1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật Triều Thanh quá trình hình thành, nội dung và đặc điểm

164 579 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thành quả mà các nhà nghiên cứu đạt được có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc tìm hiểu, học tập lịch sử pháp luật Trung Quốc và các quốc gia chịu ảnh hưởn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Chương 1: TRIỀU MÃN THANH THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP

CỦA TRIỀU THANH

15

1.1 Bộ tộc Nữ Chân – Mãn vào Trung nguyên và sự xác lập nền thống trị

của triều Mãn Thanh

15

1.3.2.1.Hoạt động lập pháp trong thời kì triều Thanh khai quốc 31

1.3.2.2 Hoạt động lập pháp của triều Thanh từ sau khi vào Trung Nguyên

2.1.2 Tư tưởng “chính nhân tâm, hậu phong tục” 55

2.1.3 Tư tưởng “Dĩ đức hóa dân, dĩ hình bổ trị” 56

Trang 3

2.3.2 Cơ cấu hành chính ở trung ương 72

2.3.4 Pháp luật hóa chế độ quản lí quan chức 78

2.4.1 Pháp luật điều chỉnh sự biến đổi các giai tầng trong xã hội triều Thanh 82

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT TRIỀU THANH ẢNH

HƯỞNG CỦA PHÁP LUẬT TRIỀU THANH ĐẾN PHÁP LUẬT TRIỀU

3.1.1 Pháp luật triều Thanh từ pháp luật chiếm hữu nô lệ lên pháp luật phong

3.1.2 Pháp luật triều Thanh kế thừa và phát triển chế độ pháp luật triều Minh 113

3.1.3 Hoạt động lập pháp đạt được nhiều thành tựu và có bước tiến về kĩ thuật

3.1.4 Pháp luật triều Thanh tăng cường tính hà khắc, dã man 119

3.1.5 Pháp luật triều Thanh bảo vệ đặc quyền của người Mãn 122

3.1.6 Pháp luật triều Thanh chứa đựng nhiều yếu tố dân tộc đặc sắc 124

3.1.8 Những quy định trong lĩnh vực dân sự có bước tiến bộ 129

3.2 Ảnh hưởng của pháp luật triều Thanh đến pháp luật triều Nguyễn ở

Trang 4

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 5

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Nhà giáo nhân dân, Phó Giáo sư Nguyễn Văn Hồng, người thầy đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trên con đường nghiên cứu khoa học, và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp trong Khoa Lịch sử, Khoa Đông phương học - trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa Hành chính – Nhà nước – trường Đại học Luật

Hà Nội đã cung cấp những tư liệu bổ ích và có những ý kiến đóng góp sâu sắc, cụ thể giúp tôi hoàn thiện luận văn này

Tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 7

Chương 1: TRIỀU MÃN THANH THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP

CỦA TRIỀU THANH

15

1.1 Bộ tộc Nữ Chân – Mãn vào Trung nguyên và sự xác lập nền thống trị

của triều Mãn Thanh

15

1.3.2.1.Hoạt động lập pháp trong thời kì triều Thanh khai quốc 31

1.3.2.2 Hoạt động lập pháp của triều Thanh từ sau khi vào Trung Nguyên

2.1.2 Tư tưởng “chính nhân tâm, hậu phong tục” 55

2.1.3 Tư tưởng “Dĩ đức hóa dân, dĩ hình bổ trị” 56

Trang 8

2.3.2 Cơ cấu hành chính ở trung ương 72

2.3.4 Pháp luật hóa chế độ quản lí quan chức 78

2.4.1 Pháp luật điều chỉnh sự biến đổi các giai tầng trong xã hội triều Thanh 82

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT TRIỀU THANH ẢNH

HƯỞNG CỦA PHÁP LUẬT TRIỀU THANH ĐẾN PHÁP LUẬT TRIỀU

3.1.1 Pháp luật triều Thanh từ pháp luật chiếm hữu nô lệ lên pháp luật phong

3.1.2 Pháp luật triều Thanh kế thừa và phát triển chế độ pháp luật triều Minh 113

3.1.3 Hoạt động lập pháp đạt được nhiều thành tựu và có bước tiến về kĩ thuật

3.1.4 Pháp luật triều Thanh tăng cường tính hà khắc, dã man 119

3.1.5 Pháp luật triều Thanh bảo vệ đặc quyền của người Mãn 122

3.1.6 Pháp luật triều Thanh chứa đựng nhiều yếu tố dân tộc đặc sắc 124

3.1.8 Những quy định trong lĩnh vực dân sự có bước tiến bộ 129

3.2 Ảnh hưởng của pháp luật triều Thanh đến pháp luật triều Nguyễn ở

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Trung Hoa không chỉ là một trong những nền văn minh lớn, có lịch sử lâu đời ở phương Đông mà còn là một quốc gia có nền văn minh chính trị pháp cao Đồng thời với nhà nước đầu tiên được thành lập thì nền văn minh pháp lý Trung Hoa cũng khởi đầu quá trình lịch sử của mình Trải qua tiến trình phát triển hàng nghìn năm, nền pháp

lý ấy đã có nhiều bước tiến quan trọng và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, không chỉ tạo nên một nền pháp luật truyền thống mang đặc sắc dân tộc mà còn có sức lan tỏa và ảnh hưởng lớn đối với nhiều quốc gia trong khu vực Vì thế, nghiên cứu pháp luật truyền thống Trung Hoa đã trở thành một trong những vấn đề được nhiều học giả Trung Quốc cũng như trên thế giới quan tâm tìm hiểu từ rất sớm Những thành quả mà các nhà nghiên cứu đạt được có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc tìm hiểu, học tập lịch sử pháp luật Trung Quốc và các quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa

Nghiên cứu pháp luật truyền thống Trung Quốc chúng ta không thể không nghiên cứu pháp luật triều Thanh Bởi triều Thanh với tư cách là vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc, cho nên đây cũng chính là vương triều tổng kết quá trình phát triển của văn hóa cổ truyền Trung Hoa Trải qua lịch sử hơn 200 năm, triều đại Mãn Thanh các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa phong kiến đã có những bước phát triển so với giai đoạn trước, điển chương chế độ cũng thu được nhiều thành tựu nổi bật Địa vị lịch sử của triều Thanh đã quyết định giá trị lịch sử pháp luật của

Do vậy, việc nghiên cứu lịch sử pháp luật triều Thanh có vai trò và ý nghĩa quan trọng Điều này được thể hiện trên một số phương diện sau

Thứ nhất, pháp chế triều Thanh đã trải qua một quá trình chuyển hóa từ pháp luật

chiếm nô lên pháp luật phong kiến Trong quá trình chuyển hóa đó, vương triều Thanh

đã tiếp thu, kế thừa và phát triển hoàn thiện nền pháp luật phong kiến truyền thống của Trung Quốc Tính hoàn bị của pháp luật triều Thanh thể hiện trên nhiều phương diện Trên phương diện hệ thống pháp luật, đó là một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh được cấu thành từ các lĩnh vực pháp luật hành chính, hình sự, dân sự, tố tụng… Trên phương diện nội dung pháp luật thì luật Thanh không chỉ có nội dung phong phú, phạm vi điều chỉnh sâu rộng mà còn phù hợp với đặc điểm của thời đại Về tư pháp đã tiến tới trình

độ chế độ hóa và pháp luật hóa, trình tự tố tụng nghiêm ngặt, thẩm cấp rõ ràng Đặc

Trang 10

biệt là trình tự xét xử những vụ án tử hình và chế độ hội thẩm vô cùng hoàn bị Vì vậy, nghiên cứu pháp luật triều Thanh giúp chúng ta nhận thức được một cách tương đối đầy đủ những nội dung và đặc điểm của pháp chế truyền thống Trung Hoa

Thứ hai, triều Thanh là triều đại có công lao rất lớn trong việc mở rộng và hình

thành bản đồ lãnh thổ Trung Quốc như ngày nay Để có thể duy trì sự ổn định của một quốc gia đa dân tộc thống nhất, triều Thanh đặc biệt chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật dân tộc Đây cũng là vương triều đạt được thành tựu rực rỡ nhất trong hoạt động lập pháp dân tộc Với chính sách phù hợp “nhân tục chế nghi” đã giúp cho vùng biên cương của nhà nước Mãn Thanh được củng cố, sự kiểm soát và khống chế của triều đình với các dân tộc vùng biên cương ngày càng thắt chặt Những thành công này đã

để lại những kinh nghiệm quý báu cho chính phủ Trung Quốc hiện nay trong việc hoạch định chính sách vùng biên

Thứ ba, Trung Quốc từ cổ đến nay luôn là một quốc gia đa dân tộc thống nhất Văn

hóa pháp luật truyền thống của Trung Quốc cũng do nhiều dân tộc cùng nhau xây dựng lên Tiến trình lịch sử của sự hòa hợp dân tộc cũng chính là quá trình giao lưu, dung hòa trên phương diện văn hóa pháp luật Lịch sử Trung Quốc đã không ít lần chứng kiến việc các dân tộc thiểu số vượt Vạn Lý Trường Thành tiến vào làm chủ Trung Nguyên Chính những dân tộc thiểu số đó đã góp phần quan trọng làm phong phú thêm sắc thái văn hóa pháp luật truyền thống Trung Hoa Thời kỳ Nam Bắc triều, khi lấy chính quyền Bắc triều của tộc Tiên Ti làm chủ thể, thì việc chế định “Bắc Tề luật” đã

có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của pháp luật phong kiến Trung Quốc “Bắc

Tề luật” lấy luật Hán làm căn bản, tổng hợp với luật Ngụy Tấn Đây chính là sự thích ứng của các dân tộc thiểu số với văn hóa tiên tiến của Trung Nguyên Các triều đại Liêu, Kim, Nguyên cũng đều góp phần vào việc xây dựng pháp chế phong kiến Trung Hoa Có thể là do thời gian thống trị quá ngắn hoặc trải qua quá trình lịch sử quá lâu dài mà nguồn sử liệu pháp luật của các vương triều lấy các dân tộc thiểu số làm chủ thể nói trên bị khuyết thiếu, khó khăn cho chúng ta nghiên cứu, tìm hiểu Nhưng chỉ có vương triều Thanh lấy dân tộc Mãn Châu làm chủ thể là còn lưu giữ được các nguồn tư liệu của nền pháp chế tương đối đầy đủ Từ khi chưa vào Trung Nguyên cho đến khi kiến lập, xây dựng một nhà nước phong kiến vững mạnh các nguồn sử liệu lưu giữ được đều rất hoàn chỉnh Đây là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử pháp luật của các dân tộc thiểu số Trung Quốc

Trang 11

Thứ tư, sau năm Đạo Quang thứ 20 (1840), xã hội Trung Quốc có bước chuyển lớn

lao, chế độ phong kiến đang đi vào giai đoạn giải thể, văn hóa pháp luật phương Tây thông qua nhiều con đường khác nhau đã bắt đầu xâm nhập vào Trung Quốc Biểu hiện tập trung của quá trình này là phong trào biến pháp cuối thế kỉ XIX, đầu XX Do vậy, nghiên cứu pháp luật triều Thanh không chỉ giúp hiểu được lịch sử pháp luật phong kiến Trung Quốc kết thúc như thế nào mà còn có thể biết được nền pháp chế cận đại Trung Quốc đã được bắt đầu ra sao

Thứ năm, triều Thanh còn lưu giữ được một khối lượng rất lớn các tư liệu lịch sử

pháp luật, đặc biệt là các bộ pháp điển, văn bản pháp luật, hồ sơ vụ án…Đây là kết quả của một quá trình tập hợp, chỉnh lí, biên tập của chính quyền và các học giả triều Thanh Đó là những di sản văn hóa pháp luật Trung Quốc có giá trị quan trọng cho chúng ta nghiên cứu

Do tính chất đặc thù của địa - chính trị và địa - lịch sử mà Việt Nam đã chịu ảnh hưởng lớn từ văn minh Trung Hoa trên nhiều phương diện Trong lĩnh vực pháp luật, ảnh hưởng của pháp luật phong kiến Trung Hoa tới pháp luật phong kiến Việt Nam là rất rõ nét Điều này được thể hiện qua hai bộ pháp điển quan trọng nhất của lịch sử phong kiến Việt Nam là bộ Quốc triều Hình luật của triều Hậu Lê và bộ Hoàng Việt luật lệ của triều Nguyễn Trong đó, bộ Quốc triều Hình luật đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng nhiều từ bộ Đường Luật sớ nghị triều Đường, còn bộ Hoàng Việt luật lệ lại chịu ảnh hưởng sâu sắc từ bộ Đại Thanh luật lệ của triều Thanh Do vậy, nghiên cứu pháp luật triều Thanh còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu những nội dung và giá trị của bộ luật Gia Long của Việt Nam Quan trọng hơn, thông qua đó giúp chúng ta có thêm hiểu biết và có cách nhìn khách quan về quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa pháp luật giữa Việt Nam và Trung Hoa

Với những ý nghĩa như trên, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật triều Thanh – Quá

trình hình thành, nội dung và đặc điểm” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên

ngành Lịch sử thế giới

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lịch sử nghiên cứu pháp luật triều Thanh đã trải qua một khoảng thời gian dài hơn

100 năm Trong khoảng 100 năm đó, việc nghiên cứu pháp luật triều Thanh trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có những đóng góp và những đặc điểm riêng Cho đến nay, đã được những thành quả đáng kể, có giá trị khoa học và thực tiễn

Trang 12

2.1 Ở Trung Quốc, việc nghiên cứu pháp luật triều Thanh đã được khởi đầu ngay

từ khi triều Thanh còn đang nắm quyền thống trị Dưới triều Thanh, hoạt động “Giải thích pháp luật” rất phát triển, có nhiều học giả đã tham gia vào trào lưu này Nhờ đó

mà việc nghiên cứu pháp luật của chính vương triều Thanh vì thế cũng bắt đầu được khai mở Theo thống kê thì dưới triều Thanh chỉ tính riêng các học giả với tư cách cá nhân tham gia “chú thích pháp luật” mà cụ thể là chú thích “Đại Thanh luật lệ” đã hơn

