Theo đó “Tài trợ thương mại quốc tế là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ về mặt tàichính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoặc đơn vị kinh tế tham giahoạt động kinh d
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BIDV : Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
ODA : Official Development Assistance- đầu tư nước ngoài
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
TMQT : Thương mại quốc tế
TMCP : Thương mại cổ phần
D/P (Document against payment) : Nhờ thu chứng từ trả ngay
ICC (Internationnal Chamber of Commerce) : Phòng thương mại quốc tế
ISBP
L/C : Tín dụng thư
UCP (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits): Quy tắc thựchành thống nhất về tín dụng chứng từ
URC ( The Uniform Rules for Collections): Quy tắc thống nhất về nhờ thu
URDG ( The Uniform Rules for Demand Guarantees ): Quy tắc thống nhất về bảolãnh
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển và đang trên con đường công nghiệphóa, hiện đại hóa để đạt tới một nước công nghiệp ngang tầm với các nước trongkhu vực và trên thế giới Với những mục tiêu đặt ra, việc chuyển hướng kinh doanhcác ngân hàng thương mại, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ để phát huy tối đa nộilực và tận dụng tối đa nguồn vốn từ bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong chiếnlược phát triển nền kinh tế- xã hội của đất nước
Khi bước vào công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, Đảng và Nhà nước ta
đã xác định nền kinh tế Việt Nam phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xãhội chủ nghĩa Do đó, chiến lược huy động vốn để phát triển nền kinh tế luôn đượcphát triển theo phương châm khơi trong hút ngoài Hiện nay, các tổ chức tín dụngluôn bám vào phương châm đó để thực hiện chiến lược huy động vốn và đặc biệtchú trọng huy động vốn từ bên ngoài Chính sách huy động vốn và sử dụng nguồnvốn có hiệu quả có vai trò quan trọng trong việc lợi dụng vốn, khoa học công nghệ,kinh nghiệm quản lý để phát triển nền kinh tế
Những năm gần đây, Nhà nước tập trung chiến lược phát triển kinh tế theohướng ngoại Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại luôn là một trongnhững định hướng phát triển hàng đầu của quá trình Công nghiệp hóa- hiện đại hóađất nước trong đó phát triển ngoại thương luôn được coi là trọng điểm Các doanhnghiệp làm công tác xuất nhập khẩu cần khối lượng vốn lớn, do đó bằng mọi hìnhthức phải tài trợ vốn cho doanh nghiệp Các doanh nghiệp có thể huy động vốn từnhiều nguồn, bên cạnh nguồn vốn hỗ trợ chính thức ODA để xây dựng và phát triển
cơ sở hạ tầng thì nguồn vốn tài trợ thương mại cũng có ý nghĩa quan trọng để giúpdoanh nghiệp có đủ vốn duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó,BIDV- một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu tại Việt Nam, luôn chútrọng và tập trung phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế với nhiều sản
Trang 6phẩm dịch vụ ngày càng phong phú, đóng góp không nhỏ vào việc nâng cao hiệuquả kinh doanh của Ngân hàng Tuy nhiên, để tạo ra lòng tin đối với các ngân hàngnước ngoài và các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước thì BIDV một mặt phảitiếp tục phát huy những ưu điểm và mặt khác quan trọng hơn là phải phát hiện kịpthời, đầy đủ những mặt yếu kém trong lĩnh vực tài trợ thương mại quốc tế Nhậnthức được tầm quan trọng đó, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “ Phát triển hoạtđộng tài trợ thương mại quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Pháttriển – BIDV” làm đề tài ngiên cứu
Mục đích của đề tài :
Mục đích nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp là giới thiệu đầy đủ hơn một sốnội dung của hoạt động tài trợ thương mại quốc tế và làm rõ thực trạng, phân tích,đánh giá và đề ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tếtại BIDV
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàngthương mại
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại BIDV
Phương pháp nghiên cứu
-Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng học thuyết kinh tế chính trị
Mác- Lê Nin, các lý thuyết kinh tế học hiện đại về tiền tệ, tín dụng và hiệu quả kinh
tế xã hội, quán triệt tư tưởng và quan niệm đổi mới kinh tế của Đảng Cộng Sản ViệtNam
- Phương pháp nghiên cứu: Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tiếp cận hệ
thống và phân tích hệ thống, dùng lý luận để đánh giá thực tiễn, ứng dụng lý luận vàthực tiễn vào khoa học quản lý kinh doanh ; phương pháp so sánh và phân tích kếthợp với phương pháp chọn mẫu và hệ thống hóa khoa học
Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm 3 chương:
Trang 7Chương I : Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế củacác ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại BIDV
Chương III: Một số giải pháp phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tếtại BIDV
Để có thể hoàn thành khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến sựhướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo ThS Nguyễn Thị Thanh Phương cùng sựgiúp đỡ quý báu của các cán bộ Sở Giao Dịch 1- Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam
Trang 8CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế
Tài trợ thương mại quốc tế là một lĩnh vực đã được nhiều tác giả nghiên cứu ởnhiều góc độ và được đề cập đến bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như tài trợ ngoạithương, tài trợ xuất khẩu, nhưng với nội dung không hoàn toàn trùng lặp Để đưa rađược một khái niệm hoàn chỉnh về tài trợ thương mại quốc tế không hề dễ dàng.Sau khi tham khảo ở nhiều tài liệu, có thể tìm ra được một khái niệm tương đối trọnvẹn được đề cập đến trong đề tài : “ Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụngnguồn tài trợ thương mại quốc tế ở Việt Nam” của GS Đinh Xuân Trình Theo đó “Tài trợ thương mại quốc tế là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ về mặt tàichính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoặc đơn vị kinh tế tham giahoạt động kinh doanh thương mại trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quátrình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thịtrường thế giới nhằm mục đích sinh lời”
Nếu xem xét về hình thức tài trợ thì tài trợ thương mại quốc tế được thực hiệndưới hai thức: Thứ nhất, hình thức hỗ trợ về tài chính , thông thường được thực hiệnthông qua việc cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn các doanh nghiệp và đơn vịkinh tế để tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, máy mócthiệt bị, hàng tiêu dùng … Thứ hai, hình thức cung ứng dịch vụ tiền tệ - tín dụng,thông thường được thực hiện thông qua các dịch vụ thanh toán quốc tế ( Nhưchuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu hay tín dụng chứng từ …), bảo lãnh , bao thanh toán,thuê mua tài chính …
Còn nếu căn cứ vào người cung ứng tài trợ thương mại quốc tế1 có thể chia
1 Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương- GS Đinh Xuân Trình
Trang 9thành : Thứ nhất là tài trợ thương mại quốc tế của nhà nước, đặc trưng của hìnhthức tài trợ này là tài trợ gián tiếp thông qua ngân hàng trung ương, các tổ chức tíndụng ngân hàng và phi ngân hàng, các cơ quan chính phủ …bằng các biện phápbình ổn giá, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ xúc tiến phát triển …dưới các hình thức bảolãnh, tái chiết khấu và thông qua các chính sách tài chính- tiền tệ ở tầm vĩ mô Thứhai là tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàng trung ương, ở hình thức này ngânhàng trung ương trở thành người thực hiện các chính sách cho vay tái cấp vốn, táichiết khấu, cấp bảo lãnh nhà nước, thực hiện các chính sách tài chính –tiền tệ như tỷgiá, lãi suất , phá giá tiền tệ …Thứ ba là tài trợ thương mại quốc tế của các các tổchức tín dụng, đặc trưng của hình thức tài trợ này là tài trợ trực tiếp từ người tài trợđến người nhận tài trợ, không phải qua các kênh trung gian khác, thông qua chovay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, thuê mua tài chính, tín dụng chứng từ,nhờ thu…Thứ tư là tài trợ thương mại của các doanh nghiệp, với công cụ sử dụngthường là tín dụng thương mại như hối phiếu trả chậm, thanh toán ghi sổ, ứng tiềntrước khi giao hàng …
Ngày nay, khi quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa ngày càng được mở rộng
và đi vào các cam kết thực chất thì các hình thức tài trợ thương mại quốc tế của cácchủ thể như nhà nước và ngân hàng trung ương ngày càng bị hạn chế và thu hẹp.Thay vào đó là nổi lên vai trò của các tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp với cáchình thức tài trợ đa dạng, linh hoạt và đảm bảo tính cạnh tranh công bằng cho hoạtđộng thương mại quốc tế Theo đó, với tính chuyên nghiệp cao, tiềm lực tài chínhdồi dào và mạng lưới cơ sở rộng khắp các ngân hàng thương mại đã trở thành nhàtài trợ chủ yếu cho hoạt động thương mại quốc tế Chính bởi lý do đó, trong phạm
vi khóa luận này hoạt động thương mại quốc tế sẽ được đề cập đến dưới góc độ nhàtài trợ là các ngân hàng thương mại , hay nói cách khác hoạt động tài trợ thươngmại quốc tế được hiểu là hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàngthương mại
Trang 101.2 Vai trò của tài trợ thương mại quốc tế
Có thể nói sự ra đời tài trợ thương mại quốc tế là một yêu cầu tất yếu kháchquan, gắn liền các quan hệ thương mại giữa các nước với nhau Tài trợ thương mạiđược coi là bà đỡ cho hoạt động thương mại quốc tế Có thể đưa ra những vai tròchủ yếu của tài trợ thương mại quốc tế như sau
1.2.1 Vai trò đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, thông qua hoạt động tài trợ thương mại quốc tế các doanh nghiệp
có thể được cấp tín dụng ( trực tiếp hoặc gián tiếp) để phục vụ cho hoạt động kinhdoanh xuất nhập khẩu của mình Trong hoạt động kinh doanh không phải lúc nàonguồn vốn của doanh nghiệp cũng đủ để tài trợ cho các chi phí phát sinh như mua hànghóa, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực xuất nhập khẩu, với giá trị hàng hóa giao dịch rất lớn, doanh nghiệp thường phảithông qua tài trợ thương mại quốc tế mới có thể có khả năng chi trả hay cam kết chi trảcho đối tác để đưa hàng hóa vào sản xuất hoặc kinh doanh Nếu không có sự hỗ trợcủa ngân hàng thì nhiều khi doanh nghiệp không đủ vốn để thực hiên các thương vụmua bán trên thị trường quốc tế Do đó, với sự tài trợ về vốn của ngân hàng mà cácdoanh nghiệp có thể khả năng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, trang trải chi phíthực hiện hợp đồng…tạo khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế và nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh
Thứ hai, hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàng thương mại làphương thức hiệu quả trong việc hạn chế rủi ro khi tham gia kinh doanh trên thịtrường quốc tế Thông qua các hình thức tài trợ thương mại quốc tế thì các ngânhàng sẽ chịu trách nhiệm đối với các rủi ro như rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi rothương mại… Đương nhiên các doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm trong việcchi trả nhữn chi phí cho việc “chuyển rủi ro” này
Cuối cùng, hoạt động tài trợ thương mại quốc tế góp phần nâng cao uy tíndoanh nghiệp trong kinh doanh Trong quá trình tìm kiếm đối tác, rất nhiều doanhnghiệp vấp phải vấn đề uy tín đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mới
Trang 11thành lập Đó chính là cơ sở để ngân hàng cho ra đời hình thức tài trợ dưới hìnhthức bảo lãnh Với hình thức này ngân hàng đã thay mặt doanh nghiệp đứng ra bảođảm khả năng hoàn thành nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hợp đồng, tôn thêm đượchình ảnh của doanh nghiệp, tăng thêm niềm tin với bạn hàng, giành được ưu thế cạnhtranh từ các đối thủ và dễ dàng dành được hợp đồng thương mại quốc tế.
