Vai trò hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa trong toàn bộ hoạt động sản xuất – kinh doanh của công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội...26 2.2.2.. Kết cấu đề tài bao gồm 3 phần:
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC HÌNH VẼ 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU TẠI DOANH NGHIỆP5 1.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh nhập khẩu 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm kinh doanh nhập khẩu 5
1.1.1.1 Khái niệm kinh doanh nhập khẩu 5
1.1.1.2 Đặc điểm kinh doanh nhập khẩu 5
1.1.2 Các hình thức kinh doanh nhập khẩu 6
1.2 Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu ở doanh nghiệp 9
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu 9
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu 11
1.2.2.1 Lợi nhuận kinh doanh nhập khẩu : 11
1.2.2.2 Tỷ suất lợi nhuận : 11
1.2.2.3 Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu : 12
1.2.2.4 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh : 12
1.2.3 Mục đích và ý nghĩa của việc bảo đảm và nâng qua hiệu quả kinh doanh nhập khẩu 13
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nhập khẩu 15
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 15
1.3.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp 16
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY CP VẬT TƯ VÀ DICH VỤ KỸ THUẬT HÀ NỘI 18
2.1 Tổng quan về công ty 18
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội .18
2.1.2 Bộ máy tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội 19
2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội 19
2.1.2.2 Bộ máy tổ chức công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội 20
Hình 1: Tổ chức bộ máy kinh doanh 1
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất – kinh doanh của công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội 22
2.1.3.1 Lĩnh vực kinh doanh của công ty 22
2.1.3.2 Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh 23
2.1.3.3 Vốn và tình hình sử dụng vốn trong sản xuất – kinh doanh 23
2.1.3.4 Hệ thống mạng lưới kinh doanh 23
2.1.3.5 Lực lượng lao động của công ty 24
1
Trang 22.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu tại công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ
thuật Hà Nội 26
2.2.1 Vai trò hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa trong toàn bộ hoạt động sản xuất – kinh doanh của công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội 26
2.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa của công ty 27
2.2.2.1 Tổ chức kinh doanh nhập khẩu hàng hóa của công ty 27
2.2.2.2 Kết quả hoạt động nhập khẩu 31
2.2.2.3 Kết quả tiêu thụ hàng nhập khẩu 34
2.2.3 Phân tích hiệu quả kinh doanh nhập khẩu hang hóa tại công ty 38
2.2.4 Kết luận rút ra qua phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa ở công ty 41
2.2.4.1 Những kết quả đạt được 41
2.2.4.2 Những hạn chế 42
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CP VẬT TƯ VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT HÀ NỘI 43
3.1 Mục tiêu hoạt động kinh doanh của công ty 43
3.2 Phương hướng kinh doanh nhập khẩu hàng hóa trong thời gian tới 44
3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa 44
3.3.1 Nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong kinh doanh nhập khẩu 44
3.3.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 49
3.3.3 Nâng cao tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu bằng cách tạo nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu thông qua thực hiện hoạt động xuất khẩu 57
3.3.4 Hoàn thiện hệ thống quản trị tổ chức và nhân sự 57
KẾT LUẬN 61
PHỤ LỤC 1: DANH MỤC SẢN PHẨM VÀ ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN KINH DOANH 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Cơ cấu lao động giai đoạn 2010-2012 25
Bảng 2: Cơ cấu doanh thu của công ty theo lĩnh vực hoạt động của công ty trong 2 năm 2011 – 2012 26
Bảng 3: Kim ngạch nhập khẩu của công ty năm 2009-2012 31
Bảng 4:Kết quả kinh doanh của công ty từ năm 2009-2012 : 35
Bảng 5: Cơ cấu từng loại hàng hóa năm 2012 36
Bảng 6: Doanh thu bán hàng ô tô theo khu vực địa lý 2010-2012 37
Bảng 7: Kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa tại công ty giai đoạn 2011 - 2012 38
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1: Tổ chức bộ máy kinh doanh 1
Hình 2: Quy trình kinh doanh nhập khẩu của công ty 1
Hình 3:Cơ cấu nhập khẩu theo thị trường 33
3
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng khiến cho thương mại quốc tế trởthành một lĩnh vực hoạt động quan trọng đóng góp mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tếtrong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóahiện đại hóa, phát triển và ngày càng phồn vinh
Hoạt động nhập khẩu là một trong những hoạt động chủ yếu trong thươngmại quốc tế, nó giúp cho thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng trong nước, tăng khả năngtiếp cận với các chủng loại sản phẩm đa dạng, hiện đại Đặc biệt, trong nền kinh tế,nhập khẩu đẩy mạnh sản xuất những mặt hàng có lợi thế so sánh, tăng năng suất laođộng qua tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật và tận dụng tối đa các nguồn lực trongnước Với vai trò chủ chốt như vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhậpkhẩu đang ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết không chỉ đối với nền kinh tế nóichung mà cả với các doanh nghiệp kinh doanh nói riêng
Công ty cổ phần vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội là một công ty hoạt độngtrong lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa Với mặt hàng đa dạng, mở rộng ở nhiều ngànhnghề khác nhau thì nhập khẩu hàng hóa của công ty chiếm một tỷ trọng lớn và làmột trong các hoạt động chính của doanh nghiệp Trước bối cảnh kinh tế trong nước
và quốc tế có nhiều biến động, công ty phải đối mặt với nhiều khó khăn không nhỏtrong môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng khốc liệt Tuy vậy, công ty vẫngiữ vững được hoạt động kinh doanh ổn định và không ngừng vươn lên, tăng trưởng
và tạo được chỗ đứng trên thị trường
Cũng như bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế nào, công tycũng rất quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu.Trong thời gian thực tập tại công ty, em đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu và thựchiện bài luận văn tốt nghiệp với đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu tạicông ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội “
Kết cấu đề tài bao gồm 3 phần:
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh nhập khẩu và hiệu quả kinh doanhnhập khẩu hàng hóa tại doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu tại Công ty cổ phần vật tư
và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội
Chương III: một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa tạicông ty cp vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội
Trang 5CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU
VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU TẠI DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm kinh doanh nhập khẩu
1.1.1.1 Khái niệm kinh doanh nhập khẩu
Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quátrình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấytiền tệ là môi giới Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thốngcác quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài.Vậy thực chất kinh doanh nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chức kinh tế, cácCông ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội địa hoặc táixuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau
Mục tiêu hoạt động kinh doanh nhập khẩu là sử dụng có hiệu quả nguồnngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kỹ thuật và dịch vụ phục vụ cho quá trình táisản xuất mở rộng, nâng cao năng suất lao động, tăng giá trị ngày công, và giải quyết
sự khan hiếm hàng hoá, vật tư trên thị trường nội địa
Mặt khác, kinh doanh nhập khẩu đảm bảo sự phát triển ổn định của các ngànhkinh tế mũi nhọn của mỗi nước mà khả năng sản xuất trong nước chưa đảm bảo vật
tư, thiết bị kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển, khai thác triệt để lợi thế so sánh củaquốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hoá trong phân công lao động quốc tế, kếthợp hài hoà và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
1.1.1.2 Đặc điểm kinh doanh nhập khẩu
So với các loại hình kinh doanh thương mại khác, kinh doanh nhập khẩuhàng hóa có một số đặc điểm sau:
- Thị trường nhập khẩu rất đa dạng : Hàng hoá và dịch vụ có thể được nhập khẩu từnhiều nước khác nhau Dựa trên lợi thế so sánh của các quốc gia khác nhau mà cácdoanh nghiệp có nhiều cơ hội để mở rộng,thu hẹp hay thay đổi thị trường nhập khẩucủa mình
- Đầu vào( nguồn cung ứng trong đó có nguồn nhập khẩu ), đầu ra ( khách hàng )của doanh ngiệp rất đa dạng thường thay đổi theo nhu cầu của người tiêu dùng trongnước Nguồn cung ứng hoặc đầu ra có thể ổn định, tập trung hoặc đa dạng phụ thuộc
5
Trang 6vào điều kiện kinh doanh của công ty, khả năng thích nghi và đáp ứng cầu thị trườngcũng như biến động của nguồn cung ứng.
