Việt Nam là một nước hơn 60% dân số nằm trong khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và trong tình hình quốc tế và trong nước đang có nh
Trang 1trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa đầu t
báo cáo thực tập tốt nghệp
Đề tài:
SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ TỈNH THANH HểA
Sinh viờn thực hiện : NGUYỄN ANH HOÀNG TÙNG
Hà Nội - 2013
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước là đòi hỏi tất yếu của các quốc gia đang phát triển trong quá trình phát triển kinh tế xã hội hiện nay nhưng phát triển nột nền nông nghiệp ổn định và vững mạnh là điều không thể thiếu với bất kì một quốc gia nào Việt Nam là một nước hơn 60% dân số nằm trong khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và trong tình hình quốc
tế và trong nước đang có nhiều biến động, kinh tế thế giới vẫn chưa thực sự bước qua khủng hoảng , chính sách thắt chặt tiền tệ của nhà nước gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ , tình hình chính trị thế giới và trong khu vực có nhiều biến động thì đầu tư phát triển vào nông nghiệp
là vấn đề đặc biệt quan trọng cần phải được chú trọng giải quyết
Thanh Hóa là một tỉnh thuần nông, nền kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào nông nghiệp Nhiều dự án lớn về nông nghiệp đã và đang góp phần thay đổi, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân trong tỉnh Thực tế cho thấy , việc đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa đã có những chuyển biến tích cực, nền nông nghiệp của tỉnh đã có những bước tiến quan trọng Tuy vậy, bên cạnh những mặt tích cực thì công tác đầu tư phát triển ngành nông nghiệp vẫn đang bộc lộ rất nhiều vấn đề còn hạn chế và khó khăn cần được khắc phục Đó là công tác quy hoạch nông nghiệp chưa thật hợp lý, việc thực hiện các chính sách đề ra còn chưa hiệu quả Do vậy việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm cải thiện chất lượng và hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới là vấn đề có ý nghĩa cấp bách cả
về lý luận và thực tiễn
Nhận thức được tầm quan trọng của những điều đó, em đã lựa chọn đề tài “
Đầu tư phát triển ngành nông nghiệp giai đoạn 2005 - 2020 của tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu tư phát triển nông nghiệp trên cả nước nói chung , tỉnh Thanh Hóa nói riêng, làm cơ sở cho việc phân tích
Trang 6,đánh giá thực trạng rút ra hạn chế, yếu kém cùng những nguyên nhân trong việc đầu tư phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2005-
2012 và đầu tư phát triển nông nghiệp tại Thanh Hóa trong những năm tới
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khảo cứu, hệ thống hóa, kế thừa có chọn lọc nhằm làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn về đầu tư phát triển nông nghiệp
Phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệp tại Thanh Hóa
Từ đó chỉ ra những thành tựu đạt được, hạn chế và nguyên nhân
Đề xuất quân điểm và các giải pháp cơ bản nhằm phát huy tốt vai trò của đầu
tư phát triển nông nghiệp tại tỉnh Thanh Hóa
3 Đối tượng , phạm vi nghiên cứu và phương pháp của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Đầu tư phát triển nông nghiệp và các giải pháp phát triển nông nghiệp nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng
Phạm vi nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu
Giai đoạn 2005-2012 và đề xuất phương hướng, giải pháp cho giai đoạn 2020
2013-Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: thống kê, phân tích, so sánh
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 2 chương:
Chương 1 Thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.Chương 2 Giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Thanh hóa
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Từ Quang Phương đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này
Do lượng kiến thức còn hạn chế, chủ yếu là lý thuyết cũng như kinh nghiệm thực chưa có, và thời gian có hạn nên bài viết chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô để bài viết được hoàn chỉnh hơn
Trang 7CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Thanh Hóa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Với thời tiết bốn mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động trong khoảng 23 - 24 độ C Lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 1.600-2.300mm, mỗi năm có khoảng 90-130 ngày mưa Độ ẩm tương đối 85-87%, số giờ nắng bình quan 1.600-1.800 giờ Mưa tập trung nhiều vào thời kì từ tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, còn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa chỉ dưới 15%
Mùa nóng thường hay có lũ lụt , bão kèm theo mưa lớn và những ngày gió lào nhiệt độ lên tới 39-40C
Chịu ảnh hưởng của thủy triều , đẩy nước mạn vào, khối nước cửa sông và đồng ruộng ven biển bị ngập mặn
Nhìn chung, tuy vẫn có những khó khăn nhưng về tổng thể Thanh Hóa có những điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lời để phát triển nông nghiệp
Trang 81.1.1.3 Đặc điểm địa hình
Vùng miền núi, trung du: bao gồm 11 huyện: Lang Chánh, Như Xuân, Bá Thước, Như Thanh, Thường Xuân,Mường Lát, Cẩm Thủy, Quan Hóa, Quan Sơn, Ngọc Lặc và Thạch Thành chiếm khoảng 2/3 diện tích toàn tỉnh Vùng đồi núi phía tây có khí hậu mát cùng một lượng mưa lớn nên có nguồn lâm sản dồi dào, phong phú Lại có tiềm năng thủy điện lớn với hệ thống sông ngòi dày đặc, có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các nhà máy thủy điện Khu vực phía Nam của tỉnh
là miền đồi núi thấp, đất đai khá màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển các giống cây công nghiệp, cây đặc sản và có Vườn quốc gia Bến En (thuộc hai huyện Như Thanh và Như Xuân), có rừng phát triển tốt, với nhiều loại gỗ và thú quý
Vùng đồng bằng: Đồng bằng Thanh Hoá có diện tích lớn, nằm trong số
những vùng đồng bằng có diện tích lớn nhất trong khu vực miền Trung nói riêng và
cả nước nói chung Mang đầy đủ tính chất của một đồng bằng châu thổ, do phù sa các hệ thống sông Hoạt, sông Yên, sông Mã bồi đắp
Vùng ven biển: Bao gồm các huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa, Tĩnh Gia, Hậu Lộc, Quảng Xương và thị xã Sầm Sơn, chạy dọc theo bờ biển là các cửa sông
Mã, sông Yên, sông Hoạt , sông Bạng và vùng sình lầy ở Nga Sơn
1.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển nông nghiệp
•Tài nguyên đất
Diện tích tự nhiên 1.110.609 héc-ta, của Thanh Hóa gồm 8 nhóm đất chính, các nhóm đất có diện tích tương đối lớn gồm:
- Đất xám có diện tích là 717.245 héc-ta chiếm 64,6% diện tích tự nhiên, phân
bố chủ yếu ở khu vực trung du và miền núi Quan Hóa, Bá Thước, Như Xuân, Thường Xuân, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Lang Chánh Thích hợp cho phát triển cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả
- Đất đỏ có diện tích 37.826 héc-ta, chiếm 3,4%, phân bố ở độ cao trên 700m
ở các huyện Quan Hóa, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân, thích hợp cho phát triển cây rừng, cây công nghiệp dài gnày và cây ăn quả
Trang 9- Đất phù sa có diện tích 191.216 héc-ta, chiếm 17,2% diện tích tự nhiên, phân
bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng ven biển, phù hợp cho trồng lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất mặn và đất cát diện tích 41.700 héc-ta, chiếm 3,75% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng ven biển, thích hợp cho nuôi trồng thủy sản, trồng cói, trồng rừng và các loại hoa màu
•Tài nguyên nước
Tài nguyên nước mặt tỉnh Thanh Hoá rất dồi dào với bốn hệ thống sông chính, cung cấp nước là sông Mã, sông Hoạt,sông Yên, sông Lạch Bạng cùng với đó là hệ thống thủy văn dày đặc gồm 264 suối nhỏ và 1.760 hồ chứa lớn nhỏ phân bố khá đều trên toàn địa bàn tỉnh Tổng lưu lượng dòng chảy bình quân hàng năm đạt khoảng từ 20 - 22 tỷ m3, năm cao nhất đạt xấp xỉ 27 tỷ m3, năm nhỏ nhất khoảng 12
tỷ m3 Trong tổng lượng dòng chảy hàng năm chỉ có khoảng 11 tỷ m3 nước được sinh
ra trong nội tỉnh, còn lại là nước ngoại lai Chế độ dòng chảy được phân ra thành 2 mùa khá rõ rệt: Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm này đến tháng 5 năm sau, trong đó tháng 3, và tháng 4 là những tháng có lượng dòng chảy nhỏ nhất trong cả năm Lượng dòng chảy trong mùa khô chỉ đạt khoảng 25% tổng lượng dòng chảy năm (xấp xỉ 4,5
•Tài nguyên rừng
Với khoảng 2/3 diện tích tự nhiên của tỉnh là đồi nùi, Thanh Hóa có tài nguyên rừng hết sức đa dạng và phong phú, không chỉ giữ vai trò đối với việc phòng hộ đầu nguồn mà còn có tiềm năng lớn trong phát triển kinh tế xã hội Theo kết quả kiểm kê về hiện trang rừng và đất lâm nghiệp, năm 2010, hiện nay tỉnh Thanh Hóa có diện tích đất rừng khoảng 600.627héc-ta với tỉ lệ che phủ khoảng 54%, chủ yếu là rừng là rộng với hệ động, thực vật đa dạng về giống loài Về thực
Trang 10vật có các cây gỗ quỹ như lim, lát, sến, trầm, pơ-mu…; các loại cây dược liệu, cây thả kiến, cây song, cậy mây và đặc biệt là các cây thuộc họ tre nứa như luồng, nứa, vần, giang, tre, bương…cùng với đó là hệ thống động vật rừng rất phong phú Tuy nhiên do việc khai thác quá mức trong những thập kỉ gần đây, chất lượng rừng và các loại động, thực vật , động vật quý hiếm chỉ còn rải rác ở một số huyện vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở và tại các Vườn Quốc Gia, Khu bảo tồn thiên nhiên.Hơn 90% rừng gỗ hiện nay của tỉnh được xếp vèo loại rừng nghèo và rừng non, rừng trung bình và rừng giàu chiếm tỉ lệ rất thấp khoảng 6,6% diện tích rừng toàn tỉnh, chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn, phân bổ rài rác ở khu vực biên giới Việt Lào và một số vùng ở trên độ cao từ 700-1.200m, khu vực hiểm trở, hẻo lánh như Pù Rinh, Pù Kha, Pù Luôn, Pù Man….Các vùng đồi núi thấp dưới 700m gần các khu dân cư và trục đường chính đều bị khia thác kiệt quệ , kể cả các các loại rừng tre nứa hỗn giao.
•Tài nguyên biển
Thanh Hoá có bờ biển dài 102 km (kéo dài từ Hà Nẫm, Tĩnh Gĩa đến cửa Càn, Nga Sơn),với vùng lãnh hải rộng hơn 17000 km2 Vùng biển và ven biển Thanh Hoá có tài nguyên khá dồi dào Trong đó, nổi bật nhất là nguồn tài nguyên thuỷ sản, tiềm năng du lịch biển, xây dựng cảng biển và dịch vụ hàng hải
Về tài nguyên thuỷ sản: Vùng biển Thanh Hoá có những bãi cá, tôm có trữ
lượng khai thác lớn so với các tỉnh phía Bắc nhờ chịu ảnh hưởng của các dòng hải lưu nóng và lạnh Nguồn tài nguyên hải sản dồi dào phong phú với hơn 120 loài cá, thuộc 82 giống, 58 họ gồm 53 loài cá nổi, 69 loài cá đáy và các loại hải sản khác Tổng trữ lượng ước tính đạt khoảng 150.000 - 165.000 tấn, với khả năng khai thác đạt từ 60.000 - 70.000 tấn/năm Trong đó lượng cá nổi chiếm hơn 60%, còn lại là cá đáy; ngoài ra vùng biển và ven biển của tỉnh còn có nhiều loại hải sản khác có trữ lượng lớn như sứa, tôm hùm, ốc hương, cua, ghẹ có giá trị kinh tế cao và đang được ưa chuộng trên khắp các thị trường trong và ngoài nước
Về nuôi trồng thuỷ sản: Thanh Hoá có trên 8.000 héc-ta bãi triều, không kể
đến diện tích bãi triều thuộc 2 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc mỗi năm bồi thêm ra biển từ 8 đến 10 mét, dọc ven biển còn có hơn 5.000 héc-ta nước mặn ở vùng quanh
Trang 11đảo Nẹ, đảo Mê , là môi trường thuận lợi để phát triển việc nuôi trồng các loại hải sản có giá trị kinh tế cao như cá cam, trai ngọc, tôm sú theo các hình thức lồng bè Bên cạnh đó, tại khu vực các cửa lạch còn có những bãi bồi bùn cát rộng hàng ngàn héc-ta, là điều kiện rất thuận lợi để phát triển nuôi trồng các loại hải sản, trồng cói, trồng cây chắn sóng và sản xuất muối
Về tiềm năng xây dựng cảng: Với điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi, có
một bờ biển dài và nhiều cửa lạch, đặc biệt là cảng nước sâu Nghi Sơn, Thanh Hoá
có một tiềm năng rất lớn để phát triển cảng biển Xây dựng và phát triển vận tải biển tạo điều kiện tiền đề để tỉnh mở rộng giao lưu hàng hoá với các tỉnh trong nước và thế giới Ngoài ra, dọc chiều dài bờ biển còn có 5 cửa lạch lớn là Lạch Sung, Lạch Hới, Lạch Ghép, Lạch Trường và Lạch Bạng, đã và đang là điểm giao lưu kinh tế khá nhộn nhịp và là những trung tâm nghề cá của tỉnh, đồng thời cũng là những khu vực rất thuận lợi và đầy tiềm năng cho phát triển xây dựng cảng biển với quy mô khác nhau
1.1.2 Dân số và lao động
Dân số độ tuổi lao động có khoảng 2,26 triệu người (số liệu 2012) chiếm tỉ lệ 58,8% dân số toàn tỉnh từ đó mà Thanh Hóa có nguồn lao động dồi dào, có trình độ văn hóa Tính đến năm 2012, số lao động đã qua đào tạo chiếm trên 46% dân số toàn tỉnh tăng đáng kể so với năm 2001(19,6%) Tỷ lệ lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp khá cao, năm 2012 chiếm 50% trong tổng số dân số Số lao động chưa có việc làm còn nhiều, tỷ lệ thất nghiệp thành thị năm 2012 là 3,9% Nếu tỉnh có chính sách đào tạo tốt thì đây sẽ là nguồn bổ sung nhân lực quan trọng của tỉnh trong tương lai Có thể nói nguồn nhân lực của tỉnh Thanh Hóa rất dồi dào tuy nhiên số lao động được đào tạo nghề vẫn còn chưa đáp ứng được nhu cầu lao động của tỉnh, trình độ lao động còn thấp, mặc dù đã qua đào tạo nhưng tay nghề và năng lực còn nhiều hạn chế Do vậy, tỉnh cần có những biện pháp tích cực nhằm phát triển lực lượng sản xuất, từ đó tăng năng suất lao động, tạo động lực để phát triển kinh tế một cách bền vững
Trang 12Bảng 1.1 Chỉ tiêu dân số và lao động tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2005-2012
Nguồn: Báo cáo tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế xã hội 2005-2012, sở Kế hoạch đầu
tư tỉnh Thanh Hóa
1.1.3 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
1.1.3.1 Tình hình đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh
Trong những năm qua, cùng với xu hướng phát triển chung của cả nước, kinh tế Thanh Hóa cũng đã từng bước đi vào ổn định và trên đà phát triển, tạo điều kiện để cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là trong những năm gần đây, thực hiện nghị quyết Đại hội đảng bộ lần thứ XVI,XVII thực hiện phát triển kinh tế giai đọan 2006-2010 và 2011-2015 kinh tế của tỉnh đã có những bước chuyển biến đáng ghi nhận
Tốc độ tăng trưởng bình quân 205-2010 là đạt 11,3%/năm ,trong đó nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,5%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 15,6%/năm và dịch
Trang 13vụ tăng 10,2%/năm Điều đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có xu hướng tăng dần vào các năm cuối kỳ của kế hoạch 5 năm, tạo đà tăng trưởng thuận lợi cho thời kỳ tiếp theo.
