1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống tại Hà Nội hiện nay

89 1,4K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Kinh tế ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam cũng ngày càng được cải thiện, điều này thể hiện ở chất lượng bữa ăn hằng ngày, dịch v

Trang 1

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG, SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ 5

LỜI MỞ ĐẦU 9

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH 11

1.3 Khái luận về thực phẩm tươi sống 22

1.3.1 Khái niệm thực phẩm tươi sống 22

Theo khoản 3, điều 3 (Pháp lệnh số 12/2003/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội : Về vệ sinh an toàn thực phẩm) 22

1.3.2 Đặc điểm, vai trò của thực phẩm tươi sống 22

1.3.2.1 Đặc điểm cơ bản của thực phẩm tươi sống 22

1.3.2.2 Vai trò của thực phẩm tươi sống 23

CHƯƠNG 2 26

THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC TRONG 26

SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH THỰC PHẨM TƯƠI SỐNG 26

2.1 Thực trạng đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm tươi, sống tại Hà Nội 26

2.2 Thực trạng vấn đề đạo đức trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm tươi, sống tại Hà Nội 27

2.3.1 Từ phía Nhà nước và các cơ quan chức năng 46

2.3.3 Người sản xuất, kinh doanh 52

Trang 2

Kết quả điều tra đánh giá về chất lượng sản phẩm từ 300 người tiêu dùng thực phẩm tươi sống cho thấy có 55% số người được hỏi cho rằng sản phẩm mà họ đang tiêu dùng Trong khi đó, 18% số người còn lại không quan tâm về chất lượng sản phẩm tươi, sống mà họ đang tiêu

dùng .57

Quan điểm 57

Số người lựa chọn 57

Tỷ lệ % 57

Thứ bậc 57

Đảm bảo chất lượng 57

165 57

55% 57

1 57

Phân vân 57

81 57

27% 57

2 57

Không quan tâm 57

54 57

18% 57

3 57

Tổng 57

300 57

100% 57

Trang 3

57

Dựa vào bảng nghiên cứu cũng như biểu đồ thống kê, nhóm nghiên cứu nhận thấy, người tiêu dùng hiện nay vẫn còn đang rất chủ quan với những sản phẩm từ tươi sống Bởi lẽ, các chất độc trong hoa quả tươi, rau và thực phẩm thịt không thể ảnh hưởng ngay tới sức khỏe NTD mà lượng chất độc sẽ tích tụ dần trong cơ thể và gây nên bệnh Vì vậy, nhiều người sẽ lầm tưởng rằng họ đang tiêu dùng những sản phẩm đảm bảo chất lượng Ngoài ra, nhóm nghiên cứu nhận thấy với những người tin chắc rằng sản phẩm tươi, sống mà họ đang dùng thì thường có thu nhập cao > 7 triệu đồng/1 tháng và địa chỉ mua rau và thực phẩm gia súc là từ các cửa hàng rau sạch hoặc siêu thị, với mức giá cao hơn thị trường Những người còn đang đắn đo, phân vân về chất lượng sản phẩm thì thường là đối tượng sinh viên, học sinh và những người có thu nhập thấp và địa điểm họ mua thực phẩm tươi sống là chợ hoặc người bán rong Còn riêng với sinh viên không sống ngoài, khi ở trong kí túc xá tại các trường Đại học thì thường ăn bên ngoài tại căng tin hay quán ăn bên đường Do vậy, họ không thể dám chắc về chất lượng sản phẩm mà họ tiêu dùng 57

2.5 Một số hậu quả để lại từ thực phẩm tươi sống “không sạch” 58

CHƯƠNG 3 64

MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC TRONG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH CÁC MẶT HÀNG THỰC PHẨM TƯƠI, SỐNG 64

TẠI HÀ NỘI 64

3.1 Chỉ đạo của Chính phủ 64

b Các mục tiêu cụ thể 64

3.2 Một số giải pháp nhằm xây dựng đạo đức trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm tươi sống 73

3.2.1 Đối với nhà sản xuất 73

3.2.2 Trong khâu tiêu thụ thực phẩm 77

Trang 4

Chữ cái viết tắt Xin đọc là

Trang 5

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG, SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ 5

LỜI MỞ ĐẦU 9

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH 11

1.3 Khái luận về thực phẩm tươi sống 22

1.3.1 Khái niệm thực phẩm tươi sống 22

Theo khoản 3, điều 3 (Pháp lệnh số 12/2003/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội : Về vệ sinh an toàn thực phẩm) 22

1.3.2 Đặc điểm, vai trò của thực phẩm tươi sống 22

1.3.2.1 Đặc điểm cơ bản của thực phẩm tươi sống 22

1.3.2.2 Vai trò của thực phẩm tươi sống 23

CHƯƠNG 2 26

THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC TRONG 26

SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH THỰC PHẨM TƯƠI SỐNG 26

2.1 Thực trạng đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm tươi, sống tại Hà Nội 26

Biểu đồ 2.1 Chỉ số giá tiêu dùng 3/2011 – 3/2012 27

2.2 Thực trạng vấn đề đạo đức trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm tươi, sống tại Hà Nội 27

Bảng 2.2: Khảo sát về địa chỉ mua sắm thường xuyên các mặt hàng 32

tươi, sống của người tiêu dùng 32

Biểu đồ 2.2 Khảo sát về địa chỉ mua sắm thường xuyên các mặt hàng tươi, sống của người tiêu dùng –Nguồn: Nhóm tự điều tra 33

2.3.1 Từ phía Nhà nước và các cơ quan chức năng 46

Trang 6

Bảng 2.3: Lợi ích từ việc sản xuất rau muống theo các cách khác nhau 50

2.3.3 Người sản xuất, kinh doanh 52

Bảng 2.4: Đánh giá của người sản xuất về chất lượng sản phẩm mà họ đang sản xuất 53

Bảng 2.5: Bảng tổng hợp đánh giá của người bán hàng về chất lượng 55

sản phẩm của họ 55

Bảng 2.6: Tổng hợp kết quả điều tra về cách nhận biết sản phẩm sạch của người tiêu dùng 56

Nguồn: Nhóm tự điều tra 56

Kết quả điều tra đánh giá về chất lượng sản phẩm từ 300 người tiêu dùng thực phẩm tươi sống cho thấy có 55% số người được hỏi cho rằng sản phẩm mà họ đang tiêu dùng Trong khi đó, 18% số người còn lại không quan tâm về chất lượng sản phẩm tươi, sống mà họ đang tiêu dùng .57

Bảng 2.7 Đánh giá về chất lượng sản phẩm tươi sống của người tiêu dùng 57

Quan điểm 57

Số người lựa chọn 57

Tỷ lệ % 57

Thứ bậc 57

Đảm bảo chất lượng 57

165 57

55% 57

1 57

Phân vân 57

81 57

27% 57

2 57

Không quan tâm 57

54 57

Trang 7

18% 57

3 57

Tổng 57

300 57

100% 57

57

Dựa vào bảng nghiên cứu cũng như biểu đồ thống kê, nhóm nghiên cứu nhận thấy, người tiêu dùng hiện nay vẫn còn đang rất chủ quan với những sản phẩm từ tươi sống Bởi lẽ, các chất độc trong hoa quả tươi, rau và thực phẩm thịt không thể ảnh hưởng ngay tới sức khỏe NTD mà lượng chất độc sẽ tích tụ dần trong cơ thể và gây nên bệnh Vì vậy, nhiều người sẽ lầm tưởng rằng họ đang tiêu dùng những sản phẩm đảm bảo chất lượng Ngoài ra, nhóm nghiên cứu nhận thấy với những người tin chắc rằng sản phẩm tươi, sống mà họ đang dùng thì thường có thu nhập cao > 7 triệu đồng/1 tháng và địa chỉ mua rau và thực phẩm gia súc là từ các cửa hàng rau sạch hoặc siêu thị, với mức giá cao hơn thị trường Những người còn đang đắn đo, phân vân về chất lượng sản phẩm thì thường là đối tượng sinh viên, học sinh và những người có thu nhập thấp và địa điểm họ mua thực phẩm tươi sống là chợ hoặc người bán rong Còn riêng với sinh viên không sống ngoài, khi ở trong kí túc xá tại các trường Đại học thì thường ăn bên ngoài tại căng tin hay quán ăn bên đường Do vậy, họ không thể dám chắc về chất lượng sản phẩm mà họ tiêu dùng 57

2.5 Một số hậu quả để lại từ thực phẩm tươi sống “không sạch” 58

Bảng 2.8 Thống kế số vụ ngộ độc thực phẩm giai đoạn 2002 – 2011 59

Bảng 2.9: Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của người tiêu dùng 59

Bảng 2.10: Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của nhà sản xuất 60

Bảng 2.11: Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của người kinh doanh 60

CHƯƠNG 3 64

MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC TRONG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH CÁC MẶT HÀNG THỰC PHẨM TƯƠI, SỐNG 64

