1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hà Lan học và vai trò của nó đối với sự phát triển của Nhật Bản thời kỳ cận đại

193 909 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 3,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời qua đó có thể cung cấp một cái nhìn so sánh với xu hướng bế quan tỏa cảng chặt chẽ và đặc biệt là sự thống trị của tư tưởng Nho học tương đối bảo thủ tại một số quốc gia khác t

Trang 1

Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn

*******

Phạm Thị Hoàng Điệp

Hà lan học và vai trò của nó đối với sự phát

triển của nhật bản thời kỳ cận đại

Luận văn thạc sĩ khoa học Đông Phương học

Hà Nội, 2005

Trang 2

Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn

*******

Phạm Thị Hoàng Điệp

Hà lan học và vai trò của nó đối với sự phát

triển của nhật bản thời kỳ cận đại

Chuyên ngành:

Mã số

Luận văn thạc sĩ khoa học Đông Phương học

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Kim

Hà Nội, 2005

Trang 3

Mục lục

Trang

Chương 1 Quá trình thâm nhập của người Hà Lan

và sự hình thành phong trào Lan học (1600-1720) 6 1.1 Người Hà Lan ở Nhật Bản - từ Hirado đến Dejima 6

1.1.1.1 Thương quán Hà Lan ở Hirado (1609 - 1641) 9 1.1.1.2 Người Hà Lan ở Dejima, Nagasaki (1641 - 1853) 14 1.1.1.3 Người Hà Lan ở Nhật Bản - từ cuối thời kỳ Tokugawa đến

đầu thời kỳ Minh Trị

Chương 2: Quá trình phát triển của phong trào Lan học (1720-1868) 38 2.1 Quá trình phát triển của phong trào Lan học (1720-1868) 38 2.1.1 Sự phát triển của phong trào Lan học tại các đô thị 38 2.1.2 Sự phát triển Lan học trong các lãnh địa 45 2.1.2.1 Lãnh địa Matsushiro (Tùng đại) 46

2.1.2.4 Lãnh địa Choshu (Trường Châu) 54

Trang 4

2.1.2.6 Lãnh địa Chikuzen (Trúc Tiền) 58 2.1.3 Sự phát triển của Lan học thời kỳ Mạc mạt 64

3.1.2 Sự phát triển của kinh tế công nghiệp 117 3.2 Dấu ấn Lan học trên bình diện văn hóa - giáo dục - xã hội 124

3.3.1 Cuộc đấu tranh với hệ tư tưởng Nho giáo 132 3.3.2 Tư tưởng khai quốc và trọng thương 141 3.3.3 Học thuyết về kinh tế và quân sự -nguyên mẫu của tư tưởng

Phú quốc cường binh

Trang 5

1

Phần Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trong các xã hội châu á, Nhật Bản nổi lên như một nền kinh tế tăng trưởng cao

và một xã hội phát triển hiện đại không thua kém các quốc gia phát triển nhất của phương Tây Sự phát triển của Nhật Bản thường được ghi nhận chính thức từ thời kỳ cận đại với cuộc Minh Trị Duy tân nổi tiếng trong lịch sử Lý giải cho sự phát triển này có rất nhiều nguyên nhân, trong đó bao hàm cả những nhân tố nội sinh và ngoại sinh Một trong những nhân tố nội sinh quan trọng nảy sinh trên cơ sở ảnh hưởng của ngoại lực đó là một phong trào học thuật xuất hiện và phát triển rực rỡ ngay từ thời kỳ Edo (1600-1868), thời kỳ được coi là giai đoạn chuẩn bị những điều kiện hết sức quan

trọng cho thời Minh Trị Đó là phong trào Hà Lan học hay còn gọi là Lan học Với

việc chủ động học tập những tiến bộ văn minh của phương Tây thông qua con đường

Hà Lan, đây được coi như những tiền đề tư tưởng cũng như vật chất, kỹ thuật vô cùng cần thiết để Nhật Bản kịp thời bước vào công cuộc công nghiệp hóa đất nước ngay từ thế kỷ XIX và trở thành quốc gia độc lập duy nhất ở phương Đông không phải chịu sự

nô dịch của chế độ thực dân phương Tây

Lan học là một thuật ngữ dùng để chỉ một phong trào học tập khoa học phương

Tây thông qua kênh trung gian là người Hà Lan (mở rộng ra là những nhân viên thương quán Hà Lan tại Nhật Bản) và ngôn ngữ Hà Lan Trong suốt thời kỳ Edo có tới

4 cách gọi khác nhau về ngành học "khoa học Tây phương" này Giai đoạn đầu tiên tiếp xúc với văn minh phương Tây, thông qua những điều học tập được từ Tây Ban

Nha và nhất là Bồ Đào Nha, người Nhật gọi đó là Nambangaku (南?蛮ỉ?w, Nam man học) hay Bangaku (蛮ỉ?w, Man học) - khoa học của "người dã man phương Nam" Sau

khi Nhật Bản thi hành chính sách đóng cửa đất nước, Hà Lan trở thành quốc gia duy nhất của thế giới phương Tây đóng vai trò trung gian trong việc truyền bá văn minh phương Tây vào Nhật Bản Vì vậy, phong trào học tập Hà Lan được gọi là

Orandagaku (和蘭Ŕ?w, Hòa Lan học1) hay Rangaku (–?w, Lan học), trong đó thuật

ngữ Rangaku được sử dụng phổ biến nhất Thuật ngữ này ra đời vào khoảng những

năm 1771-1774 do một nhóm các học giả có mối quan tâm đặc biệt đối với một phong trào học thuật được khởi xướng từ những phiên dịch viên tiếng Hà Lan ở Nagasaki - Ŗphong trào học tập Hà Lanŗ [22, 5] Vào giai đoạn cuối thời kỳ Edo, mối quan tâm

1

Người Nhật thường gọi Hà Lan là Oranda, khi phiên âm Hán Việt có thể đọc là Hòa Lan hoặc á Lan Đà Tuy nhiên, vì ở Việt Nam quen gọi là Hà Lan nên trong luận văn này người viết sẽ sử dụng thuật ngữ Hà Lan học hoặc Lan học thay cho cách gọi Hòa Lan học

Trang 6

2

của các học giả Nhật Bản được mở rộng sang nhiều quốc gia phương Tây khác ngoài

Hà Lan như Anh, Pháp, Nga, Đức, Mỹ… vì thế tên gọi Lan học đã không còn phù hợp

và dần dần bị thay thế bởi thuật ngữ Yogaku (洋学, Dương học) hay Seiyogaku (西?洋学, Tây Dương học) Phong trào Dương học còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ

sang nửa đầu thời kỳ Minh Trị Ngoài ba thuật ngữ kể trên, còn có một thuật ngữ khác

nhưng không được sử dụng phổ biến, đó là Seigaku (西?学, Tây học) hay Taiseigaku

(泰西?学, Thái Tây học)

Mặc dù gọi là Lan học nhưng thực chất đây là cả một quá trình học tập phương

Tây, nghiên cứu về khoa học và kỹ thuật của các nước phương Tây thông qua cánh

cửa Hà Lan Việc nghiên cứu, làm rõ quá trình phát triển của phong trào Hà Lan học

qua các giai đoạn cơ bản, ít nhiều có thể cho ta một cái nhìn khái quát về nội dung và ảnh hưởng sâu rộng của nó đối với xã hội Nhật Bản thời cận thế - một xã hội đang tích hợp trong lòng mình những xung lực chính để chuẩn bị cho những cuộc biến động mang tính cách mạng lớn lao Đồng thời qua đó có thể cung cấp một cái nhìn so sánh với xu hướng bế quan tỏa cảng chặt chẽ và đặc biệt là sự thống trị của tư tưởng Nho học tương đối bảo thủ tại một số quốc gia khác trong khu vực như Việt Nam, Trung Quốc để thấy được nguyên nhân thành công của Nhật Bản và sự thất bại của các quốc gia này trước sự tấn công của phương Tây

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hà Lan học là một phong trào học thuật lớn, có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử

Nhật Bản nên đã được rất nhiều học giả của Nhật Bản và phương Tây dày công nghiên cứu từ rất sớm Ngay khi phong trào mới xuất hiện, đã có những tập chuyên luận của

một số nhà Lan học tên tuổi như Otsuki Gentaku với tác phẩm Rangaku kaitei (蘭Ŕ

?w階K梯?, Lan học giai thê) gồm 2 tập Trong đó, tập 1 trình bày sơ lược về sự thông

thương Nhật - Hà và nguồn gốc khởi hưng của phong trào Lan học Tập 2 diễn giải về

tầm quan trọng của việc học tiếng Hà Lan, lời khuyên cho những ai muốn theo học và

sơ lược về ngữ âm, ngữ pháp tiếng Hà Ngoài ra, trong các bộ đại từ điển về lịch sử Nhật Bản hoặc các cuốn lịch sử Nhật Bản thời kỳ cận thế như ŖQuốc sử đại từ điểnŗ

quyển thứ 14 (Kokushi daijiten, ?史大?ô典), ŖKinh tế và chính trị dưới xã hội

cận thếŗ (Kinsei shakai no seiji to keizai, ò世社会の政???経済?), ŖMột số vấn

đề trong lịch sử Nhật Bảnŗ (Nihonshi no mondaiten,?本史の問題ố?_)… đều có

dành một phần để trình bày về phong trào học thuật này Một chuyên luận khác rất đáng được chú ý xuất bản bằng tiếng Anh do Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Đông á

Nhật Bản tiến hành với sự chủ biên của Seiichi Iwao là cuốn ŖAcceptance of Western

Trang 7

3

Culture in Japan from XVI th to the Mid-XIX th century” đã biện giải khá sâu sắc về quá

trình du nhập và sự chấp nhận văn hóa phương Tây, chủ yếu qua lăng kính Hà Lan ở Nhật Bản từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX Đặc biệt, các tác giả đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn diện và tương đối hệ thống về quá trình phát triển của các ngành khoa học phương Tây tại Nhật Bản như y học, thiên văn học, khoa học quân sự, lịch sử tự nhiên

Các nhà khoa học phương Tây cũng rất quan tâm đến Hà Lan học ở Nhật Bản

và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển Ŗthần kỳŗ của quốc gia châu á này Trước hết

cần phải kể đến ŖThe Dutch Impact on Japan 1640-1853” và ŖJapan and The Dutch

1600-1853” của giáo sư người Anh Grant K Goodman Trong các công trình kể trên,

tác giả đã trình bày khá rõ ràng và cặn kẽ về quá trình từ khi người Hà Lan đến Nhật

Bản cho đến khi ra đời phong trào Hà Lan học và diễn trình phát triển tiếp theo của

phong trào thời Mạc mạt Tác giả đã đem lại một cái nhìn đầy đủ về vai trò của các phiên dịch viên tiếng Hà Lan, đóng góp của một số nhà Lan học tiêu biểu và sự truyền

bá của phong trào Lan học trên lãnh thổ Nhật Bản Ngoài ra, một số công trình nổi tiếng khác như ŖAnti-Foreignism and Western Learning in Early-Modern Japan” của Bob Tadashi Wakabayashi, Historical Nagasaki của Herbert E Plutschow, ŖJan

Compagnie in Japan (1600-1850)” của C.R.Boxer … cũng đều đi sâu làm rõ ảnh

hưởng của phong trào Lan học tới Nhật Bản trên cả hai bình diện tư tưởng và học thuật Về đóng góp của Lan học trên lĩnh vực kinh tế và kỹ thuật, có thể tham khảo thêm cuốn Science and Culture in Traditional Japan của Masayoshi Sugimoto và David L.Swain hoặc cuốn The Technological transformation of Japan - From the

Seventeenth to the Twenty-first Century của Tessa Morris Suzuki

ở Việt Nam chưa có riêng một cuốn chuyên luận nào tập trung nghiên cứu về

phong trào Hà Lan học ở Nhật Bản, nhưng ta có thể tìm hiểu về vấn đề này thông qua một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt như ŖLịch sử Nhật Bản” của G.B.Sansom,

Nhật Bản tư tưởng sử của Ishida Kazuyoshi hay một số bài viết của Nguyễn Văn Kim

trong cuốn ŖNhật Bản với châu á - những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế xã

hội” Ngoài ra cũng có thể tham khảo thêm trong cuốn ŖNhật Bản cận đại” của Vĩnh

Sính… Tuy nhiên những phần viết này còn tương đối sơ lược và chỉ trình bày một vài

khía cạnh chính liên quan đến phong trào Lan học

3 Phương pháp nghiên cứu và mục đích của luận văn

Trên cơ sở những kết quả thành tựu nghiên cứu của các học giả trong và ngoài

nước, tôi quyết định lựa chọn đề tài ŖHà Lan học và vai trò của nó đối với sự phát

triển của Nhật Bản thời kỳ cận đại” cho luận văn thạc sĩ của mình với hy vọng sẽ góp

Trang 8

4

một phần công sức nhỏ bé trong việc đem lại những kiến giải mới và hệ thống về quá

trình phát triển phong trào Lan học ở Nhật, đặc biệt là sự gợi mở về mối quan hệ của

Lan học và văn minh phương Tây với xu thế phát triển của Nhật Bản từ cuối thời kỳ

Edo cho tới cuộc cải cách Minh Trị Không chỉ có thế, nghiên cứu Hà Lan học cũng

nhằm đem lại một cái nhìn sâu sắc để hiểu về xã hội Nhật Bản, hiểu về thể chế chính trị đặc biệt của Nhật Bản, từ đó đóng góp thêm vào những thành công của ngành Nhật Bản học tại Việt Nam

Những kinh nghiệm về việc chủ động tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, biến đó thành gia tài văn hóa của dân tộc mình, sử dụng nó cho mục tiêu khôi phục và chấn hưng đất nước được khơi nguồn từ phong trào học thuật này của Nhật Bản có thể nói cho đến nay vẫn là những bài học giá trị cho Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển, thực hiện tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Sự phát triển của Lan học là một quá trình liên tục và không ngừng thay đổi phụ

thuộc vào tình hình thế giới, vì thế trong bài luận văn này, người viết sẽ đi sâu nghiên cứu, khảo sát nhằm làm rõ các nội dung và đóng góp của phong trào học thuật này cho lịch sử cận đại Nhật Bản, kể từ khi ra đời cho đến khi nó phát triển lên một giai đoạn

cao hơn là Dương học Xét đến cùng, phong trào Dương học chính là được khởi sinh trên cái nền cơ bản của phong trào Lan học trước đó Mặt khác, để tránh sự trùng lặp

cũng như căn cứ theo từng giai đoạn phát triển cụ thể, người viết sẽ sử dụng thay đổi

linh hoạt giữa các thuật ngữ như Rangaku, Lan học, Hà Lan học và Dương học

Trong quá trình làm luận văn, người viết không có cơ hội sang Nhật Bản, vì vậy cũng không được làm quen với nhiều nguồn tư liệu gốc bằng tiếng Nhật Tuy nhiên, trên cơ sở tham khảo một số tài liệu tiếng Nhật và tiếng Anh thu thập được, người viết còn sử dụng kết hợp với phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh lịch đại, đồng đại, phương pháp khu vực học

4 Bố cục của luận văn

Kết cấu của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Quá trình thâm nhập của người Hà Lan và sự hình thành phong trào Lan học (1600-1720): trong đó trình bày khái quát về mối quan hệ thông thương

và văn hóa giữa Hà Lan và Nhật Bản, đồng thời chỉ ra đóng góp của các phiên dịch viên tiếng Hà Lan tại Nagasaki và vai trò của vị Tướng quân thứ 8 - Tokugawa Yoshimune đối với sự hình thành của phong trào này vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII

Trang 9

5

Chương 2: Quá trình phát triển của phong trào Lan học (1720-1868): sẽ trình

bày về một số lĩnh vực học thuật tiêu biểu, sự truyền bá Lan học tại các lãnh địa, các trường tư, một số học phái và các học giả Lan học có nhiều đóng góp cho sự phát triển

của phong trào Chương này cũng đi sâu làm rõ những nguyên nhân chủ yếu đưa đến quá trình hình thành và phát triển của phong trào này

