Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế hội nhập, thị trường viễn thông ngày càng được mở rộng và thu hút sự quan tâm không nhỏ của xã hội.Trong xu hướng đó, với lợi thế về sự đa dạng của sản phẩm cũng như cách thức kinh doanh hợp lý, FPT Telecom đã tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc không chỉ trong lĩnh vực viễn thông trong nước và nước ngoài.Tuy nhiên, song hành với sự phat triển cũng có những vấn đề chưa hợp lý khiến sự tối đa hóa về lợi ích của doanh nghiệp vẫn chưa đạt được. Thêm vào đó, là tác động của sự suy thoái nền kinh tế toàn cầu đã khiến cho FPT Telecom gặp một số khó khăn nhất định để phát triển kinh doanh dịch vụXuất phát từ điều đó, em đã chọn đề tài “Phân tích thực trạng tài chính của công ty cổ phần viễn thông FPT” để có cái nhìn cụ thể trong hoạt động tài chính của công ty. Từ đó, rút ra những điều đã và chưa làm được. Đồng thời, có những phương án để cải thiện tình hình tài chính của công ty trong những năm tới.Đề tài của em bao gồm 3 chương:Chương I: Vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệpChương II: Phân tích thực trạng tài chính của công ty cổ phần viễn thông FPT (FPT Telecom)Chương III: Một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính của công ty viễn thông FPTCùng với sự giúp đỡ của PGS.TS. Nguyễn Thị Bất và Ban Tài chính Kế toán của công ty cổ phần viễn thông FPT, em đã hoàn thành bài báo cáo này. Tuy vậy, do thời gian và lượng kiến thức còn hạn chế, nên bài báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vây, rất mong sự góp ý của các thầy cô để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn nữa.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế hội nhập, thịtrường viễn thông ngày càng được mở rộng và thu hút sự quan tâm không nhỏcủa xã hội
Trong xu hướng đó, với lợi thế về sự đa dạng của sản phẩm cũng nhưcách thức kinh doanh hợp lý, FPT Telecom đã tạo cho mình một chỗ đứngvững chắc không chỉ trong lĩnh vực viễn thông trong nước và nước ngoài
Tuy nhiên, song hành với sự phat triển cũng có những vấn đề chưa hợp
lý khiến sự tối đa hóa về lợi ích của doanh nghiệp vẫn chưa đạt được Thêmvào đó, là tác động của sự suy thoái nền kinh tế toàn cầu đã khiến cho FPTTelecom gặp một số khó khăn nhất định để phát triển kinh doanh dịch vụ
Xuất phát từ điều đó, em đã chọn đề tài “Phân tích thực trạng tài chínhcủa công ty cổ phần viễn thông FPT” để có cái nhìn cụ thể trong hoạt động tàichính của công ty Từ đó, rút ra những điều đã và chưa làm được Đồng thời,
có những phương án để cải thiện tình hình tài chính của công ty trong nhữngnăm tới
Đề tài của em bao gồm 3 chương:
Chương I: Vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương II: Phân tích thực trạng tài chính của công ty cổ phần viễnthông FPT (FPT Telecom)
Chương III: Một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính của công tyviễn thông FPT
Cùng với sự giúp đỡ của PGS.TS Nguyễn Thị Bất và Ban Tài chính
Kế toán của công ty cổ phần viễn thông FPT, em đã hoàn thành bài báo cáonày Tuy vậy, do thời gian và lượng kiến thức còn hạn chế, nên bài báo cáokhông tránh khỏi những thiếu sót Vì vây, rất mong sự góp ý của các thầy cô
để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2CHƯƠNG I VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1 TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp (TCDN).
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những mối quan hệ về mặt giá trịđược biểu hiện bằng tiền trong một doanh nghiệp và giữa nó với các chủ thể cóliên quan ở bên ngoài, mà trên cơ sở đó giá trị của doanh nghiệp được tạo lập
Một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải cóvốn Dù được hình thành từ nguồn nào thì quá trình hoạt động kinh doanh(được hiểu từ góc độ tài chính) cũng chính là quá trình phân phối vốn để tạolập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu của doanhnghiệp Cụ thể là luôn diễn ra sự vận động của các nguồn tài chính, tạo ra cácluồng chuyển dịch giá trị mà biểu hiện của nó là các luồng tiền tệ đi vào hoặc
đi ra khỏi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Gắn liền với quá trình này làcác mối quan hệ tài chính phản ánh bản chất của tài chính doanh nghiệp baogồm: các mối quan hệ với Nhà nước, với thị trường tài chính, với các doanhnghiệp khác và chính trong nội bộ của doanh nghiệp Tất cả các quan hệ kinh
tế trên tuy có nội dung kinh tế khác nhau nhưng chúng đều là các quan hệkinh tế dưới hình thức giá trị và phát sinh trong quá trình hình thành và sửdụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho hoạt động kinhdoanh có hiệu quả Qua đó, doanh nghiệp có cơ hội để đứng vững, huy độngvốn và phát triển thị trường
Nói cách khác, về cơ bản, tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan
hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập
Trang 3và sử dụng các quỹ tiên tệ trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định.
