Sau những thành tựu lớn từ các cuộc phát kiến địa lý của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha cuối thế kỉ XV như: cuộc thám hiểm về đi về phía Đông qua mũi Hảo Vọng đến Ấn Độ và Trung Quốc của Vasc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
NGUỒN BẠC TÂN THẾ GIỚI VÀ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC (1571-1700)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
NGUỒN BẠC TÂN THẾ GIỚI VÀ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC (1571-1700)
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu và các nguồn tài liệu 5
2.1 Nguồn tài liệu bằng tiếng Việt 6
2.2 Nguồn tài liệu ngoại văn 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Đóng góp của Luận văn 12
6 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG I: TRUNG QUỐC VÀ MANILA (PHILIPPINE) TRONG BỐI CẢNH ĐÔNG Á THẾ KỶ XVI - XVII 14
1.1 Đông Á thế kỉ XVI - XVII 14
1.2 Trung Quốc trong bối cảnh Đông Á thế kỉ XVI - XVII 16
1.2.1 Trung Quốc thế kỉ XVI - XVII 16
1.2.2 Về một số chính sách thương mại của triều Minh đến cuối thế kỷ XVI 17
1.2.3 Tuyến thương mại Trung Quốc - Luzon trước 1571 22
1.3 Sự ra đời của Manila (Philippine) thuộc Tây Ban Nha năm 1571 25
1.3.1 Quá trình thâm nhập Đông Á của Tây Ban Nha đầu thế kỉ XVI 25
1.3.2 Quá trình chinh phục Philippine của người Tây Ban Nha 26
1.3.3 Chính quyền thực dân Tây Ban Nha tại Manila 29
1.3.4 Tuyến thương mại Manila - Acapulco 31
CHƯƠNG II: NGUỒN BẠC TÂN THẾ GIỚI VÀO TRUNG QUỐC (1571 - 1700) 34
2.1 Nguồn bạc Tân Thế giới vào Trung Quốc (1571 - 1640) 34
2.1.1 Tình hình khai thác bạc ở Tân Thế giới (1571 - 1640) 34
Trang 42.1.2 Dòng bạc Tân Thế giới đến thị trường Trung Quốc (1571 - 1640) 40
2.2 Nguồn bạc Tân Thế giới vào Trung Quốc (1640 - 1700) 52
2.2.1 Tình hình khai thác bạc ở Tân Thế giới (1640 - 1700) 52
2.2.2 Dòng bạc Tân Thế giới đến thị trường Trung Quốc (1640 - 1700) 55
2.3 Bạc Tân Thế giới qua Manila đến một số thị trường khác (1571 - 1700) 58
2.3.1 Nhật Bản 58
2.3.2 Đông Nam Á 61
2.4 Nguồn bạc Tân Thế giới vào Trung Quốc trong tương quan với các nguồn bạc khác 64
CHƯƠNG III: MỘT SỐ TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN BẠC TÂN THẾ GIỚI ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC (1571 - 1700) 68
3.1 Tác động lên hệ thống tiền tệ 68
3.3 Tác động đến cơ cấu các ngành nghề 75
3.4 Tác động đến dân số 78
3.5 Tác động đến sự phân hóa đời sống xã hội 82
3.6 Một số nhân tố mới từ Tân Thế giới vào Trung Quốc 85
3.6.1 Sự du nhập của cây khoai lang 85
3.6.2 Sự du nhập của cây thuốc lá 87
3.6.3 Sự du nhập của các yếu tố khác 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 105
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng quý báu của thầy, gia đình và bạn bè - những người mà tôi tin chắc rằng những lời này không thể nói hết được lòng biết ơn sâu sắc của tôi đối với họ
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Nguyễn Văn Kim - Chủ nhiệm Bộ môn cùng các thầy, cô trong Bộ môn Lịch sử Thế giới, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã Hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nâng đỡ và bồi dưỡng tôi trong suốt quá trình học tập, trưởng thành
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Hoàng Anh Tuấn, người thầy đã hướng dẫn
và nâng đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu Thầy không chỉ trực tiếp giúp tôi hoàn thành luận văn, mà còn là người truyền cho tôi những ý tưởng nghiên cứu và lòng đam mê khoa học Tôi học được ở thầy một thái độ làm việc nghiêm túc, cẩn thận với tinh thần trách nhiệm cao Sự giúp đỡ tận tình của thầy đã giúp tôi thêm tự tin và quyết tâm để hoàn thành đề tài này Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng nhất của một học trò đã được thầy dìu dắt!
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới TS Dương Văn Huy và anh Lưu Thanh Nguyên đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong cả quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu, người luôn hỗ trợ và giúp đỡ tôi tháo gỡ nhiều khúc mắc trong quá trình xử lý tư liệu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè - những người
đã không ngừng giúp đỡ, cổ vũ cho tôi thêm lòng quyết tâm hoàn thành nghiên cứu trong suốt thời gian qua
Cuối cùng, tôi xin cam đoan mọi nội dung trong đề tài là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi Vì vậy tôi xin chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả của luận văn!
Hà Nội, Ngày 15 tháng 05 năm 2014
Học Viên
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những thập niên gần đây, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá là một trung tâm có nền kinh tế phát triển vào loại năng động nhất của thế giới Với xu thế hợp tác, trao đổi thương mại mang tính chất quốc tế, các quốc gia trong khu vực đã nhanh chóng thiết lập một môi trường hợp tác chặt chẽ và là một
bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế toàn cầu Điều đó thể hiện trong các mặt hợp tác đa dạng giữa các nước khu vực Châu Á nói chung và các quốc gia thuộc Đông Á nói riêng Khi các tổ chức, diễn đàn kinh tế, thương mại lớn như ASEAN, APEC, ASEM1… lần lượt được thành lập, mối liên kết giữa nước trong khu vực Đông Nam Á với Trung Quốc đã ngày càng được củng cố.2 Những biểu hiện trên đã góp phần thúc đẩy nhanh chóng mức độ tăng trưởng kinh tế cũng như sự lớn mạnh trên toàn thể khu vực Có thể nói rằng, một yếu tố vô cùng quan trọng giúp thúc đẩy quá trình hợp tác đó chính là xuất phát từ truyền thống giao lưu trao đổi kinh tế, văn hóa giữa các nước với nhau
Xuất phát từ cơ sở đó, nhiều chuyên gia nghiên cứu lịch sử đặc biệt quan tâm tới giai đoạn từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII, thời điểm đánh dấu sự phát triển “bùng nổ” của thương mại liên lục địa Sau những thành tựu lớn từ các cuộc phát kiến địa
lý của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha cuối thế kỉ XV như: cuộc thám hiểm về đi về phía Đông qua mũi Hảo Vọng đến Ấn Độ và Trung Quốc của Vasco de Garma (1498), cuộc thám hiểm về phía Tây của Columbus đã khám phá ra châu Mỹ (1492)
và kế tiếp là việc thành lập Mexico (1519), hành trình khám phá một vòng trái đất của Magenllan (1519-1522), khoảng cách giữa các châu lục được thu hẹp lại và mở
ra một kỷ nguyên thương mại trong lịch sử thế giới Tân lục địa với nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng dồi dào phong phú trong lúc bấy giờ đóng vai trò là một mảnh ghép vô cùng quan trọng Bản thân khu vực Đông Á, ngay từ trước đó, sớm đã diễn ra các hoạt động trao đổi thương mại sôi động Nhưng chỉ từ sau năm
1 ASEAN: Asociation of South East Asia, APEC: The Asia – Pacific Economic Cooperation, ASEM: The Asia Eroupe Meeting
Trang 71500, cùng với sự xuất hiện của những tuyến hàng hải phương Tây, mạng lưới trao đổi hàng hóa mang tính chất xuyên đại dương mới chính thức được hình thành và
mở đầu cho một giai đoạn thịnh vượng kéo dài tới hầu khắp các quốc gia trong và ngoài Đông Á
Thế kỉ XVI cũng đánh dấu một sự chuyển biến mạnh mẽ trong nền kinh tế Trung Quốc với khởi điểm từ sự thay đổi trong hệ thống tiền tệ Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhu cầu đối với đồng bạc dần trở nên ngày một cấp thiết trong các hoạt động giao thương thời Minh (1368 - 1644) và sau đó là thời Thanh (1644 - 1912) Hệ quả, bạc liên tục được tập trung và “chảy” vào một nền kinh tế lớn duy nhất đó là Trung Quốc với lưu lượng tăng dần trong suốt giai đoạn cận đại sơ kỳ Cùng lúc này, tại Tây Ban Nha thông qua việc sở hữu một trữ lượng khổng lồ bạc từ các mỏ khai thác ở Tân Thế giới, các thương thuyền lớn đến
từ châu Âu đã đưa bạc đi đến mọi thị trường, đặc biệt là đến Châu Á nói chung và Trung Quốc nói riêng Ngoài ra, bên cạnh những loại hình tiền tệ khác như tiền vàng, tiền đồng và tiền vỏ sò3 cũng được lưu thông như một loại hình tiền tệ ở những khu vực khác nhau của thế giới Tuy nhiên, xét trên mặt bằng chung, loại hình tiền kim loại bạc vẫn chiếm vị trí chủ đạo và là nhân tố kích thích cho sự phát triển thương mại toàn cầu Bởi vậy, việc lưu hành bạc, không thể phủ nhận, chính là một hiện tượng nổi bật và quan trọng khi nghiên cứu về lịch sử kinh tế, thương mại thế giới nói chung và đặc biệt là khu vực Đông Á nói riêng
Bắt đầu từ năm 1571, người Tây Ban Nha đã tiến hành xây dựng cơ sở thuộc địa của mình tại khu vực Đông Á là Manila (Philippine) Manila, với vai trò của một cảng thị quốc tế là thủ phủ quan trọng cho dòng bạc Tân Thế giới cập bến Từ đó, bạc được phân phối đi khắp các quốc gia trong khu vực Đông Á và chủ yếu là Trung Quốc Có thể nói, Manila trong thời gian này đã mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nền thương mại liên lục địa Từ giữa thế kỉ XVI trở đi, một dòng chảy bạc
từ châu Mỹ đã đi qua Manila về Trung Quốc một cách liên tục và mạnh mẽ
Trang 8Hơn thế nữa, dòng chảy bạc từ châu Mỹ đến với châu Á đã kéo theo nhiều tác động lên bản thân nền thuộc địa duy nhất của Tây Ban Nha là Philippine và Trung Quốc - điểm đến cuối cùng của các dòng bạctừ giữa thế kỉXVI cho đến những năm cuối thế kỷ XVII.4
Tóm lại, nguồn bạc Tân Thế giới qua Manila vào khu vực cũng như những tác động của nó đối với nền kinh tế - xã hội Trung Quốc là một hiện tượng đặc thù cần được nghiên cứu và xem xét cụ thể Đặc biệt là ở tình hình lưu chuyển của đồng bạc
ở Manila cũng như vị trí của nó đối với nền kinh tế - xã hội Trung Quốc thế kỉ XVI
- XVII Đề tài: Nguồn bạc Tân Thế giới và chuyển biến kinh tế - xã hội Trung
Quốc (1571 - 1700) hướng đến mục tiêu làm sáng tỏ bước đầu những vấn đề lịch sử
nói trên Trên cơ sở tập hợp các nguồn tư liệu trong và ngoài nước, người viết đã tập trung phân tích các dữ liệu nhằm đưa ra một cái nhìn tương đối toàn cảnh về mối liên hệ giữa hai phần Tân Thế giới và Cựu Thế giới Từ đó, làm rõ quá trình thâm nhập của dòng bạc xuyên Thái Bình Dương vào thị trường Trung Quốc ra sao? Vai trò của người Tây Ban Nha trong quá trình đưa dòng bạc tiếp cận tới nền kinh tế của Đông Á nói chung và Trung Quốc nói riêng? Cùng với đó, bạc đã có những tác động nào đến quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội Trung Quốc? Ý nghĩa, tác động của nhân tố Tây Ban Nha cũng như dòng chảy bạc trong mạng lưới thương mại Đông Á là như thế nào?