Bảng 1.2 Chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội tổng hợp tỉnh Thanh Hóa
3 Cơ cấu KT(giá HH)
Nông, lâm, thủy sản 5.758 6.224 6.373 6.604 6.822 7.032 7.295 7.591
Trang 148 Chi ngân sách trên địa
Nguồn: Báo cáo tổng hợp kinh tế xã hôi 2005-2012, sở kế hoạch đầu tư tỉnh Thanh Hóa
Về quy mô nền kinh tế
Mặc dù kinh tế Thanh Hóa đã có tốc độ tăng trưởng khá từ năm 2005 trở lại đây nhưng do xuất phát từ một tỉnh nông nghiệp lạc hậu nên quy mô kinh tế còn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển, GDP bình quân đầu người/năm 2012 đạt 12,4 triệu đồng (tính theo giá thực tế), chỉ bằng 65% mức trung bình của cả nước, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các huyện vùng cao, vùng sâu, vùng xa.Thu ngân sách trên địa bàn không lớn, chỉ đáp ứng dưới 50% nhu cầu chi thường xuyên của tỉnh
Bảng 1.3 Tình hình thu chi ngân sách của tỉnh Thanh Hoá
Tổng chi trên địa bàn 6.379.102 9.336.000 14.421.000
1 Chi đầu tư phát triển 1.042.253 1.223.000 4261000
2 Chi thường xuyên 2.555.036 6.644.000 7.843.000
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Thanh Hoá 2010 và số liệu Sở KH&ĐT
1.1.3.2 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
•Cơ cấu ngành
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế của Thanh Hoá
Trang 15cũng từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng trong tổng GDP ngày càng tăng lên Năm 2012, cơ cấu giữa 3 khối ngành nông nghiệp ,công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP của tỉnh là 21,7%-34,8%-43,5% so với 31,6%-35,1%-33,3% năm 2005 Đây là một kết quả đáng khích lệ trong việc chuyển dịch cơ cấu của tỉnh đi đến hình thành rõ nét cơ cấu kinh tế, công nghiêp – xây dựng và phát triển dịch vụ Mặc dù cơ cấu kinh tế của tỉnh đang chuyển dịch đúng hướng tuy nhiên tốc độ chuyển dịch kinh tế chưa nhanh và còn phụ thuộc nhiều vào nguồn đầu tư từ ngân sách TW Trong những năm qua tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng đạt khá cao, tuy vậy phần lớn là nhờ sự đóng góp của ngành xây dựng mà trong đó chủ yếu là từ nguồn vốn hỗ trợ của TW nên tác động của ngành công nghiệp đối với nền kinh tế còn hạn chế Khu vực dịch vụ đã đạt tăng trưởng khá cao và ổn định; tỷ trọng các ngành dịch vụ trong tổng GDP của tỉnh có
xu hướng tăng dần
Tuy nhiên quá trình chuyển dịch này không làm cho năng suất lao động xã hội của ngành nông nghiệp tăng lên so với ngành công nghiệp và dịch vụ Điều này được thể hiện như sau: tỉ trọng nông nghiệp năm 2005 là 30,5% GDP giảm xuống còn 21,7% năm 2012 tương ứng với thời gian này công nghiệp đã tăng từ 38,3% lên 35,7% lên 43,5% ; dịch vụ tăng từ 31,2% lên 34,8%
Năm 2012 , lao động nông nghiệp chiếm 67,2% , tương ứng chiếm 21,7% GDP ; trong khi lao động ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm 32,3% nhưng chiếm đến 78,3% GDP Điều đó chứng tổ năng suất lao động xã hội trong ngành công nghiệp và dich vụ so với ngành nông nghiệp gấp (78,3/32,8) : (21,7/67,2)= 7,4 lần;
so với toàn quốc tỉ lệ này là (79.4/51.8) : (20.58/48.20) = 3,59 lần
Tương tự cách xác định trên, năm 2005, năng suất lao động xã hội trong nghành công nghiệp và dịch vụ so với ngành nông nghiệp gấp 7,2 lần, so với toàn quốc tỉ lệ này là 4,55
Như vậy năng suất lao động ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa giảm xuống trong giai đoạn 2005-2012 Điều này là do lao động nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa
Trang 16chuyển dịch sang các ngành khác chậm hơn so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trang 17Bảng 1.4 Cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006-2010
Đơn vị: Tỷ đồng, %
Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội 2005-2012 Sở KHĐT
•Cơ cấu thành phần kinh tế
Với định hướng chính sách phát triển một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi mô hình quản lý các doanh nghiệp quốc doanh, cơ cấu thành phần kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đã được nghiên cứu chuyển dịch và dần phù hợp với cơ chế thị trường hiện nay Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được chú trọng tập trung phát triển, ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và các ngành công nghiệp, dịch vụ
Khu vực quốc doanh: Bên cạnh vấn đề củng cố một số doanh nghiệp công ích
và các doanh nghiệp đang hoạt động theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, đa phần các doanh nghiệp quốc doanh của tỉnh sẽ được tiến hành cổ phần hoá Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã và đang thực hiện quá trình đổi mới và sắp xếp lại hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước Tỷ trọng khu vực kinh tế quốc doanh trong tổng GDP toàn tỉnh tiếp tục giảm dần từ 27,8% năm 2005 xuống còn 25,3% năm 2012
Khu vực ngoài quốc doanh: Tỉnh đã có những chính sách khuyến khích và
hỗ trợ để tạo ra được một nguồn lực đáng kể trong nhân dân để thực hiện đầu tư
Chỉ tiêu 2005 2010 2012
Tổng GDP (giá HH) 18.745,0 42.206,8 51474.5
Trang 18phát triển sản xuất kinh doanh trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã có những bước tiến mạnh mẽ, phát triển năng động, ngày càng chứng tỏ rõ sự ưu việt và việc thích nghi tốt với cơ chế thị trường, có tốc độ tăng trưởng khá,chiếm một tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, năm
2005 chiếm 68,1%, cao hơn so với mức trung bình cả nước (45,7%) và đang có những tác động lớn, tích cực đến công cuộc phát triển nền kinh tế của tỉnh, năm
2012 chiếm tỷ trọng 68,7% trong kinh tế tỉnh
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ
trọng thấp trong nền kinh tế do mới được hình thành và phát triển nên còn , năm 2005 chiếm 4,1% GDP toàn tỉnh,, năm 2012 chiếm 6,0% Tuy nhiên khu vực này được kì vọng sẽ là động lực cho sự phát triển kinh tế của tỉnh trong tương lai
Bảng1.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đơn vị , tỷ đồng, %
Nguồn: Số liệu Thống kê tỉnh Thanh Hoá, Sở KH&ĐT,2005-2012.