- Phương thức thanh toán : Trong kinh doanh nhập khẩu các bên sử dụng nhiềuphương thức thanh toán , việc sử dụng phương thức thanh tóan nào là do hai bên tựthỏa thuận được quy định trong điều khoản của hợp đồng và trong kinh doanh nhậpkhẩu thường sử dụng các ngoại tệ mạnh chủ yếu là USD để thanh toán Vì vậy màthanh toán trong nhập khẩu phụ thuộc rất lớn vào tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiềnnội tệ(VND) và ngoại tệ
- Chịu sự chi phối của nhiều hệ thống luật pháp, thủ tục:Hoạt động nhập khẩu có sựtham gia của nhiều đối tác có quốc tịch khác nhau nên chịu sự chi phối bởi các hệthống luật pháp và các thủ tục liên quan của nhiều nước khác nhau
- Việc trao đổi thông tin với đối tác phải được tiến hành nhanh chóng thông qua cácphương tiện công nghệ hiện đại hơn như Telex, Fax Đặc biệt trong thời đại thôngtin hiện nay giao dịch qua thư điện tử, qua hệ thống mạng internet hiện đại là công
cụ phục vụ đắc lực cho kinh doanh
- Về phương thức vận chuyển: Hoạt động nhập khâủ liên quan trực tiếp đến yếu tốnước ngoài, hàng hóa được vận chuyển qua biên giới các quốc gia, có khối lượnglớn và được vận chuyển qua đường biển, đường hàng không, đường sắt và vậnchuyển vào nội bộ bằng các xe có trọng tải lớn …Do đó hoạt động nhập khẩu đòihỏi chi phí vận chuyển lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp
1.1.2 Các hình thức kinh doanh nhập khẩu
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa có thể được phân chia thành nhiềuhình thức khác nhau tùy theo tiêu thức dùng để phân loại Việc phân loại các loạihình kinh doanh nhập khẩu sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể xác định được nhữngthế mạnh và điểm yếu của loại hình kinh doanh đang được áp dụng, từ đó có thểphát huy thế mạnh, khắc phục và hạn chế những nhược điểm để tăng khả năng cạnhtranh trên thị trường
a) Theo mức độ chuyên doanh :
- Kinh doanh chuyên môn hóa :
Hình thức doanh nghiệp chỉ chuyên kinh doanh một hoặc một nhóm hàng hóa
có cùng công dụng, trạng thái hoặc tính chất nhất định Chẳng hạn kinh doanh xăngdầu, kinh doanh sách báo…Loại hình kinh doanh này có ưu điểm do chuyên sâu
Trang 7theo ngành hàng nên có điều kiện nắm chắc được thông tin về người mua, ngườibán, giá cả thị trường, tình hình hàng hóa và dịch vụ nên có khả năng cạnh tranh trênthị trường, có thể vươn lên thành độc quyền kinh doanh.
- Kinh doanh đa dạng hóa :
Doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau nhưng bao giờ cũng cónhóm mặt hàng kinh doanh chủ yếu có cùng công dụng, trạng thái hoặc tính chất.Đây là loại hình kinh doanh được nhiều doanh nghiệp ứng dụng, nó cho phép pháthuy ưu điểm và hạn chế được nhược điểm của loại hình kinh doanh tổng hợp
b) Theo chủng loại hàng hóa kinh doanh :
- Loại hình kinh doanh tư liệu sản xuất:
Đối tượng kinh doanh là các sản phẩm phục vụ hoạt động sản xuất như máymóc trang thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất…
Tại Việt Nam, hiện nay, tư liệu sản xuất đang là mặt hàng được khuyến khíchnhập khẩu nhằm phát triển sản xuất trong nước, phục vụ xuất khẩu, thể hiện ở mứcthuế thấp hơn hoặc miễn thuế đối với loại hàng hóa này, việc nhập khẩu không hạnchế về số lượng, các ưu đãi trong vay vốn kinh doanh…
Thị trường tiêu thụ tư liệu sản xuất dựa vào sản xuất và phục vụ sản xuất Quy
mô thị trường phụ thuộc vào quy mô và trình độ tổ chức sản xuất của khu vực thịtrường đó Do đó, quy mô và cơ cấu thị trường phụ thuộc vào trình độ phát triển sảnxuất của một quốc gia
- Loại hình kinh doanh tư liệu tiêu dùng
Hàng tiêu dùng là các sản phẩm phục vụ mọi nhu cầu cho cuộc sống của conngười, bao gồm các sản phẩm như hàng dệt may, đồ điện gia dụng, thực phẩm,lương thực, bách hóa phẩm…Mỗi loại hàng hóa lại rất đa dạng và phong phú về
7
Trang 8chủng loại, mẫu mã, chất lượng sản phẩm…Thị trường hàng tiêu dùng thường cónhững biến động lớn và phức tạp.
Hiện nay, hàng tiêu dùng không phải là mặt hàng được khuyến khích nhậpkhẩu nhằm mục đích phát triển sản xuất trong nước Do đó, các doanh nghiệp kinhdoanh hàng tiêu dùng gặp phải một số cản trở như : danh mục hàng nhập khẩu chịu
sự quản lý của bộ Thương mại, các cơ quan chuyên nghành, mức thuế cao, hạnngạch nhập khẩu, quản lý ngoại tệ, hạn chế trong tín dụng ngân hàng (buộc doanhnghiệp phải ký quỹ 100% khi mở L/C)…
c) Theo phương thức kinh doanh nhập khẩu :
- Nhập khẩu trực tiếp :
Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinhdoanh nhập khẩu, trong đó, doanh nghiệp phải trực tiếp làm mọi khâu của quá trìnhkinh doanh nhập khẩu, như tìm kiếm đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng, thực hiệnhợp đồng… và phải bỏ vốn để tổ chức kinh doanh nhập khẩu
Khi sử dụng hình thức này, các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải hoàntoàn chịu trách nhiệm đối với các hoạt động của mình Độ rủi ro của hình thức nhậpkhẩu trực tiếp cao hơn song lại đem lại lợi nhuận cao hơn so với các hình thức khác
- Nhập khẩu ủy thác :
Nhập khẩu ủy thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước cóvốn ngoại tệ riêng và nhu cầu nhập khẩu một số lại hàng hóa nhưng lại không cóquyền tham gia hoặc không có khả năng tham gia hoặc tham gia không đạt hiệu quả,khi đó sẽ ủy nhiệm cho các doanh nghiệp khác làm nhiệm vụ giao dịch trực tiếp vàtiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình Thương nhân nhận ủy thác không được
sử dụng hạn ngạch hoặc giấy phép do Bộ Thương mại cấp cho mình để nhận ủy thácnhập khẩu
- Nhập khẩu hàng đổi hàng :
Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ chủ yếu của buônbán đối lưu, đó là hình thức nhập khẩu đi đôi với xuất khẩu Phương tiện thanh toántrong hoạt động này không dùng tiền mà chính là hàng hóa Mục đích từ hàng đổihàng là vừa thu lãi từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu vừa xuất khẩu được hàng hóa
ra thị trường nước ngoài Người nhập khẩu đồng thời cũng là người xuất khẩu
Trang 9Hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu phải có giá trị tương đương nhau, đảm bảođiều kiện cân bằng về mặt giá cả, điều kiện giao hàng và tổng giá trị hàng hóa traođổi.