1.2.2 Vai trò đối với ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại bằng việc thực hiện tài trợ thương mại đã tạo ramột khoản thu lớn từ các chi phí dịch vụ, phí bảo lãnh rủi ro Các khoản thu nàythường có giá trị không nhỏ bởi lẽ bản thân giá trị của các hợp đồng tài trợ thươngmại quốc tế bao giờ cũng ở mức khá cao Hơn thế nữa, phát triển hoạt động tài trợthương mại quốc tế góp phần thúc đẩy sự phát triển nói chung của các loại hìnhdịch vụ khác của ngân hàng thương mại như: nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ thanhtoán quốc tế, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối đồng thời tạo ra mối liên hệ gắn kếtgiữa các loại hình dịch vụ này với nhau Nhờ vậy, ngân hàng thương mại sẽ thựchiện hiệu quả việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách hàng theo
đó nâng cao được sức cạnh tranh và tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh
Tài trợ thương mại quốc tế giúp các ngân hàng thương mại nâng cao độ antoàn và hạn chế rủi ro Thông qua hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, ngân hàngthương mại có thể kiểm soát được các nguồn thanh toán một cách tập trung bằngcác tài khoản thanh toán mở tại chính ngân hàng Bên cạnh đó, ngân hàng thươngmại cũng có thể hạn chế được rủi ro từ việc hạn chế tình trạng sử dụng vốn sai mụcđích của bên được thanh toán
Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế giúp ngân hàng thương mại tiếp cận được
với thị trường tài chính ngân hàng toàn cầu, mở rộng mối quan hệ hợp tác với các ngânhàng thương mại nước ngoài, nắm được các tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến hoạt độngcủa các ngân hàng thương mại Từ đó, ngân hàng thương mại có điều kiện nâng cao vịthế cũng như nâng cao uy tín của mình, sẵn sàng tham gia vào các tiến trình tự do hóa thịtrường tài chính – ngân hàng và xu hướng hội nhập kinh tế
1.2.3 Vai trò đối với nền kinh tế quốc dân
Trang 12Tài trợ thương mại quốc tế có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế quốc dân pháttriển thông qua việc tạo điều kiện cho hàng hóa xuất nhập khẩu lưu thông trôi chảy,thực hiện thường xuyên, liên tục, thuận lợi, dễ dàng hơn, góp phần tăng tính năngđộng của nền kinh tế, ổn định thị trường Mặt khác, tài trợ thương mại quốc tế gópphần phân phối vốn đầu tư một cách hiệu quả hơn thông qua việc thúc đẩy bình quânhóa lợi nhuận trước hết là trong ngành thương mại, và sau đó là trong ngành sản xuấtcông nghiệp Do vậy, vốn đầu tư toàn xã hội sẽ được sử dụng một cách có hiệu suấtcao hơn, làm nền kinh tế phát triển tối ưu hơn.
Tài trợ thương mại quốc tế góp phần vào công cuộc hiện đại hóa nền kinh tếquốc dân từ việc thúc đẩy nhập khẩu dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị hiệnđại, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển quy mô sản xuất, tăng năng suất laođộng, tăng năng lực cạnh tranh và hạ giá thành sản phẩm
Cuối cùng, tài trợ thương mại quốc tế giúp gắn liền thị trường quốc gia với thị
trường quốc tế Hành vi xuất khẩu của nước này đồng thời là hành vi nhập khẩu củanước kia và ngược lại Hàng hóa dịch vụ tương ứng từ một nước sẽ phải đối đầu với sựcạnh tranh gay gắt từ hàng hóa, dịch vụ của nước khác Do vậy, để tồn tại và phát triểnviệc sản xuất hàng hóa, dịch vụ trên bình diện quốc gia phải gắn liền với việc cạnhtranh trên bình diện quan hệ thị trường quốc tế; và tài trợ thương mại quốc tế là mộttrong những cầu nối hữu hiệu để thắt chặt thêm sự gắn kết giữa thị trường quốc gia vàthị trường quốc tế
1.3 Các nhân tố tác động đến phát triển tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàng thương mại
Cũng như rất nhiều hoạt động khác của ngân hàng thương mại tài trợ thươngmại quốc tế cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ nhiều yếu tố Các yếu tố này có thể ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, song nhìnchung muốn phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế thì các ngân hàng khôngthể không quan tâm đến các yếu tố này
1.3.1 Các nhân tố bên trong ngân hàng.
Trang 13* Mô hình tổ chức quản lý hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Đối với bất kỳ một hoạt động nào các khâu bố trí, tổ chức, thực hiện và giámsát đều có những tác động mạnh mẽ đến kết quả thu được Việc bố trí, quản lý hoạtđộng tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng thương mại như thế nào ảnh hưởngtrực tiếp đến doanh thu từ hoạt động này của ngân hàng.Việc bố trí, quản lý tốt hoạtđộng tài trợ thương mại quốc tế sẽ tiết kiệm chi phí, thời gian, mang lại cho khách hàngmột cảm giác chuyên nghiệp của ngân hàng Bên cạnh đó, còn chiếm được niềm tin tối
đa của khách hàng, và sẽ là một trong những nhân tố thu hút khách hàng đến với ngânhàng càng nhiều Đó là tiền đề quan trọng để phát triển hoạt động tài trợ thương mạiquốc tế của ngân hàng
•Uy tín của ngân hàng thương mại
Trong hoạt động của ngân hàng thương mại, uy tín đã trở thành nhân tố khôngthể tách rời Một ngân hàng có uy tín lớn là ngân hàng có thể chiếm được lòng tin củakhách hàng Đối với hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, uy tín của ngân hàng càngđóng vai trò quan trọng, một ngân hàng có uy tín lớn đứng ra bảo lãnh, tài trợ chodoanh nghiệp thì đương nhiên sẽ nhanh chóng chiếm được niềm tin từ phía các đối tácnước ngoài, quy trình thực hiện sẽ nhanh chóng và thuận lợi hơn Cam kết do ngânhàng uy tín phát hành dễ dàng được chấp nhận hơn, đây là động lực lớn khiến cácdoanh nghiệp luôn muốn tìm đến các ngân hàng uy tín Đôi khi đây cũng chính lànhững yêu cầu từ đối tác nước ngoài Do vậy, uy tín của ngân hàng là nhân tố ảnhhưởng trực tiếp đến sự phát triển của các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nóichung và tài trợ thương mại quốc tế nói riêng Uy tín của ngân hàng được đánh giá quacác tiêu chí như là khả năng thanh toán, kỹ thuật xử lý nghiệp vụ quy mô của nguồnvốn huy động và cho vay, sự đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, thái độ phục vị củacán bộ ngân hàng
•Yếu tố công nghệ
Công nghệ ngày càng phát triển đã, đang và sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các hoạtđộng của nền kinh tế Công nghệ ngân hàng liên quan đến toàn bộ cơ sở vật chất và
Trang 14mạng lưới truyền thông, thanh toán Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế chịu ảnhhưởng mạnh mẽ từ yếu tố công nghệ ngân hàng Việc thực hiện các quy trình nghiệp
vụ có nhanh chóng hay không, có theo kịp các ngân hàng nước ngoài về hoạt động tàitrợ thương mại quốc tế hay không phụ thuộc rất lớn vào yêu tố công nghệ Hơn nữa, rấtnhiều ngân hàng thương mại đã áp dụng hệ thống ngân hàng trực tuyến( internetbanking) tạo rất nhiều thuận lợi cho khách hàng trong quá trình tiếp xúc với các dịch
vụ của ngân hàng Việc phát triển công nghệ đã tạo tiền đề để thức đẩy hoạt động tàitrợ thương mại quốc tế
Với thực tiễn môi trường kinh doanh cạnh tranh hiện tại, các yêu tố trên rất quantrọng , sau khi Việt Nam ký kết hiệp định thương mại Việt- Mỹ và gia nhập WTO cácngân hàng nước ngoài, đặc biệt là các ngân hàng Mỹ, sẽ được nới lỏng các quy định vềhoạt động ngân hàng nước ngoài, cho phép cung cấp các dịch vụ mà ngân hàng nướcngoài hơn hẳn các ngân hàng thương mại Việt Nam về công nghệ và trình độ quản lýnhư thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại quốc tế Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàngViệt Nam phải thực hiện tái cơ cấu, theo đúng yêu cầu của WTO Đây thực sự là mộtthách thức, buộc các ngân hàng thương mại Việt Nam phải chuyên môn hóa và pháttriển dịch vụ ngay từ bây giờ để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Trong đó, tài trợthương mại quốc tế là vấn đề nhạy cảm vì gắn liền với các yếu tố công nghệ, nguồnvốn, trình độ quản lý…
•Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi ngânhàng Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế bản thân nó đã rất phức tạp, liên quan đếnnhiều lĩnh vực và quan hệ với nhiều thị trường, vì thế đội ngũ cán bộ giỏi về chuyênmôn, ngoại ngữ và những kinh nghiệm thực tiễn sẽ là điều kiện thức đẩy hoạt động tàitrợ thương mại quốc tế tại các ngân hàng thương mại Nguồn nhân lực tốt sẽ giúp chongân hàng có thể tiến hành hoạt động tài trợ thương mại quốc tế một cách suôn sẻ đápứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng, tạo niềm tin nơi khách hàng Mặt khác, trình độcán bộ vững sẽ xử lý các kỹ thuật nghiệp vụ một cách chính xác và hạn chế rủi roc hongân hàng, nâng cao chất lượng hoạt động
Trang 15•Mạng lưới đại lý
Thương mại quốc tế tiềm ẩn nhiều rủi ro trong đó có rủi ro xuất phát từ sự thiếuthông tin về thị trường và doanh nghiệp, khi đó mạng lưới đại lý của ngân hàng sẽ làmột sự hỗ trợ đắc lực Mạng lưới đại lý có thể giúp ngân hàng mở rộng thị trường hoạtđộng, phạm vi giao dịch, đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của khách hàng và giảm thiểurủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế Nhờ vậy, mà năng lực cạnh tranh củangân hàng được tăng cường và nâng cao uy tín của ngân hàng
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
a) Chính sách vĩ mô của Nhà nước
- Chính sách vĩ mô của Nhà nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinhdoanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp, và theo đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt độngtài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng thương mại Do đó, các ngân hàngthương mại phải có sự theo dõi sát sao các chính sách này để có thể điều chỉnh hướngphát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế cho phù hợp
- Chính sách kinh tế đối ngoại : Các định hướng mang tính chiến lược về bảo hộmậu dịch hay tự do mậu dịch có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của doanh nghiệp.Chính phủ các nước cũng thường sử dụng biện pháp này trong quản lý và điểu hànhkinh tế vĩ mô Trong hoạt động ngoại thương, ngân hàng với vai trò là trun gian thanhtoán, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế Đồng thời cũng nhờhoạt động tài trợ thương mại quốc tế phát triển đã tác động làm cho hoạt động này diễn
ra một cách sôi nổi, trôi chảy, góp phần phát triển kinh tế đất nước
- Chính sách thuế : Chính sách thuế của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt các doanh nghiệp tham gia vào thươngmại quốc tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ thuế xuất nhập khẩu, nhà nước có thể thựchiện chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất khẩu hay nhập khẩu thông qua chínhsách thuế quan Vì thế, hoạt động tài trợ thương mại quốc tế cũng bị ảnh hưởng từchính sách thuế Nhà nước, không chỉ ở hoạt động phát triển chung mà còn ảnh hưởngđến cơ cấu ngành nghề của hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, những ngành nàođược khuyến khích xuất khẩu hay không hạn chế nhập khẩu sẽ có nhu cầu về hoạt
Trang 16động tài trợ thương mại quốc tế cao hơn những ngành bị hạn chế hay cấm xuất khẩu,nhập khẩu.
