Nhận thức được tầm quan trọng của công tác lập dự toán đối với hoạt độnglập và quản lý dự án đầu tư xây dựng người viết đã lựa chọn đề tài: “Phân tích và đánh giá công tác lập dự toán cô
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian vừa qua có thể nói tổng dự toán ở nhiều công trình xây dựng
do Trung Ương và địa phương quản lý đều vượt tổng mức đầu tư đã được phêduyệt Qua số liệu phân tích cho thấy, mức vốn đầu tư của các công trình xây dựngsau khi tổng dự toán được phê duyệt đều vượt mức tổng vốn đầu tư đã được phêduyệt trong báo cáo nghiên cứu khả thi Mức vượt này thấp nhất cũng là 21% vàcao nhất nhà 177,55% Khi đánh giá vượt mức vốn theo cơ cấu vốn đầu tư cho thấy:mức vốn xây lắp và vốn thiết bị trong tổng mức đầu tư là cao nhất (vốn xây lắp vượt
từ 26,6% đến 114,15%; vốn thiết bị vượt từ 1,57% đến 69,13%), một số công trình
có khoản vốn dự phòng xác định trong tổng mức đầu tư không phù hợp Thậm chí
có công trình lượng vốn dự phòng lại quá lớn, nhưng cũng không trang trải hết phầnvượt vốn xây lắp, vốn thiết bị và chi phí khác của công trình
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình là một vấn đề hết sức phức tạp dolĩnh vực xây dựng cơ bản có nhiều đặc điểm riêng biệt Dự toán xây dựng là mộttrong những công cụ giúp quản lý chi phí đầu tư xây dựng một cách có hiệu quả Nógiúp các nhà quản lý dự đoán trước được phần nào tình hình sản xuất kinh doanh vàchuẩn bị đủ nguồn lực tài chính cần thiết cũng như là lượng dự phòng để hoạt độngđầu tư xây dựng công trình được diễn ra thuận lợi, đảm bảo chất lượng cũng nhưtiến độ
Bên cạnh đó, tình hình kinh tế trong những năm vừa qua đã và đang diễnbiến theo chiều hướng ngày càng khó khăn Chính vì thế, để có thể vượt qua tìnhhình khó khăn, không chỉ các doanh nghiệp tư nhân mà cả các doanh nghiệp có sửdụng vốn nhà nước cũng cần phải có những bước đi chắc chắn và tầm nhìn chiếnlược đúng đắn Đầu tư xây dựng là một hoạt động tiền đề quan trọng trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế Do đó, hoạt động trong lĩnh vực này thìcác doanh nghiệp cần phải trang bị cho mình các nguồn lực về nhân lực, vật lực(trang thiết bị, công nghệ…)… để có thể đáp ứng được những đòi hỏi của ngànhcũng như đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước
Do vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với các nhà đầu tư, các nhà tư vấn… đó là cầnphải tính đúng và tính đủ các khoản mục chi phí để công tác quản lý chi phí đạt hiệuquả, tiết kiệm chi phí đầu tư một cách hợp lý, giảm thiểu tối đa những rủi ro về vốntrong quá trình đầu tư
Trang 2Nhận thức được tầm quan trọng của công tác lập dự toán đối với hoạt động
lập và quản lý dự án đầu tư xây dựng người viết đã lựa chọn đề tài: “Phân tích và
đánh giá công tác lập dự toán công trình xây dựng tại Trung tâm kỹ thuật Đường bộ - Tổng cục Đường bộ Việt Nam”
Phương pháp nghiên cứu
- Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để xem xét toàn diệncông tác lập dự toán, qua đó phân tích, đối chiếu, giải quyết các mục tiêu nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn cán bộ chuyên trách
- Phương pháp thống kê thu thập các tài liệu liên quan
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: công tác lập dự toán công trình bất động sản tạiTrung tâm kỹ thuật đường bộ Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: tập trung nghiên cứu các vấn đề về dự toán côngtrình xây dựng được lập cho một công trình tại phòng Kỹ thuật – Công nghệ và Môitrường tại Trung tâm kỹ thuật đường bộ trực thuộc Tổng cục đường bộ Việt Nam
Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo,chuyên đề gồm có 3 chương sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về dự toán công trình xây dựng
Chương II:Thực trạng công tác lập dự toán công trình xây dựng tại
Trung tâm kỹ thuật Đường bộ - Tổng cục đường bộ Việt Nam
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán công trình xây dựng tại Trung tâm kỹ thuật Đường bộ - Tổng cục đường bộ Việt Nam
Trang 3Trong quá trình thực hiện đề tài này, với sự giúp đỡ nhiệt tình các thầy côgiáo trong khoa Bất động sản và Kinh tế tài nguyên đặc biệt là đặc biệt là giảng viên
Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương và các cán bộ phòng Kỹ thuật – Công nghệ và Môi trường đã giúp tôi hoàn thành đề tài này Nhưng do trình độ và thời gian
nghiên cứu có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong
sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy cô cũng như các bạn để đề tài ngày cànghoàn thiện hơn
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN CÔNG TRÌNH
XÂY DỰNG1.1 Khái niệm, đặc điểm của công trình xây dựng
1.1.1 Khái niệm công trình xây dựng
Đối với công nghiệp xây dựng, sản phẩm xây dựng là các công trình (hayliên hợp công trình, hạng mục công trình) được tổ hợp từ sản phẩm của rất nhiềungành sản xuất khác nhau như các ngành: chế tạo máy, ngành công nghiệp vật liệuxây dựng, ngành năng lượng, hóa chất, luyện kim… Và cuối cùng là ngành côngnghiệp xây dựng đóng vai trò tổ chức cấu tạo công trình ở khâu cuối cùng để đưavào hoạt động
Theo điều 3, khoản 2 Luật Xây dựng 16/2003/QH11: “ Công trình xây dựng
là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm: công trình xây dựng công cộng, công trình nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác.”
Chúng ta có thể phân loại công trình xây dựng dựa vào đặc điểm kỹ thuậtnhư sau:
- Công trình dân dụng
- Công trình công nghiệp
- Công trình thủy lợi
- Công trình giao thông
- Công trình hạ tầng kỹ thuật
Do các công trình xây dựng thường phải xây dựng trong thời gian dài nên đểphù hợp với công việc thanh quyết toán nên có thể phân loại công trình xây dựngtheo mức độ hoàn thành như sau:
Trang 5- Sản phẩm trung gian: ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, ở giai đoạn khảo sátthiết kế, ở giai đoạn xây lắp…
- Sản phẩm cuối cùng của xây dựng: là các công trình hay hạng mục côngtrình xây dựng đã hoàn thành và có thể bàn giao đưa vào sử dụng
1.1.2 Đặc điểm của công trình xây dựng (sản phẩm xây dựng)
So với sản phẩm của các ngành khác, sản phẩm xây dựng có những đặc điểmđặc thù sau đây:
Công trình xây dựng có tính chất cố định, được xây dựng và sử dụng tạichỗ nhưng lại phân bố trên toàn vùng lãnh thổ
Sản phẩm xây dựng là công trình cố định tại nơi xây dựng, phụ thuộcnhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện địa phương và thường đặt ở ngoài trời
Sản phẩm xây dựng thường mang tính chất cá biệt cao cả về phương diệnkết cấu và cả về phương diện chế tạo, kiến trúc Nó có thể phụ thuộc vào nhu cầu,khả năng, cũng như điều kiện tự nhiên, khí hậu, xã hội nơi xây dựng mà các côngtrình xây dựng rất đa dạng
Sản phẩm xây dựng có tính chất tổng hợp về kinh tế kỹ thuật, văn hóa,chính trị xã hội, quốc phòng…
Sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành: bao gồm các ngànhcung ứng vật tư, thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất đồng thời cũng liên quan đếnnhiều ngành sử dụng các sản phẩm (các công trình này)
Sản phẩm xây dựng có kích thước, chi phí lớn, thời gian xây dựng và thờigian sử dụng lâu dài Do vậy phải tính toán kỹ lưỡng khi thiết kế vì nếu có sái sót sẽrất khó sửa chữa
1.1.3 Quá trình hình thành công trình xây dựng
Quá trình hình thành công trình xây dựng gồm ba giai đoạn:
Trang 6Chi tiết các bước công việc của quá trình hình thành và thực hiện một dự ánđầu tư xây dựng được tổng hợp trong bảng sau:
Bảng 1.1: Chi tiết các bước công việc của quá trình hình thành và thực hiện
một dự án đầu tư xây dựng
Chuẩn
bị đầu
tư
Nghiên cứu tìm kiếm cơ hội đầu tư
Lập báo cáo đầu tư (tùy theo quy mô) và dự án đầu tư xây dựng
Lập dự án khả thi
và hồ sơ xin phép
đầu tư/ giấy chứng
nhận đầu tư
- Xin giới thiệu địa điểm cấp thuê đất
- Lập hồ sơ xin chấp nhận địa điểm đầu tư
- Xin chỉ giới quy hoạch
- Lập sơ đồ bố trí tổng thể mặt bằng
- Xin thỏa thuận môi trường (lập báo cáo đánhgiá tác động môi trường hoặc đăng ký bản cam kếtbảo vệ môi trường), cấp nước, thoát nước, cấpđiện, PCCC
- Lập dự án đầu tư (thiết kế cơ sở và thuyếtminh dự án)
- Hoàn tất các thủ tục liên quan hồ sơ xin phépđầu tư
Xin quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư
Chuẩn bị xây dựng - Lập phương án đền bù giải tỏa (nếu có)
- Lập báo cáo xây dựng môi trường
- Ký hợp đồng thuê cấp đất
- Ký hợp đồng thuê thiết kế kỹ thuật chi tiếtcông trình
- Xin giấy phép xây dựng
- Lập dự toán chi phí công trình
- Lập kế hoạch xin cấp và vay vốn
- Ký hợp đồng giao thầu xây dựng
- Lập kế hoạch tiến độ thi công xây lắp
- Ký hợp đồng mời thầu cung ứng vật tư xâydựng
- Ký hợp đồng mời thầu cung ứng máy móc
Trang 7- Tiếp cận và bảo quản vật tư xây dựng
- Tổ chức thi công xây dựng
- Giám sát thi công xây dựng
- Tiếp nhận, giám sát lắp đặt thiết bị
- Hoàn thiện xây dựng, lắp đặt công trình
- Chuẩn bị bộ máy quản lý, tuyển dụng đào tạonhân lực
- Nghiệm thu bàn giao công trình
- Thanh quyết toán xây dựng công trình
- Vận hành thử công trình
Khai
thác Đưa công trình vào vận hành khai thác
Nguồn: Giáo trình quản trị xây dựng – Trang 31,32
1.1.4 Những đặc điểm của sản xuất xây dựng
Vì công trình xây dựng là cố định nên sản xuất xây dựng phải di động, lựclượng thi công luôn luôn phải di chuyển từ công trường này đến công trường khác.Các giải pháp kỹ thuật, tổ chức thì công do vậy luôn luôn phải thay đổi để phù hợpvới từng công trình Do đó sản xuất xây dựng không ổn định như các ngành khácnên phải tốn chi phí xây dựng các công trình tạm và di chuyển lực lượng thi công,tạo tâm lý tạm bợ cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, năng suất lao động cũng nhưtuổi thọ của các thiết bị thấp Chúng ta có thể khắc phục bằng cách tận dụng laođộng địa phương, trang thiết bị các máy móc gọn nhẹ có tính cơ động cao và pháttriển các doanh nghiệp cho thuê máy móc xây dựng, giáo dục tư tưởng ổn định chocác cán bộ công nhân viên
Thời gian xây dựng (chu kỳ sản xuất) trong xây dựng thường dài do đó gâythiệt hại do ứ đọng vốn sản xuất (vốn đầu tư là vốn của chủ đầu tư, vốn sản xuất làvốn của nhà thầu xây dựng) cũng như dễ gặp các rủi ro do tự nhiên, biến động giá
Trang 8trị thị trường Có thể khắc phục tình trạng này bằng cách giảm thời gian xây dựng,nhanh chóng đưa công trình vào sản xuất và sử dụng, giảm thiệt hại do ứ đọng vốn.
