1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

thông tin Khuyến nông Việt Nam 18 (2014)

31 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 21,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thông tin Khuyến nông Việt Nam ) bao gồm các mục lớn như hoạt động khuyến nông; thông tin đào tạo nghề nghiệp khuyến nông; mô hình khuyên nong điên hình và tieenn tiến; khoa học kỹ thuật và coonng nghệ. Trong mỗi mục lớn bao gồm những bài viết của những nhà khoa học hàng đầu của cả nước

Trang 2

Ngày 25/10/2014, tại thành phố Hà Nội,

Ban chỉ đạo thực hiện Đề án “Thí điểm

tổ chức khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ cá

ngừ theo chuỗi” tổ chức phiên họp lần thứ nhất

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT - Trưởng

Ban chỉ đạo Vũ Văn Tám chủ trì phiên họp

Ngày 14/11/2014, Văn phòng Bộ Nông nghiệp

và PTNT đã có thông báo về kết luận của Thứ

trưởng Nội dung cụ thể như sau:

1 Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo tiếp thu

các ý kiến để hoàn thiện Quy chế làm việc của

Ban chỉ đạo trên tinh thần gọn và đầy đủ các

nội dung về nhiệm vụ nguyên tắc, chế độ làm

việc, họp của Ban chỉ đạo, chế độ thông tin, báo

cáo của cơ quan thường trực Ban chỉ đạo và bộ

máy giúp việc Ban chỉ đạo để trình Trưởng Ban

ký ban hành trong tháng 11/2014

2 Đối với kế hoạch triển khai Đề án, tập

trung vào các vấn đề sau:

a Cần bổ sung công tác triển khai Đề án:

- Tổng cục Thủy sản, Trung tâm Khuyến

nông Quốc gia bổ sung nhiệm vụ thực hiện Đề

án và bố trí kinh phí vào kế hoạch triển khai Đề

án, bộ máy giúp việc và kế hoạch triển khai Đề

án chi tiết cho phù hợp với điều kiện của từng

tỉnh (có thể lồng ghép với Ban chỉ đạo đã có)

- Các địa phương tiếp tục xây dựng 3 loại

mô hình liên kết thuộc nội dung Đề án, lưu ý đặc

biệt chú ý vai trò của doanh nghiệp và chủ tàu,

trong đó doanh nghiệp là trung tâm xây dựng

chuỗi liên kết Tuy nhiên, cần củng cố mô hình

tổ đội khai thác trên biển đảm bảo thực chất,

hiệu quả và làm rõ trách nhiệm chia sẻ lợi ích

và rủi ro thì liên kết giữa doanh nghiệp thu mua,

tiêu thụ với tổ đội mới có hiệu quả

- Về kinh phí thực hiện các nhiệm vụ bao gồm cả kinh phí Trung ương và địa phương

b Về đầu tư cơ sở hậu cần phục vụ khai thác cá ngừ:

- Tổng cục Thủy sản thống nhất với các địa phương để rà soát, điều chỉnh quy hoạch cảng

cá, khu neo đậu tránh trú bão trình Chính phủ năm 2015, trong đó lựa chọn xây dựng một cảng cá ngừ chuyên dụng là dự án ưu tiên đầu

tư Trước mắt địa phương nào đã xác định và

đủ thủ tục đầu tư nguồn vốn có thể từ nguồn vốn vay WB thực hiện Dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững Địa phương nào chưa kịp thời các thủ tục đầu tư theo quy định thì đưa vào kế hoạch vốn từ Nghị định số 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, kế hoạch đầu tư trung hạn 2016 - 2020

- Đối với tỉnh Khánh Hòa, Trung tâm Giao dịch Cá ngừ nên gắn với Trung tâm Nghề cá Lớn Chủ động làm rõ quy hoạch, thuê tư vấn lập quy hoạch chi tiết và xúc tiến các bước

KẾT LUẬN

VỀ ĐỀ ÁN “THÍ ĐIỂM TỔ CHỨC KHAI THÁC, THU MUA,

CHẾ BIẾN, TIÊU THỤ CÁ NGỪ THEO CHUỖI”

Trang 3

đầu tư, Bộ Nông nghiệp và PTNT sẽ hướng dẫn

phối hợp cùng tỉnh để ưu tiên đầu tư và xúc tiến

đầu tư

c Về công tác đào tạo:

- Đây là nhiệm vụ quan trọng mang tính

đột phá của Đề án, Tổng cục Thủy sản và các

địa phương cần quyết liệt chỉ đạo và kiên trì

thực hiện

- Tổng cục Thủy sản chủ trì, phối hợp với các

địa phương, đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch

đào tạo (triển khai Nghị định số 67/2014/NĐ-CP)

về vận hành tàu vỏ thép và vật liệu mới, kỹ thuật

khai thác bảo quản, chế biến sản phẩm cá ngừ

Hợp tác với Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông

Nam Á (SEAFDEC) mời chuyên gia sang Việt

Nam đào tạo tập huấn tại chỗ cho cán bộ, ngư

dân; hoặc đưa ngư dân đi nước ngoài đào tạo

- Các địa phương có kế hoạch cụ thể, đồng

thời có cơ chế chính sách khuyến khích, tạo điều

kiện cho doanh nghiệp trong và ngoài nước đào

tạo trực tiếp cho ngư dân

d Về chuyển giao khoa học công nghệ và

khuyến ngư:

- Viện Nghiên cứu Hải sản đề xuất và triển

khai các chương trình, dự án nâng cao năng lực

điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường và thông

tin kịp thời cho ngư dân theo quy định

- Tổng cục Thủy sản chủ trì việc xây dựng,

hướng dẫn các quy trình công nghệ về khai thác,

bảo quản và chế biến sản phẩm cá ngừ

- Trung tâm Khuyến nông Quốc gia chủ trì phối hợp với các địa phương, Hiệp hội Cá ngừ tổ chức tập huấn, chuyển giao kỹ thuật khai thác và bảo quản sản phẩm cá ngừ cho cán bộ và ngư dân thông qua các mô hình

- Các địa phương chủ động tổ chức lại mô hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong khai thác, bảo quản, chế biến cá ngừ, tổ chức nghiên cứu ứng dụng cải tiến các loại ngư lưới cụ, trang thiết

bị phù hợp với đặc điểm và điều kiện của từng địa phương

e Về hợp tác quốc tế:

- Tổng cục Thủy sản là đầu mối và phối hợp với các địa phương có chương trình hợp tác riêng với Nhật Bản về nghiên cứu và chuyển giao công nghệ khai thác, chế biến, bảo quản cá ngừ, đồng thời mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới

- Tổng cục Thủy sản đề xuất đổi mới công tác xúc tiến thương mại, mở rộng tìm kiếm các thị trường khác nhau, không để phụ thuộc vào một thị trường nhất định

- Các địa phương chủ động xúc tiến đầu tư, hợp tác với doanh nghiệp và đối tác nước ngoài

g Về đóng tàu:

- Các địa phương lập kế hoạch theo Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành về triển khai Nghị định số 67/2014/NĐ-CP

- Tháng 11/2014, Bộ sẽ phê duyệt và công bố chính thức 21 mẫu thiết kế tàu vỏ thép■

BBT (gt)

Trang 4

TTKNQG: * TẬP HUẤN ToT VỀ

“CHĂN NUÔI LỢN THEO HƯỚNG VIETGAP”

Nhằm nâng cao năng lực, bổ sung kiến thức,

kỹ năng về kỹ thuật chăn nuôi lợn theo

hướng an toàn, hiệu quả bền vững cho đội ngũ làm

công tác khuyến nông, đầu tháng 11/2014, tại thành

phố Sơn La, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối

hợp với Trung tâm Khuyến nông Sơn La tổ chức

khóa tập huấn ToT về “Chăn nuôi lợn theo hướng

VietGAP” cho 30 học viên đến từ Trung tâm Khuyến

nông của 03 tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Yên Bái

Trong 05 ngày tập huấn, học viên đã được giảng

viên giới thiệu truyền đạt các nội dung chính về:

