Từ việc phân tích những quan niệm về thuế nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà
Trang 1Sự lựa chọn sáng suốt đường lối phát triển kinh tế mà Đại hội ĐảngCộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đề ra là không thể phủ nhận được.Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy rằng bản thân nền kinh tế thị trường cũngkhông phải là một nền kinh tế hoàn hảo, mà bản thân nó cũng có nhữngkhuyết tật vốn có của nó Một trong những khuyết tật vốn có lớn nhất của
nền kinh tế thị trường là ngăn cách giữa giàu nghèo trong xã hội Kinh tế thị
trường ở Việt Nam cho dù đang ở mức độ đầu, nhưng vấn đề phân hóa giàunghèo trong xã hội cũng là vấn đề cần quan tâm
Như chúng ta đã biết Nhà nước dùng thuế làm công cụ điều tiết vĩ mônền kinh tế, điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội và là công cụ chủyếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước Cho dù trong điều kiện kinh
tế Việt Nam, thuế gián thu có những vai trò rất to lớn của nó Nhưng vớimục đích điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội bằng thuế trong nềnkinh tế thì thuế trực thu lại thể hiện tính ưu việt hơn, đồng thời tăng nguồnthu cho Ngân sách Nhà nước một cách hợp lý, hợp hiến Vì vậy, hướng đếnmột chính sách thuế thu nhập là điều tất yếu nhằm góp phần điều tiết bớtmột phần thu nhập từ các tầng lớp người có thu nhập cao trong xã hội, hìnhthành các quỹ tiền tệ tập trung giúp Nhà nước ngày càng thực hiện tốt hơncác chính sách xã hội của mình
Trang 2Như phân tích ở trên, đó cũng chính là lý do mà Quốc hội nước Cộnghòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành chính sách thuế thu nhập, cụ thể
là Pháp lệnh thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao Đây là loại thuếđược áp dụng từ rất lâu tại hầu hết các Quốc gia trên thế giới, cho dù tên gọi
ở một số nước có khác nhau nhưng bản chất thì đối tượng tính thuế vẫn làthu nhập cá nhân Đối với Việt Nam thì Pháp lệnh thuế Thu nhập đối vớingười có thu nhập cao đầu tiên được ban hành vào ngày 27/12/1990, và cóhiệu lực thi hành từ 01/04/1991 Qua hơn 15 năm thực thi, Quốc hội nước ta
đã trải qua 5 lần sửa đổi, thay thế Pháp lệnh năm 1990 bằng những pháplệnh mới phù hợp hơn với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế xã hội Bên cạnhnhững kết quả đạt được nhất định, chính sách thuế Thu nhập đối với người
có thu nhập cao ngày nay vẫn còn những bất cập, thất thu cho Ngân sáchNhà nước đồng thời không công bằng đối với người nộp thuế Vì vậy, chínhsách thuế cần phải tiếp tục được hoàn thiện hơn để phù hợp với yêu cầu pháttriển kinh tế xã hội cũng như trong bối cảnh hội nhập kinh tế Quốc tế
Xuất phát từ thực tế và suy nghĩ trên, Tôi xin chọn đề tài: “Chính sách
thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế Quốc tế” làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế
Mục đích chủ yếu của Luận văn này là dựa trên những lý luận cơ bản
về thuế Thu nhập cá nhân, tập trung phân tích, đánh giá thực trạng việc ápdụng thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao ở nước ta từ năm 1991đến nay, đồng thời có tham khảo việc áp dụng thuế Thu nhập cá nhân ở một
số quốc gia trên thế giới Từ đó đưa ra những vấn đề cần hoàn thiện và xâydựng một chính sách thuế Thu nhập cá nhân sao cho phù hợp với điều kiệnkinh tế xã hội tại Việt Nam trong thời gian tới
Về mặt phương pháp luận, Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu
lý thuyết để khái quát lên những lý luận cơ bản về thuế Thu nhập cá nhân vàbằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm từ thực tế, kết hợp thêm phương
Trang 3pháp so sánh để phân tích, đánh giá quá trình áp dụng Thuế Thu nhập đốivới người có thu nhập cao trong điều kiện kinh tế Việt Nam Từ đó đưa ranhững nguyên nhân tồn tại và định hướng các giải pháp chủ yếu nhằm hoànthiện và xây dựng một chính sách thuế Thu nhập cá nhân phù hợp với chủtrương phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước.
Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về chính sách thuế thu nhập cá nhân.
Chương 2: Thực trạng áp dụng chính sách thuế Thu nhập đối với người có
thu nhân cao ở Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp nhằm xây dựng chính sách thuế Thu nhập cá nhân
ở Việt Nam
Do khả năng và thời gian nghiên cứu có hạn, Luận văn không tránh khỏinhững sai sót, rất mong Quý Thầy, Cô cùng các bạn góp ý bổ sung để đề tàimang tính hiện thực hơn
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 Khái quát về thuế
1.1.1 Khái niệm về thuế
Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công
cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng,
Trang 4nhiệm vụ của mình Tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhànước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nhau, mỗiquan điểm đều nhấn mạnh một chiều theo từng góc độ khác nhau Mặc dùđến nay còn nhiều tranh cãi về khái niệm của thuế nhưng các nhà kinh tếđều thống nhất rằng, để làm rõ bản chất của thuế thì định nghĩa của thuếphải nêu bật được các nội dung sau:
- Thứ nhất, thuế là một khoản thu không bồi hoàn, không mang tính hoàntrả trực tiếp Nộp thuế cho Nhà nước không có nghĩa là cho Nhà nước mượntiền hay gửi tiền vào ngân sách Nhà nước hoặc là mua một dịch vụ công.Nộp thuế là một nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân
thuế trên phạm vi toàn xã hội Chính phủ phải cậy nhờ vào hệ thống phápluật nên thuế thường được quy định dưới dạng văn bản luật hay pháp lệnh.Cho nên, trốn thuế hay gian lận thuế đều bị coi là những hành vi phạm pháp
và phải chịu xử phạt về hành chính hoặc hình sự
thuế đã được pháp luật qui định
Từ việc phân tích những quan niệm về thuế nêu trên, chúng ta có thể đưa
ra một định nghĩa tổng quát về thuế như sau:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho
Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội
1.1.2 Vai trò của thuế
Thứ nhất, thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho
Nhà nước
Trang 5Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, để huy động tập trung nguồnlực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước thì vai trò quan trọngnày thuộc về thuế Sử dụng công cụ thuế để huy động tiền thuế cho Nhànước có ưu điểm: Phạm vi thu thuế rộng, nguồn huy động tập trung thôngqua thuế là tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nước tạo ra,tính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ tài chính kháccòn thể hiện ở chổ thuế kết hợp giữa phương thức cưỡng bức, được quy địnhdưới hình thức pháp luật, kích thích vật chất, nhằm tạo ra sự quan tâm củađối tượng nộp thuế đến chất lượng hiệu quả kinh doanh.
Vì những ưu nhược điểm nêu trên, thuế luôn được coi là nguồn thu chủyếu của Ngân sách Nhà nước Nguồn thu của Ngân sách Nhà nước có thểgia tăng khi và chỉ khi nền kinh tế có sự tăng trưởng và đạt năng suất hiệuquả cao
Thứ hai, thuế là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế
thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có khả năng sử dụng chính sáchthuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Điều đó xuất phát từ chức năng điềuchỉnh của thuế Vì lợi ích xã hội, Nhà nước có thể tăng thuế hoặc giảm thuếđối với thu nhập của các tầng lớp dân cư và với doanh nghiệp để kích thíchhoặc hạn chế sự phát triển các lĩnh vực các ngành nghề khác nhau của nềnkinh tế
Thứ ba, thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã
hội trong phân phối
Sự phát triển kinh tế của một quốc gia là kết quả nổ lực của cộng đồng xãhội Mọi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định, thànhquả của sự phát triển kinh tế cần phải làm cho mọi thành viên trong xã hộiđược hưởng thỏa đáng, hài hòa Để thực hiện được yêu cầu này, Nhà nước
Trang 6phải sử dụng công cụ thuế để quản lý điều hòa thu nhập xã hội Trong nềnkinh tế thị trường, nguồn lực xã hội tham gia vào nền kinh tế, chủ yếu doluật thị trường huy động phân bổ và tham gia thực hiện việc phân phối cácyếu tố đầu ra Đó là sự phân phối mang tính chất kinh tế Tuy nhiên, nếu đểcho thị trường tự điều phối nền kinh tế thì sẽ tạo ra những khiếm khuyết vàkhông phải lúc nào cũng đạt kết quả sản xuất kinh doanh và đem lại thunhập như xã hội mong muốn Do vậy, Nhà nước phải can thiệp vào sự phânphối để quản lý và điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế Nhà nước can thiệpbằng hệ thống Luật pháp, bằng công cụ kinh tế, tài chính trong đó quantrọng là công cụ thuế Trong chính sách thuế, Nhà nước đã thiết kế đốitượng điều tiết khác nhau với các mức thuế suất và chế độ ưu đãi khác nhau.