Công trình xây dựng mang tính cá biệt cao nên sản xuất xây dựng phải tiếnhành theo đơn đặt hàng trừ trường hợp các doanh nghiệp xây dựng các căn hộ đểbán, cho thuê
Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, có nhiều đơn vị tham gia xây dựngtrên cùng một diện tích theo một trình tự thời gian và không gian nhất định vì vậyđòi hỏi người cán bộ tổ chức thi công phải có trình độ tổ chức phù hợp của các đơn
vị sao cho đảm bảo tiến độ đề ra
Sản xuất xây dựng thường phải tiến hành ở ngoài trời và chịu ảnh hưởng bởiđiều kiện tự nhiên khí hậu do đó khi lập kế hoạch và tiến độ thi công phải chú ý đếnyếu tố thời tiết Phải chú ý cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân như làm lềuche mưa nắng, cơ giới hóa tối đa…
Sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch do địa điểm xâydựng mang lại: cùng loại công trình nhưng xây ở các địa phương khác nhau thì giávật liệu, nhân công, máy thi công khác nhau do vậy giá thành khác nhau dẫn đến lợinhuận khác nhau
Tốc độ phát triển kỹ thuật ở xây dựng thường chậm hơn so với các ngànhcông nghiệp khác, tỷ lệ lao động thủ công cao và ngành xây dựng là một ngành khónhập khẩu
Trang 91.2 Một số khái niệm về dự toán và lập dự toán công trình xây dựng
1.2.1 Khái niệm về dự toán công trình xây dựng
Quá trình đầu tư xây dựng của một dự án được chia làm 3 giai đoạn chính:giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư, giai đoạn kết thúc xây dựng
và đưa dự án vào khai thác sử dụng Ở mỗi giai đoạn đòi hỏi phải xác định được chiphí xây dựng công trình tương ứng, làm cở sở để quản lý vốn đầu tư xây dựng côngtrình Tuy nhiên điều kiện và các căn cứ xác định chi phí xây dựng công trình ở mỗigiai đoạn là khác nhau làm cho độ xác thực của dự toán chi phí xây dựng công trình
ở từng giai đoạn cũng khác nhau
Dự toán công trình được xác định ở giai đoạn thực hiện dự án Dự toán côngtrình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây dựng công trình được tínhtoán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật Tùy thuộc vào trình tự thiết kế mà tổng dựtoán công trình được xác định tương ứng Nếu công trình được thiết kế theo 2 bướcthì tổng dự toán sẽ được lập theo thiết kế kỹ thuật, còn nếu thiết kế một bước thìtổng dự toán được lập theo thiết kế bản vẽ thi công Đó là giới hạn tối đa về vốnđược sử dụng cho công trình, là cơ sở để lập kế hoạch vốn đầu tư và quản lý sửdụng vốn đầu tư, được dùng để khống chế và quản lý các chi phí trong quá trìnhthực hiện xây dựng công trình
Như vậy dự toán công trình được hiểu là: tổng chi phí cần thiết dự tính từ thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, đơn giá xây dựng đông trình, định mức chi phí tính theo tỷ lệ % và các văn bản khác có liên quan Dự toán công trình được lập theo từng công trình trong dự án làm căn cứ để thẩm định và phê duyệt, là cơ
sở để chủ đầu tư quản lý chi phí trong quá trình thự hiện dự án Dự toán công trình xây dựng được tính toán cụ thể và tổng hợp lại từ các khoản mục sau đây: chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác và chi phí dự phòng.
1.2.2 Khái niệm về lập dự toán công trình xây dựng
Lập dự toán công trình là bước quan trọng có tính chất quyết định trong quátrình quản lý chi phí đầu tư xây dựng Nhờ phân tích số liệu hồ sơ lập dự toán côngtrình giúp các nhà quản lý đánh giá được quy mô của dự án, lập tiến độ thi công,hạn chế các rủi ro, nâng cao hiệu quả đầu tư của dự án Lập dự toán công trình liên
Trang 10quan đến tất cả các bước từ thiết kế, thi công đến thanh quyết toán công trình Đây
là công tác thực hiện các bước công việc để tính toán, ước tính chi phí (lượng tiền)cần có đề đầu tư xây dựng một công trình, hạng mục công trình trong dự án đầu tư
Do lập dự toán là quá trình dự tính giá trị ở tương lai do đó quá trình lập dựtoán công trình xây dựng thường được thực hiện ở giai đoạn đầu vào của quá trìnhsản xuất – giai đoạn thực hiện đầu tư và đặc điểm của công trình xây dựng đó làtính cá biệt, mỗi một công trình xây dựng lại khác nhau về kiến trúc, địa điểm xâydựng Vì thế lập dự toán công trình xây dựng cần có các bước công việc để thựchiện tính toán một cách gần nhất chi phí đầu tư xây dựng của công trình như sau:Kiểm tra toàn bộ số lượng bản vẽ kiến trúc, kết cấu, điện, nước…; kiểm tra biệnpháp thi công; hình thành các công tác cần lập dự toán công trình, tính khối lượngtừng công tác, tính toán và xác định đơn giá xây dựng của từng công tác để tìm ragiá trị dự toán cần tính
1.2.3 Định mức xây dựng, hệ thống đơn giá xây dựng, chỉ số giá xây dựng
Một đặc điểm rất quan trọng của công trình xây dựng là nó được hình thành
từ nhiều bộ phận cấu tạo và nhiều kết cấu khác nhau, có quy mô lớn và thời gianxây dựng kéo dài nên không thể định giá công trình toàn vẹn một cách đơn giảnđược mà phải được tính toán từ những thành phần và kết cấu tạo nên nó Vì vậy khixác định chi phí xây dựng công trình đều phải dựa trên hệ thống định mức, đơn giácần thiết và phù hợp Mỗi loại định mức, đơn giá được dùng thích hợp để xác định
dự toán xây dựng công trình cho từng giai đoạn nhất định
1.2.4.1Định mức xây dựng
a) Khái niệm
Định mức dự toán được lập trên cơ sở các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng;quy phạm kỹ thuật về thiết kế - thi công – nghiệm thu; mức cơ giới hóa chung trongngành xây dựng; trang thiết bị kỹ thuật, biện pháp thi công và những tiến bộ khoahọc – kỹ thuật mới trong ngành xây dựng (các vật liệu mới, thiết bị và công nghệ thicông tiên tiến…) Định mức xây dựng bao gồm định mức kinh tế- kỹ thuật và địnhmức tính theo tỷ lệ Trong đó:
- Định mức kinh tế kỹ thuật quy định mức hao phí cần thiết về vật liệu,
nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng
Trang 11như 1m3 tường gạch, 1m3 bê tong, 1m3 mái nhà, từ khâu chuẩn bị đến khâu kếtthúc công tác xây dựng.
Mức hao phí vật liệu là số lượng vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện
hoặc các bộ phận rời lẻ, vật liệu luân chuyển (không kể vật liệu phụ cần dùng chomáy móc, phương tiện vận chuyển và những vật liệu tính trong chi phí chung) cầncho việc thực hiện và hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng Mứchao phí vật liệu quy định bao gồm: hao hụt vật liệu ở khâu thi công; riêng đối vớicác loại cát xây dựng đã kể đến hao hụt do độ dôi của cát
Mức hao phí lao động là số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực
hiện khối lượng công tác xây dựng và công nhân phục vụ xây dựng Số lượng ngàycông đã bao gồm cả lao động chính, phụ để thực hiện và hoàn thành một đơn vịkhối lượng công tác xây dựng từ khâu chuẩn bị tới khâu kết thúc, thu dọn hiệntrường thi công
Mức hao phí máy thi công là số ca sử dụng máy và thiết bị thi công chính
trực tiếp thực hiện kể cả máy và thiết bị phục vụ để hoàn thành một khối lượngcông tác xây dựng
- Định mức chi phí tỷ lệ dùng để xác định chi phí của một số loại công
việc, chi phí trong đầu tư xây dựng bao gồm: chi phí quản lý dự án, tư vấn đầu tưxây dựng, chuẩn bị công trường, chi phí chung, trực tiếp phí khác, nhà tạm để ở vàđiều hành thi công tại hiện trường, thu nhập chịu thuế tính trước và một số côngviệc, chi phí khác
Định mức chi phí tư vấn và quản lý dự án được quy định theo mức tỷ lệ %theo từng loại công trình trong dự án gồm: công trình dân dụng, công trình côngnghiệp, công trình giao thông, công trinhg thủy lợi, công trình hạ tầng kỹ thuật
Định mức chi phí trực tiếp khác được tính bằng % so với tổng số chi phí vậtliệu, nhân công, máy thi công theo hướng dẫn của thông tư 04/2010/TT-BXDhướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình ngày 25/05/2010
Định mức chi phí chung được sử dụng để lập dự toán chi phí xây dựng, chiphí dự toán lắp đặt thiêt sbij công nghệ, quy định cho từng loại công trình theothông tư số 04/2010/TT-BXD…
b) Tác dụng của định mức xây dựng
Trang 12Định mức xây dựng là căn cứ để xây dựng đơn giá phục vụ cho lập dự toán,xác định giá xây dựng.