Thực trạng ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam; các

yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi lợn trong nông hộ; công

tác giống, sử dụng thức ăn trong chăn nuôi lợn;

kỹ thuật nuôi lợn thương phẩm theo lứa tuổi, lợn

nái, lợn đực giống; kỹ thuật xây dựng chuồng trại;

các bệnh thường gặp trong chăn nuôi lợn và cách

phòng, trị; hướng dẫn hạch toán kinh tế trong chăn

nuôi lợn, Sau thời gian học lý thuyết, các học viên

đã đi tham quan thực tế và thực hành một số thao

tác kỹ thuật ngay tại chuồng trại chăn nuôi của nông

hộ Ngoài ra, nhiều học viên có kinh nghiệm trong

chăn nuôi lợn đã chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi của

mình cho các học viên khác

Lớp tập huấn là cơ hội tốt cho các cán bộ

khuyến nông và cộng tác viên khuyến nông của 03

tỉnh nâng cao kiến thức, kỹ năng về kỹ thuật chăn

nuôi lợn theo hướng VietGAP, qua đó góp phần đẩy

mạnh phát triển sản xuất chăn nuôi lợn, tăng hiệu

quả kinh tế theo hướng bền vững, nâng cao thu

nhập cho người dân ở 3 tỉnh

THANH NHÀN

Trung tâm Khuyến nông Sơn La

* TẬP HUẤN NGOÀI MÔ HÌNH VỀ

“QUY TRÌNH SẢN XUẤT ĐẬU RAU AN TOÀN”

Ngày 15/11/2014, Trung tâm Khuyến nông

Quốc gia phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Hà Giang tổ chức lớp tập huấn ngoài mô hình

về “Quy trình sản xuất đậu rau an toàn” tại xã Đông

Hà, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang Tham gia lớp tập huấn có 30 học viên là cán bộ khuyến nông cơ

sở và các hộ nông dân ngoài mô hình của các xã Lùng Tám, Cán Tỷ, Đông Hà của huyện Quản Bạ.Trong thời gian tập huấn, các học viên được giảng viên đến từ Viện Nghiên cứu Rau quả - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam hướng dẫn các nội dung như: Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi an toàn tại Việt Nam (VietGAP); thủ tục để một cơ sở sản xuất rau được cấp giấy chứng nhận sản xuất rau theo VietGAP; một số nguyên tắc cơ bản trong sản xuất rau theo VietGAP mà nông dân và cơ sở sản xuất phải tuân thủ; quy trình kỹ thuật sản xuất đậu vàng và đậu

cô ve leo… Tại lớp tập huấn, các học viên cùng nhau trao đổi thảo luận và được giải đáp những vướng mắc về kỹ thuật sản xuất đậu rau an toàn và các biện pháp phòng trừ các bệnh chủ yếu trên đậu

cô ve, đậu Hà Lan Ngoài ra, các học viên còn đi tham quan mô hình sản xuất đậu rau an toàn trên địa bàn huyện Quản Bạ

Sau lớp tập huấn, các học viên sẽ là người trực tiếp hướng dẫn, giúp các hộ nông dân tại cơ sở tiếp cận kỹ thuật, tin tưởng, mạnh dạn, đầu tư phát triển sản xuất đậu rau an toàn theo hướng VietGAP Đây cũng là cơ sở để chính quyền địa phương vận động

bà con đầu tư thực hiện các mô hình sản xuất đậu rau an toàn, nhằm phát huy hiệu quả hơn lợi thế, tiềm năng về đất đai, khí hậu của địa phương

PHẠM LAN ANH

Trung tâm Khuyến nông Hà Giang Lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tham quan hiện trường mô hình

Trang 5

THANH HÓA: TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT GIỐNG

TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Tỉnh Thanh Hóa hiện có diện tích chuyên nuôi

trồng thủy sản (NTTS) ở các vùng triều trên

là 18.050 ha, trong đó có 10.350 ha nuôi nước ngọt

và 7.700 ha nuôi nước mặn, lợ Để hoạt động NTTS

của người dân đạt hiệu quả, ngay từ đầu vụ nuôi

ngành thủy sản đã phối hợp với các địa phương

tăng cường tập huấn, hướng dẫn cho nông dân về

các đối tượng nuôi, quy trình kỹ thuật nuôi thủy sản

theo hướng sản xuất hàng hóa Các cơ quan chức

năng đặc biệt quan tâm đến việc quản lý sản xuất

và cung ứng giống nhập vào địa bàn tỉnh Công

tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở và các hộ sản

xuất, kinh doanh giống thủy sản được thực hiện

thường xuyên

Từ đầu năm đến nay, Sở Nông nghiệp và PTNT

Thanh Hóa đã tiến hành kiểm tra và xử lý 15 hộ, cơ

sở sản xuất và kinh doanh giống thủy sản vi phạm

về tiêu chuẩn, đăng ký kinh doanh giống thủy sản

Tổ chức thanh tra trên diện rộng với 75 cơ sở hoạt

động trong lĩnh vực thú y thủy sản, phát hiện và xử

lý 7 cơ sở vi phạm về chất lượng và kinh doanh

không đúng ngành nghề kinh doanh Theo đó, công

tác phòng trừ dịch bệnh trong NTTS tiếp tục tăng

cường trong thời gian tới Trung tâm Khuyến nông

tỉnh tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, xây dựng

các mô hình nuôi thủy sản an toàn dịch bệnh và

ứng dụng các kỹ thuật mới vào nuôi tôm Trung tâm

Giống và Kỹ thuật thủy sản Thanh Hóa nghiên cứu,

sản xuất các loại giống mới có chất lượng, giá trị

kinh tế cao chuyển giao cho các hộ nuôi

Nhờ có các biện pháp trên, NTTS 10 tháng đầu

năm khá ổn định, năng suất và sản lượng nuôi đạt

khá trên tất cả các loại hình nuôi, đối tượng nuôi

Sản lượng ước đạt 36.626 tấn, đạt 79,62% kế

hoạch, tăng 11,6% so với cùng kỳ, trong đó: nuôi

nước mặn đạt 10.491 tấn; nuôi nước lợ 5.028 tấn;

nuôi nước ngọt 21.107 tấn

LÊ HỢI

QUẢNG TRỊ: TẬP HUẤN ToT

VỀ TRUYỀN THÔNG HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT AN TOÀN

Vừa qua, tại thị trấn Hải Lăng, Trạm Khuyến

nông Khuyến ngư huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã tổ chức khóa tập huấn kỹ năng ToT

về Truyền thông hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn và Kỹ thuật làm phân ủ compost (phân hữu cơ vi sinh) cho hơn 40 khuyến nông viên

và cộng tác viên khuyến nông của 7 xã tham gia dự

án là: Hải Quy, Hải Xuân, Hải Thiện, Hải Thành, Hải Dương, Hải Trường và Hải Hòa

Khóa tập huấn diễn ra trong 4 ngày Trong 3 ngày đầu các học viên được cung cấp các kiến thức

cơ bản về thuốc bảo vệ thực vật và tiến hành thực hành truyền thông về kiến thức sử dụng thuốc BVTV, đặc biệt chú trọng “5 quy tắc vàng” và nguyên tắc 4 đúng trong sử sụng thuốc BVTV Ngày còn lại các giảng viên cung cấp các kiến thức về quy trình xử lý rơm rạ, phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu

cơ vi sinh Ngoài ra, học viên cũng được chia sẻ và giải đáp các thắc mắc liên quan đến các kiến thức nông nghiệp ở địa bàn mình phụ trách

Kết thúc khóa học, 100% học viên cho rằng tất

cả các nội dung đào tạo đều rất hữu ích, phương pháp giảng dạy của giáo viên dễ hiểu, phù hợp với trình độ tiếp thu của học viên và nội dung tập huấn Các học viên đã nắm vững kiến thức về thuốc BVTV, cách thức xử lý rơm rạ thành phân hữu cơ vi sinh, có thể áp dụng tốt các kiến thức đã học trong quá trình công tác