Trang 8

TẠI HÀ NỘI 64 3.1 Chỉ đạo của Chính phủ 64

b Các mục tiêu cụ thể 64

3.2 Một số giải pháp nhằm xây dựng đạo đức trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm tươi sống 73 3.2.1 Đối với nhà sản xuất 73 3.2.2 Trong khâu tiêu thụ thực phẩm 77

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam cũng ngày càng được cải thiện, điều này thể hiện ở chất lượng bữa ăn hằng ngày, dịch vụ chăm sóc y tế, giáo dục… Tuy nhiên, có một thực tế nảy sinh đó là vấn đề “đầu độc hóa con người” chạy theo lợi nhuận của một số cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh

Vấn đề này được chứng minh qua hàng loạt vụ ngộ độc thực phẩm, với những lời cảnh báo của giới truyền thông cùng với các cơ quan chức năng về thực phẩm giả, thực phẩm nhiễm độc, thực phẩm thối… Không ngoại trừ một mặt hàng nào, thực phẩm tươi sống cũng nằm trong danh sách báo động về vấn đề “đầu độc hóa con người” chạy theo lợi nhuận Điều này có cảnh hưởng

vô cùng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của mỗi người dân bởi thực phẩm nói chung và thực phẩm tươi sống nói riêng là những loại thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của người dân Việt Tại các khu đô thị lớn, nơi tập trung đông dân cư thì việc quản lý VSATTP và Đạo đức kinh doanh trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết

Mặc dù thực trạng này đã diễn ra trong thời gian dài và các cơ quan chức năng cũng có những quy định, giải quyết nhưng lại chưa được đề cập đến nhiều trong các công trình nghiên cứu Trong khi đó tìm hiểu kỹ về vấn

đề này sẽ giúp mọi người có cái nhìn chân thực hơn về vấn đề đạo đức của các chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng thực phẩm tươi sống

Với tất cả những lý do trên, nhóm chúng em lựa chọn đề tài nghiên

cứu: “Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống tại Hà Nội hiện nay” với mong muốn cung cấp cho mọi

người một cái nhìn khái quát nhất về thị trường thực phẩm tươi sống Hà Nội cũng như những nguy cơ tiềm ẩn từ bài toán lợi nhuận trong kinh doanh các

Trang 10

mặt hàng thực phẩm này Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức kinh doanh của các đối tượng liên quan.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tập trung phân tích, đánh giá thực trạng về Đạo đức kinh doanh trong việc tiêu dùng sản phẩm tươi sống cũng như giải pháp của các bên liên quan Qua đó, nhóm cũng đề xuất những kiến nghị nhằm giải quyết vấn đề này

3 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề đạo đức kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình sản xuất, tiêu thụ các mặt hàng tiêu dùng

mà tập trung nhất là mặt hàng thực phẩm tươi sống

- Phạm vi nghiên cứu: Nhóm tập trung nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội, đây là địa bàn tập trung đông dân cư và vấn đề vi phạm đạo đức kinh doanh trong mặt hàng tiêu dùng là rõ rệt nhất

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp thống kê toán học

5 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được chia làm 3 chương như sau:

Chương 1: Lý luận chung về Đạo đức kinh doanh

Chương 2: Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm tươi sống tại địa bàn Hà Nội hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp xây dựng đạo đức trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm tươi sống.

Trang 11

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH

1.1 Lý luận chung về Đạo đức

1.1.1 Khái niệm Đạo đức

Đạo đức là một phạm trù rất rộng đề cập tới con người và các quy tắc ứng xử trong mối quan hệ giữa con người với con người trong các hoạt động sống Tùy theo đặc điểm, kinh tế - chính trị - xã hội mà có những quan điểm khác nhau về Đạo đức Từ lâu, con người đã nghiên cứu về vấn đề đạo đức và

có những quan điểm riêng về đạo đức Theo Khổng tử: Đạo đức là cách sống làm sao đúng “luân thường” Còn Lão tử thì cho rằng Đạo đức là việc tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi người Ngoài ra, nhiều người cho rằng Đạo đức chính là Đức hạnh – là phẩm hạnh vốn có của con người Với những quan điểm Duy tâm thì Đạo đức là do một năng lực siêu nhiên tạo

ra, một đấng tối cao dành cho mỗi người và bản thân con người không thể điều khiển được

Từ góc độ khoa học, “đạo đức là một bộ môn khoa học nghiên cứu về bản chất tự nhiên của cái đúng – cái sai và sự phân biệt khi lựa chọn giữa cái đúng – cái sai, triết lý cái đúng – cái sai, quy tắc hay chuẩn mực chi phối hành

vi của các thành viên của một nghề nghiệp”, [Từ điển điện tử American Heritage Dictionary] Là môn khoa học nghiên cứu về hành vi và cách ứng

xử trong mối quan hệ con người, đạo đức trở thành môn học có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc thiết lập, xây dựng và phát triển mối quan hệ con người trong xã hội

Đạo đức là sự nghiên cứu về bản chất và nền tảng của đạo lý trong mối quan hệ con người trong đó đạo lý được hiểu là sự công bằng, chuẩn mực và quy tắc ứng xử 1

Mặc dù, Đạo đức được hiểu dưới nhiều yếu tố khác nhau nhưng thống nhất chung “Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng

1 Trích dẫn Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty (Trang 16)

Trang 12

lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội.”1

1.1.2 Đặc điểm của Đạo đức

-Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của

dư luận xã hội Dựa vào định nghĩa và những quan điểm của từng tầng lớp chính trị xã hội đạo đức chính là cơ sở điều chỉnh hành vi của con người 2

- Đạo đức là một phạm trù lịch sử, tại mỗi thời điểm lịch sử, tại mỗi nền kinh tế - chính trị khác nhau thì đạo đức được hiểu khác nhau Trong xã hội

có giai cấp thì có đạo đức của giai cấp bóc lột, đạo đức giai cấp bị bóc lột Các quan điểm của mỗi giai cấp thì thường bảo vệ giai cấp mình Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn, và việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn

- Phân loại Đạo đức: Việc phân loại Đạo đức thường rất khó thực hiện bởi luôn có sự chồng lẫn với mỗi mối quan hệ Một người trong gia đình có thể giữ nhiều vai trò như là chồng/ vợ, ông/ bà, cha/mẹ, con, anh/chị, … nhưng ngoài xã hội thì lại giữ địa vị khác như là giám đốc một công ty, công nhân, bác sĩ và ở mỗi địa vị đó thì mối quan hệ nảy sinh lại khác nhau và đạo đức lại biểu hiện khác nhau Chính vì thế, dựa vào đặc điểm đó, theo quan điểm của cá nhân thì đạo đức được chia thành theo chủ thể hoặc theo mối quan hệ kinh tế - chính trị

 Theo mối quan hệ của chủ thể là con người: Trong gia đình có đạo đức hôn nhân, đạo đức của con cái với cha mẹ quy định cái đạo làm con với cha mẹ, đạo đức vợ chồng, đạo đức của cha mẹ với con cái, đạo đức anh chị

em Trong mối quan hệ với người xung quanh thì cũng có đạo đức trong việc

1 Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

2 Học viện chính trị Quốc gia Giáo trình đạo đức học Hà Nội-nxb Chính trị Quốc gia, 2000, trang 816

Trang 13

đối nhân xử thế Như vậy, đạo đức mang bản chất xã hội, được quy định, đánh giá bởi dư luận xã hội, của những người xung quanh.

 Xét trong từng lĩnh vực kinh tế - chính trị thì bao gồm đạo đức kinh tế

và đạo đức chính trị Nhìn chung không có một tiêu chí nào có thể phân loại rạch ròi từng loại bởi có sự đan xen trong từng loại cũng như từng cách phân loại Việc phân loại nhằm cho thấy đạo đức kinh doanh là một thành tố, một khía cạnh biểu hiện của Đạo đức

1.1.3 Vai trò của Đạo đức

- Điều chỉnh hành vi của con người Dựa vào những khái niệm và đặc điểm của đạo đức ta có thể nhận thấy cái chung nhất đó là đạo đức được xây dựng trên mối quan hệ giữa người với các chủ thể xung quanh và được kiểm tra, giám sát bởi những chủ thể khác

- Là cơ sở được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho cá nhân và cộng đồng cùng tồn tại và phát triển Nếu dựa trên đạo đức, mâu thuẫn sẽ luôn được giải quyết một cách êm đẹp, hòa thuận và không gây thiệt hại cho đối phương Từ đó hướng tới mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững

- Đạo đức càng trở nên đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng và phát triển mối quan hệ trong các hoạt động kinh doanh khi phạm vi và tính chất mối quan hệ của một cá nhân, tập thể trở nên đa dạng và phức tạp hơn do sự xuất hiện của những nhân tố mới, đa dạng về quan điểm, động cơ, mục đích

và hành vi

1.2 Đạo đức kinh doanh

1.2.1 Khái niệm đạo đức kinh doanh

1.2.1.1 Khái niệm đạo đức kinh doanh

Khái niệm đạo đức kinh doanh đã có nền móng tự hàng nghìn năm trước Người được coi là khởi nguồn cho ĐĐKD chính là Aristotle – tác giả

