1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco

53 343 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 483 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất hàng hóa nói riêng, hoạt động sử dụng và quản lý vốn lưu động là một nghiệp vụ truyền

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1, Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đất nước đang chuyển mình với những bước đi đúng hướng, những

thành tựu mới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Xu hướng toàn

cầu hoá trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, mở ra nhiều cơ hội mới cho mọi

nhà, mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực trong đó không thể không nói tới các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ở Việt Nam, bộ phận các doanh

nghiệp đầu tư nước ngoài đã đóng góp một phần không nhỏ vào thu nhập quốc

dân, kim ngạch xuất nhập khẩu, cải tiến công nghệ và tạo công ăn việc làm cho

người dân Việt Nam vốn là một quốc gia đang phát triển có môi trường đầu tư

thuận lợi với một nền kinh tế thị trường năng động, lại đang dần thực hiện các

cam kết mở cửa với các tổ chức kinh tế và quốc gia khác trên thế giới Đây là

điểm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào thị trường Việt Nam với số

lượng không ngừng tăng lên trong những năm gần đây Tuy nhiên điều này

cũng khiến cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã và đang hoạt động tại

Việt Nam đứng trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cơ hội nhiều nhưng

thách thức cũng không nhỏ Điều này tạo ra những ảnh hưởng trong hoạt động

sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Trong hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung và các

doanh nghiệp có hoạt động sản xuất hàng hóa nói riêng, hoạt động sử dụng và

quản lý vốn lưu động là một nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, có vai trò đảm

bảo tính liên tục cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng là nghiệp vụ phức

tạp, tiềm ẩn những rủi ro lớn cho các doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng rất lớn tới

cơ cấu vốn - tài sản - thu nhập của các doanh nghiệp Việc quản lý và sử dụng

vốn lưu động trong điều kiện nền kinh tế mở, cạnh tranh và hội nhập vẫn tiếp

tục đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh của các doanh

nghiệp và đang đặt ra những yêu cầu mới về nâng cao hiệu quả quản lý và sử

dụng

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề rất quan trọng giúp doanh

nghiệp đứng vững và phát huy hơn nữa thế mạnh của mình Đặc biệt đối với

Công ty TNHH MTV Thương mại HABECO, một đơn vị có lợi thế về vốn và

thường xuyên có sự luân chuyển một lượng vốn lưu động lớn thì việc sử dụng

Trang 2

vốn sao cho có hiệu quả là một vấn đề hết sức cần thiết Xuất phát từ tình hình

thực tiễn đó, em xin chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

tại Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco” làm đề tài nghiên cứu.

2, Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng vốn lưu động

trong doanh nghiệp;

- Giới thiệu một cách tổng quan về Công ty TNHH MTV Thương mại

Habeco và phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty;

- Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại

Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco.

3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Tình hình sử dụng vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại

Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco trong ba năm 2010-2012.

* Phạm vi nghiên cứu:

Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH thể hiện

qua các tài liệu và đặc biệt là các Báo cáo tài chính, Báo cáo Tổng kết của

Công ty trong vòng ba năm 2010-2012, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao

hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco.

4, Phương pháp nghiên cứu

Trong chuyên đề có sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp,

phương pháp so sánh,… làm phương pháp luận căn bản cho việc nghiên cứu.

Bên cạnh đó, chuyên đề còn sử dụng, trích dẫn các tài liệu có liên quan

của một số chuyên gia.

5, Bố cục của báo cáo

Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này

được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về hiệu quả sử dụng vốn lưu động

trong doanh nghiệp;

Chương 2: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH

MTV Thương mại Habeco giai đoạn 2010-2012;

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại

Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco.

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về nguồn vốn kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm

Đối với mỗi doanh nghiệp để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất

kinh doanh nào đó cũng phải có vốn Vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa

quan trọng đối với quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Có vốn để đầu tư

mua sắm các yếu tố cho quá trình sản xuất kinh doanh, đó là tư liệu lao động,

đối tượng lao động, sức lao động Do sự tác động của sức lao động vào đối

tượng lao động thông qua tư liệu lao động mà hàng hóa dịch vụ được tạo ra và

tiêu thụ trên thị trường, doanh nghiệp được thu tiền Để đảm bảo sự tồn tại và

phát triển của doanh nghiệp kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh

phải bù đắp toàn bộ chi phí đã bỏ ra và có lãi Như vậy có thể thấy số tiền đã

ứng ra ban đầu không chỉ được bảo tồn mà nó còn tăng thêm do hoạt động

kinh doanh mang lại Từ phân tích trên cho ta thấy:

Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn

bộ tài sản hữu hình và vô hình được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh

nhằm mục đích sinh lời.