•Cơ cấu lãnh thổ
Cơ cấu thành thị và nông thôn: Hiện nay có hơn 50% tổng số lao động của
tỉnh đang làm việc trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp với hơn 80% dân số đang sinh sống trong khu vực nông thôn Tuy nhiên, tổng giá trị gia tăng của khu vực này chỉ chiếm khoảng 17% trong tổng GDP toàn tỉnh Điều này đã cho thấy một vấn đề rằng quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông lâm ngư nghiệp sang các khu vực khác diễn ra rất chậm Mức chênh lệch trong thu nhập giữa lao động nông lâm nghiệp đối với lao động trong các ngành nghề khác là khá cao, khoảng cách về giàu nghèo giữa hai khu vực thành thị và nông thôn
2 Cơ cấu theo khu vực kinh tế
Trang 19cũng ngày càng lớn.
Cơ cấu vùng: Kinh tế có sự tăng trưởng ở tất cả các vùng, tuy nhiên tốc độ
tăng trưởng không đều, có xu hướng tập trung cao ở vùng đồng bằng và ven biển
- Vùng ven biển : Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở khu vực này tương đối cao, liên tục đứng đầu các vùng về tốc độ tăng trưởng, đạt 12,6% trong giai đoạn
2005 – 2010 Từ sự tăng trưởng nhanh, tỷ trọng kinh tế của vùng này trong nền kinh tế của tỉnh cũng tăng dần từ 29,7% vào năm 2005 lên khoảng 35% năm
2012 Đây là vùng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, với nhiều nguồn lực phong phú, dồi dào Do vậy, trong thời gian tới vùng này được dự báo
sẽ còn phát triển với tốc độ cao hơn
- Vùng Đồng bằng: Có điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng với nhiều thuận lợi, cùng chủ trương chính sách phát triển được tập trung, do đó mà nền kinh tế khá phát triển, luôn đạt mức tăng trưởng ổn định 8-10%/năm trong những năm trở lại đây Tỷ trọng trong GDP toàn tỉnh luôn giữ mức một khá cao, trên 50%
- Vùng Trung du,miền núi có tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân còn thấp, chỉ đạt khoảng 5-6%/năm, thua kém nhiều lần so với mức tăng trưởng chung của nền kinh tế tỉnh nhà, do có nhiều khó khăn so với các vùng kinh tế khác về nhiều mặt như cơ sở hạ tầng còn thiếu, nhiều hạng mục công trình xây dựng chưa được đầu tư đúng mức hoặc đã hư hại, trình độ dân trí còn thấp,… Tuy nhiên trong những năm gần đây, nhờ những chính sách, đường lối phát triển mới của tỉnh, các biện pháp hỗ trợ của chính phủ, một số huyện miền núi đã có mức tăng trưởng trên 10%/ năm như Như Xuân, Thọ Xuân, Thạch Thành,
Cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hoá trong thời gian qua tuy vẫn còn nhiều thiếu xót cần khắc phục, xử lý Tuy nhiên, đã có những chuyển dịch đúng hướng, tận dụng tương đối tốt các lợi thế của tỉnh, góp phần đảm bảo và thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và ổn định, phù hợp với những yêu cầu đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Song, bên cạnh đó, tỉnh cũng cần vạch ra những chính sách và phương hướng tích cực để giải quyết triệt để những vấn đề khó khăn còn tồn đọng trong cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ để phát triển kinh tế bền vững
Trang 201.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH THANH HÓA
1.2.1 Quy mô vốn đầu tư
Thanh hóa vẫn là một tỉnh nông nghiệp với hơn 60% dân cư hoạt động trong lĩnh vực này, ngành nông nghiệp vẫn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của tỉnh vì vậy mà trong thời gian qua tỉnh Thanh Hóa vẫn luôn chú trọng đầu tư phát triển nông nghiệp
Bảng 1.6 Quy mô vốn đầu tư nông, lâm, ngư nghiệp giai đoạn 2005-2012
Cụ thể ta có thể thấy rằng tổng nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp đã tăng đáng kể, từ 776,7 tỉ đồng vào năm 2006 lên 4961,6 tỉ đồng năm 2012, tăng gấp 6,4 lần, tương ứng với tỉ trọng đầu tư cho nông nghiệp đã tăng từ 10% năm 2006 lên 12,2% năm 2012 Tuy nhiên mức tăng này không ổn định, năm 2007 tỉ trọng nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp là 16% nhưng đã giảm xuống 13,4% vào năm 2008 và tiếp tục giảm còn 10,3% năm 2011 sau khi có sự tăng trở lại vào năm 2012
1.2.2 Nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp Thanh Hóa tương đối đa dạng
và phong phú bao gồm :
Trang 21- Nguồn vốn trong nước: vốn đầu tư do trung ương cấp, vốn tín dụng, vốn tự cân đối, vốn huy động từ dân cư
- Nguồn vốn nước ngoài: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (ODA)
Cụ thể các nguồn vốn được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 1.7 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư vào nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa
Tổng số
Tỉ lệ so với tổng vốn đầu tư
Tổng số
Tỉ lệ so với tổng vốn đầu tư
Nông nghiệp 10.519,4 100 3.918,6 100 4.261,6 100
2 Trong nước 8.184,1 77,80 3.707,1 94,60 3.993,7 93,71Vốn Ngân sách
trung ương 4.671,2 44,41 1.031,6 26,33 926,82 23,21Vốn Ngân sách
doanh nghiệp 189,3 1,80 62,7 1,60 104,2 2,45Vốn đầu tư của
dân cư 2.335,3 22,20 1.390,1 35,47 1.547 36,31
Vốn đầu tư
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa 2006-2010, BC…
1.2.2.1 Nguồn vốn ngân sách nhà nước
Đây là nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho tỉnh hoạch bổ sung vào ngân sách tỉnh để đầu tư nông nghiệp Giá trị nguồn vốn này phần nào phản ánh sự quan tâm của Đảng và nhà nước vào việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Nguồn vốn này tập trung vào việc xây dưng hệ thống hạ tầng cơ sở, hệ thống thủy lợi và đường giao thông nông thôn nhằm phát triển tiền đề
Trang 22để thu hút các nguồn vốn khác vào đầu tư phát triển nông nghiệp.
Xem xét vào khối lượng vốn ta thấy lượng vốn này có xu hướng tăng dần trong giai đoạn 2006-2010 nhưng lại giảm dần trong 2 năm gần đây Năm 2006 tổng nguồn vốn ngân sách đầu tư cho nông nghiệp là 575,8 tỉ đồng đã tăng lên 1.178,7 tỉ đồng năm 2010 sau đó giảm xuống lên xuống 1.141,49 tỉ đồng năm 2011
và chỉ còn 991 tỉ đồng năm 2012 Trong đó nguồn vốn trung ương hỗ trợ theo chương trình mục tiêu quốc gia chiếm tỉ trọng rất lớn gấp 2 đến 3 lần nguồn vốn ngân sách tập trung và trái phiếu chính phủ Riêng năm 2010 do những sự cố về đê điều và thiên tai nên chi ngân sách tập trung lên tới 680 tỉ đồng
Nguồn vốn trung ương được chia làm 2 phần: Nguồn vốn do cấp bộ quản lý (thường đầu tư vào các công trình có quy mô lớn) và nguồn vốn do tỉnh quản lý (đầu tư vào các dự án có quy mô nhỏ hơn) Hai nguồn vốn này hỗ trợ lẫn nhau triển tuy vậy xu hướng biến động của 2 nguồn vốn này có nét tương đồng nhưng không hoàn toàn giống nhau
Bảng 1.8 Cơ cấu nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển nông
nghiệp giai đoạn 2006-2012
Đơn vị : tỷ đồng
TT Nguồn vốn 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng vốn Ngân
Trang 23tăng cường năng lực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Mặt khác, do đặc điểm của đầu tư trong nông nghiệp là khả năng thu hồi vốn chậm hoặc không có khả năng thu hồi vốn, rủi ro cao nên không thu hút được hoặc thu hút rất ít các nhà đầu tư vào lĩnh vực này Vốn ngân sách đóng vai trò đi tiên phong, mở đường để thu hút các nguồn vốn khác thông qua các hình thức: tạo ra cơ sở hạ tầng tốt, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp đồng thời tạo cho các nhà đầu tư có cảm giác yên tâm hơn đầu tư vào nông nghiệp khi có sự tham gia của Nhà nước.