2 Tình hình nghiên cứu và các nguồn tài liệu
Cho tới nay, liên quan tới vấn đề “nguồn bạc Tân Thế giới” tại khu vực Đông
Á, đã có khá nhiều nhà sử học, kinh tế học nổi tiếng đề cập và phân tích về vai trò, ảnh hưởng của đồng bạc nói chung đối với nền kinh tế thế giới thế kỉ XVI - XVII Ngoài ra, khá nhiều công trình nghiên cứu về vị thế của thương cảng Manila (Philippine) trong mạng lưới thương mại Đông Á cũng đã được công bố Tuy nhiên, bản thân người viết nhận thấy rằng đa phần các công trình trên đều là những nhận định đơn lẻ chưa có tính thống nhất Đặc biệt là trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt
4 Từ dùng của Dennis O Flynn và Arturo Giraldez trong các công trình khảo cứu về lưu lượng dòng bạc qua Manila ồ ạt đổ về thị trường cuối cùng là Trung Quốc từ năm 1571 đến nửa đầu thế kỷ XVIII [59], [64] và [31]
Trang 9Nam hiện nay, không nhiều đề tài nghiên cứu tập trung tới lịch sử Philippine cũng như về hiện tượng bạc được vận chuyển từ Tân Thế giới qua Manila vào khu vực Đông Á hay Trung Quốc Bởi vậy, nhằm đem đến một cái nhìn tổng quát nhất xung quanh lịch sử nghiên cứu của vấn đề, người viết đã phân loại các nguồn tư liệu, những công trình nghiên cứu đã từng công bố bao gồm: những nguồn tài liệu được viết bằng tiếng Việt, những nguồn tài liệu ngoại văn như tài liệu tiếng Anh, tiếng Trung và tiếng Nhật
2.1 Nguồn tài liệu bằng tiếng Việt
Cho đến này, tại Việt Nam chưa có một tài liệu chính thức hay một nghiên cứu mang tính chuyên đề về hiện tượng nguồn bạc lưu chuyển từ Châu Mỹ qua Manila sang khu vực Đông Á Một số bài viết mới chỉ mang tính chất khởi thảo, tìm hiểu khái quát, sơ lược về bạc,nếu có thì đa phần cũng chỉ là những công trình nghiên cứu có một phần liên quan đến dòng chảy bạc, hoặc đề cập hết sức vắn tắt đến dòng chảy bạc Tân Thế giới qua Manila vào Đông Á tiêu biểu như “Philippine và Toàn cầu hóa lần đầu tiên” của tác giả Arturo Giraldez [6] Trong bài viết này, tác giả đã đem đến một cái nhìn tương đối mới về sự xuất hiện và tác động của nguồn bạc Tân Thế giới đối với quá trình toàn cầu hóa thế kỉ XVI - XVII Tuy nhiên, do giới hạn
về dung lượng nên bài viết mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra góc độ tiếp cận mà chưa trình bày rõ tình hình của dòng bạc xuyên Thái Bình Dương qua từng thời kỳ hay những ảnh hưởng chính yếu mà nó đem lại
Hai bài viết của tác giả Dương Văn Huy gồm: “Thương cảng Manila (Philippine) thế kỉ XVII” [5] và “Những mối liên hệ thương mại giữa Philippine với khu vực Đông Á thế kỉ XVII” [2] lại dành nhiều sự quan tâm đến quá trình dòng chảy bạc vào Manila và cách thức dòng bạc được phân phối tới các thị trường trong khu vực Trong hai bài viết trên, tác giả cũng đã đưa ra những cái nhìn sơ lược về mối quan hệ giao thương giữa Manila và Trung Quốc cùng những hệ quả mà nó đem lại cho cả hai nền kinh tế Tuy nhiên, do mới chỉ là ở quy mô bài nghiên cứu nên tác giả chỉ cung cấp những quan điểm và cái nhìn chung nhất về tình hình lưu hành đồng bạc Tân Thế giới mà chưa nhận định được những tác động mà dòng bạc
đó đem lại cho nền kinh tế nói chung
Trang 10Công trình “Quan hệ Nhật Bản - Philippine thế kỉ XVI–XVII”của tác giả Nguyễn Văn Kim giúp phân tích cụ thể về tình hình quan hệ kinh tế, ngoại giao giữa Nhật Bản và Philippine những năm đầu thế kỉ XVII [15] Cuốn sách chuyên
khảo Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỉ XV - XVII của tác giả cũng
cung cấp khá nhiều thông tin sơ lược liên quan tới tình hình buôn bán bạc giữa các thương nhân Nhật Bản với Manila (Philippine) từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII [16] Công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Anh Tuấn về “Mạng lưới thương mại nội Á và bang giao Hà Lan - Đại Việt (1601 - 1638)” tuy không nhắc nhiều đến thương mại Manila nhưng đã đưa ra những thí dụ cụ thể về hoạt động của thương mại, những mối bang giao trao đổi qua lại giữa một bên là lực lượng thương nhân
phương Tây và một bên là quốc gia cụ thể là Đại Việt [9] Ngoài ra, cuốn sách: Tư
liệu các Công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh về Kẻ Chợ - Đàng Ngoài thế kỷ XVII của
tác giả cũng đem đến một cái nhìn cụ thể về sự xâm nhập của phương Tây đối với khu vực Đông Á [8]
Trong cuốn Thương cảng Vân Đồn, lịch sử, tiềm năng kinh tế và các mối giao
lưu văn hóa, bài viết của tác giả Lý Kim Minh với tựa đề “Sự hình thành và phát
triển của mậu dịch quốc tế khu vực biển Đông Á đầu thế kỉ XVII” mô tả tình hình hoạt động giao thương của các thương nhân ở các cảng thị nam Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á Đặc biệt, trong công trình nghiên cứu này, tác giả quan tâm đến hiện tượng buôn bán bạc trên các cảng thị lớn, trong đó, Manila được tác giả khẳng định là một điểm đến lí tưởng của Trung Quốc thế kỉ XVI - XVII Bên cạnh
đó, tác giả đôi chỗ đề cập đến những biến chuyển về mặt kinh tế xã hội Trung Quốc trong thời điểm dòng bạc chảy vào Trung Quốc nhưng không thực sự cụ thể [12] Trên đây là những nghiên cứu và các nguồn tư liệu nói chung, ngoài ra, người viết cũng quan tâm tới các nghiên cứu và những nguồn tư liệu mang tính chất nền tảng về lịch sử Đông Nam Á, lịch sử Trung Quốc, những nghiên cứu liên quan đến lịch sử thương mại khu vực, các mối giao lưu văn hóa chẳng hạn như: Nguyễn Văn Kim: “Quan hệ giao thương giữa các quốc gia Đông Á thế kỉ XVI - XVII” [17]; Trần Khánh: “Tiếp xúc, hội nhập kinh tế Đông Á - Đông Nam Á ven biển trong tiến
Trang 11trình lịch sử trong Đông Á - Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện tại” [22];
Lê Thanh Thủy: “Tiếp xúc và hội nhập thương mại ở Đông Nam Á từ thế kỉ XVI
đến thế kỉ XIX” [11]; Châu Thị Hải: “Vai trò kết nối của người Hoa trong hệ thống
thương mại Đông Nam Á thế kỉ XVI - XVII” [1]
2.2 Nguồn tài liệu ngoại văn
So với nguồn tài liệu tiếng Việt, có khá nhiều công trình nghiên cứu cũng như
tư liệu đề cập về hiện tượng dòng chảy của bạc từ Tân Thế giới đến Trung Quốc thế
kỉ XVI - XVII được viết bằng tiếng nước ngoài Nhiều bài viết tập trung phân tích những tác động của dòng bạc qua Manila tới nền kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia Đông Á, nhất là những bài nghiên cứu về chuyển biến kinh tế Trung Quốc dưới tác nhân của đồng bạc
Công trình nghiên cứu đồ sộ: The Philippine Islands của hai tác giả Emma
Helen Blair và James Alexandre Robertson (1903 - 1909)5 gồm 55 tập, mô tả về mọi khía cạnh từ kinh tế - xã hội, văn hóa - tôn giáo cùng các chính sách cụ thể mà chính quyền Tây Ban Nha đã áp đặt lên thuộc địa Philippine từ khi thành lập cho đến đầu thế kỉ XIX Đây thực chất là một công trình nghiên cứu lớn mô tả toàn cảnh lịch sử của người Tây Ban Nha trên mảnh đất Philippine [35], [36], [37]
Công trình The Manila Galleon Trade của tác giả William Lytie Schurz
lạiquan tâm đến hoạt động thương mại của thương thuyền Manila trong suốt thời kì bùng nổ thương mại thế giới Trong tác phẩm này, W.Schurz đã mô tả một cách kĩ lưỡng tình hình vận chuyển bạc từ châu Mỹ đến Manila thông qua việc thống kê số lượng các thuyền buồm lớn của người Tây Ban Nha đến từ cảng Acapulco (thuộc Mexico ngày nay) xuyên Thái Bình Dương để đến Manila (Philippine) Tuy nhiên, bên cạnh việc minh chứng cho sự tồn tại của dòng bạc Tân Thế giới đối với thế giới Đông Á truyền thống, tác giả không phân tích khía cạnh dòng bạc ảnh hưởng đến nền kinh tế Trung Quốc [102]
Trang 12Các công trình nghiên cứu của hai tác giả là Dennis O.Flynn và Arturo Giraldez như: “Cycles of Silver: Global Economic Unity through the Mid - Eighteenth Century” [64]; “Born Again: Globalization’s Sixteenth Century Origins (Asian/Global versus European Dynamics)” [63]; “Silk for Silver: Manila - Macao Trade in the XVII Century” [61]… đã cung cấp một góc nhìn lịch sử tương đối mới
mẻ về dòng chảy bạc ở Manila và những tác động của nó đối với hệ thống thương mại thế giới Tuy nhiên, do xuất phát từ các quan điểm phương Tây, cả hai nhà nghiên cứu không khai thác các nguồn tư liệu từ các quốc gia Đông Á và đặc biệt là Trung Quốc Vì vậy, các nhận định của hai tác giả đôi chỗ vẫn gây tranh cãi
Công trình nghiên cứu về lụa đổi lấy bạc Silk for Silver, Dutch - Vietnam
Relations 1637 - 1700 của tác giả Hoàng Anh Tuấn là một công trình nghiên cứu
tập trung về dòng chảy bạc và những tác động của nó tới nền kinh tế xã hội Việt Nam Tuy không đề cập nhiều đến hoạt động buôn bán bạc tại Manila nhưng cuốn sách trên giúp người viết có một cái nhìn tổng quát về mối quan hệ bang giao
thương mại giữa phương Đông với phương Tây trong thế kỉ XVII [75]
Hai cuốn sách, ReOrient: Global Economy in the Asian Age của Andre Gunder Frank [66], và Fountain of Fortune: Money and Monetary Policy in China,
1000 - 1700 của Richard Von Glahn [69] đóng góp những thông tin quan trọng giúp
lí giải những biến chuyển của nền kinh tế xã hội Trung Quốc dưới tác động của hệ
thống tiền tệ và mối quan hệ trao đổi hàng hóa với các quốc gia xung quanh
Người viết cũng dành sự chú ý đến những bài viết của nhiều tác giả trên các
tạp chí nghiên cứu uy tín của nước ngoài như The Philippine Studies, Journal of
Economic History, Journal of World History, The Economic Historical Review, The American Historical Review, The Hispanic American Historical Review, The Quarterly Journal of Economics …
Nhiều công trình và nguồn tài liệu vô cùng quan trọng khác được người viết thu thập, và tìm hiểu để hoàn thành luận văn của mình như: Victor Lierberman:
Strange Parallels, Mainland Mirrors Europe, Japan, China, South Asia and the Islands Southeast Asia in Global Context c.800 - 1830: Vol 2 [82]; Victor Purcell:
Trang 13The Chinese in Southeast Asia [93]; M.C Ricklefs (ed.): A new History of Southeast Asia [100]; Anthony Reid: Sojourners and Settlers: History of Southeast Asia and the Chines [98]…
Ngoài những nguồn tư liệu nói trên, một số công trình nghiên cứu của các học giả Trung Quốc và Nhật Bản cũng có nhiều nội dung liên quan đến đề tài Trong đó,
công trình nghiên cứu của tác giả Iwao Seiichi Nghiên cứu Lịch sử mậu dịch Châu