1.1.2 Vai trò của nguồn vốn kinh doanh trong doanh nghiệp

Tất cả các hoạt động kinh doanh dù với bất kỳ quy mô nào cũng cần phải có

một lượng vốn nhất định, nó là tiền đề cho sù ra đời và phát triển của doanh

nghiệp

a Về mặt pháp lý:

Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập điều kiện đầu tiên là phải có một lượng

vốn nhất định, lượng vốn này tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định, khi đó

địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập Trường hợp trong quá trình

hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật

Trang 4

quy định doanh nghiệp sẽ bị tuyên bố chấm dứt hoạt động như phá sản, giải

thể,sát nhập Như vậy vốn có thể được xem là một trong những cơ sở quan trọ

Vốn biểu hiện năng lực và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường

Điều này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế hiện nay với sự cạnh tranh ngà

doanh nghiệp Để có thể tiến hành tái sản xuất, sau mét chu kỳ kinh doanh vốn

của doanh nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bả

nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường

1.1.3 Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

Vốn là giá trị toàn bộ tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc thiết bị…),

tài sản vô hình (sáng chế, phát minh, nhãn hiệu thương mại…) mà doanh

nghiệp đầu tư và tích luỹ được trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra

Trang 5

giá trị thặng dư.

Vốn tồn tại trong mọi quá trình sản xuất và được chuyển hoá từ dạng này

sang dạng kia: từ nguyên, nhiên vật liệu đầu vào đến các chi phí sản xuất dở

dang, bán thành phẩm và cuối cùng chuyển hoá thành thành phẩm rổi chuyển

về hình thái tiền tệ.

Vốn luôn gắn liền với quyền sở hữu, việc nhận định rõ và hoạch định cơ

cấu nợ – vốn chủ sở hữu luôn là một nội dung quan trọng và phức tạp trong

quản lý tài chính doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, vốn còn được coi là một hàng hoá đặc biệt

do có sự tác bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng Do đó, việc huy động

vốn bằng nhiều con đường: phát hành cổ phiếu, trái phiếu; tín dụng thương

mại; vay ngân hàng…đang được các doanh nghiệp rất quan tâm và được vận

dụng linh hoạt.

Do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, sự luân chuyển

phức tạp của vốn nên yêu cầu quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả tránh lãng

phí thất thoát được đặt lên cao.

Tuỳ theo từng tiêu thức khác nhau, vốn của doanh nghiệp được phân loại

Theo nguồn hình thành, vốn của doanh nghiệp được hình thành

từ hai nguồn chính: Vốn chủ sở hữu và Nợ

1.2 Vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm

Trang 6

Vốn lưu động là nguồn vốn hình thành trên tài sản lưu động, là lượng

tiền ứng trước để có tài sản lưu động.

Tổng vốn lưu động = Tổng tài sản ngắn hạn

Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

1.2.2 Nội dung vốn lưu động

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của

doanh nghiệp.

Tài sản lưu động của doanh nghiệp thường gồm 2 bộ phận: Tài sản lưu

động trong sản xuất và tài sản lưu động trong lưu thông.

Tài sản lưu động trong sản xuất là những vật tư dự trữ như nguyên liệu,

vật liệu, nhiên liệu … và sản phẩm dở dang trong quá trình sản xuất.

Tài sản lưu động trong lưu thông bao gồm: Sản phẩm hàng hóa chờ

tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản phí chờ kết

chuyển, chi phí trả trước …

1.2.3 Phân loại vốn lưu động

Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, thông thường vốn lưu

động được phân loại theo các tiêu thức khác nhau.

1.2.3.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện

a) Tiền và các khoản tương đương tiền

Tiền của doanh nghiệp được hiểu là tiền trong két và tiền gửi tại các tài

khoản giao dịch ở ngân hàng thương mại Nó được sử dụng tức thời để đáp

ứng nhu cầu thanh khoản khi doanh nghiệp có dòng tiền ra, chẳng hạn: trả

lương cho cán bộ - công nhân viên, mua nguyên vật liệu, đầu tư vào tài sản cố

định và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước (nộp thuế).

Các khoản tương đương tiền hay chứng khoán thanh khoản cao thông

thường là chứng khoán ngắn hạn có chất lượng (thời gian đáo hạn dưới 1

năm), có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng với chi phí giao

dịch thấp Việc chuyển đổi chứng khoán thanh khoản cao thành tiền mặt giúp

doanh nghiệp tăng cường khả năng thanh khoản trong việc đáp ứng các dòng

tiền đi ra khỏi doanh nghiệp.

Chứng khoán thanh khoản cao thường bao gồm:

Trang 7

- Trái phiếu kho bạc: Trái phiếu do kho bạc phát hành, có thời gian

đáo hạn là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng hay 1 năm Đây là công cụ tài chính có

tính thanh khoản cao và hầu như không có rủi ro phá sản (là loại hình rủi ro

trong đó tổ chức phát hành không có khả năng trả nợ), chính vì vậy nó tạo điều

kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiến hành mua - bán, giao dịch một cách

nhanh chóng để thảo mãn nhu cầu tiền mặt.