- Tạm nhập tái xuất :
Tạm nhập tái xuất là hình thức doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa nhưngkhông phải để tiêu thụ tại thị trường trong nước mà là để xuất khẩu sang một nướckhác nhằm thu lợi nhuận Những mặt hàng này không được gia công hay chế biếntại nơi tái xuất
Hàng hóa vừa phải làm thủ tục nhập khẩu vừa phải làm thủ tục xuất khẩu sau
đó Hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa có thể được phân chia thành nhiềuhình thức khác nhau tùy theo tiêu thức dùng để phân loại Việc phân loại các loạihình kinh doanh nhập khẩu sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể xác định được nhữngthế mạnh và điểm yếu của loại hình kinh doanh đang được áp dụng, từ đó có thểphát huy thế mạnh, khắc phục và hạn chế những nhược điểm để tăng khả năng cạnhtranh trên thị trường
1.2 Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu ở doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện cácmục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trongđiều kiện nhất định
Hiệu quả kinh doanh là đại lượng so sánh giữa kết quả thu được của hoạtđộng kinh doanh đó với toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Tương tự, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là một đại lượng so sánhgiữa kết quả thu được từ kinh doanh nhập khẩu và toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt đượckết quả đó (bao gồm cả chi phí bằng vật chất và sức lao động)
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
do đó quan điểm về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp cũng dựa trênquan điểm hiệu quả kinh doanh nói chung, hay hiệu quả kinh doanh nhập khẩu làmức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng hiệu quả kinh tế tính riêng cho hoạt động kinhdoanh nhập khẩu hay nói cách khác nó phản ánh trình độ sử dụng nguồn nhân lực đểđạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất
9
Trang 10Từ khái niệm trên có thể đưa ra công thức đánh giá hiệu quả kinh doanh nhậpkhẩu:
- Dạng thuận:
Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu = Kết quả đầu ra/Chi phí đầu vào
Chỉ tiêu này biểu thị mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo ra bao nhiêu đơn vịđầu ra
- Dạng nghịch:
Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu = Chi phí đầu vào/Kết quả đầu ra
Chỉ tiêu này cho biết để có một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị đầu vào.Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như giá trị tổng sản lượng, doanh thuthuần, lợi tức gộp Yếu tố đầu vào bao gồm: lao động, đối tượng lao động, vốnkinh doanh
Bản chất của hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là nầng cao năng suất lao động
xã hội và tiết kiệm nguồn lực xã hội tính riêng cho hoạt động nhập khẩu Đây là haimặt của mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế của hoạt động nhập khẩu,gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năngsuất lao động và tiết kiệm thời gian Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sửdụng chúng có tính chất cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xãhội đặt ra, yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm nguồn lực, để đạtđược mục tiêu kinh doanh các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nộitại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu là phải đạtkết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phítối thiểu Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm chi phí tạo ra nguồn lực
và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời bao gồm cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội làgiá trị của sự hy sinh công việc lựa chọn nào đó đã bỏ qua hay là giá trị của sự hysinh công việc kinh doanh khác để thực hiện hạot động kinh doanh này, chi phí cơhội phải được bổ sung vào chi phí kế toán và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy
rõ lợi ích kinh tế thực sự Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựachọn phương hướng kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng kinh doanh có hiệu quả hơn
Trang 111.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là phần lợi ích tài chính thu được thông quahiệu suất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp bằng việc so sánh trựctiếp kết quả với chi phí
Theo đó, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có nội dung và phạm vi tínhtoán trực tiếp, cụ thể và xác định được khác với hiệu quả kinh doanh thương nghiệp,hiệu quả kinh doanh nhập khẩu bao gồm cả yếu tố đối ngoại, bao hàm tính quốc tếgắn bó hữu cơ với tình quốc gia Chính sự phức tạp này đòi hỏi sự thống nhất vềphương pháp và các điều kiện liên quan để tạo ra cơ sở cho việc đánh giá hiệu quảkinh doanh kinh tế của doanh nghiệp
1.2.2.1 Lợi nhuận kinh doanh nhập khẩu :
Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính tổng hợp, phản ánh kết quả cuốicùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Nó là tiền đề duy trì và tái sản xuất mởrộng của doanh nghiệp
Về mặt lượng, lợi nhuận là phần còn lại của doanh thu sau khi đã trừ đi tất cảcác chi phí cần thiết cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Công thức chung :
P = R – C
Trong đó : P : Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
R : Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
C : Tổng chi phí kinh doanh nhập khẩu
C = Tổng chi phí nhập khẩu hàng hóa + Chi phí lưu thông, bán hàng + Thuế
1.2.2.2 Tỷ suất lợi nhuận :
Trong đó :D DR : Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu
P : Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
R : Tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu cho biết lượng lợi nhuận thu được từ mộtđồng doanh thu trong kỳ
11
R P
D R
Trang 12Trong đó :D DC : Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí.
P : Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu
C : Tổng chi phí cho hoat động kinh doanh nhập khẩu
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí cho biết một đồng chi phí đưa vào hoạt độngkinh doanh nhập khẩu thì thu được bao nhiêu lợi nhuận thuần
1.2.2.3 Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu :
Trong đó : DNK : Tỷ suất ngoại tệ nhập khẩu
RNK : Tổng doanh thu bán hàng nhập khẩu tính bằng bản tệ (VND)
CNK : Tổng chi phí nhập khẩu hàng hóa tính bằng ngoại tệ nhập
Chỉ tiêu này cho biết số lượng bản tệ mà doanh nghiệp thu được khi bá ra mộtđồng ngoại tệ
Nếu tỷ suất ngoại tệ > tỷ giá hối đoái (do ngân hàng Nhà nước quy định), việc
sử dụng ngoại tệ vào hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp được coi là
có hiệu quả
1.2.2.4 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh :
Hiệu suất sinh lợi của vốn :
Doanh thu thuần trong kỳHiệu suất vốn kinh doanh =
Vốn kinh doanhChỉ tiêu này cho biết một đồng vốn đem lại bao nhiêu đồng doanh thu
Tổng doanh thu thuần
Số vòng quay vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ
Số vòng quay vốn lưu động cho biết vốn lưu động quay được bao nhiêu vòngtrong kỳ Nếu số vòng quay càng nhiều càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cao vàngược lại
C R
D
Trang 13Số ngày trong kỳ
Kỳ luân chuyển bình quân vốn lưu động =
Số vòng quay của vốn lưu động(Số ngày trong kỳ : nếu tính 1 năm là 360 ngày)
Kỳ luân chuyển bình quân của vốn lưu động là số ngày bình quân cần thiết đểvốn lưu động thực hiện được một vòng quay trong kỳ Thời gian một vòng quaycàng nhỏ thì tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng lớn
1.2.3 Mục đích và ý nghĩa của việc bảo đảm và nâng qua hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
Sự khan hiếm nguồn lực đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả hoạt động nhập khẩu nói riêng.
Như chúng ta đã biết, trong thực tế mọi nguồn lực đưa vào sản xuất kinhdoanh đều có giới hạn Không có nguồn lực nào là vô tận, tất cả đều là hữu hạn.Chính vì thế, nếu chúng ta sử dụng nguồn nhân lực một cách lãng phí, không tiếtkiệm thì chúng sẽ nhanh chóng trở nên cạn kiệt và biến mất Trong khi đó, dân sốthế giới ngày càng tăng làm cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn và không có giớihạn Do vậy, nguồn lực, của cải đã khan hiếm nay lại càng khan hiếm hơn, trongđiều kiện đó việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề hàng đầu đốivới bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào Mọi doanh nghiệp khi bước vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh đều phải cân nhắc các phương án kinh doanh, xemphương án nào có hiệu quả hơn vì nguồn nhân lực của doanh nghiệp như vốn, laođộng, kỹ thuật đưa vào sản xuất kinh doanh đều có giới hạn, nếu không tiết kiệmđầu vào chắc chắn doanh nghiệp sẽ đi tới thua lỗ, phá sản
Đối với doanh nghiệp tham gia vào hoạt động nhập khẩu thì nguồn lực sử dụng làlượng ngoại tệ bỏ ra, thời gian và lao động Nếu không biết sử dụng một cách tiếtkiệm thì chi phí đầu vào cho nhập khẩu tăng lên, dẫn đến giá tăng làm cho doanhnghiệp gặp khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ Chính vì vậy, để đạt được hiệu quảđồng thời vẫn mang lại lợi ích xã hội, các doanh nghiệp nhập khẩu phải tìm các biệnpháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu sao cho đạt kết quả cao nhất vớichi phí thấp nhất
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật là điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu.