Những năm gần đây tỉ trọng của nguồn vốn này trong cơ cấu vốn đầu tư nông nghiệp giảm 1,54 lần từ 34,9% giai đoạn 2006-2010 xuống còn 26,3 % năm 2011
và chỉ còn 12,2% năm 2012 Điều này là do việc cắt giảm ngân sách nhà nước nói chung và cắt giảm đầu tư nông nghiệp nói riêng của chính phủ cùng với việc hệ thống các cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp đã dần hoàn thiện so với giai đoạn trước đây
Vốn ngân sách Nhà nước chủ yếu đầu tư cho thuỷ lợi,hệ thống tưới tiêu, đê diều chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đầu tư vào các công trình trồng rừng, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho nông dân
1.2.2.2 Vốn cân đối ngân sách địa phương
Trong giai đoạn từ 2006-2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm khá cao, đạt mức 10,3% Nhờ vậy thu ngân sách nhà nước tăng nhanh tạo điều kiện tập trung nguồn vốn cho đầu tư phát triển nông nghiệp Tronh giai đoạn 2006-2012, tổng chi ngân sách do địa phương quản lí cho đầu tư phát triển nông nghiệp đạt gần 3.713,3 tỷ đồng chiếm 13,3% tổng chi cho đầu tư phát triển và chiếm 19,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội cho phát triển nông nghiệp giai đoạn này.Nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp, từ mức 19,4% giai đoạn 2006-2010 đến năm 2012 tỉ trọng của nguồn vốn này đã lến tới 22,8% ,tăng xấp xỉ 49% Trong khi nguồn vốn ngân sách do nhà nước quản lí giảm thì nguồn vốn do địa phương quản lí đã có sự tăng lên đáng kể phần nào ổn định nguồn vốn đầu tư cho nông
Trang 24nghiệp trong những năm gần đây đồng thời thể hiện được sự chủ động hơn của cấp tỉnh trong việc thu và chi phục vụ phát triển nông nghiệp
1.2.2.3 Vốn tín dụng ưu đãi
Do đầu tư trong nông nghiệp có lợi nhuận thấp nên không thu hút được nhiều nhà đầu tư, mặt khác những người nông dân sống trong khu vực này chủ yếu là những người có thu nhập thấp, đời sống khó khăn vì thế họ rất thiếu vốn sản xuất Trong khi tỉnh Thanh Hóa còn nhiều khó khăn, mặc dù có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên nhưng hệ thống sông ngòi lớn tạo áp lực cho việc kiên cố hóa đê điều,
kè, cống chiếm một tỉ trọng lớn trong vốn đầu tư trong nông nghiệp Do vậy bên cạnh nguồn vốn đầu tư của nhà nước thì cần sự trợ giúp của các ngân hàng cùng các tổ chức tín dụng thông qua các chương trình cho vay vốn với lãi suất ưu đãi cùng các điều kiện vay thuận lợi, dễ dàng tạo điều kiện để giúp cho người nông dân gia tăng sản xuất nâng cao đời sống của họ đồng thời khai thác những tiềm năng của tỉnh Thanh Hóa
Huy động vốn tín dụng đầu tư đầu tư phát triển nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá, giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 15%/năm Trong nguồn vốn tín dụng thì tỉ trọng cũng đã chuyển dịch theo chiều hướng tích cực đó là vốn tín dụng ưu đãi có xu hướng giảm dần trong giai đoạn này Đến năm 2012
tỷ trọng vốn tín dụng đầu từ trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển nông nghiệp đạt 1350 tỷ đồng chiếm 31% trong đó có 43% là vốn tín dụng ưu đãi, tăng lên so với cuối năm 2005 (32%)
1.2.2.4 Nguồn vốn của doanh ngiệp
Đây là nguồn vốn chiếm tỉ trọng rất nhỏ trong cơ cấu vốn phát triển nông nghiệp mặc dù được khuyến khích đầu tư phát triển nhưng tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn này còn rất chậm và thiều ổn định Đến năm 2012 nguồn vốn của khu vực doanh nghiệp đạt 104,2 tỷ đồng chiếm 2,1% trong tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, tăng 16,6% so với cuối năm 2005 Do ngành nông nghiệp có tốc độ thu hồi vốn chậm, rủi ro cao nên các doanh nghiệp còn chưa mặn mà trong việc đầu tư nguồn lực vào sản xuất kinh doanh Tuy nhiên đây là một trong những nguồn lực
Trang 25quan trọng đóng vai trò nâng cao giá trị nông-lâm-thủy sản Cần phát triển một
hệ thống các doanh nghiệp phục vụ hậu sản xuất để tăng giá trị nông sản, điều này cũng chính là chìa khóa để phát triển nganh nông nghiệp theo hướng thị trường Tuy vậy khu vực doanh nghiệp vẫn chưa được khuyến khích và hỗ trợ đúng mức để phát triển
1.2.2.5 Nguồn vốn của dân cư
Cùng với vốn đầu tư của ngân sách nhà nước, vốn đầu tư của các hộ nông dân cũng góp phần rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Nguồn vốn này được đầu tư để phát triển sản xuất, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp, mua phân bón, giống mới Hiện nay, vốn đầu tư của các hộ nông dân được tập trung vào mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá theo mô hình trang trại với
số vốn đầu tư tương đối lớn.Tiềm năng của nguồn vốn này là rất to lớn bởi vì nó phụ thuộc lớn vào thu nhập của các hộ nông dân Khi năng lực sản xuất tăng, năng suất lao động tăng thì thu nhập của hộ nông dân cũng tăng Đây là nguồn vốn đặc biệt quan trọng trong phát triển chăn nuôi , trồng trọt bởi 2 lĩnh vực nàycó nguồn vốn từ ngân sách không cao mà chủ yếu là do kinh tế tập thể và hộ gia đình trong khi đó chiếm tỉ trọng ít hơn trong ngành lâm nghiệp và thủy sản Tuy nhiên cùng với việc thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành nông- lâm- ngư nghiệp cần có các giải pháp hướng nguồn vốn này vào khu vực có giá trị phát triển cao hơn như thủy sản hay cây trồng, vật nuôi có năng suất cao
Trong giai đoạn 2006-2012 tăng dần về giá trị tuyệt đối nhưng lại giảm dần về
tỉ trọng Cụ thể, năm 2006 nguồn vốn đầu tư từ dân cư là 792,7 tỉ đồng chiếm 32,3% đến năm 2010 mức đầu tư là 829,5 tỷ đồng chiếm 24% và 1.131,2 tương ứng với 22,3% năm 2012
1.2.2.6 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Mặc dù có nhiều lợi thế về tự nhiên và nguồn lực nhưng tỉnh Thanh Hóa vẫn chưa thu hút hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển nông nghiệp Năm 2007 toàn tỉnh có 27 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép đầu tư, trong đó ngành nông nghiệp có 14 dự án (1 dự án FDI, 13 dự án ODA) Đến năm 2012 có 36
dự án được cấp phép thì chỉ có 12 dự án đầu tư vào ngành nông nghiệp mà chủ yếu
là các công trình đê điều, thủy lợi Tỉ trọng nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong tổng
Trang 26nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp còn rất nhỏ Tỉnh cần có những chính sách khuyến khích đầu tư , đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản xuất khẩu từ nguồn vốn.