- Chính sách quản lý ngoại hối : Để có thể tham gia vào thương mại quốc tế thìmột trong những yếu tố mà các doanh nghiệp phải tính đến là ngoại tệ Vì thế, hoạtđộng xuất nhập khẩu của doanh nhiệp chịu nhiều ảnh hưởng từ chính sách ngoại hốicủa Nhà nước và hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng thương mạitheo đó cũng chịu ảnh hưởng từ chính sách này Nhà nước thực hiện quản lý ngoại hốithông qua việc đề ra các chính sách kiểm soát luồng vận động của ngoại tệ vào ra vàcác quy định về trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng Căn cứ vào tình hình cụthể và những biến động trên thị trường mà nhà nước áp dụng chính sách quản lý ngoạihối tự do hay thắt chặt Việc này sẽ ảnh hưởng đến cung cầu ngoại hối trên thị trường
và do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc gia, đầu tiên là ảnh hưởng đến ngoạithương
b) Các yếu tố từ khách hàng
Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế chịu ảnh hưởng trực tiếp từ phía kháchhàng Khách hàng có biết đến hoạt động này không, tình hình sản xuất kinh doanh cótốt không, khả năng tài chính ra sao…đều tác động đến hoạt động tài trợ thương mạiquốc tế của các ngân hàng thương mại Bên cạnh đó còn là yếu tố hành vi đạo đức củakhách hàng Do hoạt động tài trợ thương mại quốc tế rất phức tạp, đòi hỏi cán bộ ngânhàng phải có trình độ chuyên môn cao, nếu khách hàng có hành vi đạo đức không thiệnchí, giả mạo chứng từ thì ngân hàng có thể bị thiệt hại rất lớn
2 MỘT SỐ HÌNH THỨC TÀI TRỢ THUƠNG MẠI QUỐC TẾ
2.1 Bảo lãnh
2.1.1 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động bảo lãnh
a) Các Công ước quốc tế
Năm 1995, Uỷ ban Pháp luật và thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc đã soạnthảo: “ Công ước Liên hiệp quốc về bảo lãnh độc lập và Tín dụng dự phòng” nhưngcho đến nay nó vẫn chưa có hiệu lực thi hành Công ước là sự tổng hòa của các BộLuật Quốc Gia về giao dịch bảo lãnh độc lập và tín dụng dự phòng Công ước ra đờitạo ra một cách thức phù hợp với tập quán và thông lệ quốc tế Tùy thuộc vào hệ thống
Trang 17pháp luậ của từng nước, các quốc gia có thể phê chuẩn Công ước nhằm tạo một hànhlang pháp lý trong giao dịch quốc tế về bảo lãnh độc lập và tín dụng dự phòng Lợi thếcủa Công ước là việc phê chuẩn Công ước là cả hai bên đều nắm hiểu và áp dụngthông thạo một điều luật chung trong giao dịch, trách tình trạng một trong hai đối táclựa chọn luật của nước mình áp dụng cho giao dịch, tạo bất lợi cho phía bên kia.
b) Các văn bản của Phòng thương mại quốc tế ( ICC) ban hành
Sự phát triển mạnh mẽ của giao dịch cam kết bảo lãnh trong thập kỷ 60 đã bắtbuộc các tổ chức thương mại, tài chính quốc tế nghĩ đến một hành lang pháp lý chocông bảo đảm được coi là linh hoạt, uyển chuyển này Trong số đó, phòng thương mạiquốc tế ( The International Chamber of Commerce- ICC), một tổ chức phi chính phủ
về Thương mại- Ngân hàng- Bảo hiểm- Vận tải lớn nhất thế giới có những đóng gópđáng kể vào công trình trên
Năm 1978, phòng thương mại quốc tế đã ban hành Quy tắc thống nhất về bảolãnh hợp đồng, ấn phẩm số 325 Ngoài việc, đưa ra những tiêu chuẩn chung, mục đíchURDG 325 là làm giảm bớt khả năng phát sinh tranh chấp trong hoạt động bảo lãnhbằng việc đưa ra các quy tắc công bằng, hợp lý Mục đích quy tắc này là một chuẩnmực thực hành bảo lãnh và tạo đà phát triển cho giao dịch thương mại Nhưng thực tếURDG lại không được đón nhận rộng rãi, nhược điểm của nó là yêu cầu người thụhưởng khi đòi thanh toán phải xuất trình phán quyết của tòa án hay quyết định củatrọng tài, thậm chí cả văn bản chấp nhận đòi tiền của người được bảo lãnh
Đến tháng 12/1991, ICC đã hoàn tất ấn bản số 458- Các quy tắc thống nhất vềbảo lãnh theo yêu cầu ( The Uniform Rules for Demand Guarantee- gọi tắt là URDG )
và có hiệu lực vào tháng 4/1992 Đây thật sự là một bước hoàn thiện mới những quytắc bảo lãnh Các quy tắc này tổng hợp những điểm tiến bộ của “ Các quy tắc thốngnhất về Bảo lãnh hợp đồng” URDG- ICC 458 không những điều tiết những mối quan
hệ phát sinh từ những bảo lãnh đối ứng ( counter guarantee) URDG là văn bản kháhoàn thiện, việc nghiên cứu và dẫn chiếu theo các Quy tắc này tránh được những rủi ro
do không nắm được luật pháp của các bên đối tác Bên cạnh đó, do tính chất ấn bản saukhông phủ định ấn bản trước đối với các văn bản do ICC phát hành, do vậy “ Các quy
Trang 18tắc thống nhất về bảo lãnh hợp đồng URDG 325, ICC 1978 vẫn còn hiệu lực Các bêntham gia bảo lãnh có thể tùy chọn áp dụng URCG 325, ICC 1978 hay URDG 458, ICC1992.
URDG 758 ( Uniform Rules for Demand Guarantees- Bộ quy tắc thống nhất vềbảo lãnh trả tiền ngay) là bản sửa đổi đầu tiên sau 18 năm kể từ ngày bản gốc URDG
458 có hiệu lực thi hành Là một bộ quy tắc rõ ràng hơn, chính xác hơn và toàn diệnhơn, bảo đảm sự cân bằng hợp lý về lợi ích của các bên, URDG 758 có những đổi mớichưa từng có ở bộ quy tắc khác ở ICC Đối với các giao dịch L/C hầu hết các ngânhàng trên thế giới đều thống nhất dẫn chiếu UCP 600 làm quy tắc điều chỉnh Tuynhiên đối với các giao dịch bảo lãnh, các ngân hàng hiện nay vẫn chưa nhất trí sử dụngmột bộ quy tắc thống nhất nào cả Các bảo lãnh dẫn chiếu luật/ quy tắc điều chỉnh là từnguồn luật/ quy tắc không được phổ biến rộng rãi rất dễ không được người thụ hưởngchấp nhận Do vậy, việc các ngân hàng hướng tới sử dụng một nguồn luật hay quy tắcthống nhất như URDG 758 để điều chỉnh giao dịch bảo lãnh là cần thiết
Bản sửa đổi năm 2010 URDG 758 nhận được sự đồng thuận rộng rãi từ các ngânhàng, người sử dụng và các thành viên của cộng đồng bảo lãnh URDG 758 được đánhgiá là bộ quy tắc rõ ràng hơn, chính xác hơn, toàn diện hơn, bảo đảm cân bằng hợp lý
về lợi ích các bên Do vậy, so với các nguồn luật/ các quy tắc khác, chắc chắn URDG
758 sẽ tiếp tục chứng tỏ là một nguồn luật điều chỉnh đáng tin cậy và được sử dụngrộng rãi hơn trong hoạt động bảo lãnh quốc tế
2.1.2 Khái niệm bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng là trách nhiệm trả tiền không hủy ngang của một ngân hàngtrong trường hợp người thứ ba không thực hiện đầy đủ một dịch vụ nào đó Bảo lãnhngân hàng mang tính độc lập và tách biệt trong quan hệ vay nợ hoặc hợp đồng muabán Theo Luật các tổ chức tín dụng thì bảo lãnh ngân hàng được định nghĩa : “Bảolãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng, được thực hiện thông qua sựcam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụtài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện khôngđúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ hoặc hoàn trả
Trang 19cho ngân hàng số tiền đã được trả thay”
- Mục đích của bảo lãnh ngân hàng : Để bảo đảm quyền lợi cho các bên tham giathương mại quốc tế, tránh được các rủi ro có thể phát sinh trong các dịch vụ mua bánkhông thường xuyên, đòi hỏi phải có sự đảm bảo của bên thứ ba cam kết bồi thườngcho bên bị thiệt hại do bên đối tác gây ra Người thứ ba thông thường là người phải uytín, có khả năng tài chính và có đủ điều kiện thực hiện ngay việc bồi thường Thựctế,người có khả năng đứng ra vai trò là người thứ ba thì thường là ngân hàng Chính vìvậy mà trong hợp đồng kinh tế, khi nói đến bảo lãnh người ta thường hay nghĩ đến Bảolãnh ngân hàng Cam kết bồi thường của ngân hàng bằng văn bản và thường được gọi
là “ Thư bảo lãnh ngân hàng – Bank Guarantee”
2.1.3 Các loại bảo lãnh ngân hàng:
a) Bảo lãnh dự thầu : Trong thương mại quốc tế, đấu thầu thường được sử dụng
để tìm được nguồn cung cấp tối ưu nhất Thông thường, đó là những hợp đồng lớn,đặc biệt là những hợp đồng xây dựng, thiết kế hay cung cấp thiết bị Mục đích của loạibảo lãnh này là nhằm bù đắp thiệt hại về thời gian và chi phí cho chủ thầu do những viphạm của người dự thầu gây ra như : rút đơn thầu, trúng thầu nhưng bỏ không ký tiếphợp đồng cung ứng… Bảo lãnh dự thầu có tác dụng để cho bên chủ thầu thấy đơn dựthầu là một cam kết nghiêm túc và bên dự thầu sẽ ký hợp đồng dự thầu nếu trúng thầu Bảo lãnh dự thầu là một hình thức tài trợ của ngân hàng vì việc ngân hàng cấpbảo lãnh dự thầu hàm ý năng lực tài chính của người dự thầu là lành mạnh Ngoài ra,nếu trúng thầu ngân hàng sẽ xét cấp tiếp các bảo lãnh như bảo lãnh thực hiện hợp đồng,bảo lãnh đặt cọc Thời hạn bảo lãnh dự thầu kết thúc trong trường hợp : người dự thầutrúng thầu và đã ký được bảo lãnh thực hiện hợp đồng, hoặc khi người dự thầu khôngtrúng thầu
b) Bảo lãnh thực hiện hợp đồng : Đây là loại bảo lãnh được sử dụng rộng rãi vàthường có hiệu lực ngay sau khi chấm dứt hiệu lực của bảo lãnh dự thầu Mục đích củabảo lãnh thực hiện hợp đồng là tạo nghĩa vụ cho nhà xuất khẩu phải thực hiện đúngnhững điều đã ký kết trong hợp đồng, và bồi thường cho nhà nhập khẩu trong trườnghợp nhà xuất khẩu vi phạm hợp đồng như không giao hàng, chậm giao hàng, không
Trang 20đúng chất lượng và số lượng…Mức bảo lãnh thực hiện hợp đồng thường là 5%-10%giá trị của hợp đồng Hiệu lực của bảo lãnh thực hiện hợp đồng chấm dứt khi ngườibảo lãnh hoàn thành nghĩa vụ cung ứng hàng hóa Đây chính là một hình thức tài trợcủa ngân hàng vì ngân hàng đã lấy uy tín của mình để cam kết với nhà nhập khẩu là sẽbồi thường cho họ nếu nhà xuất khẩu vi phạm hợp đồng đã ký.
