng lao động và tư liệu lao động, qua quá trình biến đổi sẽ tạo ra sản phẩm, lao vụ Đó chính là sự tiêu hao ba yếu tố trên Trong xã hội tồn tại quan hệ hàng hóa - tiền tệ, hao phí yếu tố nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh được biểu hiện dưới hình thức giá trị, gọi là chi phí sản xuất, kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra trong một kỳ kinh doanh nhất định Chi phí về lao động sống là những chi phí về tiền lương, thưởng, phụ cấp và các khoản trích theo lương của người lao động Chi phí lao động vật hóa là những chi phí về sử dụng các yếu tố tư liệu lao động, đối tượng lao động dưới các hình thái vật chất, phi vật chất, tài chính và phi tài chính Như vậy, bản chất của chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là:
- Những phí tổn về các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, gắn liền với mục đích kinh doanh
- Lượng chi phí phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí
- Chi phí sản xuất kinh doanh của 1 doanh nghiệp phải được đo lường bằng thước đo tiền tệ và xác định trong 1 khoảng thời gian nhất định
Chi phí sản xuất xây lắp là toàn bộ các chi phí sản xuất phát sinh trong lĩnh vực hoạt động sản xuất xây lắp, nó là bộ phận cơ bản để hình thành giá thành
Trang 20sản phẩm xây lắp.
Về bản chất, chi phí sản xuất chính là thước đo giá trị (bằng tiền) của tất cả các yếu tố đầu vào để cấu tạo lên sản phẩm xây lắp Đó là những phí tổn về lao động, vật tư, tiền vốn Từ đó ta thấy được chi phí khác so với chi tiêu và cũng khác với vốn Chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất và được bù đắp bằng thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh, chi tiêu là việc dùng tiền để chi cho các hoạt động ngoài sản xuất kinh doanh, có thể lấy từ các quỹ của doanh nghiệp và không được bù đắp Còn vốn là biểu hiện bằng tiền của tất cả tài sản được sử dụng vào hoạt động sản xuất với mục đích sinh lời nhưng không phải đều là phí tốn
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều thứ khác nhau Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh cần phải được phân loại theo những tiêu thức phù hợp Trong các doanh nghiệp xây lắp chi phí sản xuất thường được phân loại, nhận diện theo những tiêu thức sau:
a Theo yếu tố chi phí:
Căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí để sắp xếp những chi phí có nội
dung kinh tế ban đầu giống nhau vào cùng một nhóm chi phí Cách phân loại này không phân biệt nơi chi phí phát sinh và mục đích sử dụng của chi phí Mục đích của cách phân loại này để biết được chi phí phát sinh của doanh nghiệp gồm những loại nào, số lượng, giá trị là bao nhiêu Cụ thể bao gồm:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: gồm toàn bộ giá trị các loại nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu, thiết bị xây dựng cơ bản… mà doanh nghiệp đã thực sự sử dụng cho hoạt động sản xuất
- Chi phí nhân công: Là toàn bộ số tiền lương tiền công phải trả, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân viên chức trong doanh nghiệp
Trang 21- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ giá trị khấu hao phải trích của các TSCĐ sử dụng trong doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả về các dịch vụ mua từ bên ngoài như tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chi phí khác bằng tiền: Gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh ngiệp ngoài các yếu tố chi phí trên như chi phí tiếp khách, hội họp
b Theo khoản mục chi phí:
Cách phân loại này dựa trên công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất
và phương pháp tập hợp chi phí có tác dụng tích cực cho việc phân tích giá thành theo khoản mục chi phí Mục đích của cách phân loại này để tìm ra nguyên nhân làm thay đổi giá thành so với định mức và đề ra các biện pháp
- Chi phí sử dụng máy thi công: bao gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung: bao gồm các chi phí phát sinh ở đội, bộ phận sản xuất ngoài các chi phí sản xuất trực tiếp như:
+ Chi phí nhân viên quản lý đội sản xuất gồm lương chính, lương phụ và các khoản tính theo lương của nhân viên quản lý đội, nhân viên trực tiếp sản xuất.+ Chi phí vật liệu: gồm giá trị vật liệu dùng để sửa chữa bảo dưỡng TSCĐ, các chi phí công cụ dụng cụ ở đội xây lắp
Trang 22+ Chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng ở đội xây lắp, đội sản xuất.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài như chi phí điện nước, điện thoại sử dụng cho sản xuất và quản lý ở đội xây lắp
c Theo mối quan hệ giữa chi phí và khối lượng sản phẩm sản xuất:
Theo cách này chi phí được phân loại theo cách ứng xử của chi phí hay là xem xét sự biến động của chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi Chi phí được phân thành 3 loại:
- Chi phí cố định: Là những chi phí mang tính tương đối ổn định không phụ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất trong một mức sản lượng nhất định Khi sản lượng tăng thì mức chi phí tính trên một sản phẩm có xu hướng giảm
- Chi phí biến đổi: Là những chi phí thay đổi phụ thuộc vào số lượng sản phẩm Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy….thuộc chi phí biến đổi Dù sản lượng sản phẩm sản xuất thay đổi nhưng chi phí biến đổi cho một sản phẩm thì mang tính ổn định Cách phân loại này có vai trò quan trọng trong phân tích điểm hòa vốn phục
vụ cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản lý
- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí và định phí Ở mức hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của chi phí cố định, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của chi phí biến đổi Chi phí hỗn hợp thường gồm: Chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp…
d Theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí:
Cách phân loại này dựa trên khả năng quy nạp chi phí cho từng đối tượng
chịu chi phí tức có thể quy nạp trực tiếp hay phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí, sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp Cụ thể, chi phí sản xuất được chia thành 2 loại:
- Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm hay quá trình mua hàng để bán Đối với doanh nghiệp sản xuất, chi
Trang 23phí sản xuất gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung Thực chất, chi phí sản xuất sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất là chi phí ở khâu sản xuất tính cho sản phẩm của doanh nghiệp, đó là giá trị sản phẩm dở dang, là giá thành sản xuất của sản phẩm hoàn thành, và trở thành giá vốn hàng bán khi đã được bán Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mai, chi phí sản phẩm là giá vốn của hàng mua, bao gồm giá mua hàng hóa và chi phí khâu thu mua hàng hóa và trở thành giá vốn của hàng mua, bao gồm giá mua hàng hóa và chi phí khâu thu mua hàng hóa và trở thành giá vốn hàng bán khi hàng hóa đã được bán.
Khi sản phẩm hàng hóa chưa được bán thì chi phí sản phẩm là giá vốn hàng tồn kho, và được ghi nhận ở các chỉ tiêu hàng tồn kho như “Sản phẩm dở dang”, “Thành phẩm tồn kho”, “Hàng hóa tồn kho” trong bảng Cân đối kế toán Khi sản phẩm hàng hóa được bán ra, chi phí sản phẩm được ghi nhận ở chỉ tiêu “Giá vốn hàng bán” trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Chi phí thời kỳ: là chi phí cho hoạt động kinh doanh trong kỳ, không tạo nên giá trị hàng tồn kho – tài sản, nên không được ghi nhận trên bảng cân đối
kế toán, mà tham gia xác định kết quả kinh doanh trong kỳ chúng phát sinh,
có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ, nên được ghi nhận trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Chi phí thời kỳ bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Hai chi phí này được ghi nhận ở 2 chỉ tiêu “Chi phí bán hàng” và
“Chi phí quản lý doanh nghiệp” trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
1.2.2 Khái niệm và phân loại giá thành trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.2.1 Khái niệm giá thành xây lắp.