- Giấy nợ ngắn hạn: Là một giấy hẹn nợ có thời gian đáo hạn cố định

(thường 20-45 ngày, cá biệt lên tới 1 năm), thường được bán với giá chiết

khấu Giấy nợ ngắn hạn thường do các công ty tài chính, các hãng kinh doanh

lớn phát hành Ngày nay, loại hình tín dụng này đang phát triển rất mạnh vì nó

có thể thay thế cho những khoản vay ngắn hạn từ ngân hàng

- Chứng chỉ tiền gửi có thể giao dịch: Là chứng chỉ xác nhận số tiền

gửi giao dịch tại ngân hàng, có lãi suất và thời gian đáo hạn cố định Tiền lãi

thường được trả cùng với vốn ở thời điểm đáo hạn Chứng chỉ tiền gửi có thể

đem lại rủi ro thanh khoản cũng như rủi ro tín dụng cho các nhà đầu tư Mức

độ rủi ro của các loại chứng chỉ tiền gửi được thể hiện qua sự chênh lệch giữa

tỷ suất sinh lời của chúng và tỷ suất sinh lời của trái phiếu kho bạc Tuy nhiên,

chứng chỉ tiền gửi có thể giao dịch được đề cập ở đây là chứng chỉ tiền gửi có

thời gian đáo hạn dưới 1 năm và do đó mức độ rủi ro là thấp hơn so với các

chứng chỉ khác.

- Thương phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng: Đó là hối phiếu

có thời gian đáo hạn cố định, trên hối phiếu có ghi rõ tổng số tiền đã được “

ngân hàng chấp nhận” thanh toán khi hối phiếu đáo hạn Công cụ này chủ yếu

được sử dụng trong hoạt động ngoại thương

- Chứng khoán được phát hành theo thoả thuận mua lại: Đó là chứng

khoán mà người phát hành có cam kết mua lại Thời gian đáo hạn của thoả

thuận mua lại thường là một ngày làm việc và cũng có thể dài hơn Thoả thuận

mua lại hầu như không có rủi ro bởi người cho vay nhận được tài sản ký quỹ

(chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu hay tài sản khác) có giá thị trường bằng khoản

cho vay cộng với tiền lãi phát sinh.

b) Các khoản phải thu

Các khoản phải thu xuất hiện khi doanh nghiệp bán hàng hoặc cung cấp

dịch vụ trả tiền sau chứ không nhận tiền mặt ngay khi bán hàng Trong mối

quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau, doanh nghiệp đóng vai trò người mua

Trang 8

hàng thường tận dụng sức mạnh đàm phán của mình để kéo dài thời hạn thanh

toán Ngược lại, các doanh nghiệp đóng vai trò người cung cấp thường dành

phần lớn thời gian để quản lý tốt các khoản phải thu (accounts receivable)

nhằm vừa giữ được khách hàng vừa thu được đủ và đúng số tiền bán hàng.

c) Hàng tồn kho

Hàng tồn kho là một phần rất quan trọng trong tài sản ngắn hạn và nằm

ở nhiều khâu trong quá trình cung ứng sản xuất, dự trữ, và lưu thông của nhiều

doanh nghiệp Hàng tồn kho của mỗi doanh nghiệp thường bao gồm 3 loại:

nguyên vật liệu thô phục vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở

dang và thành phẩm.

Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất

kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ tồn kho là bước đệm cần thiết

cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Đối với các doanh

nghiệp trong nền kinh tế thị trường, không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua

hàng hóa đến đấy mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ Tuy nguyên vật liệu

dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để cho quá

trình sản xuất được tiến hành một cách bình thường.

1.2.3.2 Ph ân loại theo nguồn hình thành

Vốn lưu động có thể được hình thành từ các nguồn sau:

a) Nguồn vốn điều lệ là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều lệ

ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các

loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

b) Nguồn vốn tự bổ sung là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá

trình sản xuất kinh doanh từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.

c) Nguồn vốn liên doanh, liên kết là số vốn ngắn hạn được hình thành từ vốn

góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh Vốn góp liên

doanh có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật là vật tư hàng hóa,…

d) Nguồn vốn đi vay bao gồm vốn vay ngắn hạn của ngân hàng, vốn vay dưới

hình thức phát hành trái phiếu và các khoản vốn vay của các đối tượng khác.

Đây là một bộ phận vốn rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp.

Trang 9

Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh

nghiệp thấy được cơ cấu tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh

của mình Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng

của nó Do đó, doanh nghiệp cần xem xét nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi

phí sử dụng vốn của mình.

1.2.3.3 Phân loại theo vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh

doanh

Theo cách phân loại này vốn lưu động được chia thành ba loại:

a) Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm các khoản nguyên, vật

liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế công cụ, dụng

cụ lao động nhỏ.

b) Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm giá trị sản phẩm dở dang và

vốn về chi phí trả trước.

c) Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm giá trị thành phẩm, vốn bằng

tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn

hạn,…) các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng,…).

Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố vốn lưu động trong

từng khâu của quá trình kinh doanh Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn

lưu động sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.

1.3 Hiệu quả sử dụng vốn lao động của doanh nghiệp

1.3.1 Khái niệm

Hiệu quả là một khái niệm luôn được đề cập trong nền kinh tế thị trường:

các doanh nghiệp luôn hướng tới hiệu quả kinh tế; chính phủ nỗ lực đạt hiệu

quả kinh tế-xã hội.

Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử

dụng các yếu tố cần thiết để tham gia vào một hoạt động nào đó với những

mục đích xác định do con người đặt ra Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng

vốn là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng các nguồn vật lực của

doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với

tổng chi phí thấp nhất.

Trang 10

Như đã trình bày ở trên, vốn lưu động của doanh nghiệp được sử dụng cho các

quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông Quá trình vận động của vốn lưu động

bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản

xuất và khi sản xuất xong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn

dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm Mỗi lần vận động như vậy

được gọi là một vòng luân chuyển của vốn lưu động Doanh nghiệp sử dụng

vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản

phẩm nhiều bấy nhiêu Vì lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử

dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng vốn lưu động làm cho mỗi đồng vốn lưu

động hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra

sản phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn Những điều đó cũng đồng nghĩa với việc

doanh nghiệp nâng cao tốc độ luân chuyển vốn lưu động (số vòng quay vốn

lưu động trong một năm).

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta có thể sử dụng nhiều

chỉ tiêu khác nhau nhưng tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu cơ bản

và tổng hợp nhất phản ánh trình độ sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều

nhân tố khác nhau chính vì vậy để đưa ra một quyết định tài chính nhà quản

Trang 11

trị tài chính doanh nghiệp phải xác định được và xem xét các nhân tố ảnh

hưởng đến vấn đề cần giải quyết từ đó mới đưa ra các biện pháp thích hợp.

Cũng như vậy, trước khi đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng

vốn lưu động chúng ta cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng

vốn lưu động Có thể chia các nhân tố đó dưới 2 giác độ nghiên cứu:

1.3.2.1 Các nhân tố lượng hoá

Các nhân tố lượng hoá là các nhân tố mà khi chúng thay đổi sẽ làm thay

đổi các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động về mặt số lượng Có

thể dễ thấy đó là các chỉ tiêu như: Doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế

(hoặc sau thuế thu nhập doanh nghiệp), vốn lưu động bình quân trong kỳ, các

bộ phận vốn lưu động…

Ta biết, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc

điểm vận động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của

tài sản lưu động Để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, doanh nghiệp cần có

các biện pháp quản lý tài sản lưu động một cách khoa học Quản lý tài sản lưu

động được chia thành 3 nội dung quản lý chính: Quản lý dự trữ, tồn kho; quản

lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao; quản lý các khoản phải thu.

(1) Quản lý dự trữ, tồn kho

Dự trữ, tồn kho là một bộ phận quan trọng của vốn lưu động, là những

bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp.

Hàng tồn kho gồm 3 loại: Nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất,

kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không thể tiến

hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ.

Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất

lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường.

Quản lý vật liệu dự trữ hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Trang 12

lưu động Do vậy, doanh nghiệp tính toán dự trữ một lượng hợp lý vật liệu, nếu

dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho

quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn gay ra hàng loạt các hậu quả tiếp

theo như mất thị trường, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.

Tồn kho trong quá trình sản xuất là các nguyên vật liệu nằm ở các công

đoạn của dây chuyển sản xuất Nếu dây chuyền sản xuất càng dài và càng có

nhiều công đoạn sản xuất thì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn Đây

là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục.

Khi tiến hành sản xuất xong, do có độ trễ nhất định giữa sản xuất và tiêu

thụ, do những chính sách thị trường của doanh nghiêp…đã hình thành nên bộ

phận thành phẩm tồn kho.

Hàng hoá dự trữ đối với các doanh nghiệp gồm 3 bộ phận như trên,

nhưng thông thường trong quản lý chúng ta tập chung vào bộ phận thứ nhất,

tức là nguyên vật liệu dự trữ cho sản xuất kinh doanh.

Có nhiều phương pháp được đưa ra nhằm xác định mức dự trữ tối ưu.

Quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình đặt hàng hiệu quả nhất – EOQ (Economic Odering Quantity)

Mô hình này được dựa trên giả định là những lần cung cấp hàng hoá là

bằng nhau Theo mô hình này, mức dự trữ tối ưu là:

 D : Toàn bộ lượng hàng hoá cần sử dụng

 C 2 : Chi phí mỗi lần đặt hàng (Chi phí quản lý giao dịch và vận

Trang 13

 C 1 : Chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá (Chi phí bốc xếp, bảo hiểm,

bảo quản…)

- Điểm đặt hàng mới:

Về mặt lý thuyết ta giả định khi nào lượng hàng kỳ trước hết mới nhập

kho lượng hàng mới nhưng trên thực tế hầu như không bao giờ như vậy.

Nhưng nếu đặt hàng quá sớm sẽ làm tăng lượng nguyên liệu tồn kho Do vậy,

các doanh nghiệp cần phải xác định thời điểm đặt hàng mới.

Thời điểm đặt = Số lượng nguyên Độ dài thời

hàng mới liệu sử dụng mỗi gian giao hàng

ngày

- Lượng dự trữ an toàn

Nguyên vật liệu sử dụng mỗi ngày không phải là số cố định mà chúng

biến động không ngừng Do đó, để đảm bảo cho sự ổn định của sản xuất,

doanh nghiệp cần phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn Lượng

dự trữ an toàn tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp Lượng dự trữ

an toàn là lượng hàng hoá dự trữ thêm vào lượng dự trữ tại thời điểm đặt

hàng.