PHAN VIỆT TOÀN

Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quảng Trị Quang cảnh lớp tập huấn

Trang 6

TRÀ VINH:

TỌA ĐÀM MÔ HÌNH ỨNG DỤNG

HỆ THỐNG THÂM CANH TRONG SẢN XUẤT LÚA

Ngày 14/11/2014, tại ấp Hòa Hảo, xã Phước

Hảo, huyện Châu Thành, Trung tâm Khuyến

nông Khuyến ngư (KNKN) Trà Vinh tổ chức tọa

đàm mô hình ứng dụng hệ thống thâm canh tổng

hợp trong sản xuất lúa (SRI) và hỗ trợ máy cấy lúa

cho nông dân Đến tham dự có hơn 30 nông dân ở

địa phương

Mô hình trình diễn Ứng dụng hệ thống thâm canh

tổng hợp trong sản xuất lúa SRI được thực hiện tại

Tổ sản xuất lúa giống ấp Hòa Hảo, xã Phước Hảo,

huyện Châu Thành trên diện tích 23 ha, nhằm ứng

dụng kỹ thuật mới để giảm mật độ gieo cấy, giảm

nước tưới, giảm phân hóa học và thuốc trừ sâu,

tăng năng suất lúa và hiệu quả kinh tế. Kết quả,

năng suất ước tính thu hoạch trên 7 tấn/ha, cao

hơn so với ruộng ngoài mô hình hơn 500 kg/ha,

với giá lúa hiện nay gần 6.000 đồng/kg, nông dân

thu hơn 42 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí còn lợi

nhuận trên 30 triệu đồng/ha, cao hơn so với ruộng

ngoài mô hình hơn 3 triệu đồng/ha. Theo đánh giá,

so với biện pháp canh tác truyền thống, mô hình

SRI giúp nông dân giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu

quả kinh tế. Sau khi tham quan mô hình, cán bộ kỹ

thuật Trung tâm KNKN Trà Vinh đã trao đổi với bà

con nông dân về các biện pháp giảm chi phí trong

sản xuất lúa SRI, quy trình bón phân cân đối trong

sản xuất lúa SRI và kỹ thuật gieo mạ cho máy cấy

lúa và hỗ trợ máy cấy lúa cho nông dân

Trước đó, ở vụ sản xuất lúa hè thu năm 2014,

Trung tâm KNKN Trà Vinh cũng đã hỗ trợ một máy

cấy lúa cho Tổ sản xuất Lúa giống ở địa phương

Năm 2014, được sự đầu tư hỗ trợ của Trung

tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quảng Nam đã phối hợp với Trạm Khuyến nông Khuyến lâm huyện Thăng Bình, Ủy ban Nhân dân xã Bình An xây dựng Mô hình phát triển ngành mây tre đan phục vụ nhu cầu nội tiêu và xuất khẩu tại thôn An Thành 3, xã Bình An, huyện Thăng Bình với 10 hộ tham gia Tham gia dự án các hộ dân được nhà nước hỗ trợ 50% giá trị máy móc Qua thời gian sử dụng dây chuyền máy móc, thiết bị trong sản xuất mây tre đan đã mang lại hiệu quả như: Giảm đáng kể thời gian làm ra 1 sản phẩm (giảm 1 giờ/sản phẩm); năng suất lao động tăng lên 2 lần; giá thành giảm (40.000 đồng/sản phẩm), vì vậy, lãi ròng tăng lên gấp đôi Với số lượng 20 công nhân, làm được

160 sản phẩm/ngày thì lãi thu được là 640.000 đồng/ngày

Mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời giải quyết được nguồn nguyên liệu dồi dào và nguồn lao động nông nhàn, là cơ sở để chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lao động ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phù hợp với nhiều địa phương đang thực hiện xây dựng nông thôn mới

PHAN VĂN PHƯỚC

Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quảng Nam

SÓC TRĂNG: TỔNG KẾT VỤ NUÔI TÔM NƯỚC LỢ 2014 VÀ TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH 2015

Chiều ngày 17/11, Sở Nông nghiệp và PTNT

Sóc Trăng đã tổ chức Hội nghị tổng kết vụ nuôi tôm nước lợ năm 2014 và triển khai kế hoạch nuôi tôm năm 2015, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng Lê Thành Trí chủ trì Hội nghị

Các đại biểu tham quan mô hình sản xuất lúa theo SRI

Trang 7

Theo báo cáo, vụ nuôi tôm nước lợ 2014 toàn

tỉnh đã thả nuôi trên 46.700 ha, tăng 3% so với năm

2013 Trong đó, diện tích nuôi tôm thâm canh và

bán thâm canh chiếm gần 84% với hơn 39.000 ha,

tăng 5.700 ha so với cùng kỳ, riêng diện tích nuôi

tôm thẻ là trên 27.100 ha, tăng 1,7 lần so với năm

trước, hiện toàn tỉnh còn khoảng 4.000 ha tôm chưa thu

hoạch Sản lượng tôm nuôi đã thu hoạch được 70.100

tấn, đến cuối năm sản lượng ước đạt 81.700 tấn, trong

đó sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt gần 66.000

tấn Diện tích tôm nuôi bị thiệt hại tính đến cuối

tháng 10 là 19.550 ha, chiếm hơn 41% diện tích thả

nuôi và tăng 10% so với cùng kỳ, ước giá trị thiệt

hại trên 200 tỷ đồng Hội nghị đã tập trung phân tích

nguyên nhân thiệt hại, những biện pháp khắc phục

để giảm diện tích thiệt hại cho vụ nuôi 2015 xuống

còn 20%

Kế hoạch vụ nuôi năm 2015 diện tích nuôi là

45.000 ha, trong đó, nuôi tôm thâm canh và bán

thâm canh là 35.000 ha, quảng canh cải tiến là

10.000 ha Sản lượng tôm phấn đấu đạt 90.000 tấn

Lịch khuyến cáo vụ nuôi tôm nước lợ năm 2015 bắt

đầu từ ngày 15/11/2014 và kết thúc thả giống ngày

31/8/2015, các địa phương cần theo dõi khung lịch

thời vụ đã khuyến cáo

NGUYỄN HÒA

TÂY NINH: HIỆU QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA MÔ HÌNH

CHĂN NUÔI GÀ THỊT AN TOÀN SINH HỌC

THEO HƯỚNG VIETGAP

Thực hiện dự án của Trung tâm Khuyến nông

tỉnh Tây Ninh, năm 2014, Trạm Khuyến nông

huyện Tân Châu đã triển khai mô hình chăn nuôi

gà thịt an toàn sinh học theo hướng VietGAP với

sự tham gia của 3 hộ dân ở ấp Thạnh Nghĩa, xã

Thạnh Đông Tham gia mô hình, bà con được hỗ

trợ 100% con giống và 30% vật tư, bao gồm thức

ăn, vắc-xin, thuốc sát trùng Bước đầu mỗi hộ gia

đình nhận nuôi 400 con gà thịt giống lông màu Đến

nay, mô hình đã thực hiện được trên 3 tháng, gà

có cân nặng trung bình từ 1,6 - 1,8 kg/con Trong

quá trình triển khai, bà con còn được hướng dẫn áp dụng mô hình đệm lót sinh học để xử lý phân, giúp

gà ít bị bệnh, giảm công chăm sóc và dọn chuồng trại, đảm bảo môi trường

Bà Nguyễn Ngọc Minh - cán bộ Trạm Khuyến nông huyện Tân Châu cho biết, khi thực hiện dự án, Trạm đã tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho bà con như tiêm vắc-xin theo từng độ tuổi, hướng dẫn khử trùng chuồng trại, khuyến cáo bà con không nuôi chung gà của mô hình với gà nhà trước đây

