thì ở các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, thu nhập từ hoạt động cho vayvẫn chiếm tỷ lệ khoảng 90% trong tổng thu nhập của các ngân hàng [1].Việc cấp tín dụng hiện nay cũng có rất
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 3
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại 5
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng 5
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 8
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 8
1.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn 10
1.1.3.3 Hoạt động khác 12
1.2 Hoạt động cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại 12
1.2.1 Khái niệm cho vay 12
1.2.4 Đặc điểm hoạt động cho vay trung và dài hạn 18
1.2.5 Vai trò của cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại 19
1.2.5.1 Vai trò đối với Ngân hàng 19
1.2.5.2 Vai trò đối với khách hàng 20
1.2.5.3 Vai trò đối với nền kinh tế 21
1.2.6 Quy trình cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại 22
1.3 Chất lượng cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại 24
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay trung và dài hạn 24
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại 25
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thượng mại 29
1.3.3.1 Các nhân tố từ môi trường vĩ mô 29
1.3.3.2 Các nhân tố từ khách hàng 30
1.3.3.3 Các nhân tố từ phía ngân hàng 31
CHƯƠNG 2 35
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 35
2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 35
Trang 22.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 35
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 35
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh Quang Trung 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 37
2.1.2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức 37
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức BIDV Quang Trung 38
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban 41
2.1.3 Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 43
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 43
2.1.4 Kết quả các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung giai đoạn 2009-2011 46
2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn 46
2.1.4.2 Họat động cho vay 48
2.1.4.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 50
2.2 Thực trạng hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 50
2.2.1 Những quy định về hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 50
2.2.2 Quy trình cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 52
2.3 Thực trạng chất lượng hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 55
2.3.2 Doanh số cho vay trung và dài hạn 57
2.3.4 Vòng quay vốn cho vay trung và dài hạn 59
2.3.5 Hệ số sử dụng vốn trung dài hạn 60
2.3.6 Chỉ tiêu nợ xấu trung và dài hạn 61
2.3.7 Lợi nhuận từ hoạt động cho vay trung và dài hạn 63
2.4 Đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 65
2.4.1 Những kết quả đạt được 65
Trang 32.4.2 Những hạn chế 66
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 68
2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan 68
2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan 69
CHƯƠNG 3 71
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 71
3.1 Định hướng hoạt động cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung trong thời gian tới 71
3.1.1 Định hướng chung 71
3.1.2 Định hướng hoạt động cho vay trung và dài hạn 72
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 73
3.2.1 Các giải pháp chung 73
3.2.1 Các giải pháp riêng 74
3.2.1.1 Các giải pháp về huy động vốn 74
3.2.2.4 Các biện pháp về công tác thẩm định dự án và quyết định cho vay 78 3.2.2.6 Về chính sách tiếp thị 81
3.3 Kiến nghị 81
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 81
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 83
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 84
KẾT LUẬN 85
15 Website Báo điện tử Vnexpress.net: http://taichinh.vnexpress.net/tin- tuc/song-tai-chinh/2012/02/no-xau-he-thong-ngan-hang-2011-la-3-3-5445/ Nợ xấu hệ thống ngân hàng 2011 là 3,3%, ra ngày 06/02/2012 87
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4BIDV Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam
BIDV Quang Trung Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1 3
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại 5
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng 5
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 8
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 8
1.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn 10
1.1.3.3 Hoạt động khác 12
1.2 Hoạt động cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại 12
1.2.1 Khái niệm cho vay 12
1.2.4 Đặc điểm hoạt động cho vay trung và dài hạn 18
1.2.5 Vai trò của cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại 19
1.2.5.1 Vai trò đối với Ngân hàng 19
1.2.5.2 Vai trò đối với khách hàng 20
1.2.5.3 Vai trò đối với nền kinh tế 21
1.2.6 Quy trình cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại 22
1.3 Chất lượng cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại 24
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay trung và dài hạn 24
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại 25
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thượng mại 29
1.3.3.1 Các nhân tố từ môi trường vĩ mô 29
1.3.3.2 Các nhân tố từ khách hàng 30
1.3.3.3 Các nhân tố từ phía ngân hàng 31
CHƯƠNG 2 35
Trang 6THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI
NHÁNH QUANG TRUNG 35
2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 35
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 35
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 35
2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh Quang Trung 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 37
2.1.2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức 37
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức BIDV Quang Trung 38
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban 41
2.1.3 Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 43
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 43
2.1.4 Kết quả các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung giai đoạn 2009-2011 46
2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn 46
2.1.4.2 Họat động cho vay 48
2.1.4.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 50
2.2 Thực trạng hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 50
2.2.1 Những quy định về hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 50
2.2.2 Quy trình cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 52
2.3 Thực trạng chất lượng hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 55
2.3.2 Doanh số cho vay trung và dài hạn 57
2.3.4 Vòng quay vốn cho vay trung và dài hạn 59
2.3.5 Hệ số sử dụng vốn trung dài hạn 60
Trang 72.3.6 Chỉ tiêu nợ xấu trung và dài hạn 61
2.3.7 Lợi nhuận từ hoạt động cho vay trung và dài hạn 63
2.4 Đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 65
2.4.1 Những kết quả đạt được 65
2.4.2 Những hạn chế 66
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 68
2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan 68
2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan 69
CHƯƠNG 3 71
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 71
3.1 Định hướng hoạt động cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung trong thời gian tới 71
3.1.1 Định hướng chung 71
3.1.2 Định hướng hoạt động cho vay trung và dài hạn 72
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 73
3.2.1 Các giải pháp chung 73
3.2.1 Các giải pháp riêng 74
3.2.1.1 Các giải pháp về huy động vốn 74
3.2.2.4 Các biện pháp về công tác thẩm định dự án và quyết định cho vay 78 3.2.2.6 Về chính sách tiếp thị 81
3.3 Kiến nghị 81
3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 81
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 83
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 84
KẾT LUẬN 85
15 Website Báo điện tử Vnexpress.net: http://taichinh.vnexpress.net/tin- tuc/song-tai-chinh/2012/02/no-xau-he-thong-ngan-hang-2011-la-3-3-5445/ Nợ xấu hệ thống ngân hàng 2011 là 3,3%, ra ngày 06/02/2012 87
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới, tiến hành công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, nền kinh tế nước ta đã dần chuyển từ nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Mọihoạt động sản xuất kinh doanh trở nên năng động và hiệu quả hơn, môi trường cũngcạnh tranh gay gắt hơn, từ đó đòi hỏi mọi người phải sáng tạo hơn để thích nghi vớimôi trường
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanhtrong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng Hoạt động của Ngân hàng trong nền kinh tế thịtrường cũng đòi hỏi sự mềm dẻo và thích ứng cao độ Trong điều kiện hiện nay,trước những diễn biến hết sức phức tạp của thị trường, rất hiều doanh nghiệp đã lâmvào tình trạng khó khăn, thiếu vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh thì vai trò của cácNgân hàng thương mại ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, việc cung ứng vốncho nền kinh tế của các Ngân hàng không phải là việc dễ dàng, bởi hiện nay phầnlớn các doanh nghiệp thiếu vốn trung và dài hạn để đầu tư theo chiều sâu trong khihoạt động này mang lại không ít rủi ro cho Ngân hàng
Cũng giống như phần lớn các Ngân hàng khác, thời gian qua, hoạt động chovay trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chinhánh Quang Trung vẫn còn rất nhiều khó khăn cần sớm phải khắc phục Chính vìvậy, làm thế nào để nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn có ý nghĩa rất lớnđối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trungnói riêng và cả hệ thống Ngân hàng nói chung
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cho vay trung và dài hạn, quatìm hiểu thực tế tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh
Quang Trung, em quyết định chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” để làm chuyên đề
tốt nghiệp của mình Kết cấu của chuyên đề, ngoài lời mở đầu và kết luận thì gồm
có 3 chương:
Trang 9Chương 1: Lý luận chung về chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung.
Do có nhiều hạn chế về mặt thời gian cũng như về mặt kinh nghiệm thực tếnên chuyên đề của em không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mongđược sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo để bài chuyên đề của em đượchoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện của các thầy côtrong Viện Ngân hàng – Tài chính, đặc biệt là thầy giáo ThS Đặng Ngọc Biên đãtrực tiếp hướng dẫn em và các anh chị ở các phòng chức năng của Ngân hàngTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung đã giúp đỡ em rấtnhiều để em có thể hoàn thành chuyên đề này
Em xin cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Trang 10CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng là một chủ thể có vai trò cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế.Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong mọi nền kinh tế Hàng triệu hộgia đình, doanh nghiệp và cá nhân gửi tiền ở ngân hàng Ngân hàng là tổ chức chovay chủ yếu đối với các chủ thể trong nền kinh tế, từ cá nhân, doanh nghiệp cho tớiChính phủ Ngân hàng bao gồm nhiều loại và tùy thuộc vào sự phát triển của nềnkinh tế nói chung và hệ thống tài chính nới riêng mà ngân hàng thương mại thườngchiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng các ngân hàng, về quy mô tài sản cũng như vềthị phần Với vai trò quan trọng như vậy nhưng quan niệm thế nào về một ngânhàng thương mại và phân biệt nó với các tổ chức phi Ngân hàng không phải là điềuđơn giản Chúng ta có thể định nghĩa ngân hàng thông qua chức năng, các dịch vụhoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế, tuy nhiên vấn đề ở chỗ không chỉcác yếu tố trên đang không ngừng thay đổi mà đã có sự đan xen về chức năng hoạtđộng giữa các ngân hàng với các tổ chức tài chính phi ngân hàng Do đó, tùy theođiều kiện của mỗi nước và sự phát triển của hệ thống tài chính của nước đó mà cónhững định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương mại
Theo luật Ngân hàng của Pháp thì Ngân hàng thương mại được định nghĩanhư sau: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệpthường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hay hìnhthức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong nghiệp vụ chiết khấu, tíndụng hay dịch vụ tài chính” [1]
Ở Mỹ thì họ quan niệm: “Ngân hàng thương mại là công ty chuyên kinhdoanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành côngnghiệp dịch vụ tài chính” [1]
Còn luật pháp Ấn Độ lại có cái nhìn về Ngân hàng thương mại như sau:
“Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ vàđầu tư” [1]
Trên đây là các quan niệm đứng trên giác độ luật pháp, còn đứng trên giác độkinh tế thì sao? Các nhà kinh tế học trên thế giới đã quan niệm Ngân hàng thương
Trang 11mại là một doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng.
Ví dụ một định nghĩa được Giáo sư Peter Rose đưa ra như sau: “Ngân hàng là loạihình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất,đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều chức năngtài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [11]
Ở Việt Nam thì Ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Theo Điều 4, Khoản 3, Luật các tổ chức tín dụng 2010 Việt Nam).