Ngoài phương pháp quản lý dự trữ theo mô hình đặt hàng hiệu quả nhất

(EOQ), nhiều doanh nghiệp còn sử dụng phương pháp sau đây:

Phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0.

Theo phương pháp này, các doanh nghiệp trong một số ngành nghề có

liên quan chặt chẽ với nhau hình thành nên những mối quan hệ, khi có một đơn

đặt hàng nào đó họ sẽ tiến hành huy động những loại hàng hoá và sản phẩm dở

dang của các đơn vị khác mà họ không cần phải dự trữ Sử dụng phương pháp

này sẽ giảm tới mức thấp nhất chi phí cho dự trữ Tuy nhiên, phương pháp này

tạo ra sự rằng buộc các doanh nghiệp với nhau, khiến các doanh nghiệp đôi khi

Trang 14

mất sự chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

(2) Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao

Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của

doanh nghiệp ở ngân hàng Tiền mặt bản thân nó là tài sản không sinh lãi, tuy

nhiên việc giữ tiền mặt trong kinh doanh rất quan trọng, xuất phát từ những lý

do sau: Đảm bảo giao dịch hàng ngày; bù đắp cho ngân hàng về việc ngân

hàng cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp; đáp ứng nhu cầu dự phòng trong

trường hợp biến động không lường trước được của các luồng tiền vào và ra;

hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng.

Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng.

Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn liền với

tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao Ta có thể

thấy điều này qua sơ đồ luân chuyển sau:

Các chứng khoán thanh

Trang 15

Đầu tư tạm thời bằng

cách mua chứng khoán

có tính thanh khoản cao

Bán những chứng khoán thanh khoản cao để bổ sung cho tiền mặt

Trang 16

Dòng thu Tiền mặt Dòng chi

Nhìn một cách tổng quát tiền mặt cũng là một tài sản nhưng đây là một tài sản

đặc biệt – một tài sản có tính lỏng nhất William Baumol là người đầu tiên

phát hiện mô hình quản lý hàng tồn kho EOQ có thể vận dụng cho mô hình

quản lý tiền mặt Trong kinh doanh, doanh nghiệp phải lưu giữ tiền mặt cần

thiết cho các hoá đơn thanh toán, khi tiền mặt xuống thấp doanh nghiệp sẽ phải

bổ sung tiền mặt bằng cách bán các chứng khoán thanh khoản cao Chi phí cho

việc lưu giữ tiền mặt ở đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà doanh nghiệp

bị mất đi Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán Khi

đó áp dụng mô hình EOQ ta có lượng dự trữ tiền mặt tối ưu

M * : Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm

C b : Chi phí một lần bán chứng khoán thanh khoản

i : Lãi suất

Mô hình Baumol cho thấy nếu lãi suất cao, doanh nghiệp càng dữ ít tiền

mặt và ngược lại, nếu chi phí cho việc bán chứng khoán thanh khoản càng cao

Trang 17

thì họ lại càng giữ nhiều tiền mặt Mơ hình Baumol số dư tiền mặt khơng thực

tiễn ở chỗ giả định rằng doanh nghiệp chi trả tiền mặt một cách ổn định.

Nhưng điều này lại khơng luơn luơn đúng trong thực tế.

Mơ hình quản lý tiền mặt Miller Orr

Đây là mơ hình kết hợp chặt chẽ giữa mơ hình đơn giản và thực tế Theo

mơ hình này, doanh nghiệp sẽ xác định mức giới trên và giới hạn dưới của tiền

mặt, đĩ là các điểm mà doanh nghiệp bắt đầu tiến hành nghiệp vụ mua hoặc

bán chứng khốn cĩ tính thanh khoản cao để cân đối mức tiền mặt dự kiến.

Mơ hình này được biểu diễn theo đồ thị sau đây:

Khoảng dao động tiền mặt

Khoảng dao động tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào 3 yếu tố sau: Mức

Trang 18

dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ; Chi phí cố định của

việc mua bán chứng khoán; Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít

tiền và do vậy khoản dao động tiền mặt sẽ giảm xuống Khoảng dao động tiền

mặt được xác định bằng công thức sau:

d 3 33 Cb V b 4 i

Trong đó:

 d : Khoảng dao động tiền mặt (khoản các giữa giới hạn trên và giới

hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ)

 C b : Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán thanh

khoản

 V b : Phương sai của thu chi ngân quỹ

 I : Lãi suất

Trong các doanh nghiệp lớn, luồng tiền vào ra của doanh nghiệp hàng

ngày là rất lớn, nên chi phí cho việc mua bán chứng khoán sẽ trở nên quá nhỏ

so với cơ hội phí mất đi do lưu giữ một lượng tiền mặt nhàn rỗi do vậy hoạt

động mua bán chứng khoán nên diễn ra hàng ngày ở các doanh nghiệp này.