100 người Từ hoạt động đó đã xuất hiện nhiều trước tác của các học giả nổi tiếng, có đóng góp quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử pháp luật Trung Hoa nói chung và lịch sử pháp chế triều Thanh nói riêng Nổi tiếng nhất phải kể đến các tác giả như

Thẩm Chi Kỳ với tác phẩm “Đại Thanh luật chú” (chú giải luật Đại Thanh), Vương Minh Đức với “Độc luật bội huề” (tháo gỡ những vấn đề vướng mắc khi đọc luật (Thanh), Tiết Doãn Thăng với “Độc lệ tồn nghi” (Những tồn tại, nghi vấn khi đọc lệ), Thẩm Gia Bản với “Lịch đại hình pháp khảo” (Khảo cứu Hình pháp của các triều đại trong lịch sử)… Trong đó “Độc lệ tồn nghi” được đánh giá là một trong những cuốn

sách có giá trị nhất, mở đầu cho lịch sử nghiên cứu luật pháp triều Thanh Cuốn sách này được ấn hành vào năm 1904, cách chúng ta hơn 100 năm Cuốn sách này được Tiết Doãn Thăng coi như tập đại thành tổng kết hoạt động “Chú thích luật học” triều Thanh Cuốn sách được xây dựng trên cơ sở những kinh nghiệm phong phú của ông trong quá trình thực tiễn hoạt động tư pháp, là sự tổng kết những vấn đề khó khăn trong quá trình áp dụng lệ vào thực tiễn mà ông gặp phải khi thi hành công vụ Đồng thời là sự tập hợp những luận giải, những ý kiến của ông liên quan đến vấn đề tu cải luật lệ Giá trị của cuốn sách này không chỉ dừng lại ở tổng kết những kinh nghiệm và thực tiễn áp dụng pháp luật của bản thân ông mà còn có giá trị khoa học rất lớn, thể hiện trình độ học thuật vô cùng cao Đồng thời, cuốn sách này còn có ảnh hưởng rất lớn đối với phong trào cải cách biến pháp cuối triều Thanh Vì thế mà Tiết Doãn Thăng

đã được coi là người “mở đầu cho phong trào cải cách pháp chế cận đại Trung Quốc” Tiếp đó phải kể đến Lương Khải Siêu Đây chính là một học giả, một nhà Tân học, một tập bách khoa thư của Trung Quốc cận đại, được tôn xưng là “Đa diện thánh thủ” Lương Khải Siêu cũng có những cống hiến có tính chất khai sáng đối với nền pháp học

Trung Hoa cận đại Năm 1904, ông đã viết một bài luận quan trọng với tựa đề: “Luận

Trung Quốc thành văn pháp biên chế chi duyên cách đắc thất” (Luận bàn về sự được

mất trong quá trình biên soạn pháp luật thành văn Trung Quốc), đây là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên của một học giả Trung Quốc cho chúng ta có cái

Trang 13

nhìn tương đối hệ thống về Lịch sử pháp chế Trung Quốc Trong tác phẩm này ông đã lấy pháp luật phương Tây mà cụ thể là pháp luật La Mã làm đối tượng để tham chiếu

Từ nhãn quan của người đại diện cho phái Duy tân mà ông đã đưa ra một số đặc trưng của pháp luật thành văn Trung Quốc Trong đó ông dành một chương riêng thảo luận

về “pháp luật thành văn Minh Thanh”, chỉ rõ những mặt có thể kế thừa và những mặt hạn chế cần phải loại bỏ trong quá trình tiến lên xây dựng một nền pháp chế mới Sau khi Dân quốc được thành lập, những công trình nghiên cứu liên quan đến lịch

sử pháp luật Trung Quốc cũng không ít, nhưng chủ yếu là những tác phẩm mang tính chất thông sử, còn những công trình chuyên nghiên cứu về luật Thanh thì rất hạn chế Trong đó đáng kể nhất có thể nói tới 2 nhân vật là Đồng Khang và Quách Vệ Đồng Khang đã từng tham gia cải cách pháp chế cuối triều Thanh, từng cùng làm việc với Tiết Doãn Thăng và Thẩm Gia Bản cho nên quan niệm của ông cũng chịu ảnh hưởng

nhiều của 2 nhân vật này Về vấn đề nghiên cứu luật Thanh ông có hai bài viết “Tiền

Thanh pháp chế khái yếu” (Khái lược những vấn đề trọng yếu về pháp chế Tiền

Thanh”, đăng tải trên “Pháp học quý san” kì 2 năm 1924 và “Tiền Thanh tư pháp chế

độ” (Chế độ tư pháp Tiền Thanh) đăng trên “Pháp học tạp chí” số tháng 8/1935 Trong

hai bài viết này ông không chỉ thảo luận những vấn đề liên quan đến chế độ pháp luật Thanh trên phương diện lí luận mà từ kinh nghiệm bản thân ông đã đưa ra những nhận xét, suy nghĩ cá nhân về nền pháp chế Trung Quốc tương lai

Quách Vệ có một số bài viết như “Thanh luật Danh lệ” (Danh lệ của luật Thanh) đăng tải trên “Trung Hoa pháp học tạp chí” tháng 12/1936, “Thanh lục luật chi kiểm

thảo (Lại, Hộ) thượng” (bước đầu nghiên cứu luật Lại, Hộ trong 6 luật triều Thanh)

đăng trên tạp chí “Trung Hoa pháp học tạp chí (tân biên)” tháng 4/1937 và “Thanh

Hình luật chi kiểm thảo” (Nghiên cứu Hình luật triều Thanh) đăng trên tạp chí “Chính

trị quý san” tháng 12/1939 Trong 3 bài viết này tác giả đã lấy luật pháp hiện hành của chính phủ Quốc dân để tham chiếu Trong đó, ông đã có sự nghiên cứu và giải thích tương đối tỉ mỉ tường tận “Đại Thanh luật lệ” trên từng phương diện Danh lệ luật, Hình luật, Lại luật, Hộ luật Từ những bài viết đó có thể thấy xu hướng nghiên cứu của Quách Vệ là tập trung nghiên cứu từng bộ phận của “Đại Thanh luật lệ” Nhưng hiện nay những nghiên cứu của ông về luật Binh và luật Lễ chúng ta không thể tìm thấy

Từ thập kỉ 50 đến thập kỉ 70 của thế kỉ XX được coi là giai đoạn thứ 2 của lịch sử nghiên cứu pháp luật triều Thanh Tháng 10 năm 1949 nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập Không thể không thừa nhận đây là một cuộc biến đổi lớn trên

Trang 14

phương diện chính trị, xã hội Trung Quốc Sự biến đổi này đã ảnh hưởng sâu sắc đối với các ngành khoa học trong đó có khoa học lịch sử pháp luật Tư tưởng của giới học thuật có biến đổi nhanh chóng, họ đã lấy tư tưởng Mác –Lênin làm chỉ đạo, sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa Mác - Lênin Do vậy mà việc nghiên cứu lịch

sử pháp luật cũng ảnh hưởng biến đổi theo Do ảnh hưởng của quan niệm cho rằng triều Thanh là vương triều bán nước, cho nên những vấn đề khoa học liên quan đến triều Thanh gần như không được chú trọng và đánh giá cao Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới thành quả nghiên cứu pháp luật triều Thanh

Nhìn một cách tổng thể, từ năm 1949 trở đi việc nghiên cứu lịch sử pháp luật Trung Quốc nói chung và pháp luật triều Thanh nói riêng có một số điểm cơ bản sau

Từ những năm 50 đến những năm 60 thế kỉ XX, việc nghiên cứu lịch sử pháp chế Trung Quốc lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm chỉ đạo, chịu ảnh hưởng tư tưởng giai cấp một cách giáo điều Đặc biệt là thời kì này vẫn còn tồn tại cách nhìn, đánh giá triều Mãn Thanh là triều đại ngoại tộc, người Hán bị người Mãn thống trị là điều đầy xỉ nhục Vì thế, đã tồn tại quan điểm không khách quan, không khoa học về triều Thanh Tiếp đó là cuộc “Đại Cách mạng văn hóa” đã thủ tiêu những tư tưởng khoa học chân chính, làm cho không chỉ khoa học pháp lý mà các ngành khoa học khác, đặc biệt là khoa học xã hội có bước lùi đáng tiếc Nhìn chung, việc nghiên cứu lịch sử pháp luật Trung Quốc nói chung và lịch sử pháp luật triều Thanh nói riêng không đóng góp gì đáng chú ý

Tình hình này kéo dài đến năm 1979 mới bắt đầu có sự chuyển biến Tháng 1 năm

1979 tạp chí “Pháp học nghiên cứu” in ấn trở lại, đã mở đầu một trang mới trong việc nghiên cứu pháp luật Trung Hoa Cũng vào tháng 9 năm đó tại Thành phố Trường Xuân tỉnh Cát Lâm đã khai mạc hội thảo khoa học toàn quốc về Lịch sử pháp luật và Lịch sử tư tưởng pháp luật Đây là sự kiện đánh dấu một giai đoạn mới trong việc nghiên cứu lịch sử pháp luật Trung Hoa và lịch sử pháp luật triều Thanh Việc nghiên cứu Lịch sử pháp luật triều Thanh đã bước sang giai đoạn mới Tạp chí “Pháp học nghiên cứu” số đầu tiên đã đăng tải một bài nghiên cứu liên quan đến lịch sử pháp luật

triều Thanh Đó là bài “Thanh luật sơ thám” (Sơ lược khảo cứu luật Thanh) của

Trương Tấn Phiên Trong đó Trương Tấn Phiên cho rằng: “Luật Thanh là hình thái cuối cùng của pháp luật phong kiến Trung Quốc, cũng là hình thái quá độ lên pháp luật nửa thuộc địa nửa phong kiến Thể lệ của nó phong phú, hình phạt tàn khốc, so với pháp luật phong kiến của các triều đại trước đó có nhiều điểm đặc thù” Ông còn rút ra

Trang 15

một số điểm đặc thù cơ bản của pháp luật triều Thanh Trong nhãn quan của các nhà nghiên cứu pháp luật Trung Quốc ngày nay thì quan điểm của ông có gì đó quá cũ Nhưng đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, sau một thời gian dài bị trói buộc bởi những tư tưởng giáo điều thì những quan điểm của ông chính là một bước đột phá quan trọng Giai đoạn thứ ba từ những năm 1980 đến những năm 2000 Đây là thời kì bắt đầu hưng khởi của việc nghiên cứu pháp luật Trung Quốc và pháp luật triều Thanh Từ những năm 80 trở đi việc nghiên cứu pháp luật triều Thanh dần dần được hồi phục và phát triển Trải qua 20 năm đã đạt được những thành tựu rõ rệt Trong 20 năm này lại phân thành 2 thời kì nhỏ Trong 10 năm đầu là thời kì phục hồi, 10 năm sau là giai đoạn phồn thịnh

Trong 10 năm đầu, có thể kể tới 2 trước tác lớn và thành công Thứ nhất là luận

văn “Sự kế thừa và biến đổi của luật Thanh”, của học giả Cù Đồng Tổ Luận văn này

đã nhận được sự quan tâm chú ý và đánh giá cao của giới học thuật trong và ngoài nước Bản thảo bằng tiếng Anh của luận văn cũng được đăng trên “Trung Quốc xã hội khoa học” (Bản tiếng Anh) kì 3 năm 1980, bản Trung văn thì được đăng trên “Lịch sử nghiên cứu” kì 4 năm 1980, còn được báo cáo trong hội thảo quốc tế ở châu Âu năm

1980 Nội dung chủ yếu của công trình này là đề cập đến sự kế thừa, tiếp thu luật Minh của luật Thanh Trong đó, thông qua sự so sánh tương đối tỉ mỉ, tác giả đã chỉ rõ bộ

“Đại Thanh luật lệ” đã tiếp thu và biến đổi những gì từ luật Minh Và ông đã kết luận, luật Thanh kế thừa thì nhiều còn biến đổi thì rất ít Sau này đã được nhập vào cuốn

“Trung Quốc pháp học văn tập” do Nhà xuất bản pháp luật biên soạn và xuất bản Trương Tấn Phiên, tiếp nối những nghiên cứu của mình cuối những năm 70 đã phối hợp cùng với Quách Thành Khang, sử dụng những tư liệu “Mãn văn đang án” và

“Thực lục” để tiến hành khảo sát về hình thức pháp luật của triều Thanh trước khi vào

Trung Nguyên và hoàn thành công trình “Lịch sử chế độ pháp luật của Nhà nước

Thanh trước khi nhập Quan (vào Trung Nguyên)”, do Nhà xuất bản Liêu Ninh ấn

hành Cuốn sách tập trung phân tích tính chất xã hội chiếm nô của vương triều Mãn Thanh trong giai đoạn trước khi vào Trung Nguyên, quá trình phong kiến hóa, những ảnh hưởng của luân lí đạo đức phong kiến đối với xã hội Mãn Châu và cuối cùng đưa tới những biến đổi quan trọng trong đời sống pháp luật, phá vỡ tính chất pháp luật

chiếm nô và tiếp cận nền pháp chế phong kiến Tiếp đó ông còn chủ biên cuốn “Trung