Là cơ sở để tính toán lượng hao phí vật liệu, lao động, ca máy phục vụ chođịnh giá và yêu cầu quản lý chi phí xây dựng Qua đó làm cơ sở để phân tích hiêuquả kinh tế các giải pháp và phương án thiết kế
Là cơ sở để lựa chọn các hình thức, giải pháp thi công xây lắp như: căn cứ tổchức cung ứng vật liệu, điều động sử dụng lao động, tổ chức thi đua, trả lương…
Là cơ sở để nghiên cứu vận dụng các phương pháp tổ chức lao động khoahọc trong tổ chức thi công xây lắp
Là cơ sở để lập kế hoạch cung ứng vật liệu, cấp vốn thi công xây lắp
Đế phát huy tác dụng đòi hỏi định mức dự toán phải luôn luôn hoàn thiện sửađổi để mang tính chất trung bình tiên tiến, phù hợp với sự thay đổi của thực tiễn
Hiện nay, hệ thống định mức mà Việt Nam sử dụng khi lập dự toán được
tổng hợp theo phụ lục 01.
1.2.4.2Hệ thống đơn giá xây dựng
a) Khái niệm về đơn giá xây dựng
Đơn giá xây dựng là chi phí trực tiếp dự toán về vật liệu, nhân công và máythi công để thực hiện và hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấuxây lắp công trình
Đơn giá xây dựng cơ bản là cơ sở chủ yếu để xác định chi phí trực tiếp dựtoán xây lắp công trình Đơn giá xây dựng công trình phải thể hiện đầy đủ đặc điểmcông trình, vị trí thi công, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công, biện pháp thi công,chế độ chính sách và mặt bằng giá cả thị trường tại thời điểm thi công xây dựngcông trình
b) Các loại đơn giá xây dựng
Đơn giá xây dựng chi tiết
Đơn giá xây dựng chi tiết (Phần xây dựng, lắp đặt khảo sát) là chỉ tiêu kinh
tế - kỹ thuật tổng hợp bao gồm chi phí vật liệu, nhân công và máy thi công (nếu làđơn giá không đầy đủ) hoặc bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịuthuế tính trước (nếu là đơn giá đầy đủ) để hoàn thành một đơn vị khối lượng hoàn
Trang 13chỉnh của các công tác hoặc kết cấu xây dựng, được xác định trên cơ sở định mứcxây dựng công trình tương ứng.
Đơn giá xây dựng chi tiết được dùng để lập dự toán công trình, hạng mụccông trình phục vụ cho công tác lập kế hoạch, quản lý vốn đầu tư xây dựng và xácđịnh giá xét thầu xây lắp các công trình xây dựng trên địa bàn của tỉnh không phânbiết là công trình của trung ương hay của địa phương đầu tư
Nội dung của đơn giá xây dựng chi tiết:
Đơn giá xây dựng tổng hợp
Đơn giá xây dựng tổng hợp là chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tổng hợp phản ánhmức chi vật liệu, nhân công, máy thi công (đơn giá xây dựng tổng hợp không đầyđủ) hoặc chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước (đơn giá tổnghợp đầy đủ) để tạo thành một đơn vị khối lượng công tác xây lắp tổng hợp (gồmnhiều công việc chi tiết) hoặc kết cấu xây dựng tổng hợp
Suất vốn đầu tư
Suất vốn đầu tư là chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tổng hợp phản ánh mức vốn đầu
tư tính cho một đơn vị công suất thiết kế của dự án Để xác định suất vốn đầu tư của
Chi phí nhân công
Chi phí máy thi công
Thu nhập chịu thuế tính trước
Chi phí chung Chi phí trực tiếp
Trang 14dự án chỉ việc lấy tổng vốn đầu tư chi cho công suất thiết kế của dự án.
Suất vốn đầu tư được dùng để xác định tổng mức đầu tư của dự án cần xâydựng trong giai đoạn lập dự án hoặc báo cáo đầu tư
1.2.4.3 Chỉ số giá xây dựng công trình
Chỉ số giá xây dựng là chỉ tiêu phản ánh mức độ biến động của giá xây dựngcông trình theo thời gian
Chỉ số giá xây dựng dùng để phục vụ cho việc lập, điều chỉnh tổng mức đầu
tư, dự toán xây dựng công trình, giá hợp đồng xây dựng và quản lý chi phí đầu tưxây dựng công trình
Chỉ số giá xây dựng được xác định theo loại công trình, theo các yếu tố chiphí, cơ cấu chi phí, loại vật liệu xây dựng chủ yếu, theo khu vực và được công bốtheo từng thời điểm
Chỉ số giá xây dựng có vai trò xác định phần dự phòng trượt giá trong tổngmức đầu tư, dự toán công trình và điểu chỉnh các chi phí đầu tư xây dựng, đơn giáxây dựng về thời điểm lập dự toán khi sử dụng các số liệu về chi phí đầu tư xâydựng, đơn giá cũ có sẵn
1.3 Vai trò của công tác lập dự toán công trình
Bóc tách dự toán là một công việc không thể thiếu trong công tác đầu tư xâydựng Bóc tách dự toán có liên quan hầu hết đến các khâu trong quá trình đầu tư xâydựng, từ khâu thiết kế, khâu thi công đến khâu thanh quyết toán công trình
a) Giai đoạn thiết kế:
Chủ đầu tư thuê tư vấn thiết kế công trình không chỉ yêu cầu cần thiết kế bản
vẽ mà quan trọng nữa là cần tính toán giá trị đầu tư của công trình Khi lập thiết kếthì khâu bóc tách dự toán rất quan trọng, để tính toán được chính xác giá trị dự toánthì người lập dự toán cần phải kiểm soát tất cả các bản vẽ thiết kế từ bản vẽ kiếntrúc, bản vẽ kết cấu, bản vẽ tổng thể… Bởi vì khi thiết kế đôi khi các nhà thiết kếcòn có thể bị sai lệch các kích thước của các cấu kiện hay vị trí của chúng và thậmchí bố trí thép có thể bị sai sót…vậy khi người lập dự toán bóc tách khối lượng cầnphải đi nghiên cứu cụ thể từng chi tiết, từng bản vẽ để đưa ra khối lượng cho sát vớitình hình thực tế Do đó người lập dự toán có thể phát hiện ra những lỗi thiết kế màđôi khi cán bộ thiết kế không kiểm soát hết được
Trang 15b) Giai đoạn thi công
Trước khi tiến hành thi công xây dựng công trình người lập dự toán cần phảitham gia lập hồ sơ dự thầu nếu là công trình phải đưa ra đấu thầu hoặc làm các hồ
sơ đề xuất … Để thực hiện công việc này thì người lập dự toán cần phải biết bóctách khối lượng, dự toán công trình để kiểm tra khối lượng thiết kế đã đưa ra cóđúng không? Nếu không đúng thì cần phải bổ xung để tránh thiếu hụt khối lượng,tiếp theo phải lập giá chào thầu…Vai trò của người lập giá dự thầu hết sức quantrọng, đôi khi quyết định đến sự thắng thua trong đấu thầu và quyết định đến lãi suấtcủa nhà thầu
Khi tiến hành thi công, nếu người lập dự toán đồng thời là người chỉ đạo thicông xây dựng trên công trường thì họ cần phải biết mình phải làm những công việc
gì đối với từng hạng mục công trình khác nhau, khối lượng công việc tương ứng làbao nhiêu, hao phí vật tư cho từng công việc để xắp xếp theo kế hoạch cung cấp vật
tư và nhân lực cho hạng mục công trình hoặc công trình tương ứng Thật khó có thểchỉ đạo thi công xây dựng công trình nếu cán bộ dự toán không biết mình cần phảilàm những công việc gì và như thế nào, để hoàn thành được một công việc như vậythì phải dùng loại vật tư gì và mỗi số lượng mỗi loại là bao nhiêu…?
c) Giai đoạn thanh quyết toán công trình
Có thể nói đây là giai đoan vô cùng quan trọng và cán bộ dự toán chính làngười quyết định đến thành quả của toàn bộ quả trình xây dựng Nói vậy là bởi vìngười lập dự toán sẽ đồng thời là người lập quyết toán công trình nếu họ bỏ quakhối lượng khi bóc tách công trình từ bản vẽ hoàn công thì thành quả làm việc của
cả đơn vị sẽ không còn ý nghĩa? Dựa vào bản vẽ hoàn công, kỹ thuật thi công cungcấp và bản dự toán công trình, đơn giá dự thầu thì người lập dự toán cần phải bóctách lại khối lượng thi công căn cứ vào tình hình thực tế và đưa ra giá quyết toáncho công trình xây dựng Nếu giao cho một người lập dự toán công trình rồi lại giaocho người khác lập quyết toán thì sẽ rất dễ bị mất khối lượng bởi người lập dự toánmới là người nắm rõ nhất những công việc mà mình đã làm
1.4 Nội dung và phương pháp lập dự toán công trình xây dựng
1.4.1 Nội dung lập dự toán công trình xây dựng
Dự toán chi phí xây dựng được lập theo công trình và hạng mục công trình
Trang 16chính, công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công hoặc có thể lập cho từng
bộ phận công trình hoặc một gói thầu riêng Nội dung của dự toán công trình xâydựng bao gồm: chi phí xây dựng (GXD), chi phí thiết bị (GTB), chi phí quản lý dự án(GQLDA), chi phí tư vấn đầu tư xây dựng (GTV), chi phí khác (GK) và chi phí dựphòng (GDP).