Vậy hoạt động ngân hàng bao gồm những hoạt động nào?
“Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặcmột số các nghiệp vụ sau đây:
a) Nhận tiền gửi;
b) Cấp tín dụng;
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”
(Theo Điều 4 Khoản 12, Luật các tổ chức tín dụng 2010 Việt Nam)
Cũng theo đó, tổ chức tín dụng phi ngân hàng được định nghĩa như sau: “Tổchức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặcmột số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhậntiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của kháchhàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê
tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác” (Theo Điều 4, Khoản 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010 Việt Nam).
Như vậy, từ những nhận định trên có thể đi đến kết luận là Ngân hàngthương mại là một trong những định chế tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiềngửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra ngân hàng thương mạicũng cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch
vụ của xã hội Đặc điểm để phân biệt ngân hàng với các tổ chức tài chính phi ngânhàng đó là chỉ có ngân hàng mới được phép thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi của
cá nhân
Trang 121.1.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tín dụng với hoạt động chính là chuyểntiền tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và hai loại tổchức trong nền kinh tế, đó là các cá nhân và tổ chức tạm thời thiếu hụt chi tiêu vàcác cá nhân, tổ chức thặng dư trong chi tiêu Những người tạm thời thiếu hụt trongchi tiêu là những người chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt qua thu nhập của họ
và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn Những người thặng dư trong chi tiêu
là những người mà thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hoànghóa và dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm Sự tồn tại hai loại chủ thể trêntrong nền kinh tế là hoàn toàn độc lập với sự tồn tại của ngân hàng và nhu cầuchuyển giao vốn giữa hai nhóm chủ thể trên là tất yếu sẽ xảy ra Dòng tiền ra đi vớiđiều kiện quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định
sẽ làm cho thu nhập của các chủ thể tham gia tăng lên là động lực tạo ra mối quan
hệ tín dụng giữa hai nhóm Nếu dòng tiền di chuyển mà không tạo ra giá trị thặng
dư thì đó không phải là quan hệ tín dụng mà chỉ là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn[1]
Ví dụ về quan hệ tín dụng như sau, người có tiền tiết kiệm đòi 1% cho chiphí giao dịch, 3% dự phòng rủi ro và 3% là thu nhập ròng từ số tiền mà anh ta tạmthời từ bỏ quyền sử dụng để cho vay Người vay phải chi 1% để chi phí giao dịch,7% trả cho người cho vay, tổng cộng phí tổn tín dụng là 8% Nếu việc sử dụng tiềnvay được tạo ra cho anh ta một tỷ suất lợi nhuận lớn hơn 8% thì quan hệ tín dụng sẽđược thiết lập Quan hệ tín dụng trên đây là quan hệ tín dụng trực tiếp, nó đã có từrất lâu và vẫn tồn tại cho đến ngày nay Tuy nhiên, quan hệ tín dụng trực tiếp có rấtnhiều hạn chế bởi vì người vay và người cho vay có nhiều sự cách biệt về khônggian, thời gian và khác biệt về quy mô của vốn Điều này dẫn đến nhu cầu cần cómột chủ thể đứng ra làm trung gian cho hai chủ thể trên, chủ thể này sẽ khắc phụcđược những nhược điểm của quan hệ tín dụng trực tiếp
Bây giờ cũng với ví dụ trên nhưng trong điều kiện có trung gian tín dụng thì
có điều gì khác? Khi có thêm trung gian tín dụng thì vì được chuyên môn hóa nêntrung gian tín dụng có thể làm giảm chỉ phí giao dịch từ 2% ở trên xuống còn 1%,giảm rủi ro từ 3% xuống còn 1,5% Tổ chức trung gian có thể trả cho người có tiềntiết kiệm 4% với cam kết không có rủi ro (cao hơn so với 3% mà người cho vaynhận được trước đó), và đòi người vay vốn 7,5% (thấp hơn so với 8% mà người này
Trang 13phải trả cho người cho vay trước đó) Như vậy chênh lệch 7,5% - 1% - 1,5% - 4% =1% sẽ là thu nhập ròng của tổ chức trung gian Như vậy với sự xuất hiện của trunggian tín dụng đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó sẽ khuyến khích tiếtkiệm, đồng thời làm giảm chi phí của người đi vay, nghĩa là cũng làm tăng thu nhậpcho họ, từ đó mà khuyến khích đầu tư Qua hoạt động này mà trung gian tín dụngcũng nhận được thu nhập, bởi vì chính họ đã tập hợp được các người tiết kiệm vàđầu tư lại với nhau, từ đó tạo điều kiện để phá vỡ khoảng cách về quy mô, thời gian,không gian giữa cung và cầu vốn Không những thế, cơ chế hoạt động của trunggian sẽ hiệu quả hơn, bởi vì bằng những nghiệp vụ kỹ thuật, nó sẽ hạn chế, phân tánrủi ro và giảm chi phí giao dịch.
Về bản chất, khi tham gia vào quan hệ tín dụng, ngân hàng phải sẵn sàngchấp nhận cho vay các khoản có nhiều rủi ro nhưng lại phát hành các chứng khoán
ít rủi ro cho người gửi tiền, đó chính là ngân hàng đã tham gia vào hoạt động kinhdoanh rủi ro Bằng khả năng thẩm định thông tin của mình và sự phân bổ thông tinkhông đồng đều hay gọi là “thông tin không cân xứng”, đã tạo ra khả năng sinh lợicho ngân hàng, nơi mà có chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tàichính và có khả năng lựa chọn những công cụ với các yếu tố rủi ro và lợi nhuận hấpdẫn nhất
Một lý do nữa cho sự tồn tại của ngân hàng đó chính là sự không hoàn hảotrong hệ thống tài chính Chẳng hạn các khoản tín dụng và chứng khoán không thểchia thành các khoản nhỏ mà mọi người đều có thể mua được Ngân hàng cung cấpmột dịch vụ có giá trị trong việc chia chứng khoán đó thành các chứng khoán nhỏhơn dưới dạng tiền gửi tiết kiệm để phục vụ cho hàng triệu người Trong ví dụ này,vai trò của ngân hàng là trung gian phục vụ những người tiết kiệm trong hệ thốngtài chính còn kém hoàn hảo [1]
1.1.2.2 Chức năng tạo tiền
Tiền có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán Các ngânhàng thương mại không tạo được tiền kim loại nhưng nó tạo được phương tiệnthanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng Giấy nhận nợ do ngân hàngthương mại phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toánrộng rãi được nhiều người chấp nhận Như vậy, ban đầu các ngân hàng đã tạo raphương tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại mà họđang nắm giữ Với nhiều ưu thế dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kimloại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất giữ và nó trở thành tiền giấy Sau
Trang 14đó, bằng quyền lực của mình, Nhà nước đã tập trung việc in tiền vào một tổ chức,hoặc là Bộ Tài chính hoặc là Ngân hàng Trung ương, từ đó chấm dứt việc các ngânhàng thương mại tạo ra tiền giấy bạc của riêng mình [12].
Trong điều kiện thanh toán qua ngân hàng phát triển nhanh, các khách hàngnhận thấy rằng nếu họ có số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch họ có thể sử dụng
để chi trả cho hàng hóa, dịch vụ mà họ mua không khác gì so với việc sử dụng tiềnmặt Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản của khách hàng tăng lên, kháchhàng có thể dùng để mua hàng và thanh toán Theo quan điểm hiện đại, đại lượngtiền tệ bao gồm nhiều bộ phận trong đó có cả số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịchcủa khách hàng tài các ngân hàng Vì vậy, có thể nói, bằng việc cho vay hay tạo tíndụng mà các ngân hàng thương mại đã tạo ra phương tiện thanh toán (tạo ra M1)cho nền kinh tế [12]
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra được phương tiện thanh toán khi cáckhoản tiền gửi ngân hàng được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên
cơ sở cho vay Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trảthì sẽ làm tăng số dư tiền gửi của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác từ
đó tạo ra các khoản cho vay mới Trong khi không một ngân hàng nào có thể chovay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượngtiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay (tạo tíndụng) Đây chính là quá trình tạo ra số nhân tiền gửi của hệ thống ngân hàng thươngmại [1]
1.1.2.3 Trung gian thanh toán
Ở hầu hết các quốc gia hiện nay, ngân hàng đã trở thành trung gian thanhtoán lớn nhất cho toàn bộ nền kinh tế Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiệnthanh toán các hóa đơn hàng hoá và dịch vụ mà khách hàng mua Để việc thanhtoán diễn ra nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí nhất, ngân hàng đưa ra chokhách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, bằng uỷ nhiệm chi,nhờ thu, thanh toán bằng thẻ Ngân hàng cung cấp mạng lưới thanh toán điện tửtrong nội bộ ngân hàng và cả liên ngân hàng, ngân hàng kết nối các quỹ và ngânhàng cũng có thể cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng thực hiệnthanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua cáctrung tâm thanh toán Khi quy mô thanh toán ngày càng được mở rộng thì côngnghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao Vì vậy, công nghệ thanh toánhiện đại qua ngân hàng được các nhà quản lý ngày nay tìm cách áp dụng rộng rãi
Trang 15Nhiều hình thức thanh toán qua ngân hàng đã được chuẩn hoá nhằm mục đích gópphần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong mộtquốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn cầu Nhờ có các trung tâm thanh toánquốc tế được thiết lập mà hiệu quả thanh toán qua ngân hàng được tăng cao, biếnngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng nhất và phục vụ đắc lực chonền kinh tế thế giới [1].