c) Bảo lãnh thanh toán ứng tiền trước : Khi ký kết những hợp đồng có giá trị lớn,thông thường người bán yêu cầu người mua phải đặt cọc một phần tiền nhằm tài trợcho người bán thực hiện hợp, đồng thời người mua cũng yêu cầu người bán đề nghịngân hàng phát hành bảo lãnh khoản tiền đặt cọc đó Mục đích của bảo lãnh tiền đặtcọc nhằm đảm bảo cho nhà nhập khẩu được nhận lại số tiền đã đặt cọc trong trườnghợp nhà xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, nghĩa là không giao hàngđúng như hợp đồng quy định Bảo lãnh tiền đặt cọc có hiệu lực khi người bán sử dụngkhoản tiền vay này và hết hiệu lực khi người bán giao hàng lần cuối cộng với một sốngày để người thụ hưởng làm thủ tục đòi tiền
d) Bảo lãnh thanh toán : Thường được dùng trong các hợp đồng mua bán hànghóa thiết bị trả chậm Quan hệ giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu thực chất làquan hệ tín dụng thương mại Để bảo vệ mình trước rủi ro không thanh toán đầy đủ vàđúng hạn của người mua, người bán có thể yêu cầu một bảo lãnh thanh toán của ngânhàng.Do vậy, bảo lãnh thanh toán chính là một hình thức tài trợ của ngân hàng chongười mua Hiện nay, đây là loại bảo lãnh phổ biến ở các nước đang phát triển và cóthể được sử dụng để thay thế phương thức tín dụng chứng từ
e) Bảo lãnh nhận hàng : Thông thường người mua luôn muốn nhận vận đơn đểnhận hàng khi phương tiện vận tải chuyển hàng hóa đến cảng đích Tuy nhiên, trênthực tế, nếu hàng về trước khi ngân hàng nhận được bộ chứng từ và khách hàng cũngchưa nhận được B/L thì để tránh các rủi ro như phí lưu kho bãi, chi phí cơ hội,tổn thất
…người mua sẽ yêu cầu ngân hàng của mình phát hành một cam kết( thay thế choB/L) với hang vận tải để nhận hàng Cam kết này là một bảo lãnh nhận hàng của ngânhàng Bằng việc ký kết trên bảo lãnh nhận hàng, ngân hàng đã cam kết thực hiệnchuyển giao vận đơn cho công ty vận tải Do đó, bảo lãnh nhận hàng cũng chính là một
Trang 21hình thức tài trợ của ngân hàng cho người mua vì ngân hàng đã dùng chữ tín của mình
để cam kết cho hãng vận tải sẽ chịu trách nhiệm đối với lô hàng, và người mua chưaphải trả tiền lô hàng cho người xuất khẩu đã nhận được hàng hóa
2.2 Cho vay tài trợ thương mại quốc tế
Có thể nói nghiệp vụ cho vay là một trong những nghiệp vụ truyền thống của cácngân hàng thương mại Khác với cho vay thông thường , cho vay tài trợ thương mạiquốc tế thể hiện rất rõ tính chất tài trợ của mình Nếu như mục đích cho vay thôngthường đơn thuần là thu về lợi nhuận thì mục đích của cho vay tài trợ thương mại quốc
tế ngoài mục tiêu lợi nhuận còn có mục tiêu mang tính chất kinh tế- xã hội, đó là hỗ trợđẩy mạnh sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế Như vậy, cho vay tài trợthương mại quốc tế là chỉ việc hỗ trợ cho những phương tiện tài chính hoặc nhữngphương tiện thay thế tài chính cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thươngmại quốc tế nhằm hoàn tất nghĩa vụ thanh toán phát sinh trong quá trình từ sản xuấtđến lưu thông hàng hóa
Cho vay tài trợ thương mại quốc tế thực hiện chức năng tài trợ cho cả nười xuấtkhẩu lẫn người nhập khẩu
- Cho vay tài trợ xuất khẩu :
Trong hoạt động thương mại quốc tế, đối với những hợp đồng kinh tế có giá trịlớn thì thời gian tạo thành sản phẩm dài nên người xuất khẩu thường thiếu vốn lưuđộng để chuẩn bị cho lô hàng xuất khẩu Chính từ yêu cầu thực tiễn này mà hình thứccho vay tài trợ xuất khẩu của ngân hàng thương mại đã ra đời Hình thức cho vay tàitrợ xuất khẩu là một hình thức cho vay theo quá trình sản xuất, lưu thông, do vậy, tùytheo tính chất ngành hàng, mặt hàng xuất khẩu mà có thể phân thành các thời hạn chovay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và có thể phân thành cho vay tài trợ xuất khẩu trướckhi giao hàng và cho vay tài trợ xuất khẩu sau khi giao hàng
Đối với cho vay tài trợ xuất khẩu trước khi giao hàng thì ngân hàng thương mại
sẽ cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp xuất khẩu tiến hành thu mua, sản xuất, chế biếnhàng hóa xuất khẩu Thời hạn cho vay của loại hình này thường là ngắn hạn và trunghạn Đồng tiền cấp vốn thường bằng nội tệ, một phần nhỏ có thể được cấp bằng ngoại
Trang 22tệ khi nguyên, nhiên vật liệu cần thiết cho sản xuất phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Còn đối với cho vay tài trợ xuất khẩu sau khi giao hàng thì ngân hàng thươngmại thực hiện việc cấp vốn lưu động khi doanh nghiệp xuất khẩu có bộ chứng từ gửihàng Với loại hình này, việc cấp vốn được thực hiện theo nguyên tắc luân chuyển, tức
là khi ngân hàng dựa vào bộ chứng từ gửi hàng để quyết định cho vay thì ngân hàngđồng thời cũng thu hồi các khoản cho vay trước khi giao hàng Nợ cho vay sau khi giaohàng được ngân hàng thu hồi từ việc người nhập khẩu nước ngoài thanh toán hợp đồngkinh tế cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng Các hình thức cấp vốn lưu động saukhi giao hàng thường được thực hiện dưới các nghiệp vụ như chiết khấu bộ chứng từgửi hàng, cho vay thế chấp bộ chứng từ gửi hàng… Hình thức cho vay tài trợ xuất khẩuthường được áp dụng khi ngân hàng tài trợ cũng đồng thời là ngân hàng thanh toán.Bởi lẽ nếu ngân hàng tài trợ không phải là ngân hàng thanh toán thì rủi roc ho ngânhàng sẽ rất lớn do gặp phải khó khăn trong khâu đánh giá khả năng thanh toán củangười nhập khẩu và kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay của doanh nghiệp
Các ngân hàng thương mại và người xuất khẩu thường ký kết với nhau một hạnmức tín dụng khi tiến hành tài trợ thương mại quốc tế theo hình thức này Tỷ lệ chovay phụ thuộc vào mặt hàng xuất khẩu và khả năng thanh toán của người nhập khẩunước ngoài, cỡ khoảng 70%-80% trị giá hàng hóa
- Cho vay tài trợ nhập khẩu :
Cho vay tài trợ nhập khẩu là một nguồn bổ sung vốn lưu động rất quan trọng đốivới người nhập khẩu, vì giá trị hợp đồng nhập khẩu thường vượt quá nhiều lần vốn lưuđộng của người nhập khẩu Hình thức tài trợ này giúp người nhập khẩu có vốn thanhtoán bộ chứng từ hàng hóa trong khi hàng chưa cập bến, hoặc hàng đã nhập về nhưngchưa bán ra để thu hồi được vốn đầu tư, hoặc máy móc, dây chuyền thiết bị đang trongquá trình lắp đặt, chạy thử chưa đưa vào sản xuất để tạo ra sản phẩm…
Thời hạn cho vay tài trợ nhập khẩu có thể là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn tùythuộc vào đối tượng nhập khẩu Nếu nhập khẩu hàng hóa là nguyên nhiên vật liệu,hàng tiêu dùng …thì do vòng quay vốn nhanh nên ngân hàng thường sẽ cấp vốn ngắnhạn Còn nếu nhập khẩu hàng hóa là máy móc, thiết bị, phương tiện sản xuất …thì dovòng quay vốn chậm nên ngân hàng sẽ cấp vốn trung hạn hoặc dài hạn Đồng tiền cấpvón thường bằng ngoại tệ để thanh toán cho người bán nước ngoài Tuy nhiên, khi bán
Trang 23hàng trong nước, đồng tiền thu về lại là nội tệ nên vấn đề rủi ro về tỷ giá hối đoái cầnphải được ngân hàng thương mại và người xuất khẩu hưởng tài trợ hết sức lưu tâm.