Do vậy, chính sách thuế đã tác động mạnh mẽ đến cung cầu các loại nguyên,nhiên, vật liệu, hàng hóa, dịch vụ khác nhau, để điều chỉnh quá trình phânphối các yếu tố đầu vào của các lực lượng thị trường và điều chỉnh quá trìnhtái sản xuất của doanh nghiệp Thuế đã trực tiếp tham gia vào phân phối thunhập xã hội từ kết quả sản xất kinh doanh của nền kinh tế
Vấn đề then chốt là quá trình thực hiện phân phối thu nhập xã hội củathuế phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội trongphân phối Nhà nước áp dụng chính sách thuế phải thống nhất giữa cácthành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư, không phân biệt giữa các đơn vị,
cá nhân Khi các tổ chức, cá nhân có điều kiện kinh doanh và có thu nhậpgiống nhau đều phải nộp thuế như nhau (bình đẳng theo chiều ngang).Người có thu nhập quá thấp không đủ bảo đảm đời sống thì không phải nộpthuế (bình đẳng theo chiều dọc) Sự bình đẳng của chính sách thuế sẽ tạođiều kiện cho mọi thành viên trong xã hội làm ăn có hiệu quả, có năng suấtcao phải được thu nhập cao hơn Từ đó, kích thích mọi tổ chức, cá nhân tậptrung sức đầu tư phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh để có thu nhậpcao một cách chính đáng
Trang 7Đồng thời với vai trò phân phối, thuế còn thực hiện vai trò phân phối lạithu nhập xã hội Vai trò phân phối lại của thuế được thực hiện thông quaviệc Nhà nước sử dụng tiền thuế đã nộp vào Ngân sách Nhà nước để chi tiêucho các hoạt động chức năng của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích của nhândân Nhà nước sử dụng tiền thuế để sản xuất ra hàng hóa - dịch vụ côngphục vụ tiêu dùng chung cho toàn xã hội Ngoài ra Nhà nước còn sử dụngmột phần tiền thuế để trợ cấp, thực hiện điều hòa thu nhập xã hội
Khi thị trường thực hiện việc phân phối thu nhập thì tổng thu nhập củamỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình hoàn toàn không giống nhau, do các yếu tốtham gia vào quá trình sản xuất khác nhau Một nhóm người có thu nhập rấtcao, phần lớn số người có thu nhập trung bình và thấp, còn một số ngườikhác thì hầu như không có thu nhập như người khuyết tật, già yếu, bệnhhoạn và thất nghiệp không có bất kỳ tài sản nào Do đó, việc phân phối lạithu nhập xã hội là biện pháp mà các chính phủ phải thực hiện, nhằm gópphần điều hòa thu nhập, làm giảm bớt những chênh lệch do phân phối thunhập quốc dân tạo ra, đồng thời cung cấp những nhu cầu rất cần thiết chonhân dân mà nền kinh tế thị trường không đáp ứng được
Thứ tư, ngoài những vai trò nêu trên thuế là công cụ thực hiện kiểm
tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.3 Hệ thống thuế Việt Nam
Hệ thống thuế Việt Nam hiện hành gồm các loại thuế sau:
1 Thuế giá trị gia tăng.
2 Thuế xuất nhập khẩu.
3 Thuế tiêu thụ đặc biệt.
4 Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trang 85 Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (thuế thu nhấp cánhân).
6 Thuế sử dụng đất nông nghiệp.
7 Thuế nhà, đất.
8 Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
9 Thuế tài nguyên.
10 Thuế môn bài
11 Các loại phí và lệ phí
1.2 Thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Khái niệm thuế Thu nhập
Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà kinh tế quan niệm về thu nhậpdưới các góc độ khác nhau Hai nhà kinh tế Anh là R.M Haig và H.GSimons đầu thế kỷ 20 đã đưa ra định nghĩa về thu nhập (sau này gọi là địnhnghĩa Haig-Simons) cho rằng thu nhập là tổng giá trị của cải ròng tăng lêncủa một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đó trong một thời giannhất định, thường là một năm Quan điểm này mang tính lý thuyết và đượcchấp nhận rộng rãi Tuy nhiên, trên thực tế rất khó thực hiện, vì rằng giá trịtăng thêm đó mới chỉ dừng lại dưới dạng tiềm năng, mặt khác nó lại đượcbiểu hiện dưới các hình thức khác nhau như bằng tiền, hàng hóa và dịch vụsong lại chỉ được thực hiện khi có sự chuyển dịch quyền sở hữu
Dựa trên cơ sở định nghĩa Haig-Simons, các nhà kinh tế học hiện đại đãđưa ra hai quan niệm mới về thu nhập làm cơ sở đánh thuế thu nhập cánhân:
Trang 9- Quan điểm về khái niệm “thu nhập bao quát” cho rằng, thu nhập là mọikhoản thu nhập ròng từ các nguồn sau khi đã khấu trừ các chi phí để tạo rachúng, từ đó hình thành một phương thức đánh thuế trên tổng tài sản ròng,nghĩa là đánh thuế vào tất cả các lợi ích nhận được, bao gồm các lợi íchngẫu phát - lợi ích có tính chất nhất thời
- Quan điểm về khái niệm “thu nhập hạn hẹp” dựa trên cơ sở thu nhập chỉgiới hạn trong những lợi ích phát sinh lặp đi lặp lại, có tính chất liên tục đểhình thành một phương thức đánh thuế thu nhập dựa trên các nguồn phátsinh thu nhập
Đại diện cho trường phái này là nhà kinh tế học người Mỹ Paul A.Samuelson đã đưa ra một khái niệm thu nhập tương đối hoàn chỉnh: “thunhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoản thời giannhất định (thường là một năm)” Thuật ngữ “tiền” ở đây được hiểu là nhữngkhoản thu dưới dạng tiền tệ hay hiện vật được tính thành tiền, nó bao gồm cảphần sản xuất để tự tiêu dùng, nhận được từ các hoạt động sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ, từ lao động hoặc không từ lao động, từ quyền sở hữu về tàisản, về tiền mà có hoặc tiêu dùng các dịch vụ không phải thanh toán
Trong các định nghĩa nêu trên, mặc dù chưa phản ánh một cách đầy đủ tất
cả các khía cạnh của thu nhập, nhưng tổng hợp lại cho thấy thu nhập có một
số điểm chung sau đây:
- Thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế, xã hộithể hiện tính sở hữu của thu nhập
- Thông thường việc xác định thu nhập của các chủ thể khác nhau trongmột thời gian nhất định được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ – là hình thứcthông qua đó có thể biết được tổng thu nhập các nguồn khác nhau của một
cá nhân hay một pháp nhân
Trang 10- Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu
và phân phối lại thu nhập quốc dân, do thị trường và nhà nước thực hiện
Qua phân tích các đặc điểm trên khái niệm về thu nhập có thể được tổnghợp như sau:
Thu nhập là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới
hình thức tiền tệ là một chủ thể nào đó trong nền kinh tế - xã hội tạo ra
và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời hạn nhất định (thường là một năm)
1.2.2 Khái niệm thuế Thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ rất lâu ở các nước phát triển.Lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụngnhư một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiếntranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842 Sau đó thuếthu nhập cá nhân đã nhanh chóng được lan truyền sang các nước côngnghiệp khác như: Nhật (1887), Mỹ (1913), Pháp (1914), Liên Xô (1922),Trung Quốc (1936)… Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đềucoi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọngđặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối côngbằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận được thunhập dưới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào(do lao động, hay đầu tư…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộpcho nhà nước dưới dạng thuế thu nhập
Trang 11Như vậy: Có thể khái niệm thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực
thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
1.2.3 Sự cần thiết xây dựng chính sách thuế Thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công bằngtrong phân phối thu nhập Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tếthị trường vì thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu vàoviệc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ…) Trong điềukiện đó sự phân hóa giàu nghèo khi phân phối thu nhập là điều khó tránhkhỏi Vì vậy, cần áp dụng thuế thu nhập cá nhân để thực hiện điều tiết thunhập nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Mặt khác, trong
hệ thống thuế thông thường áp dụng hai loại thuế: thuế gián thu và thuế trựcthu Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, tức là thuế đánh trực tiếpvào thu nhập của người nộp thuế theo khả năng của họ Vì thế, thu nhập cánhân đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc Nếu chỉ áp dụng các loại thuếgián thu thì mới thực hiện được công bằng theo chiều ngang, tức là tất cảmọi người đều phải nộp thuế như nhau không phân biệt khả năng của họ Đểđảm bảo sự công bằng theo cả chiều ngang và chiều dọc trong chính sáchthuế khóa thì cần thiết phải ban hành thuế thu nhập cá nhân để điều tiết thunhập theo khả năng đóng góp của người nộp thuế