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mạitập trung chủ yếu vào nhiệm vụ nhận tiền gửi và cho vay, đó là hai mặt của hoạtđộng cho vay Trong xu thế hiện nay, các Ngân hàng thương mại hoạt động theoloại hình đa năng thì hoạt động của nó đa dạng và phức tạp hơn nhưng vẫn tập trungvào ba mảng hoạt động chính, đó là: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụngvốn và hoạt động trung gian thanh toán
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
a Nhận tiền gửi
Tiền gửi là nguồn tài nguyên quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong nguồn vốn của Ngân hàng thương mại Thông thường tiền gửi chiếm hơn50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hằng năm của các ngân hàng Ngânhàng có thể huy động tiền gửi từ các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức xãhội và tiền gửi của các ngân hàng khác Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnhtranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa
ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau như: tiền gửi thanh toán, tiềngửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn Mỗi một hình thức huyđộng tiền gửi đều có ưu điểm và nhược điểm riêng nhưng đều mang lại cho ngânhàng một sự gia tăng nguồn vốn lớn Tiền gửi có đặc điểm là khách hàng có thể đếnngân hàng rút bất cứ lúc nào, nếu khách hàng đến rút trước kỳ hạn thì khách hàng sẽkhông được hưởng lãi suất hoặc được hưởng với lãi suất thấp Vì tính linh động nàycho nên lãi suất của tiền gửi thường thấp hơn so với tiền vay, tuy nhiên nó lại gâycho ngân hàng khó khăn trong vấn đề thanh khoản Vì vậy trong một số trường hợp,
để đảm bảo có đủ vốn để hoạt động thì các ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ đivay [1]
b Đi vay
Trang 16Tiền vay có ưu điểm là Ngân hàng chỉ phải hoàn trả khi khoản vay đó đếnhạn, điều này khiến ngân hàng có thể chủ động hơn trong hoạt động của mình, vìvậy khi cần thì Ngân hàng thương mại thường vay mượn thêm Trong trường hợpthiếu hụt cấp bách trong chi trả hoặc trong dự trữ (dự trữ bắt buộc và dự trữ thanhtoán), Ngân hàng thương mại thường vay tiền từ Ngân hàng Nhà nước Hình thứccho vay chủ yếu của Ngân hàng Nhà nước là tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn Song,nguồn này thường bị hạn chế vì chính sách điều hành của Ngân hàng Nhà nước vềkhoản vay mượn này rất chặt chẽ Ngân hàng thương mại phải thực hiện các điềukiện đảm bảo và kiểm soát nhất định, thông thường Ngân hàng Nhà nước chỉ táichiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng và kỳ hạn ngắn [1] Một nguồnkhác ngân hàng có thể vay là nguồn từ các tổ chức tín dụng khác, đây là nguồn màcác ngân hàng vay mượn lẫn nhau để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách để
bổ sung, thay thế cho nguồn vay mượn từ Ngân hàng Nhà nước Cũng giống nhưcác doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng có thể vay mượn trên thị trường vốnbằng cách phát hành các giấy nợ như kỳ phiếu, tín phiếu và trái phiếu [1] Do đặcđiểm nguồn tiền gửi trung và dài hạn thường chỉ chiếm tỷ lệ thấp nên các Ngânhàng thương mại thường dựa vào hình thức vay trung và dài hạn để bổ sung cho cácnguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài hạn Tuy nhiên, do thị trườngvốn ở Việt Nam chưa phát triển do vậy mà nguồn tiền có được từ nghiệp vụ này cònrất ít ỏi Hơn nữa, thông thường đây là khoản vay mượn không có bảo đảm nên chỉnhững ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao mới vay được nhiều, còn các ngânhàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này mà họ phải thông qua cácngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của các ngân hàng lớn hơn Vì vậy các nghiệp
vụ vay mượn là tương đối phức tạp, ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị trường đểquyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và kỳ hạn vay thích hợp [1]
c Huy động vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu đi vào hoạt động thì đầu tiên chủ ngân hàng cần phải có mộtlượng vốn nhất định Đây là loại vốn ngân hàng sử dụng lâu dài, giúp hình thànhnên tài sản cố định cho ngân hàng và cũng có thể tham gia vào các hoạt động kháccủa ngân hàng Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạngtuỳ theo tính chất sở hữu và năng lực tài chính của chủ ngân hàng Nguồn hìnhthành có thể là vốn góp ban đầu và nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động,thông qua hoạt động tăng vốn điều lệ hoặc bổ sung từ lợi nhuận giữ lại Để tăng vốnđiều lệ, ngân hàng có thể phát hành thêm cổ phiếu đối với Ngân hàng thương mại
Trang 17cổ phần hoặc cấp thêm vốn, tăng vốn đối với Ngân hàng thương mại Quốc doanh,Ngân hàng TNHH một thành viên hoặc nhiều thành viên Trong quá trình phát triểncủa bản thân ngân hàng cũng như của hệ thống ngân hàng thì yêu cầu tăng vốn làyêu cầu bắt buộc Bởi vì nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn rất quan trọng đối vớingân hàng, nó là cơ sở để các ngân hàng đưa ra chiến lược hoạt động; quy định quy
mô được phép hoạt động của ngân hàng Ngoài ra Vốn chủ sở hữu còn đảm bảo an
toàn cho hoạt động ngân hàng thông qua Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) = mà
theo Ủy ban Basel công bố là 8% (Nguồn: Hiệp định Basel III) Vốn chủ sở hữu lớncũng sẽ củng cố lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng cũng như nâng cao uytín của ngân hàng trên thị trường Tuy nhiên nguồn vốn này có đặc điểm là khó huyđộng và chi phí huy động cao nên nó thường chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổngnguồn vốn Do vậy, để cho vay có hiệu quả, các ngân hàng chủ yếu huy động từ tiềngửi của khách hàng
1.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn
Để có được nguồn vốn tạo ra nên các tài sản cả ngân hàng, ngân hàng đãphải bỏ ra chi phí huy động và những chi phí khác để quản lý nguồn vốn Do vậy đểthu được lợi nhuận, ngân hàng phải thực hiện cho vay ngay hoặc đầu tư ngay số tàisản ấy vào những hoạt động sinh lãi Ngân hàng thường có các hoạt động sử dụngvốn như sau:
a Hoạt động tín dụng
Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại lâu trong đời sống xã hội loài người.Theo tiếng La Tinh thì tín dụng có nghĩa là sự tin tưởng, điều này có nghĩa là trongmối quan hệ tín dụng, người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả cả vốn và
lãi đúng thời gian như hai bên đã thoả thuận Như vậy, tín dụng hiểu theo cách đơn giản nhất là một quan hệ vay mượn lẫn nhau dựa trên nguyên tắc có hoàn trả [1] Theo định nghĩa này thì tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và
đi vay Tuy nhiên khi gắn với chủ thể là ngân hàng hay các tổ chức trung gian tín
dụng khác thì tín dụng được hiểu theo nghĩa là ngân hàng cho vay.
Hoạt động tín dụng là hoạt dộng kinh doanh quan trọng của các ngân hàngthương mại Đối với các ngân hàng thương mại ở các nước đang phát triển như ViệtNam thì hoạt động tín dụng không chỉ là hoạt động sử dụng vốn nhiều nhất, mà còn
là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu trong tất cả các hoạt động sinh lợi Theo thống kê
Trang 18thì ở các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, thu nhập từ hoạt động cho vayvẫn chiếm tỷ lệ khoảng 90% trong tổng thu nhập của các ngân hàng [1].
Việc cấp tín dụng hiện nay cũng có rất nhiều hình thức, ở Việt Nam thì
“Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp
vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và
các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” (Theo Điều 4, khoản 14, Luật các tổ chức tín
dụng 2010)
Hoạt động tín dụng thường bao gồm các nghiệp vụ sau:
- Cho vay: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao
hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xácđịnh trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cảgốc và lãi” (Theo Điều 4, Khoản 16, Luật các tổ chức tín dụng 2010)
- Chiết khấu: “Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền
truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trướckhi đến hạn thanh toán” (Theo Điều 4, Khoản 19, Luật các tổ chức tín dụng 2010)
- Cho thuê tài chính: “Cho thuê tài chính là nghiệp vụ mà ngân hàng bỏ tiền
ra để mua tài sản, thường là những tài sản cố định có giá trị lớn, để cho khách hàngthuê theo những thỏa thuận nhất định Hàng kỳ khách hàng sẽ phải trả tiền thuê chongân hàng và khi hết thời hạn thuê thì ngân hàng có thể bán lại tài sản đó cho kháchhàng” [2]
- Bao thanh toán: “Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán
hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi cáckhoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cungứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ” (Theo Điều 4,Khoản 17, Luật các tổ chức tín dụng 2010)
- Bảo lãnh ngân hàng: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo
đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thựchiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặcthực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trảcho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận” (Theo Điều 4, Khoản 18, Luật các tổ chức tíndụng 2010) Đây chính là việc ngân hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi mặc dù
Trang 19ngân hàng không phải xuất tiền ra Bảo lãnh ngân hàng được ghi vào tài sản ngoạibảng giá trị mà ngân hàng cam kết trả thay cho khách hàng của mình Khi phát sinhnghiệp vụ chi trả phần bảo lãnh mà ngân hàng phải thực hiện thì ngân hàng mớiđược ghi nhận vào tài sản nội bảng.
Nhìn chung thì hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận cao nhấtcho ngân hàng và cũng là hoạt động quyết định sự thành bại của các ngân hàng Tuynhiên nó lại chứa đựng khá nhiều rủi ro Vì vậy mà các ngân hàng ngày nay, ngoàiviệc tập trung vào hoạt động truyền thống là tín dụng, họ còn mở rộng hoạt độngsang lĩnh vực đầu tư
b Hoạt động đầu tư
Tham gia vào hoạt động đầu tư sẽ góp phần làm tăng thêm thu nhập cho cácngân hàng Hoạt động này vốn rất đa dạng, nó có nhiều hình thức như góp vốn, mua
cổ phần của các công ty, thành lập các công ty liên doanh liên kết, mua bán cácchứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu Tất cả các hoạt động này đều nhằm đa dạng hoáhoạt động ngân hàng, giảm thiểu rủi ro, đem lại nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng.Ngoài ra hoạt động đầu tư giúp cho ngân hàng khai thác tối đa nguồn vốn đã huyđộng đồng thời tạo tính lỏng mới cho tài sản của ngân hàng [1]
1.1.3.3 Hoạt động khác
Ngày nay kinh tế ngày một phát triển, nhu cầu con người ngày càng nângcao, và để hoà nhập với sự phát triển đó, các ngân hàng thương mại không chỉ bóhẹp ở những hoạt động truyền thống mà họ đã và đang đa dạng hóa các nghiệp vụ,
mở rộng các loại hình dịch vụ như mua bán ngoại tệ, cung cấp dịch vụ uỷ thác, tưvấn, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, dịch vụquản lý ngân quỹ, [1]
Các hoạt động của ngân hàng thương mại có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗtrợ nhau tạo cho ngân hàng một sản phẩm toàn diện trong môi trường cạnh tranh
1.2 Hoạt động cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cho vay
Cho vay có ý nghĩa rất lớn đối với từng chủ thể kinh tế cũng như đối với nềnkinh tế đất nước và nó có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng xã hộicủa ngân hàng thương mại trong nền kinh tế Cho vay là lý do tồn tại cơ bản đối vớingân hàng thương mại, là nhu cầu thiết yếu của tất cả các chủ thể và thành phần
Trang 20khác nhau trong nền kinh tế Đối với các ngân hàng thương mại thì cho vay thườngchiếm tỷ trọng lớn nhất trong các hoạt động của nó Cho vay không chỉ là khoản sửdụng vốn lớn nhất của ngân hàng, mà còn là nguồn tạo ra thu nhập lớn nhất trongtất cả các tài sản có sinh lợi [1].
Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 thì cho vay được định nghĩa: “Cho vay
là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (Nguồn: Điều 4,
Khoản 16, Luật Các tổ chức tín dụng 2010).