vì sẽ dễ lây bệnh, cách bảo quản thức ăn, cách sử dụng đệm lót sinh học…

CHÍ THÀNH

ĐẮK NÔNG: HỘI THẢO VỀ NUÔI CÁ CHÉP V1

Ngày 18/11 vừa qua Trạm Khuyến nông

Khuyến ngư thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

đã tổ chức hội thảo về nuôi cá chép V1 cho 30 hộ dân và khuyến nông viên trên địa bàn huyện.Năm 2014, Trạm Khuyến nông Khuyến ngư thị

xã Gia Nghĩa đã triển khai mô hình nuôi cá chép V1

là chính với tỷ lệ cá chép V1 chiếm 70% con giống, còn lại là các loại cá trắm, rô phi, mè tại 2 hộ dân với tổng diện tích 2 sào Thức ăn cho cá chủ yếu

là cám hỗn hợp Trước khi triển khai mô hình, cán

bộ của Trạm Khuyến nông Khuyến ngư thị xã Gia Nghĩa đã phổ biến kỹ thuật và phát tài liệu về kỹ thuật nuôi một số loại cá cho các hộ dân và khuyến nông viên Trong quá trình nuôi, các hộ dân đã tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật mà mô hình đề ra Sau 5 tháng triển khai, tỷ lệ sống đạt 90%, trọng lượng đạt 0,5 kg/con, lợi nhuận đạt 20 triệu đồng/sào

Tại hội thảo, Trạm Khuyến nông Khuyến ngư thị xã Gia Nghĩa đánh giá mô hình mang lại hiệu quả thiết thực, vừa giúp bà con nắm vững được kỹ thuật để có thể áp dụng vào thực tế vừa nâng cao thu nhập cải thiện đời sống

THANH NGA

Trang 8

Mới đây, Trung tâm Khuyến

nông Khuyến ngư Quảng

Ninh đã triển khai thực hiện mô

hình hỗ trợ chăn nuôi vịt biển đối

với một số hộ dân tại xã Đồng

Rui huyện Tiên Yên và xã Cộng

Hoà, huyện Cẩm Phả Đây là mô

hình thuộc dự án “Xây dựng mô

hình sản xuất giống gia cầm cho

các tỉnh miền núi biên giới phía

Bắc giai đoạn 2014 - 2016” Theo

đánh giá của cán bộ kỹ thuật

Trung tâm Khuyến nông Khuyến

ngư và bà con nông dân, mô hình

hứa hẹn sẽ cho hiệu quả kinh tế cao

Từ lâu, nghề nuôi vịt ven biển

của Quảng Ninh đã được nhiều

hộ dân tại một số địa phương ven

biển các huyện Đầm Hà, Tiên

Yên, Vân Đồn… áp dụng và bước

đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế

Do vịt biển thích nghi với điều

kiện tự nhiên tại các địa phương

ven biển và có vốn đầu tư không

nhiều so với những ngành chăn

nuôi khác, thời gian nuôi ngắn, lại

tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên

giàu dinh dưỡng nên vịt đẻ trứng

với tỷ lệ rất cao

Mô hình nuôi vịt biển sinh sản

được Trung tâm triển khai với

quy mô 2.000 con vịt bố, mẹ và

một máy ấp trứng đối với 16 hộ

chăn nuôi tham gia Anh Nguyễn

Đình Duẩn, cán bộ kỹ thuật Trung

tâm Khuyến nông Khuyến ngư

tỉnh cho biết: Dự án “Xây dựng

mô hình sản xuất giống gia cầm

cho các tỉnh miền núi biên giới

phía Bắc giai đoạn 2014 - 2016”

với mục tiêu nâng cao năng lực

sản xuất giống gia cầm tại chỗ

cho 7 tỉnh biên giới miền núi

phía Bắc nhằm chủ động nguồn

giống gia cầm tại chỗ Việc triển

khai dự án từng bước góp phần

làm giảm và chấm dứt tình trạng nhập giống gia cầm trái phép từ bên kia biên giới vào Việt Nam

Triển khai mô hình, Trung tâm đã phối hợp với phòng chức năng của các địa phương để kiểm tra, khảo sát chọn địa điểm xây dựng

mô hình sản xuất giống gia cầm cho các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc Qua kiểm tra, đánh giá

đã lựa chọn được 16 hộ tham gia dự án có đủ điều kiện tại xã Đồng Rui (huyện Tiên Yên) và xã Cộng Hoà (huyện Cẩm Phả) Bà Phạm Hải Nhạn, thôn Thượng,

xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên cho biết: Tham gia mô hình, gia đình tôi được hỗ trợ 125 vịt bố, mẹ và 50% kinh phí về thức ăn và thuốc thú y; được đi tham quan học hỏi kinh nghiệm một số mô hình nuôi vịt biển tại các trang trại chăn nuôi vịt biển cho hiệu quả cao, từ

đó về áp dụng đối với chăn nuôi của gia đình Đến nay, toàn bộ số vịt của gia đình đều khoẻ mạnh

và đang phát triển tốt

Cũng theo kỹ sư Nguyễn Đình Duẩn, giống vịt biển này là vịt kiêm dụng, có màu cánh sẻ đậm

Đây là giống vịt sinh trưởng, phát triển nhanh; khả năng chống chịu dịch bệnh tốt Khi trưởng thành

có trọng lượng bình quân từ 2,8 - 3 kg; năng suất trứng bình

quân 230 - 240 quả/năm Vịt nuôi 2 tháng tuổi có thể đạt trọng lượng 2,5 kg Vịt Đại Xuyên có thể nuôi theo hình thức công nghiệp hoặc bán công nghiệp

Do chất lượng trứng ngon được thị trường ưa chuộng nên nghề nuôi vịt biển sẽ cho hiệu quả kinh

tế khá cao

Có thể nói, nuôi vịt biển ở các

xã ven biển trên địa bàn tỉnh thời gian qua bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế khá cao như tại

xã Tân Bình (huyện Đầm Hà),

xã Quan Lạn (huyện Vân Đồn) Chăn nuôi vịt biển đã cung cấp sản phẩm có chất lượng, đáp ứng yêu cầu thị trường và an toàn cho người tiêu dùng Thực

tế cho thấy, đây là mô hình rất thiết thực, cần nhân rộng nhằm phát triển kinh tế gia đình, tạo sự

ổn định trong chăn nuôi, phát huy tiềm năng sẵn có tại địa phương

Mô hình chăn nuôi vịt biển do Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư tỉnh triển khai thực hiện tại Đồng Rui và Cộng Hoà sẽ góp phần mở rộng quy mô đối với nghề nuôi vịt biển trên địa bàn tỉnh và hứa hẹn sẽ cho hiệu quả kinh tế cao, tạo nguồn giống vịt biển đáp ứng nhu cầu nuôi tại địa phương■