Giá thành sản phẩm là toàn bộ những chi phí về lao động sống, lao động
vật hoá và các chi phí khác được dùng để sản xuất hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ các chi phí tính bằng tiền để hoàn
Trang 24thành khối lượng sản phẩm xây lắp theo quy định Sản phẩm xây lắp có thể là kết cấu công việc hoặc giao lại công việc có thiết kế và dự toán riêng, có thể
là công trình hay hạng mục công trình
Giá thành của công trình hay hạng mục công trình là giá thành cuối cùng của sản phẩm xây lắp Về bản chất, giá thành chính là thước đo cuối cùng của tất
cả các chi phí sản xuất cấu thành lên sản phẩm Chỉ tiêu giá thành thể hiện kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, kết quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất sản phẩm, để từ đó nhà quản lý lựa chọn được các phương án sản xuất cho tối ưu nhất
1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
a Theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành.
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm chia làm 3 loại:
- Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở định mức chi phí sản xuất hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm Việc tính giá thành định mức được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để đánh giá kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động và giúp cho việc đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xây dựng trên cơ sở những điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về các định mức, đơn giá, biện pháp tổ chức thi công Giá thành kế hoạch thường nhỏ hơn giá thành dự toán xây lắp ở mức hạ giá thành kế hoạch
Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành sản phẩm xây lắp Giá thành này được tính trên cơ sở số liệu kế toán về chi phí sản xuất đã tập hợp được cho sản phẩm xây lắp thực hiện trong kỳ Giá thành công trình lắp đặt thiết bị không bao gồm giá trị thiết bị đưa vào lắp
Trang 25đặt, bởi vì thiết bị này thường do đơn vị chủ đầu tư bàn giao cho doanh nghiệp nhận thầu xây lắp.
b Theo phạm vi tính toán.
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm chia làm 2 loại:
- Giá thành sản xuất: bao gồm chi phí nguyên vật liệu, vật liệu được trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm, công việc, lao vụ hoàn thành sản phẩm được sử dụng để ghi sổ kế toán thành phẩm nhập kho hoặc giao cho khách hàng và là căn cứ để doanh nghiệp tính giá vốn hàng bán, tính lãi gộp
- Giá thành toàn bộ: bao gồm giá thành sản xuất và chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Giá thành toàn bộ = Giá thành sản xuất + Chi phí bán hàng + Chi phí quản lý doanh nghiệp.
1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối tương quan mật thiết với nhau Khi tiến hành hoạt động xây lắp, doanh nghiệp phải bỏ ra các chi phí về vật tư, lao động, máy móc, thiết bị và các chi phí khác Tất cả các yếu tố đó tập hợp lại gọi là chi phí sản xuất Sau một thời gian nhất định các yếu tố đó tạo thành một sản phẩm xây lắp hoàn chỉnh Kết quả của một quá trình sử dụng các yếu tố sản xuất thể hiện ở chỉ tiêu giá thành sản phẩm Do vậy các chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt thống nhất của một quá trình, quá trình sản xuất sản phẩm Chúng bao gồm chi phí về lao động sống, lao động vật hóa kết tinh trong sản phẩm Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau về quy mô giá trị, phạm vi tập hợp…
Trang 26Điều này được thể hiện khái quát qua hình vẽ sau:
Khi giá trị sản phẩm xây lắp dở dang (chi phí xây lắp dở dang) đầu kỳ
và cuối kỳ bằng nhau hoặc khi không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
1.2.4 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
1.2.4.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
Xác định đối tượng chi phí sản xuất xây lắp là công việc đầu tiên quan trọng của kế toán trong quá trình hạch toán giá thành sản phẩm Tổ chức kế toán quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và có quan hệ mật thiết với nhau Đó là giai đoạn kế toán chi phí sản xuất phát sinh trong từng
CT, HMCT, hay giai đoạn công việc để thuận tiện cho việc tính giá thành sản phẩm, hay chi tiết từng công trình theo yêu cầu thực tế quản lý của công ty Việc phân chia này xuất phát từ yêu cầu quản lý, kiểm tra phân tích chi phí của phòng kế hoạch trong công ty, hay phòng kỹ thuật Có thể nói, kế toán tập hợp chi phí sản xuất được phân chia theo từng giai đoạn là do sự khác nhau
cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong quá trình xây lắp Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là những phạm vi, giới hạn mà chi phí sản xuất cần được tập hợp phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát, tổng hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm Xác định đúng đắn, phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức kế toán hạch toán chi phí sản xuất từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết
Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳGiá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ Chi phí sản xuất dở dang
cuối kỳ
Trang 27Để xác định được đối tượng chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp cần căn cứ vào các yêu cầu sau:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm
- Mục đích, công dụng của chi phí đối với quá trình sản xuất
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp
Xuất phát từ những đặc điểm xây dựng là quá trình thi công lâu dài, phức tạp, do đặc điểm của ngành sản xuất xây dựng là đơn chiếc, cố định và cũng để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và kế toán, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường là công trình, HMCT, đơn đặt hàng, giai đoạn công việc hoàn thành….tùy theo điều kiện cụ thể
1.2.4.2 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Tùy thuộc vào khả năng quy nạp của chi phí vào các đối tượng tập hợp chi
phí, kế toán sẽ áp dụng các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất một cách thích hợp Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng để tập hợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định Thông thường, tại các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng có hai phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:
a Phương pháp trực tiếp:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất riêng biệt Do đó, ngay khâu hạch toán ban đầu, chi phí phát sinh được phản ánh riêng cho từng đối tượng tập hợp chi phí trên chứng từ ban đầu để căn cứ vào
Trang 28chứng từ thực hiện hạch toán trực tiếp chi phí san xuất cho từng đối tượng riêng biệt Theo phương pháp này, chi phí sản xuất được phát sinh được cho từng đối tượng chịu chi phí nên đảm bảo mức độ chính xác cao Vì vậy cần sử dụng tối đa phương pháp tập hợp trực tiếp trong điều kiện có thể cho phép.
b Phương pháp phân bổ gián tiếp.
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không tổ chức ghi chép ban đầu riêng cho từng đối tượng được Trong trường hợp này, phải tập hợp chi phí sản xuất phát sinh chung cho nhiều đối tượng theo từng nơi phát sinh chi phí Sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để phân bổ khoản chi phí này cho đối tượng chịu chi phí Việc phân bổ được tiến hành theo trình tự:Xác định hệ số phân bổ:
- Xác định mức chi phí phân bcho từng đối tượng: Ci = Ti × H
Với Ci: chi phí phân bổ đối tượng i
Ti: đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i
H: Hệ số phân bổ
1.2.5 Đối tượng tính giá thành và phương pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
1.2.5.1 Đối tượng và kỳ tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp.
a Đối tượng tính giá thành
Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ
Hệ số phân bổ =
Trang 29Đối tượng giá thành là các sản phẩm, lao vụ… do doanh nghiệp sản xuất
ra cần phải tính giá thành và giá thành đơn vị - công việc tính giá thành là nhằm xác định được giá thành thực tế của từng loại sản phâm và toàn bộ sản phẩm đã hoàn thành
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công việc tính giá thành sản phẩm Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, các loại sản phẩm, lao vụ mà doanh nghiệp sản xuất cung cấp sử dụng của chúng để xác định đối tượng tính giá thành cho thích hợp
Đối với doanh nghiệp xây dựng, do tổ chức sản xuất đơn chiếc nên đối tượng tính giá thành là công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao
b Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán phải tiến hành công việc tính giá thành cho sản phẩm xây lắp Xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ giúp công việc tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm được hợp lý, khoa học, đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời, phát huy được đầy đủ chức năng giám sát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm của kế toán
Để xác định kỳ tính giá thành thích hợp, kế toán phải căn cứ vào đặc điểm chức năng và chu kỳ sản xuất sản phẩm Căn cứ vào đặc điểm riêng của ngành xây dựng cơ bản kỳ tính giá thành có thể được xác định như sau:
- Đối với các sản phẩm được sản xuất liên tục, cung cấp cho những đối tượng khác nhau liên tục, chu kỳ sản xuất ngắn như gạch, ngói… thì kỳ tính giá thành là một tháng
- Đối với các sản phẩm theo đơn đặt hàng có thời gian sản xuất thi công dài,
Trang 30công việc được coi là hoàn thành khi kết thúc mọi công việc trong đơn đặt hàng thì khi hoàn thành toàn bộ đơn đặt hàng mới tính giá thành.