Chương 3: Vai trò của Hà Lan học đối với sự phát triển của Nhật Bản thời kỳ cận đại: đề cập đến ảnh hưởng sâu rộng của phong trào này tới các lĩnh vực kinh tế -

kỹ thuật, văn hóa - xã hội và đặc biệt là trên bình diện tư tưởng của Nhật Bản, ý nghĩa của những ảnh hưởng đó tới lịch sử Nhật Bản thời cận đại

Sau mỗi chương đều có phần tiểu kết riêng Ngoài ra, sau phần kết luận chung còn có thêm phần Phụ lục có thể giúp cho việc theo dõi luận văn được chặt chẽ và rõ ràng hơn Trong phần phụ lục, tác giả luận văn cố gắng xây dựng một niên biểu lịch sử

về quá trình thâm nhập của người Hà Lan cùng những nội dung chính có liên quan đến

thương quán Hà Lan và phong trào Lan học, thời kỳ này diễn ra đồng thời với thời

gian cai trị Nhật Bản của dòng họ Tokugawa Bên cạnh đó còn có một số hình ảnh

minh họa về người Hà Lan ở Nhật Bản, các học giả Lan học tiêu biểu, các thành tựu

học thuật, kỹ thuật

Để thống nhất các thuật ngữ và tên riêng sử dụng trong luận văn, chúng tôi xin được trình bày dưới dạng phiên âm tiếng Nhật, có chú thích chữ Hán, âm Hán Việt khi xuất hiện lần đầu Trong các lần sau sẽ sử dụng phiên âm Hán Việt để tiện cho việc theo dõi Về các nhân vật lịch sử, xin để nguyên tên gọi phiên âm tiếng Nhật, có chú thích năm sinh, năm mất

Nghiên cứu Hà Lan học là một đề tài mới Trong chừng mực khả năng phân tích,

tổng hợp còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều, nguồn tài liệu sử dụng chủ yếu là tài liệu tiếng Anh và tài liệu Nhật ngữ, chắc chắn nội dung của luận văn sẽ còn nhiều bất cập và thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các nhà nghiên cứu và các học giả đi trước để có thể tiếp tục bổ sung và hoàn chỉnh hơn nữa đề tài nghiên cứu này

Tôi xin bày tỏ sự tri ân với Thầy hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Kim, Giảng viên Khoa Lịch sử đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Nhân đây, tôi cũng xin được cảm ơn Ths Phan Hải Linh, anh Võ Minh Vũ cũng như các Thầy,

Cô giáo, bạn đồng nghiệp trong Khoa Đông Phương và Trường Đại học dân lập Hải Phòng về những lời khuyên, sự động viên quý báu đã dành cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn

Trang 10

6

Cuối cùng, tôi dành sự biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người luôn động viên

và là điểm tựa tinh thần cho tôi trong suốt thời gian viết và hoàn thành bản luận văn này

Trang 11

7

Chương 1 Quá trình thâm nhập của người Hà Lan

và sự hình thành phong trào Lan học (1600-1720)

1.1 Người Hà Lan ở Nhật Bản - từ Hirado đến Dejima

1.1.1 Lịch sử cuộc giao lưu

Lịch sử cuộc giao lưu giữa Hà Lan và Nhật Bản bắt đầu từ khi con tàu

Rotterdam có tên "De Liefde" (Bác ái) cập bờ biển Nhật Bản vào năm 1600 Có thể

nói, sự xuất hiện của những người Tân giáo Hà Lan đã mở ra một trang mới trong lịch

sử giao lưu quốc tế của Nhật Bản Trước khi có sự xâm nhập của họ, từ cuối thế kỷ XVI cho đến đầu thế kỷ XVII, trong giai đoạn cuối của cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài hơn hai trăm năm tại quốc đảo xa xôi này, văn hóa Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai nước Nam Âu là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Nhưng bằng sự khôn khéo và kiên trì cùng với những cơ hội do lịch sử mang lại, người Hà Lan đã từng bước đánh bại hai đối thủ kình địch trên để trở thành quốc gia phương Tây duy nhất giành được độc quyền trong thương mại với Nhật Bản kể từ sau khi Mạc phủ Tokugawa thi hành việc đóng cửa đất nước vào năm 1639, kéo dài đến năm 1854 - năm mà Nhật Bản buộc phải kí kết những hiệp ước bất bình đẳng cho phép các quốc gia phương Tây khác vào buôn bán Và vì là quốc gia phương Tây duy nhất giành được đặc quyền đó nên Hà Lan đã trở thành quốc gia truyền tải nhiều thành tựu khoa học, tri thức, vũ khí và những sản phẩm có nguồn gốc phương Tây vào Nhật Bản thông qua thương quán Hà Lan ở Dejima (1641-1853) Đó cũng là kênh trung gian đã đem lại cho người Hà Lan nguồn lợi nhuận khổng lồ trong việc xuất khẩu tri thức và các sản phẩm đặc trưng của Nhật Bản tới phương Tây ở cả hai khía cạnh trên, Dejima đều có ý nghĩa là cửa ngõ quan trọng để Nhật Bản nhìn ra thế giới và để thế giới biết đến Nhật Bản Hà Lan thực sự đã nắm giữ một vị trí đặc biệt trong lịch sử cận thế của Nhật Bản

Sau khi giành được độc lập từ tay chính quyền phong kiến Tây Ban Nha2

, ngày 26-7-1581, nước Cộng hoà liên tỉnh gồm 7 tỉnh miền Bắc Netherland mà lịch sử quen gọi là nước Cộng hoà Hà Lan (lấy theo tên tỉnh lớn nhất và quan trọng nhất là Holland) chính thức ra đời Từ đây, bắt đầu một thời kỳ kinh tế thương mại nhộn nhịp

và cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng về sức mạnh hải quân cũng như thương mại trên biển của những cư dân "Xứ đất thấp" (Netherland) Sự bùng phát của ngành hàng hải Hà Lan càng được thúc đẩy mạnh mẽ khi vua Phillip II (1527-1598), trị vì cả

2

Từ năm 1516, Netherland trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha, sau khi đã lần lượt bị sáp nhập vào đế quốc La

Mã thần thánh, vương quốc Frăng, công quốc Buốcgônhơ, Pháp và áo trong các thế kỷ trước đó

Trang 12

8

Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, ra sắc lệnh đóng cửa hải cảng Lisbon (1594) để trừng phạt những Ŗkẻ phiến loạnŗ Hà Lan nhằm cắt đứt đi nguồn lợi nhuận to lớn từ việc buôn bán với Bồ Đào Nha Hệ quả của lệnh cấm này là sự thiết lập hầu như ngay lập tức của những hạm đội tàu Hà Lan với nhiệm vụ tiên phong thực hiện những chuyến thám hiểm tới phương Đông Những chuyến tàu buôn thăm dò đầy ắp hàng hóa từ Java

và Sumatra trở về đã có tác dụng làm thổi bùng lên lòng nhiệt tình và tham vọng thực hiện những chuyến hải hành lâu hơn và xa hơn

Được sự hỗ trợ của 6 công ty thương mại tại Hà Lan, 22 chiếc tàu đã giương buồm hướng về vùng Viễn Đông, trong đó có một hạm đội gồm 5 chiếc dưới quyền chỉ huy của Jacques Mahu Họ rời Rotterdam vào 27-6-1598 và sau khi vượt qua Đại Tây Dương, bờ biển Brazil và Argentina, đã đi vào eo biển Magellan ngày 6-4-1599

Do những cơn bão mùa đông dữ dội, họ phải mất năm tháng mới tới được ven Thái Bình Dương Cuối cùng, vào ngày 19-4-1600, chỉ một chiếc tàu duy nhất còn lại, chiếc

"De Liefde" do thuyền trưởng Jacob Jansz van Quaeckernack và viên hoa tiêu người

Anh, Will Adams điều khiển đã cập bến Sashifu, thuộc lãnh địa Bungo (nay là Usuki, Oita), vùng Kyushu Nhật Bản Trong số thuỷ thủ đoàn gồm 110 người chỉ có 24 người

sống sót Số phận của 4 chiếc tàu cùng hạm đội thì rủi ro hơn: chiếc "T Gheloove"

(Niềm tin) đã quay trở về Rotterdam trước khi vào được eo biển Magellan, ba con tàu

còn lại đều đã bị phá hủy và mất tích - chiếc "Blijde Bootschap" (Thông điệp tốt lành) trong cuộc đụng độ với người Tây Ban Nha, chiếc "Trouwe" (Trung thành) khi chạm trán với người Bồ Đào Nha và chiếc "Hoope" (Hy vọng) trong một trận bão biển

Tin tức về con tàu lạ với trang bị vũ khí hiện đại gồm 19 khẩu trọng pháo, rất nhiều súng trường và hỏa tiễn đã tới tai nhà cầm quyền quân sự của Nhật Bản khi ấy là Tokugawa Ieyasu (1542-1616) Lúc này, Ieyasu vừa giành chiến thắng trong trận Sekigahara, trận chiến đã đem lại thắng lợi quyết định và quyền lực cai trị đất nước gần ba thế kỷ cho gia tộc Tokugawa mà Ieyasu là người khai phóng3 Ieyasu là một người nhìn xa trông rộng nên trong việc cai trị đã tiếp thu một cách cẩn trọng chính sách của hai người tiền nhiệm là Oda Nobunaga (1534-1582) và Toyotomi Hideyoshi (1536-1598) Những năm đầu cầm quyền, do cần tập trung quyền lực để giải quyết các vấn đề bức xúc trong nước, nên Tokugawa Ieyasu đã chủ trương giữ hoà hiếu trong quan hệ với nước ngoài Tokugawa Ieyasu đặc biệt chú trọng đến quan hệ thương mại

vì ông nhận thức được rằng các nguồn lợi trong buôn bán có một vai trò to lớn trong

3

Sau khi Hideyoshi mất năm 1598, quyền lực trong cả nước hầu như rơi vào tay Ieyasu, bộ tướng của ông ta Năm 1603, Ieyasu được Thiên hoàng phong chức Chinh di đại tướng quân, chính thức lập nên Mạc phủ Edo Đến năm 1615, con trai của Hideyoshi là Hideyori cũng chịu thất bại trong trận chiến cuối cùng tại Osaka, dòng

họ Tokugawa trở thành thế lực hùng mạnh nhất thống trị Nhật Bản đến năm 1868

Trang 13

9

việc củng cố sức mạnh chính quyền của ông đồng thời trong hoàn cảnh đất nước đã hầu như thống nhất thì việc phát triển kinh tế trong nước đã trở nên một nhu cầu cấp thiết Để làm được điều đó, ngoài nội lực ra, Nhật Bản rất cần đến sự giúp đỡ của các nước phương Tây có trình độ phát triển cao về khoa học kỹ thuật Nhưng để có thể sử dụng phương Tây cho các mục tiêu kinh tế - xã hội như vậy cần phải mở rộng lãnh thổ hơn nữa cho các đoàn thương thuyền nước ngoài vào buôn bán Vì vậy, điều dễ hiểu là Ieyasu đã nhanh chóng tỏ ra quan tâm tới những người khách nước ngoài xa lạ mặc dù những thương nhân Bồ Đào Nha và các giáo sĩ dòng Tên có mặt trước đó, do lo sợ bị xâm phạm quyền lợi đã tìm mọi cách để ngăn trở, thậm chí tố cáo với nhà cầm quyền rằng những vị khách mới đến là những tên cướp biển Ieyasu ra lệnh tịch thu số vũ khí đạn dược trên tàu nhằm phục vụ cho cuộc chiến chống lại những kẻ thù ngoan cố của ông đồng thời cho dẫn giải Quaeckernack và Will Adams tới Edo để thẩm vấn thông qua những phiên dịch viên tiếng Bồ Đào Nha Những câu trả lời khôn khéo của họ đã làm hài lòng Ieyasu và họ nhanh chóng ổn định cuộc sống ở Nhật Bản Một vài người trong số những thuỷ thủ sống sót bắt đầu cuộc sống mới bằng cách trở thành những nhà buôn và kết hôn với những phụ nữ địa phương Đặc biệt, Jan Joosten van Lodensteyn và Will Adams, sau này được biết đến dưới hai cái tên Nhật là Yaesu và Miura Anjin, do có khả năng và hiểu biết nhiều mặt về bản đồ, hàng hải, đóng tàu, kỹ thuật quân sự đã được lựa chọn trở thành cố vấn ngoại giao cho Ieyasu Năm sau đó, tin tức về số phận của những người Hà Lan ở Nhật Bản đã được truyền về Rotterdam

và làm dấy lên mối quan tâm của chính phủ cũng như của giới thương nhân Hà Lan về khả năng thiết lập quan hệ buôn bán với Nhật Bản - một trong những tiền đồn quan trọng của vùng Viễn Đông

Cũng trong khoảng thời gian này, một nhân tố mới đã xuất hiện, đóng vai trò là tác nhân chính trong việc khởi đầu, duy trì và xúc tiến quan hệ ngoại thương giữa hai

nước Đó là sự ra đời của Công ty Đông ấn Độ Hà Lan (De Vereenigde Oostindische

Compagnie, gọi tắt là VOC) vào ngày 20-3-1602 theo Hiến chương của Quốc hội Hà

Lan, trên cơ sở hợp nhất 6 công ty thương mại tồn tại riêng rẽ từ trước Công ty được thành lập nhằm hai mục đích: trước hết là điều chỉnh và bảo vệ nguồn lợi ngoại thương

to lớn của người Hà Lan ở vùng biển ấn Độ Dương, thứ hai là hỗ trợ trong việc theo đuổi chiến tranh giành độc quyền thương mại lâu dài chống lại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Trụ sở của công ty đóng ở Amsterdam và được điều hành bởi một uỷ ban gồm 17 người, một uỷ ban khác gồm 10 người được thiết lập ở Hague chịu trách nhiệm giải quyết việc kinh doanh của công ty với Quốc hội Bản Hiến chương được thông qua đã chính thức thể hiện quyền lực tuyệt đối của công ty Một mặt Hiến

Trang 14

10

chương tuyên bố cung cấp vốn cho thương mại độc quyền của công ty với vùng Đông

ấn, cho phép nhập khẩu tự do với các mức thuế quan ưu đãi theo qui định chỉ phải trả 3% cho xuất khẩu và nộp thuế cho nhà nước Mặt khác bản Hiến chương cũng cho phép công ty được thay mặt Quốc hội có toàn quyền trong việc duy trì sức mạnh quân

sự trên biển và trên đất liền, được phép xây dựng công sự, pháo đài và thiết lập hệ thống thuộc địa, lập thương điếm, xây dựng cảng, gây chiến tranh hoặc hoà bình, dự thảo và kí kết các hiệp ước Và như thế, công ty có đầy đủ quyền lập pháp, hành pháp

và tư pháp như của một quốc gia trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, phạm vi hoạt động kéo dài từ phía tây của eo biển Magellan đến mũi Hảo Vọng

Có thể nói, Công ty Đông ấn Hà là công ty theo hình thức cổ phần đầu tiên trên thế giới và là công ty có thế lực kinh tế lớn nhất châu Âu vào thời gian này trong hệ thống buôn bán phương Đông Thời kỳ phồn thịnh nhất của công ty được tính từ năm

1605 và kéo dài đến những năm cuối cùng của thế kỷ XVII Tính đến năm 1669, năm được coi là đỉnh điểm của kỷ nguyên thịnh vượng, công ty sở hữu tới 150 chiếc tàu buôn, 40 tàu chiến, 10,000 binh lính và chiếm 40% cổ tức Nhờ ở sức mạnh toàn diện như vậy, VOC đã trở thành công ty có khả năng lũng đoạn thị trường châu á trong suốt thế kỷ XVII