đã đưa ra những luận điểm có thể coi là cơ sở của đạo đức kinh doanh thời hiện đại Giáo sư James O'Toole của trường Đại học Tổng hợp Nam California cho rằng chính triết gia thời Hy Lạp cổ đại này là người thực tế

Trang 14

nhất và có "tâm hồn doanh nhân" nhất trong lịch sử triết học của loài người

Trong nền kinh tế hiện nay, đạo đức kinh doanh được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Đối với việc bán hàng và quảng cáo thương hiệu, các nhà Doanh nhân nhận định Đạo đức kinh doanh là hành vi đầu tư vào tương lai Khi doanh nghiệp tạo tiếng tốt sẽ lôi kéo khách hàng Và đạo đức xây dựng trên cơ sở khơi dậy nét đẹp tiềm ẩn trong mỗi con người luôn được thị trường ủng hộ

Còn với Giáo sư tiến sĩ Koenraad Tommissen, người đã có kinh nghiệm trên 30 năm điều hành, giảng dạy môn Tư vấn quản trị của chương trình Thạc

Sĩ quản trị kinh doanh MBA của United Business Institutes - UBI (Bỉ) và tư vấn cho các tập đoàn nổi tiếng châu Âu và là Giám đốc công ty ESN tại Bruxen, Giám đốc công ty tư vấn APSIS tại La Hulpe, chủ phòng tranh OPSIS, cho biết: “Đạo đức trong kinh doanh là vấn đề nền tảng của mọi giá trị, là phần không thể tách rời của mọi hoạt động, là kim chỉ nam, là yếu tố cơ bản tạo ra danh tiếng cho một công ty Đạo đức là nền tảng của sự thành công

và phát triển bền vững Ông nhấn mạnh: đạo đức được đặt ra và thể hiện khi

có sự tương tác với các đối tác, qua cách cư xử với khách hàng, cơ quan chính quyền, báo chí… Có những doanh nghiệp công bố rất nhiều các chuẩn mực về đạo đức, nhưng nhân viên không biết hoặc không nhớ, điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh công ty”

Tổng quát nhất, theo TS.Đỗ Thị Phi Hoài, đạo đức kinh doanh được

định nghĩa là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi điều chỉnh của chủ thể kinh doanh 1

Dù nói như thế nào thì đạo đức kinh doanh chính là những cái gốc, là nền tảng để hình thành lên các tiêu chuẩn đánh giá, từ đó doanh nghiệp có thể tìm thấy những hạn chế để điều chính tới mức hoàn thiện hơn

1.2.1.2 Đối tượng điều chỉnh và phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh

a Đối tượng điều chỉnh của đạo đức kinh doanh là chủ thể hoạt động

1 Trang 163, Văn hóa Doanh Nghiệp – TS.Đỗ Thị Phi Hoài, Học viện Tài Chính, 2009

Trang 15

- Khách hàng của doanh nhân: Khi là người mua hàng thì hành động cuả

họ đều xuất phát từ lợi ích kinh tế của bản thân, đều có tâm lý muốn mua rẻ

và được phục vụ chu đáo Tâm lý này không khác tâm lý thích "mua rẻ, bán đắt" của giới doanh nhân, do vậy cũng cần phải có sự định hướng của đạo đức kinh doanh Tránh tình trạng khách hàng lợi dụng vị thế "Thượng đế" để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của doanh nhân, làm xói mòn các chuẩn mực đạo đức Khẩu hiệu "Bán cái thị trường cần chứ không phải bán cái mình có" chưa hẳn đúng!!

b Phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh

Đó là tất cả những thể chế xã hội, những tổ chức, những người liên quan, tác động đến hoạt động kinh doanh: thể chế chính trị, chính phủ, công đoàn, nhà cung ứng, khách hàng, cổ đông, chủ doanh nghiệp, người làm công,…

1.2.2 Vai trò của đạo đức kinh doanh

Dựa vào khái niệm về đạo đức kinh doanh ta có thể thấy những vai trò nhất định ảnh hưởng tới văn hóa của doanh nghiệp

1.2.2.1 Đạo đức kinh doanh có thể điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh

ĐĐKD bổ sung và kết hợp với pháp lý điều chỉnh các hành vi kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật và quỹ đạo của các chuẩn mực xã hội Đạo đức kinh doanh là cái đi xa hơn và cao hơn những vấn đề liên quan tới nghĩa

Trang 16

vụ pháp lý cũng như sự lương thiện – vốn chỉ là những điều tối thiểu Những hành vi như trốn thuế, lừa đảo, làm ăn gian dối… không thuộc đối tượng tư duy của đạo đức học kinh doanh, vì đấy chỉ là những hành vi bất lương thuộc phạm vi kiểm soát và xử lý của luật pháp Một cách tổng quát, đạo đức kinh doanh là sự suy nghĩ hướng đến cái thiện trong các hoạt động thực tiễn kinh doanh

Câu ngạn ngữ của Ấn Độ “gieo tư tưởng gặt hành vi, gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói quen gặt tư cách, gieo tư cách gặt số phận”1 xét trong lĩnh vực kinh doanh muốn nhấn mạnh tới số phận của một DN đôi khi không phải quyết định bởi bản thân các sản phẩm – dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng

mà chủ yếu bởi nguyên nhân sâu xa là tư tưởng, triết lý kinh doanh của DN

Mà triết lý kinh doanh hay tư tưởng của DN thường được biểu hiện ra bên ngoài bằng từng hành vi của từng chủ thể trong DN đó

1.2.2.2 Đạo đức kinh doanh góp phần vào chất lượng của doanh nghiệp

Thông thường khi nhắc tới chất lượng của DN, mọi người sẽ nghĩ ngay tới chất lượng sản phẩm của DN Nhưng đó không phải là tất cả với một DN Chất lượng của DN được thể hiện ở hiệu quả làm việc, sự lãnh đạo của bộ máy quản trị, sự tận tâm của nhân viên với công việc, sự trung thành của khách hàng và lợi ích về kinh tế lớn hơn, … Nếu một DN được đánh giá là có chất lượng tốt thì những nhân tố ở phía trên đều đạt được những thành tích cao ĐĐKD sẽ góp phần giúp cho DN đạt được những yếu tố trên từ đó góp phần làm nên chất lượng của DN

1.2.2.3 Đạo đức kinh doanh làm gia tăng sự cam kết và tận tâm của nhân viên

Sự cam kết, tận tâm của nhân viên xuất phát từ việc các nhân viên tin rằng tương lai của họ gắn liền với tương lai của DN và chính vì thế họ hi sinh

cá nhân mình vào lợi ích của DN Đạo đức trong môi trường nhân viên thể hiện ở chế độ đãi ngộ hợp lý, phù hợp với năng lực của nhân viên, được đảm bảo những điều kiện an toàn trong lao động Trong một DN, nếu nhận được

1 Trang 175, Văn hóa Doanh Nghiệp – TS.Đỗ Thị Phi Hoài, NXB Tài Chính 2009

Trang 17

sự ủng hộ từ phía người lao động thì công việc của DN sẽ đạt hiệu quả cao hơn thể hiện ở năng suất và chất lượng của từng công việc Từ đó thấy được vấn đề môi trường kinh doanh có đạo đức sẽ là yếu tố không nhỏ tạo nên sự trung thành của nhân viên trong DN.