Quốc pháp chế sử nghiên cứu tổng thuật” (Tổng kết nghiên cứu Lịch sử pháp luật

Trung Quốc) được xuất bản tại Bắc Kinh năm 1990 Đây chính là cuốn tổng kết tình

Trang 16

hình nghiên cứu pháp luật Trung Quốc từ 1949 đến 1989 Trong đó chương 11 (bộ phận pháp luật triều Thanh) do Trịnh Tần biên soạn đã đưa ra nhiều kiến giải sâu sắc

và thấu đáo về vấn đề pháp luật triều Thanh Cuốn sách này chính là mốc tổng kết thời

kì phục hồi nghiên cứu luật Thanh

Thời kì 10 năm tiếp theo là thời kì hoạt động nghiên cứu Lịch sử pháp chế Trung Quốc có những bước tiến lớn và đạt nhiều thành tựu rực rỡ Do những quan niệm cố hữu về triều Thanh trước đây phần nào đã được phá vỡ, các nhà nghiên cứu có cách nhìn khách quan hơn về địa vị lịch sử và những giá trị văn hóa triều Thanh nên hoạt động nghiên cứu về triều Thanh nói chung cũng có nhiều thành tựu đáng kể Trên phương diện nghiên cứu pháp luật, đây là thời kỳ những công trình nghiên cứu về lịch

sử pháp luật nói chung và pháp luật triều Thanh xuất hiện nhiều Có thể kể tới một số

cuốn tiêu biểu như: “Thanh luật nghiên cứu” của Trương Tấn Phiên, NXB Pháp luật 1992; “Thanh triều pháp chế sử” do Trương Tấn Phiên chủ biên, Trung Hoa thư cục xuất bản năm 1998; “Trung Quốc pháp chế sử” do Trương Tấn Phiên chủ biên, NXB pháp luật 1995; “Tân biên Trung Quốc pháp chế sử giáo trình” do Tiết Đào Khanh

chủ biên, NXB Đại học chính pháp Trung Quốc 1995…Đặc biệt đây cũng là thời kì đã bắt đầu xuất hiện những công trình nghiên cứu về pháp luật dân tộc triều Thanh Có nhiều nhà nghiên cứu đã bước đầu khảo sát quá trình lập pháp, những chính sách dân tộc chủ yếu qua các thời kì và hiệu quả thực thi pháp luật dân tộc của triều Thanh Có

thể kể tới một số công trình tiêu biểu như: “Thử luận bàn về việc thực thi pháp luật đối

với khu vực dân tộc Tạng của triều đình Thanh” của Vương Chí Cương, “Bước đầu tìm hiểu về hoạt động lập pháp hành chính của triều Thanh đối với khu vực Tây Tạng”

của Từ Hiểu Quang…

Đóng góp chủ yếu của các công trình này là đã tiến một bước trong việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu có tính chất liên ngành để nghiên cứu, luận giải những vấn đề liên quan đến nội dung, tính chất của pháp luật, tác dụng và hiệu lực thực thi pháp luật Các tài liệu sử dụng cũng ngày càng phong phú và vấn đề nghiện cứu cũng

có nhiều điểm mới và tường tận Lĩnh vực nghiên cứu cũng tiến tới chuyên ngành hóa

và ngày càng toàn diện Các học giả khi nghiên cứu thường phân thành các lĩnh vực tư tưởng pháp luật, hình thức pháp luật, luật hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, đối ngoại, tố tụng, tộc pháp….Nhìn chung lĩnh vực nghiên cứu ngày càng mở rộng, chuyên sâu, quan niệm cũng có nhiều điểm mới Điều này đã góp phần quan trọng vào việc khai thác, tìm hiểu những giá trị văn hóa pháp luật của triều Thanh

Trang 17

Từ những năm 2000 trở lại đây, việc nghiên cứu pháp luật Trung Quốc nói chung pháp luật Thanh nói riêng cũng được đẩy mạnh Việc nghiên cứu tiến trình hình thành

và phát triển của pháp luật Trung Quốc tiếp tục được chú ý Trong đó có đề cập đến luật Thanh Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu mang tính chất thông sử này chủ yếu là sự tổng kết những thành quả trong giai đoạn trước Có thể kể tới những công

trình cơ bản như “Trung Quốc pháp chế sử” của Tăng Hiến Nghĩa (NXB Đại học Bắc Kinh 2000), “Trung Quốc pháp chế sử” của Triệu Côn Pha (NXB Đại học Bắc Kinh 2002), “Trung Quốc pháp chế sử” của Diệp Hiếu Tín chủ biên (NXB Đại học Phúc Đán 2008), “Trung Quốc pháp chế sử” do Đặng Kiến Phúc chủ biên (NXB Đại học

Bắc Kinh 2011)…

Đáng chú ý là những năm trở lại đây, các học giả đã đi sâu khai thác những lĩnh vực có tính chuyên biệt của pháp luật Thanh Điển hình là các lĩnh vực pháp luật dân tộc, pháp luật dân sự, thực tiễn áp dụng pháp luật…Có thể kể tới một số tác giả và

công trình tiêu biểu sau: “Đại Thanh luật lệ và sự khống chế xã hội thời Thanh” của

Thẩm Đại Minh (NXB Nhân dân Thượng Hải 2007) Trong tác phẩm này, tác giả trên

cơ sở nghiên cứu toàn diện bộ “Đại Thanh luật lệ” và khảo chứng hồ sơ những vụ án

mà phân tích sự khống chế của pháp luật đối với xã hội, từ đó thấy được mối quan hệ

giữa xã hội và pháp luật Hoàng Tông Tri viết cuốn “Pháp luật triều Thanh, xã hội và

văn hóa: biểu hiện và thực tiễn áp dụng của pháp luật dân sự”, do Thượng Hải Thư

quán xuất bản năm 2007 Đây là một trong những công trình nghiên cứu tương đối chuyên sâu về Dân pháp và thực tiễn áp dụng, thực thi Dân pháp dưới triều Thanh Trên cơ sở nghiên cứu một cách tỉ mỉ những văn bản, quy định pháp luật dân sự và hồ

sơ các vụ án tác giả đã đi đến kết luận giữa những quy định pháp luật với thực tiễn áp dụng pháp luật tồn tại nhiều mâu thuẫn “ngôn hành bất nhất” Từ đó có thể lí giải một

số mâu thuẫn trong văn hóa và xã hội truyền thống Trung Quốc….Các lĩnh vực khác như vấn đề Văn tự ngục, chính sách “than đinh nhập mẫu” (đem thuế đinh nhập vào thuế ruộng), kỳ địa (đất đai thuộc sở hữu của người Mãn ở các Kỳ), chế độ Bát Kỳ, chính sách “Cải thổ quy lưu” (xóa bỏ chế độ thổ ty ở các khu vực dân tộc thiểu số, đưa chế độ quan lại khu vực thiểu số nhập vào quan chế của cả nước)…cũng đã và đang được các học giả tiếp tục nghiên cứu

Nhìn chung, việc nghiên cứu pháp luật triều Thanh ở Trung Quốc đã được bắt đầu

từ sớm và trải qua quá trình lâu dài với nhiều giai đoạn Mỗi giai đoạn có những đặc trưng riêng nhưng đều có những đóng góp quan trọng góp phần làm cho các vấn đề về

Trang 18

pháp luật triều Thanh ngày càng sáng tỏ và được nhìn nhận một cách khách quan, những cống hiến của triều Thanh cũng được đánh giá một cách xác đáng

2.2 Trên thế giới: Vấn đề lịch sử pháp luật Trung Quốc nói chung đã được các

học giả trong khu vực và thế giới quan tâm nghiên cứu tương đối sớm và những thành quả đạt được cũng rất rõ rệt Có thể đề cập đến một số quốc gia và khu vực với những công trình chủ yếu dưới đây

- Ở Đài Loan, vấn đề này đã được chú ý nghiên cứu từ những năm 60, 70 của thế

kỉ XX Có thể kể tới Đỗ Phụ Ông với bài luận “Luật Hình của Mãn Thanh” đăng trên

“Trung Anh nhật báo” tháng 10/1960; Nguyễn Nghị Thành “Hình luật của triều

Thanh” đăng trên “Pháp lệnh nguyệt san” tháng 11/1969; Tái Đình Huy với “Tội phạm công cộng trong Đại Thanh luật lệ” đăng trên “Pháp học tùng san” số tháng

1,4,7 năm 1973, Trương Tố Sùng viết bài “Bước đầu giải thích Đại Thanh luật lệ”

đăng trên “Hoa cương pháp túy” số ra tháng 6 năm 1974…Nhưng do hoàn cảnh đặc thù giữa Trung Quốc và Đài Loan những năm 50 đến 70 của thế kỉ XX mà những nghiên cứu này của các học giả Đài Loan rất khó tiếp cận Hiện nay các nhà nghiên cứu cũng đã tìm hiểu nhưng vẫn chưa tìm được nguyên văn

- Ở Nhật Bản, việc nghiên cứu luật Thanh còn được bắt đầu sớm hơn nhiều Từ

năm 1939, việc nghiên cứu đã được mở ra với bài luận “Sự hình thành luật Thanh”

của một học giả Nhật Bản đăng trên “Pháp tào tạp chí” số 4/1939 Nhưng sau đó là một khoảng trống tương đối dài, mãi đến những năm 70 thế kỉ XX vấn đề này mới được

tiếp tục trở lại với nhiều bài nghiên cứu và sách được xuất bản như “Nghiên cứu luật

Hình triều Thanh” của NXB Đại học Tokyo 1973, “Pháp chế triều Thanh” – “Nhập môn nghiên cứu Trung Quốc cận đại” của NXB Đại học Tokyo 1974; “Thẩm phán Dân sự và Khế ước dân gian thời kì Minh Thanh” của NXB Pháp luật 1998…

- Khu vực Âu Mĩ: Có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật Trung Quốc nói chung và pháp luật triều Thanh nói riêng Các học giả đã nghiên cứu và dịch bộ “Đại Thanh luật lệ” ra tiếng Anh Ví dụ như một nhà nghiên cứu người Anh là George Thomas Staunton đã dịch “Đại Thanh luật lệ” ra tiếng Anh từ năm 1810 và đã được xuất bản, tái bản nhiều lần ở các nước châu Âu Các công trình nghiên cứu chắc chắn

có rất nhiều nhưng do hạn chế nhiều mặt mà người viết chưa tiếp cận, tìm hiểu được Trung Quốc cũng đã dịch một số công trình của các học giả nước ngoài ra tiếng Trung,

có thể kể tới cuốn “Nghiên cứu Đại Thanh luật lệ” do Tô Diệc Công dịch và “Các học

giả Mĩ bàn luận về Pháp luật truyền thống Trung Quốc” do Cao Đạo Uẩn dịch và

Trang 19

được NXB Đại học Chính pháp xuất bản năm 1994; năm 2000 NXB Đại học Chính

pháp lại xuất bản cuốn “Bước đầu phân tích pháp chế triều Thanh nhìn từ góc độ xã

hội học” do Trương Thủ Đông dịch…

2.3 Ở Việt Nam

Vấn đề nghiên cứu Lịch sử pháp luật Trung Quốc nói chung và Lịch sử pháp luật triều Thanh nói riêng cũng đã được bắt đầu nhưng còn rất nhiều hạn chế Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Việt Nam chưa có một công trình chuyên sâu nào nghiên cứu về về vấn đề này Có chăng thì chỉ có một số học giả bước đầu đề cập đến Có lẽ người Việt Nam đầu tiên và là người nghiên cứu tỉ mỉ nhất, thành công nhất về cổ luật Việt Nam và cổ luật Trung Quốc là Giáo sư Vũ Văn Mẫu, trưởng Luật khoa Sài Gòn

Trong các tác phẩm nghiên cứu về cổ luật Việt Nam như: Cổ luật Việt Nam thông

khảo, tập 1,2, Sài Gòn 1974; Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng, Sài Gòn 1973; Cổ luật Việt Nam lược khảo, quyển 1,2 Sài Gòn 1970 ông đã bước đầu tìm hiểu

về cổ luật Việt Nam trong tương quan so sánh với cổ luật Trung Quốc Trong đó, khi tìm hiểu luật nhà Nguyễn, ông đã có sự so sánh với luật nhà Thanh và có nhận xét pháp luật triều Nguyễn là sự sao chép gần như nguyên vẹn pháp luật triều Thanh

Từ giữa những năm 90 thế kỉ XX, có một số nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề này khi nghiên cứu bộ Hoàng Việt Luật Lệ của Triều Nguyễn Trong bài viết

“Hoàng Việt luật lệ đã tham khảo luật nhà Thanh như thế nào” của tác giả Nguyễn

Phan Quang đăng trên tạp chí “Nghiên cứu Lịch sử” số 1/1995, đã bước đầu chỉ ra việc tiếp thu luật Thanh của Hoàng Việt luật lệ thông qua khảo sát một số điều luật Trần

Thị Thanh Thanh trong “Góp thêm ý kiến về bộ Hoàng việt luật lệ của triều Nguyễn”

trên tạp chí “Nghiên cứu Lịch sử” số 3/2002 cũng khảo cứu và đưa ra một số nhận xét

về quá trình xây dựng bộ Hoàng Việt luật lệ trên cơ sở tiếp thu luật triều Hậu Lê và triều Thanh

Gần đây, GS Đỗ Thanh Bình và Ths Nguyễn Thị Thu Thủy của trường Đại học sư phạm Hà Nội đã có 2 bài viết nghiên cứu về luật Thanh đăng trên tạp chí

Nghiên cứu Trung Quốc Trong bài “Về bộ “Đại Thanh luật lệ” và các đặc trưng cơ

bản của nó” (Nghiên cứu Trung Quốc số 9/2010), hai tác giả đã khái quát quá trình ra

đời, kết cấu bộ luật và phân tích một số đặc trưng cơ bản của bộ luật này Trong bài

“Luật Thanh đã tiếp thu luật Minh như thế nào” (Nghiên cứu Trung Quốc số 10/2010),

trên cơ sở nghiên cứu, so sánh luật Thanh và luật Minh tác giả đã chỉ ra những điểm tiếp thu cũng như những điểm cải biến của luật Thanh so với luật Minh Đây có lẽ là