Do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nước Sự giảm dần của thuếquan do yêu cầu tự do hóa thương mại để phát triển kinh tế của các nước tưbản chủ nghĩa đòi hỏi phải tăng nguồn thu tài chính nhà nước thông qua cácloại thuế khác như thuế hàng hóa, thuế thu nhập doanh nghiệp (công ty) vàthuế thu nhập cá nhân, trong đó thuế thu nhập cá nhân là nguồn tài chính lớncho ngân sách của các quốc gia, đặc biệt đối với các nước phát triển Trướcchiến tranh thế giới lần thứ nhất số người nộp thuế thu nhập cá nhân mới chỉ
Trang 12chiếm khoảng gần 1 triệu người, năm 1939 tăng lên 5 triệu, thì đến năm
1980 con số này là 100 triệu người, biến thuế này thành thứ thuế đại chúng
Thuế thu nhập được sử dụng như một công cụ linh hoạt để điều tiết vĩ mô,kích thích tiêu dùng hoặc đầu tư để phát triển kinh tế Một trong những lýthuyết căn bản của Kenyes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằngmức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp Do vậy, để tăngphúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng cóthu nhập thấp hơn Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, ưu đãi,thuế thu nhập có thể tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tưtheo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nước
1.2.4 Vai trò thuế Thu nhập cá nhân
1.2.4.1 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ phân phối đảm bảo
công bằng xã hội
Một trong những khiếm khuyết của kinh tế thị trường là sự phân phốikhông công bằng và đi liền với nó là quá trình phân hóa giàu nghèo trong xãhội Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức thuế trực thu đánh trực tiếp vàothu nhập nhận được của từng cá nhân Thông qua đánh thuế thu nhập cánhân, Nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập của những người có thu nhậpcao, nhờ đó san bằng tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhântrong xã hội
Để thấy rõ vai trò đó của thuế thu nhập cá nhân, có thể sử dụng đườngcong Lorenz dưới đây (Hình 1.1)
Trang 13
Hình 1.1: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập
Trên đồ thị, đường cong Lorenz càng gần đường phân giác thì càng phảnánh sự phân phối công bằng Điều đó được trợ giúp bởi thuế luỹ tiến thôngqua thực hiện thuế thu nhập cá nhân để đảm bảo rút ngắn khoảng cách phânhóa giàu nghèo trong xã hội
1.2.4.2 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu
quan trọng cho NSNN
Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước (NSNN), loại thuế này đóng vai trò rất quan trọng, đôi khi nó còn đượcnói so sánh một cách hình ảnh là “nữ hoàng của các loại thuế” Hiện nay, ởcác nước phát triển tỷ trọng thu ngân sách của thuế TNCN chiếm rất cao từ
30 - 40%, có nước trên 50% như Mỹ, Nhật, Canada, Autralia, Niuzilân…,các nước đang phát triển chiếm từ 15 - 30% như Thái Lan, Malaixia,Philipin…
Ở nước ta thuế thu nhập cá nhân tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thuNSNN, song trong điều kiện phát triển kinh tế và toàn cầu hóa, thu nhập của cá nhân có xu hướng tăng nhanh, nên tỷ trọng thuế thu nhập cá nhântrong tổng thu NSNN sẽ có khả năng tăng lên
1.2.4.3 Thuế thu nhập cá nhân góp phần điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
Thuế thu nhập cá nhân không chỉ là công cụ huy động nguồn thu NSNN,thực hiện công bằng xã hội, mà còn giữ vai trò điều tiết nền kinh tế quốcdân Vì vậy, ở mỗi thời kỳ phát triển kinh tế khác nhau, tuỳ theo yêu cầu
Trang 14điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thuế thu nhập cá nhân ở mỗi nướcđược xây dựng phù hợp
M Keynes là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh đã đề xướng tư tưởngcan thiệp của nhà nước vào hoạt động của nền kinh tế để đạt được “cầu hiệuquả” thông qua chính sách thuế, trong đó có thuế thu nhập cá nhân Ông chorằng, tồn tại một qui luật tâm lý cơ bản mà theo ông, con người có xu hướngtăng tiêu dùng của mình theo tốc độ tăng của thu nhập, nhưng không phảităng theo cùng mức tăng của thu nhập Cùng với tốc độ tăng của thu nhậpthì tốc độ tiết kiệm tăng nhanh hơn Đây chính là nguyên nhân làm cho cầukhông đạt hiệu quả Bởi vậy, cần thiết phải có chính sách thuế đánh vào thunhập đưa vào tiết kiệm để kích thích tiêu dùng và tăng đầu tư phát triển kinhdoanh Theo ông, khuynh hướng tiêu dùng ở những người có thu nhập thấp
sẽ cao hơn ở những người có thu nhập cao Vì vậy, nhà nước phải đánh thuếthu nhập theo kiểu thuế suất luỹ tiến để phân phối lại thu nhập của nhữngngười có thu nhập cao đưa vào tiết kiệm Sự tiết kiệm thừa cần được thubằng thuế để hướng chúng vào đầu tư phát triển kinh tế
Lý thuyết của M Keynes được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước tưbản phát triển sau khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 1929-1933 Vìvậy, thuế thu nhập cá nhân trong thời kỳ này có đặc trưng bằng biểu thuếsuất cao với nhiều thang bậc thuế và mức chênh lệch về tỉ lệ điều tiết khálớn giữa bậc thấp và bậc cao Chẳng hạn ở Mỹ mức thuế suất tối đa thuế thunhập cá nhân là 50%, Anh là 83%, Pháp là 56,8%, Đức là 56%, Italia là62%, Nhật là 70%
Thực hiện điều tiết nền kinh tế trong điều kiện tăng năng suất và hiệu quảkinh doanh theo lý thuyết “trọng cung” các nhà kinh tế học thuộc trườngphái này mà đại biểu là Laffer đã đưa ra đường cong lý thuyết nổi tiếng gọi
là đường cong Laffer (Hình 1.2)
Trang 15
Mô hình đường cong Laffer cho thấy quan hệ giữa thuế suất và tổng thunhập từ thuế Mức thuế suất bằng không thì thu ngân sách từ thuế cũngbằng không Ở thái cực đối lập, nếu thuế suất bằng 100% thì thu nhập từthuế cũng bằng không vì lúc đó người ta không muốn làm việc Việc nângdần mức thuế suất từ 0% lên dưới mức thuế suất t0 làm thu nhập về thuếcũng tăng lên Nhưng nếu mức thuế suất được xác định cao hơn mức t0 sẽgây ra các phản ứng như: Hạ thấp động lực kinh doanh; chuyển vốn đầu tư
ra nước ngoài; chuyển hoạt động sang kinh tế ngầm để trốn thuế
Như vậy, qua đồ thị đường cong Laffer ta thấy, nếu thuế suất được hạthấp, thì có thể số thu của ngân sách sẽ không bị giảm thậm chí còn tăng lên
do kinh tế được kích thích tăng trưởng và sự ủng hộ đồng tình của các đốitượng nộp thuế Điều này cho thấy, nếu thuế suất của thuế thu nhập đượcxác định ở mức hợp lý sẽ có tác động kích thích tăng trưởng kinh tế đồngthời tăng thu cho ngân sách
Tuy nhiên, trên thực tế rất khó xác định nền kinh tế hiện tại đang nằm ởđiểm nào trên đường cong để từ đó quyết định biện pháp tăng hay giảmthuế Chẳng hạn nhìn trên hình 1.2 ta thấy: trên đường cong Laffer tồn tạihai mức thuế suất khác nhau t1và t2 đều cho tổng số thuế như nhau, do đó vềnguyên tắc, hạ mức thuế từ t2 xuống t1 thì tổng thu thuế không thay đổi, còntrong trường hợp hạ từ mức t2 xuống t0 thì tổng thu thuế sẽ tăng lên Mặtkhác, hạ thấp thuế từ t2 xuống t0 phải được thực hiện trong khoảng thời gian
Trang 16khá dài mới có kết quả tăng thu về thuế, còn trước mắt sẽ làm giảm tức thời
số thuế thu được
Do đó, theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, việc nghiên cứumột mức thuế thu nhập cá nhân phù hợp để nâng cao hiệu quả kích thíchcủa nó được đánh giá quan trọng hơn vai trò công bằng mà nó tạo ra trongphân phối thu nhập
1.2.5 Nguyên tắc và phương pháp đánh thuế Thu nhập cá nhân
1.2.5.1 Nguyên tắc đánh thuế Thu nhập cá nhân
a) Đánh thuế trên cơ sở thu nhập chịu thuế hiện hữu
Mặc dù cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhưng trong thực
tế không phải toàn bộ thu nhập phát sinh đều là đối tượng điều chỉnh củathuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân chỉ điều chỉnh phần thu nhậpchịu thuế Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập quy định cơ sở đánh thuế thunhập Mọi hệ thống thu nhập dù đánh trên từng loại thu nhập hay trên tổngthu nhập nói chung đều tính thuế trên thu nhập ròng để phản ánh đúng đắnkhả năng kinh tế của người nộp thuế Vì vậy thu nhập chịu thuế được xácđịnh trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một sốkhoản chi phí của người nộp thuế
Hiện nay trên thế giới còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm
và cách tính thu nhập nên cơ sở đánh thuế thu nhập cá nhân cũng khônggiống nhau Tùy theo chính sách thuế thu nhập của mỗi nước mà nội dung,phương pháp xác định các khoản miễn trừ và thu nhập chịu thuế có sự khácnhau Mặt khác, trên thực tế không phải mọi khoản thu nhập phát sinh cũngđều có khả năng xếp vào thu nhập chịu thuế
b) Đánh thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến
Trang 17Đặc trưng quan trọng nhất của thuế thu nhập cá nhân là áp dụng biểu thuếluỹ tiến, tức là mức thuế tăng lên một cách luỹ tiến theo mức thu nhập tănglên Thuế suất luỹ tiến được coi là phương pháp hiệu quả nhất để đánh thuếtheo “khả năng nộp thuế” của cá nhân Tuy nhiên trong thực tế để tính đượcmức luỹ tiến đó là điều không đơn giản
Xung quanh vấn đề áp dụng nguyên tắc luỹ tiến đối với thuế thu nhậpcũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, tính luỹ tiến của thuếthu nhập cũng cần có giới hạn và khi áp dụng nguyên tắc luỹ tiến cũng cầnphân biệt nguồn gốc của các loại thu nhập để phát huy vai trò điều chỉnh củathuế thu nhập Nhưng cũng có quan điểm cho rằng làm như vậy sẽ gây phứctạp trong việc thiết kế thuế suất, vì không nên dùng các loại thuế khác nhaucho thu nhập phát sinh từ các nguồn thu nhập khác mà nên áp dụng cáckhoản miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng của thuế thu nhập hoặc ápdụng thuế luỹ tiến từng phần
1.2.5.2 Phương pháp đánh thuế Thu nhập cá nhân
Về lý thuyết, tồn tại ba mô hình đánh thuế thu nhập cá nhân:
a) Đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập
Đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập là phương pháp áp dụngmột thuế suất tương ứng cho từng nguồn thu nhập phát sinh Tương ứng vớimỗi nguồn thu nhập khác nhau, người ta tính các chi phí được trừ của từngloại thu nhập (nhiều trường hợp chi phí có thể được trừ hoặc không đượctrừ) và gán cho mỗi loại thu nhập đó các mức thuế suất phân biệt Số thuếphải nộp là tổng hợp số thuế thu nhập mà người nộp thuế phải nộp theo từngnguồn
Trang 18Các nhà kinh tế cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế hơn, vì nó thu
“theo sát từng nguồn thu nhập” Tuy nhiên, đánh thuế theo từng nguồn hìnhthành thu nhập trên thực tế đã bộc lộ nhiều hạn chế:
- Khi chia thu nhập cá nhân thành phần thu nhập để chịu các mức thuếsuất khác nhau không đơn thuần là một công việc phức tạp và khó khăn, màđiều quan trọng hơn là không áp dụng được triệt để các mức thuế suất luỹtiến và các suất miễn giảm thuế thu nhập cá nhân Nếu có áp dụng mức thuếsuất luỹ tiến thì cũng chỉ đúng cho một số loại thu nhập Điều đó lại gây bấtbình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế có các loại thu nhập khác nhau
- Việc áp dụng thuế suất cho từng loại thu nhập đòi hỏi phải phân loại thunhập, trên thực tế công việc này lại tiềm ẩn nhiều khó khăn trong công tácquản lý Mặt khác, đó cũng là cơ sở để người nộp thuế dễ dàng trốn thuế.Nếu ranh giới giữa các loại thu nhập không chính xác thì sẽ mất ý nghĩacông bằng của thuế thuế thu nhập cá nhân
- Trong một chừng mực nào đó cách đánh thuế này cũng không hiệuquả đối với xã hội vì người nộp thuế có thể lựa chọn các hoạt động phi hiệuquả để chịu mức thuế thấp nhất
b) Đánh thuế trên tổng thu nhập
Phương pháp này tiến hành đánh thuế trên tổng thu nhập, bao gồm tất
cả các khoản thu nhập nhận được không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập
và chi phí tạo ra thu nhập Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xéttrên một tổng thể và đánh thuế trên phần chênh lệch giữa tổng thu nhập vàtổng chi phí Việc phân ra từng loại thu nhập không có ý nghĩa
Do có ưu điểm là đơn giản và có thể áp dụng được biểu thuế luỹ tiến khiđánh thuế nên phương pháp này đang được áp dụng rất rộng rãi ở các nướcphát triển
Trang 19Như vậy, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng Việc ápdụng một phương pháp thích hợp tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hộitừng nước, trình độ quản lý và yếu tố tâm lý, tập quán từng dân tộc
1.2.6 Cơ sở xây dựng chính sách thuế Thu nhập cá nhân
Mặc dù ở mỗi nước, Luật thuế thuế thu nhập cá nhân được xây dựng khácnhau tùy theo tính đặc thù của từng nước Bởi vậy, giữa các nước sẽ có sựkhác nhau trong xác định thu nhập chịu thuế, thuế suất, miễn, giảm thuế…Tuy nhiên, khi xây dựng chính sách thuế thuế thu nhập cá nhân các quốc giađều quan tâm giải quyết các vấn đề sau đây:
1.2.6.1 Xác định thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế của một cá nhân trong kỳ tính thuế là tổng thu nhậptrừ đi tổng các khoản được giảm trừ
Tổng thu nhập của đối tượng nộp thuế là tổng thu nhập được xác định
cơ sở để tính thu nhập chịu thuế mà đối tượng nộp thuế đó kiếm được trong
kỳ tính thuế Do đó, tổng thu nhập của một đối tượng sẽ không bao gồmnhững khoản miễn thuế Để xác định tổng thu nhập cần phải xác định từngkhoản cấu thành tổng thu nhập theo từng loại thu nhập cụ thể, tức là xem xéttổng thu nhập được hình thành từ những nguồn nào
Trang 20Tuy nhiên, không phải mọi khoản thu nhập của người nộp thuế đều đưavào đối tượng tính thuế Tùy theo mục đích đánh thuế mà có khoản thunhập không đưa vào đối tượng đánh thuế Trong thực tế, khi xây dựng cácquy định tính thuế cần xác định rõ ràng những khoản nào nằm trong tổng thunhập chịu thuế và những khoản nào nằm trong tổng thu nhập không chịuthuế Muốn xác định thu nhập chịu thuế chính xác cần phải xem xét cáckhoản sau đây.
a) Nguồn gốc của thu nhập
Mọi khoản thu nhập của cá nhân có thể phát sinh từ các nguồn khác nhau.Tuy vậy cũng có thể phân loại thành các nguồn cơ bản như sau:
a1 ) Thu nhập từ lao động
Thu nhập có nguồn gốc từ lao động giữ vị trí rất quan trọng và chiếm tỷtrọng khá lớn trong thu nhập chịu thuế ở các nước phát triển Thu nhập từlao động bao gồm bất kỳ khoản bù đắp nào trực tiếp hay gián tiếp liên quanđến lao động Đó là khoản thu nhập của cá nhân nhận được dưới hình thứctiền lương hoặc tiền công do người chủ của lao động trả
Bên cạnh việc xác định các khoản thu nhập từ lao động còn phải tính toáncác chi phí lao động để nhận được các thu nhập này Vì thu nhập chịu thuế
là các khoản thu nhập ròng nên cần phải xác định các chi phí phát sinh đểphản ánh đúng đắn thu nhập chịu thuế từ lao động Do đó, các nguyên tắcđưa ra là cần thiết để xem xét khả năng được trừ của các chi phí phát sinh.Nếu không có các nguyên tắc chuẩn thì khó xác định được ranh giới thunhập chịu thuế và khi đó các tranh chấp có thể phát sinh giữa cơ quan thuế
và đối tượng nộp thuế hoặc tạo ra những cơ hội phổ biến để trốn thu nhậpchịu thuế thông qua sự biến tướng của chi phí lao động Điều đó lại nảy sinh
sự bất bình đẳng về nghĩa vụ giữa người nộp thuế có mức thu nhập nhưnhau
Trang 21a2 ) Phúc lợi của người làm công
Phúc lợi bất kỳ bằng tiền hoặc không phải bằng tiền nhận được từ laođộng mà không nằm trong phần tiền lương, tiền công bằng tiền mặt
Các khoản phúc lợi thông thường như nhà ở, sử dụng phương tiện đi lại
do người chủ lao động cung cấp cho mục đích cá nhân và cung cấp hànggiảm giá cho người làm công Toàn bộ các khoản phúc lợi dưới dạng hiệnvật này cũng coi như một khoản thu nhập của người lao động có khả năngkinh tế như tiền công, tiền lương trả bằng tiền mặt nên thuộc vào cơ sở đánhthuế
Hiện nay, tồn tại ba phương pháp đánh thuế vào các khoản phúc lợi
- Thứ nhất, đưa giá trị các khoản phúc lợi vào thu nhập chịu thuế củangười làm công như là một phần thu nhập của lao động (coi tiền lương, tiềncông bao gồm cả các khoản phúc lợi)
- Thứ hai, áp dụng thuế danh nghĩa đánh trên các khoản phúc lợi bằngcách không cho phép người chủ lao động khấu trừ chi phí liên quan đến việccung cấp các khoản phúc lợi cho người làm công Phương pháp này áp dụngtrong trường hợp khó phân bổ phúc lợi cho từng người Nhưng trong trườnghợp người chủ lao động nằm trong tình trạng kinh doanh không có lãi thìviệc thu thuế khó thực hiện được
- Thứ ba, thuế phúc lợi đánh riêng biệt đối với người chủ lao động dựatrên giá trị các khoản phúc lợi cung cấp cho người làm công Phương phápnày được áp dụng ở một số nước đang phát triển và các nước có nền kinh tếchuyển đổi, nhưng việc áp dụng hình thức thuế suất luỹ tiến từng phần thíchhợp đối với từng người làm công lại gặp khó khăn
Từ các phương pháp nêu trên có thể cho phép xây dựng chế độ thuế phúclợi độc lập với hệ thống thuế thu nhập cá nhân hoặc là kết hợp với hệ thống
Trang 22thuế thu nhập nhằm đảm bảo gánh nặng chung về thuế tương đồng đối vớibất kỳ các khoản phúc lợi nào (ngay cả khi người chủ động chi trả cho ngườilàm công bằng tiền mặt thay vì cung cấp một khoản phúc lợi) Hiện nay,nhiều quốc gia áp dụng hệ thống kết hợp để tránh những biến động kinh tế
và thất thu thuế do chuyển đổi thu nhập theo chiều hướng đánh thuế
a3 ) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh
Tuỳ theo tính chất của từng ngành nghề kinh doanh mà thu nhập chịuthuế được xác định theo những phương pháp khác nhau Một số quốc giaphân biệt giữa thu nhập từ các hoạt động thương mại và thu nhập từ các hoạtđộng hành nghề và công việc Sự phân chia này không hoàn toàn xuất phát
từ quan niệm logic về thuế, mà từ phương diện lịch sử
a4 ) Thu nhập từ vốn, tài sản hay gọi là thu nhập từ đầu tư
Tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử và tuỳ theo quan điểm đánh thuế của mỗinước mà thu nhập này có thể xếp loại vào thu nhập bị đánh thuế hoặc không
bị đánh thuế
a5 ) Các khoản thu nhập bất thường khác
Qua phân tích các loại thu nhập kể trên ta thấy, không phải mọi khoản thunhập của người nộp thuế đều đưa vào đối tượng tính thuế Tùy theo mục đích đánh thuế mà có khoản thu nhập không đưa vào đối tượng đánh thuế.Khi xây dựng các quy định tính thuế cần xác định rõ ràng những khoản nàonằm trong tổng thu nhập không chịu thuế Cơ sở quan trọng để xác định cáckhoản thu nhập đó có phải là thu nhập chịu thuế hay không phải là thu nhậpchịu thuế, trước hết phải xem xét các khoản đó là thu nhập thực sự hay là chiphí Mặt khác, Chính phủ có thể cân nhắc nên đánh thuế hay không nênđánh thuế vào các loại thu nhập này
b) Đánh thuế trên cơ sở cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập
Trang 23Để tiến hành đánh thuế thu nhập cá nhân trước hết phải căn cứ vào hai cơ
sở là “cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”
Hệ thống đánh thuế dựa vào tình trạng “cư trú” được sử dụng rộng rãitrên thế giới Theo hệ thống này, các cá nhân cư trú ở một nước phải nộpthuế tại nước đó và đánh trên mọi khoản thu nhập từ khắp nơi trên thế giới,còn những cá nhân không cư trú chỉ bị đánh thuế trên phần thu nhập phátsinh tại nước đó Tuy nhiên, khái niệm cư trú được quy định khác nhau ởcác nước khác nhau
Cơ sở thứ hai được dựa vào để xác định nghĩa vụ nộp thuế là “nguồn phátsinh thu nhập” Nếu áp dụng theo cơ sở nguồn phát sinh thu nhập thì các cánhân chỉ phải nộp thuế thu nhập đối với khoản thu nhập phát sinh tại nước
sở tại mà không phải nộp thuế thu nhập đối với những khoản thu nhập phátsinh ở nước ngoài Cách đánh thuế này thích hợp với những nước có nhiềungười nước ngoài đến làm việc và đầu tư còn bản thân công dân của nước
đó ít đi làm hoặc đầu tư ở nước ngoài
Việc xác định rõ cơ sơ đánh thuế theo tình trạng cư trú hay nguồn phátsinh thu nhập không những có ý nghĩa quan trọng trong công tác xác địnhnghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân mà còn là cơ sở để tiến hành đàm phán,
ký kết các hiệp định tránh đánh thuế trùng giữa các nước với nhau trongquan hệ quốc tế về thuế
1.2.6.2 Xác định các khoản thu nhập miễn trừ
Một trong những đặc điểm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân
là có tính tới hoàn cảnh của từng cá nhân cần phải được xem xét khixác định thu nhập chịu thuế Các khoản được giảm trừ có thể được thực hiệndưới hai dạng: miễn trừ cá nhân và miễn trừ tiêu chuẩn
Trang 24- Miễn trừ cá nhân được thực hiện theo phương pháp kê khai chi phí thực
tế phát sinh đối với các khoản được phép giảm trừ Đối với phương phápnày, một số khoản chi phí kê khai sẽ đòi hỏi phải có chứng từ chứng minh,một số khoản được thực hiện theo phương pháp định mức và một số khoản
có thể được thực hiện theo phương pháp “giới hạn tối đa” Thông trường, cóhai loại giảm trừ cá nhân là: giảm trừ có tính chất kinh tế và giảm trừ có tínhchất xã hội Giảm trừ có tính chất kinh tế là các khoản giảm trừ mang tínhchi phí liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập như chi phí đi lại, ăn ở …
kể cả các khoản đóng bảo hiểm Giảm trừ có tính chất xã hội là các khoảngiảm trừ mang tính chất chi trợ cấp có tính xã hội như giúp đỡ người cóhoàn cảnh khó khăn, chi nuôi dưỡng, bảo trợ người già, tàn tật…
- Phương pháp miễn trừ cá nhân được bảo đảm sự công bằng và thườngđược áp dụng ở những nước có trình độ phát triển kinh tế và dân trí cao,
hệ thống lưu trữ và kiểm soát thông tin tốt Đối với các nước chậm phát triểnthường không đủ điều kiện để áp dụng phương pháp này mà chủ yếu ápdụng phương pháp giảm trừ tiêu chuẩn Phương pháp này được thực hiệnthông qua việc xác định mức khởi điểm chịu thuế Về nguyên tắc, mức khởiđiểm chịu thuế là mức thu nhập trung bình xã hội đảm bảo trang trải đủnhững chi phí cần thiết cả về mặt kinh tế và xã hội theo quan niệm và tậpquán của từng nước Phương pháp “giảm trừ tiêu chuẩn” tuy không côngbằng vì mức chi phí cần thiết được cân bằng giữa các đối tượng nộp thuếnhưng lại đảm bảo cho thuế thu nhập cá nhân dễ tính toán, đơn giản hơn trên
cơ sở đó tiết kiệm chi phí hành thu và chi phí chấp hành, tuân thủ luật thuế
Nhằm bảo đảm yêu cầu công bằng và khuyến khích một số hoạt độngthuế thu nhập cá nhân ở các nước cho phép khấu trừ một số khoản chiphí từ thu nhập nhận được trước khi xác định thu nhập chịu thuế Tính chấtcủa các khoản chi phí này là phát sinh thường xuyên và khách quan Ở hầuhết các quốc gia trên thế giới người ta cho phép khấu trừ 5 khoản chi phí vàothu nhập trước khi xác định thu nhập chịu thuế Những khoản chi phí đó là:
Trang 25chi y tế, lãi thế chấp, các loại thuế, đóng góp từ thiện, mất mát đột xuất Đểđảm bảo công bằng khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập thì trong từngkhoản miễn trừ phải quy định tỉ mỉ, chi tiết cho từng trường hợp cụ thể 1.2.6.3 Thuế suất thuế Thu nhập cá nhân
Đối với thuế thu nhập cá nhân, thông thường người ta áp dụng biểu thuếsuất luỹ tiến Có hai loại thuế suất luỹ tiến là luỹ tiến toàn phần và luỹ tiếntừng phần (còn gọi là thuế suất đơn nhất kết hợp với ngưỡng tính thuế) Mỗiloại thuế suất luỹ tiến có hiệu quả điều tiết khác nhau, trong đó biểu thuế luỹtiến từng phần được coi là đảm bảo công bằng hơn và không gây ra mâuthuẫn “mức tăng của thuế lớn hơn mức tăng của căn cứ tính thuế” tại điểmtiếp giáp giữa hai bậc thuế
Biểu thuế luỹ tiến từng phần có thể có hai dạng Một dạng chia thànhnhiều bậc thuế Một dạng chỉ đơn giản gồm một vài bậc Biểu thuế nhiềubậc chia theo các mức thu nhập khác nhau đảm bảo công bằng hơn vì chỉ có
sự chuyển dịch nhẹ nhàng về mức thuế giữa các bậc nhưng việc tính thuế cóphần phức tạp Biểu thuế ít bậc có ưu điểm là thuận lợi trong việc tính thuếnhưng mức thuế giữa hai bậc thường chênh lệch nhau nhiều nhất là khoảngtiếp giáp giữa hai bậc gây tâm lý không công bằng trong nghĩa vụ thuế
Khi xây dựng biểu thuế của thuế thu nhập cá nhân, các quốc gia thường sửdụng một số nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, đánh thuế cùng một mức vào thu nhập tổng hợp với số lượngthuế suất vừa phải để có thể quản lý tốt hơn
- Thứ hai, mức thuế không nên quá cao làm ảnh hưởng đến nỗ lực laođộng, tiết kiệm và đầu tư
- Thứ ba, tuỳ theo đặc điểm tình hình kinh tế xã hội mà có thể sử dụngthuế suất ưu tiên linh hoạt cho từng loại thu nhập Theo tập tục tuyền thống
Trang 26thì hầu hết các nước sử dụng thuế suất ưu đãi đối với thu nhập từ lao độnghơn là thu nhập từ vốn
Thiết kế biểu thuế với các thang bậc cụ thể không chỉ là vấn đề mang tính
kỹ thuật phức tạp, mà nó còn chứa đựng nội dung kinh tế nhất định Biểuthuế có thể đánh vào đồng thu nhập đầu tiên để thực hiện nguyên tắc bất kể
cá nhân nào cứ có thu nhập là phải nộp thuế
1.2.6.4 Phương pháp quản lý thu nộp thuế
Thuế thu nhập có thể được thu theo phương pháp khấu trừ tại nguồn hoặcphương pháp thu trực tiếp
- Phương pháp khấu trừ tại nguồn được áp dụng cho các khoản thu nhậpphát sinh có tính chất ổn định như thu nhập từ lương, tiền công Theophương pháp này, người hoặc cơ quan chi trả thu nhập phải tiến hành khấutrừ trước số thuế phải nộp của cá nhân để nộp cho cơ quan thuế, sau đó mớitiến hành chi trả phần còn lại cho người được hưởng Cơ quan hoặc ngườiđược uỷ nhiệm khấu trừ thông thường được trích lại một tỷ lệ thù lao nhấtđịnh song phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghĩa vụ khấu trừ thuếthu nhập trước khi chi trả thu nhập Phương pháp này thường được áp dụngphổ biến đối với những nước có khả năng kiểm soát và tổng hợp thu nhậpthấp Tuy chi phí hành thu thấp, quy trình quản lý thu đơn giản nhưng mức
độ công bằng lại kém hơn vì thông thường chỉ thu được thuế của nhữngkhoản thu nhập rõ ràng, chính thống Những khoản thu nhập khác dễ bị bỏqua do không kiểm soát được
- Phương pháp thu trực tiếp Thuế thu nhập cá nhân là thuế đánh vàophần thu nhập của cá nhân, do đó để thuế thu được sát đúng với mức thunhập của từng cá nhân thì cần để cho người nộp thuế tự khai thu nhập củamình Đó là cơ sở ra đời phương pháp thu trực tiếp Phương pháp thu trựctiếp được thực hiện trên cơ sở người nộp thuế tự kê khai thu nhập và gửi cho