Ấn thuyền [77] và Nghiên cứu phố Nhật ở Nam Dương [78] đã cung cấp những
thông tin quan trọng về hoạt động giao thương giữa Trung Quốc và Nhật Bản với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á
Bên cạnh đó, các cuốn sách: Minh đại hải ngoại mậu dịch sử [85] và Trung
Quốc cổ đại hải ngoại mậu dịch sử [86] của tác giả Lý Kim Minh đã cung cấp một
cái nhìn khái quát về quá trình tiếp cận và giao thương của hai quốc gia có thế mạnh
về hải thương thế kỉ XVI - XVII Đặc biệt, tác giả đã lưu ý đến hiện tượng dòng chảy bạc về Trung Quốc trong suốt nửa sau thời nhà Minh cùng vai trò của dòng bạc đến từ Luzon (Manila) đối với nền kinh tế Trung Quốc Tuy nhiên, cũng tương
tự như các nguồn tài liệu bằng tiếng Anh, những công trình nghiên cứu kể trên chỉ phân tích trên cơ sở từ khu vực nhìn ra bên ngoài mà chưa có sự tổng hợp và gắn kết chặt chẽ giữa phương Đông truyền thống với một hệ thống thương mại mang tính chất toàn cầu
Bên cạnh các công trình nghiên cứu bằng tiếng Trung và tiếng Nhật của hai tác giả trên, người viết cũng tham khảo thêm các bài viết và những tư liệu quan
trọng khác như: Trần Kính Hòa: Người Hoa ở Philippine thế kỉ XVI [108]; Chen
Kun: “The Social Impact of the Monetization of Silver in Ming Dynasty” [49];
Quan Han Sheng: “Silver Production and Taxation during Ming Dynasty” [94]…
Tuy so sánh với lượng tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt, những nghiên cứu từ các tác giả Trung Quốc, Nhật Bản mà người viết khai thác được vẫn còn chiếm tỉ lệ nhỏ Nhưng trên quan điểm tập hợp tối đa tư liệu nhằm bảo đảm tính khách quan trong nghiên cứu sử học, người viết khai thác thông tin mà các tư liệu tiếng Trung - Nhật đem lại để phục vụ cho đề tài một cách hiệu quả
Trang 143 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài: Nguồn bạc Tân Thế giới và chuyển biến kinh tế - xã hội Trung
Quốc (1571 - 1700), người viết xác định nội dung cơ bản của luận văn tập trung vào
những diễn biến, lưu lượng và sự phát triển của dòng chảy bạc từ nơi sản xuất của
nó ở khu vực trung và Nam Mỹ (Mexico và Peru) qua Manila (Philippine) tới Trung Quốc Bên cạnh đó, để có cái nhìn toàn diện hơn, những nguồn bạc khác vào Đông
Á cũng được người viết tìm hiểu và sử dụng để đối chiếu so sánh với đối tượng
chính của đề tài
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết tập trung vào khoảng thời gian
và không gian xác định để làm nổi bật lên diễn biến, lưu lượng, tình hình vận chuyển và các đặc trưng của dòng bạc Như vậy, nguồn bạc Tân Thế giới tới châu Á được giới hạn trong khoảng thời gian là từ những thập niên cuối cùng của thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVII Cụ thể hơn, sự gia tăng về hoạt động buôn bán trao đổi mang tính chất xuyên Thái Bình Dương chính thức bắt đầu từ 1571 - thời điểm người Tây Ban Nha cho xây dựng thành phố Manila Hơn thế nữa, theo nhà sử học Anthony Reid, cũng từ giai đoạn này kỷ nguyên “Bùng nổ kinh tế” đã đạt đến đỉnh điểm, đánh dấu sự lan tỏa mạnh mẽ của dòng bạc đến tới từng trung tâm kinh tế lớn nhỏ trong khu vực.6 Không gian nghiên cứu của đề tài tập trung tại Manila - Philippine Đây là nơi tập kết của các con thuyền chở bạc Tây Ban Nha xuyên Thái Bình Dương cũng như là nơi phân phối chủ yếu bạc đến thị trường Trung Quốc
cũng như các cảng thị khác trong khu vực
Trong rất nhiều quốc gia ở Đông Á người viết cố gắng tìm hiểu những tác động điển hình của nguồn bạc đối với một số nền kinh tế xã hội Trong số những nước đó, người viết tập trung chủ yếu vào Trung Quốc như một thí dụ đặc trưng và tiêu biểu Trung Quốc trong thời gian này là “khách hàng lớn” và cũng là một “đầu mối lớn” của các quốc gia trong và ngoài khu vực Điều đó dẫn tới hệ quả là các dòng bạc từ khắp nơi trên thế giới đều đổ về nơi đây và từ đó kéo theo những tác
6
Theo quan điểm của tác giả Anthony Reid, giai đoạn bùng nổ kinh tế trong khu vực Đông Nam Á bắt đầu từ những thập niên đầu thế kỷ XVI khi người châu Âu bắt đầu xâm nhập vào biển Đông Nam Á và kết thúc vào thập niên 1680 Trong đó, thời kỳ được cho là giai đoạn bùng nổ của Kỷ nguyên thương mại tính từ thập niên
Trang 15động mạnh mẽ lên nền kinh tế cũng như xã hội Trung Quốc thế kỉ XVI - XVII Bởi vậy, người viết lựa chọn tìm hiểu Trung Quốc để rút ra được những vấn đề về
chuyển biến kinh tế, xã hội cơ bản dưới tác động của dòng chảy bạc
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài của luận văn đề cập đến Nguồn bạc Tân Thế giới và chuyển biến kinh
tế - xã hội Trung Quốc (1571 - 1700) vì vậy người viết cố gắng tìm hiểu nội dung
trên dưới góc nhìn lịch sử và khu vực học Từ lịch sử hình thành và phát triển của Manila (Philippine), lịch sử Trung Quốc, lịch sử phát triển thương mại của các nước khu vực Đông Á để tìm ra mối liên hệ với vấn đề mà người viết nghiên cứu Bởi đề tài đề cập đến vấn đề thương mại, trao đổi hàng hóa, các phương pháp thống kê số liệu, phân tích so sánh kết quả là những phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu Bên cạnh đó, để đảm bảo tính khoa học cho đề tài, người viết tuân thủ nghiêm cẩn theo những phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử như: phương pháp logic và phương pháp nghiên cứu lịch sử để tìm hiểu nội dung đề tài dựa trên từng giai đoạn phát triển khác nhau và các mối liên quan giữa các giai đoạn đó
5 Đóng góp của Luận văn
Luận văn góp phần phục dựng những nét chính trong bức tranh toàn cảnh về quá trình xâm nhập và tác động của dòng chảy bạc Tân Thế giới xuyên Thái Bình Dương vào khu vực Đông Á, từ đó làm nổi bật lên vai trò cũng như vị thế của nguồn bạc đối với bản thân nền kinh tế - xã hội Trung Quốc từ năm 1571 đến năm
1700 và những mối quan hệ với các quốc gia lân cận Hơn thế nữa, luận văn cung cấp một cái nhìn sơ lược về sự giao lưu, kết nối giữa hai mảng phương Đông và phương Tây trong giai đoạn cận đại sơ kỳ, vị thế của khu vực Đông Á trong hệ thống thương mại toàn cầu, vai trò của người Tây Ban Nha với tư cách là lực lượng
sở hữu nguồn bạc Bên cạnh đó, luận văn cũng bước đầu giới thiệu quá trình trao đổi các yếu tố mới như cây trồng, vật nuôi, những tri thức mới… giữa Tân Lục địa
và Trung Quốc trong giai đoạn này cũng như những tác động của chúng đối với sự phát triển chung của khu vực và thế giới
6 Kết cấu của luận văn
Bên cạnh các phần Mở đầu, Kết luận cấu trúc của luận văn bao gồm có ba
chương chính:
Trang 16Chương 1 Trung Quốc và Manila (Philippine) trong bối cảnh Đông Á thế
kỉ XVI - XVII
Diễn giải tình hình hoạt động của hệ thống thương mại nội vùng trong khu vực Đông Á trước thế kỉ XVI Bối cảnh nền kinh tế - xã hội Trung Quốc cùng những chính sách thay đổi hệ thống tiền tệ của nhà Minh và sau này là nhà Thanh Quá trình xâm nhập của người Tây Ban Nha tại khu vực Đông Á cùng sự ra đời của Manila (Philippine) năm 1571 Khái quát chung nhất về những mối liên hệ giao thương đầu tiên giữa chính quyền Tây Ban Nha tại Philippine và Trung Quốc giai đoạn này
Chương 2 Nguồn bạc Tân Thế giới vào Trung Quốc (1571 - 1700)
Mô tả tình hình hoạt động của các chuyến tàu chuyên chở bạc từ các mỏ khai thác tại trung và nam Mỹ đến với Manila (Philippine) từ năm 1571 đến năm 1700 Quá trình dòng bạc chảy về Trung Quốc được chia ra làm hai giai đoạn chính đó là:
1571 - 1640: thời kỳ dòng bạc được dồn về thị trường Trung Quốc một cách liên tục với số lượng ngày càng lớn, 1640 - 1700: thời kỳ suy thoái dần dần của dòng chảy bạc về Trung Quốc và khôi phục tạm thời trong những năm cuối thế kỉ XVII Bên cạnh đó, người viết tiến hành so sánh, đối chiếu nguồn bạc Tân Thế giới với các dòng chảy bạc lớn khác trong khu vực như: dòng chảy bạc Nhật, dòng chảy bạc từ châu Âu qua Ấn Độ Dương…
Chương 3 Tác động của bạc Tân Thế giới đến sự chuyển biến kinh tế - xã hội Trung Quốc (1571 - 1700)
Giải thích, phân tích các tác động của nguồn bạc Tân Thế giới đến quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội Trung Quốc trên một số khía cạnh chính: thay đổi về giá trị đồng bạc, thay đổi về mặt giá cả, hoạt động sản xuất, cơ cấu lao động Những chuyển biến cơ bản về mặt xã hội được thể hiện qua xu hướng đổi thay về
cơ cấu dân số, những nhu cầu xã hội, các yếu tố mới Đặc biệt, bên cạnh những chuyển biến cơ bản, quá trình du nhập các yếu tố mới từ Tân Thế giới vào Trung Quốc cũng được đề cập thông qua sự trao đổi về mặt cây trồng, vật nuôi cùng các nhận thức, khoa học mới
Trang 17CHƯƠNG 1 TRUNG QUỐC VÀ MANILA (PHILIPPINE) TRONG BỐI CẢNH ĐÔNG Á
THẾ KỶ XVI - XVII 1.1 Đông Á thế kỉ XVI - XVII
Trong các ghi chép lịch sử, từ thời kỳ cổ đại và trung đại, các nước thuộc khu vực Đông Á đã sớm hình thành các mối giao lưu kinh tế, chính trị và văn hóa Theo Geoff Wade, một “kỷ nguyên thương mại sớm”đã hình thành không chỉ riêng trong phạm vi các nước Đông Nam Á mà đã mở rộng ra toàn khu vực từ thế kỉ X [110, tr 221] Trong Đông Á, các mối quan hệ qua lại giữa Triều Tiên với Nhật Bản và vùng bắc Trung Quốc hay sự giao lưu giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á với các tỉnh ở phía nam Trung Hoa (Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, Phúc Kiến) đã diễn ra khá thường xuyên Có thể nói, trước khi có sự hiện diện của người phương Tây, khu vực Đông Á nói chung đã là một vùng kinh tế sôi động, là điểm gặp
gỡ của các nền văn minh lớn Và theo đó, các thành tựu về kinh tế, kĩ thuật, văn hóa giữa nền văn minh Trung Hoa - Ấn Độ và Tây Nam Á đã xác lập nên một mạng lưới giao thương thịnh vượng mang tính liên vùng và liên thế giới [71], [18]
Cùng với sự trao đổi thường xuyên với mật độ lớn của các yếu tố văn hóa, tôn giáo, những liên hệ kinh tế trong khu vực đã đem nguồn của cải dồi dào đến với từng quốc gia Những huyền thoại về các thể chế biển, được ghi nhận như Phù Nam (thế kỉ II - VII), Srivijaya (thế kỉ VII - XIII), Majapahit (thế kỉXIII - XVII) và Malacca (thế kỉ 1400 - 1511) Hầu hết, những thể chế này đều đặc biệt hùng mạnh