13
Trang 14Áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật cho phép doanh nghiệp sử dụng cácnguồn lực đầu vào một cách hợp lý, tiết kiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
tổ chức, quản lý diễn ra một cách chính xác, đúng đắn Điều này cho phép các doanhnghiệp có khả năng lựa chọn những phương án nhập khẩu, sản xuất kinh doanh tối
ưu Sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả nhập khẩu caonhất, đem lại nhiều lợi ích nhất
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật không chỉ đem lại hiệu quả cao cho hoạtđộng nhập khẩu mà cả lợi ích công cộng Ngày nay, kết quả của tăng trưởng kinh tếchính là sự áp dụng thành công các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuậtđang diễn ra với tốc độ như vũ bão, đặc biệt là đối với các nước Châu á chậm pháttriển như Việt Nam
Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu.
Trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải chấp nhậncạnh tranh với nhau và những ngành nghề nào, thị trường nào càng có mức lợinhuận cao thì cạnh tranh càng gay gắt, quyết liệt hơn
Đối với hoạt động nhập khẩu, mức độ canh tranh còn gay gắt hơn Các doanhnghiệp tham gia vào hoạt động nhập khẩu không những phải cạnh tranh với cácdoanh nghiệp trong cùng lĩnh vực mà còn phải cạnh tranh với các nhà sản xuất trongnước Đặc biệt, một trong những chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước
mà nước ta áp dụng là hạn chế nhập khẩu những hàng hoá mà trong nước đã sảnxuất được Đây là một khó khăn khiến các doanh nghiệp nhập khẩu khó có thể tăngcao khối lượng hàng nhập khẩu Để cạnh tranh thành công, để đạt được hiệu quả caođồng thời vẫn mang lại lợi ích xã hội, các doanh nghiệp nhập khẩu không còn conđường nào khác là phải tìm các biện pháp để giảm chi phí nhập khẩu, nâng cao uytín của doanh nghiệp cả ở thị trường trong và ngoài nước Do vậy, đạt hiệu quả vànâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu là vấn đề quan tâm của doanh nghiệp và trởthành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh
Trang 15động nhập khẩu không ngừng được nâng cao thì kết quả thu được ngày càng tăng,điều đó có nghĩa là thu nhập của người lao động cũng tăng theo Khi người lao động
có thu nhập cao, họ sẽ có điều kiện để chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần chobản thân và gia đình, mặt khác nhờ có thu nhập cao mà người lao động sẽ hăng saylàm việc hơn làm cho năng suất lao động ngày càng tăng Điều đó sẽ giúp cho doanhnghiệp ngày càng nâng cao được hiệu quả hoạt động nhập khẩu và làm ăn ngày càngtấn tới Suy cho cùng thì nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nóichung và hiệu quả hoạt động nhập khẩu nói riêng cũng chính là nâng cao đời sốngvật chất tinh thần cho người lao động và ngược lại
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Đây là nhóm nhân tố có tầm ảnh hưởng vĩ mô điều tiết hoạt động doanhnghiệp, nó bao gồm:
- Chế độ chính sách của nhà nước về hoạt động kinh doanh nhập khẩu: Đối với hoạt động nhập khẩu Nhà nước cũng có những chính sách, luật lệ nghiêm ngặt đối với hàng hóa nhập khẩu và cách thức thực hiện hoạt động nhập khẩu Theo nghị định số 57/1998/NĐ - CP của chính phủ quy định ba nhóm hàng nhập khẩu:
Một là, hàng hóa cấm nhập khẩu : danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu bao gồm 11 nhóm hàng chính, như vũ khí, đạn dược, các loại ma túy, hóa chất độc, sản phẩm văn hóa đồi trụy, …
Hai là, hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Thương mại : đối với loạihàng hóa này các doanh nghiệp muốn thực hiện kinh doanh nhập khẩu phải xin giấy phép nhập khẩu của Bộ thương mại
Ba là, hàng hóa nhập khẩu thuộc diện quản lý chuyên nghành : nhóm hàng hóa này chịu sự quản lý của các cơ quan chuyên nghành về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn vệ sinh … Doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện nhập khẩu khi cógiấy phép và đáp ứng được các yêu cầu do cơ quan chuyên nghành đề ra
Sự thông thoáng, mở cửa của Nhà nước đối với một loại hàng hóa nào đó không chỉ ảnh hưởng đến cách thức nhập khẩu của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến mức cạnh tranh của loại hàng húa đú trờn thị trường trong nước, từ đó ảnh hưởng đến mức tiêu thụ hay hiệu quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa đó của mỗi doanh nghiệp
15
Trang 16- Hệ thống luật pháp: Nó tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động Hệthống luật pháp yêu cầu phải động bộ, nhất quán và phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Môi trường chính trị - xã hội: Nhân tố này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạtđộng nhập khẩu Có đảm bảo ổn định về chính trị, giữ vững môi trường hoà bình vàhữu nghị với các nước trên khu vực và trên thế giới thì mới tạo bầu không khí thuậnlợi cho các hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng
- Môi trường kinh doanh: Phải đảm bảo sự ổn định vĩ mô nên kinh tế trong đó chú ýđảm bảo tỷ giá hối đoái ổn định và phù hợp, khắc phụ sự thâm hụt của cán cânthương mại và cán cân thanh toán quốc tế nhăm lành mạnh hoá môi trường kinhdoanh, sẽ tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu
1.3.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinhdoanh nhập khẩu của doanh nghiệp, nó tác động một cách trực tiếp và là yếu tố nộilực quyết định hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp có đạt hiệu quả hay không.Các nhân tố đó là:
- Tổ chức hoạt động kinh doanh: Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến điều kiệnhoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Nếu như việc tổ chức kinhdoanh càng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp, phù hợp với yêucầu kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường thì sẽ góp phầnnâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Làm tốt công tác tổ chức kinhdoanh có nghĩa là doanh nghiệp phải là tốt các khâu: Chuẩn bị trước khi giao dịchnhư nghiên cứu thị trường, khai thác nhu cầu tiêu dùng trong nước, lập phương ánkinh doanh thận trọng
- Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp: Bộ máy quản lý doanh nghiệp có ảnhhưởng một cách gián tiếp tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng
và hoạt động kinh doanh toàn doanh nghiệp nói chung Tổ chức bộ máy quản lý hợp
lý, gọn nhẹ, làm việc có hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho công tác nâng cao hiệu quảkinh doanh Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy của doanh nghiệp
là một điều hết sức quan trọng trong kinh doanh XNK
- Nhân tố con người: Đội ngũ cán bộ công nhân viên là một nhân tố quan trọng cótính chất quyết định đối với sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanhnói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng Nếu doanh nghiệp có đội ngũ cán bộcông nhân viên năng động, có năng lực, trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình, tích
Trang 17cực trong công tác kết hợp với việc bố trí nguồn nhân lực theo chiến lược “ đúngngười, đúng việc, đúng lúc” của doanh nghiệp thì nhất định sẽ có ảnh hưởng tíchcực tới hiệu quả kinh doanh.