Trang 20

những bài nghiên cứu có tính chuyên khảo đầu tiên về vấn đề pháp luật triều Thanh của các học giả Việt Nam Tuy nhiên hai bài viết này vẫn dừng lại ở mức độ giới thiệu

sơ khảo, chưa thực sự nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về pháp luật triều Thanh Nhìn một cách tổng thể, vấn đề Lịch sử pháp luật Trung Quốc và lịch sử pháp luật triều Thanh vẫn là một khoảng trống lớn trong khoa học lịch sử pháp luật ở Việt Nam Đây cũng là vấn đề nên được các nhà nghiên cứu quan tâm trong thời gian tới Chúng ta chỉ có thể hiểu và lý giải được các vấn đề về cổ luật Việt Nam khi hiểu được

cổ luật Trung Quốc Đặc biệt là việc nghiên cứu luật pháp triều Nguyễn không thể tách rời pháp luật triều Thanh Nhờ đó cũng nhận biết sự giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Quốc trên phương diện văn hóa chính trị pháp lý

3 Mục đích nghiên cứu

- Thông qua việc nghiên cứu bối cảnh lịch sử và yêu cầu của việc xây dựng pháp luật thấy rõ hơn quá trình chuyển biến từ pháp luật chiếm hữu nô lệ lên pháp luật phong kiến của triều Thanh

- Từ quá trình lập pháp, nội dung pháp luật rút ra những đặc điểm cơ bản của pháp luật Mãn Thanh Từ đó thấy được phần nào nội dung và đặc trưng của pháp chế Trung Hoa thời cổ trung đại

- Đặt luật Thanh trong tương quan so sánh với luật triều Nguyễn của Việt Nam để làm rõ hơn sự ảnh hưởng của pháp luật phong kiến Trung Hoa tới pháp luật phong kiến Việt Nam

- Góp thêm tư liệu cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử pháp luật thế giới và lịch sử pháp luật Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày khái quát sự thành lập triều Mãn Thanh để thấy được hoàn cảnh lịch sử chi phối và tác động tới pháp luật

- Khái quát được tiến trình lập pháp trước và sau khi vào Trung Nguyên

- Phân tích được một số nội dung cơ bản và rút ra được đặc điểm, tính chất của pháp luật triều Thanh

- Phân tích được một số ảnh hưởng của pháp luật triều Thanh tới pháp luật triều Nguyễn Việt Nam

5 Giới hạn – phương pháp nghiên cứu

- Giới hạn nghiên cứu: Thứ nhất: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ

bản của pháp luật triều Thanh giai đoạn đầu, tức là từ khi triều Thanh được thành lập

Trang 21

(1616) cho đến trước chiến tranh Nha Phiến 1840 Trong đó, đề tài cũng chú trọng và

đi sâu hơn tìm hiểu pháp luật triều Thanh từ khi tiến vào làm chủ Trung Nguyên (1644) đến 1840

Thứ hai: Trong phạm vi pháp luật triều Thanh bao gồm nhiều bộ phận, có thể chia thành hai hệ thống là pháp luật thực định và pháp luật ngoài thực định Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, tôi chủ yếu tìm hiểu những vấn đề cơ bản trong hệ thống pháp luật thực định của triều Thanh

- Phương pháp nghiên cứu: ngoài các phương pháp nghiên cứu có tính chất cơ sở

phương pháp luận cho các ngành khoa học xã hội nói chung như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử chúng tôi còn sử dụng các phương pháp đặc thù khác như:

Phương pháp lịch sử - logic được sử dụng trình bày quá trình hình thành và phát triển của vấn đề bằng những sự kiện lịch sử điển hình, phân chia các giai đoạn phát triển bằng các mốc lịch sử theo thời gian, phân tích bối cảnh từng giai đoạn để thấy được đặc trưng và rút ra những kết luận cần thiết

Luận văn cũng sử dụng phương pháp đối chiếu, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp… để thấy được những đặc trưng của luật Thanh trong từng thời kì và so với luật các triều đại trước, những ảnh hưởng của luật Thanh với pháp luật Việt Nam phong kiến

6 Nguồn tƣ liệu chủ yếu

Để thực hiện đề tài tôi căn cứ trước hết vào tài liệu gốc là những văn bản pháp luật của các triều đại phong kiến Trung Quốc mà cụ thể ở đây là hai bộ luật cơ bản “Đại Minh luật” của triều Minh và “Đại Thanh luật lệ” của triều Thanh Ngoài ra, một nguồn tư liệu gốc nữa mà chúng tôi sử dụng là hai bộ cổ luật của Việt Nam: “Quốc triều hình luật” của triều Hậu Lê và bộ “Hoàng Việt luật lệ” của triều Nguyễn

Bên cạnh đó chúng tôi sử dụng một nguồn tư liệu chủ yếu nữa là các công trình nghiên cứu, các bài báo, tạp chí nghiên cứu về lịch sử và pháp luật triều Thanh bằng tiếng Trung và tiếng Việt

Luận văn cũng khai thác và tiếp cận các bài viết, thông tin có liên quan đến đề tài trên nhiều trang điện tử quốc tế (Internet)

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương chính:

Trang 22

- Chương 1: Triều Mãn Thanh thành lập và hoạt động lập pháp của triều Mãn Thanh

- Chương 2: Nội dung cơ bản của pháp luật triều Thanh

- Chương 3: Đặc điểm cơ bản của pháp luật triều Thanh Ảnh hưởng pháp luật triều Thanh đến pháp luật triều Nguyễn ở Việt Nam

Trang 23

Chương 1: TRIỀU MÃN THANH THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG LẬP

PHÁP CỦA TRIỀU THANH 1.1 Bộ tộc Nữ Chân – Mãn vào Trung nguyên và sự xác lập nền thống trị của triều Mãn Thanh

Triều Thanh là vương triều phong kiến do tộc Nữ Chân kiến lập Sau thời kì nhà Nguyên đây là lần thứ 2 Trung Quốc bị đặt dưới sự cai trị của một vương triều dân tộc thiểu số, cũng là vương triều cuối cùng trong lịch sử phong kiến Trung Quốc Triều Thanh, kể từ khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích xưng đế cho đến vị vua cuối cùng là Phổ Nghi tổng cộng trải qua 20 đời vua Năm 1616, Nỗ Nhĩ Cáp Xích kiến lập triều Hậu Kim Năm

1636, Hoàng Thái Cực đổi quốc hiệu là Thanh Năm 1644 vượt Sơn Hải Quan vào Trung Nguyên và định đô ở Bắc Kinh Triều Thanh trong quá trình trấn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân ở các địa phương và lực lượng phản kháng của triều Nam Minh

đã dần dần thống nhất cả nước Cho đến năm 1911 khi cuộc cách mạng Tân Hợi bùng

nổ, lật đổ sự thống trị của triều Thanh Từ đó đã chấm dứt chế độ phong kiến tồn tại suốt hơn 2000 năm ở Trung Quốc

Vào cuối triều Minh, chính trị hỗn loạn, nạn hoạn quan hoành hành khiến cho chính quyền nhà Minh ngày càng suy yếu Từ cuối thế kỉ XV, triều Minh bước vào giai đoạn khủng hoảng Trong nội bộ giai cấp thống trị thường xuyên diễn ra cảnh tranh giành quyền lực, tiêu diệt lẫn nhau Vua thường lên ngôi khi còn ít tuổi, chỉ biết ăn chơi, mọi quyền hành đều rơi vào tay các hoạn quan Quan lại triều Minh chỉ thi nhau

vơ vét cho đầy túi tham, thuế má, lao dịch nặng nề khiến cho đời sống nhân dân vô cùng vất vả Giai cấp địa chủ tìm mọi cách chiếm đoạt ruộng đất Thêm vào đó, Trung Quốc nhiều lần bị người Mông Cổ xâm nhập, thậm chí trong cuộc tấn công năm 1449, vua Minh Anh Tông đã bị bắt đưa về Mông Cổ

Song song với sự rối loạn triều chính là nạn hoạn quan hoành hành Đời Minh có lẽ

là đời có họa hoạn quan lớn nhất Những cơ quan Đông Xưởng, Tây Xưởng, Nội Xưởng1 đã trở thành các cơ quan mật vụ của hoạn quan, chuyên dò xét, tiêu diệt những

kẻ chống lại bọn chúng Dưới triều Minh, do hoạn quan hoành hành, triều chính rối loạn, dân bị hà hiếp, quan lại có tài không theo bọn chúng đều bị hãm hại, khiến cho quan dân đều oán thán

1 Đông Xưởng, Tây Xưởng, Nội Xưởng là cơ quan đặc vụ tư pháp được lập ra dưới triều Minh, tuy không là cơ quan tư pháp chính thức, nhưng được hoàng đế cho phép đặc biệt tham gia vào tất cả các khâu trong hoạt động tư pháp Cơ quan này do hoạn quan thao túng, trực tiếp phụng mệnh của hoàng đế để làm việc

Trang 24

Nạn chiếm ruộng đất của dân và tập trung ruộng đất vào tay giai cấp địa chủ cuối triều Minh đã trở nên nghiêm trọng Có những nơi cứ 10 người thì có tới 9 người không có đất Bên cạnh đó là sưu cao thuế nặng, nhiều người phải bán vợ đợ con, vay nặng lãi thậm chí bán mình trở thành tá điền, nô tì hoặc tha phương cầu thực Lúc bấy giờ nhân dân cả nước nói chung đề khốn khổ, nhưng nghiêm trọng nhất là ở Thiểm Tây Vì vậy mà nơi đây đã trở thành nơi bùng nổ phong trào chiến tranh nông dân cuối triều Minh Từ Thiểm Tây, phong trào ngày càng lan rộng, trong đó có 2 lực lương quan trọng nhất là nghĩa quân nông dân của Lý Tự Thành ở khu vực Thiểm Tây và của Trương Hiến Trung ở khu vực miền Nam

Gần như qui luật lịch sử, mỗi khi các vương triều của người Hán ở Trung Nguyên suy yếu thì các bộ tộc chăn nuôi du mục phương Bắc lại hướng xuống phía Nam cướp bóc Họ lấy du mục làm nghề chính, thiện về kị chiến, vô cùng dũng mãnh nhanh nhẹn, đến nhanh như cuồng phong, đi nhanh như ánh chớp Nếu người du mục thiết lập được một xã hội tương đối chặt chẽ - tổ chức quân sự, sản sinh được một thủ lĩnh có sức hiệu triệu, họ bèn phát triển việc cướp bóc tạm thời thời thành cuộc chiến tranh chinh phạt qui mô lớn, thậm chí là “dùng cung, ngựa để đoạt cả thiên hạ”, vào làm chủ Trung Nguyên, xây dựng lên vương triều của mình Thế kỉ thứ V, tộc Tiên Ti vượt lãnh thổ thống nhất lưu vực Hoàng Hà; thế kỉ XII, người Mông Cổ lập nên triều Nguyên…đó là những trang vĩ đại trong lịch sử người du mục vào làm chủ Trung Nguyên Và giờ đây, khi chính quyền nhà Minh suy yếu, thì Trung Nguyên rộng lớn của người Hán lại đứng trước nguy cơ rơi vào ách thống trị của người ngoại phiên – tộc Nữ Chân

Tộc Nữ Chân vốn là tiền thân của người Mãn Từ 2000 năm trước gọi là “Túc Thận” (肃慎 su zhen), từ thời Hán đến thời Tấn, xưng là “Ấp Lâu” (挹娄 yi lou), thời

kì Nam Bắc triều gọi là “Vật Cát” (勿吉 wu ji), thời Tùy Đường gọi là “Mạt Hát” (靺

鞨 Mohe), lập nước Bột Hải Đến thời kì Liêu Kim gọi là “Nữ Chân” (女真) Trong các sách vở của Liêu cũng gọi là Nữ Chân Triều Kim chính là do tộc Nữ Chân lập nên Từ thời Nguyên trở đi, tộc Nữ Chân đều cư trú ở vùng Đông Bắc Trung Quốc Đầu thời Minh, tộc Nữ Chân bị phân thành 3 bộ phận lớn là Kiến Châu Nữ Chân, Hải Tây Nữ Chân, Dã Nhân Nữ Chân Dưới triều Minh, vùng Đông Bắc có thiết lập Liêu Đông đô ty, Nô Nhi Can đô ty làm cơ quan quản lí Các bộ tộc Nữ Chân đều thần phục triều đình Minh Những người thống trị của triều Thanh vốn xuất thân từ thị tộc Ái Thân Giác La của bộ tộc Kiến Châu Nữ Chân Thời kì thủ lĩnh của bộ tộc Kiến Châu Nữ Chân là Mãnh Ca Thiếp Mộc Nhi (猛哥帖木耳 meng ge tie mu er) (là ông tổ

Trang 25

6 đời của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, sau này được truy phong là Triệu Tổ Nguyên Hoàng đế)

đã là Kiến Châu Tả Vệ Đô Đốc của triều Minh, năm 1433 do xung đột với Bồi tộc nên

bị chết Năm 1440, bộ tộc Kiến Châu thực hiện Nam di, định cư ở Hách Đồ A La (Liêu Ninh) Sau cuộc Nam di đó, bộ tộc Kiến Châu Nữ Chân và chính quyền nhà Minh có quan hệ mật thiết, xã hội của bộ tộc Kiến Châu có nhiều điều kiện phát triển, kinh tế ngày càng phồn vinh

Năm 1583 Ái Thân Giác La Nỗ Nhĩ Cáp Xích được phong là Kiến Châu Tả Vệ chỉ huy xứ, từng bước chinh phục, kiêm tính và thống nhất các bộ tộc Nữ Chân Ông còn củng cố thành trì, cắt đặt đại thần, xây dựng pháp luật, tiến hành tố tụng, xây dựng chế độ Bát Kỳ Chế độ Bát Kỳ đã thúc đẩy sự phát triển của xã hội tộc Nữ Chân, củng

cố địa vị thống trị của Nỗ Nhĩ Cáp Xích

Năm 1616, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã tự xưng là Hãn ở thành Hách Đồ A La (Liêu Ninh ngày nay), lấy quốc hiệu là Kim (sử thường gọi là Hậu Kim), lấy niên hiệu là Thiên Mệnh, công khai chống lại chính quyền nhà Minh Năm 1618, Nỗ Nhĩ Cáp Xích ban bố bài Hịch “Thất đại hận” làm lí do đánh triều Minh, tuyên thệ thảo phạt triều Minh