1.2.2.4 Đạo đức kinh doanh góp phần làm hài lòng khách hàng

Một trong những tiêu chí khi các DN kinh doanh là làm gia tăng mức

độ hài lòng với khách hàng Mức độ hài lòng được thể hiện ở việc thỏa mãn những nhu cầu mà họ đặt ra Với một DN có đạo đức kinh doanh tốt thể hiện

ở việc khách hàng của họ cảm thấy được chăm sóc tốt hơn bằng các chính sách chăm sóc khách hàng, chế độ đãi ngộ Từ đó, khách hàng muốn dùng tiếp mặt hàng của DN hoặc thậm chí có thể giới thiệu với người xung quanh mua sản phẩm của DN Từ đó, DN có thể tăng doanh thu, tăng lợi nhuận thu được Ngược lại, với DN có ĐĐKD không tốt thì xu hướng tất yếu là DN sẽ

dễ bị thị trường “tẩy chay” Cuộc sống càng phát triển, nhu cầu đòi hỏi của người dân càng tăng cao, chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để tạo lòng tin với khách hàng càng lớn “Một lần bất tín, vạn lần bất tin”, xây dựng thương hiệu trong lòng khách hàng đã khó, giữ gìn và phát triển nó lại càng khó hơn Do vậy, hơn bao giờ hết, vai trò của ĐĐKD càng được thể hiện rõ hơn

1.2.2.5 Đạo đức kinh doanh góp phần tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

Theo một công trình nghiên cứu của 2 vị Giáo sư là John Kotter và James Heskett ở trường Đào tạo quản lý kinh tế thuộc Harvard, tác giả cuốn sách “Văn hóa công ty và chỉ số hoạt động hữu ích”, đã nghiên cứu kết quả khác nhau ở các công ty với truyền thống khác nhau Công trình nghiên cứu của họ cho thấy, trong vòng 11 năm, những công ty "đạo đức cao" đã nâng được thu nhập của mình lên tới 682% (trong khi những công ty đối thủ thường thường bậc trung về chuẩn mực đạo đức chỉ đạt được 36%) Giá trị cổ phiếu của những công ty "đạo đức cao" trên thị trường chứng khoán tăng tới 901% (còn ở các đối thủ "kém tắm" hơn, chỉ số này chỉ là 74%) Lãi ròng của các công ty "đạo đức cao" ở Mỹ trong 11 năm đã tăng tới 756% (1%)1

1 Trang 183, Văn hóa Doanh Nghiệp – TS.Đỗ Thị Phi Hoài, NXB Tài Chính, 2009

Trang 18

1.2.2.6 Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự vững mạnh của nền kinh

Như vậy, ĐĐKD có một vai trò vô cùng quan trọng tác động tới mọi mặt kinh tế của một DN Vai trò của ĐĐKD trong doanh nghiệp thể hiện xuyên suốt trong từng giai đoạn của nền kinh tế Từng vai trò có tác động lẫn nhau Cụ thể: Đạo đức kinh doanh tốt sẽ điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh, biểu hiện qua chất lượng sản phẩm được kiểm tra thường xuyên trước khi tung ra thị trường Chất lượng sản phẩm tốt và hình ảnh một nhà quản trị luôn biết quan tâm tới xã hội sẽ tạo nên được lòng tin mà khách hàng dành cho từ đó làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp và doanh thu tăng thì sẽ tạo công ăn việc làm cho người lao động và tham gia các hoạt động từ thiện, phát triển xã hội Từ những hoạt động thể hiện đạo đức kinh doanh tốt sẽ xây dựng một lòng tin ở người lao động từ đó có thể cống hiến hết mình Doanh nghiệp phát triển làm cho tăng nguồn thu cho nhà nước cũng như góp phần giảm bớt gánh nặng xã hội từ đó nền kinh tế quốc gia được cải thiện Như vậy, đạo đức kinh doanh theo hướng tốt không những ảnh hưởng tới chỉ một doanh nghiệp đó mà còn ảnh hưởng tới các đối tượng liên quan và suy rộng ra tác động tới nền kinh tế Thông qua đó ta

có thể nhận thấy tầm giá trị to lớn mà đạo đức kinh doanh mang lại

1.2.3 Mâu thuẫn giữa Đạo đức và Kinh doanh

Nếu như Đạo đức được hiểu theo nhiều quan điểm nhưng thống nhất đặc

Trang 19

điểm chung là việc điều chỉnh hành vi của con người trong đời sống xã hội, là biểu hiện hành vi, cư xử giữa con người với con người thì Kinh doanh hay hoạt động Kinh doanh được hiểu là : "Việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi"1 Hoạt động kinh doanh trong một số trường hợp được hiểu như hoạt động thương mại, đó là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.2

Hai yếu tố này trong nội tại luôn nảy sinh mâu thuẫn Một doanh nghiệp hay một chủ thể kinh doanh muốn tồn tại và phát triển thì phải có nhiều lợi nhuận Mà để giảm lợi nhuận thì buộc phải giảm chi phí Chi phí được biểu hiện bằng việc mua nguyên liệu đầu vào với mức giá thấp thậm chí là pha trộn chất hóa học độc hại, … Người kinh doanh muốn tăng lương cho lao động thì chi phí sẽ tăng Nhà nước muốn Doanh nghiệp bảo vệ môi trường trong sản xuất, thì chi phí bảo vệ môi trường lại chiếm một khoản chi phí không nhỏ trong tổng chi phí của Doanh nghiệp Người tiêu dùng muốn mua một sản phẩm rẻ và chất lượng trong khi đó các sản phẩm mà tuân thủ chất lượng, chi phí trong Đạo đức thì mức giá rất cao Có thể thấy, mọi mâu thuẫn đều xảy ra xung quanh quá trình kinh doanh tác động trực tiếp tới chi phí và lợi nhuận Những mâu thuẫn buộc nhà kinh doanh phải có những sự đánh đổi lợi ích từ đó dẫn đến những hành vi vi phạm ĐĐKD

1.2.4 Nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức kinh doanh

Vì luôn có mâu thuẫn giữa đạo đức và kinh doanh nên cần phải có một chuẩn mực quy định hành vi của các chủ thể trong hoạt động kinh doanh đây gần được coi như là một “chế tài” về ĐĐKD Nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức kinh doanh thể hiện ở:

1 Theo khoản 2 , Điều 4 Luật Doanh Nghiệp 2005

2 Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005

Trang 20

 Tính trung thực: Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời Giữ lời hứa, giữ chữ tín trong kinh doanh Nhất quán trong nói và làm Trung thực trong chấp hành luật pháp của nhà nước, không làm ăn phi pháp như trốn thuế, lậu thuế, không sản xuất và buôn bán những mặt hàng quốc cấm, thực hiện những dịch vụ có hại cho thuần phong mỹ tục Trung thực trong giao tiếp với bạn hàng (giao dịch, đàm phán, ký kết) và người tiêu dùng: Không làm hàng giả, khuyến mại giả, quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, phá giá theo lối ăn cướp Trung thực ngay với bản thân, không hối lộ, tham ô, thụt két, "chiếm công vi tư"

 Tôn trọng con người:

- Bên trong doanh nghiệp

Đối với những người cộng sự và dưới quyền, tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm năng phát triển của nhân viên, quan tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác

- Bên ngoài doanh nghiệp

 Với khách hàng: Tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng;

 Với đối tác: Trở thành bạn hàng uy tín, trách nhiệm, hiệu quả Hợp tác phát triển, hai bên cùng có lợi;

 Với đối thủ cạnh tranh: Cạnh tranh công bằng, tôn trọng đối thủ cạnh tranh

 Gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội: Doanh nghiệp đặt ra mục tiêu là thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Coi khách hàng và xã hội là trung tâm để DN phục vụ Lợi ích của DN có được từ lợi ích của xã hội và lợi ích của NTD được thỏa mãn

 Coi trọng hiệu quả gắn với trách nhiệm xã hội: Làm hài hòa lợi ích của cộng đồng và lợi ích của DN bằng hình thức tham gia vào các chương trình phúc lợi xã hội

Trang 21

 Bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt: Bảo mật với các thông tin về kinh nghiệm sản xuất, phát minh, sáng chế của DN Với những

DN giữ trọng trách quan trọng trong hệ thống kinh tế, cơ quan quốc gia vấn

đề bảo mật càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết

Rõ ràng hơn, những yêu cầu chuẩn mực của đạo đức kinh doanh được thể hiện thông qua những yêu cầu trong hành vi cư xử của doanh nghiệp

- Tuân thủ pháp luật và kinh doanh: Nghĩa vụ nộp các khoản thuế, bảo hiểm trợ cấp xã hội cho người dân Không vi phạm các hành vi mà Nhà nước cấm như buôn lậu, trốn thuế, …

- Cạnh tranh hợp pháp: Tránh tình trạng hành vi gian dối để thâu tóm doanh nghiệp, cạnh tranh trên cơ sở những chính sách phù hợp, công bằng, hiệu quả, … Cạnh tranh để cùng tồn tại và phát triển

- Bảo vệ quyền lợi của người sản xuất, tiêu dùng: Với người sản xuất, thực hiện đúng hợp đồng, không dùng hình thức chèn giá, ép giá trong thu mua nguyên liệu đầu vào Giải đáp mọi thắc mắc, phản ánh của NTD, quyền lợi của NTD được thể hiện bằng việc được sử dụng các sản phẩm sạch, đảm bảo chất lượng

- Thực hiện khai báo kinh doanh: Cuối kỳ kinh doanh, DN thực hiện theo quy định pháp luật khai báo doanh thu, chi phí cho tổng cục thuế và nộp thuế đầy đủ

- Tôn trọng hợp đồng đã kí: Hợp đồng là một bản cam kết giữa một bên mua và bên bán trong trao đổi hoặc là hợp đồng lao động Thực hiện đúng cam kết ghi trên hợp đồng là một trong những yêu cầu thể hiện việc tôn trọng hợp đồng đã ký

- Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên: Vấn đề môi trường càng trở nên quan trọng Với những ngành kinh doanh có chứa phế phẩm, rác thải nhiều thì cần có một quy trình xử lý phù hợp, hiệu quả