1.2.3 Theo tiểu ngành đầu tư
Thanh Hóa là một tỉnh vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, trong khi hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp như kho bãi, cảng biển, chuồng trại…còn nhiều hạn chế vì vậy để phát triển nông nghiệp vững mạnh thì tỉnh cần đầu tư nhiều cho nông nghiệp và có định hướng đầu tư hợp lí vào những lĩnh vực cần thiết
Bảng 1.9 Đầu tư theo tiểu ngành nông nghiệp giai đoạn 2006-2012
Đơn vị: Tỷ đồng
Tiêu chí 2006-2010 2011 2012
Giá trị (Tỉ đồng)
Tỷ trọng(%)
Giá trị (Tỉ đồng)
Tỉ trọng (%)
Giá trị (Tỉ đồng)
Tỉ trọng (%)
Nguồn: Báo cáo kết quả đầu tư phát triển giai đoạn 2006-20010 , 2011,2012
Qua bảng trên ta thấy rằng trong các lĩnh vực đầu tư nông nghiệp thì đầu tư cho đê điều luôn chiếm một tỉ trọng cao và ổn định chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt cao trong năm 2010 (67,2%) và 2011(65,3%) Trong giai đoạn 2006- 2010 Tỉnh tập trung vào xây dựng KC kênh TB cổng Phủ Hà Trung, Tu
bổ, nâng cấp đê hữu sông Lèn đoạn K13+310-K15+412 xã Phong Lộc, huyện Hậu Lộc, Hoàn thiện mặt cắt, rải cấp phối, gia cố mặt đê đoạn từ K8+413,8-K10+798 đê
tả sông Lạch Trường xã Thuần Lộc, Văn Lộc, Hậu Lộc,Hệ thống công trình thuỷ lợi đầu mối vùng NTTS nước lợ xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia (phần NS tỉnh hỗ trợ); Đắp đê , trường chống trân huyện Yên Định,Đầu tư cho chương trình đê biển… và rất nhiều dự án kè xử lí sạt lở và tu bổ hệ thống đê, kè, cống địa phương
Là một địa phương ven biển có nhiều hệ thống sông lớn, lại thường xuyên phải đối mặt với lũ lụt hàng năm nên tỉnh cần tập trung vào việc xây dựng hệ thống thủy lợi nhằm đảm bảo điều kiện sản xuất cho các khu vực nông, lâm ,ngư nghiệp
Trang 27Đây là việc đầu tư lâu dài tốn kém và gần như không có khả năng thu hồi vốn, nhưng lại là nhiệm vụ trọng tâm của nguồn ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh Nhưng tỉnh cần bố trí nguồn vốn này theo hướng giảm dần qua các năm để đầu tư vốn vào các dự án trực tiếp đầu tư phát triển nông nghiệp giảm bớt gánh nặng của thủy lợi trong tổng nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp.
Trong giai đoạn 2006-2010 tỉnh đã tập trung thực hiện chuyển đổi cơ cấu lĩnh vực đầu tư từ nông nghiệp sang lâm nghiệp và thủy sản Theo đó, đầu tư cho trồng trọt và chăn nuôi giảm từ 16,4% giai đoạn 2006-2010 xuống còn 15,7% năm 2012, đầu tư cho lâm nghiệp tăng gấp đôi từ 6,6% giai đoạn 2006-2010 lên 13,2% năm
2012 Đầu tư cho thủy sản cũng đã tăng lên nhưng chậm hơn từ 7,6% giai đoạn 2006-2010 lên 10,8% năm 2012
1.2.3.1 Đầu tư cho nông nghiệp
• Trồng trọt
- Đầu tư trồng trọt, giai đoạn 2006-2010 tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu ứng dụng giống cây trồng, và thử nghiệm trồng một số giống cây trồng giá trị cao như cà phê, cao su trên địa bàn tỉnh Đa phần ngoài đầu tư tập trung trồng những cây lương thực chủ yếu như lúa, ngô khoai, sắn thì việc trồng cây công nghiệp ngắn ngày ( lạc, mía, cói…) cũng chiếm một lượng lớn trong tổng vốn đầu
tư, chiếm phần lớn diện tích đất cnah tác tỉnh nhà Những cây công nghiệp dài ngày cũng đã được triển khai trên diện rộng, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều bất cập Cây cao su trong những năm vừa qua đã cho những kết quả khá tích cực nhưng để tăng trưởng bền vững đòi hỏi cần được quan tâm đầu tư hơn nữa, nguồn giống cao su được trồng trong tỉnh còn là nguồn giống trôi nổi chưa được đảm bảo, đầu ra của sản phẩm hiện nay khá tốt nhưng về dài hạn tỉnh chưa có nhiều doanh nghiệp chế biến cao su, điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển mở rộng và tăng giá trị nông sản trên địa bàn Không chỉ riêng cây cao su mà hiện nay với các cây trồng khác công nghiệp chế biến nông sản của tỉnh còn chưa được chú trọng đầu tư, một
số nhà máy tinh bột sắn hiện không được cấp phép do vấn đề về môi trường, cây lạc , đậu tương cũng chưa có nhà máy chế biến quy mô lớn trên địa bàn Bên cạnh đó
dự án phát triển cây cà phê đã không đạt được như mong đợi, mặc dù không gây nhiều thiệt hại nhưng là một bài học về việc nghiên cứu , thẩm định dự án nông nghiệp trước khi đưa vào áp dụng
Bảng 1.10 Chỉ tiêu đầu tư phát triển ngành trồng trọt trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa giai đoạn 2006-2012
Trang 28Đơn vị: 1000 héc-ta
Trồng trọt 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng diện tích
Nguồn : Chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp 2005-2012, Sở Nông nghiệp & Phát triển
nông thôn Thanh Hóa.
• Chăn nuôi
Đầu tư cho chăn nuôi trong những năm trở lại đây được tập trung vào việc nghiên cứu ứng dụng giống vật nuôi mới, giống vật nuôi có giá trị kinh tế cao như nhím, chim trĩ trắng, tăng cường quy mô đàn bò và xây dụng các mô hình trang trại tập trung, phổ biến ở các huyện như Hậu Lộc, Yên Định, Hoàng Hóa Xây mới
và nâng cao chất lượng các trạm thú y cấp xã huyện,đặc biệt là các huyện miền núi
Bảng 1.11 Chỉ tiêu đầu tư phát triển ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa giai đoạn 2006-2012
Trang 29Chăn nuôi 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng đàn trâu 224,1 224,6 230,8 227,3 210,5 221 225 230
12,6
16,6
17,0
17,5
18,0
Nguồn : Chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp 2005-2012, Sở Nông nghiệp & Phát
triển nông thôn Thanh Hóa.