Năm 1621, Nỗ Nhĩ Cáp Xích chiếm được Liêu Dương, Thẩm Dương và dời đô

về Liêu Dương Mùa xuân năm 1625, Nỗ Nhĩ Cáp Xích không cần hội ý với các Bối Lặc và các đại thần, tự ý dời đô về Thẩm Dương Từ đó, Thẩm Dương trở thành trung tâm thống trị của chính quyền Hậu Kim Nhưng năm 1626, trong chiến dịch Ninh Viễn, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã bị quân Minh tiến đánh bị trọng thương, không lâu sau thì qua đời Người con trai thứ 8 là Hoàng Thái Cực lên nối ngôi, tiếp tục mở rộng thế tấn công triều Minh, và liên kết với các bộ tộc Mông Cổ, thế lực ngày càng mạnh

Năm 1635, Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực đã bỏ Tộc danh cũ là “Chư Thân” (Nữ Chân), định Tộc danh mới là “Mãn” Năm 1636, Hoàng Thái Cực xưng đế và đổi quốc hiệu từ “Kim” thành “Thanh”, chính thức sáng lập triều Thanh, đổi niên hiệu là Sùng Đức Từ đó trở đi triều Thanh càng tích cực chuẩn bị và đẩy mạnh quá trình thôn tính Trung Nguyên

Năm 1644, quân Lý Tự Thành tiến vào Bắc Kinh, vua Sùng Trinh của triều Minh

tự sát ở Cảnh Sơn sau hoàng thành Tướng của triều Minh đang đồn trú ở Sơn Hải Quan là Ngô Tam Quế hàng Thanh Nhiếp Chính vương Đa Nhĩ Cổn chỉ huy quân Bát

Kỳ tiến vào Trung Nguyên (Nhập Quan) do Ngô Tam Quốc dẫn đường, đánh đuổi nghĩa quân nông dân, chiếm lấy Bắc Kinh Cũng trong năm đó, hoàng đế Thuận Trị

Trang 26

của triều Thanh đã dời đô về Bắc Kinh, làm lễ tế cáo trời đất tổ tông, biểu thị rằng ông

đã trở thành vua của toàn Trung Quốc Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng, đã đánh dấu

từ đây triều Thanh với tư cách là một triều đại phong kiến mới ở Trung Quốc chính thức được thành lập

Tiếp đó, quân Thanh tiếp tục dồn đuổi và trấn áp nghĩa quân nông dân ở phía Nam, địa chủ và quan lại phương Bắc liên tiếp qui hàng, cấu kết với quân đội Thanh Cùng thời kì đó, ở phương Nam, một số quan lại còn lại của triều Minh đã phò tá một số người trong Hoàng tộc xây dựng một số tiểu triều đình, lịch sử thường gọi là Nam Minh (Hoằng Quang, Long Vũ, Chiêu Vũ, Vĩnh Lịch) Ngoài ra còn có chính quyền Đại Thuận của Lí Tự Thành, Đại Tây của Trương Hiến Trung Năm 1645, triều Thanh tiêu diệt triều Đại Thuận của Lí Tự Thành và triều Hoằng Quang của Nam Minh, năm

1646 tiêu diệt chính quyền Đại Tây và chính quyền Long Vũ, Chiêu Vũ của Nam Minh, năm 1662 tiêu diệt chính quyền Vĩnh Lịch của Nam Minh, năm 1664 tiêu diệt những lực lượng còn lại của chính quyền Đại Thuận

Cuối cùng chỉ còn Trịnh Thành Công là lực lượng kiên trì chống Thanh hơn cả Năm 1661, để xây dựng căn cứ địa, Trịnh Thành Công đã đem 25.000 quân vượt biển

ra Đài Loan Với sự ủng hộ của nhân dân địa phương, Trịnh Thành Công đã đuổi được người Hà Lan đi (người Hà Lan chiếm Đài Loan từ 1624), biến đây thành căn cứ để phản Thanh phục Minh Sau khi ông chết, con trai ông là Trịnh Kinh tiếp tục sự nghiệp của cha Nhưng đến năm 1683, với nhiều thủ đoạn như bắt dân ở ven biển Phúc Kiến dời sâu vào trong nội địa để không tiếp tế được cho họ Trịnh, cấu kết với hải quân Hà Lan, cuối cùng hoàng đế Khang Hy cũng chiếm được Đài Loan, năm sau triều Thanh

đã lập phủ Đài Loan

Sau khi diệt được triều Nam Minh không lâu thì triều Thanh lại phải đối phó với

“loạn Tam phiên” Khi mới thành lập, triều Thanh đã mua chuộc và dùng ba tướng của triều Minh để dẹp loạn trong nước, phong cho chúng tước phiên Vương: Ngô Tam Quế được phong làm Bình Tây vương ở Vân Nam, Thượng Khả Hỷ được phong làm Bình Nam vương ở Quảng Đông và Cảnh Tinh Trung được phong Tĩnh Nam vương ở Phúc Kiến Trong đó, thế lực mạnh nhất là Ngô Tam Quế Sự tồn tại của những lãnh địa bán độc lập này ảnh hưởng bất lợi cho sự nghiệp củng cố nền thống trị của nhà Thanh, cho nên hoàng đế Khang Hy quyết tâm xóa bỏ tình trạng này Sau khi Khang Hy ra lệnh bỏ các phiên, Ngô Tam Quế đã cùng với 2 phiên vương nổi dậy chống đối Nhưng đến năm 1681 thì quân Thanh đã dập tắt được các thế lực này

Trang 27

Như vậy, sau hơn 20 năm vào Trung Nguyên tiến hành trấn áp những lực lượng chống đối, triều Thanh đã cơ bản thống nhất toàn quốc

Đồng thời với việc đối phó với các thế lực phản Thanh, thống nhất Trung Nguyên, triều Thanh còn đẩy mạnh công cuộc chinh phục các bộ lạc ở khu vực phía Bắc, phía Tây, không ngừng mở rộng lãnh thổ của đế quốc Đại Thanh Năm 1697, chinh phục tộc Khan Kha là một chi tộc Mông Cổ ở phía Bắc Sau đó, triều Thanh lại tiếp tục tấn công khu vực Tây Tạng, đến năm 1727 thì Tây Tạng chính thức bị sáp nhập vào bản

đồ Mãn Thanh Ở phía Tây bắc vùng Tân Cương ngày nay là nơi cư trú của người Duy Ngô Nhĩ (trước đây gọi là người Hồi Hột) Đầu thời Thanh khu vực này bị người Mông Cổ chiếm giữ Sau khi đánh bại lực lượng quân Mông Cổ ở Tây Tạng, quân Thanh đã tiến chiếm đất đai của người Duy Ngô Nhĩ, sáp nhập vào lãnh thổ của triều Thanh và đặt tên khu vực này là Tân Cương

Như vậy trải qua quá trình chinh chiến lâu dài, giữa thế kỉ XVIII, triều Thanh đã thôn tính được Tây Tạng, Mông Cổ, Tân Cương, cùng với lãnh thổ của Mãn Châu và của triều Minh thì triều Thanh đã xây dựng được một bản đồ lãnh thổ của đế quốc vô cùng rộng lớn Vào thời kì Càn Long lãnh thổ triều Thanh đã lên tới khoảng 13 triệu km2

1.2 Con đường phong kiến hóa – sự dung hợp Mãn – Hán

Phong kiến hóa là khái niệm dùng để chỉ quá trình chuyển biến từ phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ tiến sang phương thức sản xuất phong kiến, là quá trình hình thành và xác lập phương thức sản xuất phong kiến Nội dung chủ yếu của nó là cải biến những nhân tố phi phong kiến thành những nhân tố phong kiến, hướng tới xác lập

2 yếu tố cơ bản nhất của quan hệ sản xuất phong kiến là chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến và quan hệ giai cấp phong kiến Ở Trung Quốc, khái niệm này thường dùng

để chỉ quá trình các dân tộc thiểu số lạc hậu tiến từ xã hội chiếm hữu nô lệ lên xã hội phong kiến, chủ yếu thể hiện ở sự cải biến phương thức sản xuất và văn hóa Đối tượng phong kiến hóa của các dân tộc thiểu số thường là văn hóa Hán tộc, cho nên khái niệm phong kiến hóa thường dùng với khái niệm Hán hóa, thậm chí có lúc đồng nhất 2 khái niệm này Phong kiến hóa hay Hán hóa có nhiều điểm khác biệt, nhưng nhìn chung nó đều là hình thức biểu hiện của sự hòa hợp dân tộc Quá trình này diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Thực chất, nó đều là quá trình các dân tộc thiểu số lạc hậu bị các dân tộc tiên tiến đồng hóa về phương thức sản xuất và văn hóa

Trang 28

Quá trình phong kiến hóa hay Hán hóa ở Trung Quốc diễn ra theo 2 con đường chủ yếu: bên cạnh con đường đồng hóa cưỡng bức của người Hán thì con đường Hán hóa

tự nhiên cũng rất phổ biến Hán hóa tự nhiên là tình trạng các dân tộc có trình độ văn minh kém phát triển hơn so với dân tộc Hán, theo quy luật các dân tộc ấy cũng sẽ dần dần tiếp nhận ảnh hưởng của phương thức sản xuất và văn hóa tiên tiến của dân tộc Hán, từng bước cải biến một bộ phận hoặc toàn bộ các đặc trưng của dân tộc mình theo Hán tộc, hoặc bị Hán tộc đồng hóa Cũng có thể, một dân tộc thiểu số có trình độ văn hóa, văn minh kém hơn nhưng đã chinh phục được Hán tộc có trình độ văn minh cao hơn, để có thể thiết lập được sự thống trị của mình đối với người Hán thì dân tộc ấy cũng phải tự tiếp nhận những yếu tố văn hóa Hán, biến nó trở thành công cụ để thống trị và duy trì sự thống trị của mình đối với người Hán

Thực tế lịch sử Trung Quốc đã không ít lần dân tộc Hán văn minh đã bị các dân tộc thiểu số mà người Hán vốn coi là Di, Địch chinh phục và thống trị Đó là những thất bại của người Hán Nhưng trong hoàn cảnh bị nô dịch như vậy, văn hóa, văn minh của người Hán đã thể hiện rõ sức sống và ảnh hưởng của mình Mặc dù các dân tộc thiểu số đó ở địa vị thống trị nhưng rồi họ đã không thể chống lại sức hấp dẫn của văn hóa Hán, cuối cùng đã bị Hán hóa Trong quá trình đó, một phần là sự đồng hóa tự nhiên nhưng một phần là do chính bản thân dân tộc đó chủ động tiếp nhận văn hóa Hán Bởi vì, khi vào chinh phục Trung Nguyên, thiết lập được vương triều của mình ở Trung Nguyên rồi nhưng họ vẫn đang trong hình thái kinh tế - xã hội thấp hơn so với người Hán – hình thái chiếm hữu nô lệ Để có thể thích ứng với một hoàn cảnh mới, có thể cai trị một dân tộc đang ở trình độ văn minh phong kiến thì bản thân những người thống trị của vương triều dân tộc thiểu số đó nhận thấy phải nhanh chóng tiếp thu văn hóa Hán, học theo người Hán để có thể cai trị người Hán Do vậy, nhiều vương triều đã đẩy mạnh quá trình phong kiến hóa của dân tộc mình Lịch sử đã chứng minh công cuộc phong kiến hóa mạnh mẽ của vua Ngụy Văn Đế triều Bắc Ngụy Sau đó là quá trình phong kiến hóa của triều Nguyên, với nhiều biện pháp, đặc biệt là thông qua những cuộc cải cách (quan trọng nhất là cải cách của Thoát Thoát mà sử thường gọi là

“Thoát Thoát canh hóa”) đã khiến cho triều Nguyên tiến nhanh lên phương thức sản xuất phong kiến Và đến triều Thanh, cũng giống như triều Nguyên, khi đó họ mới đang ở giai đoạn xã hội chiếm hữu nô lệ, các hoàng đế Thanh từ Hoàng Thái Cực đã nhận thấy những bài học lịch sử, muốn chinh phục và thống trị được Trung Nguyên thì không thể không học theo người Hán Cho nên, họ trong quá trình chinh phục Trung

Trang 29

Nguyên và sau khi đã làm chủ Trung Nguyên đã chủ động học tập người Hán từ tư tưởng, thiết chế chính trị, pháp luật, phương thức canh tác, văn hóa… khiến cho tộc Mãn Châu tiến nhanh trên con đường phong kiến hóa, tạo tiền đề vững chắc cho sự cai trị của vương triều Thanh trong suốt hơn 200 năm

Quá trình phong kiến hóa của tộc Mãn Châu được thể hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:

Trước hết là lĩnh vực kinh tế: Tổ tiên của người Mãn lấy thị tộc, bộ lạc làm đơn vị,

do cư trú giữa “Bạch Sơn và Hắc Thủy” nên họ đã sớm có một nền kinh tế tổng hợp đánh cá, săn bắn, hái lượm, chăn nuôi du mục, trồng trọt, trong đó lấy kinh tế đánh cá

và săn bắn làm chủ yếu Trải qua lịch sử lâu dài, đã phát triển lên nền kinh tế nông nghiệp nguyên thủy và chăn nuôi Sang đến thời kì sau khi tiến về khu vực Đông Bắc, cùng với kinh tế săn bắn, chăn nuôi và đánh cá thì kinh tế nông nghiệp đã phát triển lên kinh tế nông nghiệp sản xuất, họ tiến hành trồng trọt canh tác Đến thời Nỗ Nhĩ Cáp xích bắt đầu chuyển sang cuộc sống “ở nhà, cày ruộng, ăn cơm” không chuyên săn bắn

là chủ yếu như trước nữa Điều này có thể thấy trong các thư tịch của người Triều Tiên

và thư tịch triều Minh, triều Thanh Trong thư tịch của Triều Tiên có ghi lại việc người Triều Tiên sai người đến quan sát hoạt động của tộc Nữ Chân về đã báo cáo: “Hai bờ sông Kiến thủy họ tiến hành trồng trọt và những người nông dân, những đàn trâu đã thấy khắp nơi” [43;5]; sách vở của triều Minh cũng ghi lại việc: “người Kiến Châu xin

cử thủ lĩnh đi mua trâu mang về cày ruộng” [43;5] Điều đó cho thấy kinh tế nông nghiệp đã trở thành nền kinh tế quan trọng của người Mãn Châu Họ đã đạt tới một trình độ nhất định trong nền kinh tế nông nghiệp sản xuất, họ đã biết sử dụng sức kéo trong sản xuất và đã biết sử dụng sắt chế tạo công cụ sản xuất Nghề luyện kim của họ cũng phát triển Nhưng tính chất nền nông nghiệp sản xuất này vẫn ở trình độ thấp, nền sản xuất mang tính chất tự nhiên và họ lao động mang tính tập thể Bên cạnh đó, kinh

tế chăn nuôi và săn bắn vẫn chiếm vị trí nhất định trong nền kinh tế Nó phản ảnh tính chất nền kinh tế của người Mãn Châu thời kì này là nền kinh tế tổng hợp có sự kết hợp giữa kinh tế nông nghiệp với kinh tế săn bắn và chăn nuôi Tuy nhiên, trình độ kinh tế sản xuất của họ giai đoạn này vẫn còn thấp, mang nhiều dấu ấn của nền kinh tế tự nhiên

Về quan hệ sở hữu: Về danh nghĩa toàn bộ tài sản bao gồm đất đai, gia súc, tù binh

và cả những người lao động vốn là người thuộc tộc Nữ Chân đều thuộc sở hữu của nhà nước Tuy nhiên, những người quí tộc sẽ dựa vào chức tước cao thấp của mình mà

Trang 30

được phân phối đất đai, tù binh, chiến lợi phẩm chiến tranh và phạm vi săn bắn Khi

Nỗ Nhĩ Cáp Xích thiết lập chế độ Bát Kỳ, những người đứng đầu Bát Kỳ đã trở thành những đại quí tộc, Hãn chỉ là người đứng đầu giai cấp quí tộc Mãn mà thôi Thời kì này, dấu ấn của xã hội dân chủ thị tộc vẫn còn đậm nét Do vậy, tài sản đều phân về các Kỳ thuộc sự quản lí trực tiếp của Kỳ chủ Những người này thực tế là những chủ

sở hữu đối với những tài sản đó Họ chính là những chủ nô nắm quyền sở hữu đối với mọi tài sản thuộc phạm vi Kỳ mình quản lý

Quan hệ bóc lột chủ yếu của thời này vẫn mang tính chất bóc lột tập thể Vì hình thức sản xuất chủ yếu của thời kì này là sản xuất tập thể Điều này có thể thấy trong các thư tịch của triều Thanh và Triều Tiên Trong thư tịch của Triều Tiên có chép việc một vị quan của Triều Tiên khi đến khảo sát vùng thuộc khu vực của người Mãn Châu

đã ghi lại: “Các bộ lạc ở đây lập các đồn điền, thủ lĩnh của bộ lạc đó nắm quyền thu hoạch” [43;7] Trong sách vở của triều Thanh cũng chép: năm 1615, Nỗ Nhĩ Cáp Xích

hạ “Dụ các Ngưu Lục: Trâu ngựa phân cho các Ngưu Lục, khi canh tác thì trong các Ngưu Lục, cứ 10 người ban cho 4 con trâu, đến các vùng hoang địa khai hoang làm ruộng” [43;8] Đặc biệt là khi tiến về Liêu Thẩm, sau khi chiếm được đất đai rộng lớn của người Hán ở khu vực này, chính quyền Hậu Kim đã thực hiện chính sách bình quân ruộng đất, chia đất đai cho các đinh Tuy nhiên, hoạt động canh tác vẫn mang tính tập thể… Bên cạnh đó, săn bắn cũng là hoạt động tập thể Theo tập quán của người Mãn Châu, khi săn bắn tất cả tráng đinh phải tham gia, cứ 10 người lập thành một nhóm, cử 1 người làm thủ lĩnh, 9 người còn lại thì hành động, theo lệnh mà làm, không được tự ý làm trái Qua đó cho thấy quan hệ bóc lột ở đây chủ yếu mang tính chất bóc lột tập thể giữa quí tộc chủ nô đối với đa số người lao động Người lao động ở đây không chỉ bao gồm nô lệ mà còn bao gồm cả những người được gọi là “dân hộ”

Từ khi vào Trung Nguyên, để tạo ra cơ sở kinh tế cho triều đại, các vị vua triều Thanh đã nhanh chóng tiếp thu nền kinh tế canh nông trồng trọt của người Hán, coi nông nghiệp là nền kinh tế chủ đạo Vì thế, các hoàng đế Thanh đã ban bố nhiều quy định bảo vệ sản xuất nông nghiệp: Cấm quân đội trong khi xuất quân, hành quân tự do thả ngựa ăn kê lương, người nào vi phạm, nặng thì bị xử phạt xuyên thông mũi tai, nhẹ thì bị phạt đánh roi; Cấm gia súc xông vào ruộng của người khác xéo nát cây trồng; cấm dùng sức dân vào thời gian nông vụ… Trong nền kinh tế đó, cũng giống như người Hán, người Mãn đặc biệt coi trọng ruộng đất vì nó là tư liệu sản xuất chủ yếu Cho nên, ngay sau khi vượt Sơn Hải Quan các quý tộc người Mãn đã thực hiện phong

Trang 31

trào vây đất, chiếm đất của người Hán Nhiều ruộng đất trước đây vốn của quý tộc Minh giờ đây thuộc về sở hữu của quý tộc Mãn, và các quí tộc Mãn cũng đã trở thành những địa chủ ruộng đất Để có thể củng cố và ổn định tình hình xã hội, người Mãn đã chủ trương tiếp tục thực hiện chế độ ruộng đất của nhà Minh Thực tế chế độ ruộng đất nhà Thanh là cơ bản học theo nhà Minh Có điểm khác là chủ nhân của những mảnh đất đó giờ đây phần nhiều là người Mãn mà thôi Những điền hộ trên những mảnh đất

đó và cả việc giao nộp tô thuế cũng không có gì thay đổi

Bên cạnh tiếp thu kinh tế nông nghiệp, người Mãn Châu cũng từng bước tiếp thu kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp của người Hán Những quý tộc Mãn cũng dần dần trở thành những chủ xưởng thủ công, chủ các hầm mỏ và những người thương nhân giàu có Một bộ phận Kỳ hộ cũng dần dần học theo các nghề thủ công nghiệp của người Hán, trở thành những thợ thủ công, hoặc tiến hành các hoạt động buôn bán

Những chuyển biến đó đã làm cho cơ cấu kinh tế của người Mãn Châu thay đổi nhanh chóng, từ nền kinh tế mang tính chất tổng hợp trồng trọt kết hợp với săn bắn và chăn nuôi ở trình độ thấp đã tiến lên một nền kinh tế nông nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp và thương nghiệp ở trình độ ngày càng cao Trong cơ cấu kinh tế đó, cũng giống như người Hán, họ lấy kinh tế nông nghiệp làm chính, và triều Thanh cũng thực thi một chính sách nhất quán giống như các triều đại Hán là “trọng nông”

Về phương thức kinh doanh, ban đầu các quí tộc Mãn Châu chủ trương thực hiện phương thức canh tác của người Mãn, đó là sử dụng điền hộ, gia nô và nô lệ do mình quản lý tiến hành canh tác tập thể Nhưng phương thức canh tác đó lạc hậu, không phù hợp với thực tế xã hội bấy giờ, đi ngược với qui luật lịch sử Cho nên, đã vấp phải sự phản kháng của người lao động Cuối cùng, họ cũng phải học theo người Hán, tổ chức thành các nông trang, tiến hành phát canh thu tô Có điều khác so với triều Minh là việc thu thuế của các nông trang này không phải do chủ đất đó quản lí mà

do Nội Vụ Phủ thống nhất quản lý, thuế sau khi thu được sẽ đem phân cho các vương công, tôn thất

Về kết cấu giai cấp: cùng với những biến đổi trên phương diện phương thức canh

tác, quan hệ giai cấp trong xã hội người Mãn cũng thay đổi nhanh chóng Nếu như trước đây trong xã hội Hậu Kim có ba bộ phận chủ yếu là giai cấp chủ nô, những người được gọi là “dân hộ” và gia nô, nô lệ Trong đó, giai cấp chủ nô vốn là những quí tộc thị tộc trước đây, trong quá trình hình thành nhà nước đã chuyển hóa thành quý tộc chủ

Trang 32

nô, là giai cấp bóc lột Những “dân hộ” phần lớn là những người vốn có gốc gác là người Nữ Chân và bao gồm một số dân cư của bộ tộc khác Gia nô và nô lệ phần lớn là dân cư của những thị tộc, bộ lạc bị bắt trong chiến tranh Họ là tài sản của nhà nước và

bị các quí tộc chủ nô trực tiếp bóc lột Trong các sách tiếng Mãn còn dùng rất nhiều từ chỉ những người thuộc sự quản lý của các quý tộc chủ nô như: “chư thân”, “túc thận”,

“a ha”… đều là những từ phiếm chỉ thân phận lệ thuộc mà tiếng Hán thường dịch là

“nô tài, nô bộc, lệ thần, bộ hạ” Hay trong các tài liệu cũng ghi chép việc bắt những người thuộc tộc khác trong chiến tranh làm nô lệ Ví dụ, trong “Thanh thực lục” có ghi: Năm 1628 Khi Hoàng Thái Cực chinh phục bộ lạc Đa La Đặc “bắt được hơn

11200 người, lấy hơn 400 người Mông Cổ, người Hán biên chế làm dân hộ, số còn lại đều làm nô” [43;9]… Điều đó cho thấy trong nhà nước Hậu Kim, kết cấu giai cấp của

xã hội nô lệ tương đối điển hình Tuy nhiên, cùng với những biến động trên phương diện kinh tế, chính trị, kết cấu giai cấp đó cũng dần dần biến đổi Đặc biệt, từ khi vượt Trường Thành vào Trung Nguyên, kết cấu xã hội của người Mãn đã thay đổi nhanh chóng Những quí tộc chủ nô người Mãn sau khi vào Trung Nguyên vây đất chiếm đất

đã trở thành những người địa chủ và cũng tiến hành phát canh ruộng đất, thu tô thuế giống như những địa chủ người Hán Những kỳ hộ trước đây dần dần cũng trở thành những điền hộ nhận đất đai của nhà nước và địa chủ người Mãn để trồng cấy và nộp tô thuế Những gia nô, nô lệ trước đây thuộc sở hữu của các Kỳ giờ đây cũng được nhận đất đai trồng cấy và nộp tô thuế cho chủ nhân Thêm vào đó là chính sách “cải tịch” của triều Thanh, khiến cho họ dần dần cũng trở thành những nông hộ hoặc có thân phận bán nô lệ mà không còn là thân phận nô lệ như trước nữa Như vậy tương ứng với những biến đổi trên phương diện kinh tế thì kết cấu giai cấp trong xã hội Mãn Châu cũng thay đổi nhanh chóng Những quý tộc chủ nô trước đây đã trở thành những quý tộc phong kiến Những người dân hộ, nô lệ dần trở thành những điền hộ Một kết cấu giai cấp của chế độ phong kiến giống như chế độ phong kiến của người Hán đã được xác lập Tuy nhiên, trong kết cấu giai cấp đó họ vẫn giữ lại yếu tố Mãn Thanh, đó là việc họ bảo vệ nghiêm ngặt quyền lực địa vị của quí tộc Mãn, khiến cho những người này trở thành một bộ phận quý tộc độc quyền

Trên phương diện kiến trúc thượng tầng chính trị pháp lý: Song song với những

biến đổi trong đời sống kinh tế, xã hội cũng như quá trình chinh phục và thống nhất Trung Nguyên, quý tộc Mãn Thanh cũng tiến hành rất nhiều cuộc cải cách thể chế nhà nước để phù hợp hơn với nhu cầu thực tế củng cố và phát triển vương triều của mình

Trang 33

Nếu như giai đoạn đầu, khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích thành lập nhà nước Hậu Kim thì trong thể chế nhà nước đó vẫn còn tồn tại nhiều dấu ấn của chế độ dân chủ quân sự thị tộc bộ lạc Trong chế độ Bát Kỳ, cấp cơ sở là Ngưu Lục, thực chất chỉ là sự cải cách tổ chức săn bắn trước đây của tộc Nữ Chân mà thành Bát Kỳ cũng vốn là các đội quân, sau này Nỗ Nhĩ Cáp Xích mới tiến hành cải cách thành lập nên các đội quân có màu cờ khác nhau để thống nhất các bộ phận khác nhau vốn bị phân tán của tộc Nữ Chân Các quan chức của Ngưu Lục, Bát Kỳ cũng trở thành những quan chức nhà nước Trong cơ cấu chính quyền thì Lí Chính Thính Tụng Đại Thần và Trát Nhĩ Cố Tề đóng vai trò là

cơ cấu trung gian vô cùng quan trọng Đây là bộ phận đảm nhiệm những chức vụ quan trọng nhất của nhà nước và thực tế là bộ phận điều hành toàn bộ công việc hành chính, quân sự của chính quyền Hậu Kim Đây là cơ cấu mang đậm dấu ấn của xã hội thị tộc Trong thể chế này Hãn (vua) thực chất chỉ là người đứng đầu Bát Kỳ giống như một thủ lĩnh quân sự và vẫn có sự tương đối hòa đồng, chia sẻ quyền lực trong nội bộ giai cấp thống trị, thể hiện qua cơ chế Nghị chính vương đại thần hội nghị và quyền lực tham chính của các Bối Lặc là kỳ chủ của Bát Kỳ Tuy nhiên, cùng với những chuyển biến nhanh chóng trên nhiều phương diện, đặc biệt là nhu cầu củng cố chính quyền Hậu Kim và chinh phục Trung Nguyên thì cơ cấu chính quyền đó tỏ ra không phù hợp