Trang 27cơ quan thuế Cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp dựa trên số liệu kêkhai về thu nhập, về các khoản được phép khấu trừ, giảm trừ … kết hợp với
sự thẩm tra, kiểm soát của cơ quan thuế Phương pháp này tuy phức tạpnhưng đảm bảo tính chính xác vì khả năng tổng hợp nhiều nguồn thu nhập
và gắn với hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế Tuy nhiên, trên thực tế,phương pháp này chỉ đạt hiệu quả cao trong điều kiện người nộp thuế hiểu
rõ nghĩa vụ và trách nhiệm nộp thuế của mình Nếu trình độ hiểu biết củangười nộp thuế còn kém, tính tự giác chưa cao thì không thể vận dụng đượcphương pháp trực tiếp thu nộp thuế vào hoạt động thực tiễn
Trên thực tế, các nước có nền kinh tế phát triển mặc dù đã xây dựng chomình chế độ thuế thu nhập cá nhân khá hoàn chỉnh cũng thường chỉ sử dụngphương pháp khấu trừ tại nguồn mà thôi
Về đơn vị nộp thuế là cá nhân hay hộ gia đình, trên thế giới cũng tồn tạihai phương pháp Phương pháp thứ nhất thu vào thu nhập thực tế của từng
cá nhân có ưu điểm đơn giản, dễ làm, thu kịp thời cho ngân sách, nhưng lạikhông đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập vì mỗi cá nhân cónhững hoàn cảnh và gánh nặng gia đình khác nhau Trong một chừng mựcnhất định, việc cho phép khấu trừ theo mức tiêu chuẩn hoặc suất miễn thutiêu chuẩn có thể chưa thực sự sát với hoàn cảnh gia đình của những cá nhân
cụ thể Còn phương pháp thu vào thu nhập của cả hộ gia đình, tuy đảm bảocông bằng hơn về mặt xã hội song quá trình quản lý thu thuế phức tạp, chiphí hành thu cao nên ít được các nước áp dụng
1.3 Kinh nghiệm điều hành chính sách thuế TNCN của một số nước trên thế giới
Nội dung cơ bản của chính sách thuế TNCN ở một số nước trên thế
giới:
o Thuế TNCN ở Pháp: Phụ lục I (trang 83)
Trang 28o Thuế TNCN ở Nhật: Phụ lục II (trang 88)
o Thuế TNCN ở Thái Lan: Phụ lục III (trang 91)
o Thuế TNCN ở Trung Quốc: Phụ lục IV (trang 96)
Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện nền kinh tế từ sau Đại hội Đảng
VI (1986), đến nay đã 20 năm, khoảng thời gian chưa đủ dài để chúng ta tiếnhành giải quyết đồng bộ những vấn đề kinh tế vĩ mô, nhưng đó là một quátrình từng bước hoàn thiện công tác quản lý, điều hành kinh tế thị trườngtrong thời gian qua Thống nhất quan điểm nghiên cứu kinh nghiệm của cácquốc gia đi trước, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.Thiết nghĩ những kinh nghiệm điều hành chính sách thuế TNCN của một sốquốc gia có thể giúp Việt Nam trong việc xây dựng một chính sách thuếTNCN trong giai đoạn tới
Nhìn chung, chính sách thuế TNCN của các nước có những điểm nhưsau:
- Hầu hết các quốc gia đều thực thi chính sách thuế thu nhập cá nhânchứ không phải thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao như Việt Namchúng ta Do vậy mỗi cá nhân trong nền kinh tế đều phải chịu sự điều tiếtcủa sắc thuế này, không căn cứ vào thu nhập nhiều hay ít, họ chỉ được phéptrừ khỏi thu nhập các khoản chiết trừ gia cảnh theo luật định trước khi xácđịnh thu nhập chịu thuế TNCN Cho nên, cá nhân chỉ không phải nộp thuếTNCN khi và chỉ khi nhu nhập của họ nhỏ hơn các khoản chiết trừ gia cảnhluật định gắn với điều kiện thực tế của họ
- Không có sự phân biệt đối xử trong việc qui định thuế suất thuế TNCNgiữa công dân trong nước và người nước ngoài, còn ở Việt Nam thì biểuthuế lũy tiến được tách bạch gồm hai phần: phần áp dụng cho công dân ViệtNam và cá nhân khác định cư ở Việt Nam; phần áp dụng cho người nướcngoài và cá nhân Việt Nam đi lao động công tác ở nước ngoài, theo khuynh
Trang 29hướng ưu tiên cho người nước ngoài hơn so với người Việt Nam từ nhữngqui định về ngưỡng chịu thuế, về cùng một mức thuế suất nhưng thu nhậpchịu thuế đối với người nước ngoài cao hơn công dân Việt Nam…
- Đa số các nước đánh thuế theo nguyên tắc “cư trú” đối với đối tượng cưtrú tại nước mình và phải chịu thuế TNCN trên thu nhập toàn cầu, khôngphân biệt nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ở nước ngoài, đánh thuếtheo nguyên tắc “nguồn phát sinh thu nhập” đối với đối tượng không cư trú,đối tượng này chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập có được phát sinh trongnước Tuy nhiên mỗi nước qui định đối tượng cư trú và không cư trú làkhông giống nhau
- Đơn vị tính thuế được đa số các nước áp dụng là cá nhân như ở Nhật,Thái Lan, Trung Quốc…, Pháp xác định đơn vị tính thuế là hộ gia đình, đâyđược xem là cách thu thuế hợp lý nhất và công bằng nhất, vì có xét đến điềukiện hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình
- Thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế là thu nhập ròng (thu nhậpsau khi trừ các khoản chiết trừ gia cảnh hoặc chi phí hợp lý tạo ra thu nhập).Tuy nhiên mỗi nước xác định thu nhập chịu thuế có những điểm khác nhaunhư:
+ Luật thuế thu nhập cá nhân của Pháp xác định 8 loại thu nhập chịu thuế.Thu nhập ròng làm căn cứ tính thuế là tổng hợp thu nhập ròng của từng loạithu nhập mà mỗi đối tượng nộp thuế có được trong năm Tổng thu nhập chịuthuế của hộ nộp thuế bằng tổng các khoản thu nhập ròng từ mọi nguồn thunhập của đối tượng nộp thuế cộng với tổng thu nhập của vợ (hoặc chồng) vàcủa các con sáp nhập vào hộ (nếu có) sau khi trừ các khoản lỗ của từng loạithu nhập Ngoài ra, hộ nộp thuế còn được trừ khỏi tổng thu nhập chịu thuếmột khoản chi phí như: trợ cấp đời sống bắt buộc theo phán quyết của tòa
Trang 30đối với vợ (chồng) đã ly thân hay ly hôn, chi nuôi dưỡng người già trên 75tuổi… và khoản lỗ chưa trừ hết trong 5 năm trước
+ Nhật Bản xác định thu nhập chịu thuế theo từng nguồn hình thành thunhập, mỗi loại thu nhập chịu thuế được xác định bằng tổng thu nhập trừ đicác khoản khấu trừ hoặc các khoản chi phí hợp lý tùy thuộc vào nguồn hìnhthành thu nhập
+ Đối với Thái Lan thu nhập chịu thuế được xác định tương tư như ở Pháp
là tổng thu nhập ròng chịu thuế tổng hợp từ các nguồn của cá nhân, nhưngkhác so với Pháp là Thái Lan có đơn ví tính thuế là cá nhân nên thu nhậpròng chịu thuế được tính cho cá nhân chứ không cộng vào thu nhập của cả
hộ như ở Pháp
+ Trung Quốc xác định thu nhập chịu thuế theo từng nguồn hình thành thunhập, tùy từng loại thu nhập mà xác định thu nhập chịu thuế khác nhau như:đối với thu nhập từ lao động, thu nhập chịu thuế được xác định bằng tổngthu nhập trừ đi các khoản được khấu trừ, sau đó tính thuế theo biểu thuế lũytiến từng phần; đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thu nhập chịuthuế là phần thu nhập còn lại sau khi trừ các chi phí liên quan và chịu thuếsuất 20%…
- Về thuế suất: Thuế suất cao nhất trong biểu thuế có sự khác nhau, chẳnghạn như ở Inđonêxia 35%, Thái Lan 37%, Trung Quốc 45%, Malaysia 34%,
1.4 Bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam
Sau khi nghiên cứu những lý luận chung về thuế TNCN, kinh nghiệm ápdụng thuế TNCN trên thế giới, có thể rút ra những bài học để áp dụng vàoViệt Nam như sau:
Trang 311.4.1 Về xây dựng mô hình đánh thuế
Về lý thuyết, có ba mô hình đánh thuế thu nhập cá nhân chủ yếu:thuế đánh trên từng loại thu nhập, thuế đánh trên tổng hợp các loại thu nhập
và đánh thuế hỗn hợp Trong hệ thống thuế đánh trên từng loại thu nhập, cácloại thu nhập khác nhau chịu thuế theo thuế suất khác nhau tuỳ thuộc vàobản chất thu nhập Trong hệ thống thuế đánh trên tổng hợp các loại thunhập, chỉ một biểu đánh vào tổng thu nhập, không phân biệt bản chất củathu nhập Thuế hỗn hợp đánh trên từng từng nguồn thu nhập, sau đó lại đánhtrùm trên tổng thu nhập
Mỗi mô hình đánh thuế đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng Đốivới Việt nam, qua kinh nghịêm của các nước cho thấy việc lựa chọn môhình đánh thuế phải đảm bảo đơn giản trong hành thu, nhưng vẫn đáp ứngđược yêu cầu động viên hợp lý đối với từng nguồn thu nhập nhằm thực hiệnchính sách khuyến khích của Nhà nước với việc tạo ra thu nhập Ở ViệtNam có thể lựa chọn mô hình đánh thuế hỗn hợp, kết hợp cả hai hệ thốngđánh thuế theo từng nguồn và đánh thuế trên tổng thu nhập, tức là trong tổngthu nhập sẽ quy định một số loại thu nhập được đánh theo biểu thuế chung,còn một số loại thu nhập khác do tính đặc thù có thể xem xét và lựa chọn đểđánh thuế theo biểu thuế riêng Cách đánh thuế như vậy đòi hỏi phải quản lýnắm bắt được từng nguồn thu nhập và xây dựng mức thuế hợp lý cho một sốnguồn thu nhập có tính chất đặc thù
Trang 32mọi nguồn hoặc cũng có thể đánh thuế đối với một cá nhân chỉ trên phần thunhập có nguồn gốc tại nước sở tại.