- Vốn kinh doanh: Là nhân tố tối quan trọng, là thành phần không thể thiếu trongkinh doanh, nó là cơ sở cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Cơ sở vật chất và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp: Nếu công ty có cơ sở vậtchất kỹ thuật càng hiện đại bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho công việckinh doanh bấy nhiêu như: việc giữ gìn bảo quản hàng hoá được tốt hơn, tiết kiệmchi phí trong khâu vận chuyển , nâng cao chất lượng phục vụ
- Thị trường - khách hàng: Thị trường là một tấm gương trung thực cho các doanhnghiệp tự soi vào để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình Hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp có đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộc vào mức độ đáp ứng cácyêu cầu của thị trường
17
Trang 18CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY CP VẬT TƯ VÀ DICH VỤ KỸ THUẬT HÀ NỘI
cổ phần hóa từ doanh nghiệp Nhà nước Công ty Vật tư và dich vụ kỹ thuật Hà Nội
Bộ thương mại, nay là Bộ công thương, theo quyết định số 1393/2004/QĐ – BTMngày 29/9/2004 của Bộ trưởng Bộ thương mại
Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 0103006328 ngày 04/01/2005 do Sở
kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp
Tên công ty qua các thời kì:
- Từ năm 1967 – 5/1993 : Xí nghiệp sửa chữa xe và máy 19/8 thuộc Cục vậnchuyển, Bộ vật tư
- Từ 6/1993 – 6/2003 : Công ty vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội, Tổngcông ty máy và phụ tùng
- Từ 7/2003 – 12/2004 : Công ty vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội Bộthương mại
- Từ 1/2005 đến nay : Công ty cổ phần vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội
Công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội xuất thân từ Xí nghiệp 19/8thuộc Tổng công ty thiết bị và phụ tùng Bộ vật tư – một đơn vị chuyên về lĩnh vực
cơ khí sửa chữa ô tô, xe máy, có năng lực sửa chữa 500 xe/năm Công ty được kếthừa và thụ hưởng kinh nghiệm cũng như quá trình hoạt động hàng chục năm củaTổng công ty thiết bị và phụ tùng Bộ vật tư Trong quá trình phát triển công ty luôn
nỗ lực, đổi mới, hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao năng lựccạnh tranh trên thị trường Đến nay công ty trở thành Công ty CP vật tư và dịch vụ
kỹ thuật Hà Nội với lĩnh vực kinh doanh đa dạng, công ty chuyển sang lĩnh vựcthương mại với chức năng chính cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ chủ yếu chohoạt động xây dựng Trong những năm gần đây, công ty tiếp tục phát triểm hướng
Trang 19tới mục tiêu mà công ty đã đặt ra là trở thành một trong những công ty có tiềm lựcphát triển mạnh trong lĩnh vực cung cấp hàng hóa,dịch vụ
Quá trình phát triển của công ty được thể hiện qua các giai đoạn phát triển sau:
Từ năm 1967 – 1993: Công ty bắt đầu thành lập và đi vào hoạt động với têngọi là Xí nghiệp sửa chữa xe và máy 19/8 thuộc Cục vận chuyển, Bộ vật tư Công tyhoạt động dưới sự kiểm soát và hỗ trợ vốn của Bộ vật tư, các hoạt động kinh doanhmới chỉ dừng lại ở việc kinh doanh dịch vụ phục vụ sửa chữa, lắp ráp, bảo dưỡng,bảo hành máy và xe, hình thức kinh doanh còn nhỏ chưa thực sự phát triển
Năm 1993 – 2003: Nền kinh tế nước ta có sự thay đổi phát triển nền kinh tếthị trường đã ảnh hưởng tích cực đến hoạt động kinh doanh của công ty Đội ngũcán bộ nhân viên của công ty rất có kinh nghiệm trong việc bảo dưỡng, sửa chữa cácloại ô tô, cần cẩu, máy xây dựng, tạo được sự tín nhiệm đối với khách hàng Công tychuyển hướng sang kinh doanh máy móc thiết bị trên thị trường và đổi tên thànhCông ty vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội, thuộc Tổng công ty máy và phụ tùng.Tuy nhiên công ty vẫn kinh doanh với quy mô nhỏ, hình thức kinh doanh chưa đadạng
Năm 2003 – 2004: Công ty do Bộ thương mại quản lý, hoạt động dưới sựkiểm soát của Bộ Công ty bắt đầu mở rộng hoạt động kinh doanh thương mại dịch
vụ Trong lĩnh vực kinh doanh xuất, nhập khẩu: công ty có một đội ngũ cán bộ đượcđào tạo chính quy, có kinh nghiệm trong việc cung ứng vật tư, máy móc thiết bị, dâychuyền sản xuất đồng bộ cho nhiều doanh nghiệp thuộc ngành nghề khác nhau
Năm 2004 đến nay: Công ty được cổ phần hóa thành Công ty cổ phần vật tư
và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội và trở thành một nhà thầu đáng tin cậy, có đủ năng lực,kinh nghiệm và nhân lực để nhận thầu cung ứng thiết bị cho các đơn vị kinh tế trong
Trang 20nhiệm về kết quả kinh doanh của công ty Công ty có chức năng chủ yếu là cung cấpvật tư, thiết bị và các dịch vụ có uy tín chất lượng phục vụ nhân dân, cở sở sản xuấttrong nước, nhập khẩu ô tô, phụ tùng, vật liệu từ các nước trên thế giới nhằm đápứng nhu cầu khách hàng trong nước
Nhiệm vụ
Với những chức năng cơ bản trên công ty có nhiệm vụ sau:
- Chú trọng công tác tổ chức hoạt động của nhân viên trong công ty, nâng caotrình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên, công nhân trong toàn công ty
- Tổ chức tốt công tác chọn nguồn hàng, mua hàng đảm bảo đủ về số lượng, chấtlượng tốt
- Tổ chức tốt hoạt động bảo quản, dự trữ hàng hóa đảm bảo cho lưu thông hànghóa thường xuyên liên tục
- Ngày càng mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ của công tynhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kinh tế đối với nhà nước
2.1.2.2 Bộ máy tổ chức công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội
Công ty cổ phần vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội là công ty cổ phần có hìnhthức tổ chức quản lý mà số vốn thuộc sở hữu chung của nhiều người (cổ đông) đónggóp dưới dạng cổ phần Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác trong phạm vi số vốn đã góp (dưới hình thức mua cổ phiếu)
Tổ chức bộ máy quản lý của công ty bao gồm các bộ phận sau:
- Đại hội đồng cổ đông
- Ban kiểm soát
- Hội đồng quản trị gồm:
- Ban giám đốc gồm: Tổng giám đốc và các Phó tổng giám đốc
- Khối quản lý gồm: Phòng tổ chức, kế hoạch, đầu tư và Phòng tài chính, kế toán
- Khối kinh doanh gồm: Phòng kinh doanh, Các xí nghiệp sản xuất dịch vụ, Cácchi nhánh cửa hàng
Cơ cấu tổ chức bộ máy kinh doanh của công ty được thể hiện trong sơ đồdưới đây:
Trang 21Hội đồng quản trị
Tổng Giám Đốc
Ban kiểm soát
Trang 23Hình 1: Tổ chức bộ máy kinh doanh
23
Trang 24Cơ cấu tổ chức quản lý công ty bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồngquản trị, Ban kiểm soát, Ban giám đốc.
- Đại hội đồng cổ đông bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ
quan quyết định cao nhất của công ty Đại hội đồng cổ đông họp một năm một lần
- Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công
ty để quyết định những vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừnhưng vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị bầu raChủ tịch hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc là ông Nguyễn Đăng Đức
- Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát Hội đồng quản trị, Tổng giám
đốc trong việc quản lý và điều hành công ty, chịu trách nhiệm trước đại hội đồng cổđông trong thực hiện các nhiệm vụ được giao
- Ban giám đốc bao gồm: Tổng giám đốc và các phó giám đốc có nhiệm vụ
điều hành hoạt động của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việcthực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
- Khối quản lý bao gồm:
+ Phòng tổ chức – kế hoạch – đầu tư có nhiệm vụ tổ chức, giám sát hoạt động thực
hiện công việc của công ty Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, điều độ sảnxuất, tiếp nhận và xem xét các yêu cầu cung cấp sản phẩm Tham mưu cho Tổng
Phó Tổng giám đốc
Phòng tài chính
Các chi nhánh cửa hàng
Phó Tổng giám đốc
Phòng kinh doanh
Trang 25giám đốc về các chính sách lao động, tiền lương Lập và quản lý các dự án đầu tưcủa công ty.