1.1.1.1 Thương quán Hà Lan ở Hirado (1609 - 1641)

Những năm đầu thế kỷ XVII cũng là thời kỳ hoạt động sôi nổi của các đoàn

thuyền buôn Nhật Bản Mang theo các giấy phép Châu ấn4

của chính quyền trung ương, thương nhân Nhật Bản đã có mặt ở hầu hết các thương cảng quan trọng tại vùng biển châu á như Batavia (Indonesia), Siam (Thái Lan), Tonkin, Faifo (Việt Nam)… Thuyền buôn ngoại quốc của Trung Hoa, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cũng được ra vào

tự do trong lãnh thổ Nhật Bản Trong môi trường buôn bán hết sức thuận lợi ấy, người

Hà Lan đã nhận được sự cho phép thông thương từ Tướng quân Ieyasu Năm 1605,

van Quaeckernack - thuyền trưởng con tàu "De Liefde" đã trở về quê hương mang theo

sự chúc phúc của Tướng quân và sự chấp thuận về đặc quyền thương mại cho người

Hà Lan Năm 1609, Công ty Đông ấn Hà đã cử 2 con tàu đến Nhật Bản dưới quyền chỉ huy của Nicholas Puyck Đây là 2 con tàu được biệt phái từ hạm đội 13 chiếc do đô đốc Pieter Willemsz Verhoe Ven dẫn đầu khởi hành từ Amsterdam đến vùng biển ấn

Độ vào tháng 12-1607 Hai con tàu của Puyck, "Roode Leeuw met Pijlen" và

"Griffioen" đã mang đến một lượng hàng hóa vừa phải bao gồm lụa, hạt tiêu và đạn

chì Họ được hai hoa tiêu người Nhật hướng dẫn đi thẳng tới Hirado Sau khi trình

4

Tiếng Nhật là Shuin sen(周?印船D) - Châu ấn thuyền: là chế độ cấp giấy phép cho các tàu buôn Nhật Bản

đi ra nước ngoài và tàu nước ngoài đến Nhật Bản nhằm thể hiện chủ quyền của chính quyền trung ương, được thực hiện từ 1592 đến 1635

Trang 15

11

Quốc thư đề nghị thông thương, người Hà Lan đã nhận được sự cho phép xây dựng thương điếm chính thức và họ đã lựa chọn Hirado, một hòn đảo phía đông bắc Kyushu Hirado có một vị trí thuận lợi trong việc giao lưu thương mại với Đài Loan và Trung Hoa Hơn nữa, hầu hết những thương nhân giầu có của các quốc gia khác đều sinh sống gần đó, quanh khu vực Nagasaki Như vậy, quan hệ buôn bán giữa Hà Lan

và Nhật Bản đã được thiết lập vào năm 1609, trước cả quan hệ chính thức giữa Nhật Bản và Tây Ban Nha (1610), giữa Nhật Bản và Anh (1613)

Sự thành lập thương điếm của Hà Lan ở Nhật Bản đã khiến cho giới thương nhân Bồ Đào Nha lo ngại về khả năng mất đi ưu thế độc quyền thương mại ở phương Tây trong quan hệ buôn bán với Nhật Bản vì vậy họ đã tìm cách xúi giục chính quyền chống lại người Hà Lan Tuy nhiên, những người Hà Lan đã phản bác lại bằng cách chứng minh cho Mạc phủ thấy tôn giáo mà họ đang theo không thuộc quyền thống trị của nhà thờ Công giáo La Mã và rằng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đều đang có mưu

đồ chính trị và tôn giáo với phương Đông Năm 1611, Hà Lan đã gửi cho Ieyasu một bức thư trong đó tố cáo các thương nhân Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đang tìm cách lôi kéo các nhà truyền giáo và tín đồ Cơ Đốc giáo Nhật Bản vào một âm mưu nhằm chống lại chính quyền trung ương Có lẽ Hà Lan không có căn cứ xác đáng cho lời buộc tội này nhưng hành động này là một phần trong chiến dịch nhằm chống lại những đối thủ thương mại của họ Kể từ sau khi người Hà Lan đến Nhật Bản, những hàng hóa phong phú mà họ mang đến cùng với những ưu thế về kỹ thuật hàng hải, đóng tầu và những thành tựu khoa học tiến bộ khác của một nước tư bản trẻ đang lên đã gây ấn tượng mạnh mẽ với Mạc phủ Tokugawa và giúp cho họ nhận được rất nhiều ưu đãi của chính quyền trung ương Sự nhạy bén, năng động trong các vấn đề kinh tế nhưng lại vô cùng hoà nhã, lịch sự trong ứng xử của họ đã làm các nhà cầm quyền an tâm và

đi đến quyết định rằng Hà Lan không phải là một quốc gia Thiên chúa giáo giống như hai nước Nam Âu, và hoàn toàn có thể thay thế Bồ Đào Nha trong việc mang lại nguồn lợi thương mại to lớn cho Mạc phủ

Trong khoảng thời gian hai mươi năm đầu tiên sau khi người Hà Lan đến Nhật,

họ được đi lại trên lãnh thổ Nhật Bản và được tự do tiếp xúc với người Nhật Tại Hirado, người Hà Lan đã xây dựng một xưởng đúc và hầm mỏ Họ đã thực sự bị ấn tượng bởi phẩm chất cũng như khả năng lao động của những người thợ Nhật Bản nên

đã thường xuyên dùng người Nhật làm việc cho mình Trong thời kỳ đầu, thương mại không thu được nhiều lợi nhuận do sự hạn chế trong việc tiếp xúc giữa thương điếm

Hà Lan ở Hirado với các cơ sở khác của VOC ở châu á gặp nhiều trở ngại Hơn nữa, người Hà Lan cũng không có trạm thông thương giao dịch ở Trung Quốc do đó chưa

Trang 16

đế quốc phong kiến Nam Âu Sau khi thống nhất được cả nước, tập trung sức mạnh vào trong tay một dòng họ, chính quyền Edo đã ngay lập tức tỏ thái độ kiên quyết trong việc thi hành đường lối ngoại giao độc lập của mình Cơ Đốc giáo đến cùng với các đoàn thuyền buôn Bồ Đào Nha không còn lý do để ở lại Nhật Bản khi đối thủ cạnh tranh của họ - Hà Lan - tỏ ra ngoan ngoãn, dễ bảo và không gây cho Nhật Bản những khó khăn hay áp lực thương mại, chính trị lớn nào đã được Mạc phủ lựa chọn để thay thế hoàn toàn những quốc gia theo Cơ Đốc giáo "cứng đầu" Chính sách đó của Mạc phủ đã được tiến hành thuận lợi mà không gây ra những sự xáo trộn xã hội lớn và họ vẫn đảm bảo được những quyền lực chuyên chế của mình Lúc này, chính quyền trung ương đã đủ mạnh để mở rộng tầm kiểm soát tới các lãnh địa xa xôi ở phía tây nam Nhật Bản và nhất là kiểm soát chặt chẽ những nguồn lợi ngoại thương Thương mại của Hà Lan với Nhật Bản đã được bắt đầu trong một bối cảnh phức tạp, vừa thuận lợi vừa khó khăn chất chồng như vậy Thuận lợi vì họ có thể đánh bật Bồ Đào Nha ra khỏi

Trang 17

13

vị trí độc quyền, nhưng khó khăn vì họ sẽ không thể dễ dàng thu được lợi nhuận khổng

lồ như Bồ Đào Nha đã từng thu được trước đó

Ngày 21-3-1612, Tokugawa Ieyasu đã ra lệnh cấm đạo và triệt phá nhà thờ đầu tiên và vào ngày 27-1-1614, ông lại ban hành một chỉ dụ mới nhằm trục xuất các nhà truyền giáo ra khỏi lãnh địa Nhật Bản Từ sau năm 1624, không một người Tây Ban Nha nào được phép đến Nhật Bản do thái độ ngoan cố của họ trong việc lén lút truyền giáo bất chấp lệnh cấm đạo của Mạc phủ Trước đó, năm 1623, người Anh đã tự nguyện từ bỏ Nhật Bản do không thu được những nguồn lợi thương mại như mong đợi

do vậy chỉ còn có Hà Lan và Bồ Đào Nha tiếp tục ở lại trên lãnh thổ Nhật Bản Nhưng hoạt động buôn bán của cả hai quốc gia này đều bị giới hạn chặt chẽ trong những khu vực dành riêng cho họ, Hà Lan ở Hirado và Bồ Đào Nha ở Nagasaki

Bất bình vì bị mất đi những quyền lợi mà vị Tướng quân đầu tiên - Ieyasu đã dành cho họ, người Hà Lan đã đánh mất đi sự thận trọng vốn có của mình trong quan

hệ với Nhật Bản Với ý định giành độc quyền ở Formosa (Đài Loan), năm 1628, Pieter Nuyts - người trước đây đã đến Nhật Bản vào năm 1609, sau khi được bổ nhiệm làm chỉ huy cảng Zeelandia - thuộc địa của Hà Lan từ năm 1624 - ở miền đông nam Formosa, đã ra lệnh tịch thu cột buồm và bánh lái của hai thuyền Nhật Bản khi chúng cập bến Zeelandia trên đường tới Đông Dương làm cho hai chiếc thuyền này bị mất cơ hội đi theo gió mùa Sự kiện trên ngay lập tức được báo về Edo, Mạc phủ đã ra lệnh tịch thu một số tàu Hà Lan, việc buôn bán của Hà Lan ở Hirado bị đình chỉ và Pieter Nuyts được yêu cầu phải bị dẫn giải giao cho chính quyền sở tại (1632) Đồng thời Hà Lan cũng phải giao nộp Zeelandia cho Nhật Bản như một hành động để bồi thường và xin lỗi Không chỉ có thế, chính quyền Edo còn thắt chặt thªm chÝnh s¸ch kinh tế vào năm 1633 bằng cách buộc thương nhân Hà Lan phải bán toàn bộ số tơ sống mà họ có với giá ấn định, đồng thời giá của những mặt hàng khác cũng bị buộc phải hạ đến mức thấp nhất Mặc dù phải chịu tất cả những sự chèn ép trên, nhưng tin tưởng vào tương lai trong mối quan hệ với Nhật Bản, người Hà Lan vẫn tỏ ra hoà nhã và kiên nhẫn chờ đợi thời cơ để có thể cải thiện vị trí của họ tại Nhật Bản Cơ hội mà họ mong đợi đã đến khi chính sách bài trừ Cơ Đốc giáo được đẩy tới đỉnh điểm bởi sự kiện xảy ra ở bán đảo Shimabara, miền nam Kyushu

Do không chịu nổi áp bức và chính sách bóc lột hà khắc của lãnh chúa sở tại - Terasawa Katataka, hơn 30.000 nông dân Nhật Bản sống quanh vùng Amakusa và Shimabara đã nổi dậy chống lại chính quyền địa phương (từ tháng 12-1637 - tháng 4-1638) Những người cầm đầu của lực lượng khởi nghĩa hầu hết là các tín đồ Cơ Đốc

đã chiến đấu dưới quyền của một số lãnh chúa thân Cơ Đốc giáo trong cuộc chiến

Trang 18

14

tranh xâm lược Triều Tiên trước đây của T.Hideyoshi Không chỉ có thế khoảng 2-3 những người tham gia cũng đã được làm lễ rửa tội bởi các giáo sĩ ngoại quốc Vì thế, mặc dù xuất phát từ những nguyên nhân kinh tế - xã hội, nhưng đây là một cuộc nổi dậy mang màu sắc tôn giáo, nhất là khi nó nhận được sự ủng hộ của một số giáo sĩ Bồ Đào Nha Và nó trở nên nổi tiếng trong lịch sử với cái tên Ŗcuộc nổi loạn Cơ Đốc giáoŗ

Lo sợ cuộc khởi nghĩa có thể lan rộng sang các địa phương khác, đe dọa trực tiếp đến sự an nguy của dòng họ Tokugawa, chính quyền Edo đã gửi ngay một đội quân đông gần gấp 3 lần, khoảng 100.000 người đàn áp thẳng tay những người nổi dậy Không chống đỡ nổi, những người khởi nghĩa buộc phải rút về cố thủ trong thành Hara Sau nhiều lần tấn công nhưng không phá được thành, chính quyền đã phải yêu cầu phía Hà Lan giúp đỡ Ngay lập tức Hà Lan đã gửi tới một tàu chiến với 20 khẩu trọng pháo cùng rất nhiều thuốc súng Trong vòng 15 ngày họ đã nã vào thành 426 loạt đại bác, biến nơi đây thành bình địa, mở đường cho quân đội Mạc phủ tràn vào, sát hại toàn bộ 37.000 người gồm cả quân khởi nghĩa và thường dân Đó là vụ thảm sát đẫm máu nhất trong lịch sử Cơ Đốc giáo và lịch sử Nhật Bản thời cận thế

Ngay sau vụ khởi nghĩa Shimabara, chính quyền đã ban hành một đạo luật trong đó chỉ rõ hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ nước ngoài ở Nhật Bản là nguyên nhân chính kích động các cuộc nổi dậy chống lại chính quyền vì vậy mọi vấn đề liên quan đến tôn giáo này cần phải cấm triệt để, chấm dứt hoàn toàn mọi nguy cơ đe dọa Nhật Bản Người Bồ Đào Nha bị trục xuất vĩnh viễn ra khỏi lãnh thổ Nhật Bản đồng thời mọi quan hệ thương mại với Bồ Đào Nha cũng bị cắt đứt Không một tầu buôn Bồ Đào Nha nào được phép vào các cảng của Nhật Bản, nếu trái lệnh sẽ bị đánh đắm ngay lập tức và toàn bộ thủy thủ cùng hành khách sẽ bị kết án tử hình Các tầu buôn Trung Hoa và Hà Lan cũng được thông báo rằng họ sẽ được trọng thưởng nếu như tố giác những kẻ xâm nhập trái phép trên đây với chính quyền nhưng cũng sẽ bị trừng phạt thích đáng nếu như cố tình giúp đỡ hoặc bao che Đạo luật này đã gây thiệt hại nặng nề cho nền thương mại Bồ Đào Nha và họ đã gửi một phái bộ sang Nhật Bản hy vọng sẽ xóa bỏ hoặc ít nhất là nới lỏng được lệnh cấm Nhưng họ đã bị bắt giữ ngay khi vừa đặt chân tới Nhật Bản và 57 người đã bị hành quyết vì không chịu tuyên xưng từ bỏ đức tin Cơ Đốc giáo của mình; 13 người còn lại được tha mạng để mang tin dữ về Ma Cao Mọi cố gắng của Bồ Đào Nha để nối lại quan hệ với Nhật Bản sau đó đều vô hiệu bởi chính quyền tỏ ra rất kiên quyết trong chính sách bài ngoại và cấm đạo triệt để của mình