Vì vậy mà đã xuất hiện mâu thuẫn giữa quyền lực của Bát Kỳ và quyền lực của hoàng

đế Nhu cầu tập trung quyền lực vào tay hoàng đế ngày càng đặt ra gay gắt Do vậy, các hoàng đế Mãn Châu đã nhanh chóng tiếp thu thể chế chính quyền của người Hán

và tiến hành hàng loạt các cuộc cải cách quan trọng nhằm hướng tới xây dựng một thiết chế trung ương tập quyền chuyên chế Quá trình này đã bắt đầu diễn ra từ cuối thời Nỗ Nhĩ Cáp Xích nhưng thực sự mạnh mẽ bắt đầu từ Hoàng Thái Cực Trải qua rất nhiều cuộc cải cách từ Hoàng Thái Cực, Thuận Trị, Ung Chính, Khang Hy từ thể chế các Bối Lặc của Bát Kỳ cùng nhau nắm quốc chính đã chuyển sang thể chế quân chủ trung ương tập quyền ngày càng hoàn thiện Về cơ bản, thể chế nhà nước của triều Thanh học theo cách tổ chức của triều Minh, nhưng bên cạnh đó vẫn đảm bảo tính chất quý tộc độc quyền của Mãn Châu thông qua việc xây dựng cơ cấu hành chính trung ương lấy quí tộc Mãn làm chủ đạo Tất cả các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước đều do người Mãn nắm giữ Đồng thời thiết lập một hệ thống cơ quan đặc thù phụ trách các công việc liên quan đến người Mãn như Tôn Nhân Phủ, Nội Vụ Phủ…Đặc biệt, triều Thanh còn phát triển thể chế quân chủ chuyên chế đến mức cực đoan thông qua việc thành lập Quân Cơ xứ

Trang 34

Bên cạnh cải cách cơ cấu tổ chức nhà nước theo mô hình của triều Minh, trên phương diện điển chương chế độ, triều Thanh cũng có những cải cách quan trọng hướng tới thiết lập một thiết chế trung ương tập quyền Trong quá trình đó, giai cấp thống trị Mãn Châu đã chủ động tiếp thu rất nhiều yếu tố như khoa cử, lễ nghi, chế độ bổng lộc, phẩm tước…đặc biệt là hệ thống pháp luật Từ đó làm cho thể chế nhà nước Mãn Châu đã chuyển mình nhanh chóng từ thể chế nhà nước chiếm hữu nô lệ tiến sang thể chế nhà nước quân chủ phong kiến

Bên cạnh đó, các vị vua đầu triều Thanh đều nhận thức được rằng, việc khó nhất đối với họ không phải là đối phó với những người Hán khó cai trị mà là họ phải học cách trở thành một vị đế vương nắm cả thiên hạ Mà điểm khó nhất của vấn đề này lại

ở chỗ làm sao có thể sắm vai tốt một vị hoàng đế theo truyền thống Hán tộc, làm sao

để một vị hoàng đế của một dân tộc vốn bị người Hán coi là Di, Địch có thể sánh ngang những vị hoàng đế người Hán Đặc biệt là sự thừa nhận của nhân sĩ đại phu người Hán Phải làm sao để họ không chỉ gật đầu thừa nhận triều Thanh là hoàng triều chính thống hợp pháp thay thế triều Minh, mà càng cần phải khiến họ thừa nhận triều Thanh là hoàng triều chính thống, hợp pháp tiếp nối nền văn hóa Nho giáo truyền thống của Trung Nguyên Điều này khiến cho các vị hoàng đế Thanh nhận thức được rằng, họ chỉ có thể làm được điều đó khi đắm chìm trong sự uyên thâm của văn hóa Hán, thấy được những tinh túy cũng như những tỳ vết của nó Từ đó có thể chọn lọc những yếu tố hợp lý, phù hợp để xây dựng được một thiết chế chính trị pháp lý đáp ứng nhu cầu củng cố nền thống trị triều Thanh ở Trung Nguyên

Để làm được điều đó, điều đầu tiên, các hoàng đế Thanh nhận thức được sự hữu dụng của luân lí cương thường trong tư tưởng Nho gia Nó chính là một công cụ đắc lực để có thể khống chế người Hán về mặt tư tưởng Do vậy, các vị vua Thanh đã rất chú trọng tìm hiểu, học tập Nho giáo Từ Hoàng Thái Cực cho đến Khang Hy, Càn Long đều đề cao Nho học Đặc biệt là Khang Hy, Càn Long cả đời tôn Khổng sùng Nho, độc kinh trọng đạo, khiến cho Nho giáo đã thấm sâu vào tư tưởng của các hoàng

đế triều Thanh Điều này thể hiện rất rõ qua việc đổi danh xưng từ Hãn sang Hoàng đế, đổi niên hiệu là Sùng Đức, đổi luôn quốc hiệu là “Đại Thanh”, đổi thay cả lễ nghi tế giao, tiến hành tế cáo trời đất, xây thái miếu của Hoàng Thái Cực Trong các quy định

Thông thứ 5 (1631) trong lúc đưa ra lí do ban hành “dụ cấm đồng tộc lấy nhau, ai vi phạm lấy tội gian mà xử”, Hoàng Thái Cực đã nói: “Minh và Triều Tiên đều là nước lễ

Trang 35

nghĩa, từ xưa đồng tộc đã không lấy nhau Cái đó cũng có thể nói là vì nhân loại, nếu như đồng tộc lấy nhau, thì có khác gì loài cầm thú? Vì lẽ đó mà cấm”2 Tháng 3 năm Thiên Thông thứ 6 (1632), lại một lần nữa ra dụ chỉ rõ: ngoài (những kẻ) “phản bội

đến anh em ruột thịt tố cáo lẫn nhau”3 Tháng 6 năm Thiên Thông thứ 10 (1636), Hoàng Thái Cực học theo sự khác biệt của tộc Hán, ban bố dụ “Định thượng hạ đối ứng các hữu khu biệt” (dụ quy định về sự khác nhau trong ứng xử trên dưới), chỉ rõ:

“những người trong nước, xưa nay chưa am hiểu điển lễ, ngôn ngữ sách vở trước đây, chưa có sự phân biệt trên dưới, hoặc chưa rõ ràng Trẫm xem chế độ xưa, phàm trên dưới vấn đối, đều có sự phân biệt Từ nay đều nên học theo chế độ xưa mà làm”4 Khang Hy từ nhỏ đã nghiền ngẫm các sách kinh điển của Nho giáo Ông đã từng nói với các đại thần: “Ngày ngày đọc sẽ khiến cho từng chữ đều thông thuộc…đến khi Tứ Thư đã thông hiểu lại đọc Thượng Thư, trong các Điển, Mô, Huấn, Cáo sẽ lĩnh hội được các bậc đế vương xưa cần mẫn cầu trị”…Từ thời Hoàng Thái Cực thì ông đã rất chú trọng cho dịch các sách Nho học ra tiếng Mãn và yêu cầu các quan lại đều phải học, phải đọc như “Hiếu kinh”, “Đại học”, “Trung dung”, “Luận Ngữ”, “Mạnh tử”…Giáo án học tập trong nhà Thái học vẫn là “Tứ thư” và “Ngũ kinh” và các sách

vở và các tác phẩm lí luận về “lí tính” của các nhà Nho đời Tống…Chính những điều

tầng lớp quí tộc cho đến người dân và thực sự nó đã trở thành cơ sở, bệ đỡ tư tưởng cho nền thống trị triều Thanh

Quá trình phong kiến hóa hay quá trình Hán hóa của người Mãn trải qua một quá trình lâu dài, trên nhiều phương diện và kết quả của nó là sự dung hợp rất lớn về dân tộc và văn hóa trong lịch sử Trung Quốc Mãn Hán cuối cùng đã dung hợp, hòa trộn vào nhau Quá trình phong kiến hóa này của người Mãn cũng chính là quá trình từng bước chinh phục Trung Nguyên, xác lập và củng cố nền thống trị của người Mãn

Nó đã đặt cơ sở để xây dựng một đế quốc Đại Thanh lớn mạnh, một quốc gia đa dân tộc thống nhất

1.3 Yêu cầu lập pháp và hoạt động lập pháp của triều Thanh

Trang 36

Về mặt lí luận nhà nước và pháp luật là hai phạm trù xuất hiện đồng thời Bởi vì, pháp luật chính là công cụ đắc lực để giai cấp thống trị bảo vệ địa vị và quyền lực của mình Bất kì một nhà nước nào được thiết lập thì cũng cần phải có những quy tắc, chế định pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh, trên cơ sở đó ổn định trật tự

xã hội

Cũng theo qui luật đó, khi nhà nước của người Mãn Châu được thành lập thì pháp luật cũng đã được đặt ra Tuy nhiên, trong điều kiện lúc bấy giờ, khi nhà nước mới ra đời thì những phong tục tập quán của thị tộc bộ lạc Nữ Chân vẫn còn rất sâu sắc Vì vậy, để có thể đấu tranh với những phong tục lạc hậu trước đây của người Nữ Chân và

để củng cố nền thống trị của mình, Nỗ Nhĩ Cáp Xích và quí tộc Mãn Châu rất coi trọng việc xây dựng pháp luật Nỗ Nhĩ Cáp Xích trong khi củng cố chính quyền Hậu Kim dần dần nhận thức được rằng lập pháp, chấp pháp là “vi quốc chi đạo” Đồng thời, Nỗ Nhĩ Cáp Xích từ việc tổng kết kinh nghiệm lịch sử đã nhận thức những nguyên nhân dẫn đến sự hủ bại chính trị cuối triều Minh, kỉ cương pháp luật bị phá hoại, thế nước suy vi đều ở chỗ “pháp lệnh không công bằng, không nghiêm minh”5 Chính vì vậy, đồng thời với quá trình xác lập và củng cố chính quyền Hậu Kim, vấn đề xây dựng và thực thi pháp luật đã trở thành một yêu cầu quan trọng Bản thân Nỗ Nhĩ Cáp Xích cũng nhận thấy, pháp luật chính là một công cụ quan trọng đảm bảo sự vững mạnh của chính quyền và ổn định trật tự xã hội

Tuy nhiên, cùng với những biến động của tình hình chính trị, xã hội, kéo theo đó là những quan hệ xã hội mới phát sinh đòi hỏi cần có sự điều chỉnh của pháp luật Thêm vào đó, tình hình chính trị xã hội cuối triều Minh, đầu triều Thanh có nhiều yếu tố phức tạp Trước hết là vấn đề mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp quí tộc Mãn Châu, mà

cụ thể ở đây là mâu thuẫn giữa quyền lực của Bát Kỳ Bối Lặc với hoàng quyền Để phù hợp với nhu cầu tập trung quyền lực vào tay hoàng đế, các vua Thanh rất cần phải xây dựng một công cụ để đảm bảo và thực thi quyền lực của mình Do vậy, vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật được đặt ra Thực tế thì từ Hoàng Thái Cực trở đi đã ban hành rất nhiều quy định nhằm bảo vệ địa vị và quyền lực chí cao vô thượng của hoàng

đế Từ cách xưng hô, nghi lễ cho đến hình phạt đối với những kẻ nào xâm phạm đến thân phận, địa vị, uy quyền của nhà vua đều được quy định một cách tương đối tỉ mỉ, chặt chẽ

5 “Mãn Châu thực lục”, quyển 8, trang 17 [25;394]

Trang 37

Thứ hai là, để phục vụ nhu cầu tiêu diệt triều Minh và chinh phục, thống nhất Trung Nguyên, xác lập vị trí thống trị của người Mãn Châu ở Trung Nguyên thì việc xây dựng, củng cố chính quyền nhà nước là vấn đề rất quan trọng Để đáp ứng nhu cầu

đó, các hoàng đế triều Thanh nhận thức rất sâu sắc rằng cần phải có một cơ chế, một hệ thống những qui định, quy tắc để tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước, làm sao cho các cơ quan nhà nước phối hợp hoạt động hiệu quả và đáp ứng nhu cầu cai trị của chính quyền

Thứ ba, khi vào Trung Nguyên rất nhiều vấn đề mới phát sinh đòi hỏi cần phải có

sự điều chỉnh của pháp luật Sau khi vào Trung Nguyên, triều Thanh phải đối diện với tình thế không hề thuận lợi Đó là sự phản kháng của người Hán, sự chống đối của chính quyền Nam Minh và lực lượng quân nông dân của Lý Tự Thành Trong tình thế như vậy, bên cạnh việc tiến hành dùng lực lượng vũ trang tiêu diệt các lực lượng chống đối, đàn áp sự phản kháng của người dân, tiến hành các biện pháp nhằm xoa dịu mâu thuẫn dân tộc như bắt tay với địa chủ người Hán, tiến hành giảm tô thuế, chia lại ruộng cho dân…thì triều Thanh cũng rất cần tới một công cụ trấn áp hiệu quả khác đó là pháp luật