HỮU VIỆT

Triển vọng từ mô hình

Nuôi vịt biển

Trang 9

Nuôi cá lồng trên sông Trà Khúc là một trong

những nghề giúp nhiều nông dân xã Tịnh

Sơn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi phát triển

kinh tế Tuy nhiên, với cách làm manh mún, nhỏ lẻ

nên hiệu quả kinh tế đem lại chưa cao Việc thành

lập Tổ hợp tác Nuôi cá lồng trên sông Trà Khúc ở

xã Tịnh Sơn sẽ giúp các hộ nuôi có điều kiện trao

đổi, chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau và định hướng

tìm kiếm thêm thị trường tiêu thụ

Ông Lê Thái Sơn ở đội 9, thôn Phước Lộc Tây,

xã Tịnh Sơn có 3 lồng nuôi cá trắm cỏ với khoảng

600 con cá, mỗi năm cho thu nhập khoảng trên

60 triệu đồng Tuy nhiên, trong quá trình nuôi ông

Sơn phải tự thực hiện các bước từ mua thức ăn,

chữa bệnh cho cá, bán cá… mà không có sự giúp

đỡ hoặc hướng dẫn từ các cơ quan chuyên môn

Vì vậy, khi gặp trường hợp cá chết hoặc bị thương

lái ép giá, ông chịu nhiều thiệt thòi

Ông Trần Nam ở đội 9, thôn Phước Lộc Tây, xã

Tịnh Sơn có 3 lồng nuôi cá trắm cỏ và cá chình

Mỗi vụ, ông Nam thả khoảng 1.000 con nhưng đến

khi thu hoạch chỉ còn khoảng 200 con do lượng cá

bị chết rất nhiều Tuy nhiên, từ khi tham gia Tổ hợp

tác Nuôi cá lồng, ông Nam sẽ được phổ biến kiến

thức, kỹ thuật chăm sóc và phòng trị bệnh cho cá,

được trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên, mô

hình của ông đã mang lại hiệu quả cao Ông Nam

chia sẻ: Các thành viên trong Tổ hợp tác sẽ được

phổ biến một giá chung khi bán và bán thường

xuyên theo từng đợt, chứ không chỉ một năm bán

một lần như trước Nếu cá bị dịch bệnh, Tổ hợp tác

sẽ mời cán bộ chuyên môn để tìm nguyên nhân, từ

đó sẽ có cách xử lý thích hợp

Tổ hợp tác Nuôi cá lồng của xã Sơn Tịnh có 26

thành viên Ông Nguyễn Ngọc Khanh - Chủ tịch Hội

Nông dân xã Tịnh Sơn cho biết: Tổ hợp tác được

thành lập sẽ giúp huy động được nguồn vốn lớn, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ thuật chăm sóc, cùng nhau khắc phục khó khăn khi gặp thiên tai, có sự phối

hợp để tìm đầu ra Các thành viên đều có trách

nhiệm xây dựng Tổ hợp tác ngày càng phát triển bền vững, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau bằng các hình thức như truyền đạt kinh nghiệm, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong nuôi thủy sản, tìm đầu vào thức ăn với giá cả phù hợp… giúp giảm chi phí đầu tư, tăng hiệu quả kinh tế Hiện nay, xã Tịnh Sơn có khoảng 72 lồng nuôi với các loại cá như: trắm cỏ, cá chình… hiệu quả mang lại rất khả quan Việc thành lập Tổ hợp tác Nuôi cá lồng đã góp phần thay đổi tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ của người dân, gắn với ý thức bảo vệ môi trường, từ đó thực hiện có hiệu quả mục tiêu phát triển bền vững phong trào nuôi cá lồng ở xã Tịnh Sơn■

Trang 10

Thực hiện chủ trương

chuyển đổi đất sản xuất

lúa thiếu nước, kém hiệu quả

sang cây trồng cạn, trong vụ

mùa 2014, huyện Hoài Ân, tỉnh

Bình Định đã xây dựng mô hình

trồng ngô giống mới PAC999 trên

ruộng chuyển đổi Kết quả, hầu

hết ruộng ngô đều sinh trưởng

khá tốt, lợi nhuận từ sản xuất ngô

đạt 16,84 triệu đồng/ha cao gấp

đôi so với trồng lúa

Mô hình được Nhà nước hỗ

trợ 100% giống, 30% vật tư phân

bón, tập huấn kỹ thuật, có cán bộ

theo dõi hướng dẫn thực hiện;

triển khai trên quy mô 4,3 ha với

32 hộ tham gia tại thôn Linh Chiểu

của xã Ân Phong, huyện Hoài

Ân Giống ngô đưa vào sản xuất

là PAC999 và CP333; gieo trồng,

tập trung từ ngày 17 - 21 tháng 7

năm 2014 Qua theo dõi của cán

bộ kỹ thuật, ngô trổ cờ sau trồng

từ 55 - 60 ngày; thời kỳ chín sáp

từ 90 - 94 ngày Chiều cao bình

quân 2,1 m; chiều cao đóng bắp

bình quân 1,31 m; chiều dài bắp

bình quân 19 cm và đường kính

bắp bình quân 5,6 cm

Ông Trần Văn Thể ở thôn Linh Chiểu, xã Ân Phong, huyện Hoài Ân - nông dân tham gia mô hình cho biết, khi chuyển từ sản xuất lúa sang trồng ngô bà con nông dân gặp nhiều khó khăn ở khâu làm đất Tuy nhiên, càng về sau cây ngô càng phát triển tốt, chống chịu hạn tốt hơn cây lúa nên không cần tưới quá nhiều nước Trong suốt thời gian sinh trưởng của ngô, chỉ phát hiện có

3 đối tượng sâu, bệnh chính gây hại là sâu đục thân, sâu đục bắp

và bệnh khô vằn nên cũng không khó để phòng trừ

Năng suất thực thu bình quân của mô hình đạt trên

70 tạ/ha Tổng thu của mô hình ước đạt 40,491 triệu đồng/ha, cao hơn so với ruộng lúa đối chứng (sản xuất lúa ĐV108) trên

11 triệu đồng/ha Sau khi trừ các khoản chi phí, ruộng ngô thu lãi 16,84 triệu đồng/ha, cao hơn hơn gấp đôi so với ruộng trồng lúa (chỉ lãi 8,83 triệu đồng/ha)

Phát biểu tại Hội nghị đầu

bờ mô hình chuyển đổi đất lúa thiếu nước, kém hiệu quả sang

trồng ngô, bà Nguyễn Thị Tố Trân - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Bình Định nhận định: Vùng đất xây dựng mô hình rất phù hợp với mục đích, chủ trương chuyển đổi chung của tỉnh Những năm đầu chuyển đổi bà con sẽ gặp khó khăn trong khâu làm đất Do

đó, các cấp, các ngành và địa phương cần hỗ trợ để bà con nông dân có điều kiện tiếp tục chuyển đổi theo đúng chủ trương của tỉnh Kết quả thành công của

mô hình đã gợi mở để Trung tâm

có định hướng mới trong việc lựa chọn mô hình chuyển giao cho bà con nông dân trong thời gian tới

Ông Hồ Ngọc Hùng - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Bình Định cho biết, quy hoạch đến năm 2015, diện tích gieo trồng ngô toàn tỉnh khoảng 12.000 ha, năng suất 58 tạ/ha, sản lượng 69.600 tấn; năm 2020 diện tích gieo trồng ngô toàn tỉnh khoảng 15.000 ha, năng suất

63 tạ/ha, sản lượng 94.400 tấn

Sở sẽ xây dựng phương án và chính sách hỗ trợ phát triển cây ngô gắn với chủ trương chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng cạn (ngô, lạc, vừng…) trình Ủy ban Nhân dân tỉnh xin phê duyệt Đồng thời, tổ chức liên kết trong sản xuất, liên kết giữa nông dân với nông dân thành vùng hàng hoá, liên kết nông dân với doanh nghiệp để cung ứng vật tư, thu mua tiêu thụ sản phẩm, liên kết giữa nông dân với các nhà khoa học để áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; hình thành các tổ hợp tác cùng sản xuất, tiêu thụ nông sản; lấy hiệu quả của sản xuất làm mục tiêu, sản xuất theo quy hoạch và yêu cầu của thị trường, tiến tới người sản xuất phải biết sản xuất theo chuỗi giá trị■