và có nền kinh tế phát triển rực rỡ Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa trong nước và quốc tế, các cơ sở sản xuất, những khu thủ công nghiệp mang tính chuyên biệt đã sớm được hình thành Bên cạnh đó, quá trình trao đổi kĩ thuật sản xuất, kỹ năng chế tác đã tạo nên một lợi thế lớn cho các mặt hàng xuất khẩu và biến góp phần gia tăng giá trị kinh tế cho những sản phẩm này trên thị trường quốc tế
Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XV, một loạt các vương quốc lớn đã lâm vào khủng hoảng và dần dần suy yếu Angkor mất đi vị thế của một “đế chế tiểu vùng” từ khoảng thế kỉ XIII Đế chế Majapahit cũng sụp đổ vào năm 1520 khiến cho khu vực Java bị xé
Trang 18nhỏ thành các công quốc Hồi giáo riêng rẽ Tuy nhiên, cùng vào thời gian này, các lực lượng mới nổi lên thay thếnhư: sự ra đời của các tiểu quốc Hồi giáo ở Java, sự thành lập vương quốc Ayuthaya từ năm 1350, vương quốc Malacca từ năm 1400
Sau một thời kì có dấu hiệu đi xuống, quá trình buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa các nước trong khu vực từ giữa thế kỉ XV và nhất là từ thế kỉ XVI trở đi lại diễn ra ngày càng nhộn nhịp Đi cùng với sự xuất hiện của những thương nhân phương Tây như người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cho tới các Công ty Đông Ấn lớn EIC, VOC7, nền thương mại biển trong khu vực tiếp tục phát triển Trên cơ sở
đó, bên trong khu vực Đông Á đồng thời đã diễn những cuộc cạnh tranh gay gắt giữa chính các lực lượng thương mại châu Âu cũng như cạnh tranh giữa họ với những thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á Thông qua đó, sự xuất hiện của các nhóm thương nhân mới trên đã góp phần tích cực cho sự phát triển của mạng lưới giao thương Đông Nam Á và biến nơi đây trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế thế giới, như nhà nghiên cứu lịch sử nổi tiếng Anthony Reid nhận định: “Đông Nam Á giai đoạn 1500 - 1660 có thể được xem như là một vùng thương mại phát triển có mối quan hệ với các khu vực khác trên thế giới và với bản thân các vùng khác trong khu vực” [95, tr 476]
Những nỗ lực nhằm tăng cường sự kiểm soát nền giao thương được thực hiện trong thời kì này của chính quyền Trung ương tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Xiêm La… chính là minh chứng rõ ràng cho tình hình hoạt động buôn bán diễn ra hết sức sôi động bên trong khu vực Đông Bắc và Đông Nam châu Á Hệ thống các cảng thị lớn mang tính chất quốc tế được thiết lập Theo Leonard Blussé,
có khoảng 30 điểm đỗ trên tuyến phíaĐông và 125 cảng thị quốc tế nằm trên tuyến giao thương phía Tây trong vùng biển Đông Nam Á Như vậy, khu vực Đông Nam
Á vừa là điểm xuất phát, cửa ngõ và cũng là địa bàn trung chuyển của các tuyến giao thương mang tính khu vực, thậm chí liên châu lục Do vậy, các tuyến đường buôn bán nối liền từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam và ngược lại được mở rộng
đã đặt các quốc gia trong khu vực Đông Á từ thế kỉ XV vào trong “kỷ nguyên của
7 EIC: English India Company thành lập năm 1600
Trang 19thương mại” hay “kỷ nguyên của đại dương” của khu vực nói riêng và của thế giới nói chung [17, tr 22]
1.2 Trung Quốc trong bối cảnh Đông Á thế kỉ XVI - XVII
1.2.1 Trung Quốc thế kỉ XVI - XVII
Trước thế kỉ XVI, hoạt động giao thương giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Tây Á đã sớm hình thành và phát triển Vị thế và tầm ảnh hưởng của nền quân chủ tập quyền Trung Hoa, theo đó, sớm có ảnh hưởng và tác động đến các quốc gia lân cận Ngay từ thời nhà Đường (618 - 971) cho tới thời Tống (690 - 1279), nhà Nguyên (1206 - 1368) và nhà Minh (1368 - 1644), Trung Quốc sở hữu diện tích đất đai rộng lớn, nguồn nhân công dồi dào, trình độ tay nghề cao và kĩ thuật sản xuất vượt trội Cùng với đó là mạng lưới thương mại rộng lớn trên đất liền và trên biển, góp phầnđưa các sản phẩm của Trung Quốc đến với các thị trường trong khu vực và thế giới Tình hình buôn bán giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á diễn ra hết sức thường xuyên Từ thời nhà Minh, đồng tiền Trung Quốc sớm được lưu hành rộng rãi ở các khu vực cảng thị thuộc Java, Maluccu, Malaya [110, tr 227] Đặc biệt, sau sự kiện 7 lần thám hiểm xuống phía nam của Trịnh Hòa (1405 - 1433), chính quyền nhà Minh đã tăng cường tầm ảnh hưởng của mình lên hầu hết các quốc gia trong khu vực Uy quyền và vị thế của “thiên triều” ngày một được củng cố và trở thành một trong những yếu tố quan trọng giúp thúc đẩy và gia tăng thanh thế cho nền kinh tế - chính trị của Trung Quốc giai đoạn này [4, tr 76]
Bên cạnh đó, bắt đầu từ thế kỉ XV, sự xuất hiện của những đoàn thuyền buôn phương Tây tại vùng biển Đông Á đã góp phần tạo nên những biến chuyển sâu sắc Hoạt động giao thương không còn gói gọn trong phạm vi giữa Trung Quốc với các quốc gia cùng khu vực nữa; thay vào đó, một hệ thống thương mại mới mang tính liên châu lục, xuyên đại dương đã ra đời Lần đầu tiên trong lịch sử, người phương Tây có thể tiếp cận trực tiếp với nguồn sản xuất, tài nguyên dồi dào của thế giới phương Đông chứ không phải thông qua những lời kể mang đậm mầu sắc huyền thoại Đứng trước một thị trường rộng lớn đầy tiềm năng, các thương nhân châu Âu
Trang 20đã nhanh chóng thiết lập cho mình những chỗ đứng vững chắc trong khu vực Đông Nam Á cũng như với Trung Quốc Chỉ trong một thời gian ngắn, với sự thâm nhập của các lực lượng thương mại như người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha sau đó là Anh,
Hà Lan, Pháp… sự ổn định trong nền kinh tế xã hội phương Đông đã xuất hiện những đảo lộn nhất định [11, tr 54] Đặc biệt, với vị thế là nền kinh tế chủ đạo - điểm đầu và điểm cuối của mọi tuyến đường buôn bán, chính quyền nhà Minh đã
có những biện pháp thay đổi nhằm thích nghi với hoàn cảnh Có thể nói, nền tảng kinh tế của Trung Quốc đã trải qua một quá trình xây dựng và củng cố liên tục Đến thời Minh, cùng với sự phát triển rực rỡ của nền sản xuất và thương mại khu vực, sự hiện diện của các đoàn thương thuyền phương Tây đã góp phần đưa Trung Quốc hội nhập mạnh hơn vào “thời đại hoàng kim” của hệ thống thương mại châu
Á [17, tr 22]
1.2.2 Về một số chính sách thương mại của triều Minh đến cuối thế kỷ XVI
Ngay sau khi giành quyền lực từ nhà Nguyên, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (1368 - 1399) đã lập tức ban hành chính sách “Hải Cấm” (Hai - chin) để nghiêm cấm toàn bộ thuyền buôn đến các cảng thị trong khu vực Chính sách này được thực hiện một cách ráo riết với mục đích chính là ngăn ngừa sự quấy nhiễu của các nhóm hải tặc nguy hiểm đang hoạt động quanh vùng biển nam Trung Hoa
và bảo vệ nền vương quyền non trẻ Chu Nguyên Chương quy định cấm hoàn toàn không để bất kì một con thuyền từ đất liền đi ra biển [28, tr 347] Đồng thời, nhằm tăng cường uy thế của “thiên triều”, nhà Minh đã kết hợp chính sách Hải cấm với chính sách “triều cống” mà đối tượng hướng đến là các quốc gia “chư hầu” Bằng cách áp dụng này, nhà Minh đã nắm quyền chủ động cùng một lúc cả ngoại giao và ngoại thương.8 Cùng với đó, nền sản xuất hàng hóa không bị trì trệ vì tình trạng đóng cửa mà vẫn tiếp tục phát triển và trở thành thế độc quyền của Trung Quốc so
với các quốc gia khác trong khu vực
8
Bên cạnh chính sách Hải Cấm, nhà Minh đồng thời ban hành chính sách triều cống đối với các nước chư hầu Hàng năm, các nước chư hầu bên cạnh việc mang vật phẩm tiến cống thể hiện sự thần phục với triều đình nhà Minh thì họ có quyền đem theo các đoàn thương gia để buôn bán, trao đổi hàng hóa một cách công
Trang 21Không những vậy, cuộc viễn du của Trịnh Hòa tới khu vực Nam Dương và Ấn
Độ Dương diễn ra từ năm 1405 đến năm 1433 cho phép Trung Quốc phô diễn quyền lực của mình tới các chính quyền khác trong khu vực Hệ quả, nhiều quốc gia
đã cử các đoàn thuyền ngoại giao đến Trung Quốc với danh nghĩa “triều cống” đi kèm theo những mục tiêu kinh tế [4, tr, 76] Do vậy, tuy nhà Minh đã ban hành chính sách cấm biển nhưng những mối giao lưu, buôn bán với các quốc gia khu vực Đông Nam Á lại chưa khi nào bị gián đoạn [99, tr 6] Chỉ đến năm 1567, trước những biến động xảy ra trong nước với xu hướng suy thoái của hệ thống tiền tệ cũng như sự xâm nhập ồ ạt của các thương nhân phương Tây đến từ bên ngoài, chính quyền nhà Minh mới dần gỡ bỏ chính sách đóng cửa này Ban đầu, nhà nước chỉ cấp phép cho một số lượng thương thuyền nhất định đặc biệt là những nhóm thuyền buôn thuộc khu vực cảng phía nam như: Phúc Kiến, Quảng Đông… được hoạt động hợp pháp trên biển Đổi lại, các thương nhân phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ chính quyền sở tại [1, tr 279] Sau khi gỡ bỏ chính sách Hải Cấm vào năm
1567, số lượng thuyền buôn của Trung Quốc xuống các khu vực cảng thị phía nam tăng dần theo các năm từ 50 thuyền dần tăng lên 88 chiếc vào năm 1589 và tới 117 chiếc vào năm 1597 [96, tr 18 - 19] Hai tuyến thương mại chủ đạo giữa Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á thời bấy giờ được ghi nhận đó là: “Đông Dương châm lộ” ven theo con đường phía Đông từ Trung Quốc đến Việt Nam, qua Chăm
Pa đến Thái Lan và dừng chân tại eo Malacca Tuyến thứ hai là “Tây dương châm lộ” bắt đầu từ các cảng thị phía nam Trung Quốc, qua Luzon (chủ yếu tập trung ở Manila) tiếp nối Moluccas, sang Indonesia đến Malaya và điểm cuối cũng là Malacca [38] Tuy nhiên, phải đến thế kỉ XV trở đi, hai thương lộ mới phát triển rõ rệt và trở thành hai tuyến đường quan trọng nhất trong hệ thống thương mại Nội Á Ngoài chính sách Hải Cấm và triều cống, một thay đổi quan trọng cũng tác động trực tiếp đến nền kinh tế - xã hội Trung Quốc thế kỉ XV - XVI đó là cuộc cải cách thuế trên phạm vi toàn quốc “Nhất điều biên pháp” hay “Nhát roi duy nhất” (Single - Whip) được ban hành vào năm 1581 với những chế định cơ bản như: “Thứ nhất, các thứ thuế từ trước đến nay được thống nhất làm một không phân biệt kẻ
Trang 22giàu người nghèo tất cả đều phải trả bằng bạc; các mức thuế khác nhau cũng được quy ước thành bạc và thu thống nhất theo hộ gia đình, theo đơn vị quận, đơn vị tỉnh trong những thời gian cố định Bởi vì thuế được đánh thống nhất như vậy nên được gọi là “Nhất điều biên pháp” [51]