Trang 19

15

Cũng trong năm 1639, lệnh đóng cửa đất nước (Sakoku, 鎖?国?, Tỏa quốc5

) được ban hành, Nhật Bản hầu như bị cô lập với thế giới bên ngoài Nhật Bản chỉ để lại một cửa ngõ duy nhất cho người Hà Lan vào buôn bán và tiếp tục các mối quan hệ truyền thống với Trung Hoa lục địa và Ryukyu Vấn đề là ở chỗ vì sao trong khi tất cả các nước phương Tây đều bị trục xuất hoặc xua đuổi ra khỏi lãnh thổ Nhật Bản thì người Hà Lan vẫn được phép ở lại, được phép buôn bán với Nhật Bản trong suốt hai thế kỷ rưỡi sau đó? Chúng ta có thể luận giải vấn đề đó, một phần là do đóng góp không nhỏ của người Hà Lan vào việc trấn áp cuộc khởi nghĩa Shimabara nhưng mặt khác quan trọng hơn, họ đã chứng minh được với chính quyền Edo rằng họ không hề liên quan gì đến giáo hội La Mã, rằng tôn giáo mà họ đang theo - Đạo Tin Lành khác

xa so với thứ Ŗ Tôn giáo của ma quỷŗ đã được các giáo sĩ dòng Tên và nhiều dòng khác truyền giảng ở Nhật Bản và rằng họ chỉ có một mục đích duy nhất là mở rộng hơn nữa các quan hệ thương mại mà thôi… Trên thực tế, lúc này Hà Lan đang là một nước tư bản trẻ đang lên và họ chỉ có tham vọng làm sao kiếm được những nguồn lợi

tư bản một cách nhanh nhất, bất chấp mọi thủ đoạn, thậm chí che đậy cả đức tin của mình Đối với họ, mục đích kinh tế quan trọng hơn mục tiêu tôn giáo và đó là nguyên nhân tại sao họ tỏ ra dễ bảo và ngoan ngoãn trong việc phục tùng mọi mệnh lệnh của chính quyền Edo, tích cực trong việc trợ giúp Mạc phủ chống lại những đối thủ của chính họ Họ đã thành công trong việc giành được độc quyền thương mại với Nhật Bản bằng những đường lối mềm dẻo và vô cùng khôn khéo đó của mình

Tuy nhiên, do lo sợ sức mạnh quân sự và thương mại hơn hẳn của Hà Lan một ngày nào đó có thể vượt khỏi tầm kiểm soát của chính quyền trung ương nên Mạc phủ vẫn luôn tìm cách để hạn chế những hành động tự do của họ trên lãnh thổ Nhật Bản Trước đó, vào năm 1634, nhằm ngăn ngừa sự tiếp xúc của người Bồ Đào Nha với người Nhật, chính quyền Tướng quân đã quyết định cho xây dựng một hòn đảo dành

riêng cho họ bên trong Vịnh Nagasaki Hòn đảo được đặt tên là Dejima (出島?, Xuất

đảo - hòn đảo nhô ra) và người Bồ Đào Nha đã cư trú tại đây từ năm 1636 đến năm

1639, năm mà họ bị trục xuất vĩnh viễn ra khỏi nước Nhật Với Dejima bị bỏ không, năm 1640, chính quyền Tướng quân đã tìm được lý do hợp lý để Ŗgiam hãmŗ người

Hà Lan ở hòn đảo này Đại diện thương điếm Hà Lan ở Hirado - Francois Caron có hai kho hàng được xây dựng bằng đá để ngăn ngừa hoả hoạn - một nỗi đe dọa thường xuyên khi ấy, và bên dưới nóc mái hình vòm, theo phong tục của người Âu, dòng chữ

5

Trên thực tế, thuật ngữ Sakoku được Shizuki Tadao, một nhà Lan học sử dụng lần đầu tiên năm 1801 khi ông được yêu cầu dịch một phần nội dung về hệ thống phòng thủ trong cuốn sách History of Japan của Elgerbert

Kaempfer - bác sĩ thương quán Hà Lan, theo lệnh của Mạc phủ Từ đó thuật ngữ này được giới học giả sử dụng

để nói về sắc lệnh đóng cửa đất nước năm 1639 [18, 541]

Trang 20

16

"Anno 1640" đã được khắc vào để chỉ năm hoàn thành Việc đề cập đến ngày tháng theo niên lịch của đạo Cơ đốc đã chứng tỏ một sơ xuất rất thiếu nhạy cảm và ngay lập tức họ đã bị những kẻ quá khích buộc tội nhưng họ đã nhanh chóng xoa dịu được tình hình bằng những lời hứa và sự tự tiết chế chặt chẽ Mặc dù vậy, Tướng quân vẫn ra lệnh buộc thương quán Hà Lan phải rút khỏi Hirado và di dời tới Dejima vào ngày 24-7-1641 Tại đây, đã diễn ra cuộc gặp gỡ kéo dài hơn hai trăm năm giữa một đại diện tiêu biểu của văn minh phương Tây với một nền văn hóa điển hình của phương Đông

1.1.1.2 Người Hà Lan ở Dejima, Nagasaki (1641 - 1853)

Đảo Dejima được xây dựng phía bên trong cảng Nagasaki, có hình dạng giống như một chiếc quạt giấy đang xoè ra Theo như những tính toán của Engelbert Kaempfer (1651-1716) - bác sĩ thương quán Hà Lan - đến Dejima vào năm 1691, thì chiều dài lớn nhất của hòn đảo khoảng 263 bước chân và chiều rộng vào khoảng 82 bước, tổng diện tích vào khoảng 14.876m2

Lối vào hòn đảo được bao quanh bởi một hàng rào ván gỗ với hai hàng cọc sắt nhọn ở bên trên Bờ phía đông đảo là lối vào cảng, chỉ được khai mở khi các con tàu Hà Lan cập bến Hòn đảo được nối với đất liền bằng một cây cầu đá, trên cây cầu, một trạm gác được xây dựng để kiểm soát việc ra vào Cuộc sống mới của người Hà Lan ở Dejima không được tự do như ở Hirado

Họ phải trả tiền thuê cho khu đất cư trú nhỏ bé trên hòn đảo là 55 kan 6 (貫ẹ, Quán) bạc mỗi năm (khoảng 206.800 gram bạc) Nước sinh hoạt được đ?ng trong những ống nứa vận chuyển từ Nagasaki _ đến và cũng phải trả tiền Không chỉ có thế, trong hoàn cảnh

bị giới hạn tiếp xúc giữa người Nhật Bản với người nước ngoài, người Hà Lan đã phải sống dưới những quy tắc nghiêm ngặt Lính gác trên đảo được lệnh không cho phép có bất kỳ một sự liên lạc nào với đời sống nhộn nhịp ở Nagasaki, và không ai được ra vào hòn đảo nếu không có giấy phép của chính quyền Nagasaki7

Phụ nữ Hà Lan không được đến Dejima và không một người Nhật nào được sống trong nhà người Hà Lan ngoại trừ những kỹ nữ ở quận Maruyama, Nagasaki - những người này cũng chỉ được cho phép ở lại một đêm vào những thời gian nhất định Người Hà Lan còn phải thường xuyên chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ của những đội dân phòng địa phương và mạng lưới gián điệp của chính quyền Cả ban ngày và ban đêm đều có những kẻ canh gác rình rập Các nghi thức liên quan đến Cơ đốc giáo đều bị cấm triệt để, thậm chí

Trang 21

Tuy nhiên, dịp đặc biệt mà người Hà Lan mong đợi trong năm cũng đến cùng với sự cập cảng của những con tàu Hà Lan Những chuyến tàu này thường đến trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 10, đây cũng là khoảng thời gian bận rộn và vui

vẻ nhất sau những tháng ngày nhàn rỗi trong cảnh tù túng gắt gao Trước cảnh nhộn nhịp chất hàng lên, xuống, những cư dân bất đắc dĩ của Dejima tạm thời quên đi điều khó chịu của mình để lắng nghe những tin tức mới từ quê hương của họ và về những vùng đất thuộc địa

Có thể thấy việc nhà cầm quyền thi hành những biện pháp giới hạn chặt chẽ người Hà Lan ở Dejima được xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân Lý do quan trọng hàng đầu đó là nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của những nhà truyền giáo trốn theo tàu

Hà Lan vào Nhật gây mất ổn định xã hội Lý do thứ hai, bằng sự kiểm soát của mình, chính quyền cũng muốn phòng ngừa nạn buôn lậu của Hà Lan và những cuộc tấn công

vũ trang với những vũ khí chết người mới mà người Nhật Bản chưa kịp biết tới Mục tiêu sau cùng của Mạc phủ là nhằm giữ thế độc quyền về phát triển kinh tế nội địa, tránh rơi vào tình trạng bị người Bồ Đào Nha o bế như trước đây Đồng thời, những bất công trong việc đối xử mà người Hà Lan phải gánh chịu còn xuất phát từ tư tưởng coi thường thương nhân trong xã hội phong kiến Tokugawa Mặc dù nhận thức được nguồn lợi to lớn mà việc buôn bán mang lại cho đất nước nhưng do chịu ảnh hưởng của hệ thống luân lý đạo đức Nho giáo nên trong xã hội Nhật Bản có sự phân chia ra bốn đẳng cấp rõ rệt: sĩ-nông-công-thương mà trong đó đẳng cấp thương nhân là những người bị coi thường và khinh rẻ nhất Sự có mặt của người Hà Lan và nền thương mại của họ đã phá vỡ đi nền tảng tinh thần và các bậc thang giá trị đạo đức của xã hội nên những người ngoại quốc cũng không nằm ngoài sự phân biệt này

Sự tiếp xúc giữa người Hà Lan và nhà cầm quyền Nhật Bản được diễn ra trong những chuyến đi thường niên tới trình diện triều đình Giống như các lãnh chúa Nhật

Trang 22

18

Bản8, đại diện thương quán Hà Lan ở Dejima cũng phải thực hiện nghĩa vụ triều cống

hàng năm cho Tướng quân ở Edo (Edo sanpu, 江戸?参府, Giang Hộ tham phủ) để tỏ lòng tôn kính của mình Khi còn ở Hirado họ cũng phải thực hiện những chuyến đi như vậy nhưng không thường xuyên Những cuộc hành trình tới kinh đô thực sự là những cơ hội hiếm hoi để người Hà Lan hiểu thêm về xã hội Nhật Bản ở bên ngoài Nagasaki và cũng là cơ hội để người Nhật Bản biết thêm về những người ngoại quốc

và thế giới phương Tây Tổng cộng đã có khoảng 186 chuyến đi tới Edo trong khoảng thời gian từ 1633 - 1850 Từ năm 1764 đến năm 1790 khoảng cách giữa các chuyến đi

là 2 năm một lần và sau đó được gia hạn thành 5 năm một lần, chuyến đi cuối cùng được thực hiện vào năm 1850

Mỗi chuyến đi như vậy thường phải mất đến ba tháng Cùng đi với viên đại diện thương quán là bác sĩ phẫu thuật của VOC, một số nhân viên thương quán, thông dịch viên tiếng Hà Lan và những người phục vụ của chính quyền địa phương Nagasaki, tất cả từ 150 đến 200 người Đoàn diễu hành của những người "dã man tóc đỏ"9

thu hút rất nhiều cặp mắt tò mò của dân chúng Khởi hành từ Nagasaki, họ đi đường bộ đến Kokura, rồi đi thuyền nhỏ sang Shimonoseki ở phía bắc Kyushu, tại đây phái đoàn tiếp tục lên thuyền lớn đến khu vực Hyogo, Osaka và hành trình bằng đường

bộ tới Edo theo tuyến đường quốc lộ Đông hải đạo - Tokaido Theo ghi chép của Kaemfer, các làng dọc đường quốc lộ dân cư thưa thớt, nhưng trong các thị trấn hoặc thành phố, cửa hàng, cửa hiệu san sát, dân chúng đi lại tấp nập Thỉnh thoảng, trên

đường đi, phái bộ Hà Lan cũng gặp những phái đoàn Sankin kotai gồm hàng trăm

người của các lãnh chúa về Edo để triều kiến Tướng quân Lúc đó, mật độ dân cư đi lại trên đường đông đúc hơn bao giờ hết Ngoài những vũ sĩ tuỳ tùng, dân thường như nhà buôn, thợ thủ công, nông dân, những người làm dịch vụ cũng góp thêm vào bức tranh sinh động về cuộc sống hối hả, phồn vinh những năm đầu dưới chính quyền cai trị của Mạc phủ Tokugawa

Chuyến thăm viếng Tướng quân của thương quán Hà Lan ở Dejima được Công ty Đông ấn Hà uỷ nhiệm mang theo rất nhiều tặng phẩm đắt giá và độc đáo Kính viễn vọng, các dụng cụ y học, dược phẩm, pháo, những quả địa cầu, động vật nhập ngoại như ngựa vằn, lạc đà, khỉ là những quà tặng dành cho Tướng quân và tầng lớp quan lại

8

Nhằm kiểm soát sự trung thành của các lãnh chúa địa phương, Mạc phủ yêu cầu họ phải thực hiện chính sách

Sankinkotai (参勤?交代, Tham cần giao đại, Luân phiên trình diện), hàng năm và sau này là 3 năm một lần phải

về Edo để trình diện Tướng quân Sau khi trình diện có thể trở về lãnh địa nhưng phải để lại vợ con ở tư dinh tại Edo để làm tin Chính sách này đã phải bãi bỏ vào năm 1862 do những áp lực trong nước và quốc tế

9

Do ảnh hưởng bởi quan niệm của Trung Hoa, người Nhật thường gọi những người châu Âu một cách khinh miệt là ŖNam man - người dã man đến từ phương Namŗ Về sau cụm từ này được dùng chủ yếu để chỉ người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Người Hà Lan được phân biệt bằng một từ khác là ŖHồng mao - người tóc đỏŗ

Trang 23

19

cao cấp Những cuốn sách về khoa học cũng đặc biệt thông dụng Bên cạnh đó là những đồ trang trí tuyệt tác chẳng hạn như chiếc đèn chùm treo làm bằng đồng rất đẹp với những ngọn nến sáp ong đã được tặng vào năm 1638 nhằm làm dịu đi những căng thẳng trong tình hình ngoại giao khi ấy Để đáp lại, người Hà Lan thường được nhận những bộ kimono bằng lụa rất đắt tiền và một số sản vật đặc trưng khác từ giới chức Nhật Bản

Kể từ năm 1644, người Hà Lan được yêu cầu cung cấp một bản báo cáo chi tiết

hàng năm trong mỗi lần đến triều kiến Tướng quân, tiếng Nhật gọi là ''fusetsu gaki"

(風ŕ•à書?, Phong thuyết thư) Bản báo cáo này ban đầu chỉ nhằm đòi hỏi thông tin

về những động thái của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha ở châu á cũng như những

âm mưu của họ trong việc chống lại chính quyền Tokugawa sau khi bị trục xuất ra khỏi Nhật Bản Về sau, nội dung báo cáo được yêu cầu mở rộng ra tình hình của tất cả các nước châu Âu, Trung Hoa, và ấn Độ Báo cáo phải trình bày rõ những thay đổi và biến động lớn đang diễn ra trên thế giới Từ giữa thế kỷ XIX, do sự gia tăng áp lực của nước ngoài đối với chính sách đóng cửa của Mạc phủ, người Hà Lan cũng gửi cho

chính quyền Edo những bản báo cáo đặc biệt, gọi là Betsudan

Fusetsugaki(別?段風ŕ•à書?, Biệt đoạn phong thuyết thư)trong đó đề cập đến sự thay đổi về chính trị ở các nước lớn, sự tăng cường sức mạnh hải quân, việc tìm ra vàng ở nhiều nơi trên thế giới, sự gia tăng dân số…

Cuộc giao lưu giữa hai quốc gia Hà Lan và Nhật Bản đã diễn ra tương đối bình lặng như thế trong khoảng thời gian suốt hai trăm năm cho đến đầu thế kỷ XIX Lúc này, tình hình chính trị thế giới có nhiều thay đổi Hà Lan đã đánh mất uy thế trên biển trong khi sức mạnh của Mỹ và Anh ngày càng được tăng cường Thắng trận trong chiến tranh nha phiến, Anh đã buộc được chính quyền phong kiến Trung Quốc phải nhượng lại Hồng Kông và mở cửa 5 cảng cho giao lưu thương mại quốc tế Vua Hà Lan Willem II đã viết quốc thư tìm cách thông tin cho nhà cầm quyền Nhật Bản vào năm 1844 về nguy cơ của chiến tranh và khuyên chính quyền Edo nên nhanh chóng tự nguyện mở cửa Nhật Bản cho nước ngoài vào buôn bán Mặc dù bỏ qua lời khuyên này, nhưng chính quyền Tướng quân cũng bày tỏ sự biết ơn đối với hành động thiện ý của người Hà Lan Sau đó, chính quyền Hà Lan đã cảnh báo cho Tướng quân thêm một lần nữa thông qua Donker Curtius, người được cử làm đại diện thương quán Dejima từ năm 1852 Sau khi đến Nhật, ông ta đã báo tin cho Tướng quân rằng nước