- Thực hiện trợ cấp lao động trong doanh nghiệp: Đạo đức kinh doanh trong DN, thể hiện những đãi ngộ giữa người quản lý với nhân viên của mình trong DN

- Tham gia cứu trợ xã hội: đây là hành vi thể hiện tính nhân văn trong

Trang 22

DN, DN có thể phát động phong trào trong DN để tăng tính tương thân tương

ái với cộng đồng Tạo nên thương hiệu tốt cho DN

Chuẩn mực đạo đức của một doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đó là việc tuân thủ pháp luật kinh doanh Việc tuân thủ pháp luật kinh doanh đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã tự giải quyết cho mình những chuẩn mực khác

1.3 Khái luận về thực phẩm tươi sống

1.3.1 Khái niệm thực phẩm tươi sống

doanh thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển, buôn bán thực phẩm1

- Nhưng nếu xét với loại thực phẩm tươi sống thì không bao gồm quá trình chế biến sản phẩm Điều này được định nghĩa rõ hơn trong luật An toàn

thực phẩm năm 2010 (Luật số 55/2010 QH12): “Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thuỷ hải sản, rau,

củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến 2 ”

1.3.2 Đặc điểm, vai trò của thực phẩm tươi sống

1.3.2.1 Đặc điểm cơ bản của thực phẩm tươi sống

- Đặc điểm chủ yếu của thực phẩm tươi

sống là chưa qua chế biến;

- Giữ nguyên những đặc tính tự nhiên

1 Theo khoản 3, điều 3 (Pháp lệnh số 12/2003/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội : Về vệ sinh

an toàn thực phẩm)

2 Khoản 21, Điều 2 Luật An toàn thực phẩm 2010

Trang 23

của nó, khi chúng được sơ chế hay trong quá trình lưu kho hoặc vận chuyển

sẽ mất dần lượng vitamin với rau quả, và diễn ra quá trình phân hủy

- Cung cấp cho cơ thể những vitamin thiết yếu và các enzyme mà khi nấu ở nhiệt độ cao nó sẽ bị tiêu hủy

1.3.2.2 Vai trò của thực phẩm tươi sống

- Thực phẩm tươi sống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống con người bởi nó là loại thực phẩm cần thiết làm thỏa mãn nhu cầu sinh lý cho mỗi cá nhân

- Thực phẩm tươi sống bổ sung các

chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất

cần thiết cho cơ thể phát triển bình

thường Dựa vào tháp cân đối dinh dưỡng,

ta dễ dàng nhận ra thực phẩm tươi, sống

như thịt, rau, hoa quả chiếm tỷ lệ lớn trong

hệ thống của tháp Trong các sản phẩm

hoa quả cung cấp cho con người nhiều

vitamin cần thiết như Vitamin C, E, A,

B1, … những Vitamin có vai trò quan

trọng trong cơ thể, làm tăng khả năng hấp

thụ chất dinh dưỡng, bổ mắt thì có vitamin

E, vitamin D chống còi xương, … Trong

khi đó các sản phẩm từ thịt, cá lại cung

cấp một lượng lớn protein cho cơ thể,

giải phóng năng lượng Giúp cho việc

vận động được dễ dàng

- Giúp cơ thể tăng cường khả năng

miễn dịch, phòng chống bệnh tật

- Thực phẩm tươi sống là phương

thuốc thần kì cho nhan sắc: Thực phẩm

tươi giúp cơ thể sẽ được tăng cường năng

lượng, giải phóng được chất độc tồn tại

Trang 24

trong cơ thể và tất nhiên số lượng cân nặng cũng sẽ giảm đi đáng kể Trong số

đó có 7 loại Vitamin có chức năng chống lão hóa, giảm cân có trong các loại rau, thịt, quả như Vitamin C có trong cam, bưởi, chanh, …Trong bơ có Vitamin E, …

- Duy trì sự tồn tại và phát triển của con người

1.4.Khái niệm người sản xuất, người bán hàng và người tiêu dùng

1.4.1 Người sản xuất

Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?,sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?.1

Các đối tượng liên quan tới sản xuất: là tư liệu sản xuất, người lao động (người sản xuất), người quản lý Theo đó, người sản xuất là người sử dụng những tư liệu sản xuất (nguyên vật liệu đầu vào, khoa học công nghệ …) nhằm tạo ra sản phẩm Sản phẩm này có thể được tiêu dùng ngay hoặc là nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất tiếp theo

Đặc điểm người sản xuất:

• Người sản xuất là người trực tiếp tạo ra sản phẩm bằng việc tác động vào các tư liệu sản xuất

• Người sản xuất có thể là người sở hữu tư liệu sản xuất (trực tiếp sản xuất kinh doanh, chủ doanh nghiệp) hoặc không (người làm thuê, công nhân)

1.4.2 Người bán hàng

* Định nghĩa: Người bán hàng là một mắt xích quan trọng trong quá trình kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận thong qua hành vi, cử chỉ, thái độ ứng xử, khả năng giao tiếp với khách hàng để tác động đến hành vi mua hàng của khách hàng.2

1 Từ điển bách khoa Wikipedia

2 Thái Trí Dũng, Tâm lý học quản trị kinh doanh, NXB Thống Kê

Trang 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC TRONG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH THỰC PHẨM TƯƠI SỐNG

2.1 Thực trạng đạo đức kinh doanh trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm tươi, sống tại Hà Nội

Hà Nội – Trung tâm Văn hóa, Kinh tế, Chính trị của Việt Nam, đây cũng là nơi tập trung đông dân cư với nhiều đối tượng, thành phần lao động khác nhau và mức thu nhập khác nhau

Theo ước tính của tổng cục thống kê, dân số toàn thành phố đến tháng 12 năm

2011 là 6763,1 nghìn người tăng 2,2% so với năm 2010, trong đó dân số thành thị là 2905,4 ngàn người chiếm 43,5% tổng số dân của Hà Nội; dân số nông thôn là 3857,7 nghìn người Về thu nhập, ước tính thu nhập bình quân của người dân Hà Nội hiện nay khoảng 2000 USD trong khi thu nhập bình quân của người Việt Nam ở mức 1.300 USD.1

- Chỉ số giá tiêu dùng CPI trong thời gian qua luôn tăng Cụ thể, CPI tháng 2 vượt qua mức 1% của tháng 1 và đạt 1,45% hình thành xu thế tăng trong 4 tháng liên tiếp vừa qua Nguyên nhân một phần do giá các loại thực phấm tăng mạnh lên tới 3% so với tháng trước Điều đó chứng tỏ, mức độ tăng lên của giá cả các loại thực phẩm trong đó nổi bật nhất là mặt hàng tươi sống cũng có những ảnh hưởng tới chỉ số giá tiêu dùng của Hà Nội

1 Nguồn Tổng cục thống kê

Trang 27

Biểu đồ 2.1 Chỉ số giá tiêu dùng 3/2011 – 3/2012

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Từ những con số này ta có thể thấy được phần nào về mức độ tiêu dùng của người dân Hà Thành Đặc biệt, với mặt hàng tươi sống, theo số liệu của

sở Công thương Hà Nội thì mỗi tháng, Hà Nội tiêu thụ khoảng 90.000 tấn rau

củ quả, thịt lợn 1.350 tấn; thịt gà, vịt 500 tấn; trứng gia cầm 8 triệu quả…với mức độ tiêu thụ này thì vấn đề đạo đức trong sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm tươi sống có vai trò vô cùng quan trọng.1

Nhìn chung, khi thực hiện kế hoạch KTXH năm năm 2011-2015, kinh

tế Hà Nội vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Tổng sản phẩm nội địa (GRDP) tăng 10,1%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 12,2%, tổng mức bán lẻ tăng 23,7%, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng 27,1%, tổng vốn đầu tư xã hội tăng 13,5%; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững

2.2 Thực trạng vấn đề đạo đức trong sản xuất và kinh doanh thực

1 Số liệu của Sở Công Thương Hà Nội

Trang 28

phẩm tươi, sống tại Hà Nội

Sản xuất và tiêu thụ là hai quá trình luân chuyển trong kinh doanh thuộc quy trình kinh doanh một sản phẩm Sản xuất là quá trình tạo ra các sản phẩm Tiêu thụ là quá trình phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng Trong

đó, quá trình tiêu thụ được coi là quá trình “gian truân, vất vả” cũng như đầy thăng trầm nhất của VSATTP Con đường từ tay người sản xuất tới người tiêu dùng nhanh hay ngắn, đắt hay rẻ đều phụ thuộc vào việc có bao nhiêu người trung gian buôn bán Thông thường quá trình tiêu thụ có thể bao gồm 2 hình thức: Một là, trực tiếp từ nơi sản xuất tới tay NTD, có nghĩa là người sản xuất đồng thời là người bán hàng Hai là, trong quá trình tiêu thụ sẽ qua các trung gian là người bán buôn, mua đi bán lại