Cho vay thường được định lượng qua 2 chỉ tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ
và dư nợ cho vay cuối kỳ Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng
đã cho vay ra trong kỳ, còn dư nợ cho vay cuối kỳ là số tiền mà ngân hàng hiệnđang còn cho vay tại thời điểm cuối kỳ Dư nợ cho vay được thể hiện trên báo cáotài chính ở khoản mục “dư nợ”
1.2.2 Phân loại hoạt động cho vay và khái niệm cho vay trung và dài hạn
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế mà các hình thức cho vay của Ngânhàng thương mại hiện nay rất đa dạng và phong phú Tuỳ theo mục đích nghiên cứu
mà có thể phân chia các loại hình cho vay theo các tiêu chí khác nhau Trên thực tế
có ba cách chia phổ biến như sau:
1.2.2.1 Phân loại theo hình thức cho vay
Nếu phân loại theo hình thức thì cho vay có các loại sau:
a Thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay mà qua đó ngân hàng cho phép người vayđược phép chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của khách hàng đó trong một giớihạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạnmức thấu chi [1] Hình thức này áp dụng đối với khách hàng có tiền gửi thanh toántại ngân hàng mà thu chi của khách hàng đó không phù hợp về thời gian và quy mô.Trong quá trình hoạt động, khạch hàng có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi, thanh toánvượt quá số dư tiền gửi để chi trả (trong hạn mức) Phần chi vượt so với số tiền gửithanh toán của khách hàng sẽ được chuyển thành khoản vay ngân hàng của kháchhàng và khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản thì ngân hàng sẽ tiến hành thu nợgốc và lãi Thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản vàphần lớn là không có đảm bảo, có thể áp dụng cho cả khách hàng cá nhân và khách
Trang 21hàng doanh nghiệp Tùy theo khả năng tài chính của khách hàng, mối quan hệkhách hàng - ngân hàng mà ngân hàng sẽ quyết định hạn mức thấu chi cho từngkhách hàng khác nhau Nhìn chung, hình thức này chỉ áp dụng với các khách hàng
có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn [1]
b Cho vay theo hạn mức
Là nghiệp vụ cho vay theo đó ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng mộthạn mức tín dụng tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ Hạn mức tín dụng cả kỳ nghĩa là dư
nợ trong kỳ của khách hàng luôn luôn phải thấp hơn hạn mức được duyệt trọng kỳ,còn hạn mức tín dụng tính cho cuối kỳ thì chỉ yêu cầu dư nợ cuối kỳ của kháchhàng thấp hơn hạn mức được duyệt cuối kỳ [1] Hạn mức tín dụng thích hợp với cáckhách hàng có nhu cầu vốn phát sinh liên tục theo chu kỳ sản xuất kinh doanh Việccho vay theo hạn mức sẽ giảm thiểu chi phí và thời gian vay vốn, đồng thời tránhlãng phí vốn (so với vay một khoản lớn một lần) Tuy nhiên do các lần vay khó táchbiệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát được hiệu quả sử dụngcủa từng lần vay
c Cho vay trực tiếp từng lần
Đây là hình thức cho vay phổ biến nhất của ngân hàng thương mại, áp dụngcho các đối tượng là các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên,những khách hàng không có đủ điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi hoặc donhu cầu vay vốn lớn [1] Thông thường những khách hàng này chỉ sử dụng vốn chủ
sở hữu và tín dụng thương mại để hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ khi có nhucầu đặc biệt như mở rộng sản xuất thì họ mới cần tới vốn vay từ ngân hàng Nghiệp
vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vaytách biệt và mỗi khoản vay đều có tài sản bảo đảm
d Cho vay luân chuyển
Là hình thức ngân hàng cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá Khinhập hàng hoá vào doanh nghiệp có thể gặp trường hợp thiếu tiền để thanh toán chonhà cung cấp, khi đó cho vay luân chuyển như một cách ứng trước tiền cho doanhnghiệp Ngân hàng sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng Cho vay luânchuyển được ngân hàng áp dụng đối với các doanh nghiệp có chu kỳ tiêu thụ đềuđặn, ngắn ngày, khách hàng có có quan hệ vay trả thường xuyên và có tín nhiệm vớingân hàng Thủ tục cho vay luân chuyển thuận tiện cho khách hàng vì chỉ cần thực
Trang 22hiện một lần cho nhiều lần vay, tuy nhiên đối với ngân hàng thì sẽ gặp khó khăntrong việc thu hồi nợ nếu như doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ [1].
e Cho vay gián tiếp
Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Loại hình này ápdụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán (khách hàngthường là nông dân, người buôn bán nhỏ ), khi đó cho vay qua trung gian giúp tiếtkiệm thời gian và chi phí, đồng thời giảm thiểu rủi ro của việc mất vốn [1] Các tổchức trung gian mà ngân hàng có thể sử dụng đó là các tổ, đội, nhóm như nhóm sảnxuất, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ,… Cho vay qua trung gian cónhiều lợi thế tuy nhiên nó cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết như việc các trung gianlợi dụng vị thế của mình để tăng lãi suất, chiếm dụng vốn, cho vay sai mục đích
f Cho vay trả góp
Đây là hình thức cho vay mà khách hàng được phép thanh toán gốc làmnhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận từ trước Việc chia gốc làm nhiềulần sẽ tăng khả năng trả nợ của khách hàng Cho vay trả góp hiện nay được áp dụngtương đối phổ biến đối với các khoản vay trung và dài hạn để tài trợ cho tài sản cốđịnh hoặc hàng lâu bền Ngân hàng cũng áp dụng cho vay trả góp đối với người tiêudùng [1] Đây là hình thức tín dụng nhằm mục đích khuyến khích tiêu thụ hàng hóa
Vì đặc điểm có kỳ hạn trả nợ nhiều lần nên lãi suất của cho vay trả góp thường làcao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng
1.2.2.2 Phân loại theo đảm bảo khoản vay
Nếu theo tiêu chí này thì cho vay sẽ bao gồm hai loại:
a Cho vay có tài sản đảm bảo
Với loại hình này, khách hàng khi vay vốn phải thế chấp hoặc cầm cố tài sản.Ngân hàng sẽ định giá tài sản, đánh giá tính thanh khoản của tài sản đó và yêu cầukhách hàng ký vào các cam kết cần thiết như hợp đồng thế chấp, cầm cố [1] Số tiềnkhách hàng được vay sẽ không được vượt quá một tỷ lệ nào đó so với giá trị của tàisản đảm bảo (ví dụ 70% giá trị tài sản đảm bảo) Trong trường hợp khách hàng đếnhạn mà không có khả năng trả nợ thì ngân hàng sẽ xem xét đến tài sản đảm bảo nhưmột nguồn thu nợ thứ hai Tuy nhiên thủ tục thanh lý tài sản đảm bảo diễn ra tươngđối phức tạp, tốn nhiều thời gian và công sức nên ngân hàng chỉ xem nó là phương
án cuối cùng
Trang 23b Cho vay không có tài sản đảm bảo (tín chấp)
Ngân hàng có thể cho vay mà không cần dựa trên bất kỳ tài sản đảm bảo nàonếu khách hàng là khách hàng lớn, có uy tín trên thị trường, có khả năng tài chínhmạnh mẽ và có quan hệ lâu dài với ngân hàng Đối với những Ngân hàng thươngmại Nhà nước thì còn có thể áp dụng hình thức cho vay này đối với những nhữngkhách hàng theo chỉ định của Chính phủ mà không cần có tài sản thế chấp [1]
1.2.2.3 Phân loại theo thời hạn cho vay
Theo Điều 3, khoản 2 của Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với
khách hàng thì “Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng”.
Tuỳ theo độ dài của thời hạn cho vay mà có thể chia hoạt động cho vay thành
3 loại như sau:
a Cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng (Theo
Điều 8, Khoản 1, Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành theoQuyết định số 1627/2011/QĐ-NHNN)
Cho vay ngắn hạn nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụngvốn ngắn hạn của doanh nghiệp, cá nhân, hộ sản xuất và của cả Nhà nước Nó cóthể bao gồm cho vay trực tiếp và gián tiếp, cho vay từng lần hoặc áp dụng hạn mức,
có thể có bảo đảm hoặc không cần bảo đảm, dưới hình thức chiết khấu, thấu chihoặc cho vay luân chuyển [1]
- Đối với khách hàng Nhà nước: Ngân hàng thương mại sẽ tài trợ cho nhữngthiếu hụt tạm thời của ngân sách Nhà nước bằng việc mua tín phiếu kho bạc
- Đối với các tổ chức tài chính khác: Ngân hàng thương mại cho các tổ chứctài chính khác vay ngắn hạn để bù đắp thanh khoản
- Đối với các doanh nghiệp: Ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệpvay ngắn hạn để doanh nghiệp đầu tư vào tài sản lưu động (dự trữ, phải thu) hoặcphát triển sản xuất, cho vay xuất nhập khẩu và nhu cầu thanh toán
- Đối với khách hàng cá nhân: Ngân hàng cho cá nhân vay để đáp ứng nhucầu thanh toán (thấu chi) của khách hàng
Trang 24b Cho vay trung hạn
Cho vay trung hạn là khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng (theo Điều 8, Khoản 2, Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban
hành theo Quyết định số 1627/2011/QĐ-NHNN)
Ngân hàng cung cấp loại hình cho vay này cho khách hàng là các tổ chức, cánhân để tài trợ cho những nhu cầu mua sắm lớn và mở rộng sản xuất Các tài sản cốđịnh như phương tiện sản xuất, phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trangthiết bị nhanh hao mòn có nhu cầu nguồn vốn từ 1 năm đến 5 năm
c Cho vay dài hạn
Cho vay dài hạn là khoản vay có thời hạn cho vay lớn hơn 60 tháng (theo
Điều 8, Khoản 3, Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành theoQuyết định số 1627/2011/QĐ-NHNN)
Đối tượng cho vay của loại hình này là Nhà nước, các tổ chức và doanhnghiệp:
- Nhà nước sẽ vay vốn ngân hàng thông qua việc bán các trái phiếu Chínhphủ, trái phiếu công trình công cộng, các ngành và vùng kinh tế trọng điểm khuyếnkhích phát triển
- Các tổ chức, doanh nghiệp yêu cầu sử dụng tín dụng dài hạn để đầu tư vàocác công trình lớn, trang thiết bị, công nghệ hiện đại mang tính chiến lược trong kếhoạch phát triển của mình
- Người tiêu dùng cũng vay dài hạn Ngân hàng thương mại để mua sắmnhững hàng hóa tiêu dùng có tính chất lâu bền như nhà cửa, phương tiện vận tải
Như vậy, từ định nghĩa cho vay trung hạn và cho vay dài hạn ở trên có thể
định nghĩa cho vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại như sau: “Cho vay trung và dài hạn là các khoản cho vay của Ngân hàng thương mại mà có thời hạn cho vay trên 12 tháng”.