Về cơ bản, chính sách ra đời với mục đích khắc phục hậu quả từ cuộc khủng hoảng tiền tệ Trung Quốc khởi đầu từ thế kỉ XIV Sau hàng loạt các cuộc cải cách
về tiền dưới thời nhà Tống (960 - 1279) và được tiếp nối vào thời nhà Nguyên (1279 - 1368), bên cạnh loại hình tiền kim loại là đồng, vàng và bạc truyền thống Trung Quốc lần đầu tiên lưu hành loại hình tiền giấy để khỏa lấp tình trạng thiếu hụt ngân quặng cũng như áp đặt sự kiểm soát lên toàn bộ hệ thống kinh tế [110, tr 223 - 226] Ngay từ thời Hồng Vũ (1368 - 1398), tiền giấy được ban hành rộng rãi trong
buôn bán, trao đổi hàng hóa với tên gọi “Đại Minh thông bảo” (baochao) Tuy
nhiên, đến năm 1388, bên cạnh tiền giấy được lưu thông chính thức các loại hình tiền khác trong đó có vàng và bạc được người dân sử dụng tương đối rộng rãi Trước tình thế đó, chính quyền nhà Minh đã liên tiếp ban hành nhiều lệnh cấm sử dụng bạc và vàng làm phương tiện giao dịch trong các năm 1394 và 1397 Dù vậy, các thương nhân Trung Quốc vẫn ưa chuộng sử dụng bạc, vàng cùng các vật phẩm quý giá khác để trao đổi Một ghi chép về hoạt động kinh doanh của thương nhân Hàng Châu có đề cập đến việc sử dụng bạc như sau: “Thương nhân ở các quận Hàng Châu chỉ sử dụng vàng và bạc để giao dịch bất chấp hàng hóa có giá trị lớn tới đâu” [51] Sang đến thời Hoằng Trị (1488 - 1505), các giao dịch chủ yếu trên thị trường chuyển dịch sang xu hướng sử dụng bạc và vàng làm tiền tệ cơ bản, trong khi đó tiền giấy lại mất đi giá trị ban đầu Nếu như vào những năm 1438, có tới 67% các biên lai giao dịch sử dụng bạc làm phương tiện thanh toán thì đến những năm 1460 ước tính 90% giao dịch là có sự xuất hiện của bạc [52] Đến thời Gia Tĩnh (1522 - 1566), cục Kim Hoa Ngân Chế được thành lập cho phép lấy bạc làm phương thức đóng thuế cho triều đình bên cạnh các loại hình thuế nông phẩm khác như trà, muối… Năm Long Khánh thứ nhất (1567), Minh Mục Tông ban lệnh:
“phàm là mua bán các loại hàng hóa, bên cạnh sử dụng tiền đồng thì có thể sử dụng
Trang 23đồng bạc” đánh dấu lần đầu tiên chính quyền nhà Minh chính thức công nhận bạc là đồng tiền bản vị trong nền kinh tế [51] Thời Vạn Lịch (1573 - 1620), bằng chính sách cải cách nền kinh tế được cụ thể hóa trong hai biện pháp tái kê khai ruộng đất
“Kế mẫu chinh ngân” (đo đạc lại ruộng đất trên cơ sở đánh thuế bằng bạc) và thống nhất hình thức đánh thuế bằng bạc “Nhất điều biên pháp”, nền kinh tế Trung Quốc
đã có sự biến chuyển đáng kinh ngạc
Nguyên nhân cơ bản của xu hướng chuyển sang bạc trong hệ thống tiền tệ của nhà Minh bắt nguồn chính bản thân đồng tiền giấy Sau khi thay thế nhà Nguyên, chính quyền nhà Minh đã ngay lập tức áp dụng loại hình tiền giấy để kiểm soát các hoạt động buôn bán trong nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc phát hành ồ ạt vượt quá nhu cầu cần thiết của người dân nên loại hình tiền giấy đã mất đi tính ứng dụng và lòng tin của giới tiêu dùng Không những thế, việc thay đổi liên tục giá trị của đồng tiền theo các đời vua khác nhau khiến tiền giấy và tiền đồng không thể ổn định nền kinh tế Dân chúng không còn dựa vào các đồng tiền này để giao dịch mà thay vào đó, tìm đến những loại hình trao đổi cho phép đảm bảo giá trị của hàng hóa là vàng và bạc Tình trạng mất lòng tin vào đồng tiền giấy càng trở nên trầm trọng thêm khi vào năm 1390, triều Minh cho in lượng lớn tiền giấy lên tới
20 triệu quan trong khi lúc bấy giờ thị trường vẫn còn tồn đọng hơn 95 triệu quan chưa được tiêu thụ Hệ quả, từ 1 quan tiền giấy đổi được 250 tiền đồng thì tới năm
1394, tiền giấy bị rớt giá nhanh chóng và ngang bằng với giá trị của tiền đồng Cụ
thể, vào giai đoạn đầu nhà Minh một đơn vị bạc tương đương 5 quan tiền thông bảo
thì sang đến thời Tuyên Đức (1426 - 1435), một đơn vị bạc tương ứng với hơn 100
quan, ở thời Thành Hóa (1465 - 1478) hơn 1.000 quan thông bảo chỉ đổi được một
bạc [69, tr 72], [51] Tình trạng lạm phát tại Trung Quốc ngày một gia tăng dù chính quyền đưa ra nhiều biện pháp cứu vãn
Cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV, dưới áp lực của thị trường trong nước nhà Minh bắt buộc phải chấp nhận tình trạng người dân sử dụng song song nhiều loại tiền tệ khác nhau trong giao dịch thường nhật [51] Tới cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, tiền giấy đã chính thức biến mất khỏi thị trường Trung Quốc, mở ra thời kỳ
Trang 24phát triển kinh tế mới trên cơ sở sử dụng tiền bạc và tiền đồng trong hệ thống tiền
tệ Trên phương diện ngoại thương, tuy tiền đồng vẫn được lưu hành rộng rãi nhưng
do tính chất đặc thù của tiền đồng là chi phí khai thác thường vượt quá giá trị thực, loại hình thay đổi theo từng thời kỳ và không tạo ra nhiều lợi nhuận [68, tr 431], do
đó, từ thế kỉ XVI xu hướng chuyển đổi từ sử dụng tiền giấy sang bạc từ phạm vi dân gianđã lan tỏa và tác động lên chính quyền Trung ương Trung Quốc Thông qua đó, những chi trả hàng hóa lấy đồng và bạc làm bản vị tiền tệ đã nhanh chóng trở thành phương thức giao dịch chủ yếu trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế
Trước năm 1420, chính quyền nhà Minh áp dụng song song nhiều loại thuế khác nhau cho phép người dân nộp thuế bằng tiền đồng, tiền giấy hoặc hiện vật Năm 1567, một cuộc cải cách ruộng đất diễn ra trên toàn bộ phận lãnh thổ Trung Quốc với tên gọi “Kế mẫu chinh ngân” Thông qua cuộc cải cách này, toàn bộ ruộng đất được đo đạc, phân chia lại theo đặc điểm của từng vùng, khu vực để dễ dàng đánh thuế Một trong những nội dung quan trọng nhất đó là hình thức đánh thuế “Nhất điều biên pháp” ra đời vào năm 1581 Trên cơ sở đó, bằng cách thu thuế bằng một loại tiền tệ cụ thể, triều Minh đã ngăn chặn phần nào tình trạng ngân sách thiếu hụt cũng như kiểm soát chặt chẽ hoạt động giao thương, sản xuất trong nước Không những vậy, thông qua chính sách này, nhà Minh đã giải quyết được tình trạng mất cân bằng giữa tiền kim loại đồng và tiền kim loại bạc một cách hiệu quả Trước những thay đổi đáng kể trong hệ thống tiền tệ trong nước, nhằm phục
vụ cho nhu cầu sử dụng bạc của chính quyền Trung ương và người dân, từ thập niên
1400 cho đến những năm 1520, chính quyền nhà Minh liên tục khuyến khích hoạt động khai thác và sản xuất bạc tại các mỏ trong nước [69, tr 114] Tuy nhiên, trữ lượng bạc được khai thác tại các ngân quặng của Trung Quốc chưa bao giờ vượt quá được tỉ lệ 6.5% trong khi so với tỉ lệ quặng bạc được phân tách từ các mỏ ở Peru, Mexico luôn ở mức 25 đến 50% [94] Trong khi đó, đi cùng với nhu cầu ngày càng lớn của một thị trường với dân số chiếm khoảng 1/4 tổng dân số thế giới, từ thập niên 1530 trở đi, bạc khai tại các mỏ ở Trung Quốc lâm vào tình trạng cạn kiệt Điều này đã tác động trực tiếp lên toàn bộ hoạt động giao dịch, buôn bán trong nền kinh tế và đẩy giá trị của đồng bạc trên thị trường vượt xa giá trị thực
Trang 25Trước tình thế đó, bên cạnh việc khuyến khích các hoạt động khai thác tại mỏ bạc trong nước, thị trường Trung Quốc hướng đến các nền kinh tế có nguồn cung bạc dồi dào Có thể nói, dưới tác động ngày càng lớn về nhu cầu sử dụng đồng bạc trong khi hoạt động khai thác diễn ra trì trệ, hệ thống tiền tệ của Trung Quốc từ đầu thế kỉ XVI bắt buộc phải dựa vào hoạt động ngoại thương Hệ quả tất yếu, mọi hoạt động sản xuất hàng hóa của Trung Quốc với bên ngoài đều lấy bạc làm cơ sở trung tâm, hay nói cách khác, mục đích trao đổi duy nhất của những thương nhân Trung Quốc bao giờ cũng là bạc [54, tr 100 - 101] Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc nhà Minh cho gỡ bỏ một phần chính sách “Hải Cấm” ở các cảng thị thuộc các tỉnh lị phía nam như Quảng Đông, Phúc Kiếnvào năm 1567
Có thể nói, các chính sách kinh tế trên đã phần nào tác động đến nhu cầu về tiền tệ cũng như mối quan hệ giao thương giữa Trung Quốc với các quốc gia trong khu vực từ thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XVII Đặc biệt, thông qua việc ban hành chính sách “Nhất điều biên pháp” nhà Minh đã không chỉ thống nhất hệ thống thanh toán thuế khóa bằng bạc mà đã mở ra một thời kỳ dài lưu hành đồng bạc với tư cách
là bản vị tiền tệ trên mọi thị trường lớn nhỏ [51] Trên cơ sở lấy bạc làm trọng tâm, các hoạt động thương mại của Trung Quốc kể từ thế kỉ XVI đều có xu hướng tập trung tại các thị trường có nguồn cung bạc lớn như Nhật Bản hay Tân Thế giới Ngược lại, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng tinh xảo có giá trịxa xỉ đã thu hút các thương nhân trong và ngoài khu vực đến với Trung Quốc, từ đó, các cầu nối thương mại đã nhanh chóng được thiết lập trở thành “đường dẫn” đưa các nguồn bạc từ nơi sản xuất đến với thị trường Trung Quốc [60, tr 18].Như vậy, nhu cầu khổng lồ về bạc của Trung Quốc chính là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự bùng
nổ thương mại thế kỉ XVI - XVII
1.2.3 Tuyến thương mại Trung Quốc - Luzon trước 1571
Trước khi người Tây Ban Nha chính thức đặt chính quyền cai trị của mình lên quần đảo Philippine vào năm 1565, người Trung Quốc đã sớm thiết lập quan hệ buôn bán với đảo Luzon Hàng năm, các đoàn thuyền buôn của người Trung Quốc
Trang 26và Nhật Bản vẫn thường cập bến ở Luzon hoặc Mindanao để trao đổi hàng hóa và buôn bán với người bản địa Các mặt hàng chủ yếu thường được người Trung Quốc thu mua là vàng và sáp ong [39, tr 19] Đây là hai loại hàng hóa chủ yếu và quan trọng nhất ở quần đảo Phillippine được các thương nhân hướng đến Theo ghi chép