Mặt khác, chúng ta cũng thấy tại sao các doanh nghiệp vừa và nhỏ lưu giữ một

số dư tiền mặt đáng kể.

(3) Quản lý các khoản phải thu

Trong nền kinh tế thị trường, để thắng lợi trong cạnh tranh các doanh

nghiệp có thể áp dụng các chiến lược về sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả…

Trong đó chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu và không

thể thiếu đối với các doanh nghiệp Tín dụng thương mại có thể làm cho doanh

nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có nhưng cũng có thể đem

đến những rủi ro cho hoạt động của doanh nghiệp Do đó, các doanh nghiệp

cần phải đưa ra những phân tích, những nghiên cứu và quyết định có nên cấp

tín dụng thương mại cho đối tượng khách hàng đó hay không Đây là nội dung

Trang 19

chính của quản lý các khoản phải thu.

Phân tích năng lực tín dụng của khách hàng

Để thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng thì điều đầu tiên doanh

nghiệp phải phân tích được năng lực tín dụng của khách hàng Công việc

này gồm: Thứ nhất, doanh nghiệp phải xây dựng một tiêu chuẩn tín dụng hợp

lý; Thứ hai, xác minh phẩm chất tín dụng của khách hàng tiềm năng Nếu khả

năng tín dụng của khách hàng phù hợp với những tiêu chuẩn tín dụng tối thiểu

mà doanh nghiệp đưa ra thì tín dụng thương mại có thể được cấp.

Việc thiết lập các tiêu chuẩn tín dụng của các nhà quản trị tài chính phải

đạt tới sự cân bằng thích hợp Nếu tiêu chuẩn tín dụng đặt quá cao sẽ loại bỏ

nhiều khách hàng tiềm năng và sẽ giảm lợi nhuận, còn nếu tiêu chuẩn được

đặt ra quá thấp có thể làm tăng doanh thu, nhưng sẽ có nhiều khoản tín dụng có

rủi ro cao và chi phí thu tiền cũng cao.

Khi phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, ta thường dùng các tiêu

chuẩn sau để phán đoán:

- Phẩm chất, tư cách tín dụng: Tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách

nhiêm của khách hàng trong việc trả nợ Điều này được phán đoán trên

cơ sở việc thanh toán các khoản nợ trước đây đối với doanh nghiệp hoặc

đối với các doanh nghiệp khác

- Năng lực trả nợ: Dựa vào các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh, dự

trữ ngân quỹ của doanh nghiệp…

- Vốn của khách hàng: Đánh giá sức mạnh tài chính dài hạn của khách

hàng

- Thế chấp: Xem xét khả năng tín dụng của khách hàng trên cơ sở các tài

sản riêng mà họ sử dụng để đảm bảo các khoản nợ

Trang 20

- Điều kiện kinh tế: Tiêu chuẩn này đánh giá đến khả năng phát triển của

khách hàng trong hiện tại và tương lại

Các tài liệu được sử dụng để phân tích khách hàng có thể là kiểm tra bảng

cân đối tài sản, bảng kế hoạch ngân quỹ, phỏng vấn trực tiếp, xuống tận nơi để

kiểm tra hay tìm hiểu qua các khách hàng khác.

Phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị

Sau khi phân tích năng lực tín dụng khách hàng, doanh nghiệp tiến hành

việc phân tích đánh giá khoản tín dụng thương mại được đề nghị Việc đánh

giá khoản tín dụng thương mại được đề nghị để quyết định có nên cấp hay

không được dựa vào việc tính NPV của luồng tiền.

 Q’, P’ : Sản lượng và giá bán đơn vị nếu bán chịu

 C : Chi phí cho việc đòi nợ và tài trợ bù đắp cho khoản phải thu

 V : Chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm

 R: Doanh lợi yêu cầu thu được hàng tháng

 r : Tỷ lệ phần trăm của hàng bán chịu không thu được tiền

Nếu NPV > 0 chứng tỏ việc bán chịu là mang lại hiệu quả cao hơn việc

thanh toán ngay, có lợi cho doanh nghiệp, do đó khoản tín dụng được chấp

nhận.

Theo dõi các khoản phải thu

Trang 21

Theo dõi các khoản phải thu là một nội dung quan trọng trong quản lý các

khoản phải thu Thực hiện tốt cơng việc này sẽ giúp cho doanh nghiệp cĩ thể

kịp thời thay đổi các chính sách tín dụng thương mại phù hợp với tình hình

thực tế Thơng thường, để theo dõi các khoản phải thu ta dùng các chỉ tiêu,

phương pháp và mơ hình sau:

- Kỳ thu tiền bình quân (The average collection period – ACP):

Các khoản phải thu Kỳ thu tiền bình quân Doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày

Kỳ thu tiền bình quân phản ánh thời gian bình quân mà cơng ty thu hồi được

nợ Do vậy, khi kỳ thu tiền bình quân tăng lên mà doanh số bán và lợi nhuận

khơng tăng thì cũng cĩ nghĩa là vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng ở khâu thanh

tốn Khi đĩ nhà quản lý phải cĩ biện pháp can thiệp kịp thời

- Sắp xếp ‘tuổi’ của các khoản phải thu

Thơng qua phương pháp sắp xếp các khoản phải thu theo độ dài thời gian,

các nhà quản lý doanh nghiệp cĩ thể theo dõi và cĩ biện pháp thu hồi nợ khi

đến hạn.