ĐINH VĂN TOẠI

Sở Nông nghiệp và PTNT Bình Định

Cây ngô lai sinh trưởng phát triển tốt trên đất sản xuất lúa thiếu nước

LỢI NHUẬN TĂNG GẤP ĐÔI

NHỜ CHUYỂN ĐỔI SẢN XUẤT

Trang 11

Dự án triển khai đã được nhiều bà con nông

dân tham thực hiện đánh giá cao Từ năm

2012 đến nay, Dự án triển khai nhân rộng được 300

hộ trồng cỏ với quy mô 35 ha Trong khuôn khổ Dự

án chỉ đầu tư về giống cỏ và kỹ thuật cho các hộ là

400 m2/hộ, tuy nhiên đến nay, đa số các hộ đã nhân

rộng lên từ 5.000 - 10.000 m2/hộ Từ đó số lượng

đàn bò cũng tăng đáng kể Theo thống kê, trước khi

triển khai Dự án, bình quân mỗi hộ chỉ nuôi 2 - 3 con

bò Nhưng sau 2 năm Dự án triển khai, đã tăng lên

trung bình 10 - 12 con/hộ

Anh Trần Phi Hoàn ở bon U3, thị trấn Ea Tlinh,

huyện Cư Jút nuôi bò từ năm 2002 Lúc đầu anh chỉ

nuôi 4 - 5 con theo hình thức chăn thả nên bò lâu

lớn, hiệu quả kinh tế không cao Năm 2012, được

sự hỗ trợ của Dự án đầu tư về giống và kỹ thuật,

anh đã trồng 5 giống cỏ (cỏ voi, cỏ voi tím, cỏ sả, cỏ

VA06, cỏ ghi-nê) với quy mô 500 m2 Đây là những

giống cỏ làm thức ăn cho bò có năng suất và chất

lượng cao Nhận thấy trồng cỏ mang lại nhiều lợi

ích, đến nay anh Hoàn đã mở rộng diện tích lên

5000 m2, đồng thời nhân số lượng đàn bò lên 23

con trong đó có 12 bò cái, 10 con bê lai và 1 con bò

đực lai Shind Mỗi năm gia đình anh xuất bán trung

bình 10 con bê lai với giá 15 - 20 triệu đồng/con, mang về thu nhập khoảng 150 - 200 triệu đồng Phát biểu tại Hội thảo tổng kết mô hình trồng

cỏ nuôi bò, anh Trịnh Thanh Phong ở thôn 12, xã Nam Dong cho biết: “Gia đình tôi tham gia thực hiện

mô hình trong Dự án từ năm 2012 Lúc đầu, đàn

bò của gia đình tôi có 4 con, đến nay có 11 con; diện tích trồng cỏ của gia đình ban đầu 400 m2,đếnnay có khoảng 4000 m2 Ngoài ra, khi tham gia Dự

án tôi còn được tập huấn về kỹ thuật vỗ béo bò Năm 2013, gia đình tôi vỗ béo 4 con bò lai theo phương pháp cho ăn cỏ tự do (đầy máng cả ngày lẫn đêm), cộng với 2 kg thức ăn tinh/con/ngày và cho uống nước đầy đủ Thức ăn tinh được phối trộn theo công thức 50% bắp + 47,5% cám gạo + 2% urê + 0,5% muối ăn Nuôi vỗ béo bò trong vòng

3 tháng Tăng trọng trung bình của bò đạt 27 kg/con/tháng, đặc biệt trong tháng đầu tiên tăng trọng đạt

35 kg/con/tháng Sau 3 tháng nuôi vỗ béo, trừ tất

cả các chi phí, lợi nhuận thu được đạt 3,5 triệu đồng/con” Hiện, phong trào trồng cỏ, nuôi bò ở huyện Cư Jút phát triển khá mạnh Toàn huyện đã trồng được hơn

35 ha cỏ bao gồm các giống: cỏ VA06, cỏ sả, stylo

và mulato Việc trồng cỏ đã góp phần giúp đàn bò tăng đáng kể Tính đến giữa năm 2014, toàn huyện

có trên 2.000 hộ tham gia nuôi bò với tổng đàn lên đến 6.000 con, tập trung ở các xã Nam Dong, xã Trúc Sơn, thị trấn Ea Tlinh Từ mô hình trồng cỏ nuôi bò, nhiều gia đình đã thoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng

Có thể nói, mô hình trồng cỏ nuôi bò do Dự án

“Cải thiện các hệ thống nuôi dưỡng động vật ăn

cỏ trong nông hộ tại khu vực tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam” triển khai ở huyện Cư Jút tuy không mới nhưng là hướng đi đúng trong mục tiêu phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững Bởi lẽ, ngoài việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, mô hình còn góp phần quan trọng vào chương trình lai hóa và nâng cao chất lượng đàn bò trên địa bàn■

PHẠM THỊ SIM

Trạm Khuyến nông Khuyến ngư huyện Cư Jút,

tỉnh Đắk Nông

Mô hình nuôi nhốt bò tại hộ anh Trần Phi Hoàn

ở bon U3, thị trấn Ea Tlinh, huyện Cư Jút

NUÔI DƯỠNG ĐỘNG VẬT ĂN CỎ

GIÚP NÔNG DÂN LÀM GIÀU

Cải thiện hệ thống

Trang 12

Vụ đông 2014, xã Nhân Thắng, huyện Gia

Bình, tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo mở rộng diện

tích cây màu vụ đông lên 148 ha với các cây có thế

mạnh là bí các loại, ngô, còn lại là khoai tây, khoai

lang, hành, tỏi, đỗ tương và rau ngắn ngày Nét mới

trong công tác chỉ đạo là toàn bộ diện tích bí được

nông dân trồng xen ngô nhằm nâng cao thu nhập

Dẫn chúng tôi đi thăm các cánh đồng vừa mới

thu hoạch xong vụ lúa mùa vẫn còn thoang thoảng

của mùi rơm nếp, ông Nguyễn Bá Dương - Phó

Chủ tịch UBND xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình chỉ

cho chúng tôi xem khu đồng của thôn Nhân Hữu

Tại đây màu xanh của bí, ngô, đỗ, rau các loại đã

phủ kín các thửa ruộng Ông Dương quả quyết:

“Vụ đông này, Nhân Thắng quyết tâm về đích sớm

nhất huyện” Xã Nhân Thắng vốn là địa phương có

truyền thống sản xuất cây vụ đông, nhiều hộ trồng

từ 2 - 3 mẫu, còn số hộ trồng 5-7 sào thì khá phổ

biến Cũng nhờ sản suất cây vụ đông mà không ít

gia đình đã xây dựng được nhà cửa khang trang,

mua sắm đầy đủ tiện nghi phục vụ sinh hoạt và

nuôi con cái ăn học trưởng thành Ngoài việc đưa

các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, thị trường

tiêu thụ ổn định vào trồng như: dưa chuột, cà chua,

hành, tỏi, bí các loại, ngô thì yếu tố chớp thời vụ để

có sản phẩm bán đầu vụ được giá cao đã thành bí

quyết của người dân nơi đây

Nếu như các địa phương trong huyện phải thu

hoạch xong mới có đất làm vụ đông thì ở Nhân

Thắng khi lúa mùa vào thời kỳ “đỏ đuôi, xuôi quả”

là bà con đã đưa bí ra ruộng rẽ lúa đặt bầu Khi lúa

thu hoạch là lúc bí đã vươn dài được từ 40 - 50 cm,

lúc này người dân chỉ việc cắt rạ phủ lên mặt luống,

chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh, áp dụng các biện

pháp kỹ thuật cho bí phát triển nhánh, ra hoa, tạo quả và có bí bán sớm vào khoảng cuối tháng 11 Ông Nguyễn Bá Dương khẳng định thêm: “Ở Nhân Thắng người người, nhà nhà đều tham gia sản xuất

vụ đông Đặc biệt, tỉnh tiếp tục có chính sách hỗ trợ theo Quyết định số 318 cùng với cơ chế thưởng của UBND huyện nên đây thực sự là cú hích đối với cán bộ và nhân dân trong xã trong chỉ đạo và sản xuất vụ đông” Với phương châm chỉ đạo “Sáng lúa, chiều cây màu”, đến nay Nhân Thắng đã gieo trồng được 130 ha đạt 87,8% kế hoạch; trong đó có 87 ha

bí, 26 ha ngô còn lại là hành, tỏi

Năm 2014, toàn bộ diện tích bí vụ này nông dân được hướng dẫn trồng xen ngô nếp HN88 trung bình mỗi sào từ 350 - 400 cây và là nguồn thu đáng kể sau này Được biết phương pháp trồng ngô xen bí ở Nhân Thắng tận dụng được nguồn phân bón thừa từ bí để phát triển cây ngô Cùng với