trong Minh sử ngoại quốc truyện, vùng đất Luzon hay (Lữ Tống)9 là một đảo lớn nằm ở biển Nam Hải, có vị trí tương đối gầnvới cảng Chương Châu ở Phúc Kiến Dưới thời Hồng Vũ (1372), người Luzon đã có mối quan hệ triều cống với chính quyền Trung ương Trung Quốc nhưng không thường xuyên Đến năm 1405, nhà Minh cho phái một sứ bộ đến Luzon để phủ dụ nhưng kết quả thu được không khả quan Mãi đến năm 1576, từ hấp lực của đồng bạc đến từ Tây bán cầu, các thương thuyền của Trung Quốc mới đến Manila một cách thường xuyên hơn [93, tr 506] Thông thường, trên những thương thuyền, các thương nhân đến từ Chương Châu đem theo các sản phẩm như tơ lụa, gốm sứ, gạo, cùng nhiều mặt hàng khác xuôi xuống phía bắc Luzon để buôn bán với người bản địa [73, tr 25], [47, tr 52 - 53] Sau khi chính sách Hải Cấm được bãi bỏ, một số người Trung Quốc từ Phúc Kiến đã di cư và sinh sống lâu dài tại Luzon Đa số họ đều liên hôn với những cư dân bản địa và trở thành nhóm thương nhân trung gian buôn bán giữa người bản địa với thương nhân Hồi giáo, Trung Quốc hoặc Nhật Bản [7, tr 393] Có thể nói, mối quan hệ giao thương giữa Trung Quốc với quần đảo Philippine đã diễn ra từ rất sớm nhưng chỉ dừng lại ở một mức độ nhất định và giới hạn giữa các thương nhân với các nhóm cư dân rải rác trên đảo Chỉ đến khi người Tây Ban Nha xuất hiện và áp đặt chế độ cai trị của mình lên khu vực này, quan hệ Trung Quốc - Philippine mới
có những thay đổi đáng kể Đây cũng chính là nền tảng để mối liên kết giữa Trung Quốc và Phillippine dưới danh nghĩa là thuộc địa của đế chế Tây Ban Nha có một vị thế quan trọng góp phần chi phối tới mạng lưới thương mại Nội Á
9
Trong các ghi chép lịch sử mậu dịch giữa Trung Quốc với bên ngoài, từ sau năm 1571, quan hệ giao thương của người Hoa với Philippine chủ yếu chỉ diễn ra trên vùng đảo Luzon ( 吕宋 ) với trung tâm chính là cảng thị Manila Do đó, trong nhiều bộ sử thời Minh và Thanh, buôn bán của người Hoa tại Luzon được ngầm hiểu là
Trang 281.3 Sự ra đời của Manila (Philippine) thuộc Tây Ban Nha năm 1571
1.3.1 Quá trình thâm nhập Đông Á của Tây Ban Nha đầu thế kỉ XVI
Sau thành tựu từ các cuộc phát kiến địa lí, các quốc gia châu Âu, đi đầu là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, dần tiếp cận được mục đích căn bản của mình đó là đến phương Đông để buôn bán Có thể nói, từ thế kỉ XVI, công cuộc tìm kiếm các mảnh ghép còn thiếu của thế giới đã gần như được hoàn thiện Thông qua quá trình này, người châu Âu trên các chuyến tàu lớn vượt đại dương dần lan tỏa đi khắp các nơi trên thế giới, đặc biệt là tại khu vực châu Á
Với vai trò là quốc gia tiên phong, sau 1498, Bồ Đào Nha đã mở tuyến hàng hải đầu tiên đi đến khu vực Đông Á Thực tế, trong quá trình thiết lập con đường buôn bán, người Bồ Đào Nha chủ yếu hướng tới những điểm có điều kiện hoặc những vùng có tiềm năng kinh tế lớn Dưới sự chỉ đạo của “nhà kiến trúc vĩ đại của
đế chế Bồ Đào Nha ở châu Á” là Anffonso de Albuquerque, mặc dù phải tổ chức hàng loạt các cuộc đàn áp lên cư dân bản địa, người Bồ Đào Nha đã chiếm được Goa (1510), đặt trụ sở tại Malacca (1511), Hormuz (1515)… [28, tr 354] Trên cơ
sở kế thừa mạng lưới buôn bán từcác thương nhân Hồi giáo, người Bồ Đào Nha dần chiếm lĩnh các tuyến đường thương mại truyền thống và nhanh chóng nắm thế độc quyền về buôn bán hương liệu Giữa thế kỉ XVI, bên cạnh vai trò kết nối hệ thống các cảng thị Nội Á, Bồ Đào Nha còn can dự trực tiếp vào hoạt động trao đổi buôn bán giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong việc “tổ chức những hoạt động thương mại thường xuyên giữa các cảng khác của Kyushu và những cảng gần Quảng Châu”, có thể nói, qua đó Bồ Đào Nha đã thu được một nguồn lợi kếch xù khi nắm giữ các tuyến thương mại quan trọng trên [19, tr 255]
So với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha là quốc gia đến với khu vực châu Á muộn hơn Trước đó, hiệp định Tordesillas (1494) phân định vùng ảnh hưởng và đặc quyền thương mạivà truyền giáo đã quy ước Tây Ban Nha chiếm khu vực Tây Ấn (Tân Thế giới) trong khi Bồ Đào Nha án ngữ ở miền Đông Ấn Điểm mơ hồ của Tordesillas nằm ở chỗ giới hạn phía Đông không được quy định rạch ròi trong khi mốc ranh giới phía Tây được xác định ở 370 hải lý từ Cape Verde ở sườn tây châu
Trang 29Phi lục địa Vì vậy, sau chuyến đi vòng quanh thế giới của Ferdinand Magenllan, Tây Ban Nha tuyên bố có quyền lợi ở vùng quần đảo hương liệu Molluccas và cử hạm đội đến đóng ở Tidore Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết ổn thỏa khi hiệp ước Zaragoza được hai bên ký kết vào năm 1529 Tuy nhiên, do sức hấp dẫn của thị trường phương Đông cùng vị trí địa lí thuận lợi của Philippine nên vào năm 1542, người Tây Ban Nha tiếp tục xâm chiếm và xây dựng địa bàn của mình lên trên quần đảo này.10
Đến năm 1571, Manila chính thức được thành lập và trở thành tiền đồn của người Tây Ban Nha tại khu vực Đông Á.Với quan niệm xây dựng Philippine như một “kho vũ khí và ngôi nhà của lòng tin” từ cuối thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, Manila đóng một vai trò quan trọng trong việc gia tăng ảnh hưởng chính trị, thương mại và truyền giáo của người Tây Ban Nha tại Đông Á [28, tr 357]
1.3.2 Quá trình chinh phục Philippine của người Tây Ban Nha
Philippine là một quần đảo lớn với hơn 7.000 hòn đảo lớn nhỏ kéo dài từ bắc xuống nam với tổng diện tích 114.830 dặm vuông và trải dài trên 90 vĩ độ [26, tr 1
- 3] Ban đầu, những tiếp xúc giữa quần đảo Philippine với thế giới bên ngoài chủ yếu diễn ra ở phía nam quần đảo Nhiều tài liệu ghi chép lại cho thấy người Malaya
và Ấn Độ đã có sự tiếp xúc ở phía nam thuộc đế chế Majapahit (đông Java) từ giai đoạn 1292 - 1478 Vào năm 1380, một nhóm người Hồi giáo dưới sự dẫn dắt của giáo chủ Makhudum Khan đã đến sinh sống và định cư tại khu vực đảo Sulu (nam Philippine) Tới thế kỉ XVI, khu vực phía nam Philippine tập trung một số lượng lớn người Malaya và người Moro trên các đảo Mindanao [27, tr 80] Cùng lúc này, miền bắc Philippine là đảo Luzon, một nhóm người Trung Quốc và Nhật Bản đã định cư và sinh sống với người bản địa từ rất sớm Trong ghi chép của Martin de Goiti, khi đến Manila ông nhận thấy có khoảng 40 người Trung Quốc định cư ở đây, tất cả bọn họ đều kết hôn với người bản địa, ngoài ra còn có khoảng 20 người Nhật Bản [47, tr 53] Đơn vị chính trị duy nhất không phải là một vương quốc hay một thể chế chính trị hoàn chỉnh mà chỉ là một dòng họ thân thuộc tương đối nhỏ Hoạt động trao đổi buôn bán của người Philippine diễn ra thường xuyên với người
10 Về vấn đề tranh chấp quyền sở hữu lên quần đảo Philippine giữa người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha [10]
Trang 30Borneo và người Moluccas ở phía nam, với người Xiêm và Campuchia ở vùng tây nam và với người Hoa và Nhật Bản tại khu vực phía bắc Như vậy, có thể thấy rằng, trước năm 1521, Philippine là một khu vực giàu có và có sự pha trộn của nhiều yếu
tố văn hóa, tôn giáo [27, tr 80], [65, tr 15 - 16]
Quá trình chinh phục vùng đất Philippine của đế chế Tây Ban Nha chính thức bắt đầu từ năm 1521 bằng chuyến đi vòng quanh thế giới của Ferdinand Magenllan Tại lần dừng chân đầu tiên này, Magenllan và đoàn thuyền của ông đã tiến hành trao đổi một số hàng hóa với người Sulu ở Samar (Islas de San Lazaro) Trong lần đầu tiên đến quần đảo này, người Tây Ban Nha đã sớm nhận thấy những thuận lợi của Philippine về vị trí địa lí tiếp giáp với những vùng sản xuất hàng hóa lớn như: không xa vùng quần đảo hương liệu - Indonesia, Malaysia ở phía nam và Nhật Bản, Trung Quốc ở phía bắc Có thể nói, nơi đây sở hữu những lợi thế cho phép Tây Ban Nha phát triển buôn bán và cạnh tranh với Bồ Đào Nha Tháng 4 năm 1521, đoàn thám hiểm của Magenllan bất ngờ vướng phải cuộc xung đột giữa người Humabond
và người Lapulapu Mâu thuẫn này đã dẫn đến cái chết đột ngột của ông và phải mãi đến tháng 9 năm sau, đoàn thuyền mới về đến cảng Seville của Tây Ban Nha
trên tàu Victoria cùng 19 người sống sót [26, tr 76 - 77] Có thể nói, tuy phải trả giá
đắt bằng chính mạng sống của mình, chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới của Magenllan đã có đóng góp to lớn đối với người Tây Ban Nha nói riêng và lịch sử thế giới nói chung
Hai thập kỉ sau, bỏ qua những quy định phân chia quần đảo Philippine có trong hiệp ước Zaragoza (1529), người Tây Ban Nha tiếp tục đến với Philippine Chuyến đi lần thứ hai này được thực hiện bởi hai phó vương là Antonia de Mendoza và Ruy López De Villabos từ Mexico Bắt đầu từ năm 1542, 6 tàu cùng với 370 thuyền viên đã băng qua Thái Bình Dương đi về phía Tây Ở lần khám phá này của De Villabos, ngoài việc chỉ đặt chân lên các đảo Luzon, Samar và Leyte thì ông đã đặt tên quần đảo theo tên thái tử Philip con vua Charles V là (Las Ilas Felipinas) [65, tr 17] Công cuộc chinh phục Philippine tiếp đó bị gián đoạn một thời gian và chỉ đến thập niên 1560, một hành trình mới lại được tổ chức Thông
Trang 31qua sự chỉ huy của Miguel Lopez De Legaspi cùng một hạm đội với 5 tàu lớn và hơn 500 binh lính, 5 tu sĩ theo dòng Agustine, đoàn thuyền đã đến Cebu vào tháng
11 năm 1564 [27, tr 80 - 81] Tại đây, De Legaspi cùng những quân lính của mình
đã chinh phục vùng đảo Cebu một cách chóng vánh mà không mất quá nhiều tổn thất Tháng 4 năm sau, ông đã cho thiết lập khu định cư đầu tiên của người Tây Ban Nha tại Cébu Trên cơ sở đó, De Legaspi nhanh chóng mở rộng sự kiểm soát của mình sang các đảo xung quanh như Leyte, Panay, Mindoro và vùng đồng bằng rộng lớn tại Luzon
Thực tế, việc chinh phục quần đảo Philippine của người Tây Ban Nha diễn ra khá nhẹ nhàng so với quá trình xâm chiếm châu Mỹ Ngoại trừ vùng đảo Mindanao thuộc phía nam Philippine - nơi sinh sống của người Hồi giáo Moro - là khu vực nằm ngoài sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Với mục tiêu thiết lập một chỗ đứng vững chắc cho người Tây Ban Nha tại khu vực cũng như cạnh tranh tầm ảnh hưởng với Bồ Đào Nha, De Legaspi đã tiến hành các cuộc cải cách và thiết lập chính quyền ngay tại Philippine Thành tựu nổi bật nhất của quá trình này chính là việc cho chuyển dời tổng hành dinh từ vùng Cebu đến Manila vào tháng 5 năm 1571 bên bờ sông Pasig [24, tr 34 - 35] Quyết định này của De Legaspi đã mở ra một thời kỳ phát triển trong hoạt động thương mại với người châu Á Kể từ thời điểm đó, Manila được công nhận như một “kinh đô của lãnh địa mới cho vua Philip II” và có vị thế như một
“linh hồn và trái tim của cả quần đảo” [7, tr 390], [112, tr 185]
Về các chính sách cai trị ở Philippine, hình thức cai trị ban đầu được đóng khung theo nguyên mẫu chính quyền ở các thuộc địa châu Mỹ của Tây Ban Nha
Đứng đầu Philippine là viên Toàn quyền (Gorvernor) - người thay mặt cho nhà vua