Mỹ đang có kế hoạch mở cửa Nhật Bản bằng vũ lực Nhật Bản lại một lần nữa bỏ qua thông tin quý giá này và năm 1853, hạm đội "những con tàu đen" của Đề đốc Mỹ

Trang 24

đó chấm dứt mặc dự quan hệ thõn thiện giữa hai quốc gia vẫn được duy trỡ Thời gian đầu, tiếng Hà Lan vẫn đúng vai trũ là ngụn ngữ giao tiếp chớnh thức giữa Nhật Bản với nước ngoài Nhưng người Nhật đó nhanh chúng nhận ra sự thay đổi trong cỏn cõn quyền lực trờn thế giới và để bắt kịp phương Tõy, chớnh phủ Nhật Bản đó chủ động cử cỏc học giả của mỡnh đến Mỹ và chõu Âu Cỏc chuyờn gia của phương Tõy cũng được mời đến Nhật Bản để giỳp đỡ cho cụng cuộc cận đại húa đất nước Hà Lan cũng được kờu gọi trợ giỳp Nhật Bản trong khoa học quõn sự và đúng tàu, trong y học và dược khoa, và nhất là trong khoa xõy dựng cụng trỡnh đụ thị

Ngay sau cuộc viếng thăm của M Perry, chớnh quyền Edo đó đề nghị Donker Curtius cung cấp cho Nhật Bản loại tàu chạy bằng hơi nước Chớnh quyền Hà Lan đó gửi tặng một chiếc thuyền đi biển lớn cú tờn là "Soembing", sau này đổi sang

tờn tiếng Nhật là Kanko maru (観ẽ?ừ?Û, Khuyến quang hoàn) Trường Hàng hải đó

được thành lập ở Nagasaki cho mục đớch nghiờn cứu vận dụng và bảo trỡ con tàu cựng

vũ khớ quõn trang trờn tàu Đụ đốc Fabius thuộc Hải quõn Hà Lan đó lờn tàu tới Nhật Bản và thuỷ thủ đoàn của ụng trở thành những người giảng dạy đầu tiờn Sau khi tiếp nhận được những thành tựu của con tàu, Nhật Bản yờu cầu thờm con tàu thứ hai Tờn

gốc của nú là "Japan" và sau khi đến Nhật nú đó được đổi tờn là Kanrin Maru

(咸?臨ế?Û, Hàm Lõm Hoàn) và sau đú đó hành trỡnh đến Mỹ dưới sự điều khiển của

những thuyền viờn người Nhật Cựng lờn chiếc "Japan" lỳc đầu cú kỹ sư Hardes và

bỏc sĩ Pompe van Meerdervoort (1829-1908) Hardes đó lập ra một xưởng sửa chữa tàu và nhà mỏy đúng tàu hơi nước đầu tiờn - mà từ nhà mỏy này đó cho ra đời tập

đoàn đóng tàu nổi tiếng thế giới Mitsubishi Còn Pompe van Meerdervoort đó đi theo dấu chõn của Philipp Franz von Siebold (1796-1866) - bỏc sĩ thương quỏn Hà Lan

cú nhiều ảnh hưởng trong y học ở Nhật Bản - và lập nờn bệnh viện phương Tõy hiện đại đầu tiờn ở Nagasaki Sau này, rất nhiều bỏc sĩ tờn tuổi đó kế tục sự nghiệp của ụng như A.F.Bauduin, C.G Mansvelt, K.W Gratama, A.C.J Geerts, những người này đó đúng một vai trũ rất lớn trong việc phỏt triển hệ thống giỏo dục y học hiện đại ở Nhật Bản Họ chịu trỏch nhiệm thành lập nờn khoa y học tại Trường đại học Osaka

Trang 25

21

Gratama còn được kính trọng vì đã thành lập ra Seimi kyoku (舎ẫŔ?局?, Xá mật cục) -

phòng thí nghiệm hóa học đầu tiên ở Nhật Bản Một phòng thí nghiệm hóa học khác cũng được thành lập ở Kyoto và đây là tiền thân của khoa Hóa Trường đại học Kyoto

Từ seimi được dịch trực tiếp từ tiếng Hà Lan "chemie" với nghĩa là hóa học Gratama

và các học trò đã chế ra một loại hợp kim sử dụng trong việc đúc những đồng tiền hiện đại đầu tiên của Nhật Bản

Nhưng có lẽ dấu tích rõ ràng nhất là do những kĩ sư công trình người Hà Lan để lại Hà Lan vốn là một vùng đất nằm thấp hơn so với mực nước biển Trải qua hàng thế kỷ người dân phải giành giật đất đai từ biển cả, họ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng hệ thống kênh đào và đê chắn biển, góp phần tạo nên những khu vực thâm canh màu mỡ Chính vì lẽ đó, các kỹ sư người Hà Lan đã được chính quyền Mạc phủ mời đến để đối phó với những thách thức do địa hình nhiều đồi núi mang lại, để xây dựng và phát triển các hải cảng trong nước và để cải tạo dòng chảy của các con sông C.J van Doorn là người đầu tiên Ông đã thực hiện một kênh tưới tiêu ở quận Fukushima và sau đó đã được tạc tượng đồng để ghi nhớ công lao Theo đề nghị của chính phủ Nhật Bản, van Doorn đã mời thêm một số kỹ sư đến hợp tác với ông trong đó có Johannis de Rijke (1842-1913), người không học qua một trường đại học nào nhưng nổi tiếng là một người thợ tài năng

Johannis de Rijke đã có một sự lựa chọn đúng Ông đã ở lại Nhật Bản hơn 30 năm và cuối cùng đã trở thành phó Thủ tướng - có lẽ là người nước ngoài duy nhất đạt được địa vị cao như vậy Dấu ấn của ông để lại bao gồm việc cải tạo nhánh sông của

con sông Yodogawa thuộc tỉnh Osaka và đặc biệt là công trình cải tạo mang tên Kiso

Sansen ở trung tâm lãnh thổ Nhật Bản, một vùng đất có sự hội tụ của 3 con sông với

dòng chảy khác nhau là nguyên nhân gây nên nạn lũ lụt De Rijke đã sử dụng các kỹ thuật như là đắp đê, dựng rào chắn bằng vôi, vữa gạch vụn, và trồng cây nhằm làm giảm độ xói mòn Ông cũng là người thiết kế nên nhiều hải cảng hiện đại của Nhật Bản, ở Osaka, Nagasaki và Yokohama Với tổng số 12 kỹ sư công trình người Hà Lan đến Nhật Bản trong thời gian này, những công trình do họ thiết kế và xây dựng nên đã bảo đảm cho người dân Nhật Bản một cuộc sống an toàn không bị đe dọa bởi nạn lũ lụt

Cùng với việc mời các chuyên gia Hà Lan tới Nhật Bản, Mạc phủ cũng cử nhiều học giả người Nhật tới Hà Lan học tập Nishi Amane (1829-1897) và Tsuda Mamichi (1821-1903) đã được cử đi học tập tại trường Đại học Leiden vào năm 1862

Trang 26

22

Trong giai đoạn tiếp theo sau khi Nhật Bản mở cửa đất nước, quan hệ ngoại giao giữa hai nước đã được chính thức hóa Toà lãnh sự Hà Lan đầu tiên đã được thiết lập ở Yokohama năm 1859, tiếp theo là toà công sứ ở Tokyo (tên mới của Edo) và lãnh sự quán ở Kobe năm 1868 Tuy nhiên, sự tiếp xúc trên nhiều lĩnh vực và sự hợp tác qua lại lâu dài trong lịch sử này, cũng không thể ngăn chặn sự đụng độ bằng vũ lực giữa hai nước trong cuộc chiến ở Indonesia trong chiến tranh thế giới thứ hai

1.1.2 Thương quán Hà Lan và giao lưu thương mại Hà Lan - Nhật Bản

Nhằm thiết lập hệ thống mạng lưới buôn bán rộng khắp khu vực châu á,

ở bất kỳ nơi nào mà người Hà Lan đặt chân tới, họ cũng cho xây dựng những trạm thông thương trực thuộc dưới quyền quản lý của Công ty Đông ấn Hà Lịch sử của Công ty Đông ấn Hà là lịch sử của những hoạt động thương mại và chiến tranh Trụ sở chính của Công ty tại phương Đông đã sớm được thiết lập ở Batavia (1619), Java và lấy đó làm bàn đạp để tiến xa hơn Hà Lan đã lựa chọn con đường xâm nhập vào Trung Hoa và Nhật Bản bằng con đường ngoại giao, trong khi đó lại dùng sức mạnh quân sự để đặt chân vào quần đảo Malay và Ceylon (ấn Độ), bắt đầu cuộc cạnh tranh với người Bồ Đào Nha và Anh Người Hà Lan đã xua đuổi người Bồ Đào Nha ra khỏi Ceylon vào khoảng những năm 1638 - 1658, và ra khỏi Malacca vào năm 1641 Bắt đầu từ năm 1652, họ cũng tổ chức chỗ đứng chân ở mũi Hảo Vọng vì trong ý thức của người Hà Lan đây mới là thuộc địa vững chắc duy nhất của họ, Và năm 1667, người

Hà Lan cũng thiết lập quyền lực của mình ở Sumatra (Indonesia) Với các vùng đất thuộc địa mà người Hà Lan xâm chiếm được thì đây vừa là trạm giao dịch buôn bán vừa đồng thời là những tiền đồn quân sự vững chắc, bao gồm các cứ điểm ở vịnh Ba

Tư, trên bờ biển Malabar, ở Coromandel và ở Bengal Trong khi đó, tại các quốc gia độc lập mà người Hà Lan nhận được sự cho phép thông thương chính thức của chính quyền trung ương như Nhật Bản, các thương quán đã được xây dựng với hai nhiệm vụ chính là bảo đảm hoạt động thương mại của Công ty và là trung gian trong việc duy trì quan hệ hữu hảo giữa hai đất nước Thương quán Hà Lan ở Hirado (1609-1641) và Dejima (1641-1853) chính là đã được thiết lập với những mục tiêu chiến lược như vậy,

và trong suốt quá trình hơn hai trăm năm ở Nhật Bản, có thể nói những nhân viên của Công ty Đông ấn Hà làm việc cho thương quán Hà Lan ở đây đã thực hiện xuất sắc sứ mạng lịch sử của mình

Như trên đã nói, trong khoảng 20 năm sau khi người Hà Lan đến Nhật Bản, thương mại của Hà Lan với Nhật Bản chưa thu được thành tựu gì lớn do việc người Hà Lan chưa giành được chỗ đứng chân vững chắc ở khu vực Viễn Đông Vai trò độc quyền trong thương mại ở châu á thời gian này vẫn thuộc về hai quốc gia Tây

Trang 27

23

Ban Nha và Bồ Đào Nha, những người đã đến đây từ trước họ gần một thế kỷ Một nhà nghiên cứu Nhật Bản hoàn toàn có lý khi cho rằng mậu dịch tại thương quán Hirado, tỉnh Hizen của công ty Đông ấn Hà Lan chủ yếu là hoạt động cướp đoạt theo kiểu hải tặc Họ tấn công thuyền buôn các nước ở ngoài khơi vùng biển Nhật Bản rồi chở chiến lợi phẩm là hàng hóa cướp được về Hirado Tại đây, hàng hóa được phân chia thành hai loại, một số bán ở Nhật Bản còn số khác cùng với hàng hóa có nguồn gốc Nhật Bản được gửi đi bán ở các nước Đông Nam á hoặc chở thẳng về Hà Lan để bán ra thị trường châu Âu Trong thời gian này, hàng hóa nhập khẩu vào Nhật Bản chủ yếu là đồ gốm sứ, tơ lụa và các loại vật tư quân sự như vũ khí, thuốc nổ…trong đó một phần số tơ mà người Hà Lan có được là do cướp đoạt

Một lý do khác khiến cho thương mại Hà Lan chưa có điều kiện phát triển đó là sự năng động của các đoàn thương thuyền Nhật Bản mang theo các giấy

phép Châu ấn do Mạc phủ cấp đã có mặt tại hầu hết các cảng biển quan trọng ở Đông

Nam á Các thương nhân này đã thuê bao phần lớn thị trường tơ lụa vốn là mặt hàng nhập khẩu lớn nhất vào Nhật Bản khi ấy khiến cho người Hà Lan không có cơ hội để nâng giá lên trong khi phần cung ứng tơ lụa còn lại do các thương nhân Trung Hoa và

Bồ Đào Nha nắm giữ Tuy nhiên, bằng những chiến lược mậu dịch cứng rắn của mình cùng với những ưu đãi do chính quyền Mạc phủ dành cho, người Hà Lan đã từng bước giành được thế độc quyền trong thương mại với Nhật Bản

Năm 1608, Pieter Both, viên Toàn quyền đầu tiên của công ty Đông ấn Hà tại khu vực châu á đã chỉ thị rằng Hà Lan phải có được sự độc quyền hoàn toàn trong thương mại với vùng Đông ấn và không một quốc gia nào được cùng chia sẻ những quyền lợi trên Việc theo đuổi chính sách này chính là nguyên nhân của hàng loạt các cuộc tấn công trên biển của hạm đội Hà Lan vào các tàu buôn ngoại quốc Từ năm

1629 đến năm 1635, hải quân Hà Lan đã phá huỷ hơn 150 chiếc tàu Bồ Đào Nha khiến cho người Bồ Đào Nha không dám vận chuyển hàng hóa trên những con tàu lớn nữa

mà phải chuyển sang những chiếc thuyền có trọng tải nhỏ hơn nhiều và phải đi đường vòng qua phái đông eo biển Đài Loan để tránh sự đột kích của người Hà Lan Và nếu

có gặp người Hà Lan thì những tổn thất cũng không nặng nề như trước Vì thế, có thể nói rằng, "Trong thế kỷ XVII, chính người Hà Lan chứ không phải người Nhật Bản đã tìm cách trục xuất hầu hết người ngoại quốc ở các vùng biển xung quanh Nhật Bản đi" [31, 62] nhằm giành quyền bá chủ trong khu vực và độc quyền thương mại với Nhật Bản

Mặt khác, do không bị ràng buộc bởi chính sách định giá Pandaka do

Mạc phủ ban hành năm 1604 nhằm kiểm soát chặt chẽ mức giá cả đối với các mặt

Trang 28

24

hàng nhập ngoại từ Bồ Đào Nha nên người Hà Lan vẫn được tự do áp đặt giá cả trong việc buôn bán với các thương nhân Nhật Bản Điều này đã đem lại nguồn thu tương đối lớn cho họ, góp phần khuyếch trương thế lực thương mại của công ty Đông ấn Hà tại Nhật Bản Trong suốt thời gian từ khi Hà Lan được phép lập thương điếm cho đến năm Bồ Đào Nha bị trục xuất ra khỏi Nhật Bản (1609 - 1639), tổng số lượng tàu buôn đến Nhật Bản là 177 chiếc, trong đó đỉnh điểm là năm 1621 có tới 14 tàu buôn Hà Lan cập cảng Nhật Bản Như vậy là trung bình một năm, công ty Đông ấn Hà đã gửi tới đây 6 chiếc tàu buôn chở nặng hàng hóa cả đi và về So sánh với Bồ Đào Nha, ngay cả trong thời gian họ gửi tới Nhật Bản nhiều tàu nhất cũng chỉ có khoảng 3, 4 tàu một năm (từ 1624 đến 1639 có tổng cộng 55 chiếc tàu Bồ Đào Nha đến Nhật) [17, 71] Con

số này cho thấy thương mại Hà Lan ở Nhật Bản đã phát triển tương đối thịnh đạt ngay trước khi Nhật Bản thi hành đóng cửa đất nước Năm 1640, năm trước khi Hà Lan phải

di dời thương quán đến Dejima, lợi nhuận mà người Hà Lan thu được trong việc buôn

bán với Nhật Bản đã đạt đến mức 4 triệu gulden 10

Thương mại trong thời gian mở thương điếm ở Hirado là thương mại trực tiếp với các thương nhân Nhật Bản, đồng thời người Hà Lan cũng nhận được nhiều đơn đặt hàng từ phía gia đình Tướng quân và các lãnh chúa có thế lực khác Phần lớn đơn đặt hàng là vũ khí, ngoài ra còn một số mặt hàng thông dụng khác như đồ gốm sứ, gương, đường và những sản phẩm mới lạ cú nguồn gốc từ cỏc quốc gia phương Tõy