Công thức xác định dự toán công trình:
G XDCT = G XD + G TB + G QLDA + G TV + G K + G DP
1.4.1.1Chi phí phần xây dựng (gọi tắt là dự toán chi phí xây dựng)
Chi phí phần xây dựng là chi phí để thực hiện phần xây dựng của công trình,hạng mục công trình; các bộ phận, các phần việc, các công tác của công trình, hạngmục công trình đối với công trình chính, công trình phụ trợ, công trình tạm để phục
vụ cho việc thi công, nhà tạm để ở và điều hành thi công
Chi phí xây dựng bao gồm các loại chi phí sau:
- Chi phí trực tiếp: là chi phí vật liệu (kể cả các loại vật liệu do chủ đầu tưcung cấp); chi phí nhân công để thi công công trình; chi phí sử dụng các loại máythi công; chi phí trực tiếp khác là chi phí được dùng cho những công tác cần thiết đểphục vụ trực tiếp hoạt động thi công xây dựng công trình như chi phí để di chuyểnlực lượng lao động tại nội bộ công trường, an toàn cho hoạt động lao động, bảo vệmôi trường cho người lao động và bảo môi trường xung quanh, thí nghiệm vật liệucủa đơn vị nhà và chi phí bơm nước, chi phí vét bùn không thường xuyên và khôngxác định được các khối lượng từ thiết kế
- Chi phí chung gồm các khoản mục chi phí như: chi phí quản lý của doanhnghiệp, chi phí điều hành hoạt động sản xuất tại công trường, chi phí phục vụ chocông nhân, chi phí phục vụ thi công xây dựng tại công trường và một số chi phíkhác
- Thu nhập chịu thuế tính trước được hiểu là khoản lợi nhuận của doanhnghiệp xây dựng đã được tính trước trong khi dự toán công trình xây dựng
- Thuế giá trị gia tăng (viết tắt là GTGT) là thuế được tính trên giá trị tăngthêm của hàng hoá, của dịch vụ được phát sinh trong quá trình từ sản xuất đến lưuthông và tiêu dùng
- Chi phí nhà tạm để ở và điều hành thi công xây dựng
Trang 171.4.1.2Chi phí thiết bị
Nội dung chi phí thiết bị (GTB) bao gồm các khoản mục là: chi phí mua sắmthiết bị (Gms); chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ (Gđt); chi phí lắp đặt, thínghiệm và hiệu chỉnh (Glđ) Trong đó, Chi phí mua sắm thiết bị bao gồm: giá mua(gồm cả chi phí thiết kế và giám sát chế tạo), chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơimua đến công trình, chi phí lưu kho, lưu bãi, lưu Container tại cảng Việt Nam (đốivới các thiết bị nhập khẩu), chi phí bảo quản, bảo dưỡng tại kho bãi ở hiện trường,thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình
G TB = G ms + G đt + G lđ
1.4.1.3Chi phí quản lý dự án
Nội dung chi phí quản lý dự án bao gồm 16 khoản mục:
- Chi phí tổ chức lập báo cáo đầu tư, tổ chức lập dự án hoặc báo cáo kinh tế
kỹ thuật;
- Chi phí tổ chức thẩm định dự án, báo cáo kinh tế kỹ thuật;
- Chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, táiđịnh cư thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư;
- Chi phí tổ chức thi tuyển thiết kế kiến trúc;
- Chi phí tổ chức lập, thẩm định, thẩm tra phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết
kế bản vẽ thi công, dự toán công trình;
- Chi phí tổ chức lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng;
- Chi phí quản lý chất lượng, khối lượng, tiến độ và quản lý chi phí xâydựng công trình;
- Chi phí đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường của công trình;
- Chi phí tổ chức kiểm tra chất lượng vật liệu, kiểm định chất lượng côngtrình theo yêu cầu của chủ đầu tư;
- Chi phí tổ chức kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng côngtrình;
- Chi phí tổ chức nghiệm thu, thanh toán, quyết toán hợp đồng, thanh toánquyết toán vốn đầy tư xây dựng công trình;
- Chi phí tổ chức giám sát, đánh giá dự án đầu tư;
- Chi phí tổ chức nghiệm thu, bàn giao công trình;
- Chi phí khởi công, khánh thành, tuyên truyền quảng cáo;
- Chi phí tổ chức lập định mức, đơn giá xây dựng công trình;
Trang 18- Chi phí tổ chức thực hiện công việc quản lý khác
1.4.1.4Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng
Nội dung chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm 20 khoản mục:
- Chi phí lập nhiệm vụ khảo sát xây dựng;
- Chi phí khảo sát xây dựng;
- Chi phí lập báo cáo đầu tư, lập dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế - kỹthuật;
- Chi phí thẩm tra tính hiệu quả và khả thi của dự án;
- Chi phí thi tuyển thiết kế kiến trúc;
- Chi phí thiết kế xây dựng;
- Chi phí thẩm tra thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán côngtrình;
- Chi phí lập hồ sơ yêu cầu, hô sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu và chi phíphân tích đánh giá hồ sơ đề suất, hồ sơ sơ tuyển, hồ sơ dự thầu để lựa chọn nhà thầu
tư vấn, thi công xây dựng, cung ứng vật tư thiết bị, tổng thầu xây dựng;
- Chi phí giám sát, khảo sát xây dựng, giám sát thi công xây dựng, giám sátlắp đặt thiết bị;
- Chi phí lập báo cáo đánh giá tác động môi trường;
- Chi phí lập định mức, đơn giá xây dựng công trình;
- Chi phí kiếm soát chi phí đầu tư xây dựng;
- Chi phí quản lý, chi phí đầu tư xây dựng như: tổng mức đầu tư, dự toán,định mức, đơn giá xây dựng, hợp đồng;
- Chi phí tư vấn quản lý dự án (trường hợp thuê tư vấn);
- Chi phí kiếm tra chất lượng vật liệu, kiểm định chất lượng công trình theoyêu cầu của chủ đầu tư;
- Chi phí thì nghiệm chuyên ngành;
- Chi phí kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình;
- Chi phí giám sát, đánh giá dự án đầu tư;
- Chi phí quy đổi vốn (đối với dự án có thời gian thực hiện trên 3 năm);
- Chi phí thực hiện công việc tư vấn khác
Chú ý: trường hợp dự án có nhiều công trình thì: chi phí lập báo cáo đầu tư,
lập dự án, chi phí lập báo cáo kinh tế kỹ thuật, chi phí thẩm tra tình hiệu quả và khả
Trang 19thi của dự án, chi phí thuê tư vấn quản lý dự án không cần phải lập trong dự toáncông trình mà chỉ lập trong tổng mức đầu tư.
1.4.1.5 Chi phí khác
Nội dung chi phí khác bao gồm 10 khoản mục sau:
- Chi phí rà phá bom mìn, vật nổ
- Chi phí bảo hiểm công trình
- Chi phí di chuyển thiết bị thi công và lực lượng lao động đến công trình
- Chi phí đăng kiểm chất lượng quốc tế, quan trắc biến dạng công trình
- Chi phí đảm bảo an toàn giao thông phục vụ thi công các công trình
- Chi phí kiểm toán, thẩm tra phê duyệt quyết toán
- Chi phí hoàn trả hạ tẩng kỹ thuật bị ảnh hưởng khi thi công xây dựng
- Các khoản phí và lệ phí
- Chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ liên quan đến dự án, vốn lưu độngban đầu (đối với dự án sản xuất kinh doanh); lãi vay trong thời gian xây dựng; chiphí chảy thử không tải, có tải trước khi bàn giao (trừ giá trị sản phẩm thu hồi được)
- Một số khoản chi phí khác, những khoản còn lại chưa được dự toán
Chú ý: Trường hợp dự án có nhiều công trình thì: chi phí rà phá bom mìn
vật nổ, chi phí thẩm trả phê duyệt quyết toán, chi phí nghiên cứu khoa học liên quanđến dự án, chi phí chạy thử trước khi bàn giao, lãi vay trong xây dựng, vốn lưuđộng ban đầu đối với dự án sản xuất kinh doanh; các khoản chi phí và lệ phí khôngcần phải lập trong dự toán công trình mà chỉ cần xác nhận trong Tổng mức đầu tưcủa dự án
1.4.1.6 Chi phí dự phòng
Nội dung của chi phí dự phòng bao gồm:
- Dự phòng cho khối lượng phát sinh chưa lường trước được tính bằng 5%tổng: chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tưxây dựng và chi phí khác
- Dự phòng do yếu tố trược giá tính theo thời gian thực hiện dự án và chỉ sốgiá theo từng khu vực xây dựng
Từ các nội dung trên chúng ta có bảng tổng hợp dự toán công trình sẽ được
tổng hợp như phụ lục 08.
Trang 201.4.2 Phương pháp lập dự toán công trình xây dựng
- Theo khối lượng và đơn giá xây dựng tổng hợp
- Theo khối lượng và đơn giá xây dựng chi tiết
- Kết hợp các phương pháp trên
Phương pháp 1: xác định chi phí xây dựng trong dự toán xây dựng công trình theo
khối lượng và đơn giá xây dựng không đầy đủ
Bước 1: Tính toán khối lượng (bóc khối lượng) Qi theo sơ đồ thiết kế phùhợp với định mức, đơn giá xây dựng công trình (Đi) dùng để tính dự toán
Nếu sử dụng đơn giá chi tiết, định mức dự toán chi tiết thì bóc khối lượngcông việc theo danh mục công việc chi tiết
Nếu sử dụng đơn giá tổng hợp, định mức dự toán tổng hợp thì bóc khốilượng theo danh mục công việc tổng hợp
Bước 2: Lập bảng tính toán chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công theođơn giá xây dựng công trình đã lập hoặc theo đơn giá xây dựng đã công bố của nhànước (thường là đơn giá xây dựng cơ bản tỉnh thành phố) (VLĐG, NCĐG, MĐG)
Bước 3: Xác định các chi phí còn lại và tổng hợp dự toán theo các bảng sau:Bảng tổng hợp dự toán chi phí xây dựng tính theo đơn giá xây dựng không đầy đủ
được tổng hợp theo phụ lục 02.