ở thuộc địa Ông nắm mọi quyền hành pháp, tư pháp, quân sự, tôn giáo và cả những công việc đại diện cho chính quyền Tây Ban Nha ở chính quốc để tiến hành ngoại giao, xây dựng quan hệ với chính quyền các quốc gia lân cận trong khu vực Bên cạnh Toàn quyền và nắm giữ vị trí không kém phần quan trọng là Hội đồng cố vấn
(Audience) được thành lập vào năm 1583 là những người đại diện cho luật pháp của
hoàng gia ở bản địa, họ là những người có quyền giám sát hoạt động của Toàn
Trang 32quyền và báo cáo những hoạt động của viên Toàn quyền đó về chính quốc [24, tr 37] Thực tế, giữa Toàn quyền và hội đồng cố vấn luôn có sự kiềm chế lẫn nhau khi một bên đại diện cho uy quyền của hoàng gia và một bên có khả năng nắm toàn bộ quyền lực như một tiểu vương
Vào cuối thế kỉ XVI, toàn bộ vùng Luzon và Visaya được phân chia thành 15
tỉnh (alcadia) riêng biệt Đứng đầu mỗi alcadia là tỉnh trưởng (alcade mayor), họ
thường là những người được Toàn quyền chỉ định Các tỉnh trưởng thường hầu hết đều là người Tây Ban Nha, có vị trí thân cận và nhận được sự tín nhiệm từ Toàn quyền Chức vị này không đem lại nhiều lợi lộc nhưng lại có đặc quyền về các hoạt động buôn bán tư nhân Vì vậy, vào thời kì phát triển thương mại, nguồn thu nhập chính của giới tỉnh trưởng ở Philippine là tiền hối lộ từ các thương nhân Dưới cơ
quan cấp tỉnh là các quận, thị xã (pueblo) đứng đầu là các quận trưởng (gobernadorcillo) Trong quá trình quản lí, quận trưởng được các trưởng làng (cabeza) hỗ trợ trong các việc kiểm soát chặt chẽ lượng cư dân, tình trạng buôn bán
và các yếu tố khác [82, tr 832] Đơn vị hành chính cấp cơ sở là các làng (barangay)
do các cabeza - vốn là người bản địa có uy tín trong cộng đồng quản lí Những
người này chịu trách nhiệm thu thuế và thực thi các chính sách cai trị cho thực dân Tây Ban Nha Một nét nổi bật trong chính sách cai trị của Tây Ban Nha đối với Philippine là do vị trí địa lí nằm xa sự can thiệp của hoàng gia và bộ Thương mại, người Tây Ban Nha hoàn toàn đặt niềm tin vào cộng đồng cư dân địa phương, tạo
nên một sự quản lí thống nhất trên toàn bộ quần đảo [82, tr 832]
1.3.3 Chính quyền thực dân Tây Ban Nha tại Manila
Trong những năm đầu thành lập Manila và xây dựng căn cứ tại Philippine, hoàng gia Tây Ban Nha hướng đến ba mục tiêu chính: cạnh tranh với người Bồ Đào Nha để giành phần lợi nhuận kếch xù từ buôn bán hương liệu trong khu vực, đặt cơ
sở liên hệ với Trung Quốc và Nhật Bản để mở đường cải đạo và biến Philippine trở thành vùng đất của đạo Cơ Đốc [7, tr 391] Thế nhưng, kể từ khi thành lập Manila vào năm 1571 cho tới đầu thế kỉ XIX, thực dân Tây Ban Nha mới chỉ đạt được thành công được ở mục tiêu thứ ba, khi cả ý đồ giành thị phần trong buôn bán
Trang 33hương liệu từ tay Bồ Đào Nha và quá trình truyền bá và cải đạo ở Trung Quốc và Nhật Bản đều đi đến thất bại Trong một bức thư Toàn quyền Philippine gửi đến vua Philip II có đề cập đến nỗ lực của người Tây Ban Nha trong việc truyền giáo tới Trung Quốc, Nhật Bản và khẳng định rằng ý tưởng có thể cải đạo cho người Trung Quốc và Nhật Bản là một điều không tưởng.11
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lí, Philippine không sở hữu một đặc điểm nổi bật nào khác ngoài nguồn tài nguyên ít ỏi, nền nông nghiệp chậm phát triển vốn chỉ sản xuất được một lượng lương thực giới hạn Trong những bản tấu trình gửi về chính quốc, De Legaspi luôn phàn nàn về tình trạng nghèo nàn tài nguyên ở Philippine Năm 1568, De Lagaspi đã gửi một bản tấutới vua Philip II đề cập đến tình hình đang diễn ra tại Philippine: “vùng đất này sẽ không thể duy trì được lâu ngoại trừ phát triển hoạt động thương mại” Ông nhấn mạnh rằng, việc sử dụng bạc khai thác từ các mỏ ở Tân Thế giới và dùng chúng để thu mua tơ lụa từ người Hoa có thể giúp chính quyền ở Philippine thu hẹp khoảng cách và giảm thiểu những thất thoát trong buôn bán gia vị với người Bồ Đào Nha [102, tr 23 - 27] Nhận định này càng thêm được củng cố trong các ghi chép của Juan Grau y Monfalcon.12 Trước tình hình đó, chính quyền Tây Ban Nha từ khi thành lập Manila
đã đưa ra hàng loạt các chính sách nhằm khuyến khích phát triển sản xuất (chế độ
lao động sản xuất - polo, khuyến khích bán các sản phẩm cho chính quyền -
vandala) và quan trọng nhất là tập trung đầu tư vào ngoại thương.Tuy nhiên, trong
nhiều năm sau đó, nguồn thu từ thương mại ở Philippine phần lớn đều rơi vào tay Hoa thương hoặc các lực lượng buôn bán khác chứ không phải đổ vào ngân khố của
chính quốc Theo đó, mạng lưới thương mại Manila - Acapulco hay “Manila
galleon”13 được thiết lập và kéo dài cho đến năm 1815 chính là mắt xích quan trọng
11 Nguyên văn trong bức thư mà Legaspi gửi vua Philip II có nói: “Một trong các trở ngại lớn của người Tây Ban Nha tại khu vực này đó là việc cải đạo cho cư dân sinh sống ở Trung Hoa cũng như ở các quốc gia khác cho tới nay vẫn chỉ là ảo tưởng” [37, tr 195]
12 Ghi chép của Juan Grau y Monfalcon viết vào năm 1637 đề cập về những gánh nặng mà chính quyền Tây Ban Nha sẽphải chịu khi quyết định duy trì Philippine là với tư cách là tiền đồn quan trọng của mình trong khu vực Đông Á [35, tr 64-65]
13 Một trong những niềm tự hào của đế chế Tây Ban Nha trong suốt thời kỳ phát triển các tuyến thương mại đường dài xuyên đại dương đó là kỹ thuật đóng thuyền buồm lớn hay còn gọi là galleon Trong lịch sử hàng
Trang 34Về cấu trúc của thành phố Manila, chính quyền Tây Ban Nha đã áp dụng mô
hình thành phố khép kín (Intramuros) như đã thực hiện ở Mexico và những thuộc
địa khác trên vùng trung và nam Mỹ Các khu phố, và quảng trường đều được thiết
kế song song chia ra thành các khối kiến trúc đều đặn Trung tâm chính được bao bọc bởi hệ thống các tòa nhà lớn và nhà thờ, ở những phạm vi nhỏ hẹp hơn là những khu nhà của các quan chức làm việc dưới triều đình hoàng gia Tây Ban Nha nằm gọn trong hệ thống thành lũy kiên cố [112, tr 184 - 185] Có thể nói, suốt nhiều năm, người Tây Ban Nha ở Manila luôn tìm cách tách biệt cuộc sống sinh hoạt của mình với những cộng đồng dân bản địa và người nhập cư Việc thiết lập nên thành phố Manila với trung tâm “nằm phía sau các bức tường lớn” nhằm đảm bảo cho nhà quản lí có thể kiểm soát dễ dàng tình hình hoạt động của các thương nhân đến đây buôn bán đặc biệt là những thương nhân người Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á Cuối thế kỉ XVI, người Tây Ban Nha đã áp dụng quy định lên Manila và lên hầu hết các tỉnh khác trong phạm vi quản lí của mình: “Trước khi cánh cổng đóng vào buổi tối, tất cả người Trung Quốc, Nhật Bản và người Philippine [ngoại trừ những người là người lao động phục vụ trong thành phố, thương nhân bán lẻ, gia nhân] đều phải rời khỏi thành phố” [28, tr 366]
1.3.4 Tuyến thương mại Manila - Acapulco
Bên cạnh thành công của De Legaspi trong công cuộc xây dựng thành phố Manila, người đồng hành với ông là Andres Urdaneta cũng góp công trong việc mở
ra tuyến đường trực tiếp đi từ Philippine băng qua Thái Bình Dương để về cảng
Acapulco Năm 1565, Urdaneta cùng con tàu San Pablo rời Cebu đi lên 39 vĩ độ
bắc, men theo bờ Đông quần đảo Nhật Bản tới bờ biển California ngày nay và cuối
hải thế giới, hành trình xuyên Thái Bình Dương luôn được đánh giá là hành trình nguy hiểm và trắc trở nhất với sự thay đổi khôn lường các luồng gió, dòng chảy cùng hàng loạt các cơn bão lớn diễn ra trên biển Đặc biệt, khi Manila ra đời, các con thuyền buồm (galleon) đóng góp vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành tuyến buôn bán nối từ cảng Acapulco của châu Mỹ đến Manila của phương Đông Đầu thế kỷ XVII, vị thế của thuyền buồm lớn Manila (Manila galleon) trong hệ thống kinh tế thế giới là không thể phủ định
Trong công trình nghiên cứu The Manila Galleon, nhà nghiên cứu William Schruz đã đánh giá là thuyền
galleon của người Tây Ban Nha thực sự là “những con thuyền giàu có nhất trên mọi đại dương” [102] Các trung tâm đóng thuyền lớn được người Tây Ban Nha xây dựng rải rác trên các đảo của Philippine như: Cavite, Albay, Mariduque, Mindoro, Masbate, Iloilo và phía Đông đảo Samar nhằm tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu phong phú trong vùng [112, tr 187] Trong nhiều thời điểm, thậm chí người Tây Ban Nha đã cho
Trang 35cùng trở về Acapulco So với thời gian 3 tháng từ Acapulco đến Manila, đoàn
thuyền phải mất tới 7 tháng khi đi trên tuyến đường ngược lại [101, tr 6] Kể từ thành công của Urdaneta và những thay đổi trong chính sách cai trị của Tây Ban Nha ở Philippine, một tuyến đường thương mại xuyên Thái Bình Dương đến với Manila đã được hình thành từ cuối thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XVIII
Trên tuyến thương mại đó, về phía Tân Thế giới, thương cảng Acapulco đóng một vai trò hết sức quan trọng Có vị trí nối liền với thành phố Mexico, Acapulco là một cảng nước sâu sở hữu nhiều điều kiện thiên nhiên thuận lợi để các con thuyền lớn có thể tiếp cận và buôn bán Thế kỉ XVI, một tu sĩ theo dòng Domingo tên là Fernandez de Navarete đã viết: “với tư cách là một người đã từng đi qua rất nhiều hải cảng khác nhau thì Acapulco là một hải cảng tuyệt vời và an toàn nhất trên thế giới!” [103, tr 19] Hai nhà hàng hải nổi tiếng Lord Anson và Malaspika khi nhận xét về Acapulco đều khẳng định đó là một trong những cảng thị an ninh và có vị trí thuận lợi để tiếp nhận các loại thuyền cỡ lớn từ khắp nơi trên thế giới đến để giao thương, buôn bán [103, tr 20] Về phía Philippine, vịnh Manila trong lịch sử luôn được coi là một hải cảng tự nhiên có vị trí và những điều kiện thuận lợi để trở thành một trung tâm mậu dịch lớn của khu vực và thế giới Các ưu thế của Manila có thể
kể đến như: sở hữu mực nước sâu, có thể tiếp nhận mọi loại hình thuyền bè khác nhau, vị thế kéo dài từ đồng bằng sông Pasig ra tới biển… [112, tr 184] Tất cả những yếu tố trên đã tạo điều kiện cho Tây Ban Nha mở rộng và phát triển mạng lưới thương mại xuyên Thái Bình Dương cũng như tăng cường vị thế và sức ảnh
hưởng của mình tại khu vực Đông Á
Tiểu kết