Kinh doanh bất kì một sản phẩm nào cũng vậy, đạo đức kinh doanh luôn đóng một vai trò quan trọng như nhóm nghiên cứu phân tích ở các nội dung trước Đối với mặt hàng tươi sống lại càng quan trọng hơn vì nó tác động trực tiếp tới sức khỏe con người Đạo đức kinh doanh trong lĩnh vực này thể hiện trước hết ở việc đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Trong Luật An toàn thực phẩm đã chỉ rõ:

“An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người.”1 Hay, “Vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người.”2…

Do đó, nhóm nghiên cứu sẽ tập trung khai thác nhiều hơn khía cạnh này

2.2.1 Với mặt hàng rau xanh

Sở Công Thương Hà Nội cho biết, tính bình quân mỗi ngày người dân

Hà Nội tiêu thụ bình quân khoảng 3600 tấn rau xanh mà nguồn cung chủ yếu (chiếm 60%) là các vựa rau ven đô như: Thường Tín, Hoài Đức, Thanh Trì tuy nhiên, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm từ khâu trồng trọt đến khâu tiêu thụ ở đây lại không được đảm bảo Cụ thể:

a Trong sản xuất:

1 Trích luật an toàn thực phẩm năm 2010

2 Trích pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm số: 12/2003/PL-UBTVQH11

Trang 29

Theo thông tin từ các phương tiện truyền thông ví dụ như trang VnExpress.net, dantri.com.vn,

phapluatxahoi.vn, … thời gian

qua cho thấy một thực trạng các

làng rau ven đô hiện nay đang

trồng rau bằng nguồn nước ô

nhiễm từ những con sông như

sông Tô Lịch, sông Nhuệ, các

cống thoát nước từ nước thải

sinh hoạt của hộ dân… Nguồn

nước này vốn không chỉ bị ô

nhiễm vi sinh vật mà còn bị

nhiễm kim loại nặng, đặc biệt

người trồng rau còn dùng luôn

cả phân tươi bón trực tiếp vào

gốc rau Không chỉ thế, tình

trạng lạm dụng thuốc bảo vệ

thực vật cũng diễn ra phổ biến

điều này có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe người tiêu dùng

Theo điều tra, khảo sát của các nhà khoa học Việt Nam và Đan Mach năm 2007 về nước tưới rau và nuôi cá ven đô Hà Nội cho kết quả như sau: tất

cả các mẫu điều tra đều chứa vi khuẩn do nhiễm phân E.coli với mật độ trung bình 10 ngàn đến 100 ngàn khuẩn trong 100 millilit (ml), vượt giới hạn cho phép của WHO là dưới 1 ngàn khuẩn trong 100 ml đối với nước thải dùng trong chăn nuôi và trồng trọt Với trứng giun, thì kết quả khảo sát như sau: ~

10 – 100 trứng trong 1 lít, trong lúc quy định của WHO là không được quá 1trứng trong 1 lít Các xét nghiệm phát hiện nhiều ký sinh trùng và đơn bào thuộc họ ký sinh trùng gây bệnh đường ruột - Cyclospora, Cryptosporidium

và Giardia Đặc biệt, các loại cải xoong, ngổ, cần, tía tô, kinh giới tỷ lệ

Người dân trồng rau ở vùng ven Hà Nội tận dụng triệt

để nguồn nước ô nhiễm từ sông Tô Lịch để tưới rau

Rau muống đựơc thả nuôi trên sông Nhuệ

Trang 30

nhiễm ký sinh trùng, so với các loại rau khác, cao hơn rất nhiều.

Trong một điều tra khác trên các mẫu rau Hà Nội, kết quả phân tích vi sinh vật trên 76 mẫu rau cho thấy: về ô nhiễm vi sinh vật chỉ điểm vệ sinh: 72 mẫu rau nhiễm Coliform vượt mức giới hạn cho phép (chiếm 94,7%) và 40 mẫu rau nhiễm E.Coli vượt quá giới hạn cho phép (chiếm 52,63%); về ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh: 6 mẫu rau nhiễm Salmonella (chiếm 7,89% tổng số mẫu) Tất cả các mẫu đều không phát hiện Vibrio Cholera

Không chỉ tồn tại các vi khuẩn gây bệnh mà rau bẩn Hà Nội còn chứa rất nhiều độc tố công nghiệp độc hai, cùng với đó là lượng thuốc bảo vệ thực vật lưu lại trên rau rất cao điều này có tác đông tiêu cực tới sức khỏe người tiêu dùng

Trước thực trạng này, Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo việc giám sát ô nhiễm sinh học và tồn dư hóa chất trong nông sản thực phẩm trong khuôn khổ Dự án đảm bảo ATVSTP trong sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến nông sản thực phẩm và Dự án xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm do Canada tài trợ đối với một số nông sản chủ lực: rau, quả, chè, thịt lợn, thịt gà Bước đầu các hoạt động này đã được triển khai Từ năm 2009 sẽ trở thành hoạt động thường xuyên để kịp thời phát hiện, cảnh báo và xử lý các trường hợp mất ATVSTP

- Kiểm tra, thanh tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên rau, quả, chè:+ Theo kết quả điều tra VSATTP trên rau, quả tại 04 tỉnh và thành phố (Hà Nội, Tiền Giang, Vĩnh Phúc, thành phố Hồ Chí Minh) trong Quý 3-4/2008 của Dự án Xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm (Bộ NN&PTNT) đi đến kết luận: Trong 154 mẫu rau cải, rau muống có 20 mẫu có

dư lượng thuốc BVTV vượt quá giới hạn cho phép (MRLs), chiếm 13% tổng

số mẫu; trong 60 mẫu nho, cam, táo có 3 mẫu có dư lượng thuốc BVTV vượt quá giới hạn cho phép và không phát hiện dư lượng thuốc BVTV cấm sử dụng edosulfan trong rau, quả

Về ô nhiễm nitrat: phát hiện dư lượng nitrat trên 100% mẫu rau lấy phân tích nhưng không vượt quá giới hạn cho phép

Về dư lượng kim loại nặng: 100% mẫu kiểm tra (trên tổng số 17 mẫu)

Trang 31

có dư lượng đồng (Cu), 02 mẫu có dư lượng chì (Pb), 03 mẫu có dư lượng Asen (As) Không có mẫu nào có dư lượng kim loại nặng vượt quá giới hạn cho phép.

Vậy người sản xuất có biết đến mức độ nguy hiểm của những mớ rau mà họ trồng hay không ?

Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu về mức độ tiêu dùng của người sản xuất với

Nguồn: Nhóm tự điều tra

Khi được hỏi: “Gia đình anh chị có thường xuyên sử dụng loại rau mà anh chị đang trồng mang bán cho NTD không?” Chị N.T.B bán hàng tại khu vực chợ tạm Ngã tư sở cười tủm tỉm và cho biết: “Tôi không bao giờ dám ăn” Với câu hỏi tương tự như vậy thì bác Ng.V.V, một bác nông dân chuyên trồng các loại rau như cải, bí xanh, rau muống … ở Huyện Đông Anh, Hà Nội trả lời rằng: “Tôi có dùng, nhưng phải để riêng một vùng trồng rau cho gia đình” Như vậy, rõ ràng là những người trồng rau phần lớn “rất sợ” ăn rau của

họ vị họ tận mắt được chứng kiến “công nghệ” trồng rau bẩn, và thường những nhà trồng rau có các khu trồng rau riêng sạch sẽ hơn để sử dụng hằng ngày Điều đó chứng tỏ, về cơ bản, người dân trồng rau hoàn toàn có thể nhận biết được tác hại của những việc mình đang làm nhưng vì lợi nhuận, vì cuộc sống mưu sinh họ bất chấp tất cả

Nguy hiểm hơn, có một bộ phận không nhỏ người trồng rau không hề biết đến mức độ nguy hiểm của các loại thuốc kích thích mà hàng ngày họ vẫn sử dụng để tăng năng suất khi thu hoạch các loại rau, củ quả Vĩ không nhận thức rõ được mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người

Trang 32

nếu dùng trong thời gian dài, nên chính họ vui vẻ nói rằng: “Gớm, đúng là lắm chuyện, nhà tôi vẫn ăn đấy, chưa thấy ai chết cả…” (Bác B Th H một người dân trồng rau ở xã Cổ Nhuế cho biết).