Để công tác tính toán chi phí vật liệu (trong bảng tổng hợp dự toán xây dựng) đầy
đủ và chính xác ta cần lập bảng tính chênh lệch vật liệu theo phụ lục 03
Phương pháp 2: Xác định chi phí xây dựng trong dự toán xây dựng công trình theo
khối lượng và đơn giá xây dựng đẩy đủ
Trang 21Các bước tính toán tương tự như trường hợp xác định chi phí xây dựng theokhối lượng và đơn giá xây dựng không đầy đủ
Chi phí xây dựng được tổng hợp theo phụ lục 04
Chi phí trực tiếp khác
Khoản mục chi phí trực tiếp khác sẽ được tính bằng 1,5% trên tổng chi phívật liệu, chi phí nhân công và chi phí máy thi công Riêng đối với các công tác xâydựng trong hầm giao thông, hầm thuỷ điện và hầm lò thì chi phí trực tiếp khác (kể
cả chi phí vận hành công trình, chi phí sửa chữa đối với hệ thống cấp nước, hệthống thoát nước, hệ thống thông gió, cấp điện phục vụ cho công tác thi công tronghầm) sẽ được tính bằng 6,5% tổng chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi phí máythi công để xây dựng công trình
Trường hợp nếu chi phí trực tiếp khác được tính theo tỷ lệ quy định khôngphù hợp thì cần phải căn cứ vào điều kiện thực tế để xem xét điều chỉnh các mức tỷ
lệ cho phù hợp với thực tế
Chi phí chung
Chi phí chung sẽ được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí trực tiếphoặc bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí nhân công trong dự toán theo quy địnhđối với từng loại công trình xây dựng khác nhau
Đối với các hạng mục công trình tương ứng với từng loại công trình thì mỗihạng mục công trình đó được coi như một công trình độc lập và được áp dụng địnhmức tỷ lệ chi phí chung theo loại hình công trình phù hợp
Thu nhập chịu thuế tính trước:
Thu nhập chịu thuế tính trước được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phítrực tiếp và chi phí chung theo quy định đối với từng loại công trình
Định mức chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trước theo hướng dẫn tạiBảng 2.4 Phụ lục số 2 của Thông tư 05/2007/TT-BXD
Thuế giá trị gia tăng:
Thuế giá trị gia tăng cho công tác xây dựng áp dụng theo quy định hiện hành
Chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công:
Trang 22Chi phí xây dựng nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công đượctính bằng 2% trên tổng chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trướcđối với các công trình đi theo tuyến ngoài đô thị và vùng dân cư như đường dây tảiđiện, đường dây thông tin bưu điện, đường giao thông, kênh mương, đường ống,các công trình thi công dạng tuyến khác và bằng 1% đối với các công trình còn lại.
1.4.2.2Xác định chi phí thiết bị
a) Xác định chi phí mua sắm thiết bị của công trình đang xét trong dự ánbằng cách bóc tách thiết bị trong thiết kế, xác định giá một thiết bị tính về tới hiệntrường:
G ms = Q tbi M i (1 + TS tbi )
Qtbi: Là số lượng thiết bị loại i của công trình đang xét trong dự án
Mi: là giá một đơn vị thiết bị loại i tính tại hiện trường công trình xây dựngkhông bao gồm thuế giá trị gia tăng
M i = G gi + G vci + G kbi + G bqi + G ki
Trong đó:
Ggi: là giá một đơn vị thiết bị lại i tại nơi mua không kể thuế giá trị gia tăng
Gvci: là chi phí vận chuyển đơn vị thiết bị loại i về tại hiện trường không kểthuế giá trị gia tăng
Gkbi: là chi phí lưu kho bãi cho một đơn vị thiết bị i không kể thuế giá trị giatăng
Gbqi: là chi phí bảo quản, bảo dưỡng tính cho một đơn vị thiết bị i không kểthuế giá trị gia tăng
Gki: là chi phí khác tính cho một đơn vị thiết bị i (thuế nhập khẩu, phí bảohiểm, phí đăng ký trước bạ…)
TStbi là thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng cho loại thiết bị i
Bảng tổng hợp chi phí mua sắm thiết bị được lập theo phụ lục 05
b) Xác định chi phí đào tạo, chuyển giao công nghệ (Gđt)
Xác định bằng cách lập dự toán cụ thể bao gồm:
Trang 23- Dự toán chi phí đào tạo: căn cứ vào quy mô, khối lượng đào tạo, đơn giáđào tạo tính cho một đơn vị khối lượng đào tạo (đào tạo một công nhân kỹ thuật, 1cán bộ quản lý…)
- Dự toán chi phí chuyển giao công nghệ: dự toán chi phí chuyển giao côngnghệ căn cứ vào khối lượng chuyển giao công nghệ và đơn giá chuyển giao tính chomột đơn vị khối lượng chuyển giao công nghệ
c) Xác định chi phí lắp đặt thiết bị công nghệ (Glđ)
Xác định bằng cách lập dự toán cụ thể theo hai trường hợp:
Trường hợp 1: có đơn giá lắp đặt của nhà cung cấp hoặc công trình tương
tự tính theo một đơn vị khối lượng mở rộng
G lđ = lđi x D lđi x (1+TS lđ )
Trong đó:
- Qlđi: là khối lương lắp đặt ứng với thiết bị i (tấn, cái…)
- Dlđi: đơn giá lắp đặt một đơn vị khối lượng lắp đặt ứng với thiết bị loại đơngiá đầy đủ gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước
- TSlđ: thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng cho công tác lắp đặt thiết bị
Bảng chi phí lắp đặt thiết bị được tổng hợp theo phụ lục 06.
Trường hợp 2: Khối lượng lắp đặt có thể bóc tách chi tiết theo danh mụccông việc của định mức lắp đặt hiện có Phương pháp lập dự toán chi phí lắp đặttrong trường hợp này giống như lập dự toán chi phí xây dựng
Dự toán chi phí thiết bị được tổng hợp theo phụ lục 07.
Trang 24Mql: tỷ lệ chi phí quản lý dự án áp dụng cho công trình đang xét, có thể xácđịnh tử bảng số 1 văn bản 957/QĐ-BXD phụ thuộc vào loại công trình và tổng chiphí xây dựng và thiết bị không có thuế giá trị gia tăng
GXD(k), GTB(k): tương ứng là chi phí xây dựng và chi phí thiết bị của công trìnhđang xét không kể thuế giá trị gia tăng
1.4.2.4 Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng
Đối với các dự án có nhiều công trình thì chi phí lập báo cáo đầu tư, chi phí lập
dự án hoặc lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật không tính trong chi phí tư vấn đầu tư xâydựng công trình của dự toán công trình
Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng được xác định trên cơ sở tham khảo định mức
tỷ lệ do Bộ Xây dựng công bố hoặc bằng cách lập dự toán
1.4.2.5 Chi phí khác
Được xác định bằng định mức tỷ lệ (%) hoặc bằng cách lập dự toán Đối vớicác dự án có nhiều công trình thì chi phí thẩm tra tổng mức đầu tư; chi phí nghiêncứu khoa học công nghệ liên quan dự án; vốn lưu động ban đầu đối với các dự ánđầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh, lãi vay trong thời gian xây dựng; chiphí cho quá trình chạy thử không tải và có tải theo quy trình công nghệ trước khibàn giao (trừ giá trị sản phẩm thu hồi được) và các khoản phí và lệ phí không tínhtrong chi phí khác của dự toán công trình
Nếu còn có các chi phí khác có liên quan thì được bổ sung các chi phí này.Chủ đầu tư quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình
Trường hợp các công trình của dự án phải thuê tư vấn nước ngoài thực hiện thìchi phí tư vấn được lập dự toán theo quy định hiện hành phù hợp với yêu cầu sửdụng tư vấn cho công trình hoặc giá trị hợp đồng tư vấn đã ký kết để ghi vào dựtoán
Một số chi phí khác nếu chưa có quy định hoặc chưa tính được ngay thì đượctạm tính đưa vào dự toán công trình để dự trù kinh phí
1.4.2.6 Chi phí dự phòng
Đối với các công trình có thời gian thực hiện đến 2 năm: chi phí dự phòng
Trang 25được tính bằng 10% trên tổng chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự
án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác
Đối với các công trình có thời gian thực hiện trên 2 năm, chi phí dự phòngđược xác định bằng 2 yếu tố:
- Dự phòng chi phí cho yếu tố khối lượng công việc phát sinh được tính bằng5% tổng chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu
tư xây dựng và chi phí khác
- Dự phòng chi phí cho yếu tố trượt giá được tính theo chỉ số giá xây dựng củatừng loại công trình xây dựng theo khu vực và thời gian xây dựng
Thời gian để tính trượt giá là thời gian xây dựng công trình theo tiến độ xâydựng công trình được phê duyệt
Đối với dự án có nhiều công trình, chủ đầu tư có thể xác định tổng dự toán của
dự án để phục vụ cho việc quản lý chi phí dự án Tổng dự toán của dự án được xácđịnh bằng cách cộng dự toán của các công trình thuộc dự án và một số khoản mụcchi phí thuộc chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác chưa tính trong dự toáncông trình của dự án
1.5 Những nguyên nhân chủ yếu làm tăng giảm giá trị dự toán công trình xây
dựng
Nghiên cứu các nguyên nhân làm tăng, giảm giá trị dự toán công trình xâydựng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp làm giảm sựsai lệch giá trị dự toán Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có nhiều nguyên nhân tácđộng làm tăng, giảm giá trị dự toán xây dựng công trình, nhưng có thể xếp vàonhóm các nguyên nhân sau:
1.5.1 Một số sai sót khi áp dụng đơn giá và định mức dự toán xây dựng
Nhìn chung, trong các dự toán công trình hiện nay có thể cho thấy phần lớn
là chưa thực hiện đầy đủ yêu cầu, nguyên tắc khi lập dự toán, làm sai lệch chi phítrực tiếp trong dự toán một cách không chính xác có thể chia làm 2 nhóm sau:
a) Các sai sót không chính đáng
- Sử dụng các định mức, đơn giá không phù hợp với yêu cầu kỹ thuật chỉ
Trang 26- Sai khác với điều kiện thi công: độ sâu, bề rộng, chiều cao thi công củacông tác…
- Tính trùng lặp đơn giá hoặc tính tách 1 công tác thành 2 hoặc 3 công tác
- Tính thiều đơn giá: chẳng hạn như có chi phí sản xuất cấu kiện bê tongđúc sẵn hoặc kết cấu thép nhưng không tính chi phí lắp đặt các loại cấu kiện hoặckết cấu
- Áp dụng không đúng các quy định điểu chỉnh đơn giá hoặc từng khoảnmục chi phí của đợn giá trong dự toán Ví dụ: điều chỉnh chi phí vật liệu, chi phímáy, chi phí nhân công đối với công trình cải tạo, sửa chữa; điều chỉnh chi phí máythi công theo vị trí địa lý từng khu vực…; không đúng nhóm tiền lương công nhânxây dựng theo loại công tác xây dựng do cơ quan có thẩm quyền quy định…
b) Các sai sót được coi là chính đáng
- Do thiếu định mức và đơn giá dự toán
- Mức giá tính không chuẩn xác khi bổ sung mới hoặc điều chỉnh đơn giácông tác xây lắp hoặc phải vận dụng đơn giá tương tự Vì thế cần lưu ý, trong hệthống định mực dự toán, đơn giá xây dựng cơ bản do cơ quan có thẩm quyền banhành là không đầy đủ
- Sai thông số đầu vào khi tính các khoản chi phí trong đơn giá
- Chưa điều chỉnh, bổ sung đơn giá, dự toán khi có sự thay đổi chế độ chínhsách về giá cả, tiền lương
- Áp dụng thiếu các khoản mục chi phí cần điều chỉnh trong đơn giá côngtác xây lắp (do thiếu sự thống nhất giữa nội dung quy định trong đơn giá với địnhmức dự toán)
1.5.2 Một số sai sót khi áp dụng các quy định tính chi phí theo tỷ lệ
Trang 27- Sử dụng mức chi phí chung cho một công trình gồm nhiều loại hạng mụccông trình, công tác xây lắp không phù hợp.