+ Phòng tài chính kế toán có chức năng thực hiện các chế độ hạch toán theo quy
định pháp luật và hướng dẫn các cơ quan chức năng Quản lý sử dụng vốn theonguyên tắc bảo toàn vốn, khai thác tạo nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh,cùng các phòng ban khác giải quyết các hợp đồng kinh tế, dự án đầu tư, các phương
án tổ chức sản xuất kinh doanh, chế độ lương, thưởng
- Khối kinh doanh gồm:
+ Các xí nghiệp sản xuất sản phẩm, dịch vụ thực hiện hoạt động sản xuất, sửa chữa,
lắp ráp sản phẩm, cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu khách hàng
+ Các phòng kinh doanh có chức năng tạo nguồn cung ứng vật tư, thiết bị, phụ tùng
phục vụ đầy đủ kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của công ty Giúp Bangiám đốc từ khâu chuẩn bị cho đến triển khai các hợp đồng kinh tế Tổ chức tiếp thị,marketing, quảng cáo, tiêu thụ sản phẩm, liên kết và giám sát hoạt động của các chinhánh cửa hàng
+ Các chi nhánh cửa hàng có nhiệm vụ trưng bày, giới thiệu, buôn bán các sản
phẩm của công ty, có trách nhiệm báo cáo tình hình buôn bán của cửa hàng chocông ty
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất – kinh doanh của công ty CP vật tư và dịch
vụ kỹ thuật Hà Nội
2.1.3.1 Lĩnh vực kinh doanh của công ty
Kinh doanh hàng hóa: vật tư, thiết bị, phụ tùng, máy, phương tiện vận tải, dây
chuyền sản xuất, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất hàng tiêu dùng, trang thiết bị y
tế, khoáng sản, máy phát điện, vật tư thiết bị ngành điện, hàng nông sản, thực phẩm,hàng may mặc, giày da, hàng tiêu dùng, xuất nhập khẩu: hải sản, lương thực, rauquả, lâm sản thành phẩm, cao su, dầu ăn, thực phẩm
Thi công các công trình dân dụng, sửa chữa, lắp ráp ô tô, xe máy
Kinh doanh dịch vụ: dịch vụ thương mại, dịch vụ tư vấn, dịch vụ khách sạn,
cho thuê văn phòng, cho thuê nhà ở, đại lý kí gửi hàng hoá
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, Công ty CP vật tư vàdịch vụ kỹ thuật Hà Nội đã thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ, tin cậy đối với cáchãng cung cấp vật tư, thiết bị có uy tín trên thị trường thế giới, được thể hiện trongBảng phụ lục 1: danh mục sản phẩm và đối tác nước ngoài của công ty trong thời
25
Trang 26gian kinh doanh.
2.1.3.2 Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh
Công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội là công ty chuyên cung cấp cácloại hàng hóa: vật tư, thiết bị, phụ tùng, ô tô, máy móc… và các loại dịch vụ thươngmại Các sản phẩm của công ty là những sản phẩm có uy tín, chất lượng.Các thiết bị,phụ tùng, ô tô được nhập khẩu từ các hãng nổi tiếng trên thế giới như: ô tô của cáchãng như Toyota, Daewoo, Mitsubishi, Mercedes… Công ty luôn đảm bảo cung cấpcác loại dịch vụ có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
2.1.3.3 Vốn và tình hình sử dụng vốn trong sản xuất – kinh doanh
- Cơ cấu vốn của doanh nghiệp :
Khi mới được thành lập công ty cổ phần vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội sửdụng hoàn toàn vốn góp của nhà nước Đến năm 2012 công ty đã được cổ phần hóa
và đã huy động được nguồn vốn từ các cổ đông, chủ yếu là là nguồn vốn chủ sở hữuđạt 21.600.000.000 VND
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành của công ty đầu năm là 1,08 và cuốinăm là 1,07; hệ số khả năng thanh toán nhanh đầu năm là 0,45 và cuối năm là 0,16
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành thấp và giảm 0,01, hệ số khả năng thanh toánnhanh thấp và giảm 0,29, điều này chứng tỏ khả năng thanh toán của công ty khôngcao, chủ yếu do khối lượng hàng tồn kho lớn, giá trị hàng hóa cao và lượng tồn khotăng nhanh do mỗi lẫn nhập khẩu với số lượng lớn Nếu công ty không có biện phápgiải quyết lượng hàng tồn kho thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thanh toáncác khoản nợ
2.1.3.4 Hệ thống mạng lưới kinh doanh
Các sản phẩm của công ty dù được huy động từ nguồn nào cũng đều được tiêuthụ, phân phối tại thị trường trong nước Hiện nay quy mô thị trường của công ty đãbao trùm toàn bộ thị trường Việt Nam, sản phẩm của công ty hướng tới tất cả cácđối tượng, từ người tiêu dùng có thu nhập thấp, hộ gia đính đến những công trìnhcông cộng, phục vụ sản xuất
Hệ thống mạng lưới phân phối hàng hóa của công ty áp dụng phương thứcphân phối rộng rãi, nghĩa là công ty cố gắng đưa sản phẩm và dịch vụ của mình tớicàng nhiều người bán lẻ càng tốt Hiện nay, công ty đang sử dụng hai kênh phânphối hàng hóa là kênh phân phối cấp 1 và kênh phân phối cấp 3
Trang 27Thông thường, hàng hóa của doanh nghiệp được phân phối đến các đại lý phânphối, từ các đại lý này, hàng hóa được đưa tới các cửa hàng bán lẻ hoặc công ty trựctiếp đưa tới các cửa hàng bán và tại đây hàng hóa được đưa đến tay người tiêu dùngcuối cùng, là các cá nhân Công ty thực hiển quản lý công tác bán hàng, các hoạtđộng trợ giúp người bán hàng và các dịch vụ chăm sóc khách hàng… trực tiếp tạicác đại lý phân phối và hệ thống các cửa hàng bán lẻ Tuy nhiên, những đại lý vàcửa hàng bán lẻ này không chỉ bán hàng của doanh nghiệp mà còn bán hàng hóacùng loại của các doanh nghiệp khác Do đó, hoạt động marketing của doanh nghiệpkhông chỉ là hướng vào người tiêu dùng mà còn được thực hiện đối với người bán lẻhàng hóa để khuyến khích họ tích cực trong việc tiêu thụ hàng của doing nghiệpnhư: các chương trình hội nghị khách hàng, các giải thưởng cửa hàng bán lẻ xuất sắctrong năm, các chương trình khuyến mại đối với người bán hàng… và đặc biệt làchương trình trợ cấp vốn cho người bán lẻ bằng phương thức cho nợ tiền hàng chotới khi hàng hóa được tiêu thụ trong vòng 1 năm đầu với hình thức phân phối rộngrãi – doanh nghiệp cố gắng đưua sản phẩm của mình tới càng nhiều người bán lẻcàng tốt – đã tạo nên một mạng lưới phân phối rộng khắp trên phạm vi cả nước vàxâm nhập được vào các ngóc ngách của thị trường
2.1.3.5 Lực lượng lao động của công ty
Năng lực chuyên môn của các cán bộ, công nhân trong công ty được thể hiệntrong bảng kê khai năng lực chuyên môn của công ty từ năm 2010 đến năm 2012 sauđây:
Bảng 1: Cơ cấu lao động giai đoạn 2010-2012
STT Cán bộ được đào tạo theo các
ngành nghề
Năm 2010(số người)
Năm 2011(số người)
Năm 2012(số người)
27
Trang 28Trong đó
Nguồn: Công ty cổ phần vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội
Về trình độ chuyên môn: đa số cán bộ công nhân trong công ty đều là những