đó, ngô có tác dụng ngăn cản gió bấc giữ cho lá bí không bị táp nâng cao hiệu quả thụ phấn, đậu quả Chiều muộn nhưng trên các khu đồng của xã Nhân Thắng, không khí sản xuất vụ đông vẫn khá khẩn trương cùng với tiếng cười nói râm ran của bà con phấn khởi sau vụ mùa thắng lợi, đó là động lực giúp người dân nơi đây nhanh chóng gieo trồng các loại cây màu còn khung thời vụ

Đưa mắt nhanh qua các cánh đồng toàn màu xanh của bí, ngô và các cây rau màu khác Phó Chủ tịch Nguyễn Bá Dương không giấu nổi niềm vui: “Vụ này Nhân Thắng sẽ đạt doanh thu khoảng hơn 6 tỷ đồng từ sản xuất vụ đông”, bằng 35% tổng thu nhập của 400 ha lúa vụ mùa năm 2014■

XUÂN THỦY

Đài Phát thanh huyện Gia Bình, Bắc Ninh

Bắc Ninh: TRỒNG NGÔ XEN BÍ

Trang 13

Sau 3 năm triển khai xây

dựng Chương trình Mục

tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn

mới (NTM), xã Thạnh Hòa, huyện

Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang đã

hoàn thành 19/19 tiêu chí NTM

Thạnh Hòa là 1 trong 11 xã

được chọn làm điểm của tỉnh Hậu

Giang để thực hiện xây dựng xã

NTM theo các tiêu chí của Bộ tiêu

chí Quốc gia về NTM Hiện tại,

Thạnh Hòa chỉ còn chờ xét duyệt

công nhận nữa là thành xã NTM

thứ 4 của tỉnh Hậu Giang Phát

huy mọi nguồn lực và quyết tâm

hoàn thành mục tiêu, đến nay, xã

Thạnh Hòa đã hoàn thành 19/19

tiêu chí mà chương trình đặt ra

Có được thành công trên là do xã

đã thực hiện tốt công tác tuyên

truyền và triển khai sâu rộng đến

nhân dân, cũng như vận động

nguồn lực xã hội để xây dựng

nông thôn, phát huy sức mạnh

dân chủ ở cơ sở. Điều đó được

thể hiện qua sự đóng góp của

nhân dân từ việc hiến đất, góp

công, góp sức thực hiện các

công trình. Bên cạnh đó, người

dân còn ý thức rất cao trong việc

xây dựng đời sống văn hóa, tích

cực tham gia phòng chống tội

phạm, giữ gìn trật tự - an ninh

để cùng chính quyền địa phương

hoàn thành các tiêu chí NTM.

Ông Từ Văn Hải ở ấp Nhất cho

biết: Trước đây, con đường trước

nhà ông chỉ rộng 1,5 m, lại xuống

cấp nên việc đi lại vô cùng khó

khăn Năm 2012, xã chủ trương

làm lại đường theo tiêu chuẩn

NTM Chỉ trong 3 tháng thực hiện

mà đoạn đường dài gần 5 km đã

hoàn thành trong niềm vui và sự

phấn khởi của bà con nơi đây

Ông Đặng Việt Hiểu, Phó Chủ tịch UBND xã Thạnh Hòa cho hay:

“Nhiều hộ gia đình đóng góp điển hình trong phong trào xây dựng NTM của xã như gia đình ông Đặng Văn Sang ở ấp Phú Xuân hiến 2.000 m2 đất để làm đường,

hộ bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết ở

ấp Nhất ủng hộ tiền để xây dựng hơn 30 cây nước, xây dựng nhà cho một số hộ khó khăn trên địa bàn xã” Ngoài ra, xã còn tập trung mọi nguồn lực để xây dựng

hệ thống đê bao, thủy lợi, nhanh nhạy trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xây dựng các tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường tạo nên nhân tố quyết định trong xây dựng NTM Về tỷ lệ hộ nghèo, trong 3 năm qua, xã quyết tâm thực hiện công tác giảm nghèo bằng nhiều chương trình, dự án như đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, cho vay vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ nhà ở, tạo nhiều mô hình thoát nghèo Hiện tại, hộ nghèo của xã giảm xuống còn 6,83% Tỷ lệ lao động có việc làm trên địa bàn xã đạt 93,22%

Tỷ lệ sử dụng nước sạch và hợp

vệ sinh đạt 92,85%; 95% hộ có hàng rào trước cổng nhà, đường vào nhà khô ráo, sạch sẽ. Điểm

đáng chú ý trong quá trình thực hiện NTM của xã là 8/8 ấp đều đạt danh hiệu ấp văn hóa, chiếm

tỷ lệ 100% Hàng năm, các thiết chế văn hóa đều được nâng cấp, sửa chữa. Cùng góp tay xây

dựng nông thôn mới ở Thạnh Hòa, Công ty cổ phần Thủy sản

và Xuất nhập khẩu Côn Đảo đã

và đang thực hiện mô hình nhân giống cá thác lác và chuyển giao quy trình nhân giống và nuôi cá thương phẩm trên địa bàn xã Thạnh Hòa Nhờ vậy, cuộc sống của rất nhiều hộ dân trên địa bàn xã đã thoát nghèo, trở nên khá, giàu

Giờ đây, tại Thạnh Hòa, những ngôi nhà mái lá đã được thay bằng nhà tường kiên cố, khang trang và đầy đủ trang thiết

bị, nội thất. Thành công ngày hôm

nay của Thạnh Hòa là sự quyết tâm cao, sự chung tay góp sức của chính quyền và nhân dân toàn xã■

NGUYÊN LINH

CÁN ĐÍCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Người dân Thạnh Hòa có ý thức rất cao trong xây dựng nông thôn mới

Trang 14

Vụ thu đông năm 2014, từ nguồn kinh phí

Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến

nông Khuyến ngư Đồng Tháp đã chỉ đạo Trạm

Khuyến nông huyện Châu Thành xây dựng Mô hình

áp dụng 3 giảm 3 tăng trong sản xuất lúa thuộc Dự

án: “Áp dụng 3 giảm 3 tăng và kỹ thuật trồng lúa

SRI nhằm nâng cao hiệu quả và góp phần giảm

phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa”

Mô hình được thực hiện từ tháng 5 - 10/2014,

với quy mô 60 ha, với 76 hộ tham gia, được triển

khai tại Tổ hợp tác Dịch vụ nông nghiệp An Phú, xã

An Khánh huyện Châu Thành Nông dân sử dụng

giống lúa chất lượng cao OM5451 cấp xác nhận,

được hỗ trợ 100% chi phí giống và 30% chi phí vật

tư nông nghiệp, với tổng giá trị đầu tư 4.158.500

đồng/ha Đầu vụ, bà con tham gia mô hình được

cán bộ kỹ thuật Trạm Khuyến nông Châu Thành tập

huấn về kỹ thuật canh tác lúa áp dụng 3 giảm 3

tăng, quản lý nước “ngập khô xen kẽ”, quản lý các

đối tượng dịch hại chủ yếu trên ruộng lúa, sử dụng

thuốc BVTV an toàn và hiệu quả, đồng thời bà con

được hướng dẫn và thực hành sổ tay ghi chép tình

hình sản xuất lúa Ngoài ra, để nhân rộng mô hình,

Dự án còn tổ chức tập huấn nhân rộng cho 60 hộ

nông dân chưa tham gia mô hình và tổ chức hội

nghị tham quan cho 100 nông dân ở các xã lân cận

đến học hỏi, trao đổi kinh nghiệm

Qua 5 tháng thực hiện mô hình, nông dân được

trang bị kiến thức cơ bản ứng dụng vào sản xuất

lúa giảm giá thành và tăng lợi nhuận Sạ thưa, tiết

kiệm nước theo nhu cầu của cây lúa, không đốt

rơm rạ hạn chế phát khí thải bằng cách sử dụng

nấm Trichoderma phân hủy hoặc sử dụng để phát

triển nghề nấm rơm trong thời gian tới Bà con còn

biết phân tích hệ sinh thái đồng ruộng, phun thuốc

bảo vệ thực vật theo 4 đúng và thực hành ghi chép

Sổ tay tình hình sản xuất lúa giúp nông dân hạch

toán đúng hiệu quả sản xuất

Kết quả cho thấy, năng suất trong mô hình đạt

6,5 tấn/ha, cao hơn 300 kg/ha so với sản xuất

theo tập quán cũ (trước đây nông dân sử dụng

giống IR50404) Nhờ áp dụng biện pháp “3 giảm

3 tăng” đã giúp người dân tiết kiệm khoảng 100 kg/ha lượng giống gieo sạ, đặc biệt là giảm được lượng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, nên giá thành sản xuất thấp hơn ngoài mô hình khoảng