- Tính cả 2 mức chi phí chung (trên chi phí nhân công và trên chi phí máythi công)
- Không tính chi phí chung, thuế và lãi trong dự toán
- Tỷ lệ và phương thức tính không theo đúng quy định cho từng thời kỳ
1.5.3 Một số sai sót khi xác định khối lượng công tác xây lắp
- Thiếu, thừa khối lượng tình từ thiết kế Vẽ đối xứng, thống kê thép mộtnửa, tính khối lượng bê tong, cốt thép cũng một nửa…
- Tính trùng các giao cấu của các kết cấu
- Có khối lượng cho công tác gia công, sản xuất kết cấu nhưng lại thiếukhối lượng công tác lắp dựng
- Phân tích khối lượng không phù hợ với công nghệ thi công xây lắp (Ví dụnhư: khối lượng đào đất với khối lượng đất cần vận chuyển ra bãi thải và số lượngđất đào sử dụng để đắp lại…)
- Bỏ sót khối lượng xây lắp,
- Gộp chung khối lượng các loại kết cấu trong cùng một loại công tác khôngtheo yêu cầu kỹ thuật
1.5.4 Một số sai sót khi áp dụng các chế độ chính sách của nhà nước có liên quan đến khu vực xây dựng và đặc thù riêng của từng công trình, công tác xây lắp
- Không tính các khoản phụ cấp có tính chất lương đối với các công trìnhxây dựng ở những khu vực được hưởng khoản phụ cấp này
- Không tính các phụ cấp: thu hút, chênh lệch phụ cấp lưu động, trong dựtoán xây lắp một số công trình được nhà nước cho phép
- Có tính bổ sung chi phí nói trên nhưng lại sai phương pháp tính toán
- Không áp dụng thang, bảng lương công nhân xây dựng hiện hành của nhànước
- Chưa tính chi phí xây dựng các công trình tạm phục vụ thi công, chi phí
Trang 28nhà ở tàm cho công nhân đối với một số công trình xây dựng theo quy định.
1.5.5 Một số sai sót khác
- Sai phương pháp tính bù chênh lệch chi phí vật liệu trong dự toán
- Thừa chi phí di chuyển thiết bị thi công (đã được quy định 50km chophạm vi khu vực xây dựng công trình)
- Thiếu chi phí di chuyển lớn thiết bị và lực lượng thi công trong dự toánxây lắp một số công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp chỉ có lực lượng chuyênngành mới đảm nhận được
- Chỉ định nguồn cung một số loại vật liệu, bán thành phẩm không hợp lý,
xa rời thực tiễn làm tăng chi phí vận chuyển (vữa bê tong thương phẩm, bê tong atphan, cát nền, phế thải…)
- Sai số do thực hiện sai các phép tính toán
Có thể thấy rằng, để nâng cao chất lượng việc xác định giá trị dự toán côngtrình xây dựng thì việc hạn chết các sai sót nêu trên là cần thiết và đó là yêu cầu đặt
ra trước hết với các nhà tư vấn thiết kế - dự toán giúp chi chủ đầu tư và thứ nữa làcác cơ quan có thẩm quyền của nhà nước trong việc quy định các chế độ, chính sách
về giá, các nguyên tắc, phương pháp và cơ sở để lập giá dự toán công trình xâydựng
1.6 Kinh nghiệm lập dự toán công trình xây dựng
1.6.1 Đối với cá nhân người lập dự toán
Dự toán xây dựng công trình (dự toán) đóng vai trò rất quan trọng trong việcthiết lập nên kế hoạch tài chính cho một dự án đầu tư xây dựng công trình Kếhoạch này sẽ làm nền tảng cho công tác quản lý và kiểm soát mọi chi phí của một
dự án đầu tư Mặc dù vậy thì việc lập dự toán sẽ không tạo ra giá trị gì hữu hình chosản phẩm cuối cùng cho một dự án đầu tư xây dựng côn trình Nhưng nó lại là mộtphần rất quan trọng và không thể thiếu được của kế hoạch tổng thể cho phép đạtđược các mục tiêu đã đề ra của dự án đầu tư xây dựng công trình Một bản dự toánhoàn chỉnh, chính xác cần phải đáp ứng được các yêu cầu của công việc quản lý chiphí đầu tư xây dựng công trình, người lập dự toán sẽ có vai trò cực kỳ quan trọng.Tại các nước có nền kinh tế phát triển thì công tác lập dự toán (chi phí đầu tư xâydựng) sẽ do các kỹ sư định giá xây dựng Công trình mà càng lớn thì yêu cầu kỹ
Trang 29thuật sẽ càng phức tạp, năng lực và phẩm chất, trình độ của các cán bộ lập dự toáncàng cần phải cao Vì thế để có thể trở thành một cán bộ lập dự toán giỏi cần thiếtphải tích lũy đầy đủ những năng lực như sau:
- Khả năng đọc bản vẽ: Trong quá trình lập dự toán một công trình thì cán
bộ lập dự toán sẽ cần nắm bắt và hiểu rõ các bản vẽ thiết kế của công trình xây dựng
đó Đê hình dung được chính xác công trình xây dựng qua các giai đoạn thi công thìcàn bộ dự toán cần phải có đầy đủ các kiến thức chuyên ngành vững vàng về cácloại vật liệu xây dựng và trình tự, các biện pháp thi công xây dựng công trình, phảinắm bắt được các tiền lệ phổ biến đã diễn ra trong ngành công nghiệp xây dựng cơbản
- Cần phải có kinh nghiệm thu thập số liệu, tích luỹ kinh nghiệm từ nhữngtrải nghiệm trong thực tế hoạt động thi công xây dựng các công trình mà liên quan
về những loại nguyên vật liệu cần thiết, năng suất lao động của càn bộ công nhân vànăng suất của các loại máy móc và thiết bị thi công, chi phí chung cùng với tất cảcác loại chi phí khác Khả năng tính toán trước các chi phí có thể sẽ phát sinh trongquá trình đầu tư xây dựng công trình
- Người lập dự toán cần phải nắm bắt được các nguyên tắc để thực hiệncông tác đo bóc tiên lượng Phải rất thông thạo và nắm vững các phương phápchuẩn và thông dụng về lập dự toán công trình xây dựng và nắm được các tài liệu,các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn kèm theo các quy định có liên quanđến hoạt động lập dự toán công trình xây dựng
- Cán bộ lập dự toán cần phải có sự sắp xếp ngăn nắp và có trí nhớ tốt thìmới có khả năng làm việc chính xác, tính toán một cách cẩn thận trong quá trình lập
dự toán
- Người lập dự toán phải có khả năng tập hợp, phân loại và ước lượng các
số liệu có liên quan và cần thiết cho công tác lập dự toán
- Hiện nay các công trình xây dựng bất động sản thường có quy mô lớnvàphức tạp Vì thế tổng khối lượng phải tính toán và lượng số liệu cần xử lý là rất lớn(bóc tách khối lượng, liệt kê danh mục công việc, áp giá, trình bày tài liệu, vẽ hìnhminh hoạ, trình bày tiến độ ) tất cả những công việc này đều đòi hòi người lập dựtoán phải xử lý được hoặt sử dụng các phần mềm máy tính (đòi hỏi về thời giancũng như độ chính xác ) Nên người lập dự toán cần có các kiến thức cơ bản về tin
Trang 30học và có sự thông thạo về các chương trình lập dự toán trên máy tính cũng đượccoi là một kiến thức cơ bản của người cán bộ lập dự toán (sử dụng thành thạo cácchương trình riêng lẻ là chưa đủ, mà cần phải kết hợp được các chương trình, tiệních khác nhau để có thể giải quyết được các vấn đề liên quan)
- Người lập dự toán còn cần phải có kỹ năng tìm kiếm các giá trị thay thế vàkhả năng sáng tạo để có thể đề xuất các phương án từ đó có thể xử lý tốt các chi phítrong dự án ở một giới hạn của phần vốn đầu tư dành cho dự án Từ những hiểu biết
vả khả năng, kinh nghiệm của bản thân về vật liệu, kết cấu và công nghệ thi côngxây dựng thì người lập dự toán còn có thể đề xuất được với chủ đầu tư nhữngphương án có thể đem lại lợi ích cao hơn nữa cho dự án (Ví dụ: Kỹ sư kiến trúc xâydựng được đào tạo tại khoa Kiến trúc của trường đại học xây dựng, thường xuyênphải đề xuất ít nhất 2 đển 3 phương án cho đồ án tổ chức thi công của mình để tínhtoán, so sánh lựa chọn các phương án khả thi và có kinh tế nhất) Còn tại Mỹ người
ta có riêng một chuyên ngành được gọi là Value Engineering