cán bộ có năng lực chuyên môn nghiệp vụ từ những công nhân có tay nghề, kinhnghiệm cao cho đến các cán bộ có trình độ đại học với các chuyên ngành theo đúngchức năng nhiệm vụ của từng phòng ban
Về số lượng cán bộ qua các năm: số lượng cán bộ có xu hướng tăng qua các
năm cụ thể là: năm 2010 số lượng cán bộ là 54 người đến năm 2011 tăng lên 67 cán
bộ tương ứng tăng 24% so với 2010 Đến năm 2012 là 83 cán bộ, tăng 23.8% so vớinăm 2011 Điều này cho thấy quy mô hoạt động của công ty ngày càng được mởrông theo từng năm, số lượng cán bộ được tuyển thêm hàng năm nhằm đáp ứng nhucầu kinh doanh của công ty Nguyên nhân là do công ty ngày càng đa dạng hóa vềmặt hàng kinh doanh và các loại hình dịch vụ, mở rộng nhiều lĩnh vực kinh doanhkhác nhau
Về cơ cấu trình độ chuyên môn ta thấy: số lượng cán bộ có trình độ đại học
chiếm phần lớn với 79,5% trong tổng số cán bộ của công ty, và chủ yếu là các cán
bộ thuộc chuyên ngành kinh tế do công ty hoạt đông kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
là chủ yếu, còn hoạt động thi công công trình, sửa chữa, lắp ráp có ít hơn nên sốlượng công nhân, kĩ sư cũng không nhiều
Xét trong năm 2012, cán bộ có trình độ cử nhân kinh tế chiếm đa số là 36%tổng số cán bộ trong công ty, cử nhân kinh tế ngoại thương, ngoại thương chiếm lầnlượt là 14,5%và 6,1%, cán bộ có trình độ trung cấp và công nhân lành nghề chỉchiếm số lượng nhỏ là 10,9% và 9,6%.Ta có thể thấy rõ điều này trong biểu đồ hìnhtròn thể hiện cơ cấu trình độ chuyên môn của các cán bộ trong công ty
Trang 292.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu tại công ty CP vật tư và dịch
- Kinh doanh thương mại nội địa
- Kinh doanh nhập khẩu hàng hóa
Bảng 2: Cơ cấu doanh thu của công ty theo lĩnh vực hoạt động của công ty trong 2
Doanh thu
Tỷ trọng (%) doyin doyinpumpi ndust
Nguồn : Báo cáo kết quả kinh doanh
Trong ba lĩnh vực trên, lĩnh vực kinh doanh nhập khẩu hàng hóa chiếm tỷtrọng chủ yếu và có mức tăng trưởng bình quân hàng năm cao nhất Năm 2011,doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa chiếm tới 80.02%, đạt mứcdoanh thu doanh thu từ kinh doanh thương mại nội địa chiếm 19.97 % và cung cấp
29
Trang 30dịch vụ chỉ chiếm một tỉ trọng rất nhỏ, đạt 4,016 triệu VND Năm 2012, tỷ trọng vềdoanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa tăng lên 81.05% và cungcấp dịch vụ tăng thêm 867.275.285 VND, trong khi tỷ trọng doanh thu từ kinhdoanh thương mại nội địa lại giảm xuống còn 18.9416 % song vẫn tăng lên về mặtgiá trị tuyệt đối.
Như vậy, trong ba loại hình kinh doanh thì kinh doanh nhập khẩu hàng hóa làlĩnh vực hoạt động chủ đạo của công ty đồng thời cũng là lĩnh vực được công ty chútrọng đầu tư phát triển
2.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa của công ty
2.2.2.1 Tổ chức kinh doanh nhập khẩu hàng hóa của công ty
a) Loại hình kinh doanh nhập khẩu
Công ty đang áp dụng loại hình kinh doanh nhập khẩu theo phương phứ nhậpkhẩu đa dạng : vật tư, thiết bị, phụ tùng, ô tô, máy móc… và các loại dịch vụ thươngmại…
Công ty có khả năng đào tạo được những cán bộ kinh doanh, nhân viên nhậpkhẩu giỏi, có chuyên môn cao, trình độ hiểu biết về hàng hóa kinh doanh chuyên sâuhơn, có thể trở thành các chuyên gia ngành hàng
b) Đặc điểm mặt hàng kinh doanh nhập khẩu
Các mặt hàng kinh doanh của công ty cổ phần vật tư và dịch vụ kỹ thuật HàNội khá đa dạng nhưng tập trung vào mặt hàng chủ yếu là ô tô và các thiết bị phục
vụ cho dịch vụ sửa chữa bảo trì ô tô Công ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội
là công ty chuyên cung cấp sản phẩm ô tô của các hãng nổi tiếng có uy tín trên thịtrường thể giới phải kể đến như Toyota, Daewoo, Mitsubishi, Mercedes…dưới đây
là các loại ô tô mà công ty kinh doanh
Theo mục đích sử dụng ô tô có thể chia ô tô làm các loại sau:
- Ô tô chở người:
+ Đặc điểm: Là loại ô tô có kết cấu và trang bị để chở người, hành lý mangtheo Công ty kinh doanh nhiều loại ô tô chở người với nhiều kiểu dáng, màu sắc,kích cỡ,chủng loại khác nhau gồm: ô tô con( ô tô 4 chỗ, 7 chỗ), ô tô khách( ô tô cótrên 10 chỗ ngồi), ngoài ra công ty cũng cung cấp các loại ô tô dùng để cứu thương
có trang bị các thiết bị cấp cứu bệnh nhân
Trang 31+ Một số hãng xe mà công ty nhập khẩu loại ô tô chở người để kinh doanhgồm có: ô tô Toyota, ô tô cứu thương của Mercedes, ô tô KIA của NICE – KOREA,các loại ô tô của MISHUBISHI, … Đây đều là những hãng xe nổi tiếng có uy tíntrên thế giới Điều này giúp công ty thu hút được khách hàng, cung cấp những sảnphẩm có chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường Dovậy công ty phải giữ vững và mở rộng mối quan hệ bạn hàng thân thiết với các đốitác nước ngoài nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cao.
Những đối tác mà công ty hợp tác để nhập khẩu loại ô tô này phải kể đến là:TOYOTA – Nhật Bản, NICE – Hàn Quốc, MISHUBISHI – Nhật bản, MINSKAUTOMOBILE PLANT đây là đều là những nhà cung cấp ô tô đáng tin cậy trên thếgiới Với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh ô tô, các nhà cung cấp đảmbảo cung cấp các loại ô tô đạt chất lượng cao, đảm bảo cung cấp ô tô đầy đủ kịp thờicho Công ty CP vật tư và dịch vụ kĩ thuật Hà Nội để thực hiện đúng theo kế hoạchkinh doanh ô tô trong kì
- Ô tô chở hàng:
+ Đặc điểm: Là loại ô tô có kết cấu và trang bị để chở hàng, có thể kéo theomột rơ mooc, có thể bố trí tối đa 2 hàng ghế trong cabin
Có thể chia loại ô tô chở hàng này thành các loại nhỏ sau:
+ Ô tô tải thông dụng: Là loại ô tô có thùng đựng hàng dạng kín hoặc hở, thànhphía sau hoặc thành bên của thùng hàng có thể mở được Các loại ô tô tải thôngdụng mà công ty kinh doanh là các loại xe của hãng Hyundai, Daewoo… với cáctrọng tải khác nhau
+ Ô tô tải tự đổ: Là ô tô chở hàng được liên kết với khung xe thông qua cáckhớp quay, các khóa hãm và cơ cấu nâng hạ thùng, có khả năng tự đổ hàng Loạinày công ty nhập khẩu từ các hãng xe của Nhật bản và Hàn quốc Các loại xe tải tự
đổ là loại xe thông dụng mà công ty cung cấp cho các doanh nghiệp phục vụ chohoạt động xây dựng, thi công các công trình
+ Ô tô tải có cần cẩu: Có kết cấu thùng hàng hở, có lắp cần cẩu để tự xếp, dỡhàng
- Ô tô chuyên dùng: Là loại ô tô có chức năng, công dụng đặc biệt Bao gồmcác loại sau:
31
Trang 32+ ễ tụ cần cẩu: Cú lắp cần cẩu và cỏc thiết bị chỉ để thực hiện cụng việc nõng,hạ.