- Đối với CT, HMCT lớn, thời gian thi công dài thì chỉ khi nào có một bộ phận hoàn thành có giá trị sử dụng được nghiệm thu, bàn giao, thanh toán mới tính giá thành thực tế bộ phận đó
- Đối với những công trình xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị có thời gian thi công nhiều năm mà không tách ra được từng bộ phận công trình nhỏ đưa vào sử dụng thì khi từng bộ phận xây lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý, theo thiết kế kỹ thuật có ghi trong hợp đồng thi công sẽ được bàn giao thanh toán thì DNXL tính giá thành thức tế cho khối lượng bàn giao
- Ngoài ra, với công trình lớn, thời gian thi công dài, kết cấu phức tạp…thì
kỳ tính giá thành của doanh nghiệp có thể được xác định là hàng quý
1.2.5.2 Phương pháp tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp.
a Phương pháp tính giá thành giản đơn.
Do đặc điểm sản phẩm xây lắp có tính đơn chiếc, quy trình sản xuất công nghệ khá phức tạp, thời gian thi công kéo dài nên việc bàn giao thanh toán cũng đa dạng: có thê là CT, HMCT đã xây lắp hoàn thành, có thể là các giai đoạn công nghệ, bộ phận công việc hoàn thành theo giai đoạn quy ước
Tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh cho một CT, HMCT từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn thành chính là giá thành thực tế của CT, HMCT Phương pháp này phù hợp với các công trình thi công ngắn hạn, phù hợp kỳ tính giá thành của đơn vị Các công trình thi công dài hạn, nghiệm thu thanh toán từng phần thì phát sinh khối lượng dở dang cuối kỳ thì đơn vị tính giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành theo công thức sau:
Nếu trường hợp công trình đó chưa hoàn thành toàn bộ mà có khối lượng xây lắp hoàn thành thì:
Trang 31Nếu chi phí sản xuất tập hợp cho cả công trình nhưng giá thành thực tế phù hợp riêng cho từng HMCT, kế toán xác định giá thành theo công thức:
Giá thành thực tế của từng hạng mục công trình là: Gdti x H
Trong đó: H là tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế
Với: ∑C: tổng chi phí thực tế của công trình, hạng mục công trình
∑Gdt: tổng giá trị dự toán của tất cả các công trình
Gdti: giá trị dự toán của công trình thứ i
b Phương pháp tính giá thành theo định mức.
Nội dung chủ yếu của phương pháp này:
- Trước hết phải căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành và dự toán chi phí được duyệt để tính gia thành sản phẩm xây lắp
- Tổ chức hạch toán riêng biệt số CPSX xây lắp thực tế phù hợp với định mức và số CPSX xây lắp chênh lệch so với định mức, thường xuyên thực hiện phân tích những chênh lệch này để kịp thời để ra các biện pháp khắc phục nhằm tiết kiệm CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp
- Khi có thay đổi định mức kinh tế kỹ thuật cần kịp thời tính toán lại giá thành định mức và xác định số chênh lệch CPSX xây lắp do thay đổi định mức của số sản phẩm đang sản xuất dở dang cuối kỳ trước (nếu có)
Trên cơ sở đó, ta tính được giá thành thực tế SPXL hoàn thành trong kỳ:
dở dang cuối kỳ
Chi phí thực tế phát sinh trong kỳ
Chi phí sản xuất của KLXL dở dang cuối kỳ
Trang 32-c Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng.