2.3 Tài trợ trên cơ sở phương thức tín dụng chứng từ
2.3.1 Bộ tập quán quốc tế điều chỉnh phương thức thanh toán tín dụng chứng từ a) Sự cần thiết ra đời UCP 600 và ISBP 681, 2007 ICC
UCP và sự cần thiết ra đời UCP
UCP là tên viết tắt của Uniform Customs and Practice for documentary Credits,tức Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ UCP là một tập hợp cácnguyên tắc và tập quán quốc tế được phòng thương mại Quốc tế ( InternationalChamber of Commerce Commission- ICC) soạn thảo và phát hành, quy định quyềnhạn, trách nhiệm của các bên liên quan trong giao dịch tín dụng chứng từ với điều kiệnL/C có dẫn chiếu tuân thủ UCP
Ngày nay, thương mại quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triểnchung của mỗi Quốc gia Buôn bán giữa các nước phát triển kéo theo sự phong phú củacác phương thức thanh toán quốc tế, trong đó phương thức tín dụng chứng từ được sửdụng rộng rãi hơn cả Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có hệ thống pháp luật và tập quánriêng nên việc cho ra đời một quy tắc chung để điều chỉnh phương thức thanh toánbằng L/C là vô cùng cần thiết UCP cũng ra đời trên tinh thần đó Năm 1993, ICC đãban hành bản UCP đầu tiên và được áp dụng rộng rãi trên thế giới và trở thành cơ sởcho thanh toán quốc tế bằng L/C Song, trong một thế giới năng động và không ngừngphát triển, thương mại quốc tế luôn được mở rộng thì việc sửa đổi UCP để phù hợp vớithực tiễn là điều hết sức cần thiết Tính đến nay, UCP đã qua sáu lần sửa đổi vào cácnăm 1951, 1962( UCP 222), 1974 ( UCP 290), 1983( UCP 400), 1993( UCP 500) và làgần đây nhất là năm 2007 ( UCP 600)
b) UCP 600
Vào tháng 5/2003, ICC đã ủy quyền cho ủy ban ngân hàng xem xét lại UCP 500
để có thể có những sửa đổi cần thiết đáp ứng với tình hình thực tiễn mới Cũng nhưnhững lần sửa đổi trước đây, mục đích chính của lần sửa đổi này là để đáp ứng được sựphát triển trong hoạt động ngân hàng, vận tải, bảo hiểm, Hơn nữa, cũng cần thiết xem
Trang 24lại ngôn ngữ và phong cách đã được sử dụng trong UCP để loại bỏ những cách diễn đạt
có thể gây hiểu lầm và áp dụng không thống nhất Ngay khi công việc xem xét lại đượctiến hành, thông qua một số kết quả điều tra toàn cầu, Uỷ ban ngân hàng nhận thấy cótới khoảng 70% chứng từ xuất trình theo tín dụng thư đã bị từ chối ở lần xuất trình đầutiên vì có sai sót Điều này rõ rang ảnh hưởng tiêu cực đến phương thức thanh toán tíndụng chứng từ, vốn là một phương thức thanh toán quốc tế truyền thống và có nhiều ưuđiểm Do đó, Ban soạn thảo gồm 9 thành viên đã ra đời để sửa đổi UCP 500 Đồngthời, Uỷ ban ngân hàng thành lập Ban cố vấn gồm 41 thành viên là các chuyên giatrong lĩnh vực ngân hàng và vận tải đến từ 26 nước trên thế giới Sau 3 năm soạn thảo
và chỉnh lý, ngày 25/10/2006, ICC thông qua bản UCP 600 thay cho UCP 500 UCP
600 có hiệu lực từ ngày 01/07/2007
c) ISBP 681
ISBP ( International Standard Banking Practice for the Examination of Documentunder Documentary Credit) nghĩa là tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm trachứng từ theo thư tín dụng Bản ISBP đầu tiên (ISBP 645) được Ủy ban ngân hàng bỏphiếu thông qua tại Hội nghị Rome ngày 31/10/2002 hướng dẫn kiểm tra chứng từ xuấttrình theo các L/C có áp dụng UCP 500 Năm 2007, Uỷ ban ngân hàng của ICC banhành UCP 600 thay cho UCP 500, điều này đòi hỏi phải có một bản ISBP mới hướngdẫn kiểm tra chứng từ xuất trình theo các L/C có áp dụng UCP 600 ISBP 681 ra đờitrên tinh thần đó
Mục đích ra đời của ISBP 681 là làm rõ những quy định của điều 14, UCP 600 về
“tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ”, đồng thời giải thích cách hiểu và áp dụng các điềukhoản UCP 600 để tất cả các ngân hàng trên thế giới áp dụng, để các bên liên quan đếngiao dịch L/C như người chuyên chở, người bảo hiểm…khi phát hành chứng từ cũngphải hành động theo Như vậy, việc ra đời ISBP 681 có ý nghĩa quan trọng trong việcgiúp L/C được thực hiện trôi chảy hơn, trở thành một công cụ thanh toán hữu ích chứkhông phải công cụ từ chối thanh toán
c) Tính chất pháp lý của UCP 600 và ISBP 681, 2007 ICC
UCP 600 và ISBP 681 đều là các văn bản do ICC phát hành, mà ICC là một tổ
Trang 25chức xã hội, phi chính phủ, do đó các văn bản do ICC ban hành không có tính chấtpháp lý bắt buộc mà có tính chất pháp lý tùy ý Tính chất pháp lý tùy ý của UCP 600được nêu rõ trong điều 1, UCP 600 “ Các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụngchứng từ , bản sửa đổi 2007, ICC xuất bản số 600 là các Quy tắc áp dụng cho bất cứ tíndụng chứng từ nào( bao gồm cả thư tín dụng dự phòng trong chừng mực mà các Quytắc này có thể áp dụng) nếu nội dung của tín dụng chỉ ra một cách rõ rang là có dẫnchiếu đến các Quy tắc này Các Quy tắc này rằng buộc tất cả các bên , trừ khi tín dụngloại trừ hoặc sửa đổi một cách rõ rang” Như vậy, L/C dẫn chiếu áp dụng UCP 600 thì
nó mới trở nên có giá trị pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bên tham gia, nó rang buộcnghĩa vụ và trách nhiệm của tất cả các bên, trừ khi các bên có thỏa thuận khác về việckhông thực hiện, thực hiện khác đi một số điều trong UCP 600 hoặc bổ sung nhữngđiều mà UCP 600 không đề cập đến, nhưng tất cả những thỏa thuận nayfcaanf đượcquy định rõ rang trong L/C Hiện nay, hầu hết các ngân hàng tham gia thanh toán quốc
tế trên thế giới đều sử dụng hệ thống Swift để gửi, nhận L/C Mà theo quy định củaSwift thì trừ khi có quy định khác trong L/C, tất cả các L/C phát hành qua Swift đềuđược điều chỉnh bởi UCP – bản mới nhất đang có hiệu lực tại thời điểm phát hành L/C
Vì ISBP 681 ra đời nhằm mục đích giải thích rõ hơn điều 14, UCP 600 nên việc
áp dụng ISBP 681 cũng mang tính chất pháp lý tùy ý Việc dẫn chiếu ISBP vào L/C làkhông có giá trị, vì việc tuân thủ các điều khoản của ISBP 681 chính là tuân thủ ucp
600 Do vậy khi áp dụng ISBP 681 cần xem xét các điều khoản của L/C liên quan cóđiều kiện nào loại trừ, sửa đổi hoặc bổ sung UCP 600 hay không để có cách vận dụnghiệu quả nhất
Một điểm vô cùng quan trọng nữa là sự ra đời của UCP 600 cũng như ISBP 681khôn tuyên bố hiệu lực của các phiên bản trước Các bên tham gia giao dịch L/C vẫn cóquyền lựa chọn một trong các bản UCP, ISBP trước, miễn là có dẫn chiếu rõ ràng trongL/C
Do UCP 600 và ISBP 681 đều là các văn bản pháp lý tùy ý cho nên ICC khôngchịu trách nhiệm về những sai sót, tổn thất phát sinh trong quá trình áp dụng Vậy nêncác bên liên quan cần tìm hiểu thấu đáo nội dung cũng như nắm chắc kỹ thuật nghiệp
Trang 26vụ để tránh những sơ suất từ đó phát sinh những tranh chấp không đáng có.
d) Mối quan hệ pháp lý giữa UCP 600 và ISBP 681, 2007 ICC và luật Quốc gia
Trong quá trình áp dụng UCP 600, nếu có sự xung đột giữa UCP 600 và Luậtquốc gia thì tùy theo pháp luật của từng nước mà có những cách giải quyết khác nhau.Theo luật của Mỹ quy định thì khi L/C dẫn chiếu tới UCP 600 thì sẽ thay thế điều
5 UCC 1995 để điều chỉnh L/C đó (Bộ Luật thương mại thống nhất, sửa đổi năm Uniform Commercial Code 1995 Revision- UCC) Trong trường hợp có mâu thuẫn thìUCP 600 sẽ chiếm ưu thế và được áp dụng Quy định này cũng giống với Luật củaColombia, đều chấp nhận UCP là một bộ phận của luật quốc gia
1995-Tuy nhiên, theo luật của Trung Quốc, tòa án địa phương có quyền ra lệnh tạmngừng thanh toán L/C nếu có khiếu nại của người xin mở L/C về việc có gian lậnthương mại Quy định này hoàn toàn trái ngược với nguyên tắc độc lập của L/C theoUCP 600
Ở Việt Nam, do chưa có một văn bản chính xác nào điều chỉnh hoạt động thanhtoán bằng L/C nên pháp luật Việt Nam cho phép áp dụng tập quán quốc tế hoặc luậtnước ngoài…: “ Nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với cácnguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” ( Điều 759, Bộluật dân sự Việt Nam 2005) Điều này hàm ý phán quyết của tòa án có thể phủ nhậnnội dung giao dịch bằng L/C
Do L/C có sự tham gia của nhiều bên, ở nhiều quốc gai khác nhau, liên quan đếnnhiều lĩnh vực khác nhau, nên các nguồn luật điều chỉnh càng trở nên phức tạp Khi đãlựa chọn áp dụng UCP 600, ISBP 681 thì cần lưu ý đến mối quan hệ khăng khít giữaUCP 600, ISBP 681 với các quy định của luật quốc gia cùng tham gia điều chỉnhphương thức tín dụng chứng từ, để có thể tránh được những xung đột pháp luật khôngcần thiết, giảm thiểu tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện L/C
2.3.2 Khái niệm phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Trang 27Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán mà trong đó theo yêu cầu củakhách hàng, một ngân hàng gọi là ngân hàng phát hành sẽ phát hành một bức thư, bứcthư này gọi là L/C ( Letter of credit- L/C), cam kết trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền chobên thứ ba( người hưởng lợi) khi người này xuất trình cho ngân hàng phát hành cácchứng từ phù hợp với những điều kiện và điều khoản được quy định trong L/C.
Như vậy, L/C thực chất là một cam kết bằng văn bản của một ngân hàng( ngânhàng phát hành), được phát hành theo chỉ thị của người mua( người yêu cầu mở L/C)cho người bán hưởng( người hưởng lợi L/C) và có thể được thanh toán theo phươngthức trả ngay ( at sight) hoặc theo phương thức trả chậm( usance payment)
2.3.3 Các loại tín dụng chứng từ : `
Trong thương mại quốc tế việc mua bán trao đổi hàng hóa được thực hiện dướinhiều hình thức khác nhau, việc mua bán có thể được thực hiện trực tiếp giữa ngườibán và người mua, hoặc cũng có thể thông qua trung gian Mỗi loại hình mua bán lạichứa đựng những rủi ro riêng đối với người mua, người bán và ngân hàng tài trợ chocác bên Do đó, để phù hợp với từng loại hình mua bán người ta chia ra nhiều loại thưtín dụng chứng từ khác nhau Trong từng loại thư tín dụng thì quyền lợi và nghĩa vụcủa các chủ thể tham gia cũng khác nhau
- Theo tính chất có các loại
•Thư tín dụng không thể hủy ngang( Irrevocable L/C) : Là loại L/C mà sau khi
nó được phát hành thì mọi việc liên quan đến sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ trong thờihạn hiệu lực L/C chỉ có thể tiến hành trên cơ sở thỏa thuận và được chấp nhận của cácbên có liên quan Đây là một cam kết tài trợ ổn định, chắc chắn và không thể hủy bỏ.Việc đơn phương tuyên bố hủy bỏ hay sửa đổi L/C là không có giá trị pháp lý LoạiL/C này thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý của ngân hàng phát hành với camkết thanh toán có điều kiện với người hưởng lợi Do quyền lợi của người xuất khẩutheo loại L/C này được đảm bảo hơn nên loại L/C này được sử dụng phổ biến nhất hiệnnay trong thanh toán quốc tế
•Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận( Confirmed Irrevocable L/C) :
Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang, được xác nhận bởi một ngân hàng thứ ba
Trang 28thông thường là ngân hàng quốc tế có uy tín bảo đảm tối đa khả năn thanh toán thư tíndụng Loại thư tín dụng này có hai ngân hàng là ngân hàng phát hành và ngân hàn xácnhận cùng cam kết tài trợ ( đồng tài trợ) cho người hưởng lợi.