Phân loại cho vay theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với Ngân hàngthương mại Nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro cũng như khả năng ảnhhưởng trực tiếp đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại
1.2.3 Phân loại cho vay trung và dài hạn
Cho vay trung và dài hạn thường có các hình thức như sau:
Trang 25- Cho vay theo dự án đầu tư: Phần lớn các khoản cho vay trung và dài hạn
thường phục vụ cho các dự án đầu tư Dự án đầu tư có thể hiểu là một tập hợpnhững đề xuất về nhu cầu vốn, cách thức sử dụng vốn, kết quả tương ứng thu đượctrong một khoảng thời gian xác định đối với hoạt động cụ thể để sản xuất kinhdoanh, dịch vụ, đầu tư phát triển hoặc phục vụ đời sống (Theo Điều 3, khoản 6, QĐ
số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc Ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụngđối với khách hàng) Dự án đầu tư bao gồm dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mởrộng sản xuất kinh doanh Một trong những yêu cầu của ngân hàng là người vayphải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng như quá trình thựchiện dự án (sản xuất kinh doanh) Thẩm định dự án là điều kiện để ngân hàng quyếtđịnh phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp
- Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cho cá nhân vay để tiêu dùng những hàng
hóa lâu bền, có giá trị lớn như nhà đất, phương tiện vận chuyển hoặc cho vay để duhọc Ngân hàng có thể cho vay trực tiếp với người mua hoặc cũng có thể thông quatài trợ cho các doanh nghiệp bán lẻ để các doanh nghiệp này bán hàng theo phươngthức trả góp [1]
- Cho vay hợp vốn: Hình thức cho vay hợp vốn là hình thức tín dụng trọng
đó bên cho vay không phải là một mà là hai hoặc nhiều tổ chức tín dụng đồng cam
kết tài trợ cho một dự án đầu tư hay một phương án sản xuất kinh doanh của mộtkhách hàng Hình thức này thường áp dụng cho các dự án có quy mô lớn, rủi ro caohoặc là dự án liên quan đến nhiều bộ ngành, địa phương mà vượt quá khả năng vàgiới hạn được phép của một ngân hàng [1]
1.2.4 Đặc điểm hoạt động cho vay trung và dài hạn
1.2.4.1 Cho vay trung và dài hạn ngân hàng cần phải lên kế hoạch từ trước
Để có thể cho vay trung và dài hạn thì ngân hàng phải chuẩn bị trước về vốn.Quy mô của một khoản cho vay trung và dài hạn thường lớn hơn cho vay ngắn hạnđồng thời thời gian thu hồi vốn cũng lâu hơn so với cho vay ngắn hạn nên để tài trợcho khoản vay trung dài hạn thì ngân hàng cần phải chuẩn bị trước về vốn Vốn đểtài trợ cho cho vay trung và dài hạn thường bao gồm tiền gửi dài hạn, trung hạn,ngắn hạn và tiền từ huy động trái phiếu, Do đó để đảm bảo được vốn cho hoạtđộng cho vay trung dài hạn của mình thì ngân hàng phải lập kế hoạch về vốn trongngắn hạn và dài hạn
1.2.4.2 Rủi ro của cho vay trung dài hạn thường cao hơn rủi ro cho vay ngắn hạn
Trang 26Do thời hạn của cho vay trung và dài hạn dài hơn so với cho vay ngắn hạn,thời gian thu hồi vốn chậm hơn nên độ rủi ro của một khoản cho vay trung và dàihạn thường cao hơn so với một khoản cho vay ngắn hạn Thời hạn cho vay càng dàithì khả năng dự đoán và độ chính xác của các dự đoán của ngân hàng về hiệu quảcủa các khoản vay càng thấp Hiệu quả của các khoản cho vay này thường chịu ảnhhưởng của nhiều yếu tố, ví dụ như chính sách của Chính phủ, biến động của thịtrường, rồi thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh… Do đó thời hạn cho vay càng kéo dàithì sự thay đổi trong môi trường kinh tế xã hội càng khó dự đoán, từ đó rủi ro củangân hàng khi cho vay trung và dài hạn càng cao.
1.2.4.3 Lợi nhuận thường lớn hơn cho vay ngắn hạn
Khi rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn Không nằm ngoài quyluật này, các khoản cho vay trung dài hạn của ngân hàng thường mang lại cho ngânhàng khả năng sinh lợi lớn hơn so với cho vay ngắn hạn Biểu hiện cụ thể đó là lãisuất các khoản cho vay trung và dài hạn thường cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn.Ngoài lý do cho vay trung và dài hạn có rủi ro thường cao hơn so với cho vay ngắnhạn, thì đồng thời chi phí huy động vốn trung và dài hạn cũng thường cao hơn sovới huy động vốn ngắn hạn Do đó lãi suất cho vay trung dài hạn cần phải cao hơnlãi suất cho vay ngắn hạn để bù đắp cho những chi phí mà ngân hàng bỏ ra
1.2.5 Vai trò của cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng thương mại
1.2.5.1 Vai trò đối với Ngân hàng
Cho vay trung và dài hạn mang lại nguồn lợi nhuận cao cho Ngân hàng
Trong tỷ trọng cho vay của Ngân hàng thương mại thì cho vay trung và dàihạn luôn chiếm tỷ trọng cao Với quy mô lớn và kỳ hạn dài nên lãi suất cho vaytrung và dài hạn thường cao hơn so với cho vay ngắn hạn [1] Hơn nữa, vì thời hạncho vay dài nên tiền lãi ngân hàng thu được ổn định hơn, ngân hàng cũng giảm bớtđược chi phí và thời gian tìm kiếm khách hàng
Cho vay trung và dài hạn giúp Ngân hàng nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng khả năng hoạt động
Ngoài lợi thế về khả năng tạo thu nhập, cho vay trung và dài hạn còn tạo ramối quan hệ gắn bó lâu dài giữa khách hàng và ngân hàng Khi một khách hàng vayvốn trung và dài hạn tại ngân hàng thì sau một quá trình cộng tác, ngân hàng hiểu rõhơn về khách hàng của mình và khách hàng cũng tạo được uy tín với ngân hàng.Điều này tạo điều kiện để hai bên tin cậy và hợp tác lâu dài, những giao dịch về sau
Trang 27cũng thuận lợi hơn, giúp cho cả ngân hàng và khách hàng tiết kiệm được nhiều thờigian và tiền bạc.
Hiện nay, nền kinh tế vận động theo hướng mở cửa, các doanh nghiệp ngàycàng có nhu cầu mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, trang thiết bị nên nhu cầuvốn trung và dài hạn là rất lớn [1] Đây chính là điều kiện để ngân hàng mở rộngphạm vi hoạt động, nâng cao sức cạnh tranh và có cơ hội khẳng định mình trên thịtrường
Cho vay trung và dài hạn còn tạo điều kiện cho cho vay ngắn hạn phát triển
Như đã đề cập ở trên, khi khách hàng đến vay vốn trung và dài hạn để đầu tưtrang thiết bị mới hoặc đầu tư mở rộng sản xuất thì việc sản xuất kinh doanh củakhách hàng sẽ tăng lên kéo theo nhu cầu về vốn lưu động cũng tăng theo Khi đã cómối quan hệ làm ăn với ngân hàng thì khi có nhu cầu về vay vốn ngắn hạn thì kháchhàng cũng sẽ ưu tiên ngân hàng đó để vay Từ một hợp đồng cho vay vốn trung vàdài hạn, ngân hàng có thể khai thác triệt để các cơ hội để cung cấp các dịch vụ ngânhàng khác của mình một cách hiệu quả cho khách hàng, điều này cũng giúp chongân hàng kiểm soát được vấn đề sử dụng vốn vay trung dài hạn của khách hàng
1.2.5.2 Vai trò đối với khách hàng
Vốn vay trung và dài hạn là nguồn tài trợ quan trọng giúp doanh nghiệp
mở rộng quy mô, tăng cường sức cạnh tranh
Đây là mục tiêu hàng đầu mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng mongmuốn Để muốn cạnh tranh được trên thị trường thì phải thường xuyên đổi mớicông nghệ mở rộng sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và tranhgiành thị phần Muốn thế đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn trung và dàihạn lớn Tính về trung và dài hạn thì doanh nghiệp có thể sử dụng vốn chủ sở hữu,phát hành trái phiếu và vốn vay ngân hàng Doanh nghiệp luôn muốn chọn chomình một cơ cấu vốn tối ưu nhất để chi phí vốn là thấp nhất Sử dụng vốn vay có ưuđiểm là giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa lợi ích của lá chắn thuế, không bị mấtquyền kiểm soát, tuy nhiên rủi ro phá sản đối với doanh nghiệp cũng cao hơn Tùythuộc vào nhiều yếu tố mà doanh nghiệp sẽ quyết định sử dụng nợ bao nhiêu là vừanhưng đa phần họ đều muốn sử dụng nợ vì những lợi ích mà nó đem lại Thống kêcho thấy, tỷ lệ nợ trung bình ở các doanh nghiệp Việt Nam lên tới hơn 50% [2]
Trang 28 Sử dụng vốn vay trung và dài hạn của ngân hàng giúp doanh nghiệp giúp doanh nghiệp tốt hơn trong vấn đề quản lý tài chính
Khi doanh nghiệp muốn tới vay vốn tại ngân hàng thì điều kiện tiên quyết làdoanh nghiệp phải minh bạch được tình hình tài chính của mình Để được vay vốnthì doanh nghiệp phải trình bày được hiệu quả tài chính của dự án Khi thẩm định
dự án, ngân hàng có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xây dựng và lập kế hoạchtài chính Ngân hàng cũng có thể tư vấn doanh nghiệp hoàn thiện chính sách trongviệc quản lý tài sản lưu động như tiền mặt, hàng tồn kho, quản lý các khoản phảithu, phải trả từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí từ đó tăng hiệu quả của dự án vàtăng khả năng trả nợ cho ngân hàng
Đối với khách hàng cá nhân, vay trung dài hạn giúp cho người vay vốn nâng cao thu nhập và đời sống
Vốn vay trung và dài hạn không chỉ có vai trò quan trọng đối với doanhnghiệp mà nó cũng đem lại lợi ích to lớn cho khách hàng cá nhân Ví dụ như một cánhân, nếu bằng thu nhập hàng tháng của anh ta thì không thể có đủ tiền để mua mộtngôi nhà nhưng bằng hình thức vay vốn trả góp của ngân hàng, trong vòng 5 đến 10năm, thì anh ta có thể sở hữu ngay một ngôi nhà cho riêng mình Vốn vay trung vàdài hạn giúp cho người tiêu dùng được tiêu dùng những hàng hóa mà có giá trị lớn,thời gian sử dụng lâu dài so với thu nhập ít ỏi của họ Đời sống cá nhân cũng từ đó
mà tăng lên
1.2.5.3 Vai trò đối với nền kinh tế
Cho vay trung và dài hạn thúc đẩy quá trình tập trung và tích tụ tư bản, từ
đó thúc đẩy phát triển kinh tế
Với chức năng là trung gian tín dụng, các Ngân hàng thương mại tập trungnguồn vốn nhàn rỗi để cho vay với những khách hàng có nhu cầu Thông qua hoạtđộng cho vay trung và dài hạn mà dòng vốn có thể tới được với những nơi có nhucầu Bằng những nghiệp vụ của mình mà ngân hàng thương mại có thể tìm ra nhữngkhách hàng thực sự có nhu cầu vay vốn và sử dụng vốn có hiệu quả [1] Dòng vốntrung và dài hạn có vai trò to lớn trong việc xây dựng nền móng cho nền kinh tế, để
từ đó đưa nền kinh tế phát triển
Cho vay trung và dài hạn giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các ngành kinh tế trọng tâm, trọng điểm của quốc gia
Trang 29Việc sử dụng vốn trung dài hạn trong quá trình mở rộng sản xuất, thay đổicông nghệ có tác dụng lớn lao giúp thay đổi tỷ trọng các ngành kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa Thông qua việc cho vay có định hướng mà dòng vốnđược điều chỉnh để đi đúng hướng, tập trung vào những ngành kinh tế then chốt,mũi nhọn có tác dụng tạo ra tác dụng đòn bẩy cho toàn bộ nền kinh tế.