(Nammanbutsu, ??íớ? - Nam man vật) Những đơn đặt hàng này không được những thương nhân Hà Lan chào đón nhiệt tình do tính phức tạp và không mang lại lợi nhuận cao của chúng nhưng vẫn được họ đáp ứng đầy đủ Nhất là sau sự kiện bắt giữ hai con tàu Nhật Bản ở Zeelandia, để phục hồi vị trí của thương quán Hà Lan ở Hirado thì những đơn đặt hàng này chính là những vật phẩm có thể đổi lấy sự hài lòng hơn bất

kỳ món hàng cao giá nào khác

Sau khi thương quán Hà Lan bị buộc phải di chuyển đến Dejima, thương mại giữa Công ty Đông ấn Hà Lan và Nhật Bản đã chuyển sang một giai đoạn mới Một mặt người Hà Lan vẫn thi hành chính sách độc quyền trong thương mại ở vùng Viễn Đông, mặt khác họ vẫn tìm cách để giữ quan hệ hòa hiếu với Mạc phủ - lúc này đang ở đỉnh cao của xã hội quân sự chuyên chế phong kiến Sức mạnh vượt trội của hải quân

Hà Lan đã khiến cho các đoàn thuyền buôn của Siam, An Nam, Cambodia là những nước có quan hệ từ trước với Mạc phủ e ngại và kể từ sau năm 1640 nhìn chung họ đã không cố gắng xâm nhập vào thị trường Nhật Bản nữa Vô hình chung, Hà Lan trở thành trung gian trong việc vận chuyển hàng hóa qua lại giữa Nhật Bản và các quốc

10 Đơn vị tiền tệ của Hà Lan

Trang 29

25

gia Đông Nam á và vai trò này đã đem lại cho họ những nguồn lợi nhuận khổng lồ Người Hà Lan cũng dùng mọi thủ đoạn để chèn ép các thương nhân Trung Quốc nhưng do vốn là những thương gia có nhiều kinh nghiệm, quen thuộc với thị trường khu vực, có mạng lưới buôn bán rộng khắp và số lượng thuyền mành đông đảo nên người Trung Hoa vẫn bảo vệ được lợi ích kinh tế của họ ở nhiều thị trường chính yếu

và vẫn duy trì được quan hệ thường xuyên với Nhật Bản Mặc dù vậy lợi nhuận mà họ thu được không thể so sánh với người Hà Lan do sự thua kém về chủng loại hàng và

do sự chênh lệch giá cả ở thị thường châu á không cao bằng thị trường châu Âu

Hàng hóa mà thương nhân Hà Lan đem bán ở Nhật Bản có nguồn gốc rất phong phú, được sản xuất từ rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới bao gồm châu Âu, châu Phi, Trung Đông, châu á…Những mặt hàng phổ biến đó là tơ sống, lụa, bông, len, lông thú, kẽm, thiếc, ngọc, gương, đồng hồ, ống nhòm, thuốc, nhung hươu,

da cá sấu, ngà voi, sừng tê, mai rùa, hương liệu, dầu dừa, cao su, kim khâu, dép, bút chì Ngoài ra, còn có các sản phẩm có nguồn gốc thực vật mang giá trị dược liệu cao như dầu cây lô hội, gỗ đàn hương trắng - tía - đen, nhân sâm, cỏ ngọt, sa nhân, kỳ nam; các đồ trang sức và trang trí có giá trị như ngọc trai, san hô, hổ phách, pha lê, thuỷ tinh; các sản phẩm hiện đại có xuất xứ từ phương Tây: kính hiển vi, kính mắt, kính viễn vọng, son, thuốc lá và rất nhiều loại hóa chất như thuỷ ngân, lưu huỳnh, saltpeter ( một loại bột trắng có vị mặn vừa có công dụng làm thuốc súng, vừa để bảo quản thức ăn và làm thuốc chữa bệnh)… Về phía mình, Hà Lan cũng nhập từ thị trường Nhật Bản những mặt hàng được châu Âu và các nước khác ưa chuộng về giá trị cũng như là độ tinh xảo Nổi bật nhất là vàng và các sản phẩm bằng vàng, bình bạc, đồ đồng, đồ sứ, sơn mài, rượu sake, kiếm, quạt, kimono và một khối lượng bạc khổng

lồ Vào cuối thế kỷ XVI, Nhật Bản được coi là nước có trữ lượng bạc lớn có thể sánh với những mỏ bạc ở Peru hay một số vùng mỏ khác của Tây Ban Nha ở Nam Mỹ Hơn thế nữa, loại bạc khai thác ở Nhật Bản được coi là tinh chất nhất, rất được ưa chuộng trên thị trường thế giới lúc bấy giờ Vào giữa thế kỷ XVI, có tới 50 mỏ vàng, 30 mỏ bạc được khai thác ở Nhật Bản Trước khi người Hà Lan đến Nhật, các đoàn thuyền buôn Bồ Đào Nha và Trung Hoa đã mang đi những khối lượng bạc rất lớn và đến lượt mình, Hà Lan cũng ra sức tìm cách khai thác nguồn tài nguyên quý giá này

Tuy nhiên, chính quyền Edo đã nhanh chóng nhận ra sự thua thiệt của Nhật Bản trong việc trao đổi bạc lấy các mặt hàng phù phiếm khác và lo ngại về khả năng một ngày nào đó những mỏ bạc khổng lồ cũng sẽ bị khai thác hết nên đã tìm cách hạn chế việc xuất khẩu bạc ra khỏi Nhật Bản Năm 1685, chính quyền đặt ra quy định: hàng năm các thuyền buôn Trung Quốc chỉ được đem ra khỏi Nhật Bản khối lượng bạc trị

Trang 30

26

giá 6.000 kan (1 kan khoảng 3,76kg) còn tàu Hà Lan là 3.000 kan Đến năm 1813,

Mạc phủ lại quy định hàng năm thuyền buôn Trung Quốc chỉ được đến 10 chiếc và

đem đi 3.500 kan bạc Với Hà Lan, mặc dù được cử 2 chuyến tàu đến Nhật Bản nhưng lượng bạc đem đi không được vượt quá 1.700 kan Đồng thời, trong khoảng thời gian

đó, chính quyền Tướng quân cũng thi hành những sự điều chỉnh đối với thương mại của Hà Lan ở Nhật Bản Hàng hóa phải bán theo một giá cả cố định được quy định trước, giá cao nhất cho hàng hóa xuất nhập khẩu cũng được định rõ và những hàng hóa nào còn tồn đọng chưa bán được thì phải đem về Tuy nhiên, mặc dù bị ràng buộc bởi những quy định này, VOC vẫn thu được lợi nhuận đáng kể và tiếp tục tập trung trao đổi lụa để lấy vàng, bạc, đồng và long não Lợi nhuận trung bình của Hà Lan ở Nhật Bản hầu như bao giờ cũng chiếm trên 50% tổng giá trị thương mại của Công ty Đông

ấn Hà ở khu vực châu á:

Bảng 1 Giá trị thương mại của Hà Lan với Nhật Bản (1641-1689)

Giai đoạn Tỉ lệ % so với thương mại châu á

1636 đến 1668, lãi suất trung bình hàng năm của VOC qua việc bán tơ lụa ở Nhật đạt 119% đối với hàng Trung Hoa, 183% với hàng Bengal và tới 186% với hàng của Việt Nam (Đàng ngoài) Bảng sau đây sẽ cho thấy khối lượng tơ lụa do VOC đem vào Nhật Bản:

Bảng 2 Tơ lụa nhập khẩu vào Nhật Bản qua Công ty Đông ấn Hà (1641-1747)

Năm

Nguồn 1641 - 1684 1685 Ŕ 1747

Tổng số (Kg)

Tỉ lệ (%) Bengal (ấn Độ) 2.320.891 1.109.918 3.430.809 68.91

Trang 31

từ Đàng Ngoài sang Nhật, có tới 85% giá trị hàng hóa là sợi tơ và vải lụa Ngoài ra, Việt Nam còn xuất sang Nhật, thông qua vai trò trung gian của VOC, rất nhiều loại sản vật có giá trị khác như kỳ nam, trầm hương, đường, yến sào, hạt tiêu…

Thương quán Hà Lan ở Dejima đã trở thành một trong những cứ điểm quan trọng trong hệ thống buôn bán của Hà Lan ở phương Đông Đây là một trong những trạm thông thương chính thu hút những nhân viên của Công ty Đông ấn Hà đến làm việc Một nguyên nhân khác lý giải cho hiện tượng này đó là, chính quyền trung ương của Nhật Bản, bên cạnh thương mại chính thức, cũng cho phép sự trao đổi buôn bán giới hạn trong các cá nhân, đặc quyền này đã giúp cho những nhân viên của thương quán thu được một nguồn lợi tức lớn thậm chí hơn 20 lần lương thông thường cả năm

của họ Viên đại diện thương quán có mức lương là 1200 guilden một năm nhưng trên thực tế, ông ta thường thu được khoảng 30.000 guilden

Việc nhà cầm quyền không giới hạn phạm vi buôn bán trong các cá nhân cũng

có nghĩa là giữa các thương nhân Hà Lan và các lãnh chúa Nhật Bản cũng có sự tiếp xúc và giao lưu thương mại khá thường xuyên Trên thực tế, nhằm kiểm soát người Hà Lan ở Dejima, từ năm 1641, Mạc phủ đã phân bổ nhiều lãnh địa đứng ra làm nhiệm vụ quản lý về mặt vũ trang đối với vùng đất Nagasaki xa xôi, nơi có thương quán của người Hà Lan Người được giao nhiệm vụ đầu tiên là Kuroda Tadayuki, lãnh chúa vùng Chikuzen, ông ta đã cho xây dựng ở đây một pháo đài và cắt cử quân lính canh gác Năm 1642, lãnh chúa Hizen là Nabeshima Masashige được yêu cầu phải gửi đến Nagasaki một tiểu đội kỵ binh, sau đó, hai lãnh địa Chikuzen và Hizen phải luân phiên nhau cung cấp lực lượng vũ trang vào tháng 4 hàng năm Đến cuối thời kỳ Tokugawa,

17 lãnh địa đã được phân cử làm nhiệm vụ này

Do đó, để giành được những quyền tự do hạn hẹp và nhằm mua chuộc tầng lớp quan chức Mạc phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động buôn bán và sự hiện diện của họ ở Nhật Bản, người Hà Lan sau mỗi chuyến tàu cập cảng đều tìm cách gửi tặng

Trang 32

28

những món quà đắt giá trước hết là cho hai viên tổng trấn và Hội đồng trưởng lão ở Nagasaki, sau đó là các lãnh chúa chịu trách nhiệm giám sát và quản lý họ Rất có thể rằng, về phía mình, bản thân những lãnh chúa này để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ngày càng cao và thói thích phô trương cũng gửi những đơn đặt hàng bí mật đến thương quán Hà Lan ở Dejima và yêu cầu họ cung ứng những mặt hàng xa xỉ có nguồn gốc từ phương Tây và những vật dụng cần thiết từ nhiều quốc gia châu á khác

Mặt khác, trên cuộc hành trình đến Edo cũng như tại trung tâm quyền lực của chính quyền quân sự, những lãnh chúa từ các vùng đất khác trên lãnh thổ Nhật Bản cũng có nhiều cơ hội để tiếp xúc với những nhân viên thương quán Hà Lan Những cuộc gặp gỡ này đã đem lại một hệ quả tất yếu là sự trao đổi sản vật địa phương của các lãnh địa lấy các mặt hàng phong phú và mới lạ Như ta đã biết, bản chất của nền sản xuất trong các lãnh địa Nhật Bản thời gian này là tự cung tự cấp là chính Để trang trải chi phí sinh hoạt và nhất là chi phí khổng lồ cho những chuyến đi trình diện Tướng quân, họ không còn cách nào khác là đem sản phẩm trong lãnh địa (chủ yếu là nông sản, hàng thủ công) ra bán trực tiếp trên thị trường Và đây cũng là hình thức trao đổi chính với các thương nhân ngoại quốc Thông qua sự tiếp xúc này mà văn minh

phương Tây và các sản phẩm phương Tây đã được phổ biến trên khắp Nhật Bản

Do những nguyên nhân chính trị, lợi nhuận và thương mại của Công ty Đông ấn Hà ở Dejima từ cả hai phía châu Âu và Nhật Bản đều bị giảm giá trị vào thế kỷ XVIII Nhà cầm quyền Nhật Bản đã thiết lập những quy định mới như là số lượng tàu được cho phép, tỉ lệ trao đổi giữa bạc và vàng nhằm hạn chế lợi nhuận trong thương mại của Hà Lan Trước đó, Hà Lan đã bị chiếm đóng bởi người Pháp và người Anh đã chiếm được

vị trí thuận lợi trong việc tranh giành quyền bá chủ trên biển Trong khoảng từ năm 1795-1813, rất ít tàu của Hà Lan tìm cách đến Dejima do hậu quả của việc mất nguồn lợi tức của các nhân viên thương quán Số lượng tàu đến Nagasaki không vượt quá một hoặc hai chuyến mỗi năm và người Hà Lan đang dần dần đánh mất sức mạnh bá chủ trên biển Do tất cả những nguyên nhân trên, trong 20 năm đầu thế kỷ XIX, đã diễn ra sự suy tàn nhanh chóng trong giao lưu thương mại của công ty Đông ấn Hà trong khắp khu vực châu á và sau đó là đứng yên Công ty Thương mại Hà Lan -

"Nederlandse Handel Maatschappij" đã tiếp quản lại mọi di sản của VOC sau chiến

tranh Napoleon11, lại tỏ ra không thích thú với Dejima Vì vậy, thương quán Hà Lan ở Nhật Bản chỉ được duy trì do nguyên nhân chính trị là chủ yếu

11

Chiến tranh Napoleon (1793-1815): trong khoảng thời gian này các nước lớn ở châu Âu như Anh, áo, Nga, Phổ, Thụy Điển… đã liên kết với nhau tất cả 7 lần nhằm tổ chức quân đội Đồng minh để chống lại sự bành trướng của nước Pháp đưới sự lãnh đạo của Napoleon Bonaparte (1769-1821) Cuối cùng Napoleon đã chịu thất bại hoàn toàn trong trận Waterloo