Nguyên tắc đánh thuế thu nhập cá nhân dựa theo cư trú được hầu hết cácnước áp dụng để đánh thuế đối với các đối tượng được coi là cư trú tại nước
đó Tuy nhiên, khái niệm thế nào là một đối tượng cư trú tại một nước lạiđược định nghĩa không giống nhau trong luật thuế thu nhập cá nhân của cácnước
Nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập được hầu hết các nước áp dụng
để đánh thuế đối với khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của các đốitượng không cư trú
Tuỳ mỗi nước, tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội của mình mà lựa chọnnhững nguyên tắc đánh thuế thích hợp Đối với Việt Nam chúng ta có thểđánh thuế theo tiêu thức “cư trú” và “nguồn” để xác định đúng đắn đốitượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế
1.4.3 Đơn vị tính thuế
Vấn đề xác định đơn vị thuế – cơ sở để tính thu nhập chịu thuế của mộtđối tượng có một ý nghĩa quan trọng về tính công bằng xã hội có liên quanmật thiết với cơ cấu thuế suất Mặc dù mỗi nước sử dụng đơn vị tính thuếkhác nhau, song chủ yếu chỉ bao hàm: cá nhân hay gia đình
Nếu áp dụng đơn vị thuế là hộ gia đình như ở Pháp thì đối tượng cư trúđược kê khai nộp thuế theo hộ gia đình, bao gồm người nộp thuế và ngườinuôi dưỡng Người nộp thuế là các cá nhân độc thân hoặc hộ gia đình chưa
có con nhưng có thu nhập, người nuôi dưỡng là các con chưa đến tuổi thànhniên, người tàn tật, … Khi tính thuế theo hộ gia đình có thể quy đổi từngthành viên trong hộ gia đình thành các suất thuế theo quy định:
• Người độc thân một suất
Trang 33• Một cặp vợ chồng chưa có con 2 suất
• Con thứ nhất (dưới 18 tuổi) 0,5 suất
• Con thứ 2 (dưới 18 tuổi) 0,5 suất
• Con thứ 3: tùy chính sách từng nước có khuyến khích sinh haykhông…
Như vậy, thu thuế theo hộ gia đình là hợp lý hơn và công bằng hơn Tuynhiên, muốn thực hiện được chế độ đó phải có điều kiện là gia đình ổn định
và phải đưa ra được định nghĩa cụ thể về gia đình, các qui định về người phụthuộc, nuôi dưỡng…
Mỗi mô hình đánh thuế đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng Mặc
dù đơn vị tính thuế là cá nhân khó đạt được sự công bằng so với đơn vị tínhthuế là gia đình, song nó lại đơn giản và dễ thực thi, ít tốn kém chi phí hànhthu Ở nước ta hiện nay nên áp dụng đơn vị thuế là cá nhân là phù hợp nhất,
vì nếu áp dụng đơn vị thuế là gia đình thì chúng ta chưa có đầy đủ cơ sở vàchi phí hành thu sẽ rất cao
1.4.4 Xác định thu nhập chịu thuế
Trong Luật thuế thu nhập cá nhân ở hầu hết các nước thường không đưa
ra một định nghĩa chung về thu nhập, nhưng đều có khái niệm thu nhập chịuthuế của cá nhân trong kỳ tính thuế và đây là cơ sở tính thuế thu nhập Kháiniệm thu nhập chịu thuế thường được định nghĩa là tổng thu nhập trừ đi tổngcác khoản được giảm trừ của đối tượng đó trong kỳ tính thuế
Đa số các nước đều xác định thu nhập chịu thuế và phân loại chúng dựatheo nguồn hình thành, và thường bao gồm các loại chủ yếu sau:
• Thu nhâp tư lao động như tiền lương, tiền công
• Thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ hành nghề độc lập
• Thu nhập từ tài sản
Trang 34• Thu nhập từ đầu tư gián tiếp
• Thu nhâp khác
Tuy nhiên, tuỳ theo việc lựa chọn mô hình đánh thuế và chính sách củatừng nước trong từng thời kỳ mà thái độ đánh thuế đối với từng loại thunhập nêu trên giữa các nước cũng không giống nhau, thậm chí trong mộtnước giữa các thời kỳ khác nhau cũng không giống nhau
Hiện nay, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở nước ta khôngthực hiện phân loại thu nhập chịu thuế theo từng nguồn mà dựa theo tínhchất ổn định, đều đặn của thu nhập phát sinh, có nghĩa là thu nhập đượcphân thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên, theo
đó, mỗi loại thu nhập phải chịu thuế theo cơ chế riêng Theo kinh nghiệmcủa các nước cho thấy chúng ta nên xác định đánh thuế theo từng nguồnhình thành thu nhập chịu thuế
1.4.5 Về thuế suất thuế thu nhập cá nhân
Nhìn chung các nước đều áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần gồm cácbậc Nếu áp dụng biểu thuế ít bậc sẽ thì biểu thuế sẽ gọn và đơn giản nhưngmức độ điều tiết thu nhập lại không hợp lý Ngược lại, nếu áp dụng biểuthuế nhiều bậc sẽ đảm bảo tính chất phân phối công bằng hơn nhưng việctính thuế lại trở nên phức tạp Hiện nay biểu thuế của các nước thường đượcxây dựng ở mức 4 – 8 bậc Điều này cũng hoàn toàn phù hợp khi vận dụngvào Việt Nam sao cho biểu thuế vừa đơn giản để phù hợp trình độ ngườidân, đồng thời vừa đảm bảo sự phân phối tương đối công bằng
Có nước quy định các chế độ miễn trừ cho bản thân người nộp thuế (vợhoặc chồng, bố mẹ, con cái phải nuôi dưỡng) nhưng có nước lại áp dụngbiểu tính thuế từ đồng thu nhập đầu tiên để người nộp thuế thấy rõ nghĩa vụ
và trách nhiệm công dân cuả mình Ở nhiều nước trong biểu thuế lại quyđịnh miễn trừ cho một mức thu nhập nhất định coi như mức khởi điểm tính
Trang 35thuế Những cách này được áp dụng tùy thuộc vào điều kiện và trình độquản lý của từng nước Tôi cho rằng, để đảm bảo công bằng trong điều tiếtthu nhập của các tầng lớp dân cư, chúng ta nên nghiên cứu qui định biểuthuế suất với mức khởi điểm chịu thuế (xem như khoản chiết trừ của cá nhâncủa người nộp thuế) và khoản chiết trừ gia cảnh hợp lý Tuy áp dụng “mứckhởi điểm chịu thuế” là không công bằng như trường hợp khấu trừ theo chiphí thực tế, nhưng để khấu trừ các chi phí thực tế này thì phải có chứng từhợp lệ, chứng minh được và các giao dịch phải được thực hiện qua ngânhàng Đối với điều kiện nước ta hiện nay và trong những năm sắp tới thìkhông thể thực hiện phương pháp này
1.5 Kết luận chương 1
Thuế là công cụ tài chính hữu hiệu và tất yếu của mọi Nhà nước Thuếhuy động một phần thu nhập của xã hội để tạo nguồn thu chủ yếu cho Nhànước nhằm đảm bảo chi tiêu và thực hiện chức năng của Nhà nước Thuế đãtạo nguồn sức mạnh vật chất cho sự hoạt động của Nhà nước và tham giađiều chỉnh vĩ mô nền kinh tế Do vậy, khi hoạch định chính sách thuế, Nhànước luôn chú trọng đến các tiêu thức khoa học và xây dựng nội dung điềutiết của luật thuế phù hợp với điều kiện, đặt điểm và mức độ phát triển xãhội mới để có thể đưa thuế vào thực tiễn cuộc sống có kết quả tốt
Trong chương thứ nhất của luận văn đã tập trung phân tích một cách cơbản một số vấn đề thuộc nội dung lý luận về thuế, thuế TNCN, trong đó đisâu phân tích khái niệm, sự cần thiết xây dựng chính sách thuế TNCN, vaitrò thuế TNCN, các nguyên tắc và phương pháp đánh thuế TNCN, cơ sở xâydựng chính sách thuế TNCN Đây chính là những điểm cốt lõi làm cơ sở lýluận để phân tích những kinh nghiệm thực tế một cách có chọn lọc việc ápdụng chính sách thuế TNCN của một số nước trên thế giới, qua đó rút ranhững vấn đề cơ bản có thể áp dụng vào Việt Nam Đồng thời những lý luậntrên cũng là cơ sở để nghiên cứu, đánh giá thực trạng chính sách thuế TNCN
Trang 36Việt Nam và xây dựng các giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM
Như giới thiệu ở phần mở đầu, nhằm giảm thiểu một trong những
khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường đó là ngăn cách giữa giàu nghèo trong xã hội Thực hiện công bằng xã hội bằng thuế, điều hòa thu
nhập trong nền kinh tế thị trường, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam ban hành Pháp lệnh thuế Thu nhập đối với người có thunhập cao vào ngày 27/12/1990, và có hiệu lực thi hành từ 01/04/1991 Quahơn 15 năm thực thi, Quốc hội nước ta đã trải qua 5 lần sửa đổi, thay thếPháp lệnh năm 1990 bằng những pháp lệnh mới phù hợp hơn với điều kiện
và hoàn cảnh xã hội Cụ thể là các lần thay đổi như sau:
- Pháp lệnh sửa đổi về Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngàyban hành ngày 19/05/1994, có hiệu lực từ ngày 01/06/1994
- Pháp lệnh số 01/1997/PL- UBTVQH9 ngày 06/02/1997, có hiệu lực từngày 06/02/1997 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao năm 1994
Trang 37- Pháp lệnh số 14/1999/PL- UBTVQH10 ngày 30/06/1999, sửa đổi một
số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Pháplệnh này có hiệu lực từ ngày 01/07/1999
- Pháp lệnh số 35/2001/PL- UBTVQH10 ngày 19/05/2001, có hiệu lựcngày 01/07/2001, thay thế Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thunhập cao ngày 19/05/1994, đã được sửa đổi theo Pháp lệnh sửa đổi một sốđiều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày06/02/1997 và Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhậpđối với người có thu nhập cao ngày 30/06/1999
- Và gần đây nhất là Pháp lệnh số 14/2004/PL- UBTVQH11 ngày24/03/2004, có hiệu lực ngày 01/07/2004 sửa đổi, bổ sung một số điều củaPháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thông qua ngày19/05/2001
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là hình thức của thuế Thunhập cá nhân, Do ở Việt Nam nền kinh tế đang phát triển, đại đa số ngườidân chưa quen với sắc thuế này, năng suất lao động chưa cao, thu nhập bìnhquân đầu người còn thấp nên thuế Thu nhập cá nhân được vận dụng vàoViệt Nam bước đầu biểu hiện là thuế Thu nhập đối với người có thu nhậpcao và là tiền đề để xây dựng chính sách thuế Thu nhập cá nhân Vì vậy,trong chương này – phần thực trạng áp dụng chính sách thuế Thu nhập cánhân ở Việt Nam sẽ nói đến thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao.Sau đây là nội dung chính của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thunhập cao hiện hành ở nước ta
2.1 Nội dung cơ bản của thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao (TNĐVNCTNC) hiện hành ở Việt Nam (gọi tắc là thuế Thu nhập cá nhân – TNCN)
2.1.1 Đối tượng nộp thuế TNĐVNCTNC
Trang 38- Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nướcngoài có thu nhập;
- Cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định
cư không thời hạn tại Việt Nam có thu nhập (sau đây gọi là cá nhân khácđịnh cư tại Việt Nam);
- Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, các văn phòng đại diện, các chi nhánh công
ty nước ngoài tại Việt Nam; các cá nhân hành nghề độc lập tại Việt Nam
2.1.2 Căn cứ và phương pháp tính thuế
Căn cứ tính thuế TNĐVNCTNC là thu nhập chịu thuế và thuế suất 2.1.2.1 Thu nhập chịu thuế
a) Thu nhập thường xuyên chịu thuế
a1 ) Các khoản được xem là thu nhập thường xuyên chịu thuế
- Các khoản thu nhập dưới các hình thức tiền lương, tiền công, tiềnthù lao, bao gồm cả tiền lương làm thêm giờ, lương ca 3, lương tháng thứ 13(nếu có); tiền phụ cấp; tiền trợ cấp thay lương nhận từ quỹ bảo hiểm xã hội;tiền ăn trưa, ăn giữa ca (nếu nhận bằng tiền);
- Tiền thưởng tháng, quý, năm, thưởng đột xuất nhân dịp ngày lễ, tết,ngày thành lập ngành, thưởng từ các nguồn, dưới các hình thức tiền hoặchiện vật;
- Thu nhập do tham gia dự án, hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị,hội đồng quản lý, hội đồng doanh nghiệp;
Trang 39- Tiền bản quyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu, tác phẩm; thu nhập
về tiền nhuận bút;
- Các khoản thu nhập của các cá nhân không thuộc đối tượng nộp thuếthu nhập doanh nghiệp như: thu nhập từ dịch vụ khoa học, kỹ thuật, dịch vụtin học, dịch vụ tư vấn, thiết kế, kiến trúc, đào tạo; hoạt động biểu diễn, tổchức biểu diễn; quảng cáo; hoạt động thể dục thể thao; dịch vụ đại lý; thunhập từ hoa hồng môi giới; dịch vụ khác;
- Các khoản thu nhập không tính trong tiền lương, tiền công được chitrả hộ như tiền nhà, điện, nước; riêng tiền nhà tính theo số thực tế chi trả hộnhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế
- Các khoản thu nhập khác mà cá nhân được hưởng từ cơ quan chitrả thu nhập
a2 ) Xác định thu nhập thường xuyên chịu thuế
- Đối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam, thunhập thường xuyên chịu thuế là số tiền của từng cá nhân thực nhận tính bìnhquân tháng trong năm trên 5 triệu đồng
Riêng đối với ca sỹ như diễn viên thanh nhạc biểu diễn các loại hìnhnghệ thuật ca-nhạc kịch, cải lương, tuồng, chèo, dân ca; nghệ sỹ xiếc, múa;cầu thủ bóng đá; vận động viên chuyên nghiệp có xác nhận của cơ quanquản lý Nhà nước chuyên ngành, được trừ 25% thu nhập khi xác định thunhập chịu thuế
- Đối với người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam, thu nhậpthường xuyên chịu thuế là tổng số thu nhập phát sinh tại Việt Nam và thunhập phát sinh tại nước ngoài, được tính bình quân tháng trong năm trên 8triệu đồng
Trang 40- Đối với người nước ngoài được coi là không cư trú tại Việt Nam, thunhập chịu thuế là tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơinhận thu nhập ở Việt Nam hay ở nước ngoài.
Người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam từ
183 ngày trở lên tính cho 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam; được coi
là không cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam dưới 183 ngày
b) Thu nhập không thường xuyên chịu thuế
b1 ) Các khoản được xem là thu nhập không thường xuyên chịu thuế
- Thu nhập về chuyển giao công nghệ (trừ trường hợp biếu, tặng) baogồm:
+ Chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp: sáng chế, giải pháphữu ích, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi, xuất xứ hàng hoá, thiết kế bố trímạch tích hợp bán dẫn và nhãn hiệu hàng hóa đang trong thời hạn đượcpháp luật Việt Nam bảo hộ và được phép chuyển giao
+ Chuyển giao các bí quyết về công nghệ, kiến thức dưới dạng phương
án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, tài liệu thiết kế
sơ bộ và thiết kế kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹthuật, phần mềm máy tính (được chuyển giao theo Hợp đồng chuyển giaocông nghệ), thông tin dữ liệu về công nghệ chuyển giao có kèm hoặc khôngkèm theo máy móc thiết bị
+ Chuyển giao các giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ….
- Trúng thưởng xổ số dưới các hình thức, kể cả trúng thưởng khuyếnmại
b2 ) Xác định thu nhập không thường xuyên chịu thuế