Cho vay trung và dài hạn góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế đồng thời giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước
Bằng việc tài trợ cho đổi mới công nghệ, hỗ trợ vốn cho các dự án đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng, cho vay nhập khẩu máy móc, trang thiết bị mà bộ mặt của nềnkinh tế ngày càng đi lên Nước ta đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa nên nhu cầu về vốn cực kỳ lớn trong khi đó nguồn vốn từ Ngân sáchthì có hạn Nguồn vốn trung dài hạn của ngân hàng cực kỳ có ích trong việc hỗ trợNgân sách Nhà nước Hơn thế nữa, dòng vốn này sẽ có hiệu quả cao hơn so với vốnđược cấp phát từ Ngân sách bởi vì ngân hàng cấp dựa trên nguyên tắc hoàn trả cảgốc và lãi, vì vậy cả người đi vay và người cho vay sẽ phải sử dụng và kiểm soátviệc sử dụng vốn sao cho hiệu quả nhất
1.2.6 Quy trình cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại
Khi cho vay, ngân hàng phải đảm bảo các nguyên tắc cho vay sau:
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn và lãi với thời gian xác định
- Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay theo đúng mục đích được thỏathuận với ngân hàng, không trái với pháp luật và các quy đinh khác của ngânhàng cấp trên
- Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả
Để thực hiện đúng các nguyên tắc trên, ngân hàng phải đưa ra một quy trìnhcho vay trung và dài hạn, nó là một bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng
từ khi tiếp nhận hồ sơ xin vay vốn của khách hàng cho đến lúc thanh lý hợp đồng.Các ngân hàng thường cụ thể hóa quy trình trên thành nhiều bước và quy trình củamỗi ngân hàng là khác nhau, tuy nhiên có thể tóm gọn lại như sau:
Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
Ngay sau khi tiếp xúc với khách hàng, cán bộ tín dụng sẽ thu thập thông tin
để lập hồ sơ vay vốn Các thông tin cần thu thập gồm;
- Hồ sơ về năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng
Trang 30- Mục đích và kế hoạch sử dụng vốn vay
- Khả năng hoàn trả gốc và lãi của khách hàng
Bước 2: Phân tích trước khi cho vay
Phân tích cho vay có nghĩa là xác định khả năng hiện tại và tương lai củakhách hàng trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay Mục tiêu của phân tích
là xác định rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro Đây là bước quan trọng nhấtquyết định chất lượng của phân tích tín dụng Nội dung chủ yếu là thu thập và xử lýthông tin liên quan đến khách hàng, bao gồm năng lực sử dụng vốn vay, uy tín, khảnăng tạo ra lợi nhuận, nguồn ngân quỹ và quyền sở hữu các tài sản của khách hàng
Bước 3: Ra quyết định cho vay
Trong bước này, ngân hàng sẽ quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đốivới một hồ sơ xin vay vốn của khách hàng Nếu đồng ý thì hai bên sẽ ký kết mộthợp đồng vay vốn Hợp đồng này sẽ quy định những vấn đề như số tiền cho vay,thời hạn cho vay, lãi suất, mục đích sử dụng, tài sản đảm bảo, quy trình giải ngân vàcác điều kiện thanh toán
Bước 4: Giải ngân và giám sát khoản cho vay
Sau khi hợp đồng vay vốn đã được ký kết, ngân hàng phải có trách nhiệmcấp tiền cho khách hàng như thỏa thuận Việc giải ngân phải tuân theo nguyên tắcgắn liền với tiến độ của phương án, dự án cho vay Kèm theo việc giải ngân này,ngân hàng kiểm soát khách hàng của mình sử dụng tiền vay có đúng mục đích,đúng tiến độ hay không, quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gìkhông hoặc nếu có dấu hiệu lừa đảo thì ngân hàng phải có biện pháp xử lý kịp thời
Bước 5: Thu nợ hoặc đưa ra các quyết định mới
Quan hệ vay mượn kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi Một khoảncho vay là an toàn nếu khách hàng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn Trongmột số trường hợp, các khoản vay đã không hoàn trả hoặc hoàn trả không đúng hạn.Ngân hàng phải xem xét để tìm ra nguyên nhân để kịp thời đưa ra các quyết địnhmới liên quan đến tính an toàn của khoản vay Trường hợp khách hàng cố tình lừađảo ngân hàng hoặc cố tình dây dưa chây ì việc trả nợ hoặc làm ăn yếu kém khôngcòn cách cứu vãn thì ngân hàng sẽ thực hiện phương án thanh lý, phong tỏa cáckhoản tiền gửi khác của khách hàng Còn nếu trường hợp khách hàng có khó khăntạm thời về tài chính nhưng vẫn kiên quyết tìm cách khắc phục để trả nợ cho ngân
Trang 31hàng thì ngân hàng thường áp dụng phương án cho gia hạn nợ hoặc là cho kháchhàng vay thêm.
1.3 Chất lượng cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay trung và dài hạn
Trong nền kinh tế thị trường, tất cả các doanh nghiệp muốn tồn tại và pháttriển thì cạnh tranh là một tất yếu khách quan Cạnh tranh diễn ra trên 3 phươngdiện chủ yếu là giá cả, chất lượng và quy mô, trong đó chất lượng là yếu tố quantrọng nhất giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường Ngân hàng thương mại cũngkhông nằm ngoài quy luật đó Để cạnh tranh được trên thị trường thì các ngân hàngphải thường xuyên nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ của mình Ở các ngânhàng thương mại Việt Nam hiện nay, hoạt động cho vay luôn là lĩnh vực chủ đạo,chiếm tỷ trọng từ 80% đến 90% doanh thu của ngân hàng, do đó việc đảm bảo chấtlượng cho vay sẽ là vấn đề có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngânhàng
Vậy chất lượng sản phẩm là gì? Có nhiều quan điểm về chất lượng sản phẩmnhư chất lượng là phù hợp với mục đích sử dụng, hoặc chất lượng là một trình độ
dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp phù hợp với thị trường.Quan điểm được phổ biến nhất là chất lượng của một sản phẩm dịch vụ là năng lựccủa người sản xuất sản phẩm, người cung cấp dịch vụ nhằm thoả mãn những nhucầu của người sử dụng Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề về chất lượng sản phẩm cóthể đi đến định nghĩa chất lượng cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng thương
mại như sau: “Chất lượng cho vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng (người vay tiền) trong quan hệ vay mượn trung và dài hạn, đồng thời đảm bảo sự an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận cho ngân hàng, phù hợp với mục tiêu phát triển”.
Chất lượng cho vay trung dài hạn được xem xét trên những góc độ:
- Đối với Ngân hàng thương mại: cho vay trung và dài hạn phù hợp với năng
lực tài chính và năng lực quản lý của Ngân hàng, phù hợp với chiến lược phát triểncủa ngân hàng, thực hiện đúng nguyên tắc cho vay với giá thành hợp lý nhất, đảmbảo việc tuân thủ pháp luật hiện hành và thực hiện vai trò của Ngân hàng trong nềnkinh tế thị trường
- Đối với khách hàng: Được hiểu là khách hàng vay được với số tiền, kỳ hạn
và lãi suất hợp lý, phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng Bên cạnh đó thủ
Trang 32tục xin vay vốn thuận tiện, phương thức giải ngân và thu hồi vốn phù hợp vớiphương án sản xuất kinh doanh của khách hàng Khoản vay trung dài hạn đảm bảocho khách hàng khả năng duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh từ đógiúp khách hàng nâng cao thu nhập.
- Đối với nền kinh tế: Cho vay trung và dài hạn phải đáp ứng đầy đủ và kịp
thời nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân để mở rộng hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp và tiêu dùng của cá nhân, từ đó góp phần giải quyếtcác vấn đề xã hội như tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, xây dựng các vùng kinh tếmới, tạo điều kiện để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
Chất lượng cho vay trung và dài hạn là một khái niệm tương đối, nó vừa cụthể vừa trừu tượng Hơn nữa đây cũng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức
độ thích nghi của ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoàiđồng thời nó cũng thể hiện sức mạnh nội tại bên trong của ngân hàng, thể hiện quamột loạt các chỉ tiêu sau
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn tại các Ngân
hàng thương mại
Có nhiều cách để đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn, dưới góc độcủa khách hàng và ngân hàng, chất lượng cho vay trung và dài hạn có thể đượcđánh giá qua các chỉ tiêu sau:
1.3.2.1 Chỉ tiêu về sự đáp ứng tốt nhất yêu cầu từ phía khách hàng
Chất lượng cho vay trung và dài hạn của ngân hàng là tốt khi ngân hàng đápứng được đầy đủ và kịp thời nhu cầu của khách hàng Điều này quyết định sự tồn tại
và phát triển của ngân hàng, bởi không ngân hàng nào tạo được chỗ đứng cho mìnhtrên thị trường mà không có khách hàng Đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng làmột trong những dấu hiệu cho thấy chất lượng cho vay của ngân hàng là khả quan.Đối với doanh nghiệp thì điều này trước hết thể hiện ở chỗ thủ tục đơn giản, thuậntiện và cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an toàn Nhờ đó doanh nghiệp có thểtiết kiệm được chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian và nhất là không bỏ lỡ các cơhội kinh doanh tốt
Tuy nhiên, đó chỉ là những yêu cầu ban đầu, trong điều kiện nền kinh tế thịtrường cạnh tranh gay gắt và đầy biến động thì đòi hỏi các ngân hàng thương mạiphải năng động hơn nữa mới có thể mong đợi có được chất lượng cho vay cao, đápứng nhu cầu ngày càng tăng lên cả về chất và lượng của doanh nghiệp Để đạt được
Trang 33điều đó thì ngoài việc đáp ứng nhanh chóng kịp thời nhu cầu vốn, ngân hàng phảithực sự trở thành người bạn của doanh nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ khó khănvới họ Chẳng hạn trong quá trình xét duyệt cho vay nếu thấy trong dự án vay vốncủa doanh nghiệp có những điểm chưa hợp lý, không khả thi thì thay vì từ chối chovay, ngân hàng có thể góp ý, tư vấn cho doanh nghiệp để họ xem xét điều chỉnh lạicho hợp lý Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể là người cung cấp những thông tin bổích về thị trường, về khoa học công nghệ cho doanh nghiệp Làm được như vậy thìnguồn vốn trung và dài hạn của ngân hàng sẽ thực sự phát huy được vai trò đòn bẩygiúp doanh nghiệp cải tiến thiết bị, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, tăng khảnăng cạnh tranh Và một khi doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì ngân hàngcũng tránh được những rủi ro, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của chính mình, đôngthời phát triển thêm dịch vụ tư vấn của ngân hàng.