Phương pháp này phù hợp cho đối tượng tính giá thành là CT, HMCT chưa hoàn thành Mỗi đơn đặt hàng ngay từ khi quá trình thi công được mở một phiếu tính giá thành (Bảng tính giá thành theo đơn đặt hàng) Chi phí sản xuất phát sinh được mở cho từng đơn đặt hàng bằng phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp Cuối hàng kỳ căn cứ vào chi phí sản xuất tập hợp được cho từng đơn hàng theo khoản mục chi phí ghi vào bảng tính giá thành của đơn đặt hàng tương ứng Khi có chứng từ phát sinh đơn đặt hàng hoàn thành, kế toán thực hiện bảng tính giá thành bằng cách cộng lũy kế các chi phí từ kỳ bắt đầu thi công đến khi đơn đặt hàng hoàn thành, kế toán thực hiện tính giá thành bằng cách cộng lũy kế các chi phí từ kỳ bắt đầu thi công đến khi đơn hàng được hoàn thành ngay trên bảng tính giá thành của đơn đặt hàng đó Đối với các đơn đặt hàng chưa hoàn thành cộng chi phí lũy kế từ khi bắt đầu thi công đến thời điểm xác định chính là giá trị sản phẩm xây lắp dở dang Bởi vậy mà bảng tính giá thành theo đơn đặt hàng chưa xong được coi là báo cáo chi phí sản xuất xây lắp dở dang
Trường hợp đơn đặt hàng bao gồm một số HMCT thì sau khi tính giá thành cho đơn đặt hàng đã hoàn thành, kế toán thực hiện tính giá thành cho từng HMCT bằng cách căn cứ vào giá thành thực tế của đơn đặt hàng hoàn thành và giá thành dự toán của HMCT đó, được tính theo công thức sau:
Chênh lệch do thay đổi định mức
Chênh lệch so với định mức
Chi phí định mức (theo từng khoản mục)
Trang 33
-Với: Zi: giá thành thực tế của hạng mục công trình i.
Zddh: giá thành sản xuất thực tế của đơn đặt hàng hoàn thành
Zidt: giá thành dự toán của hạng mục công trình
1.2.6 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây
lắp
1.2.6.1 Đánh giá sản phẩm dở dang theo giá trị dự toán
Theo phương pháp này thì giá trị thực tế của SPDD cuối kỳ được xác
+
Chi phí của KLXL hoàn thành bàn giao trong
kỳ dự toán
Chi phí dự toán của KLXLDD cuối kỳ đã tính đổi theo sản lượng hoàn thành tương đương
Chi phí thực tế của KLXLDD đầu kỳ
Chi phí thực tế của KLXLDD hoàn thành trong kỳ
Giá trị dự toán của KLXLDD hoàn thành trong kỳ
Giá trị dự toán của KLXLDD cuối kỳ
Giá trị theo
sự toán của KLXLDD cuối kỳx
=
Trang 341.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 1.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
a Nội dung:
Chi phí NVLTT là chi phí của những loại nguyên vật liệu cấu thành thực
thể của sản phẩm, có giá trị lớn và có thể xác định một cách tách biệt rõ ràng
cụ thể cho từng sản phẩm Chi phí NVLTT bao gồm chi phí về NVL chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc bộ phận rời, vật liệu chuyển tham gia trực tiếp cấu thành nên sản phẩm xây lắp như cát, sỏi, gạch, gỗ, cốt pha, sắt, thép….Phương pháp tập hợp chi phí NVLTT:
- Các loại vật liệu sử dụng cho CT, HMCT nào thì phải ghi trực tiếp cho
CT, HMCT đó trên cơ sở chứng từ gốc có liên quan theo số lượng thực tế sử dụng và giá thực tế xuất kho
- Trong điều kiện không thể tính được trực tiếp thì kế toán có thể áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp cho đối tượng sử dụng theo các tiêu thức hợp
lý như tỷ lệ định mức tiêu hao