+ ễ tụ trộn bờ tụng
+ ễ tụ xỳc đào
+ ễ tụ tưới đường
Trờn đõy là cỏc loại ụ tụ mà cụng ty kinh doanh nhập khẩu từ nước ngoài đểcung cấp cho thị trường trong nước Nhỡn chung cỏc sản phẩm ụ tụ mà cụng ty kinhdoanh đều cú cỏc đặc điểm chung sau:
- Sản phẩm ụ tụ nhập khẩu của những hóng sản xuất ụ tụ và cỏc nhà cung cấp
ụ tụ nổi tiếng trờn thị trường như: TOYOTA – Nhật Bản, NICE – Hàn Quốc,MISHUBISHI – Nhật Bản, MINSK AUTOMOBILE PLANT, HYUNDAI – HànQuốc, MERCEDES BENZ, SEOUL –Hàn Quốc…Đõy là những hóng cung cấp ụ tụ
cú uy tớn, chất lượng đảm bảo cho quỏ trỡnh nhập khẩu ụ tụ của cụng ty diễn ra thuậnlợi, nhanh chúng Đồng thời tạo lũng tin cho khỏch hàng về chất lượng, xuất xứ cỏcloại ụ tụ mà cụng ty CP vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nội đang kinh doanh Đõy làthế mạnh mà cụng ty cần giữ vững và phỏt huy
- Sản phẩm đa dạng nhiều chủng loại, mẫu mó, giỏ cả Tuy nhiờn chủ yếu làsản phẩm ụ tụ phục vụ cho hoạt động xõy dựng, sản xuất kinh doanh của khỏchhàng
c) Qui trỡnh kinh doanh nhập khẩu hàng húa
Quỏ trỡnh kinh doanh nhập khẩu của Cụng ty cổ phần vật tư và kỹ thuật hà nộiđược thực hiện đồng thời trờn cả hai thị trường trong nước và thị trường quốc
tế Trong khi tiến hành cỏc nghiệp vụ thực hiện hợp đồng nhập khẩu, cụng ty
đồng thời thực hiện cỏc hoạt động tỡm kiếm đầu mối tiờu thụ, quảng bỏ, giới
thiệu sản phẩm tới người tiờu dựng tại thị trường nội địa
Giao dịch,đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu
Tổ chức thựchiện hợp
đồng nhập khẩu (mở L/C mua bảo hiểm, nhận hàng, kiểm tra hàng hóa ) …)
Tổ chức đ a hàng đến nơi tiêu thụ
Nhận đơn đặt hàng của khách hàng
Tìm kiếm đầu mối tiêu thụ hàng nhập khẩu
Trang 33Khi tiến hành hoạt động nhập khẩu để tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra trong quá trình kíkết và thực hiện hợp động nhập khẩu, đơn vị ngoại thương cần tiến hành nghiên cứu về môitrường kinh doanh từ đó để có những quyết định đúng đắn và giảm chi phí không cần thiết
để đem lại hiệu quả cao cho hoạt động nhập khẩu
Nghiên cứu khái quát thị trường thực chất là nghiên cứu vĩ mô, nghiên cứu những nétkhái quát của thị trường còn nghiên cứu chi tiết thị trường, thực chất là nghiên cứu đốitượng giao dịch và hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh Nghiên cứu thị trường trongkinh doanh quốc tế đặc biệt là hoạt động nhập khẩu là bước khởi đầu không ít khó khăn củacác đơn vị ngoại thương, sự tất yếu của công tác nghiên cứu thị trường nhằm đáp ứng nhucầu thu thập các thông tin về thị trường chính xác kịp thời tuỳ từng yêu cầu về nghiệp vụ
mà có thể nghiên cứu thị trường chi tiết hoặc khái quát
Sau khi hoàn tất các công tác nghiên cứu thị trường trong nước, quốc tế và các đốitác, đơn vị kinh doanh ngoại thương tiến hành lập phương án kinh doanh hàng nhập khẩu.Phương án kinh doanh thực chất là một chương trình hành động quát hướng tới việcthực hiện những mục đích cụ thể của doanh nghiệp trong kinh doanh Trong sự biến đổinhanh chóng của thị trường thì khâu lập phương án kinh doanh gặp nhiều khó khăn trởngại, nhiều doanh nghiệp đã bỏ qua bước này hoặc thực hiện một cách sơ sài đã đem lạihiệu quả hoạt động kinh doanh không như mong muốn
Kí kết hợp đồng nhập khẩu là bước tiếp theo cần tiến hành sau khi đã nghiên cứu kĩmôi trường kinh doanh, hoạt động nhập khẩu là sự cam kết của người mua và người bán,
33
Trang 34coi đó là cơ sở để thực hiện nghĩa vụ của các bên cũng như những quyền lợi hai bên đượchưởng.
Hoạt động nhập khẩu là sự thoả thuận giữa các đương sự có có trụ sở kinh doanh ởcác quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là bên bán( bên xuất khẩu) có nghĩa vụ chuyểnquyền sở hữu về hàng hoá hoặc dịch vụ cho bên nhập khẩu Bên nhập khẩu có nghĩa vụ trảtiền và nhận hàng
Sau khi hợp đồng nhập khẩu được kí kết, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu- với tưcách một bên kí kết – phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó Đây là công việc rất quan trọng
và phức tạp, nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời phải đảm boả đượcquyền lợi của quốc gia và uy tín của doanh nghiệp Về mặt kinh doanh, trong quá trình thựchiện các khâu công việc để thực hiện hợp đồng, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu phải cốgắng tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao doanh lợi và hiệu quả toàn bộ hoạt động giaodịch
Ngay sau khi tiếp nhận hàng nhập khẩu, doanh nghiệp tiến hành vặn chuyển hàng hóa
về nơi tiêu thụ Việc giải phóng hàng hóa nhanh sẽ góp phần làm giảm chi phí bảo quản,lưu kho Doanh nghiệp dùa vào kế hoạch tiêu thụ đã đặt ra thực hiện các nghiệp vụ phânphối, bán hàng và các hoạt động marketing khỏc (cỏc hoạt động quảng bá về sản phẩm phảiđược thực hiện trước khi đưa hàng hóa vào tiờu thụ) Kết quả của hoạt động tiêu thụ là kếtquả cuối cùng của hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa
2.2.2.2 Kết quả hoạt động nhập khẩu
a) Kim ngạch nhập khẩu qua các năm
Bảng 3: Kim ngạch nhập khẩu của công ty năm 2009-2012
ĐVT: Triệu VND
Nguồn : báo cáo kết quả kinh doanh của công ty qua các năm.
Kim ngạch nhập khẩu của Công ty cổ phần vật tư và dịch vụ kỹ thuật Hà Nộiluôn có xu hướng tăng trong các năm qua : năm 2010 tổng kim nghạch nhập khẩuđạt 477,940 triệu VND (tăng 13.57 % so với năm 2009), năm 2011 tăng 78.952.461VND, năm 2012 kim nghạch nhập khẩu đạt 567,879 triệu VND Nhìn chung, tốc độtăng trưởng trong kim nghạch nhập khẩu tương đối ổn định, mức tăng trưởng trungbình là khoảng 12%/năm Riêng năm 2011, mức tăng kim nghạch nhập khẩu cao