1.3.2.2 Doanh số cho vay trung và dài hạn
Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàngđối với nền kinh tế Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác về hoạt động cho vay củangân hàng trong một thời gian dài, nó cho thấy khả năng hoạt động qua các năm, do
đó nếu kết hợp được doanh số cho vay của nhiều thời kỳ thì sẽ thấy được phần nào
xu hướng hoạt động cho vay của ngân hàng Doanh số cho vay trung và dài hạn caocho thấy ngân hàng có nhiều uy tín với khách hàng, cung cấp nhiều dịch vụ đadạng, phong phú đồng thời cũng cho thấy chất lượng các khoản vay trung và dàihạn là tốt bởi chất lượng tốt là cơ sở để tăng doanh số cho vay Tuy nhiên chỉ tiêunày chưa đủ khẳng định về chất lượng cho vay trung, dài hạn mà cần phải kết hợpvới nhiều chỉ tiêu khác nữa
1.3.2.3 Dư nợ cho vay trung và dài hạn
Dư nợ là chỉ tiêu mang tính thời điểm, phản ánh tổng giá trị các món cho vaychưa thu hồi tại một thời điểm, thường là cuối năm Chỉ tiêu này rất được quan tâmtrong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng vì nó phản ánh khả năng hoạt động củangân hàng đặc biệt là khả năng sử dụng vốn Chỉ tiêu dư nợ này được tính bằng sốtuyệt đối, tổng dư nợ trung dài hạn cao chứng tỏ ngân hàng cho vay được nhiều, uytín của ngân hàng tương đối tốt, có khả năng thu hút khách hàng Ngược lại, khitổng dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng không có khả năng mở rộng và phát triển chovay Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng bao gồm cả những khoản nợ xấu mà ngân hàngchưa thu hồi được Do vậy khi nghiên cứu chất lượng cho vay trung và dài hạn phảixem xét đồng thời với những chỉ tiêu khác nữa Để đánh giá được chính xác dư nợ
Trang 34cho vay trung và dài hạn thì thường phải xem xét thêm chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cho vaytrung dài hạn:
Tỷ lệ dư nợ cho vay trung dài hạn =
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn trên tổng dư nợcho vay chung của ngân hàng Qua chỉ tiêu này có thể so sánh được quy mô của chovay trung dài hạn so với cho vay ngắn hạn của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao chứng
tỏ ngân hàng đang ưu tiên cho vay trung dài hạn Tuỳ từng ngân hàng và tuỳ từngthời điển mà ngân hàng mong muốn lệ này cao hay thấp Nếu tỷ lệ này cao thì thunhập của ngân hàng cũng cao hơn do lãi suất cho vay trung dài hạn cao hơn cho vayngắn hạn, tuy nhiên rủi ro đối với ngân hàng cũng cao
1.3.2.4 Vòng quay vốn cho vay trung và dài hạn
Vòng quay vốn cho vay TDH =
Ý nghĩa: Vòng quay vốn cho vay trung dài hạn dùng để đo lường tốc độ luân
chuyển vốn của hoạt động cho vay trung và dài hạn Chỉ tiêu này thể hiện tươngứng với 1 đồng dư nợ cho vay trung dài hạn bình quân thì ngân hàng thu được baonhiêu đồng nợ cũ Do đó chỉ tiêu này thể hiện khả năng thu hồi nợ của ngân hàng vàkhả năng tái đầu tư (tái cho vay) Nếu vòng quay vốn cho vay trung dài hạn lớnchứng tỏ khả năng thu hồi vốn ngân hàng tốt, các hợp đồng cho vay trung dài hạntrong quá khứ thực sự hiệu quả và vốn được luân chuyển thường xuyên Điều này
sẽ giúp ngân hàng giảm bớt chi phí huy động cũng như rủi ro mà ngân hàng gặpphải từ những hợp đồng cho vay trong quá khứ là thấp
1.3.2.5 Hệ số sử dụng vốn trung và dài hạn
Hệ số sử dụng vốn TDH =
Ý nghĩa: Hệ số sử dụng vốn trung dài hạn cho biết một đồng cho vay trung
và dài hạn được tài trợ bởi bao nhiêu đồng vốn huy động trung dài hạn Chỉ tiêu nàygiúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay trung và dài hạn với khả năng huyđộng vốn trung dài hạn của ngân hàng Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì chứng tỏ ngânhàng đã sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn Việcdùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn đem lại lợi nhuận cao cho ngânhàng nhưng sẽ tạo ra khe hở lãi suất âm cho ngân hàng Khi đó nếu lãi suất thịtrường tăng lên thì ngân hàng sẽ phải hứng chịu rủi ro lãi suất Tương tự, ngược lạivới trường hợp hệ số này nhỏ hơn 1 [1] Nhìn chung hệ số này càng gần 1 là tốt
Trang 35nhất, khi đó kỳ hạn của nguồn và tài sản là phù hợp với nhau và chứng tỏ ngân hàng
đã sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trung và dài hạn
1.3.2.6 Chỉ tiêu về nợ xấu trung và dài hạn
Tỷ lệ nợ xấu trung và dài hạn =
Chỉ tiêu trên là chỉ tiêu phản ánh rõ nét nhất chất lượng cho vay trung dàihạn của ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn cao thể hiện chất lượng cho vaytrung dài hạn của ngân hàng là thấp, rủi ro đối với ngân hàng cao Tỷ lệ nợ xấu caonghĩa là có một số lượng tiền lớn không được hoàn trả đúng hạn, trong khi ngânhàng luôn phải trả cho người gửi tiền đúng hạn, do đó ảnh hưởng đến khả năngthanh toán của ngân hàng Chỉ tiêu này cho thấy không phải khi nào dư nợ cho vaytrung dài hạn cao cũng là tốt, bởi điều đó còn phải phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhưchất lượng thực sự của các khoản dư nợ đó
Theo Khoản 7, điều 2 của QĐ 493/2005/QĐ-NHNN thì nợ xấu bao gồm cáckhoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 (gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ cókhả năng mất vốn)
1.3.2.7 Chỉ tiêu về lợi nhuận từ hoạt động cho vay trung và dài hạn
Tỷ lệ sinh lời trên dư nợ CV TDH =
Chỉ tiêu này phả ánh khả năng sinh lời của cho vay trung và dài hạn Nó chobiết một đồng dư nợ cho vay trung và dài hạn mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuậncho ngân hàng Bất kì một khoản cho vay nào cũng sẽ không thể được đánh giá là
có chất lượng nếu không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Tỷ lệ này cao chứng tỏchất lượng cho vay trung và dài hạn tại ngân hàng tốt Mỗi một ngân hàng có mộtcách đánh giá về chỉ tiêu này khác nhau nhưng hầu như không có một con số cụ thểnào đưa ra để làm căn cứ so sánh, mà các ngân hàng dựa vào chỉ tiêu này của từngnăm mà đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn của ngân hàng mình
Ngoài ra chỉ tiêu sau còn được xem xét:
Tỷ trọng LN cho vay TDH =
Chỉ tiêu này cho thấy rõ hơn mức độ đóng góp của cho vay trung và dài hạnvào kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao càng chứng tỏhoạt động cho vay trung và dài hạn chiếm một ví trí quan trọng trong hoạt động củangân hàng, ngân hàng sẽ tập trung các nguồn lực để nâng cao chất lượng và quản lýtốt hoạt động này
Trang 361.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay trung và dài hạn tại các
Ngân hàng thượng mại
1.3.3.1 Các nhân tố từ môi trường vĩ mô
Môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế xã hội là tổng hoà các mối quan hệ về kinh tế và xã hội
có tác động lên hoạt động của các doanh nghiệp Môi trường kinh tế phát triển tạođiều kiện doanh nghiệp phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh Điều này giántiếp thúc đẩy công tác cho vay trung và dài hạn
Chu kỳ kinh tế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động cho vay Trong thời
kỳ suy thoái kinh tế thì sản xuất bị đình trệ, do đó hoạt động cho vay sẽ gặp khókhăn về mọi mặt Chẳng hạn khi lạm phát cao, lãi suất thực sẽ giảm xuống nên ngânhàng khó huy động được nguồn vốn để phục vụ cho vay trung dài hạn Và nếu ngânhàng không cân đối được kỳ hạn của nguồn vốn và tài sản và sử dụng nguồn vốnngắn hạn với lãi suất thả nỗi để cho vay trung và dài hạn thì sẽ đứng trước nguy cơrủi ro lãi suất Hoặc những biến động về tỷ giá hoặc biến động về thị trường ngoài
dự đoán làm cho chi phí của dự án tăng lên, doanh thu giảm xuống, dẫn đến thukhông đủ bù chi, ảnh hưởng tới khả năng trả nợ cho ngân hàng Một doanh nghiệphoạt động trong môi trường kinh tế thì phải chịu tác động của môi trường này Vấn
đề là công tác dự báo tình hình và khả năng ứng phó với các tình huống xảy ra củadoanh nghiệp cũng như của ngân hàng phải kịp thời để đảm bảo hiệu quả của cáckhoản cho vay
sẽ ảnh hưởng đến khả năng xử lý công việc của ngân hàng Ví dụ như ngân hàngmuốn phát mại tài sản để bù đắp rủi ro do không thu hồi được vốn vay hiện nay
Trang 37phải qua rất nhiều khâu và nhiều thủ tục pháp lý Do đó việc hoàn thiện môi trườngpháp lý đang là một yêu cầu khá bức bách hiện nay.