Thực trạng này cho thấy, nếu không có biện pháp để giác ngộ, nâng cao

ý thức của người sản xuất rau, củ quả ở các làng ven đô thì sẽ vô cùng nguy hiểm bởi lẽ hàng ngày, hàng giờ, họ vô tình hoặc cố ý tiếp tay làm suy kiệt sức khỏe cho cộng đồng

Bảng 2.2: Khảo sát về địa chỉ mua sắm thường xuyên các mặt

hàng tươi, sống của người tiêu dùng

Nguồn: Nhóm tự điều tra

Trang 33

Biểu đồ 2.2 Khảo sát về địa chỉ mua sắm thường xuyên các mặt hàng tươi, sống của người tiêu dùng –Nguồn: Nhóm tự điều tra

Theo kết quả tổng hợp 2.2, và biểu đồ 2.2 ta có thể thấy: Trong số 300 phiếu điều tra mà nhóm phát ra thì 202 số người được hỏi lựa chọn phương án mua các mặt hàng tươi sống tại các chợ, chiếm 67.3% tổng số lựa chọn Điều

đó cho thấy phong cách mua hàng truyền thống vẫn ăn sâu vào tâm trí của người dân Khi được phỏng vấn về lý do người tiêu dùng thường xuyên mua hàng tại các chợ thì đa số người dân cho rằng các mặt hàng tươi sống tại đây đều mới, được thu hoạch trong ngày, rất tươi ngon và giá mềm hơn mua trong siêu thị và các của hàng tiện lợi Tuy nhiên, bởi vì các mặt hàng tươi sống tại các chợ là không qua kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng, do đó vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm là khó đảm bảo Nhận thức được điều đó,

đã có khá nhiều người dân lựa chọn cho mình những địa chỉ mua sắm an toàn

và thông minh hơn đó là chọn mua mặt hàng tươi sống tại các siêu thị (22%), cửa hàng tiện lợi (8%) Cửa hàng tiện lợi, ví dụ như Co.opFood, SatraFoods, Minimart, là các cửa hàng chủ yếu kinh doanh thực phẩm tươi sống (chiếm 30% - 40% tổng lượng hàng), kế đến là một số mặt hàng hóa mỹ phẩm, thực phẩm công nghệ, đồ dùng thiết yếu… Cách thức bán hàng gần giống cửa hàng tạp hóa truyền thống: Thực phẩm tươi sống (thịt, cá, rau củ quả, trái cây)

Trang 34

được bày bán sẵn cho khách hàng lựa chọn Đối tượng chọn mua ở đây hầu hết đều là những người có công việc bận rôn, có thu nhập ở mức trên 7 triệu /tháng

Lí do mà nhóm nhận được khi tiến hành phỏng vấn những đối tượng khách hàng này chủ yếu nhằm tiêt kiệm thời gian và chọn được những sản phẩm chất lượng Lựa chọn ưu tiên ít nhất của người tiêu dùng là phương án mua hàng ở các hàng bàn rong ( chiếm 2.7%) Đối tượng của những lựa chọn này là nhân viên bán hàng tại các cửa hàng Họ thường mua hàng tại đây một phần vì lý do không được phép rời cửa hàng trong giờ làm việc, lý do khác không kém phần hấp dẫn mà một chị bán hàng mỹ phẩm vui tính trên đường Tôn Thất Tùng cho biết là: “mua của mấy

bà bán rong dễ mặc cả nên thường mua được rau, quả với giá rẻ, chỉ tội không được ngon lắm”

Thói quen mua các mặt hàng tươi, sống tại chợ, người bán hàng rong tiềm ẩn rất nhiều mối nguy hại cho sức khỏe người tiêu dùng Rau xanh trong quá trình trồng tại các làng rau ven đô đã nhiễm không ít chất hóa học cùng với các loại vi khuẩn khác nhau, khi đến tay người bán rau xanh lại được tiếp thêm một số chất mới để rau được tươi lâu hơn và nhìn ngon hơn Bí quyết của họ nằm trong thứ nước mà họ tưới vào rau Một người bán hàng rau cho biết thứ nước đó được tạo ra bằng cách hòa B1 hay viên C cùng với nước lã theo tỉ lệ nhất định và cả quyết rằng nó không hề có hại cho sức khỏe người tiêu dùng nhưng thực tế thì chưa có một nghiên cứu nào chứng minh điều này

Không chỉ vậy, người dân thường hay quan niệm là rau có sâu là rau sạch nên những người bán rau đã tìm ra cách mua sâu để thả vào rau để đánh lừa khách hàng Vụ việc này thực tế đã xảy ra và thậm chí có người đã chuyển sang kinh doanh nghề “nuôi sâu” Đây là hành vi tiếp tay cho vi phạm ĐĐKD nhưng các cơ quan chưa có chế tài xử phạt Bởi lẽ, người dân cho rằng họ đang nuôi sâu vì mục đích có lợi đó là cung cấp thức ăn cho chim Đây là một bài học đắt giá cho chế tài xử phạt tại Việt Nam và những văn bản luật có nhiều lỗ hổng

Một thực tế khác về mặt hàng rau xanh đó là việc trong bữa ăn hằng

Trang 35

ngày, chi tiêu cho rau nhiều hơn thịt cá trong khi đó theo điều tra của các nhà nghiên cứu thì những năm gần đây mức độ tiêu thụ thịt tăng trong khi mức tiêu thụ rau vẫn giữ nguyên Điều đó cho thấy rau đắt như thế nào Tuy nhiên việc rau đắt không được quyết định bởi người trồng mà là ở người bán Rất nhiều trường hợp người bán rau vịn vào cái cớ thời tiết xấu, rau không phát triển được làm nguồn cung ít dẫn đến giá rau tăng cao và thường là 20% - 80% so với những ngày trước đó trong khi giá thực mua tại vườn lại rất rẻ Thế là rau đắt nhưng người hưởng lợi lại không phải người trồng mà là người bán.

Rõ ràng trong khâu tiêu thụ này người bán đã có nhiều hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh mà trước hết thể hiện ở việc không hề quan tâm tới sức khỏe người tiêu dùng, thêm vào đó là hành vi dối trá, đánh lừa khách hàng và

cả bạn hàng - những người cung ứng rau, tất cả chỉ vì lợi nhuận

2.2.2 Với mặt hàng trái cây

Vấn đề đạo đức kinh doanh được xem xét chủ yếu trong việc tiêu thụ Nổi cộm ở đây là việc nhập nhằng nguồn gốc trái cây nhập khẩu và việc sử dụng tràn lan các chất bảo quản có hại cho sức khỏe

Có thể nói hầu hết trái cây tiêu thụ trên thị trường Hà Nội là hàng nhập khẩu Trung Quốc nhưng khi đến tay người tiêu dùng, chúng lại có nguồn gốc khác nhau thường là Mỹ, Thái, Úc Và đương nhiên khi được dán mác hàng nhập khẩu từ Mỹ thì giá của chúng cũng tăng lên rất nhiều

Trang 37

Theo thông tin từ nhiều tờ báo thì nguồn cung cấp trái cây Trung Quốc cho thị trường Hà Nội chủ yếu là từ chợ đầu mối Long Biên Tại đây, các mặt hàng rau quả Trung Quốc

được bày bán với đa dạng

sản phẩm với mức giá rất

rẻ Cam đỏ Trung Quốc

được đổ buôn cho các sạp

Mỹ, Thái Lan, Úc Như vây, với việc nhập nhằng xuất xứ, người bán đã thu được những khoản tiền lời khổng lồ từ việc lừa dối khách hàng

Với nguồn tin trên, nhóm nghiên cứu cũng tìm đến chợ đầu mối Long Biên, lúc nhóm nghiên cứu gần đến nơi thì gặp cảnh các thùng trái cây lớn nhỏ đang đang được vận chuyển về các chợ nhỏ trong nội thành dù mới 6h sáng 6h20’ sáng, chợ đã bớt tấp nập hơn, các mặt hàng ở chợ quả thật rất đa dạng về chủng loại, mẫu mã cũng rất bắt mắt Khi hỏi về giá cả, nhóm nghiên cứu cũng rất bất ngờ bởi mức giá quá rẻ, xoài thường nhóm đã mua được với giá 7000đ/1kg, trong khi giá bán tại các chợ là 18000đ/kg, cam vàng được bán với giá 8000đ/kg mà tại các chợ là 15000đ/kg Thế mới biết những người bán trái cây Trung Quốc tại chợ nội thành thu lời như thế nào?