Mặc dù, các mối giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các quốc gia trong khu vực Đông Á đã sớm hình thành và phát triển, song phải tới thế kỉ XVI, đi cùng với sự xâm nhập của người phương Tây cùng những nhu cầu mới về hàng hóa, hoạt động thương mại giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đã được đẩy mạnh và trở thành “thời kì của sự bùng nổ về kinh tế” Trong bối cảnh này, Trung Quốc được biết đến là một đế chế hùng mạnh và là thị trường đầy tiềm năng thúc đẩy các
Trang 36thương nhân từ khắp nơiđến giao thương Hơn thế nữa, xuất phát từ bối cảnh trong nước cùng những chính sách về thương mạiđược ban hành trước đó, nhu cầu về bạc của Trung Quốc đã ngày càng cao Có thể nói từ thế kỉ XV trở đi, chính quyền nhà Minh phải dựa vào các hoạt động mậu dịch, buôn bán bạc với bên ngoài để điều tiết
hệ thống tiền tệ của mình Đây cũng là cơ sở cho quá trình lan tỏa của các Hoa thương từ các cảng thị phía Nam tới các trung tâm mậu dịch lớn của khu vực
Trong khi đó, để cạnh tranh ảnh hưởng với Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha
đã quyết định xâm chiếm Philippine và biến Manila trở thành căn cứ duy nhất của mình tại Đông Á từ năm 1571 Tuy nhiên, những ý định ban đầu của chính quyền Tây Ban Nha tại thuộc địa Philippine đã không thành công như mong đợi Ngược lại, dưới tác động của nhu cầu đối với bạc ở Trung Quốc cùng sự phát triển mạnh
mẽ của hệ thống thương mại Nội Á, nền kinh tế của Philippine dần phụ thuộc vào hoạt động trên tuyến thương mại Manila - Acapulco xuyên Thái Bình Dương.Kết quả là từ năm 1571, một dòng chảy kim loại lớn từ Tân Thế giới đã chảy sang châu
Á bằng những đoàn thuyền buồm lớn của người Tây Ban Nha qua Manila và đổ vào thị trường Trung Quốc Quá trình này diễn ra liên tục và thay đổi trong từng giai đoạn cụ thể, sẽ được trình bày chi tiết trong chương tiếp theo
Trang 37CHƯƠNG 2 NGUỒN BẠC TÂN THẾ GIỚI VÀO TRUNG QUỐC (1571 - 1700) 2.1 Nguồn bạc Tân Thế giới vào Trung Quốc (1571 - 1640)
2.1.1 Tình hình khai thác bạc ở Tân Thế giới (1571 - 1640)
Kể từ thời điểm Christopher Columbus khám phá con đường đến với Tân lục địa, đế quốc Tây Ban Nha đã may mắn sở hữu được khối tài sản khổng lồ nằm dưới lòng đất châu Mỹ Chỉ trong một thời gian ngắn, thay vì mục tiêu tìm kiếm con đường buôn bán sang phương Đông như dự kiến ban đầu, Tây Ban Nha đã tập trung khai thác và thu được một trữ lượng dồi dào vàng và bạc ở Peru, Mexico cùng những vùng khác trên khu vực trung và nam Mỹ Từ đầu thế kỉ XVI cho đến tận cuối thế kỉ XVIII, nguồn kim loại quý, đặc biệt là bạc, được người Tây Ban Nha
khai thác triệt để từ các thuộc địa châu Mỹ Ước tính, có tới 2.9 đến 3.1 tỉ peso bạc
đã được người Tây Ban Nha đưa ra thị trường Chỉ riêng bạc, Tây Ban Nha đã khai thác một lượng lớn chiếm tới 80% trữ lượng bạc toàn thế giới trong suốt giai đoạn
từ cuối thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XVIII [66, tr 143 - 144] Những mỏ bạc quan trọng nhất vào thời gian này đều tập trung ở khu vực trung và nam Mỹ Mỏ bạc Potosi ở Peru (1572) và Mexico (1535) là hai trong số những mỏ bạc có nhiều tỉ lệ ngân quặng nhất Chỉ tính riêng ở khu vực cao nguyên Peru, điểm khai thác bạc Potosi luôn được mệnh danh là “ngọn núi bạc” của thế giới trong suốt giai đoạn cuối thế kỉ XVI [59, tr 211]
Thực tế, rất khó để các nhà nghiên cứu khẳng định con số chính xác đã có bao nhiêu bạc được khai mỏ ở châu Mỹ từ giữa thế kỉ XVI trở đi Trung bình vào năm
1600, lượng bạc được sản xuất từ các thuộc địa đã tăng gấp 3 lần so với thời kì đầu
Lí do của sự gia tăng đột biến này đó là vào năm 1573, người Tây Ban Nha đã khám phá ra mỏ thủy ngân lớn ở tỉnh Huancavelica thuộc Peru ngày nay Từ đó, cùng với mỏ thủy ngân lớn Almaden ở chính quốc, người Tây Ban Nha đã tận dụng nguồn nguyên liệu dồi dào này để sản xuất bạc với số lượng lớn chưa từng thấy Không những vậy, bạc thành phẩm đạt chất lượng cao và có tỉ lệ tinh khiết lên tới 0.97% - một tỉ lệ mà chưa một vùng khai thác bạc ngoài châu Mỹ nào có thể sản
Trang 38xuất được.14 Bên cạnh đó, bạc được sản xuất với nhiều chủng loại nhằm đáp ứng cho những nhu cầu khác nhau của thị trường Một nửa số bạc khai thác được tại các
khu mỏ châu Mỹ được đem đúc thành các đồng tiền peso loại 272 maravedis (tương đương đồng 8 real), loại 2 real, 4 real và đồng bạc 8 real là loại tiền phổ biến nhất
[89, tr 31 - 32] Một nửa số bạc còn lại được đúc thành khối và đem phân phối tới các thị trường khác nhau Do đó, bạc Tân Thế giới tính từ đầu thế kỉ XV vừa là loại tiền tệ vừa là loại hàng hóa được đón nhận trên khắp các trung tâm thương mại lớn của thế giới
Bởi tiếp nhận được nguồn thủy ngân chất lượng tốt từ Tây Ban Nha cũng như
sở hữu địa thế thuận lợi hơn nên ở thời kỳ đầu, bạc Mexico có chất lượng cao hơn
so với bạc Potosi Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ sau đó, Potosi vẫn đóng vai trò là
mỏ bạc lớn nhất của người Tây Ban Nha ở Tân Thế giới với sản lượng trung bình tăng 3.6% một năm trong giai đoạn cực thịnh, trong khi tại Mexico tỉ lệ tăng là 2.5% một năm [67, tr 899] Tuy trong các giai đoạn sau, tình hình khai thác khoáng sản ở Potosi nói riêng và toàn Tân Thế giới nói chung có những biến động nhất định nhưng xu hướng lượng bạc sản xuất gia tăng vẫn chiếm vị trí chủ đạo
Bảng số liệu dưới đây thể hiện rõ số lượng bạc được khai thác từ hai mỏ bạc chính tại châu Mỹ từ năm 1590 đến năm 1640 Có thể nói, từ năm 1591 trở đi tổng lượng bạc cả hai mỏ cung cấp được đã chiếm tới hơn 90% số bạc của toàn châu Mỹ
và 80% bạc của Thế giới Tỉ lệ ít ỏi còn lại hầu hết đều thuộc về các mỏ bạc nhỏ lẻ như: Santo Domingo (1536), Lima (1565), Bogota (1620), Santiago de Guatemala… Tương ứng, số bạc thành phẩm được ghi nhận lên tới hơn 700 tấn vào thời kỳ phát triển nhất và ở các giai đoạn thấp nhất vẫn lên tới hơn 400 tấn Trong
đó, lượng bạc được sản xuất từ Peru luôn lớn gấp 2 lần so với bạc mà người Tây Ban Nha khai thác ở Mexico Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc mỏ thủy ngân Huacanvelia được phát hiện từ năm 1573 có vị trí nối liền với mỏ bạc Peru, trong
Trang 39khi thời gian này, tình hình cung ứng thủy ngân cho Mexio từ Almaden đang có dấu hiệu suy giảm và cạn kiệt [80, tr 637] Bên cạnh đó, thông qua việc áp dụng chế độ
lao động mita - những nhân công người bản địa hoặc lao động với điều kiện chi trả
bằng bạc - giới cai trị ở Peru đã dễ dàng kích thích được hiệu suất khai thác bạc ở Potosi [58, tr 146]
Tuy nhiên, chế độ này cũng đã gây ra nhiều thiệt hại cho chính quyền Tây Ban Nha tại Potosi do không thể kiểm soát được hoạt động khai thác của số lao động tự
do làm việc trong các mỏ Hơn thế nữa, tình trạng gian lận cũng diễn ra phổ biến giữa những thương lái trung gian Họ lợi dụng sự cản trở về địa lí giữa mỏ bạc Potosi với các cơ sở tinh luyện bạc nguyên chất ở Mexico để hưởng chênh lệch hoặc chiếm dụng một lượng bạc nhất định Kết quả là có tới 30% bạc chảy ra bên ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của Hội đồng Ấn Độ ở Mexico và bộ Thương mại ở Seville [72, tr 444] Đa phần số bạc “lậu” trên được sử dụng để làm vốn đầu tư cho các chuyến buôn bán trong khu vực và thậm chí là phục vụ cho các tuyến buôn bán đường dài, một trong số đó là hoạt động buôn bán giữa châu Mỹ với Manila ở Philippine
Bảng 2.1: Tình hình khai thác bạc ở Peru và Mexico (1591 - 1640)
Năm
% từ Peru
Tỉ lệ %
từ Mexico
Peso của 272 Maravedis
Bạc đổi ra Kilogram
Peso của 272 Maravedis
Bạc đổi ra Kilogram
Nguồn: Table 3: Tepaske, John J.(1983), “New World silver, Castile and the Philippines 1590 -
1800”, in Precious Metals in the Later Medieval and Early Modern Worlds (Ed John F Richards), Durham:
Carolina Academic Press, pp 425 - 446
Trang 40Nhờ tận dụng lượng bạc khai thác được, người Tây Ban Nha dễ dàng thực hiện các mục tiêu tăng cường sức mạnh quyền lực của mình và mở rộng phạm vi ảnh hưởng Để thực hiện được điều đó, chính quyền Tây Ban Nha đã sử dụng bạc làm vũ khí mở đường thông qua việc đầu tư mạnh tay cho các chính quyền thực dân
và chi tiêu cho các mặt hàng nhập khẩu [67, tr 914] Qua đó, các hoạt động buôn bán, thu mua sản phẩm từ phương Đông - vốn được coi là loại hàng hóa xa xỉ lúc bấy giờ đã được chính quyền Tây Ban Nha khuyến khích phát triển Vì vậy, song hành với mục tiêu nuôi sống chính quyền thực dân tại Manila và tăng cường sức ảnh hưởng về phương Đông, tuyến thương mại đường dài xuyên Thái Bình Dương
từ cảng Acapulco đến Manila đã được hình thành Từ đó, bạc Tân Thế giới được đưa trực tiếp về thị trường châu Á và đổi lại, lụa Trung Quốc hàng năm được các thương lái ở Mexico và Peru thu mua với số lượng lớn
Kể từ thập niên 1570, các hàng hóa được đem tới từ Manila đã được mua lại với giá rất cao ở Peru, cụ thể là từ các thương nhân đến từ Lima và Potosi Tại tuyến buôn bán này, những nhà buôn chủ yếu là buôn tơ lụa Trung Quốc đã thu lời từ 100% đến 300% tại thị trường Peru và thậm chí còn đạt được giá cao gấp 2 lần khi
trở về Tây Ban Nha [55, tr 28] Đặc biệt năm 1579, 1 picul lụa được bán với giá cao
hơn 7 lần giá gốc Sang đến thập niên 1620, một thương nhân trung bình có thể thua
mua 1 picul tơ chỉ với giá 200 peso và bán lại về Peru hoặc Mexico với giá 1.950
peso [54, tr 113 - 114] Những ghi chép về hoạt động buôn bán tơ lụa ở Peru có nói
rằng: “một người đàn ông ở Peru cho vợ của ông ta may áo bằng lụa là Trung Quốc
chỉ với giá rẻ mạt 200 đồng 8 real, trong khi với 200 peso đó ở Tây Ban Nha ông ta
chẳng thể mua nổi một mảnh vải nhỏ” [56, tr 400] Không những thế, từ giữa thế kỉ XVII, tơ lụa và gốm sứ Trung Quốc đã khá phổ biến tràn lan trên một số thị trường ở châu Mỹ, ngay cả người bản địa hay thậm chí một nô lệ da đen cũng có thể mua và dùng vải dệt của Trung Quốc Chỉ tính riêng ở Peru, vải vóc là mặt hàng phổ biến và
có giá rẻ hơn rất nhiều so với mặt hàng cùng chủng loại được sản xuất tại chỗ hoặc
do các thương nhân đem từ châu Âu tới Có những chủ cửa hàng sở hữu số tài sản
lên tới hơn 1 triệu peso bởi những hàng hóa mà ông ta bán ra [104, tr 394 - 395]