Đồng thời, từ khi vào Trung Nguyên trong xã hội người Mãn Châu có những bước chuyển mình nhanh chóng Rất nhiều quan hệ kinh tế, xã hội mới phát sinh Nền kinh

tế của họ đã biến chuyển từ nền kinh tế chiếm hữu nô lệ sang nền kinh tế mang tính chất phong kiến Cơ cấu các ngành nghề có nhiều thay đổi Phương thức canh tác và phương thức bóc lột trước đây cũng không còn phù hợp Kết cấu giai cấp trong xã hội cũng phát sinh nhiều yếu tố mới Những chủ nô trước đây đã trở thành những địa chủ phong kiến, những người lao động và nô lệ trước đây thân phận cũng không còn như xưa Hơn nữa, quan hệ giai cấp cũng không còn là quan hệ giai cấp trong xã hội chiếm

nô trước đây nữa mà nó có những chuyển biến tương ứng với những chuyển biến trong đời sống kinh tế, chính trị Những biến đổi đó đều đặt ra nhu cầu cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật mới có thể ổn định và củng cố đời sống kinh tế, xã hội

Thêm vào đó là tính chất phức tạp của một quốc gia rộng lớn đa dân tộc Cùng với quá trình chinh phục các bộ tộc, bộ lạc của chính quyền Hậu Kim, thống nhất Trung Nguyên, mở rộng chiếm Mông Cổ, Tây Tạng và Tân Cương đã khiến cho thành phần các dân tộc trong nhà nước “Đại Thanh” ngày càng phức tạp Từ đó cũng đã phát sinh nhiều vấn đề mới trong việc cai trị, điều chỉnh mối quan hệ giữa các tộc người Trong

đó, nổi bật lên mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với các khu vực dân tộc thiểu

Trang 38

số; mối quan hệ giữa người Mãn với các dân tộc khác, làm sao đảm bảo địa vị thống trị

và lợi ích độc tôn của người Mãn; mối quan hệ giữa các dân tộc với nhau Để điều chỉnh những quan hệ đó, đáp ứng nhu cầu xây dựng củng cố một quốc gia đa dân tộc rộng lớn, nhà nước Mãn Thanh đã sớm nhận thức cần xây dựng một hệ thống pháp luật dân tộc phù hợp và hoàn thiện

Một khó khăn nữa đòi hỏi triều Thanh cần tích cực, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật, đó là việc người Mãn cai trị dân tộc Hán có trình độ văn minh cao hơn, đặc biệt là văn minh chính trị pháp lí Trong khi đó, pháp luật triều Thanh ở giai đoạn đầu mới chỉ là pháp luật chiếm nô, trình độ lập pháp, kĩ thuật lập pháp còn rất hạn chế, các tập quán pháp vẫn chiếm địa vị quan trọng, gần như chưa có pháp luật thành văn mà chủ yếu là hình thức pháp luật lệnh miệng Do vậy, để có thể đạt được mục tiêu chính trị, ổn định xã hội và xác lập nền thống trị của mình ở Trung Nguyên thì cần phải nhanh chóng học tập, phát triển kĩ thuật lập pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng xây dựng một nền pháp luật phong kiến Chỉ làm được điều đó thì triều Thanh mới có được một công cụ đảm bảo cho sự thống trị của mình

Tất cả những biến động đó đặt ra cho triều Thanh cần từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Thực tế, giai cấp thống trị triều Thanh đã sớm nhận thức được điều này Từ Nỗ Nhĩ Cáp Xích, đặc biệt là từ Hoàng Thái Cực trở đi, hoạt động lập pháp của triều Thanh ngày càng mở rộng và đạt được nhiều thành tựu Các hoàng

đế Thanh rất tích cực học tập theo chế độ pháp luật triều Minh, trên cơ sở đó có sự chọn lọc, đáp ứng nhu cầu cai trị thực tiễn khiến cho hệ thống pháp luật triều Thanh từ

tư tưởng lập pháp, kĩ thuật lập pháp đến nội dung pháp luật ngày càng được phát triển, hoàn thiện

1.3.2.1.Hoạt động lập pháp trong thời kì triều Thanh khai quốc

Thời kì triều Thanh khai quốc là chỉ thời kì lịch sử từ năm Vạn Lịch thứ 44 (1616),

Nỗ Nhĩ Cáp Xích kiến lập chính quyền Hậu Kim, đến khi tiến vào Trung Nguyên năm Sùng Trinh thứ 17, tức là năm 1644, khi Hoàng đế Thuận Trị thiên đô về Bắc Kinh

Trang 39

Chế độ pháp luật của thời kì triều Thanh khai quốc là một nội dung quan trọng trong lịch sử pháp luật Trung Quốc, từ tư tưởng lập pháp, nguyên tắc lập pháp, quy phạm pháp luật và điều luật đều chứa đựng rất nhiều đặc sắc dân tộc

Năm Vạn Lịch thứ 44 Nỗ Nhĩ Cáp Xích lập chính quyền Hậu Kim, đẩy mạnh hoạt động lập pháp Theo “Thanh Thái Tổ triều lão Mãn văn đang sách” ghi chép: “Anh Minh Hãn6

“thành công trị lí chinh phục quốc nhân, chế giữ bạo loạn, bình định đạo tặc, kiến lập các loại pháp chế” (Anh Minh Hãn thành công trong việc chinh phục nhân dân trong nước, bình định được những lực lượng phản loạn, bắt đầu xây dựng pháp luật) [28;276]

Hình thức pháp luật quan trọng nhất của thời kì Nỗ Nhĩ Cáp Xích là dụ lệnh của ông, cho dù là đối với cả nước, đối với gia tộc đều có sức ràng buộc phải tuân thủ, làm trái dụ lệnh liền cấu thành trọng tội bị xử tội chết Ngoài dụ lệnh của Nỗ Nhĩ Cáp Xích, các quy tắc miệng của các Bối Lặc, nghị định hoặc “văn thư” của Bát vương công bố, cũng là một loại hình thức pháp luật

Việc chế định pháp luật thành văn được bắt đầu từ sau khi tiến vào khu vực Liêu Thẩm Năm Thiên Mệnh thứ 6 (1621), Nỗ Nhĩ Cáp Xích tiến vào khu vực Liêu Thẩm, đối mặt với tình thế nghiêm trọng “những kẻ phản loạn liên tiếp nổi dậy”, các nơi

“nhân dân đánh giết Bát Kỳ quan binh”, đã ra tuyên bố “Cấm đơn thân hành lộ dụ” (dụ cấm một mình đi đường), quy định: “phải tập trung 10 người trở lên, kết nhóm cùng đi, nếu chỉ có 9 người cùng đi, cho phép lập tức bắt lại, phạt 9 tiền, 8 người phạt 8 tiền…năm người trở xuống phạt 5 tiền”7 “Cấm đơn thân hành lộ dụ” này chính là một văn bản pháp luật thành văn đơn hành

Hoạt động lập pháp trong thời kì Nỗ Nhĩ Cáp Xích mặc dù đã được tăng cường, nhưng nhìn tổng thể mà nói vẫn rất sơ sài, thường được gọi là “tập quán còn rất đậm nét, chính quyền giản đơn, chủ yếu là lệnh, roi vọt, trảm quyết mà hành sự”8

Hoàng Thái Cực được các Bối Lặc trong Bát Kỳ ủng hộ trở thành người thừa kế ngôi vị Hãn vào năm Thiên Mệnh thứ 11 (1626) Tháng 10 năm Thiên Thông thứ 10 (1636), xưng hoàng đế, lập nước Đại Thanh, cải niên hiệu là Sùng Đức Hoàng Thái Cực tại vị tổng cộng là 17 năm 17 năm này là giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử khai quốc của dân tộc Mãn Châu, cũng là thời kì tiến một bước trong giao lưu văn hóa pháp luật Mãn Hán và sự chuyển mình nhanh chóng của chế độ pháp luật Mãn Thanh

Trang 40

Hoàng Thái Cực không chỉ kế thừa tư tưởng truyền thống coi trọng pháp chế của

Nỗ Nhĩ Cáp Xích, mà còn đề cao nó trở thành yếu tố quan trọng của việc trị quốc Ông cho rằng pháp luật cần phải xây dựng kịp thời để điều chỉnh những quan hệ xã hội mới phát sinh, pháp luật phải theo kịp sự phát triển của xã hội Đồng thời ông cũng chủ trương dùng pháp luật làm công cụ tăng cường hoàng quyền và đẩy nhanh quá trình phong kiến hóa nhà nước Mãn Châu Vì vậy mà hoạt động lập pháp của Hoàng Thái Cực đạt được nhiều thành tựu và có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình chuyển biến chế độ pháp luật triều Thanh, đưa pháp luật triều Thanh tiến từ chế độ pháp luật chiếm hữu nô lệ sang chế độ pháp luật phong kiến

Thời kì cai trị của Hoàng Thái Cực là thời kì thể chế nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền từng bước được xác lập Hoạt động lập pháp cũng ngày càng tăng cường, phạm vi điều chỉnh ngày càng mở rộng và có tính hệ thống nhất định Nhìn một cách tổng quát, chế độ pháp luật thời kì Hoàng Thái Cực đã bắt đầu chuyển dần sang giai đoạn pháp luật phong kiến Hình thức pháp luật dưới thời kì thống trị của Hoàng Thái Cực dụ lệnh vẫn là hình thức pháp luật thường thấy và có hiệu lực tối cao

mà thần dân phải tuyệt đối tuân thủ Tuy nhiên, trong quá trình tập quán pháp bị pháp luật thành văn nhanh chóng thay thế, thì điều lệ đơn hành cũng đã trở thành hình thức pháp luật ngày càng quan trọng

Năm Thiên Thông thứ 5 (1631), Hoàng Thái Cực đã ban bố “Li chủ điều lệ”, cho phép nô lệ tố cáo chủ nhân đúng tội thì có thể được tự do rời bỏ chủ Đến năm Thiên Thông thứ 6 (1632), sai đại thần soạn thảo “Trú ngoại phiên Mông Cổ chư quốc tuyên

bố khâm định pháp lệnh”, sử thường gọi là “Thịnh Kinh định chế” Hiện nay không tìm được nguyên văn văn bản này, nhưng thông qua các tài liệu có thể thấy nó là một pháp lệnh đặc biệt quy định các vấn đề liên quan đến khu vực Mông Cổ

Thành tựu chủ yếu nhất trong hoạt động lập pháp dưới thời Hoàng Thái Cực là việc chế định “Lục bộ đơn hành điều lệ” và “Sùng Đức hội điển” Đây cũng là kết quả chủ yếu của hoạt động lập pháp hành chính trong thời kì chưa vào Trung Nguyên Hoạt động lập pháp hành chính trong giai đoạn này đặc biệt được đẩy mạnh sau khi thành lập Lục Bộ Rất nhiều văn bản pháp luật đơn hành đã được ban bố, quy định các quy tắc hoạt động của Lục bộ, những văn bản này được tập hợp trong “Lục bộ đơn hành điều lệ” “Lục bộ đơn hành điều lệ” tuy chưa tìm thấy nguyên văn, nhưng từ trong các chỉ, dụ của Hoàng Thái Cực cho thấy nó đã tồn tại Ví dụ, trong dụ Hoàng Thái Cực được ban bố năm 1632 có đề cập đến một văn bản có tên là “Chức chưởng

Ngày đăng: 21/03/2015, 09:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. 大清律例 (1999) ,法律出本社,北京 . (Đại Thanh luật lệ (1999), NXB Pháp luật, Bắc Kinh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Thanh luật lệ
Tác giả: 大清律例 (1999) ,法律出本社,北京 . (Đại Thanh luật lệ
Nhà XB: NXB Pháp luật
Năm: 1999
3. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2009), Cổ luật Việt Nam, Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, NXB Giáo dục.II. Công trình nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ luật Việt Nam, Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ
Tác giả: Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục. II. Công trình nghiên cứu
Năm: 2009
4. Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường (1998), Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn, NXB Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
Năm: 1998
5. Đường Đắc Dương (chủ biên) (2003), Cội nguồn văn hóa Trung Hoa, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn văn hóa Trung Hoa
Tác giả: Đường Đắc Dương (chủ biên)
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
6. Đàm Gia Kiện (2006), Lịch sử văn hoá Trung Quốc, NXB Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hoá Trung Quốc
Tác giả: Đàm Gia Kiện
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2006
8. Trần Trọng Kim (1992), Đại cương triết học Trung Hoa: Nho giáo, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Hoa: Nho giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Năm: 1992
9. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (1997), Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 1997
10. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2008), Giáo trình lịch sử nhà n-ớc và pháp luật Việt Nam, Nxb. §HQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử nhà n-ớc và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb. §HQG
Năm: 2008
11. Lã Trấn Vũ (1964), Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc, NXB Sự Thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc
Tác giả: Lã Trấn Vũ
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1964
12. Lâm Hán Đạt (1997), Lịch sử Trung Quốc 5000 năm, tập 3, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Trung Quốc 5000 năm
Tác giả: Lâm Hán Đạt
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1997
13. Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam thông khảo, tập 1,2, Sài Gòn 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ luật Việt Nam thông khảo
14. Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng, Sài Gòn 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử diễn giảng
15. Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam lược khảo, Sài Gòn 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ luật Việt Nam lược khảo
16. Viện Nhà nước và pháp luật (1998), Một số vấn đề pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỉ XV đến thời Pháp thuộc, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỉ XV đến thời Pháp thuộc
Tác giả: Viện Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
17. Đỗ Văn Ninh (2002), Từ điển chức quan Việt Nam, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chức quan Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Ninh
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2002
18. Vũ Dương Ninh (chủ biên) (2006), Lịch sử thế giới cận đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Tác giả: Vũ Dương Ninh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
19. Nguyễn Thị Phụng (1990), Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam từ nguồn gốc đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam từ nguồn gốc đến trước Cách mạng tháng Tám 1945
Tác giả: Nguyễn Thị Phụng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1990
20. Nguyễn Gia Phu (chủ biên) (2006), Lịch sử thế giới trung đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại
Tác giả: Nguyễn Gia Phu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
21. Lê Văn Quán (2006), Đại cương lịch sử tư tưởng Trung Quốc, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử tư tưởng Trung Quốc
Tác giả: Lê Văn Quán
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2006
23. Trường Đại học Luật Hà Nội, (2008), Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w