Khi điều tra người bán hàng tại các chợ Hoàng Văn Thái và chợ Đông Tác, nhóm nghiên cứu thu được 68 phiếu của nhưng người bán mặt hàng trái cây

Trang 38

Với câu hỏi được đưa ra là: “Nguồn hàng chủ yếu của Anh/ Chị là ở đâu?” thì

có tới 60 phiếu có câu trả lời là tại các chợ đầu mối, chiếm 88,2% trong tổng

số ngưới được điều tra 21,8% còn lại lựa chọn câu trả lời là bán những sản phẩm của nhà trồng được Thực tế này có thể nói lên phần nào mức độ hấp dẫn của việc kinh doanh các mặt hàng trái cây Trung Quốc Cung trái cây Trung Quốc nhiều cùng với việc chất lượng các mặt hàng trái cây của Trung Quốc không không đảm bảo đã và đang đem đến cho người dân bao nhiêu tác hại

Chất lượng của những mặt hàng này cũng không hề được đảm bảo Để trái cây tươi lâu, đẹp mắt không biết trái cây đã được tẩm, nhuộm bao nhiêu chất bảo quản Theo Từ điển bách khoa toàn thư:

Chất bảo quản là các hóa chất tự nhiên hay tổng hợp được thêm vào sản phẩm như thực phẩm, dược phẩm, sơn, các mẫu phẩm sinh học v.v để ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự thối rữa, hư hỏng gây ra bởi sự phát triển của các

vi sinh vật hay do các thay đổi không mong muốn về mặt hóa học.1

Sự lạm dụng hóa chất trong chế biến và bảo quản thực phẩm tiêu dùng của người dân đã đến độ nghiêm trọng Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có 35% số nạn nhân thế giới mắc bệnh ung thư liên quan đến yếu tố thực phẩm và cung cách ăn uống thường ngày Việt Nam là một trong

số các nước được dự báo đến năm 2020 là nước có tỉ lệ bệnh nhân chết về ung thư nằm trong nhóm cao nhất trên toàn Thế giới

Tuy nhiên theo rất nhiều điều tra thì hầu như tất cả các sản phẩm trái cây Trung Quốc đều chứa chất bảo quản độc hại, nằm ngoài danh mục và với hàm lượng không thể kiểm soát được Sở dĩ các cơ quan không thể kiểm soát được các loại hoa quả có nguồn gốc từ Trung quốc bởi lẽ nó được mang vào tiêu thụ ở thị trường Việt Nam không qua con đường chính ngạch Lợi dụng đường biên giới với địa hình phức tạp của Việt nam, các tiểu thương đã trốn thuế, trốn các cơ quan chức năng để tiêu thụ lượng lớn hóa quả có nguồn gốc

từ Trung Quốc

Mặt khác, hiện nay trên thị trường Việt Nam còn bày bán rất nhiều mặt

1 Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trang 39

hàng chất bảo quản có nguồn gốc từ Trung Quốc được người lái buôn tin dùng cho dù họ không hề biết thành phần, tác hại của những loại chất bảo quản đó ra sao Việc sử dụng nó đều bắt nguồn từ việc truyền tai nhau bí quyết hoa quả tươi lâu của các lái buôn và như vậy những chất này được tin dùng.

Khi tiến hành phân tích một loại hóa chất bảo quản màu trắng nhưng không biết rõ là chất gì các chuyên gia đã phát hiện đây là loại hóa chất gốc

clo cực độc: hóa chất gốc clo, thuốc diệt cỏ

Táo, lê, cam, quýt kể cả nho bày bán cả tháng trời nhưng vẫn không hề

hư hỏng và màu sắc vẫn không thay đổi nhiều Đặc biệt là trái cây nhập ngoại lưu thông trên thị trường nhiều ngày do tốn thời gian vận chuyển nên hầu hết đều được giới kinh doanh trái cây phun lên một lớp hóa chất bảo quản giữ trái cây tươi lâu

Theo giới chuyên môn, các loại hóa chất này có tác dụng vừa chống mốc vừa bảo quản hàng hóa lâu bị hư hại Hóa chất này có gốc clo, peroxit rất độc hại cho người sử dụng vì nó không mùi, không vị, không màu nên rất khó phát hiện

Những loại hóa chất này thẩm thấu rất mạnh vào bên trong củ quả Tiến

sĩ Phạm Thành Quân, Phó Khoa Công nghệ Hóa học Đại học Bách khoa TPHCM, cho biết các chất trên “bị” đưa vào củ quả ngoài tính chất diệt côn trùng, diệt tất cả vi khuẩn (kể cả vi khuẩn có lợi) nên ngăn chặn được quá trình chuyển hóa các tế bào, các vitamin bị chậm chuyển hóa cũng như chống ôxy hóa làm củ quả tươi lâu

Thông tin từ Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm cho thấy tại một số địa phương

ở các tỉnh phía Bắc, nhất là vùng giáp biên giới, người ta còn sử dụng cả chất 2,4D (thuốc diệt cỏ) để tẩm ướp củ quả nhằm mục đích bảo quản được lâu

Theo tiến sĩ Lê Quang Hưng, Trưởng Bộ môn Cây công nghiệp Đại học Nông Lâm TPHCM, chất 2,4D nếu sử dụng liều lượng cao sẽ có công dụng diệt cỏ

Sử dụng nồng độ thấp sẽ trở thành chất kích thích cực mạnh làm cho củ quả tăng kích thước nhanh bất thường Ngoài ra, còn có công dụng làm chậm quá trình lão hóa, tươi lâu cũng như giữ được màu sắc củ quả khá tốt Nó còn

Trang 40

diệt cả côn trùng, vi khuẩn nên bị giới kinh doanh trái cây lợi dụng

Lừa dối khách hàng đã đành, vì lợi nhuận người bán bất chấp tất cả kể

cả việc sử dụng các chất bảo quản không rõ thành phần và không được kiểm định hành vi này góp phần là tăng thêm số ca ung thư tại Việt Nam mỗi năm Đây đều là những hành vi vi pham trầm trọng đạo đức kinh doanh đáng lên án của những người kinh doanh Họ bất chấp tất cả, đùa rỡn với sức khỏe của cộng đồng để chay theo lợi nhuận, làm giàu cho bản thân

2.2.3 Mặt hàng thịt

Cũng như các sản phẩm tươi sống khác, đạo đức kinh doanh trong lĩnh vực này cũng tồn tại rất nhiều vấn đề Đặc biệt gần đây hiện tượng thức ăn có hàm lượng kích thích tố tăng trưởng như Dexamethasone (giữ nước, muối, gây tụ mỡ), testoterone (trong thịt heo), hormone tăng trọng nguy hiểm như Clenbutyrol (tăng tỷ lệ nạc, giảm mỡ cho heo, bò), Estradiol (Gà, kháng sinh,tăng trọng), hormone tổng hợp nguy hiểm Diethylstilestrol (gây ung thư)

… phát tán khắp nơi bên cạnh các loại thịt nhiễm bệnh, lở mồm long móng được bày bán ở các quầy nhỏ lẻ góc phố hoặc cung cấp cho các quán phở, mì, cháo… hàng rong mà đối tượng chính là trẻ em và học trò các trường trung tiểu học ở thành thị cũng như nông thôn khiến dư luận bức xúc

a Trong khâu sản xuất

Vấn đề vi phạm đạo đức kinh doanh được phơi bày qua hiện tượng các

hộ chăn nuôi sử dụng các loại thuốc cầm sử dụng chộn vào thức ăn để tăng trọng cho gia súc, gia cầm đơn cử như với lợn thịt

Theo thông tin nhóm sưu tầm được thì lợn nuôi bình thường phải mất 4 tháng mới xuất chuồng (tầm 100kg), nhưng khi ăn thuốc siêu tăng trọng này, thời gian xuất chuồng rút ngắn chỉ còn 3 đến 3,5 tháng

Khi nhóm nghiên cứu khảo sát về vấn đề này tại xã Hoài Đức, Hà Nội, với câu hỏi: “Trong chăn nuôi Anh/ Chị có sử dụng các sản phẩm thuốc tăng trọng, kích thích tiêu hóa không?” thì 90% người được hỏi trả lời là không sử dụng thuốc kích thích tăng trưởng mà chỉ sử dụng kháng sinh Nhóm điều tra rất thắc mắc về điều này do đó nhóm đã hỏi chị Nguyễn Thu Thảo một y tá xã

Ngày đăng: 21/03/2015, 21:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Khảo sát về địa chỉ mua sắm thường xuyên các mặt - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống tại Hà Nội hiện nay
Bảng 2.2 Khảo sát về địa chỉ mua sắm thường xuyên các mặt (Trang 32)
Bảng 2.3: Lợi ích từ việc sản xuất rau muống theo các cách khác - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống tại Hà Nội hiện nay
Bảng 2.3 Lợi ích từ việc sản xuất rau muống theo các cách khác (Trang 50)
Bảng 2.7.  Đánh giá về chất lượng sản phẩm tươi sống của người - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống tại Hà Nội hiện nay
Bảng 2.7. Đánh giá về chất lượng sản phẩm tươi sống của người (Trang 57)
Bảng 2.8 Thống kế số vụ ngộ độc thực phẩm giai đoạn 2002 – 2011 - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống tại Hà Nội hiện nay
Bảng 2.8 Thống kế số vụ ngộ độc thực phẩm giai đoạn 2002 – 2011 (Trang 59)
Bảng 2.9: Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của người tiêu - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống tại Hà Nội hiện nay
Bảng 2.9 Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của người tiêu (Trang 59)
Bảng 2.10: Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của nhà sản xuất - Đạo đức kinh doanh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng thực phẩm tươi sống tại Hà Nội hiện nay
Bảng 2.10 Tổng hợp số lần bị ngộ độc thực phẩm của nhà sản xuất (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w