Trang 33

29

Sau khi Đề đốc Mỹ - Matthew Perry đến Nhật Bản vào năm 1853, năm sau đó cũng là năm chấm dứt hoàn toàn sự độc quyền trong thương mại của Hà Lan với Nhật Bản Dưới áp lực của nước ngoài, Mạc phủ đã phải kí hàng loạt các hiệp ước bất bình đẳng với Mỹ (3-3-1854), với Anh (23-8-1854), với Nga (21-12-1854), chấp thuận mở cửa một số hải cảng như Shimoda, Hakodate và Nagasaki cho thương nhân các nước này vào buôn bán Người Hà Lan chậm chân hơn một chút, nhưng cuối cùng vào ngày 23-12-1855 cũng đã giành được một hiệp ước hữu nghị với Nhật Bản và phải đến ngày 10-8-1858, hiệp ước thương mại giữa hai nước mới được kí kết Sự kiện Nhật Bản mở cửa đã kết thúc một thời kỳ hoạt động thương mại sôi nổi kéo dài hơn hai trăm năm của quốc gia phương Tây duy nhất - Hà Lan - tại quốc đảo xa xôi này Nhưng, những ảnh hưởng mà Công ty Đông ấn Hà và những nhân viên thương quán Hà Lan để lại trong lịch sử Nhật Bản là không thể phủ nhận được Một trong những ảnh hưởng lớn nhất trên bình diện giao lưu văn hóa, tư tưởng và học thuật, đó là sự ra đời của phong

trào học tập văn minh phương Tây thông qua ngôn ngữ Hà Lan - phong trào Hà Lan

học

1.2 Sự hình thành phong trào Lan học

1.2.1 Vai trò của những phiên dịch viên tiếng Hà Lan ở Nagasaki

Đánh giá tổng quan về vị thế chung của người Hà Lan ở Nhật Bản trong thời đại Tokugawa, không thể không đề cập đến vai trò trung gian của một nhóm người Nhật Bản, những người đã sống nhiều năm và có mối quan hệ mật thiết nhất với người

Hà Lan ở Dejima Các thế hệ phiên dịch viên tiếng Hà Lan tại Nagasaki không chỉ có nghĩa vụ trong việc giao tiếp hàng ngày với người châu Âu mà thông qua những hiểu

biết của họ từ người Hà Lan đã tạo tiền đề cho sự ra đời của phong trào Hà Lan học

Họ không chỉ mở ra con đường cho tiến trình đó, mà còn giữ một vị trí quan trọng trong việc nuôi dưỡng những nền tảng cơ bản của tri thức và khuynh hướng coi trọng những giá trị văn hóa, kỹ thuật phương Tây

Lúc đầu, các phiên dịch viên ở Hirado không phải do triều đình chỉ định mà do những người Hà Lan trực tiếp tuyển chọn giống như những người giúp việc đặc biệt cho họ Khi thương quán Hà Lan được chuyển tới Dejima, 8 gia đình phiên dịch viên12

đã dời Hirado để đi cùng với họ Vào thế kỷ XVI, ngôn ngữ chung trong thương mại với Nhật Bản là tiếng Bồ Đào Nha do đó những cuộc tiếp xúc đầu tiên của người Hà Lan với Nhật Bản cũng phải thông qua những phiên dịch viên tiếng Bồ Sau khi người

Bồ Đào Nha bị trục xuất, tiếng Hà Lan đã dần dần thay thế và vai trò của những phiên

12

8 gia đình đó là: Hideshima, Inomata, Ishibashi, Yoshio, Namura, Sadakata, Takasago và Yokoyama Về sau

bổ sung thêm một số gia đình phiên dịch viên nổi tiếng như Nishi, Motoki, Narabayashi, Baba, Shigei…

Trang 34

30

dịch viên tiếng Hà Lan ngày càng trở nên quan trọng Các phiên dịch viên không chỉ làm nhiệm vụ về ngôn ngữ mà còn là những đại diện thương mại và thậm chí là những người cung cấp thông tin cho chính quyền Đến cuối thế kỷ XVII, một hệ thống phân

tầng các phiên dịch viên đã được đặt ra bao gồm: phiên dịch viên chính (Otsuji,

?ấŽ? - đại thông từ), phiên dịch viên phụ (Kotsuji, ?ấŽ? - tiểu thông từ), trợ

tá của phiên dịch viên phụ (Kotsujijo, ?ấŽ??- tiểu thông từ trợ), phiên dịch

viên đang học nghề (Keikotsuji, 稽古通ấŽ?- kê cổ thông từ) và phiên dịch viên uỷ nhiệm - phiên dịch trong các chuyến hàng hàng năm của người Hà Lan (Naitsuji,

内通ấŽ?- nội thông từ) Trong phiên dịch viên phụ lại chia thành ba cấp: cấp thấp, cấp trung và cấp cao

Một phiên dịch viên chính và một phiên dịch viên phụ được luân phiên hàng năm và có nhiệm vụ đặc biệt phục vụ trong các cuộc gặp gỡ người Hà Lan của các quan chức Mạc phủ hay đi cùng phái đoàn Hà Lan đến trình diện Tướng quân ở Edo Sau khi chuyển đến Nagasaki, danh sách các gia đình phiên dịch viên tiếng Hà Lan đã được bổ sung thêm nhiều dòng họ khác Những nhóm phiên dịch viên này đã tạo ra một hệ thống cha truyền con nối các gia đình phiên dịch viên và biến công việc phiên dịch thành một dạng phường hội có quan hệ đặc biệt Việc học tập tiếng Hà Lan, ban đầu là vô cùng khó khăn do sự thiếu thốn về số lượng các giáo trình học, các cuốn sách ngữ pháp và nhất là từ điển Do đó, tiếng Hà Lan mà các phiên dịch viên người Nhật Bản học được, từ lĩnh vực chuyên môn đến ngôn ngữ hàng ngày, không thành một hệ thống mà chủ yếu chỉ mang tính chất giao tiếp, hội thoại thông thường Khi số phiên dịch viên tăng đáng kể, họ thành lập một tổ chức dạy và học tiếng Hà Lan Theo quy luật thông thường, những người trẻ học từ những người lớn tuổi hơn và cha mẹ họ, sau

đó là từ những người Hà Lan ở Dejima Đôi khi họ cũng học trực tiếp ngay từ đầu với những người Hà Lan Vì mục đích học tiếng chủ yếu là để nói và viết chứ không phải đọc, nên việc học tiếng cơ bản là qua học nghe nói Việc học tiếng cũng rất tự phát, phần lớn trong quá trình làm việc chứ không trong trường lớp và không theo bài bản nhất định Tuy nhiên, cùng với thời gian, kinh nghiệm và nhất là sự luyện tập chăm chỉ, khả năng sử dụng ngôn ngữ Hà Lan của các phiên dịch viên người Nhật đã tăng lên đáng kể Sự xuất hiện của một số cuốn từ điển Nhật - Hà vào cuối thế kỷ XVIII đã góp phần thúc đẩy việc học tập tiếng Hà Lan trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn Nhờ đó mà vai trò của các phiên dịch viên Nagasaki cũng ngày được tăng lên

Mặc dù việc liên lạc với người Hà Lan chỉ giới hạn ở những cuộc trao đổi giao lưu thương mại hàng ngày song một số phiên dịch viên bước đầu đã được biết về khoa

Trang 35

31

học Hà Lan qua việc quan sát và tiếp xúc với đời sống sinh hoạt của người Hà Lan tại Dejima Bên cạnh việc phiên dịch thì các phiên dịch viên còn có nhiệm vụ giám sát chặt chẽ người Hà Lan nên khi có người Hà Lan bị bệnh thì việc chăm sóc, chữa bệnh cho bệnh nhân của các y bác sĩ tại thương quán cũng không lọt khỏi tầm kiểm soát của

họ Việc theo dõi quá trình xem bệnh, phẫu thuật, kê đơn…đã đưa đến một hệ quả tốt

là các phiên dịch viên có thể bắt chước và học tập các kỹ năng khám và chữa bệnh của các bác sĩ Hà Lan Đồng thời, những kiến thức về khoa học khác cũng được các phiên dịch viên tiếp thu trong quá trình giao lưu văn hóa với các nhân viên Công ty Đông ấn

Hà Nhận thức được sự tiến bộ trong khoa học và kỹ thuật phương Tây, nhiều người trong số họ đã rất tự giác và tích cực học tập Hai lĩnh vực nổi bật được nhiều người quan tâm tìm hiểu là y học và thiên văn học Mặc dù kết quả ban đầu của họ có những dấu hiệu chắp vá, rời rạc nhưng dần dần đã thu được một số thành tựu đáng kể để rồi

từ Nagasaki, y học và thiên văn học đã được phát triển mở rộng trở thành hạt nhân của

phong trào Hà Lan học sau này

Mặt khác, khi các phiên dịch viên đi theo phái đoàn Hà Lan đến Edo yết kiến Mạc phủ, vô hình chung họ đã đóng vai trò là trung gian truyền đạt lại với các học giả và những người quan tâm đến văn hóa Hà Lan ở Edo những gì người Hà Lan nói và những gì họ học hỏi được từ ngưòi Hà Lan ở Dejima Những tri thức mới mẻ, thú vị và

hấp dẫn đó đã góp phần làm khơi dậy sự tò mò và mong muốn được hiểu biết nhiều hơn nữa về những khả năng của người Hà Lan và khoa học của Hà Lan từ phía các học giả này Việc học tập khoa học phương Tây thông qua thương quán

Hà Lan và ngôn ngữ Hà Lan một cách có hệ thống và theo trào lưu đã bắt đầu được manh nha từ đây

Trước đó, trong thời kỳ "thế kỷ Cơ đốc giáo (1549-1639)", ở Nhật Bản, người Nhật đã được làm quen phần nào với nền y học phương Tây tiến bộ và chính xác qua việc chữa bệnh của các giáo sĩ Bồ Đào Nha Nên khi một số bác sĩ châu Âu đến làm việc cho thương quán Hà Lan ở Dejima, điều dễ hiểu là họ thường xuyên được yêu cầu chữa bệnh cho người Nhật Bản và nhất là các quan chức của Mạc phủ hay người thân của họ Việc này cũng xảy ra trong những

chuyến hành trình đến Edo và những khi ấy vai trò của các phiên dịch viên làm cầu nối giữa các bác sĩ và người bệnh càng trở nên quan trọng Nhờ đó mà các phiên dịch viên

đã tích luỹ được một vốn kiến thức tương đối về y khoa và khi cần thiết họ cũng trở thành những người hành nghề y phương Tây sơ cấp Nổi bật trong số đó có Mukai Gensho (1609-1677), Nishi Gempo (1653-1684), Narabayashi Shingobei (1648-1711)

và Arashiyama Hoan (1633-1693) Họ là những phiên dịch viên chính nhưng sau này

Trang 36

32

đều đã trở thành những bác sĩ chính thức phục vụ cho chính quyền Mạc phủ trong thời gian cuối đời Họ cũng đã để lại những trước tác quan trọng và có nhiều đóng góp cho

sự phát triển của y học phương Tây tại Nhật Bản trong thời gian đầu Có thể kể ra đây

một số tác phẩm tiêu biểu như Komoryugeka Hiyo (紅毛?流?外科?秘?要v, Hồng mao

lưu ngoại khoa bí yếu - 1654), ghi chép về phương pháp phẫu thuật theo phong cách

Hà Lan của Mukai Gensho, Gekajijutsu no sho (外科?技術之書?, Ngoại khoa kỹ thuật

chi thư - 1706), cuốn sách về các kỹ thuật mổ của Narabayashi Shingobei, dịch từ ấn bản tiếng Hà Lan xuất bản năm 1649, bản gốc là một tác phẩm của Ambroise Paré (1517-1590) - cha đẻ của ngành phẫu thuật Pháp… Hầu hết những công trình này đều

là những bản thảo chép tay và được lưu hành bí mật do sự e ngại lệnh cấm nhập khẩu

và tuyên truyền văn hóa phương Tây của chính quyền trong thời gian này nên phạm vi ảnh hưởng của chúng không rộng Mặc dù vậy, chúng cũng đã hé mở phần nào cánh cửa hấp dẫn của khoa học còn đang đóng kín

Từ cuối thế kỷ XVIII trở đi, vai trò của các phiên dịch viên Nagasaki trong xã hội Tokugawa càng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết Thứ nhất, họ đóng vai trò là trung gian chính thức cho các hoạt động thương mại thường niên với người Hà Lan, trong các cuộc viếng thăm của người Hà Lan đến Edo và trong các cuộc gặp gỡ với các gia đình quan chức của Mạc phủ, nhất là ở Nagasaki Vai trò thứ hai không chính thức là

họ trở thành trung gian cho những người Nhật Bản dù dưới bất kỳ lý do gì cũng muốn được liên hệ trực tiếp với người Hà Lan ở Nagasaki hay tại Edo Chính bởi hai vai trò lớn này mà trong số những phiên dịch viên ở Nagasaki đã xuất hiện một số những học giả uyên thâm Đồng thời, cũng nhờ có sự giúp đỡ của họ mà nhiều học giả nghiên cứu

về Lan học nhưng không tinh thông ngôn ngữ Hà Lan đã cho ra đời nhiều công trình

biên dịch và biên soạn có giá trị

Rõ ràng là ảnh hưởng của những người tiên phong về khoa học phương Tây và khoa học Hà Lan ở Nagasaki là rất quan trọng đối với quá trình hình thành và sự phát

triển phong trào Hà Lan học ở Nhật Bản Tuy nhiên, do những chính sách thù địch của

Mạc phủ đối với Cơ đốc giáo và kèm theo đó là thành kiến với văn minh phương Tây vẫn tiếp tục được duy trì một thời gian dài sau khi những người Bồ Đào Nha bị trục xuất và Nhật Bản thi hành sắc lệnh đóng cửa đất nước nên phong trào học tập tiếng Hà Lan và qua đó là tri thức của Hà Lan được dấy lên từ những phiên dịch viên Nagasaki mới chỉ dừng lại trong phạm vi Ŗbán công khaiŗ và tương đối tự phát Phương thức học còn đơn giản, chủ yếu qua quan sát và truyền miệng nên thành tựu thu được còn hạn chế Việc học tập chỉ được bùng lên sôi nổi và công khai sau khi có sự thay đổi trong thái độ của chính quyền trung ương đối với văn minh phương Tây dưới thời đại

Trang 37

33

của Tướng quân thứ 8 - Tokugawa Yoshimune, đánh dấu bằng sự kiện nhà cầm quyền

ra lệnh nới lỏng chính sách nhập khẩu sách báo khoa học có nguồn gốc từ phương Tây

Mặc dầu có những sự chỉ trích từ một số học giả Lan học về sau rằng những

phiên dịch viên ở Nagasaki chỉ là những nhà Lan học về mặt sở thích là chính hay những học giả không chuyên nhưng có thể khẳng định một điều rằng chính họ đã đặt

nền tảng ban đầu cho sự phát triển phong trào Lan học ở Nhật Bản, trước hết là trên ba

lĩnh vực cơ bản: y học, thiên văn học và việc nghiên cứu một trong những ngôn ngữ phương Tây một cách có hệ thống, góp phần quan trọng vào việc truyền bá và mở rộng ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật phương Tây Điều có ý nghĩa nhất là, cùng với sự hoàn thiện về khả năng ngôn ngữ của các phiên dịch viên, đã đem lại cho giới cầm quyền Nhật Bản và ngay cả những người dân thường của Nhật Bản nhận thức rõ ràng

về những hiểu biết có giá trị và khác thường của người châu Âu trong nhiều lĩnh vực, trên cơ sở đó mà một phong trào học tập phương Tây chính thức và tự giác đã được ra đời

1.2.2 Tokugawa Yoshimune và chính sách "thực sản hưng nghiệp"

Những nghiên cứu bước đầu của các phiên dịch viên Nagasaki nửa sau thế kỷ XVII và sự tiếp xúc ngày càng sâu rộng với những nhân viên thương quán Hà Lan ở Nhật Bản đã đem lại một hệ quả là ngày càng có nhiều học giả bắt đầu quan tâm tới các vấn đề phương Tây như các sản phẩm của phương Tây, phong tục tập quán và văn hóa phương Tây, thể chế chính trị phương Tây… Nhưng để phong trào học tập này được phát triển chính thức, cần phải kể đến vai trò của vị Tướng quân thứ 8 - Tokugawa Yoshimune (1684-1751), nắm quyền từ 1716 đến 1745 Việc Yoshimune quyết định ủng hộ phong trào nghiên cứu sâu rộng hơn các thành quả của khoa học kỹ thuật phương Tây một phần là do sự tò mò của cá nhân ông, phần khác xuất phát từ mong muốn áp dụng những thành quả này cho sự phát triển của gia tộc mình