- Xác định số dư khoản phải thu

Sử dụng phương pháp này doanh nghiệp hồn tồn cĩ thể thấy được nợ

tồn đọng của khách hàng nợ doanh nghiệp Cùng với các biện pháp theo dõi và

quản lý khác, doanh nghiệp cĩ thể thấy được ảnh hưởng của chính sách tín

dụng thương mại và cĩ những điều chỉnh kịp thời, hợp lý phù hợp với từng đối

tượng khách hàng, từng khoản tín dụng cụ thể.

1.3.2.2 Các nhân tố phi lượng hố

Các nhân tố phi lượng hố cũng cĩ tác động quan trọng tới hiệu quả sử

dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Đĩ là những nhân tố định tính mà mức

độ tác động của chúng đối với hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là

khơng thể tính tốn được Doanh nghiệp chỉ cĩ thể dự đốn và ước lượng tầm

Trang 22

ảnh hưởng của các nhân tố đó từ đó có những chính sách, biện pháp nhằm định

hướng các nhân tố này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói

riêng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung.

Các nhân tố này bao gồm: Các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.

Các nhân tố khách quan gồm các yếu tố xuất phát từ bên ngoài doanh

nghiệp như: Môi trường kinh tế chính trị; Các chính sách về kinh tế của Nhà

nước; Đặc điểm, tình hình và triển vọng phát triển của ngành, lĩnh vực mà

doanh nghiệp hoạt động…Đây là những nhân tố có ảnh hưởng to lớn đến hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu

động của doanh nghiệp nói riêng Doanh nghiệp cần sự linh hoạt và nhanh

nhạy để tiếp cận và thích ứng với các nhân tố đó.

Các nhân tố chủ quan là các nhân tố nằm trong nội tại doanh nghiệp, có

tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và hiệu quả

Trang 23

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung Đó là các nhân tố như:

Trình độ quản lý vốn của ban lãnh đạo doanh nghiệp, của cán bộ tài chính;

Trình độ, năng lực của cán bộ tổ chức quản lý, sử dụng vốn lưu động trong

doanh nghiệp; Tính kinh tế và khoa học của các phương pháp mà doanh

nghiệp áp dụng trong quản lý, sử dụng vốn lưu động…

Phần trên, qua việc nghiên cứu khái quát về vốn lưu động, nghiên cứu chi

tiết về các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng

vốn lưu động chúng ta đã có nền tảng hiểu biết nhất định về vốn lưu động và

hiệu quả sử dụng vốn lưu động Từ đó, chúng ta có thể đưa ra những biện pháp

cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các

doanh nghiệp.

1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

1.3.3.1 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động các khoản phải thu

Các chỉ số này sẽ giúp các nhà quản lý nhìn thấy được và đo được hiệu

quả hoạt động các khoản phải thu Hiện nay các công ty thường sử dụng ba chỉ

tiêu cơ bản sau để đo lường hiệu quả hoạt động của khoản phải thu:

Thời gian thu hồi tiền hàng phải thu (DSO): được sử dụng để đo

lường thời gian trung bình mà doanh thu tồn tại dưới dạng các khoản phải thu.

Chỉ tiêu này sẽ cho biết hiệu quả của hoạt động các khoản phải thu Một số

công ty quản lý chỉ tiêu này bằng cách đưa ra số ngày cụ thể để đánh giá đó là

khoản phải thu tốt hay xấu, chẳng hạn như dưới 30 ngày được xem là có khả

năng kiểm soát được.

Receivables turnover = Vòng quay khoản phải thu =

DSO= 365/Receivables turnover

Tỷ lệ các khoản phải thu trên doanh thu: được sử dụng để đánh

giá xu hướng hiệu quả các khoản phải thu Tỷ lệ này càng cao thì công ty càng

bị chiếm dụng vốn nhiều Hơn thế nữa, khi mà tỷ lệ này vượt quá mức chuẩn

Doanh thu trả chậm Khoản phải thu bình quân

Trang 24

mà công ty đặt ra, thì đòi hỏi ban giám đốc cần phải có những hành động nhằm

hạn chế những tình huống xấu có khả năng xảy ra.

Tuổi nợ (Receivables Aging Schedule): được sử dụng để phân loại

các khoản phải thu theo tuổi nợ Bằng các phân tích tuổi nợ, công ty có thể xác

định sớm những khoản phải thu có vấn đề và có những hành động thích hợp

nhằm bảo vệ được doanh thu của mình.