•Thư tín dụng không hủy ngang miễn truy đòi ( Irrevocable without recourseL/C) : Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang mà sau khi người xuất khẩu đã đượctrả tiền thì ngân hàng mở L/C không có quyền đòi lại tiền người xuất khẩu trong bất kỳtrường hợp nào Khi sử dụng loại L/C này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu:”Miễn truy đòi người ký phát”
•Thư tín dụng hủy ngang có giá trị trực tiếp ( Irrevocable Straight L/C) còn cónghĩa là không được chuyển nhượng, hoặc L/C đích danh : Là loại thư tín dụng khônghủy ngang, trong đó duy nhất chỉ có ngân hàng phát hành có nghĩa vụ thanh toán hốiphiếu hoặc chứng từ được ký phát bởi người hưởng lợi Ngân hàng phát hành cũngkhông thực hiện bất cứ một cam kết hay nghĩa vụ nào của mình đối với bất kỳ ai ngoàingười hưởng lợi
- Theo thời hạn thanh toán :
•Thư tín dụng trả ngay ( At sight L/C ): là loại L/C, trong đó người xuất khẩu sẽđược thanh toán ngay khi xuất trình các chứng từ phù hợp với điều khoản trong L/C tạingân hàng được chỉ định thanh toán
•Thư tín dụng trả chậm ( Deferred Payment L/C) : là loại L/C quy định việcthanh toán sẽ được tiến hành vào một thời điểm xác định trong tương lai Nếu L/C chỉđịnh một ngân hàng thanh toán trả chậm nghĩa là ngân hàng phát hành cho phép ngânhàng đó thực hiện thanh toán cho bộ chứng từ được xuất trình phù hợp với quy địnhtrong L/C vào một thời điểm xác định trong tương lai và ngân hàng phát hành cũngcam kết thanh toán bồi hoàn cho ngân hàng thanh toán đúng thời hạn
Ngoài ra, còn một số loại thư tín dụng đặc biệt:
+ Thư tín dụng chuyển nhượng ( Transferable L/C )
+ Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C)
+ Thư tín dụng giáp lưng ( Back to back L/C )
+ Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C)
+ Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C)
+ Thư tín dụng điều khoản đỏ ( Red clause L/C)
2.4 Tài trợ trên cơ sở phương thức nhờ thu kèm chứng từ
2.4.1 Quy tắc thống nhất về nhờ thu chứng từ thương mại URC 522
Khi áp dụng phương thức thanh toán này các bên liên quan sẽ tuân theo quy tắc
Trang 29thống nhất về nhờ thu chứng từ thương mại URC( Uniform Rule for Collection) dophòng thương mại quốc tế ICC ban hành năm 1995 Theo URC 522 để tiến hànhphương thức thanh toán nhờ thu bên bán phải lập chỉ thị nhờ thu ( CollectionInstruction) gửi cho ngân hàng ủy thác Các ngân hàng tham gia nghiệp vụ nhờ thu chỉđược thực hiện theo đúng chỉ thị, với nội dung phù hợp quy định URC được dẫn chiếu.Chỉ thị nhờ thu là văn bản pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa ngân hàng với bên nhờ thu.Theo URC 522, chứng từ nhờ thu là các chứng từ tài chính hoặc chứng từ thương mại.Theo phương thức này, người bán phải tin cậy tuyệt đối vào khả năng của người mua.Ngân hàng chỉ giữ vai trò là người trung gian thu hộ và chi hộ, ngoài ra ngân hàngkhông chịu trách nhiệm gì cả.
Phương thức thanh toán này ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế
vì nó không đảm bảo quyền lời cho người xuất khẩu Vì việc nhận hàng và thanh toánkhông ràng buộc nhau Người mua có thể nhận hàng rồi mà không chịu trả tiền hoặcchậm trễ trong thanh toán Trong khi đó ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian trongthanh toán bới vì bộ chứng từ hàng hóa đã giao cho người nhập khẩu nên ngân hàngđại lý không thể khống chế người nhập khẩu được Vì vậy người xuất khẩu chỉ nên ápdụng phương thức này trong trường hợp có quan hệ lâu năm và tín nhiệm người nhậpkhẩu
2.4.2 Khái niệm phương thức nhờ thu kèm chứng từ
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán trong đó ngườibán hàng sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho kháchhàng tiến hành việc ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền phải thanh toán từngười mua căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện nếu người mua trảtiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiều thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng đểngười mua đi nhận hàng
Khi thực hiện thanh toán quốc tế bằng phương thức nhờ thu kèm chứng từ thìngười xuất khẩu thường phải chờ đợi trong một thời gian khá dài kể từ lúc giao hàngtại cảng xuất cho đến khi nhận được tiền thanh toán từ người mua nước ngoài chuyển
về thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại Ngoài ra, trong nhiều trường hợp,người xuất khẩu buộc phải cho phép người nhập khẩu trả chậm tiền hàng Chính vì lẽ
Trang 30đó, người xuất khẩu sẽ gặp khó khăn về vốn lưu động do bị người nhập khẩu chiếmdụng vốn trong khoảng thời gian tương đối daifkhi sử dụng phương thức thanh toánnhờ thu Để có thể khắc phục được tình trạng này, người xuất khẩu cần đến dịch vụ tàitrợ trên cơ sở phương thức nhờ thu kèm chứng từ của ngân hàng thương mại thông quaviệc chiết khấu bộ chứng từ nhờ thu.
Với người nhập khẩu họ cũng có thể gặp khó khăn về vốn trong quá trình nhậphàng bằng phương thức nhờ thu kèm chứng từ, Chẳng hạn, khi người xuất khẩu yêucầu người nhập khẩu phải thanh toán ngay hoặc chấp nhận thanh toán trong khoảngthời gian tương đối ngắn thì mới nhận được hàng hóa, họ sẽ gặp khó khăn khi phải huyđộng một lượng tiền thanh toán lớn tron khi chưa có thu nhập từ việc kinh doanh hàngvừa nhập về Do vây, ngân hàng thương mại có thể giúp người nhập khẩu tránh tìnhtrạng này bằng cách tài trợ trên cơ sở thế chấp hàng hóa hoặc thu nhập từ bán hàng.Thông thường, ngân hàng sẵn sàng tài trợ cho bộ chứng từ nhờ thu hơn một sốhình thức cho vay khác vì các lý do đảm bảo sau : Bộ chứng từ nhờ thu là bằng chứng
về hàng hóa đã được giao và khả năng số hàng hóa này được thanh toán bởi ngườinhập khẩu là rất lớn Do đó, khoản tiền ứng trước cho bộ chứng từ nhờ thu được xem làkhoản vay tự giải ( self liquiditing) Hơn nữa, theo quy tắc thống nhất về nhờ thu củaICC và tập quán ngân hàng quốc tế, thì việc không thanh toán hoặc không chấp nhậnthanh toán phải được thông báo ngay lập tức cho các ngân hàng liên quan.Do đó, nó trởthành công cụ hữu hiệu trong việc giám sát các khoản vay trong trường hợp nhờ thukhông được thanh toán Cuối cùng, ngân hàng có thể ứng trước cho từng bộ chứng từnhờ thu một cách riêng biệt, trên cơ sở đó có thể giám sát chính xác bộ chứng từ nàođược thanh toán và bộ chứng từ nào không được thanh toán, từ đó đề ra các giải phápthích hợp
2.4.3 Phân loại
a) Tài trợ bộ chứng từ nhờ thu đi ( Xuất khẩu)
Để được tài trợ nhờ thu hàng xuất, khách hàng phải gửi thư yêu cầu được tài trợcho ngân hàng Mẫu thư yêu cầu tài trợ cùng với nội dung của thư do ngân hàng tài trợsoạn thảo và được in sẵn thành những điều khoản có tính tiêu chuẩn Khách hàng tùy
Trang 31theo yêu cầu nhờ thu và yêu cầu tài trợ của mình mà điền vào mẫu cho thích hợp Nhìn chung, cho đến nay các ngân hàng thương mại Việt Nam mới chỉ tài trợ nhờthu hàng xuất dưới hình thức chiết khấu truy đòi, tức là ngân hàng sẽ mua dưới hìnhthức chiết khấu trọn bộ chứng từ của người xuất khẩu gửi ngân hàng thu hộ để thu tiền
từ người mua nước ngoài với điều kiện bảo lưu “ Cho phép truy đòi” Sau đó, ngânhàng sẽ gửi bộ chứng từ này để thu nợ tiền hàng từ người nhập khẩu và số tiền thanhtoán cuối cùng khi về đến ngân hàng tài trợ sẽ được xem như nguồn trả vốn tài trợ đãứng trước, còn phần lãi tài trợ sẽ được tính đúng theo kỳ hạn thực tế
Căn cứ vào mức độ rủi ro giảm dần, tài trợ ngân hàng cho bộ chứng từ nhờ thuhàng xuất có ba trường hợp thường gặp sau đây : tài trợ bộ chứng từ nhờ thu hàng xuất,tài trợ bộ chứng từ nhờ thu hàng xuất có bảo hiểm cuất khẩu và tài trợ bộ chứng từ nhờthu hàn xuất có bảo lãnh của ngân hàng người nhập khẩu
b) Tài trợ bộ chứng từ nhờ thu đến ( Nhập khẩu)
Ngân hàng tiếp nhận bộ chứng từ từ ngân hàng của người xuất khẩu và chuyểnhối phiếu đến cho người nhập khẩu Nếu tới thời hạn trả tiền của hối phiếu mà ngườinhập khẩu chưa có đủ tiền để thanh toán, ngân hàng sẽ tài trợ bằng cách cho ngườinhập khẩu vay để thanh toán hàng nhập Nếu hối phiếu đòi tiền là hối phiếu kỳ hạn vàyêu cầu chấp nhận , ngân hàng có thể tài trợ bằng cách thay mặt người nhập khẩu kýchấp nhận hối phiếu , khi đó mức độ đảm bảo trả được tiền khi tới hạn của hối phiếu làrất cao do có sự cam kết trách nhiệm của ngân hàng
Nhìn chung, các ngân hàng thương mại ưu tiên tài trợ cho những người nhậpkhẩu theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ trên cơ sở giao dịch trọn gói Bởi lẽ, nócho phép ngân hàng kiểm soát tốt hơn khoản tiền ứng trước so với phương pháp chovay thấu chi
Có hai nguyên tắc cơ bản trong tài trợ bộ chứng từ nhờ thu đến( nhập khẩu ) là :Thứ nhất, khoản tiền ứng trước cho người nhập khẩu phải được chuyển trả trực tiếpcho ngân hàng gửi nhờ thu, sau đó được chuyển trả cho người xuất khẩu Thứ hai, ngânhàng tài trợ không được ứn trước tiền trực tiếp cho người nhập khẩu bởi điều này có
Trang 32thể gây ra việc sử dụng vốn vay sai mục đích.