703 đồng/kg, lợi nhuận bình quân đạt 15,9 triệu đồng/ha cao hơn so với sản xuất theo tập quán cũ khoảng 6,6 triệu đồng/ha; đây là khoản lợi nhuận không nhỏ đối với bà con nông dân Ngoài ra, mô hình còn tạo ra sản phẩm sạch, bảo vệ môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng

Thực tế đã cho thấy, mô hình mang lại hiệu quả

cả 3 mặt về kinh tế, khoa học và môi trường Về kinh tế, đã giúp giảm đầu tư giống, phân bón, thuốc BVTV, nước, giúp giá thành thấp mà hiệu quả kinh

tế cao Về khoa học, đã làm thay đổi không những

về nhận thức và tập quán sản xuất của bà con nông dân, mà còn giúp cho cán bộ kỹ thuật tiếp cận những kiến thức, quy trình canh tác mới trong thâm canh sản xuất lúa Về môi trường, áp dụng 3 giảm

3 tăng góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất, bảo

vệ thiên địch và tạo ra sản phẩm an toàn■

LÊ THỊ KIM THÚY

Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Đồng Tháp

Bà con tham quan mô hình

áp dụng 3 giảm 3 tăng trong sản xuất lúa tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

Áp dụng 3 giảm 3 tăng

và kỹ thuật trồng lúa SRI

NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

VÀ GÓP PHẦN GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH

Trang 15

Xã Long Điền Đông thuộc huyện Đông

Hải - một huyện nghèo ven biển của tỉnh

Bạc Liêu Vài năm trước đây, nghề nuôi tôm sú ở

địa phương gặp nhiều khó khăn vì tôm nuôi mắc

bệnh, bị chết nhiều và gây thiệt hại lớn cho người

nuôi Trước tình hình đó, một số người đã chuyển

sang nuôi các đối tượng khác như cá kèo, tôm chân

trắng trong vùng nuôi tôm sú bị bệnh ở những vụ

trước và đã thu được kết quả khả quan Một trong

số đó là ông Phạm Thái Hòa ở ấp Bửu 1 của xã

Ông Hòa bắt đầu nuôi tôm sú đã từ 7 năm trước

Sau 3 năm nuôi tôm sú theo hình thức bán thâm

canh và thâm canh, ông chuyển sang nuôi cá kèo

trong 2 năm 2011 và 2012, mỗi năm đầu tư khoảng

350 triệu đồng nhưng chỉ thu được 50 - 70 triệu

đồng tiền lãi

Nhận thấy lợi nhuận của việc nuôi cá kèo không

cao, lại sẵn có một số kinh nghiệm sau những năm

nuôi tôm sú nên từ năm 2013, ông bắt đầu nuôi tôm

chân trắng - một đối tượng có chu kỳ nuôi ngắn và

có nhu cầu tiêu thụ lớn trên thị trường

Ông Hòa đã sử dụng quy trình nuôi vi sinh để

tạo ra sản phẩm tôm sạch trong 2 ao nuôi với diện

tích 4.400 m2 Hệ thống ao của gia đình ông có ao

nuôi và ao chứa lắng riêng biệt, nằm gần hệ thống kênh chính nên chủ động được việc cấp thoát nước

và đảm bảo chất lượng nguồn nước nuôi tôm.Trước khi thả tôm giống vào ao nuôi, ông Hòa

đã tiến hành cẩn thận các khâu kỹ thuật như cải tạo

ao, lấy nước vào ao và gây màu nước cho ao

Cụ thể, ông đã sên vét đáy ao, loại bỏ lớp bùn đen ra khỏi ao rồi bón vôi (CaO hoặc CaCO3) cho

ao với liều lượng từ 7 tạ đến 1 tấn/ha để làm tăng

độ pH của đất Tiếp đến là phơi ao từ 7 - 10 ngày để diệt mầm bệnh của vụ nuôi trước

Sau đó, ông lấy nước vào ao qua túi lọc Khoảng

3 - 5 ngày sau, dùng saponin diệt tạp trong ao với liều lượng 15 - 20 kg/1.000 m3, dùng BKC từ

2 - 3 lít/1.000 m3 để diệt vi khuẩn và virus Ông Hòa đã sử dụng các chế phẩm vi sinh là sản phẩm

có chứa các nhóm vi sinh vật có lợi như Bacillus subtilis, Lactobacillus và các vitamin, các axít amin

thiết yếu cho tôm nuôi để gây màu nước; đồng thời theo dõi các yếu tố thủy lý, thủy hóa trong ao, đến khi đạt các chỉ số cần thiết như pH = 7,5 - 8,5, độ trong 30 - 40 cm, độ kiềm 80 - 120 mg/lít, khí độc

< 0,1 ppm, nước có màu xanh lục bắt đầu tiến hành thả tôm giống vào ao

Ông Hòa cho biết, việc lựa chọn tôm giống thả nuôi là khâu rất quan trọng, mang tính quyết định đối với thành quả của cả vụ nuôi Ông Hòa thường mua tôm giống tại các cơ sở sản xuất giống được

cơ quan nhà nước quản lý, không mua tôm giống trôi nổi trên thị trường, không có nguồn gốc xuất

xứ rõ ràng Tôm giống phải từ cỡ PL10 trở lên, có kích thước đồng đều, đường ruột to, bơi lội nhanh nhẹn Khi gây sốc bằng độ mặn trong 1 giờ, nếu tỷ

lệ tôm chết dưới 10% là đạt yêu cầu Tôm giống phải được qua xét nghiệm PCR để đảm bảo tôm không mang mầm bệnh, hạn chế được rủi ro trong quá trình nuôi

Ông Hòa

Nuôi tôm không hòa, có lãi

Ngày đăng: 21/03/2015, 15:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình hỗ trợ chăn nuôi vịt biển đối - thông tin Khuyến nông Việt Nam 18 (2014)
Hình h ỗ trợ chăn nuôi vịt biển đối (Trang 8)
Hình của ông đã mang lại hiệu quả cao. Ông Nam - thông tin Khuyến nông Việt Nam 18 (2014)
Hình c ủa ông đã mang lại hiệu quả cao. Ông Nam (Trang 9)
Hình sản xuất lúa. Ngoài ra, để nhân rộng mô hình, - thông tin Khuyến nông Việt Nam 18 (2014)
Hình s ản xuất lúa. Ngoài ra, để nhân rộng mô hình, (Trang 14)
Hình thức kết hợp giữa nuôi nhốt và nuôi thả, cho - thông tin Khuyến nông Việt Nam 18 (2014)
Hình th ức kết hợp giữa nuôi nhốt và nuôi thả, cho (Trang 17)
Hình  sẽ  cho  lợi  nhuận  cao  và - thông tin Khuyến nông Việt Nam 18 (2014)
nh sẽ cho lợi nhuận cao và (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w