Môi trường chính trị - xã hội
Môi trường chính trị - xã hội ổn định sẽ là một yếu tố vô cùng quan trọngtrong việc tạo dụng lòng tin đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư trung hạn vàdài hạn Khi đó nhu cầu vay vốn trung và dài hạn cũng lớn hơn tạo điều kiện chongân hàng mở rộng và phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn Nếu tình trạngbất ổn về chính trị - xã hội xảy ra thì không chỉ các việc làm ăn của các doanhnghiệp bị giảm sút ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng mà còn dẫnđến mất lòng tin của dân chúng, khiến cho ngân hàng khó khăn trong việc huy độngvốn Chất lượng cho vay cũng từ đó mà bị ảnh hưởng
1.3.3.2 Các nhân tố từ khách hàng
Năng lực thị trường của khách hàng
Năng lực thị trường thể hiện ở chất lượng sản phẩm và giá cả sản phẩm, chu
kì sống của sản phẩm và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Tìm hiểu năng lựcthị trường của khách hàng giúp cho ngân hàng đánh giá được mặt mạnh, mặt yếucủa những sản phẩm đó trên thị trường để từ đó đánh giá sự phù hợp của dự án vớinhu cầu của xã hội và xu hướng phát triển của nền kinh tế Nếu doanh nghiệp cónăng lực thị trường cao thì rủi ro đối với các khoản cho vay trung dài hạn của ngânhàng càng thấp và ngược lại
Năng lực tài chính
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiên ở khả năng độc lập và tựchủ của khách hàng trong vấn đề tài chính Một số chỉ tiêu để đánh giá năng lực tàichính của doanh nghiệp như vốn chủ sở hữu, tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổngvốn, các hệ số về khả năng thanh toán Năng lực tài chính là yếu tố quan trọng tácđộng đến khả năng trả nợ của khách hàng Nếu một doanh nghiệp có năng lực tàichính tốt thì việc kinh doanh sẽ có hiệu quả hơn, khách hàng có thể quản lý vốn vaymột cách tối ưu hơn từ đó nâng cao khả năng trả nợ cho ngân hàng
Năng lực quản lý
Sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào năng lực quản lý củadoanh nghiệp đó Năng lực quản lý thể hiện ở khả năng quản trị và điều hành của bộphận quản lý Xem xét triển vọng kinh doanh của một doanh nghiệp thì cần xem xét
Trang 38năng lực của người quản lý Nếu người quản lý không giỏi thì không thể quản lý và
sử dụng vốn vay của ngân hàng hiệu quả, rủi ro đối với ngân hàng tăng lên
Vấn đề về tài sản đảm bảo, thế chấp
Ngay từ đầu, tất cả các khoản cho vay phải có 2 phương án trả nợ tách biệt.Nếu hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có nguồn thu lớn thì khách hàng sử dụngnguồn thu đó để trả nợ ngân hàng Nếu dự án hoạt động không có hiệu quả thìkhách hàng phải lấy tài sản thế chấp vay vốn của họ để trả nợ hay đi vay để trả nợ.Nếu các doanh nghiệp có đủ tài sản để cầm cố, thế chấp và đảm bảo doanh nghiệp
có quyền sở hữu hợp pháp tài sản đó hoặc bên bảo lãnh thường xuyên bảo đảmđược năng lực tài chính và năng lực pháp lý của mình thì rủi ro đối với ngân hànggiảm đi, chất lượng của khoản cho vay này cũng được cải thiện
Đạo đức kinh doanh của khách hàng
Nếu khách hàng cố tình lừa đảo để chiếm đoạt vốn của ngân hàng, kháchhàng sử dụng vốn sai mục đích hoặc không có ý chí trả nợ ngân hàng thì rủi ro đốivới ngân hàng cực kỳ lớn Do đó chất lượng của các khoản cho vay của ngân hàng
bị ảnh hưởng rất nhiều bởi đạo đức của người xin vay Mặc dù rủi ro này là đến từphía người xin vay và vượt quá khả năng kiểm soát của ngân hàng nhưng ngân hàngphải có trách nhiệm giảm thiểu rủi ro này bằng cách tăng cường công tác thẩm định
và giám sát sau giải ngân
1.3.3.3 Các nhân tố từ phía ngân hàng
Chiến lược kinh doanh và chính sách tín dụng
Ngân hàng thương mại trong hoạt động cho vay với mục đích cung cấp cácsản phẩm để tài trợ và thoả mãn nhu cầu vốn cho nền các doanh nghiệp trong nềnkinh tế, trên cơ sở đó tìm kiếm lợi nhuận cho mình Đối với ngân hàng mà chiến lượckinh doanh nghiêng về lợi nhuận, thì chính sách của họ là sẽ không ngừng thúc đẩytăng trưởng dư nợ, mở rộng hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay trung và dài hạn,nhằm mục đích kiếm nhiều lợi nhuận nhất Việc này có thể dẫn đến việc có thể ngânhàng phải đối mặt với khả năng không thu hồi được toàn bộ vốn và lãi trong tươnglai Còn đối với ngân hàng mà chiến lược kinh doanh nghiêng về phát triển bền vữngthì chất lượng cho vay mới là điều họ quan tâm Do đó chiến lược kinh doanh lànhân tố tác động mạnh đến chất lượng cho vay của ngân hàng trong đó tất nhiên baogồm hoạt động cho vay trung và dài hạn
Khả năng nguồn vốn
Trang 39Ngân hàng muốn cho vay thì cần có vốn, việc cho vay phụ thuộc rất nhiềuvào nguồn vốn Vì thế muốn phát triển cho vay trung và dài hạn thì ngân hàng phảiđảm bảo các chỉ tiêu về nguồn vốn trung và dài hạn Tổng nguồn vốn trung và dàihạn và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn này phải tương ứng với sự tăng trưởng củacho vay trung dài hạn.
Chất lượng công tác thẩm định
Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn củangân hàng là vốn và lãi vay được hoàn trả đúng kỳ hạn Để đạt được điều đó ngânhàng thực hiện tốt công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng Vấn đề đặt ra ởđây là thủ tục và các tiêu chuẩn thẩm định được sử dụng làm căn cứ để đánh giákhách hàng và dự án có hợp lý hay không Nếu thủ tục rườm rà, các điều kiện, tiêuchuẩn đặt ra quá khắt khe, không phù hợp với thực tế thì sẽ có rất ít các doanhnghiệp thoả mãn được yêu cầu của ngân hàng Điều đó gây cản trở cho ngân hàngtrong việc thu hút thêm khách hàng, mở rộng quan hệ tín dụng Ngược lại, nếu quytrình điều kiện đặt ra không chặt chẽ có thể khiến cho ngân hàng sai lầm trong việc
ra quyết định cho vay, dẫn đến rủi ro tín dụng Chính vì vậy trong quá trình hoạtđộng các ngân hàng thương mại phải không ngừng cải tiến, hoàn thiện công tácthẩm định của mình
Quy trình cho vay
Quy trình cho vay bao gồm những quy định cần phải thực hiện trong quátrình cấp vốn, thu nợ Nó được bắt đầu từ khi điều tra, thẩm định, thiết lập hồ sơ, xétduyệt cho vay, giải ngân, kiểm tra sau giải ngân cho đến khi thu hồi hết nợ gốc vàlãi Một quy trình cho vay được chi tiết hóa và được hướng dẫn cụ thể sẽ giúp chongân hàng hạn chế được rủi ro ngay từ đầu Ngoài ra, nếu yêu cầu về các giấy tờ thủtục đơn giản, nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo đúng quy chế thì sẽ tạo cho kháchhàng cảm thấy tiện lợi và gắn bó lâu dài với ngân hàng, từ đó cũng tạo điều kiện đểngân hàng nâng cao chất lượng hoạt động cho vay của mình
Khâu thu nợ, thu lãi và thanh lý nợ cũng là khâu có tính quyết định đến sựtồn tại của ngân hàng Sự nhạy bén của ngân hàng thông qua việc thu lãi, thu nợ đểphát hiện kịp thời những hiện tượng bất thường đối với mỗi món vay và đưa ra biênpháp xử lý chính xác, hợp lý sẽ giảm thiểu các khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ cótác động tích cực tới chất lượng cho vay
Chất lượng nhân sự và công tác quản lý nhân sự của ngân hàng
Trang 40Chất lượng nhân sự ở đây không chỉ đơn thuần đề cập đến trình độ chuyênmôn mà còn bao gồm cả đạo đức và tác phong lao động của người cán bộ ngânhàng Chất lượng nhân sự tốt biểu hiện ở hiệu quả trong công việc Tinh thần tráchnhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật cao, trong một chừng mực nào đó có thể giúp ngânhàng bù đắp lại hạn chế về công nghệ, kỹ thuật, nhờ đó mà ngân hàng vẫn có thểtồn tại và phát triển được cho dù phải cạnh tranh với những đối thủ có tiềm lựcmạnh hơn về công nghệ, trang bị kỹ thuật Bên cạnh chất lượng nhân sự thì công tácquản lý nhân sự cũng cần đặc biệt chú ý, bởi lẽ không phải cứ có cán bộ giỏi là cóchất lượng cho vay cao Vấn đề đặt ra ở đây là phải biết kết hợp thế mạnh của từngngười để tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng trong một guồng máy thống nhất để cùnghướng tới một mục tiêu chung là nâng cao chất lượng cho vay nói chung và chấtlượng cho vay trung và dài hạn nói riêng của ngân hàng.
Kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp cho lãnh đạo ngân hàng nắm được tình hìnhhoạt động kinh doanh đang diễn ra trong ngân hàng, kịp thời phát hiện ra những saiphạm để có biện pháp xử lý kịp thời Chất lượng cho vay trung và dài hạn phụ thuộcvào việc chấp hành theo đúng những quy định và chính sách của ngân hàng Côngtác kiểm soát nội bộ nếu được tổ chức thực hiện tốt thì không những chất lượng chovay trung và dài hạn được nâng cao mà chất lượng của toàn bộ các hoạt động của
ngân hàng cũng được nâng cao Trong lĩnh vực cho vay trung dài hạn thì hoạt động
kiểm soát nội bộ bao gồm những nội dung sau:
- Kiểm soát việc thực hiện chính sách cho vay, quy trình cho vay và các thủtục cú liên quan đến các khoản vay
- Kiểm tra định kỳ do kiểm soát viên nội bộ thực hiện và báo cáo các trườnghợp vi phạm
Cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng
Đây là nhân tố tác động gián tiếp tới chất lượng cho vay trung và dài hạn.Các ngân hàng có trang thiết bị hiện đại sẽ là điều kiện thuận lợi cho công tác tậphợp thông tin, thu hút khách hàng, phục vụ kịp thời nhanh chóng mọi nhu cầu củangười vay và hoạt động ngân hàng Một ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại,được trang bị các phương tiện kỹ thuật chất lượng cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hoácác thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, thu thập thông tin chính xác sẽ đem lại sự