2.5 Cho thuê tài chính
Theo Luật các tổ chức tín dụng( Việt Nam) thì: “ Cho thuê tài chính là một hoạtđộng tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê
là các tổ chức tín dụng với khách hàng thuê Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàngmua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồngthuê Trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng”
Thực chất hoạt động cho thuê tài chính là một hoạt độn tài trợ trung và dài hạnthông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các loại tài sản có giá trị lớn khác Tại đó,bên cho thuê theo yêu cầu của khách hàng thuê mua tha gia vào một thỏa thuận muavới một bên thứ ba là nhà cung cấp, theo thỏa thuận này bên cho thuê mua nhà máy, tàisản vốn, hoặc các thiết bị với những điều khoản liên quan đến khách hàng thuê đã đượckhách hàng thuê chấp nhận, và tham gia vào một thỏa thuận thuê với khách hàng thuê
về việc chuyển quyền sử dụng thiết bị đó cho khách hàng thuê để đổi lại được nhậnmột khoản tiền thuê nhất định
Trong phương thức cho thuê tài chính, quyền sở hữu về mặt pháp lý đối với tàisản của bên cho thuê được tách khỏi quyền sử dụng về mặt kinh tế của tài sản đó dokhách hàng thuê nắm giữ Do đó, bên cho thuê sẽ tập trung xem xét khả năng củakhách hàng thuê trong việc tạo ra doanh thu và lợi nhuận đủ để chi trả tiền thuê chứkhông dựa vào lịch sử tín dụng, tài sản hay số vốn hiện có của khách hàng thuê Chính
vì vậy, hình thức tài trợ thương mại này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp vừa vànhỏ mới được thành lập chưa có báo cáo tài chính cho nhiều năm và quy mô còn hạnchế
2.6 Bao thanh toán
Bao thanh toán trong hoạt động thương mại quốc tế là một hình thức tài trợthương mại quốc tế trong đó ngân hàng thực hiện việc mua lại các khoản nợ chưa đếnhạn thanh toán của người xuất khẩu để trở thành chủ nợ trực tiếp, đứng ra đòi tiềnngười nhập khẩu nước ngoài
Trang 33Theo nguyên tắc, để thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán thì cần phải có sự thamgia của ba bên, bao gồm bên bao thanh toán tức là bên mua lại các khoản nợ, ngườixuất khẩu tức là bên bán các khoản nợ, người nhập khẩu tức là bên phải thanh toán cáckhoản nợ Tuy nhiên, trên thực tế để bảo đảm thuận tiện cho hoạt động thu nợ, bên baothanh toán luôn cần có mối quan hệ giao dịch với một bên thứ tư, đó là tổ chức baothanh toán tại nước nhập khẩu để trao đổi thôn tin và những điều kiện làm cơ sở đảmbảo an toàn nhiệp vụ
Các hình thức bao thanh toán :
a) Bao thanh toán tương đối (Factoring)
Factoring là một hợp đồng ký kết giữa các bên cung ứng( nhà xuất khẩu) và bêntài trợ (Factor- tổ chức bao thanh toán), theo đó bên cung ứng có thể nhượng (bán) cho
tổ chức tài trợ các khoản phải thu phát sinh từ những hợp đồng xuất khẩu
Xét từ góc độ tài trợ, có thể hiểu Factoring là dạng tài trợ bằng việc mua lại cáckhoản phải thu ngắn hạn từ nhà xuất khẩu Với tính năng và đặc thù như vậy, factoring
có thể giúp các nhà xuất khẩu vừa nhận được tiền ngay từ sau khi giao hàng, khôngphải bận tâm về rủi ro thanh toán từ phía bên mua, vừa tiết giảm được khối lượng côngviệc ghi chép sổ sách và theo dõi quá trình thu nợ từ người nhập khẩu Factor sẽ giànhlấy quyền đòi tiền từ nhà nhập khẩu với chi phí và rủi ro mà hai bên đã thỏa thuậntrước
Trong giao dịch factoring thường có ba chủ thể chính tham gia: Nhà xuất khẩu,Nhà tài trợ Factoring ở nước nhà xuất khẩu ( Factor xuất khẩu), và nhà nhập khẩu nướcngoài
Phạm vi áp dụng của tài trợ Factoring : Nhìn chung, tài trợ Factoring đặc biệtthích hợp với các giao dịch xuất khẩu áp dụng phương thức thanh toán ghi sổ, cho phépngười mua hưởng tín dụng cung ứng hoặc gặp khó khăn trong việc thu nợ tiền hàng từngười mua nước ngoài
Tài trợ Factoring cũng gặp phải những rủi ro khi những khoản nợ được Factormua lại từ nhà xuất khẩu nhưng nhà nhập khẩu không thanh toán hoặc mất khả năngthanh toán Do đó, lãi suất của tài trợ Factoring thường cao hơn lãi suất thị trường
Trang 34b) Bao thanh toán tuyệt đối ( Forfeiting)
Bao thanh toán toán tuyệt đối là một hình thức tài trợ thương mại quốc tế trongtrung hạn và dài hạn( thường là trên 6 tháng) , trong đó bên bao thanh toán tiến hànhmua lại bằn cách chiết khấu miễn truy đòi các khoản phải thu của người xuất khẩu dựatrên cơ sở tín dụng chứng từ, hối phiếu, kỳ phiếu và bảo lãnh ngân hàng
Trong phương thức này, để hỗ trợ tài chính cho người xuất khẩu, ngân hàng sẽcung ứng trước cho người nhập khẩu một lượng tiền nhất định tương ứng với một tỷ lệ
% nhất định trên tổn giá trị hóa đơn thương mại để giành lấy quyền đòi tiền từ ngườinhập khẩu và chịu mọi rủi ro nếu như người nhập khẩu không thanh toán Ngân hàng
sẽ chỉ cấp tín dụng bao thanh toán tuyệt đối cho người xuất khẩu khi người nhập khẩuđược một ngân hàng có uy tín bảo lãnh thanh toán
Trong giao dịch bao thanh toán tuyệt đối thường có bốn bên liên quan: Nhà xuấtkhẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng bảo lãnh ( thường là ở nước nhập khẩu) và bao thanhtoán tuyệt đối
3 KINH NGHIỆM TÀI TRỢ THUƠNG MẠI QUỐC TẾ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
3.1 Tài trợ thương mại quốc tế ở Mỹ
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Mỹ, hoạt động ngoại thươngcũng đã phát triển rất lớn mạnh trong thời gian qua Để khuyến khích thúc đẩy kimngạch xuất khẩu và tạo công ăn việc làm, Chính Phủ Mỹ đã thành lập ngân hàng xuấtnhập khẩu( Ex-Im Bank) Ngân hàng này đã cung cấp các dịch vụ như bảo lãnh chocác khoản vay vốn lưu động của nhà xuất khẩu, đảm bảo việc hoàn trả các khoản vayhay cho nhà nhập khẩu nước ngoài vay khi mua hàng hóa và dịch vụ của Mỹ Ngânhàng xuất nhập khẩu cũng cung cấp bảo hiểm tín dụng qua đó giúp nhà xuất khẩu Mỹchống lại những rủi ro không thanh toán của người mua nước ngoài vì lý do chính trịhay thương mại
Hoạt động của ngân hàng xuất nhập khẩu không nhằm mục đích cạnh tranh vớicác ngân hàng thương mại khác mà chỉ tập trung vào những lĩnh vực nhiều rủi ro mà
Trang 35các ngân hàng không hoạt động Qua đó, các ngân hàng xuất nhập khẩu giúp các nhàxuất khẩu Mỹ có một : “Sân chơi bình đẳng” tương tự như các cơ quan tín dụng xuấtkhẩu của các chính phủ khác Đồng thời, cung cấp các khoản tín dụng cho các nhànhập khẩu tư nhân hay tổ chức nước ngoài đáng tin cậy khi mà các khoản vay tư nhânkhông có Để có được sự giúp đỡ của ngân hàng xuất nhập khẩu, sản phẩm hoặc dịch
vụ đó phải có ít nhất 50% hàm lượng nội địa Mỹ và không làm thiệt hại gì cho nềnkinh tế Mỹ
Ngân hàng xuất nhập khẩu hỗ trợ hàng xuất khẩu của Mỹ trên phạm vi toàn cầu.Trong nhiều năm gần đây, trọng tâm hoạt động của ngân hàng đã chuyển sang cácnước đang phát triển có nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ gấp đôi tốc độ tăng trưởngcủa các nước công nghiệp và ngân hàng đã chú trọng đến tài trợ xuất khẩu hàng vàdịch vụ về môi trường, đó là những mặt hàng đang có nhu cầu lớn với các nước đangphát triển, mở rộng số lượng các doanh nghiệp nhỏ của Mỹ tham gia vào chương trìnhcủa ngân hàng Ex- Im Bank
3.2 Tài trợ thương mại quốc tế ở Hàn Quốc
Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc- Korea Eximbank ( gọi là KEXIM) là một
tổ chức tài chính của chính phủ Hàn Quốc, được thành lập vào 1/7/1976 theo luật vềngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc với những mục tiêu hoạt động chủ yếu là: pháttriển kinh tế nội địa và tăng cường hợp tác kinh tế nước ngoài Để thực hiện mục tiêutrên, ngân hàng thực hiện tài trợ cho các thương vụ xuất nhập khẩu, các dự án đầu tưnước ngoài và tăng các tài nguyên thiên nhiên ngoài nước bằng cách cho vay, cấp bảolãnh và các hình thức tài trợ tài chính khác
- Chương trình tín dụng xuất khẩu : KEXIM áp dụng cho giao dịch xuất khẩu loạihàng tư liệu sản xuất do Hàn Quốc chế tạo: bao gồm nhà máy, tàu biển,máy móc, thiết
bị điện tử, ô tô, thiết bị y khoa…Mọi nhà sản xuất hoặc xuất khẩu Hàn Quốc đều có thể
mở tài trợ bằng chương trình này
- Chương trình tín dụng dịch vụ kỹ thuật : KEXIM cấp tài trợ cho các doanhnghiệp kỹ thuật Hàn Quốc nhằm thúc đẩy việc bán ra nước ngoài các dịch vụ ký thuật.Những dịch vụ này được chấp nhận tài trợ bao gồm : bí quyết kỹ thuật, nghiên cứu khả
Trang 36thi, thiết kế kỹ thuật,kỹ thuật giám sát trong việc lắp đặt và vận hành nhà máy, côngtrình xây dựng ở nước ngoài Các điều khoản tài trợ của KEXIM cũng tương tự như ởtrên KEXIM cho người nước ngoài vay trung và dài hạn để mua hàng hóa là tư liệusản xuất của Hàn Quốc Theo đó, KEXIM thiết lập hợp đồng tín dụng với người mua,cho phép nhà xuất khẩu Hàn Quốc được thanh toán khi thực hiện giao hàng
- Chương trình tái tài trợ của Eximbank Hàn Quốc: Theo chương trình này,KEXIM sẽ cấp tín dụng trun dài hạn cho các ngân hàng nước ngoài có uy tín, các ngânhàng này sẽ dùng nguồn tài trợ này để cấp tín dụng các khoản cho vay trung và dài hạncho người mua nước ngoài để mua tư liệu sản xuất của Hàn Quốc Danh sách các loạimặt hàng đủ điều kiện tiêu chuẩn nhận tài trợ do KEXIM công bố trước
KEXIM cũng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu dựa trên chương trình bảo hiểm tíndụng xuất khẩu của ngân hàng bao gồm: bảo hiểm thương vụ cụ thể và bảo hiểm toàn
bộ doanh số xuất khẩu Với loại hợp đồng bảo hiểm thứ nhất, nhà xuất khẩu có thể lựachọn các hợp đồng xuất khẩu cụ thể để được bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm sẽ bảohiểm cho nhà xuất khẩu có thể chọn các hợp đồng xuất khẩu trong năm Đối với loạihợp đồng này, Keximbank sẽ chiết khấu 50% phí bảo hiểm cho nhà xuất khẩu Toàn
bộ các khoản bồi thường bảo hiểm đều thực hiện bằng đồng bản tệ theo tỷ giá tại ngàyquy định trong hợp đồng bảo hiểm
3.3.Tài trợ thương mại quốc tế ở Trung Quốc.
Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc ( The Export- Import Bank of China gọi
là Eximbank Trung Quốc) được thành lập ngày 26/4/1999 và đi vào hoạt động ngày1/7/1999 theo quyết định của hội đồng Nhà Nước, Eximbank Trung Quốc hoạt độngtheo nguyên tắc độc lập, bảo toàn nguồn vốn và được quản lý như một tổ chức kinhdoanh
Nhiệm vụ chính của Eximbank Trung Quốc là thực hiện chính sách công nghiệp,ngoại thương, tài chính của Nhà nước, thúc đẩy các sản phẩm cơ khí, điện tử, thiết bịđồng bộ và các sản phẩm công nghệ cao, công nghệ mới của Trung Quốc, tăng cườnghợp tác công nghệ kinh tế và thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính với nước ngoài.Eximbank Trung Quốc thuộc sở hữu duy nhất của Chính Phủ nước Cộng Hòanhân dân Trung Hoa Bộ tài chính cấp vốn điều lệ cho Eximbank Trung Quốc là 3,38
Trang 37tỷ nhân dân tệ
Eximbank Trung Quốc hoạt động trên phạm vi toàn thế giới, đã xây dựng đượcnhiều mối kinh doanh với các tổ chức tài chính quốc tế, các ngân hàng trong nước vànước ngoài Các nghiệp vụ chính của Eximbank Trung Quốc là: Tín dụng xuất khẩucho nhà nhập khẩu, tín dụng cho nhà xuất khẩu, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, mua bángiấy tờ có giá
3.4 Tài trợ thương mại quốc tế ở Hồng Kông
Ngân hàng Hongkong và Thượng Hải là sáng lập viên của tập đoàn HSBC, vớikhoảng 8.500 văn phòng và chi nhánh tại 86 quốc gia và vùng lãnh thổ Tài trợ thươngmại quốc tế là một trong những dịch vụ ngân hàng cốt lõi của HSBC Do đó, việc tậptrung khôi phục và phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế được đặt lên hàngđầu
Dựa vào gói kích cầu khổng lồ của các Chính Phủ các nước Châu Á, HSBC đãtập trung tài trợ thương mại quốc tế đối với các nhà xuất khẩu và nhập khẩu có tìnhhình tài chính lành mạnh và đặc biệt là những doanh nghiệp kinh doanh những mặthàng trong nước sản xuất để hỗ trợ nền sản xuất nội địa Ngoài ra, HSBC còn tập trungtài trợ những nhà xuất khẩu có hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán trảtrước hay những nhà xuất khẩu có sử dụng công cụ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Bêncạnh đó, HSBC thường tổ chức các cuộc hội thảo cho nhân viên tài trợ thương mạiquốc tế cũng như khách hàng hoạt động trong lĩnh vực tài trợ thương mại quốc tế cũngnhư những khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu về những rủi ro liênquan cũng như những biện pháp phòng chống trong tình hình khủng hoảng tài chínhđược khách hàng đánh giá cao
Trong năm 2009, để nghiên cứu và có chiến lược kinh doanh đúng đắn, HSBC đãtiến hành nghiên cứu về chỉ số tin cậy thương mại các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạtđộng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu ở 12 thị trường bao gồm những nền kinh tế thenchốt ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất(UAE), Brazil, Anh và Mỹ Trong đợt khảo sát này, hơn 3.500 doanh nghiệp vừa vànhỏ đã đưa ra các dự đoán của họ về khối lượng, giao dịch thương mại, các rủi ro từ
Trang 38phía người mua và người bán, nhu cầu tài trợ thương mại quốc tế…Dựa vào kết quảcủa đợt khảo sát này, HSBC đã có những chính sách điều chỉnh để phù hợp với nhucầu tài trợ thương mại quốc tế ở từng quốc gia trên thế giới.
3.5 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của các nước Mỹ, Hàn Quốc, TrungQuốc, Hongkong, chúng ta có thể nhận thấy rằng tuy các nước có vị trí địa lý, điềukiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau nhưng các nước này đều coi tài trợ thương mạiquốc tế có tầm chiến lược để khai thác đến mức tối ưu lợi thế so sánh của mình cho sựphát triển nguồn nội lực của đất nước và tích cực tham gia vào quá trình hội nhập Hệthống ngân hàng thương mại giữ vai trò trọng yếu trong chiến lược tài trợ thương mạiquốc tế của các quốc gia này
Từ những kinh nghiệm từ hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của các ngânhàng trên có thể rút ra bài học cho các NHTM Việt Nam như sau:
- Phải nhận thức sát, đúng, kịp thời diễn biến của nền kinh tế, đề xuất các giảipháp phải linh hoạt và phù hợp với tình hình đã thay đổi, nghĩa là phải có sự điều chỉnhchính sách nhanh và hợp lý để đạt được mục tiêu đề ra và không phải đối mặt với cáchiệu ứng phụ Tiếp tục cải cách vai trò của nhà nước trong quan lý hoạt động tài trợthương mại quốc té Đổi mới những chính sách ngoại thương đi kèm với nó là nhữngcải cách toàn diện trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chính sách tài khóa, thuế Từkinh nghiệm hoạt động của ngân hàng Eximbank Trung Quốc cho thấy, Trung Quốc làmột quốc gia lớn, nền kinh tế Trung Quốc đòi hỏi phải vận hành theo những nguyêntắc như độc lập, bảo toàn nguồn vốn Các NHTM Việt Nam nên tăng cường đổi mớichính sách tài trợ sao cho phù hợp, nhất quán với tình hình kinh tế chung trên thế giới
và riêng tại Việt Nam
- Nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới mang tính hiệu quả cao và ít rủi ro, đặcbiệt là sản phẩm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Ngân hàng KEXIM của Hàn Quốc đãthực hiện thành công sản phẩm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Hợp đồng ngoại thương
là những hợp đồng có giá trị lớn, bên cạnh giá trị lợi nhuận khổng lồ mang lại là nhữngrủi ro không hề nhỏ Để tránh được những rủi ro trong các hợp đồng ngoại thương các
Trang 39ngân hàng Việt Nam cần phải chú ý phát triển những sản phẩm bảo hiểm tín dụng xuấtkhẩu.
- Tập trung hơn nữa vào tình hình tài trợ thương mại quốc tế cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng chiếm thị phần lớnLuôn luôn có sẵn những biện pháp giảm thiểu rủi ro trong tài trợ thương mạiquốc tế
TỔNG KẾT CHƯƠNG
Tài trợ thương mại quốc tế là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ về mặt tàichính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoặc đơn vị kinh tế tham gia hoạtđộng kinh doanh thương mại trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường thế giớinhằm mục đích sinh lời Tài trợ thương mại quốc tế giúp cho doanh nghiệp tham giavào thương mại quốc tế một cách thuận lợi và dễ dàng hơn, giúp nâng cao doanh thucủa các ngân hàng thương mại, và thúc đẩy phát triển kinh tế Tài trợ thương mại quốc
tế của các ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng từ các nhân tố trong nội tại ngânhàng: cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, công nghệ…và các yêu tố bên ngoài như chínhsách thương mại của nhà nước, yếu tố kinh tế chính trị của nước bạn hàng, các yếu tố
từ khách hàng Tài trợ thương mại quốc tế rất đa dạng về hình thức, phong phú vềphạm vi áp dung, là đòn bẩy phát triển cho hoạt đông thương mại quốc tế
Trang 40CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 1.Tổng quan về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
1.1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển
BIDV là doanh nghiệp nhà nước đặc biệt, giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp dịch
vụ ngân hàng phục vụ lĩnh vực đầu tư và phát triển ở Việt Nam và là một trong bốnngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất tại Việt Nam
Ngày 26/04/1957, Thủ tướng chính phủ đã ký nghị định số 177/ Ttg thành lập “Ngân hàng kiến thiết Việt Nam” tại Bộ Tài Chính, thay thế cho “ Vụ cấp phát vốn kiếnthiết cơ bản” Ngân hàng có nhiệm vụ chủ yếu là thanh toán và quản lý vốn do Nhànước cấp cho xây dựng cơ bản nhằm thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội
và hỗ trợ công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Đặc điểm cơ bản trong hoạt động của BIDV thời kỳ này là do chưa phải là mộtngân hàng thương mại đa năng nên không huy động tiền gửi tiết kiệm và thực hiện cácdịch vụ thanh toán như các ngân hàng quốc doanh khác, chủ yếu là giữ tiền gửi cho cácdoanh nghiệp đang trong quá trình xây dựng, hoạt động cho vay rất nhỏ, chỉ bó hẹptrong phạm vi các doanh nghiệp nhận thầu quốc doanh, hoạt động của Ngân hàng chủyếu là kiểm soát, theo dõi và thanh toán theo tiến độ hoặc theo kế hoạch của các côngtrình xây dựng cơ bản
Nhằm cải tiến cơ chế hoạt động của Ngân hàng, ngày 24/06/1981, Chính Phủ đã
có quyết định số 259/ CP về việc chuyển Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam trực thuộc
Bộ Tài Chính thành Ngân hàng Đầu tư và Xây Dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàngnhà nước Ngân hàng Đầu tư và Xây Dựng được tổ chức theo hình thức của ngân hàngchuyên doanh Bên cạnh nhiệm vụ cấp phát vốn ngân sách, Ngân hàng Đầu tư và XâyDựng Việt Nam còn có nhiệm vụ thu hút và quản lý các nguồn vốn dành cho đầu tưxây dựng cơ bản các công trình không do ngân sách cấp hoặc không đủ vốn tự có, đại
lý thanh toán và kiểm soát các công trình thuộc diện ngân sách đầu tư
Cùng với việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơchế thị trường, sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng ra đời, ngày 14/10/1990, Chủ tịch hội