Thời gian trước và ngay sau khi Yoshimune nhậm chức, chính quyền Edo đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề kinh tế và xã hội mới nảy sinh khiến cho những mâu thuẫn của chế độ phong kiến ngày càng phát triển mạnh mẽ Đây là thời kỳ chứng kiến

sự phát triển thịnh vượng của một bộ phận tầng lớp thị dân, sự lan rộng của nền kinh tế tiền tệ, sự mở rộng của các nông trang do ảnh hưởng của nền kinh tế thương mại và sự xuất hiện của các trung tâm cho vay nặng lãi Trong khi đó thì ngân khố quốc gia ngày càng suy yếu và chính phủ không thể làm gì để ngăn chặn tình trạng đó đừng xảy ra Chính sách thắt chặt chi tiêu được Mạc phủ sử dụng như một công cụ để điều chỉnh

Trang 38

34

nền kinh tế đã dẫn đến một hệ quả không ngờ là làm đình trệ và gây ảnh hưởng tới nền kinh tế nông thôn, làm tăng sự di cư của nông dân về thành thị, gây mất ổn định xã hội Trước tình hình ấy, Yoshimune đã thi hành một loạt cải cách cụ thể trên tất cả các lĩnh vực chính trị, hành chính, tư pháp, tài chính mà trọng tâm là các chính sách kinh

tế Chương trình cải cách của ông được biết đến trong sử sách Nhật Bản với cái tên

Kyoho Kaikaku (享保改?革v, Hưởng Bảo cải cách 1716-1735), mục tiêu chính là chấn

hưng kinh tế, trên cơ sở đó bổ sung nguồn tài chính cho Mạc phủ

Để thực thi kế hoạch của mình, Yoshimune khuyến khích việc tăng sản lượng nông - công - kỹ nghệ phẩm, thiết lập nhiều xưởng chế tạo, ở quy mô lớn đó là những xưởng tập thể của giới thương nhân thành thị, quy mô nhỏ là các gia đình tiểu thủ công, từ đó tìm cách thu hút lực lượng lao động chính và tạo công ăn việc làm cho nông dân thất nghiệp và giới vũ sỹ giải nghệ Đấy là chính sách "Thực sản hưng

nghiệp" (Shokusan Kogyo, 植産興ằ?ặ - tăng sản vật, chấn hưng công - kỹ nghiệp), một phần trong nội dung của cuộc cải cách Nhằm làm tăng sản lư?ng nông nghiệp - xư?ng sống của nền sản xuất phong kiến - Yoshimune đ tìm cách mở rộng các khu vực thâm canh mới và đ?y mạnh công cuộc khai hoang Năm 1727, dư?i sự lãnh đ?o của Ochiai Sonzaemon - lãnh chúa vùng Satsuma, hai khu vực canh tác mía đ?ờng đ đ?ợc xây dựng ở Suruga và ở Nagasaki Đ?ng thời, theo đ? xuất của viên thủ thư Aoki Konyo, khoai lang đ đ?ợc trồng ở vùng Kanto gần Edo, cây sơn trà cũng đ?ợc trồng, những trại chăn nuôi quy mô lớn cũng đ?ợc khuyến khích thành lập

_Một trong những chính sách khôn ngoan của Yoshimune là việc tích cực cổ súy cho các ngành khoa học ứng dụng, đặc biệt là khoa học phương Tây do nhận thấy vai trò của nó trong việc làm tăng sản lượng và phát triển sản xuất Ông đã ra lệnh cho một số phiên dịch viên, bác sỹ làm việc cho triều đình và những người khác đến Nagasaki để học hỏi kinh nghiệm của người Hà Lan trong một số lĩnh vực chuyên môn của họ Ông cũng yêu cầu người Hà Lan gửi tặng những sản phẩm, vật nuôi, rau xanh, máy móc và sách báo của Hà Lan Năm 1740, ông cũng yêu cầu các học giả của triều đình như Aoki Konyo (1698-1769) và Noro Genjo (1693-1761) học khoa học và tiếng Hà Lan

Hai người này về sau đều trở thành những học giả tiên phong của phong trào Lan học:

Aoki thì thông thạo tiếng Hà Lan, Noro rất am hiểu về ngành thực vật học Thông qua hai học giả này, ngôn ngữ và khoa học Hà Lan đã lần đầu tiên được truyền bá rộng rãi

ở trung tâm của nước Nhật chứ không chỉ bị hạn chế ở Nagasaki, một thành phố tương đối xa với trung tâm quyền lực, cách biệt với các phần còn lại trên lãnh thổ Nhật Bản Mặt khác, với sự khởi đầu của các quan chức chính thống phục vụ cho Mạc phủ,

phong trào Lan học ở Nhật Bản cũng chuyển sang một chu kỳ quan trọng trong sự phát

Trang 39

35

triển của nó Tác phẩm phong phú của hai học giả này, đã góp phần đặt nền móng vững chắc cho thái độ tôn trọng đối với phong trào, nhờ đó mà trong giai đoạn sau,

Lan học đã có thể phát triển một cách công khai, chính thức và sôi nổi, bất chấp sự

phản đối của các học giả Nho học bảo thủ Bởi chính Aoki và Noro cũng là những nhà Nho học kiệt xuất, nhưng dưới sự khuyến khích của Tướng quân, đã cống hiến bản

thân họ cho sự phát triển của phong trào Hà Lan học

Đóng góp quan trọng nhất của Yoshimune cho phong trào Lan học là vào năm

1720, ông đã ra một lệnh chỉ nhằm nới rộng việc nhập khẩu sách khoa học có nguồn gốc phương Tây vào Nhật Bản Trước đó, năm 1630, Tướng quân đời thứ 3 là Iemitsu

đã ban hành một sắc lệnh với nội dung không cho phép nhập khẩu sách báo phương Tây liên quan đến Cơ đốc giáo bao gồm những sách được viết bằng tiếng Trung hoặc

đã được dịch ra tiếng Trung Theo đó, một công trình gồm 32 cuốn của Mateo Ricci (1552-1610) - nhà truyền giáo dòng Tên nổi tiếng đã đến Trung Quốc và nhiều nước khác, và những sách có mục đích tuyên truyền cho đạo Cơ đốc, thậm chí là một số cuốn sách về hệ thống công lịch cũng bị cấm Tuy nhiên, theo sắc lệnh này, những sách chỉ miêu tả hoặc đề cập đến cuộc sống và phong tục của những nước theo đạo Cơ đốc thì vẫn được du nhập Trên ý nghĩa đó, sắc lệnh của Tướng quân là nhằm mục đích loại trừ một loại tôn giáo mới chứ không cần thiết phải ngăn chặn văn hóa phương Tây Nhưng do sự sợ hãi và căm thù các nhà truyền giáo của các quan chức triều đình đồng thời xuất phát từ niềm tin của họ rằng việc tuyên truyền khoa học chỉ

là cái cớ để cải đạo cho các tín đồ nên họ đã không phân biệt được những cuốn sách truyền giáo thuần tuý và những tác phẩm không có mục tiêu tôn giáo Chẳng hạn như năm 1685, Mukai Gensei (1653-1727) được chỉ định là người giám sát việc nhập khẩu sách đã cấm tất cả các cuốn sách có nhắc tới những thuật ngữ như "tín đồ Công giáo",

"chúa Jesus", "phương Tây", "châu Âu" và "những người truyền giáo" Ông ta cũng cấm cả những cuốn sách có in kèm bản đồ của các nước theo đạo Cơ đốc

Lý do Mạc phủ chỉ cấm những cuốn sách đã được dịch sang tiếng Trung là bởi

vì, kể từ thời Oda Nobunaga cho đến khi sắc lệnh Kan‟ei (寛永, Khoan Vĩnh, 1630)

được ban hành, sự phát triển ngoại thương và hoạt động truyền giáo đã làm tăng đáng

kể số lượng người Nhật Bản đọc sách báo phương Tây bằng tiếng nguyên bản Nhưng nếu so sánh với số lượng người đọc sách báo bằng tiếng Trung Quốc thì con số này rất nhỏ bé Và bởi không ai nhập khẩu sách báo phương Tây trừ các nhà truyền giáo nên chính quyền không mấy quan tâm đến sách báo phương Tây bằng tiếng nguyên bản

Trang 40

Cơ đốc

Yoshimune đã chấp thuận đề xuất đó và ngay lập tức ông ra lệnh bãi bỏ lệnh cấm nhập sách Nhờ đó mà các cuốn sách phương Tây đã được dịch ra tiếng Trung Quốc đã được nhập khẩu một cách ồ ạt vào Nhật Bản và ngay cả những cuốn sách bằng nguyên bản tiếng Hà Lan hoặc được dịch ra tiếng Hà Lan cũng bước đầu được du nhập Mặc dầu các cuốn sách này đều được viết từ trước đấy khá lâu nhưng các học giả Nhật Bản vẫn hăng hái tìm hiểu chúng, đặc biệt là với những cuốn sách bằng tiếng Trung là ngôn ngữ mà họ khá thông thạo Những thông tin mà họ sưu tầm được đã làm dấy lên trong họ nhu cầu được tìm hiểu về khoa học và kỹ thuật của phương Tây nhiều hơn nữa, ban đầu là trong khuôn khổ cho phép của chính quyền

Sau sự thay đổi trong nhận thức của Yoshimune, bất cứ khi nào người Hà Lan tới Edo, họ đều bị rất nhiều học giả là quan chức của Mạc phủ và cả những học giả tự

do tìm đến để đưa ra hàng loạt những câu hỏi rất cụ thể về mọi lĩnh vực như y học, toán học, địa lý, phong tục tập quán, thể chế chính trị phương Tây, vũ khí, tiền tệ, giao lưu thương mại trên biển và đặc biệt là về thiên văn học Tuy nhiên, không phải nhân viên thương quán Hà Lan nào cũng là những nhà bác học nên họ rất khó khăn trong việc làm hài lòng những người Nhật Bản tò mò và ưa tìm hiểu đến từng chi tiết này Bên cạnh đó, họ còn phải đáp ứng những sở thích của Yoshimune về khoa học và những sản vật từ phương Tây như cung cấp thông tin về hệ thống đo đếm thời gian, về địa lý các nước phương Tây, về kỹ thuật hàng hải, về thuật bắn súng trên ngựa, thuật

kỵ mã… Đặc biệt Yoshimune cũng rất quan tâm đến việc nhập khẩu vào Nhật Bản các

Ngày đăng: 21/03/2015, 09:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aoki Michio, (1999), Sơ kì cận thế mậu dịch gốm sứ của thương quán Hà Lan và các lãnh chủ Mạc phiên, Kỷ yếu Quan hệ Việt - Nhật thế kỷ XV - XVII qua giao lưu gốm sứ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kì cận thế mậu dịch gốm sứ của thương quán Hà Lan và các lãnh chủ Mạc phiên
Tác giả: Aoki Michio
Năm: 1999
3. Ishida Kazuyosshi, (1966), Nhật Bản tư tưởng sử, NXB Kim Văn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản tư tưởng sử
Tác giả: Ishida Kazuyosshi
Nhà XB: NXB Kim Văn
Năm: 1966
4. Nguyễn Văn Kim, (2000), Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa nguyên nhân và hệ quả, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa nguyên nhân và hệ quả
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2000
5. Nguyễn Văn Kim, (1994), Người Hà Lan - Những năm đầu ở Nhật Bản, tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4-1994, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Hà Lan - Những năm đầu ở Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 1994
6. Nguyễn Văn Kim, (2003), Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam á thế kỷ XV-XVII, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam á thế kỷ XV-XVII
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
7. Nguyễn Văn Kim, (2003), Nhật Bản với châu á những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế xã hội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản với châu á những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
8. Vĩnh Sính, (1991), Nhật Bản cận đại, Văn hóa Tùng thư, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản cận đại
Tác giả: Vĩnh Sính
Năm: 1991
9. G.B. San Som, (1994), Lược sử văn hóa Nhật Bản, tập II, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử văn hóa Nhật Bản
Tác giả: G.B. San Som
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994
10. G.B.San Som, (1995), Lịch sử Nhật Bản, T 3, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản, T 3
Tác giả: G.B.San Som
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1995
11. Trịnh Tiến Thuận (2002), Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam thế kỷ XVI - XVII, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam thế kỷ XVI - XVII
Tác giả: Trịnh Tiến Thuận
Năm: 2002
12. Nguyễn Gia Phu-Nguyễn Văn ánh-Đỗ Đình Hãng-Trần Văn La, (1998), Lịch sử thế giới trung đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại
Tác giả: Nguyễn Gia Phu-Nguyễn Văn ánh-Đỗ Đình Hãng-Trần Văn La
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
13. Takafusa Nakamura, (1985), Phát triển kinh tế của nước Nhật hiện đại, Bộ ngoại giao Nhật Bản, Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế của nước Nhật hiện đại
Tác giả: Takafusa Nakamura
Năm: 1985
14. Lưu Ngọc Trịnh, (1998), Kinh tế Nhật Bản những bước thăng trầm trong lịch sử, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Nhật Bản những bước thăng trầm trong lịch sử
Tác giả: Lưu Ngọc Trịnh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1998
15. Shichikei Yamamoto, (1986), Văn hóa và kinh tế Nhật Bản, Tập bài giảng về Nhật Bản I trình bày tại Canada và Mỹ, tháng 9-1986.II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và kinh tế Nhật Bản
Tác giả: Shichikei Yamamoto
Năm: 1986
16. C.R.Boxer, (1950), Jan Compagnie in Japan, 1600-1850, The Hague, Martinus Nijhoff Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jan Compagnie in Japan, 1600-1850
Tác giả: C.R.Boxer
Năm: 1950
17. C.R.Boxer, (1986), Portuguese Merchants and Missionaries in Feudal Japan, 1534 -1640, Variorum Reprints, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Portuguese Merchants and Missionaries in Feudal Japan, 1534 -1640
Tác giả: C.R.Boxer
Năm: 1986
18. B. Jansen Marius, (1984), Rangaku and Westernization, Modern Asian Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rangaku and Westernization
Tác giả: B. Jansen Marius
Năm: 1984
19. B.Jansen Marius - Rozman Gilbert (1988) Japan in Transition from Tokugawa to Meiji, Princeton University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japan in Transition from Tokugawa to Meiji
20. Otis Cary, (1993), A History of Christianity in Japan, Curzon Press Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: A History of Christianity in Japan
Tác giả: Otis Cary
Năm: 1993
22. Grant K. Goodman, (2000), Japan and The Dutch 1600 - 1853, Curzon press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japan and The Dutch 1600 - 1853
Tác giả: Grant K. Goodman
Nhà XB: Curzon press
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Giá trị thương mại của Hà Lan với Nhật Bản (1641-1689) - Hà Lan học và vai trò của nó đối với sự phát triển của Nhật Bản thời kỳ cận đại
Bảng 1. Giá trị thương mại của Hà Lan với Nhật Bản (1641-1689) (Trang 30)
Bảng 2. Tơ lụa nhập khẩu vào Nhật Bản qua Công ty Đông ấn Hà (1641-1747) - Hà Lan học và vai trò của nó đối với sự phát triển của Nhật Bản thời kỳ cận đại
Bảng 2. Tơ lụa nhập khẩu vào Nhật Bản qua Công ty Đông ấn Hà (1641-1747) (Trang 30)
4.9.5. Hình ảnh minh họa về ca phẫu thuật khối u ngực của Hanaoka Seishu [29, 390]. - Hà Lan học và vai trò của nó đối với sự phát triển của Nhật Bản thời kỳ cận đại
4.9.5. Hình ảnh minh họa về ca phẫu thuật khối u ngực của Hanaoka Seishu [29, 390] (Trang 190)
Hình bán nguyệt - Hà Lan học và vai trò của nó đối với sự phát triển của Nhật Bản thời kỳ cận đại
Hình b án nguyệt (Trang 190)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w