1.2.3.2 Đầu tư cho lâm nghiệp
Lâm nghiệp đang được chú trọng đầu tư hơn trong những năm gần đây với tỉ trọng đầu tư trong tổng vốn đầu tư , từ 6,6% bình quân giai đoạn 2006-2010 lên 9,1% năm 2011 và 13,2% năm 2012
Lâm nghiệp đã được đẩy mạnh đầu tư thông qua các dự án dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng (bắt đầu năm 2007), chương trình bảo vệ và phát triển rừng (từ năm 2008)cùng với nhiều dự án xây dựng trung tâm bảo vệ thực vật tại các huyện như Trạm BVTV các huyện Thường Xuân, Quan Sơn, Sầm Sơn …Triển khai thực hiện
dự án bảo vệ và phát triển rừng , dụ án vùng luồng thâm canh tập trung tỉnh Thanh Hóa (2011), tổ chức rà soát , sử dụng đất rừng của các đối tượng được giao đất, giao rừng, khảo sát và xây dựng dự án Phục hồi và phát triển hệ thống rừng ngập mặn phòng hộ ven biển Việt Nam, triển khao thực hiện dự án patst riển rừng KFW4 và WB3 Tăng cường công tác quản lí bảo vệ rừng và phòng cháy ,chữa cháy
Đầu tư cơ sở hạ tầng được lồng ghép vào các dự án bảo vệ và phát triển rừng bền vững như xây dựng các trạm bảo về rừng tài các huyện trọng điểm như quan hóa (2010), Lang Chánh(2011)… đồng thời xây dựng vườn ươm giống cây Lâm nghiệp, xay dựng hệ thống đường xá tới các khu bảo tồn thiên nhiên, hệ thống điện
và nước sạch cho khu vực miền núi, văn phòng, trạm kiểm lâm đồng thời hỗ trợ đời sống dân cư vùng đệm của vườn quốc gia Bến En
Trang 30Bảng 1.12 Đầu tư cho Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn
2006-2012
Lâm nghiệp 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Lâm sinh
Nguồn : Chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp 2005-2012, Sở NN&PTNT
1.2.3.3 Đầu tư phát triển ngư nghiệp
Đầu tư cho ngư nghiệp về giá trị tuyệt đối thì sự tăng trưởng này còn chưa ổn định qua các năm, cụ thể bình quân giai đoạn 2006-2010 dạt 135 tỷ đồng đến 2011 giá trị đầu tư vào ngư nghiệp đạt 234,7 tỷ đồng và năm 2012 con số này là 172 tỷ đồng, tuy nhiên nhìn vào giá trị tương đối có thể nhận thấy xu hướng tăng cường đầu tư vào ngành ngư nghiệp trong giai đoạn này với tỉ trọng đầu tư vào ngư nghiệp tăng từ 7,6% bình quân giai đoạn 2006-2010 lên 8,2% năm 2011 và 8,6% năm
2012 Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đầu tư vào ngành thủy sản còn rất chậm và tập trung chủ yếu vào phát triển cơ sở hạ tầng thủy sản như tập trung đầu
tư xây dựng các quy mô cảng cá Lạch Hới, Hòa Lộc, Lạch Bạng, Hoằng Trường, Quảng Nham Bên cạnh đó thì tỉnh cũng đang tích cực triển khai nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và xã hội để chuẩn bị các phương án đầu tư xây dựng một số cảng cá ở Nga Sơn, Tĩnh Gia, Hoàng Hóa Công trình âu trú bão Lạch Hới đã hoàn thành với quy mô tương đối lớn, có thể chứa hơn 700 tàu và hiện đang chuẩn bị đầu
tư một số âu trú bão Lạch Bạng , Kênh De Hệ thống các khu chợ cá đầu mối ở Hậu Lộc, Tĩnh Gia, Nga Sơn cũng đang được tích cực triển khai
Mặt khác, công tác nuôi trồng thủy sản cũng đang được tỉnh quan tâm và khuyến khích, hỗ trợ sản xuất qua các dự án Nuôi tôm nước lợ(2006),dự án cá lúa (2009) ,đã đầu tư một số dự án kết hợp giữa trồng trọt, chăn nuôi với nuôi trồng
Trang 31thủy sản ở các huyện Hà Trung, Nông Cống, nuôi tôm nước lợ ở Quảng Chính - Quảng Xương
Tỉnh cũng đã chú trọng đầu tư nâng cấp mở rộng một số cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu, khuyến khích các cơ sở chế biến tư nhân phát triển, xay dựng các trung tâm phát triển thủy sản, trung tâm con giống mới nhằm đáp ứng nhu cầu con giống cho các hộ ngư nghiệp
Bảng 1.13 Chỉ tiêu đầu tư phát triển ngành thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa giai đoạn 2006-2012
Đơn vị: 1000Tấn,1000 Ha
Thủy sản 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng sản lượng 73,5 79,2 83,9 91,7 98,12 101,4 105,3 109,2
Nguồn : Chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp 2005-2012, Sở NN&PTNT
•Các lĩnh vực khác như khuyến nông, đào tạo
Tổ chưa phân bổ nguồn vốn thực hiện 25 đề tài, dự án nhiệm vụ KHCN cấp cơ sở; 52 nhiệm vụ KHCN cấp tỉnh Ngoài ra, một số đơn vị tham gia thực hiện các nhiệm vụ KHCN cấp bộ ở các lĩnh vực chăn nuôi, lâm nghiệp
Triển khai chương trình nghiên cứu chọn tạo giống lúa mới, riêng năm 2012 sản xuất được 5,3 tấn giống mẹ lúa lai F1, 3 tấn giống bố lúa lai F1 và khảo nghiệm vùng sinh thái 40 ha; sản xuất 1.400 tấn hạt giống lúa lai F1
1.2.4 Đầu tư phát triển nông nghiệp theo vùng
Trong giai đoạn 2006-2012 tỉnh Thanh Hóa tích cực thực hiện việc đầu tư nhằm cải thiện hạ tầng cơ sở cho các vùng đặc biệt là vùng miền núi- trung du Cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện phát triển sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng
Bảng 1.14 Giá trị đầu tư phát triển nông-lâm-ngư nghiệp theo vùng
Trang 32Đơn vị : tỉ đồng, %
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Miền núi 432.912 25,32 437.393 27,40 367.334 28,39Đồng bằng 748.562 45,03 660.444 43,25 472.462 36,54Ven biển 493.126 29,21 468.387 29,34 453.661 35,50
Nguồn: Báo cáo chi tiết giao vốn đầu tư phát triển năm 2006-2012
1.2.4.1 Khu vực miền núi
Giai đoạn 2006-2010 đánh dấu bước chuyển biến lớn trong đầu tư vào khu vực miền núi với mức tăng giá trị đầu tư xấp xỉ 7 lần từ 72 tỉ năm 2006 lên tới 453
ti năm 2010 và xu hướng này tiếp tục kéo dài đến năm 2011 với giá trị đầu tư là 437
tỉ đồng điều này được giải thích là do từ năm 2007 tỉnh thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường và chương trình 135 hỗ trợ phát triển các tỉnh miền núi với giá trị đầu tư hàng năm khoảng 200 tỉ đồng và phát triển
và bảo vệ rừng tại các địa phương như Ngọc Lặc,Quan Hóa,Lang Chánh đồng thời sắp xếp lại dân cư các tỉnh miền núi chịu ảnh hưởng của các dự án kè sông, suối Đến hết năm 20011 tỉnh thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở đường xá tới các huyện vùng cao kết hợp với đường cứu hộ cứu nạn và các dự án thực hiện định canh định
cư cho vùng dân tộc thiểu số Trong những năm 2006-2008 tỉnh thực hiện quy hoạch thủy lợi các tinh miền núi và bắt đầu đưa vào thực hiện một số công trình thủy lợi ở Cẩm Thủy, Lang Chánh như kè chống sạt lở bờ sông Mã ở Cẩm Vân, Cẩm Giang, cụm hồ Cẩm Phong
Đến cuối năm 2011 tỉnh cơ bản hoàn thành chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch ở tất cả các huyện miền núi khó khăn Xây dựng trại ươm giống cây trồng lâm nghiệp lại các huyện Mường Lát, Ngọc Lặc, xây dựng trạm bảo vệ thực vật ở hầu hết các huyện,xây dựng cơ sở hạ tầng vường quốc gia bến en, quy hoạch trồng cây ăn quả vùng đồi núi Thanh Hóa, triển khai đầu tư mở rộng diện tích trồng luồng
Khu vực ven biển: tỉ trọng vốn đầu tư nhìn chung ổn định và có xu hướng tăng
trong những năm gần đây từ 21,9% đồng giai đoạn 2006-2009 lên tới 31,5% năm
2012 Do yếu tố kinh tế xã hội nói chung gặp rất nhiều khó khăn cùng với đó là giảm ngân sách đầu tư vào nông nghiệp của trung ương nên giá trị đầu tư lại có xu hướng giảm qua các năm Trong giai đoạn 2006-2012 phần lớn ngân sách tập trung
Trang 33đầu tư xây dựng, hoàn thiện hệ thống đê biển và hệ thống đê hạ lưu sông trên địa bàn các huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia, Nga Sơn và Năm 2009-2011 tỉnh đầu tư thực hiện dự án nuôi tôm trên cát và nuôi trồng thủy sản dưới đê, hệ thống công trình thủy lợi đầu mối nuôi trồng thủy sản nước lợ và trong những năm gần đây tỉnh tăng cường đầu tư phát triển cơ sợ hạ tầng thủy sản ở các huyện ven biển với mức vốn đầu tư hàng năm khoảng 40 tỷ đồng Các chương trình giống cây trồng thủy sản ,các chương trình kết hợp nuôi trồng và chế biến thủy sản bước đầu được đưa vào thực hiện tại một số huyện như Nga Sơn, Hậu Lộc Mặc dù vậy nguồn vốn đầu tư vẫn chưa trực tiếp vào khu vực sản xuất, hỗ trợ người dân trong việc cung cấp nguồn giống, thức ăn chăn nôi và xay dựng cơ sở sản xuất kinh doanh mà chủ yếu vẫn tập trung nhiều vào xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở.