- Thông thường đối với một công trình nhỏ thì việc lập dự toán sẽ có thểđược giao cho một người Nhưng với những dự án lớn thì có thể phải do nhiềungười cùng đảm nhiệm công tác lập dự toán Do vậy khả năng thích ứng, tính cộngtác với các đồng nghiệp trong các điều kiện làm việc (làm việc độc lập hay làm việcphối hợp theo nhóm) cũng rất quan trọng
- Trên thế giới, tại các nước phát triển như Anh, Mỹ, Hồng Kông thì bản
dự toán sẽ được coi như là một kho thông tin vàng Những tài liệu này sẽ được lưutrữ và là nguồn thảm khảo triệt để cho các công trình xây dựng sau - thường đượcgọi là "số liệu lịch sử" Nhờ việc khai thác và tận dụng triệt để các thông tin màtrong đó người lập dự toán đã đề xuất, kiến nghị và sẽ kiểm soát được tiến độ thựchiện công việc (tiến độ thi công) Chính vì vậy mà người lập dự toán cũng cần phải
có những kiến thức về tổ chức thi công xây dựng công trình, lập kế hoạch về tiến độthi công theo sơ đồ ngang và cả sơ đồ mạng (Network diagram) Bởi vì chính tiến
độ thực hiện công việc và tương ứng là thời gian cũng là tiền bạc, các chi phí liênquan có mối quan hệ vô cùng mật thiết
- Người lập dự toán cần phải trang bị cho mình vố ngoại ngữ (đặc biệt làngoại ngữ chuyên ngành kinh tế - xây dựng) Hiện nay, trong thời đại kinh tế thịtrường thì các dự án xây dựng công trình bất động sản có thể có sự tham gia của các
Trang 31nhà thầu ngoài nước, nhất là trong các khâu như là thiết kế hay cung cấp các thiết
bị Khi các chỉ dẫn kỹ thuật và thuyết minh trong bản vẽ và các báo giá về cung cấpvật liệu, thiết bị, hay hợp đồng thuê tư vấn được trình bằng các ngôn ngữ khác thìviệc thông thạo ngoại ngữ là rất quan trọng để có thể hiểu rõ phạm vi thực hiệncông việc khi bóc tách khối lượng và liệt kê các đầu công việc và áp giá cho sảnphẩm
Cần phải căn cứ vào tính chất phức tạp ở mỗi dự án, loại, cấp công trình, quy
mô công trình và tuỳ thuộc dự toán của bước thiết kế mà yêu cầu điều kiện về nănglực khác nhau đối với cán bộ dự toán Tất nhiên, trong quá trình hành nghề của cán
bộ dự toán để có thể tồn tại và phát triển trình độ chuyên môn thì người lập dự toánvẫn phải duy trì, liên tục trau dồi và phát huy hơn nữa các phẩm chất như đã nói ởtrên
1.6.2 Đối với đơn vị tổ chức lập dự toán
Hoạt động đầu tư xây dựng công trình bất động sản là một hoạt động kinhdoanh rất phức tạp, các công trình xây dựng bất động sản thường có tính chất kỹthuật, kiến trúc vô cùng phức tạp Do đó để tính đúng và tính đủ, tránh những sai sóttrong quá trình lập dự toán thì đòi hỏi cán bộ lập dự toán phải là người có trinh độchuyên môn nhất định Vì thế, để có được một bản dự toán chất lượng, và hữu íchthì bên cạnh việc cử các cán bộ đi học các lớp dự toán chuyên nghiệp thì trong nội
bộ doanh nghiệp cần phải tạo điều kiện cho các cán bộ trao đổi kinh nghiệm đểnâng cao chất lượng dự toán chung của toàn đơn vị
Trong hoạt động lập dự toán sử dụng rất nhiều các tài liệu liên quan, cónhững công trình có hồ sơ tài liệu lên đến cả nghìn trang Vì thế để công tác lập dựtoán được diễn ra thuận tiện và chính xác thì doanh nghiệp cẩn phải tổ chức hoạtđộng lưu trữ tài liệu một cách khoa học để tạo điều kiện tốt nhất cho các cán bộ tracứu
Các loại đơn giá xây dựng do nhà nước công bố là khác nhau giữa các tỉnhthành, và thường thay đổi qua các năm Do đo, các doanh nghiệp cần cập nhật vàhướng dẫn các cán bộ công nhân viên thực hiện các văn bản, quyết định, quy địnhliên quan để công tác lập dự toán được chính xác và bám sát thực tế nhẩt
Trang 32CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT ĐƯỜNG BỘ -
TỔNG CỤC ĐƯỜNG BỘ VIỆT NAM
2.1 Khái quát về Trung tâm kỹ thuật Đường bộ - Tổng cục đường bộ Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trung tâm Kỹ thuật đường bộ là tổ chức sự nghiệp khoa học và công nghệtrực thuộc Tổng cục Đường bộ Việt Nam; có tên giao dịch quốc tế là RoadEngineering Center (viết tắt là REC) Đơn vị có chức năng nghiên cứu, triển khaiứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tư vấn khoa học công nghệtrong lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ
Trung tâm Kỹ thuật Đường bộ được thành lập năm 1994 theo Quyết định số1426/TCCB-LĐ ngày 12 tháng 9 năm 1994 của Cục trưởng Cục Đường bộ ViệtNam
Năm 1998, Cục Đường bộ đã sáp nhập Trung tâm Thông tin vào Trung tâmTrung tâm kỹ thuật đường bộ thành một tổ chức với tên gọi Trung tâm kỹ thuậtđường bộ trực thuộc Cục đường bộ Việt Nam theo Quyết định số 606/QĐ/TCCB-
LĐ ngày 29/5/1998 của Cục đường bộ Việt Nam; Bộ Giao thông Vận tải Quyếtđịnh số 1807/1998/QĐ-BGTVT ngày 18/7/1998 công nhận Tổ chức Trung tâm Kỹthuật Đường bộ trực thuộc Cục Đường bộ Việt Nam Năm 2010, Bộ Giao thôngVận tải ra Quyết định số 816/QĐ-BGTVT ngày 30/3/2010 về việc chuyển nguyêntrạng Trung tâm Kỹ thuật đường bộ về trực thuộc Tổng cục Đường bộ Việt Nam
Với phương châm “Phục vụ kịp thời, trung thực, hiệu quả”, Trung tâm Kỹthuật đường bộ đã và đang thực hiện dịch vụ tư vấn khảo sát, thiết kế, tư vấn thẩmtra, giám sát, kiểm định chất lượng công trình, đánh giá ĐTM, thẩm tra quyết toán dự
án hoàn thành, … đối với nhiều công trình giao thông trong phạm vi cả nước có quy
mô lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp Các công trình mà Trung tâm Kỹ thuật Đường bộthực hiện được chủ đầu tư đánh giá cao về tiến độ và chất lượng thực hiện công việc
Trang 33Hiện nay, Trung tâm Kỹ thuật Đường bộ đã được Sở Khoa học và Công
nghệ thành phố Hà Nội chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học công nghệ; CụcGiám định chứng nhận là đơn vị thành viên của mạng kiểm định; Tổng cục Tiêuchuẩn đo lường chất lượng cấp chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêuchuẩn ISO 9001:2008
Hiện nay, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tư vấn đầu tư xây dựng gồm:
- Nghiên cứu, triển khai ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao côngnghệ trong lĩnh vực xây dựng, quản lý và bảo trì đường bộ
- Thí nghiệm, ứng dụng, thử nghiệm vật liệu, kết cấu mới thuộc chuyênngành giao thông đường bộ
- Hợp tác và liên kết với các đơn vị có chức năng để triển khai ứng dụngkhoa học công nghệ phục vụ chiến lược phát triển nghành giao thông đường bộ
- Khảo sát, thu thập dữ liệu tình trạng đường bộ; cập nhật dữ liệu tình trạngđường bộ vào hệ cơ sở dữ liệu đường bộ
- Thực hiện dịch vụ tư vấn kỹ thuật, khoa học và công nghệ trên các lĩnhvực sau:
a) Lập dự án đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;b) Thẩm tra, thẩm định hồ sơ các dự án, hồ sơ thiết kế kỹ thuật thi công;c) Thẩm tra an toàn giao thông đường bộ;
d) Khảo sát, thiết kế, kiểm định chất lượng công trình;
đ) Thí nghiệm vật liệu xây dựng;
e) Kiểm tra, thử tải, đánh giá chất lượng công trình;
f) Tư vấn giám sát xây dựng công trình;
g) Đánh giá tác động môi trường dự án xây dựng;
h) Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông;
i) Tư vấn đấu thầu;
j) Tư vấn thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành;
- Quản lý các dự án ứng dụng và chuyển giao công nghệ, công nghệ thông
Trang 34tin chuyên ngành đường bộ.