- Cuối kỳ hạch toán khi công trình hoàn thành phải kiểm kê số vật liệu lĩnh
về chưa sử dụng hết ở công trường và phải đánh giá phế liệu thu hồi theo từng đối tượng sử dụng
b Chứng từ sử dụng và tài khoản sử dụng:
Chứng từ sử dụng: Hóa đơn bán hàng, hóa đơn GTGT, phiếu nhập kho,
phiếu xuất kho, giấy đề nghị tạm ứng, phiếu chi, bảng kê chứng từ nhập, xuất nguyên vật liệu
Tài khoản sử dụng: Để hạch toán chi phí NVLTT, kế toán mở tài khoản
621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” Kết cấu tài khoản như sau:
Trang 35c Phương pháp hạch toán chi phí NVLTT:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ trình tự kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Tk 621
Trị giá gốc thực tế của NVL sử dụng trực tiếp cho sản phẩm xây lắp
-Trị giá NVL sử dụng không hết nhập lại kho
- K/c chi phí NVL sang TK 154
133
Mua nguyên vật liệu đưa thẳng
vào xây lắp (không qua kho)
621
154
111, 112,331
Giá trị nguyên vật liệu dùng không
hết vào xây lắp để tại công trường
cuối kỳ
Chi phí nguyên vật liệu cuối
kì trước chuyển sang
Thuế GTGT
đầu vào
Chi phí nguyên vật liệu vượt
mức bình thường, không tính vào giá thành sản phẩm xây lắp
152
Cuối kỳ kết chuyển chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
thi công xây lắp phát sinh trong kì
632
Trang 361.3.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
a Nội dung:
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương của công nhân trực tiếp
tham gia xây dựng công trình trên công trường và lắp đặt thiết bị; công đóng đặt tháo dỡ lắp ghép ván khuôn đà giáo, công vận chuyển vật liệu và khuân vác máy móc trong lúc thi công từ chỗ để của công trình đến nơi xây dựng, công cạo sắt rỉ thép để thi công, công phụ vôi vữa; phụ cấp làm thêm giờ, các khoản phụ cấp có tính chất lương như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp tổ trưởng, phụ cấp nóng độc hại….và lương phụ
Phương pháp tập hợp chi phí nhân công trực tiếp:
- Chi phí nhân công trực tiếp được hạch toán cho từng công trình, hạng mục công trình, đội xây dựng
- Trường hợp không thể tính trực tiếp, kế toán có thể phân bổ cho các đối tượng liên quan theo tiền công định mức hay giờ công định mức
- Khác với các doanh nghiệp khác, khoản mục chi phí này không bao gồm các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ… của công nhân trực tiếp xây lắp; lương của công nhân vận chuyển ngoài công trường, lương nhân viên thu mua, bốc dỡ, bảo quản vật liệu trước khi đến kho công trường; lương công nhân sản xuất phụ, nhân viên quản lý, công nhân điều khiển sử dụng máy thi công, những người làm công tác bảo quản ở công trường
b Chứng từ và tài khoản sử dụng
Chứng từ sử dụng: Bảng chấm công, phiếu xác nhận công việc hoàn thành,
bảng thanh toán tiền lương, bảng tổng hợp thanh toán tiền lương, phiếu tạm ứng, phiếu chi…
Trang 37Tài khoản sử dụng: Để hạch toán chi phí NCTT, kế toán mở tài khoản 622
“Chi phí nhân công trực tiếp” Kết cấu tài khoản như sau:
c Phương pháp hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ Trình tự kế toán chi phí nhân công trực tiếp
1.3.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất máy thi công
a Nội dung:
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các khoản chi phí về NVL cho máy hoạt động, chi phí tiền lương (chính, phụ), phụ cấp của công nhân trực tiếp điều khiển máy, chi phí khấu hao máy thi công, chi phí sửa chữa bảo dưỡng máy và chi phí mua ngoài, chi phí khác bằng tiền có liên quan đến sử
Nguyễn Thị Thu Hương Lớp KTDNH – K11
Lương chính, phụ, phụ cấp phải
trả công nhân trực tiếp xây lắp
(thuộc doanh nghiệp hoặc thuê
Chi phí nhân công trực tiếp vượt mức
bình thường, không tính vào giá thành sản phẩm xây lắp
Trang 38Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
dụng máy thi công để thực hiện khối lượng công việc xây lắp bằng máy theo phương thức thi công hỗn hợp
b Chứng từ và tài khoản sử dụng:
Chứng từ sử dụng: Bảng kê thời gian sử dụng máy thi công, hợp đồng
thuê máy thi công, bảng phân bổ chi phí khấu hao máy thi công, phiếu chi, bảng thanh toán tiền lương của đội máy thi công…
Tài khoản sử dụng: Để hạch toán chi phí máy thi công, kế toán sử dụng
tài khoản “ Chi phí sử dụng máy thi công” – TK623
Tk 623 có tài khoản cấp 2:
-TK chi phí nhân công – TK 6231
-Tài khoản chi phí vật liệu – TK 6232
-Tài khoản chi phí dịch vụ - TK 6233
-Tài khoản chi phí khấu hao máy thi công – TK6234
-Tài khoản chi phí dịch vụ mua ngoài – TK 6237
-Tài khoản chi phí bằng tiến khác – TK 6238
Tập hợp chi phí máy thi công
phục vụ trực tiếp cho hoạt
động xây lắp
Kết chuyển chi phí máy thi công để tính giá thành sản phẩm
22
Trang 39Trường hợp doanh nghiệp có tổ chức bộ máy thi công riêng biệt, đội máy được phân cấp hạch toán và có tổ chức kế toán riêng:
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công
(tại đội máy thi công)
Trường hợp doanh nghiệp xây lắp có tổ chức đội máy thi công riêng, đội máy không tổ chức hạch toán kế toán riêng.
Khi đó hoạt động đội máy được coi như một hoạt động phụ cấp lao vụ cho các đơn vị xây lắp, kế toán doanh nghiệp xây lắp tập hợp chi phí của đội máy thi công vào tài khoản 621, 622, 627 được mở chi tiết cho đội máy thi công Cuối kỳ hạch toán kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công của đội máy vào TK154 – chi phí sản xuất kinh doanh dở dang chi tiết cho đội máy thi công để tính giá thành ca máy và phản ánh giá trị lao vụ máy cung cấp cho sản xuất xây lắp, kế toán ghi:
Nợ TK 623: Chi phí sử dụng máy thi công
Có TK 154: Chi tiết đội máy thi công
Sơ đồ 1.4: Trình tự kế toán chi phí sử dụng máy thi công
TK111,152,153
TK 214
Trả lương cho CNV sử dụng cho xe,MTC
Xuất, mua NVL sử dung cho xe, MTC
Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
1331
Khấu hao xe, MTC
1331
Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK111,112,331
Thuế GTGT đầuvào
154, CP sử dụng máy thi công
133
Tập hợp chi phí sử dụng máy thi công
Cuối kỳ kết chuyển hay phân bổ chi phí thuộc bộ phận máy thi
công
Trang 401.3.3 Kế toán chi phí sản xuất chung
a Nội dung:
Chi phí sản xuất chung là những chi phí liên quan đến tổ chức phục vụ
và quản lý thi công của các đội xây lắp ở các công trường xây dựng như: tiền lương của nhân viên quản lý đội, các khoản trích trên lương: BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất, chi phí NVL, CCDC sử dụng cho