1.2.4.2 Khu vực đồng bằng
Đây là khu vực được tập trung nguồn vốn nhiều nhất trong giai đoạn vừa qua
mà bởi việc đầu tư phát triển hoàn thiện hệ thống đê điều Trong đó một số huyện được đầu tư trọng điểm như huyện Yên Định, Nông Cống, Thọ Xuân , bên cạnh đó tỉnh cũng đã đầu tư vào nghiên cứu phát triển các giống cây trồng vật nuôi mới, hỗ trợ thực hiện chương trình cánh đồng nhiều mẫu ở một số địa phương bước đầu thu được kết quả khả quan Khuyến khích hình thành và phát triển vùng sản xuất rau an toàn tập trung trên 2.000ha phục vụ các đô thị và khu công nghiệp lớn, vùng sản xuất rau quả xuất khẩu 5.000ha gắn với các nhà máy chế biến
Nhìn chung mặc dù vốn đầu tư vào khu vực đồng bằng có giá trị lớn tuy nhiên hiệu quả đạt được chưa cao, hệ thống đê điều được chú trọng xây dựng nhưng vẫn chưa hoàn thiện, và phải bảo dưỡng và sửa chữa hàng năm, điều này đã gây cản trở cho việc đầu tư phát triển hỗ trợ quá trình cơ giới hóa trong sản xuất, hỗ trợ xây dựng chuồng trại cho sản xuất tập trung, hệ thống kho bãi, cơ sở chế biến chế biến nông-lâm-thủy sản còn chưa được chú trọng đầu tư phát triển
1.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH THANH HÓA
1.3.1 Kết quả đạt được
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm giai đoạn 2005-2012 đạt 3,62%, trong đó nông nghiệp tăng trung bình 2,76% , lâm nghiệp 6,99% và thủy sản là 7,00%
Bảng 1.15 GO ngành nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2005-2012 (Giá 1994)
Trang 34Đơn vị: tỷ đồng
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng giá
trị sản
xuất
22.676,9 26.529,1 30.141,
3 34.398,0 39.102,8 45.884,0 53.428,0 61.894,3
nghiệp
Nguồn: Chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội Thanh Hóa giai đoạn 2005-2012
GDP khu vực nông lâm ngư nghiệp cũng có tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005-2012 là 2,51% trong đó nông nghiệp tăng bình quân 1,64% , lâm nghiệp 5,74% và thủy sản là5,66%
Bảng 1.16 GDP ngành nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2005-2012 (Giá 1994)
Đơn vị : Tỷ đồng
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng GDP(giá
Nguồn: Chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội Thanh Hóa giai đoạn 2005-2012
1.3.1.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành nông-lâm-thủy sản
Năm 2005, nông nghiệp chiếm tỉ trọng 78,8%, lâm nghiệp 6,6%, và thủy sản chiếm 12,5% Đến năm 2012, nông nghiệp chiếm tỉ trọng 72% , lâm nghiệp 9,4%
và thủy sản 18,6%
Có thể thấy xu hướng giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, tăng dần tỉ trọng ngành thủy sản Điều này được giải thích bởi giá trị gia tăng từ việc nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản cao hơn rất nhiều so với trồng trọt và chăn nuôi Đây là quá trình chuyển dịch cơ cấu mang tính tích cực tuy nhiên quá trình chuyển đổi còn rất chậm giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi ) vẫn còn chiếm tỉ trọng lớn trong ngành nông, lâm , thủy sản ở Thanh Hóa
Trang 35Bảng 1.17 Một số kết quả sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản
Nguồn: Niên giám Thống kê Thanh Hoá 2010 ;Báo cáo của Sở KH&ĐT
Những phân tích trên đã cho thấy Thanh Hóa vẫn là một tỉnh thuần nông với năng suất lao động chưa cao, tập trung chủ yếu vào khu vực trồng trọt và chăn nuôi
Tỉ trọng lâm nghiệp và ngư nghiệp vẫn còn chiếm một phần rất hạn chế trong cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp Đây là một cơ cấu kinh tế chưa hợp lí vì Thanh Hóa một tỉnh ven biển có rất nhiều tiềm năng trong ngành nuôi trồng khai thác và chế biến thủy sản và 2/3 diện tích đất là đồi núi thì việc đầu tư phát triển kinh tế rừng và kinh tế biển nên được xem là trọng tâm phát triển ngành nông nghiệp Vì vậy, tỉnh nên tập trung các nguồn lực xã hội để đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng thủy sản , đồng thời có kế hoạch quy hoạch chi tiết đầu tư phát triển ngành lâm nghiệp, tận dụng lợi thế so sánh của tỉnh để phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế xã hội nói chung
1.3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu nội ngành nông-lâm-thủy sản
•Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa phát triển khá ổn định, đóng góp quan trọng việc đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân Đạt tốc độ tăng trưởng bình quân gia đoạn 2006-2010 là 5,6%/năm, giai đoạn 2010- 2012 đạt trung bình 4,7%/năm Trong đó, ngành chăn nuôi phát triển khá cao (9,5%/năm), là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch cơ cấu từ trồng trọt sang chăn nuôi Tỉ lệ trồng trọt giảm dần qua các giai đoạn, giảm từ 80,76% năm
2000 xuống còn 71,10% năm 2005 và 64,0% năm 2012 Cùng với đó là sự tăng lên của ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ nông nghiệp, trong giai đoạn 2005-2010 tốc