Trong những năm qua Trung tâm kỹ thuật Đường bộ đã liên danh, hợp tác vớicác Trường Đại học, Viện, Trung tâm nghiên cứu, Ban quản lý dự án thực hiện các
dự án, chương trình hợp tác nghiên cứu, cung cấp dịch vụ tư vấn, tổ chức hội thảo,ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực giao thông vận tải, điểnhình là:
Viện nghiên cứu môi trường & phát triển bền vững giao thông vận tải Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam
Trung tâm kiểm định Chất lượng công trình Giao thông vận tải
- Đại học Giao thông vận tải
- Trung tâm tư vấn Môi trường và An toàn Giao thông - Hội Môi trườngGiao thông vận tải Việt Nam
- Viện nghiên cứu Kinh tế và Tập đoàn - Hội Liên hiệp Khoa học Kỹ thuậtViệt Nam
- Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông vận tải
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.2.1 Cơ cấu nhân sự
cao đẳng Công nhân kỹ thuât
Trang 35Bao gồm: 01 Giám đốc và 02 Phó Giám đốc và 05 phòng trực thuộc; 6 thạc
sỹ kỹ thuật chuyên ngành giao thông, 33 kỹ sư có chuyên môn sâu trong các lĩnh vựcxây dựng cầu, hầm, đường bộ, công trình thủy, địa kỹ thuật công trình, 7 cử nhânchuyên ngành kinh tế và ngành khác; 3 người có trình độ cao đẳng và 4 công nhân kỹthuật có kinh nghiệm đã tham gia nhiều dự án lớn
Ngoài ra, Trung tâm KTĐB còn hợp tác với các tổ chức, các chuyên gia,cộng tác viên có trình độ chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm trong quá trình thựchiện nhiệm vụ
Cán bộ công nhân viên Trung tâm Kỹ thuật đường bộ là các kỹ sư, cử nhân, thínghiệm viên có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm đã tham gia nhiều các dự án lớn
Đội ngũ kỹ thuật của Trung tâm kỹ thuật đường bộ có đầy đủ các loại chứngchỉ hành nghề trong các lĩnh vực hoạt động tư vần xây dựng:
Khảo sát xây dựng công trình
Thiết kế xây dựng công trình
Tư vấn giám sát xây dựng công trình
Thí nghiệm viên xây dựng
Kỹ sư định giá
Giám đốc quản lý, điều hành dự án
Nghiệp vụ quản lý dự án, nghiệp vụ đấu thầu, nghiệp vụ quản lý phòng thínghiệm
Ngoài ra Trung tâm còn kết hợp với đội ngũ các cố vấn, chuyên gia, cộng tácviên có trình độ chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm đã giúp Trung tâm ứng dụng
và triển khai thành công các tiến bộ của khoa học công nghệ vào lĩnh vực đườngcầu đường bộ
Trang 362.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT ĐƯỜNG BỘ
GIÁM ĐỐC
PHÒNG TỔNG HỢP
PHÒNG THÍ NGHIỆM PHÒNG
DỰ ÁN + GIÁM SÁT
PHÒNG
KẾ HOẠCH -TÀI CHÍNH
PHÒNG
KỸ THUẬT- CÔNG NGHỆ
& MÔI TRƯỜNG
PHÒNG KIỂM ĐỊNH
Trang 37Cơ cấu tổ chức của Trung tâm kỹ thuật đường bộ là dạng cơ cấu phân theochức năng Do đó các phòng ban hoạt động theo chức năng chuyên môn của từngphòng ban Tuy nhiên sự phối hợp giữa các phòng ban là không thể thiếu trong côngtác tổ chức hoạt động của đơn vị Đối với mỗi một hợp đồng kinh tế được thực hiệnthì sự phân công công việc cho các bộ phận được bố trí như sau:
a) Giai đoạn chuẩn bị hợp đồng
Thu thập thông tin và giới thiệu năng lực
Mọi thành viên, bộ phận trong Trung tâm đều có trách nhiệm tìm kiếm vàthu thập thông tin về các dự án, công trình liên quan đến công việc của Trung tâmbáo cáo Giám đốc để liên hệ tìm kiếm việc làm Phòng KH-TC là bộ phận đầu mốitổng hợp thông tin về tìm kiếm hợp đồng với các đối tác và soạn thảo công vănđăng ký nhận thực hiện công việc gửi chủ đầu tư
Phòng Tổng hợp chủ trì, phối hợp với phòng KH-TC và các bộ phận liênquan luôn cập nhật thông tin năng lực Trung tâm, chuẩn bị sẵn sàng Hồ sơ năng lực
để gửi các Chủ đầu tư; giới thiệu năng lực hoạt động của đơn vị về: tư cách phápnhân, nhân lực, thiết bị, tài chính, kinh nghiệm hoạt động, năng lực hoạt động, …
Thực hiện đấu thầu, chào giá
Các công trình chỉ định thầu
Phòng KH-TC chủ trì đề nghị các Phòng lập và tập hợp các hồ sơ theo cácđiều khoản tham chiếu của Hồ sơ yêu cầu; Đảm bảo hồ sơ đạt chất lượng, số lượngđúng các yêu cầu của Chủ Đầu tư; Chịu trách nhiệm toàn bộ về công tác lập Hồ sơ
đề xuất về thời gian và chất lượng; Thường xuyên báo cáo Giám đốc về tiến độ vàcác vướng mắc gặp phải
Các Phòng chuyên môn liên quan (phòng Tổng hợp, phòng Kỹ thuật, phòngThí nghiệm, phòng Kiểm định…) chịu trách nhiệm lập, phương án thực hiện, đềxuất tài chính… cho từng công trình cụ thể đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của Chủđầu tư
Trường hợp phải liên danh, liên kết, thuê nhà thầu phụ để hỗ trợ năng lựccho đơn vị trong việc thực hiện hợp đồng thì phòng KH-TC chủ trì, phối hợp vớicác phòng chuyên môn tham mưu cho Giám đốc đưa ra các yêu cầu, đánh giá và lựachọn đơn vị liên danh, liên kết, nhà thầu phụ được quy định
Trang 38 Các công trình đấu thầu
Tùy mức độ công trình Giám đốc thành lập tổ đấu thầu gồm các thành viênsau :
- Trưởng Phòng KH-TC Tổ phó (làm đầu mối)
- Trưởng Phòng Tổng hợp Thành viên
- Trưởng các Phòng chuyên môn Thành viên
(Nhiệm vụ cụ thể từng thành viên do Giám đốc phân công)
Trường hợp phải liên danh, liên kết, thuê nhà thầu phụ để đảm bảo năng lựccho đơn vị trong việc thực hiện hợp đồng thì thực hiện như phần 2.1 chỉ định thầu
Thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng
Thương thảo hợp đồng
Tuỳ theo quy mô, tính chất của mỗi hợp đồng, Giám đốc tự thương thảo,thành lập tổ thương thảo hoặc phân công cán bộ thực hiện thương thảo nội dunghợp đồng
Lưu giữ hợp đồng giai đoạn thực hiện
Phòng KH-TC lưu giữ tất cả các loại hợp đồng từ giai đoạn thương thảo, kýkết đến hoàn thành thanh lý Tất cả các phòng, bộ phận có trách nhiệm gửi các vănbản dấu đỏ đến Phòng KH-TC để quản lý, theo dõi chung
Sau khi kết thúc hợp đồng, Phòng KH-TC có trách nhiệm lưu toàn bộ cáchợp đồng dấu đỏ và chuyển 01 bộ bản sao hồ sơ các loại hợp đồng bản giấy củatừng công trình cho bộ phận văn thư để lưu trữ; chuyển toàn bộ file điện tử choPhòng Tổng hợp lưu trữ
b) Giai đoạn thực hiện hợp đồng
Phòng Kế hoạch –Tài chính
Công tác kế hoạch
- Đề xuất, tham mưu, báo cáo Giám đốc các phương án thực hiện hợpđồng;
Trang 39- Soạn thảo hợp đồng khoán nội bộ, nội dung giao khoán với các bộ phận,hợp đồng với các thầu phụ;
- Thẩm định trình Giám đốc duyệt về kế hoạch nhân sự, vật tư, máy móc vàtiến độ của các bộ phận thực hiện;
- Theo dõi, đôn đốc, tham mưu giải quyết các vướng mắc của các bộ phậntrong quá trình thực hiện hợp đồng khoán;
- Tổng hợp báo cáo tiến độ thực hiện từng phần và toàn bộ các hợp đồng;Tham mưu giải quyết các vướng mắc khi thực hiện hợp đồng;
- Phối hợp với các phòng nghiệp vụ tổ chức nghiệm thu thanh toán hợpđồng với thầu phụ và các bộ phận;
- Ban hành các biểu mẫu phục vụ cho công tác ký, nghiệm thu và thanh toáncác loại hợp đồng giao khoán nội bộ
Công tác tài chính
- Chuẩn bị tài chính đầy đủ theo kế hoạch được duyệt cho các bộ phận đểthực hiện hợp đồng;
- Mua bảo hiểm nghề nghiệp, trang thiết bị bảo hộ cho CBVC;
- Mua sắm hoặc thuê các máy móc thiết bị, dụng cụ phục vụ sản xuất (nếunhư các máy móc thiết bị tại Trung tâm chưa đáp ứng đủ yêu cầu sản xuất);
- Tạm ứng, thanh toán theo quy định tại Chương 6 - Tiền lương và quy chếphân phối tiền lương - Quy chế hoạt động của Trung tâm KTĐB
Phòng chuyên môn
- Lập kế hoạch chi tiết thực hiện hợp đồng trình Ban Giám đốc duyệt về:nhân sự, thời gian, các nội dung khác để thực hiện hợp đồng;
- Tổ chức thực hiện hợp đồng
- Phối hợp với Phòng KH-TC lập hồ sơ nghiệm thu khối lượng hoàn thành
và thanh quyết toán
- Thanh toán hợp đồng khoán nội bộ
Phòng tổng hợp
Trang 40- Giúp Ban Giám đốc theo dõi tiến độ công việc thông qua cuộc họp giaoban hằng tuần; Tổng hợp các ý kiến để thông báo cho các phòng thực hiện.
- In ấn, gửi hồ sơ, công chứng các tài liệu cần thiết theo phân công trongquá trình thực hiện
- Theo dõi và thu hồi công nợ;
- Đánh giá hiệu quả thực hiện từng hợp đồng;
- Tổng hợp ý kiến phản ánh của khách hàng đề ra biện pháp khắc phục vàđánh giá sự thoả mãn của khách hàng
Các phòng Kỹ thuật, Kiểm định, Thí nghiệm
Có trách nhiệm tập kết các bản vẽ, thiết kế, dự toán, hình ảnh, … của từngcông trình để chuyển về phòng Tổng hợp lưu trữ: 01 bản giấy tại bộ phận văn thư,
01 bản điện tử tại Phòng Tổng hợp
2.1.3 Hoạt động kinh doanh của công ty trong năm 2012
Năm 2012, trong bối cảnh kinh tế cả nước khó khăn do bị ảnh hưởng từ cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu, được sự tạo điều kiện của Đảng ủy, Lãnh đạo Tổngcục Đường bộ Việt Nam cùng sự Lãnh đạo, chỉ đạo tận tình của Chi Bộ, Ban Giám