Ngoài ra để so sánh hiệu quả quản lý các khoản phải thu giữa các công

ty hoặc giữa công ty với trung bình ngành, một số các chỉ tiêu khác có thể sử

dụng như CEI (Collection Effectiveness Index), ADD (Average Days

Delinquent), Bad Debt to Sales…

Mặc dù có rất nhiều chỉ tiêu đo lường hiệu quả khoản phải thu, nhưng

nhìn chung các chỉ tiêu này cần phải đáp ứng được 3 tiêu chuẩn : (1)nhất quán,

(2) chuẩn hóa, (3) phải được thông báo và hiểu bởi các bộ phận liên quan trong

công ty.

1.3.3.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động hàng tồn kho

Tốc độ chu chuyển hàng tồn kho: Tỷ lệ này cho ta biết tốc độ bán

hàng của doanh nghiệp, được tính bằng cách chia giá vốn hàng bán cho tổng

giá trị hàng tồn kho (Cost of goods sold /Inventory) Nhìn chung, nếu tỉ lệ này

ở mức cao tức là doanh nghiệp đang kinh doanh tốt.

Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/Hàng tồn kho bình quân

Số ngày trong 1 chu kì luân chuyển hàng tồn kho (DIO): được sử

dụng để đo lường thời gian trung bình mà vốn của doanh nghiệp tồn tại dưới

dạng các hàng tồn kho Chỉ tiêu này sẽ cho biết hiệu quả hoạt động hàng tồn

kho.

Số ngày trong 1 chu kì luân chuyển hàng tồn kho = 365/Vòng quay hàng

tồn kho

1.3.4.3 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quá quản lý khoản phải trả người bán

Vòng quay khoản phải trả: Tỷ lệ này cho ta biết tốc độ hoàn thành

nghĩa vụ trả nợ với nhà cung cấp.

Vòng quay khoản phải trả = Doanh số mua hàng/Khoản phải trả bình

quân

Trang 25

Số ngày 1 vòng quay khoản phải trả (DPO): được sử dụng để đo

lường thời giant rung bình mà doanh nghiệp có thể tận dụng được nguồn vốn

chiếm dụng từ nhà cung cấp.

Số ngày trong 1 vòng quay khoản phải trả = 365/Vòng quay khoản phải

trả Chỉ tiêu này thể hiện số ngày trung bình để doanh nghiệp có thể trả các

khoản nợ cho nhà cung cấp.

1.3.3.4 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói chung

Chu kì hoạt động: thể hiện số ngày trung bình cần để biến nguyên

vật liệu thành tiền thu được từ hoạt động bán hàng.

Chu kì hoạt động (Operating Cycle) = DIO + DSO

Chu kì tiền mặt: Chu kỳ tiền mặt là một thước đo được sử dụng

trong phân tích tài chính của doanh nghiệp, để đánh giá khả năng quản lý dòng

tiền của doanh nghiệp.Chu kỳ tiền mặt là thời gian cần thiết để biến số tiền

doanh nghiệp đầu tư vào nguyên vật liệu, dự trữ vật tư thành tiền thu về từ hoạt

động bán thành phẩm.

Chu kì tiền mặt (Cash conversion cycle) = DSO + DIO - DPO

Con số này càng cao, thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan

hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và cho các hoạt động khác như đầu

tư Chu kỳ tiền mặt được tính từ khi chi trả cho các nguyên liệu thô tới khi

nhận được tiền mặt trong bán hàng.

Nếu con số này nhỏ sẽ được coi là khả năng quản lý vốn lưu động tốt.

Ngược lại, con số này lớn có thể được giải thích là: doanh nghiệp phải huy

động thêm vốn trong khi vẫn phải chờ khách hàng trả nợ tiền hàng cho

mình.Quá trình sản xuất càng dài, lượng tiền mặt mà doanh nghiệp phải huy

động thêm để đầu tư càng lớn.

Qua chương vừa rồi, có thể thấy việc chủ động xây dựng, huy động, sử

dụng vốn lưu động là biện pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

lưu động ở doanh nghiệp vì vốn là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được

đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nên kinh tế thị trường hiện nay Do

đó, xây dựng kế hoạch và sử dụng vốn của doanh nghiệp là hoạt động nhằm

hình thành nên các dự định về tổ chức các nguồn tài trợ nhu cầu vốn lưu động

của công ty và sử dụng chúng sao cho có hiệu quả.

Ngày đăng: 21/03/2015, 08:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1:  Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Bia - Rượu- Nước giải Khát Hà Nội - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Bia - Rượu- Nước giải Khát Hà Nội (Trang 28)
Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức tổ hợp công ty mẹ - Công ty con của TCT bia - rượu – - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco
Sơ đồ 2 Mô hình tổ chức tổ hợp công ty mẹ - Công ty con của TCT bia - rượu – (Trang 29)
Bảng 05: Tình hình các khoản phải thu của Công ty  TNHH MTV Thương mại HABECO - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco
Bảng 05 Tình hình các khoản phải thu của Công ty TNHH MTV Thương mại HABECO (Trang 35)
Bảng 07  :  Tình hình khả năng thanh toán của Công ty TNHH MTV Thương mại HABECO - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco
Bảng 07 : Tình hình khả năng thanh toán của Công ty TNHH MTV Thương mại HABECO (Trang 38)
Bảng 08 : CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco
Bảng 08 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w