1.2 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm
Phân tích tài chính là việc sử dụng những hiểu biết về kinh tế, nhữngphương pháp, báo cáo tài chính và các thông tin khác nhằm đưa ra nhữngđánh giá, nhận xét, kết luận chính xác về thực trạng tài chính của doanhnghiệp, mức độ rủi ro, khả năng sinh lợi, cơ hội đầu tư… để thông qua nhữngđánh giá đó, đưa ra những quyết định quản lý, đầu tư, lập kế hoạch hay điềuchỉnh tình hình tài chính phù hợp để đem lại lợi ích cao nhất cho doanhnghiệp
Với các nhà phân tích, điều quan trọng nhất chính là đánh giá mức độrủi ro và khả năng sinh lợi mà biểu hiện thông qua khả năng thanh toán, sựcân đối hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và vốn huy động từ bên ngoài, hay việc sửdụng đòn bảy tài chính Trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những
dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng củadoanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để
dự đoán tài chính, là dựa trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, phântích các chỉ tiêu tài chính, nhận định về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trang 4- Với những nhà quản lý doanh nghiệp:
Mối quan tâm hàng đầu của những nhà quản lý doanh nghiệp chính làlàm như thế nào để tối đa hóa lợi nhuận và luôn cân đối giữa vốn chủ sở hữu
và nguồn vốn huy động từ bên ngoài Bởi, lợi nhuận càng cao càng khẳngđịnh được năng lực tài chính của doanh nghiệp Một doanh ngiệp hoạt động
mà không có lợi nhuận hoặc liên tục bị lỗ thì khả năng tồn tại của doanhnghiệp là rất thấp Mặt khác, nếu doanh nghiệp dù làm ăn có lãi nhưng khôngbiết cân đối các khoản nợ , để các khoản nợ cùng đáo hạn một lúc trong khikhông có khả năng thanh toán cũng có nguy cơ bị phá sản
Trên cơ sở phân tích tài chính mà nội dung chủ yếu là phân tích khảnăng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khảnăng sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nóichung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Từ đó,những nhà quản lý có thể lựa chọn được loại hình sản xuất kinh doanh phùhợp, sử dụng nguồn vốn như thế nào và lên kế hoạch cho các hoạt động ngắn,dài hạn Đồng thời, phân tích tài chính còn là công cụ để kiểm soát các hoạtđộng của doanh nghiệp
- Với cơ quan Nhà nước:
Với những doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước (dặc biệt là cácdoanh nghiệp lớn), mỗi năm, kiểm toán Nhà nước dựa vào các báo cáo tàichính để kiểm tra, kiểm soát sự minh bạch trong tài chính của các doanh
Trang 5nghiệp, và có sự can thiệp kịp thời khi có dấu hiệu không tốt về tài chính củadoanh nghiệp để tránh những tổn thất không đáng có.
Với những doanh nghiệp nhỏ, hay không có vốn đầu tư của Nhà nước,các cơ quan Nhà nước cũng thực hiện phân tích để đánh giá, kiểm tra, kiểmsoát các hoạt động kinh doanh xem doanh nghiệp có tuân thủ các quy địnhpháp luật hay không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành Đồng thời, đâycũng là cơ sở để các cơ quan Nhà nước xác định mức đóng thuế cho cácdoanh nghiệp
- Với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp:
Đối với những nhà đầu tư, cái họ quan tâm nhất chính là mức độ rủi ro
và mức sinh lãi từ doanh nghiệp Vì vậy, các thông tin về kết quả kinh doanh,mức độ tiềm năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp luôn được đặtlên hàng đầu
Trên cơ sở phân tích tài chính từ các hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp qua các năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợicủa doanh nghiệp từ đó đưa ra những quyết định phù hợp : có nên đầu tư hayrút vốn đầu tư
- Với những người cho doanh nghiệp vay vốn:
Việc phân tích tài chính chính là cơ sở chính xác nhất để ngân hàng haycác nhà cung cấp tín dụng đánh giá về khả năng hoàn trả nợ của các doanhnghiệp
Các ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng luôn xem xét về khả năngthanh toán cả về ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp
Đồng thời, họ cũng luôn chú ý tới lượng tiền mặt cũng như các khaonr có thểchuyển thành tiền để đánh giá khả năng thanh toán nợ tức thời kh đến hạncủa doanh nghiệp Ngoài ra, một doanh nghiệp có nguồn vốn chủ sở hữu hợp
Trang 6lý và an toàn cũng luôn được ưu tiên bởi đó chính là số tiền đảm bảo hoànvốn trong trường hợp rủi ro cho các nhà cho vay tín dụng
1.3 Các phương pháp sử dụng để phân tích tài chính
1.3.1 Phương pháp so sánh:
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, phương pháp so sánh luôn làphương pháp được sử dụng nhiều nhất Có ba nguyên tắc cơ bản khi sử dụngphương pháp này đó là lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh, điều kiện so sánh vàcách so sánh Tùy theo tính chất sử dụng của mỗi doanh nghiệp sẽ có cáchthức và các tiêu chí chọn lựa khác nhau sao cho phù hợp nhất
Mục đích của phương pháp so sánh này là:
- So sánh giữa thực tế đạt được với kế hoạch đặt ra để đánh giá mức độphấn đấu hoàn thành kế hoạch của doanh nghiệp
- So sánh giữa kết quả kỳ này với kỳ trước để thấy rõ tốc độ và xuhướng phát triển của doanh nghiệp
- So sánh giữa kết quả của doanh nghiệp với các đơn vị khác có cùngloại hình, quy mô hoạt động và so sánh giữa kết quả của doanh nghiệp với kếtquả trung bình của ngành để biết mức độ tiên tiến hay lạc hậu của từng đơnvị
Người ta có thể tiến hành so sánh theo chiều dọc hoặc theo chiềungang So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng và mối quan hệ của các
bộ phận trong tổng thể, so sánh theo chiều ngang để đánh giá sự biến đổi củacác chỉ tiêu Sử dụng kết hợp hai kỹ thuật này cho phép chúng ta xác định đầy
đủ được tính xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu đánh giá Tuy nhiên khi
so sánh cũng cần phải lưu ý hai điểm, đó là: phải có ít nhất hai chỉ tiêu để sosánh và các chỉ tiêu so sánh phải thống nhất về nội dung kinh tế, tiêu chuẩnbiểu hiện cũng như phương pháp tính toán
1.3.2 Phương pháp loại trừ
Trang 7Là phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đếnkết quả hoạt động kinh doanh, bằng cách xác định mức độ ảnh hưởng này sẽloại trừ được một số nhân tố ít ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanhnghiệp.
1.3.3 Phương pháp Dupon
Phương pháp phân tích Dupon là một kỹ thuật phân tích bằng cách chia
tỷ số ROA và ROE thành các bộ phận có liên quan tới nhau để đánh giá tácđộng của từng bộ phận lên kết quả cuối cùng Kỹ thuật này thường được sửdụng đối với nội bộ của các doanh nghiệp để có cái nhìn cụ thể và xem xétquyết định nên cải thiện tình hình tài chính doanh nghiệp bằng cách nào
Kỹ thuật Dupon phân tích dựa vào hai phương trình sau:
ROA = Lãi gộp x Vòng quay tổng tài sản
ROE = Lãi gộp x Vòng quay tổng tài sản x Hệ số sử dụng vốn cổ phần
2 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
2.1 Các bước tiến hành phân tích tài chính
- Thu thập thông tin
Muốn phân tích tài chính chính xác nhất thì việc thu thập thông tin từmọi nguồn như: thông tin nội bộ, thông tin từ các đối tác của doanh nghiệp,thông tin bên ngoài là điều rất cần thiết Điều quan trọng là những thông tin
đó phải chính xác, minh bạch và cập nhật Thông qua các thong tin thu thậpđược, nhà phân tích mới có cái nhìn khách quan và chính xác về tình hình tàichính thực tế của doanh nghiệp bởi có những thông tin mà các báo cáo tàichính không khai thác được
- Xử lý thông tin
Có rất nhiều nguồn thông tin có thể thu thập được xung quanh mộtdoanh nghiệp, nhưng luồng thông tin đó có xác thực và hữu ích hay không
Trang 8phụ thuộc vào cách xử lý thông tin của các nhà phân tích Từ những thông tinthu thập được, các nhà phân tích đưa ra cách nhìn nhận đánh giá qua việc sắpxếp hợp lý, dựa vào các phương pháp tài chính để loại bỏ những luồng thôngtin không hữu ích, thu thập thêm nếu thấy cần thiết phục vụ cho quá trìnhkiểm tra và dự đoán kết sau này.
- Dự đoán và ra quyết định
Căn cứ vào các thong tin đã thu thập được, những nhà phân tích đưa ra
dự đoán của mình về tình hình tài chính của doanh nghiệp, hướng đầu tư, sảnxuất và mở rộng trong thời gian tới Đồng thời, ra những quyết định hợp lý đểnâng cao hiệu quả kinh doanh và nguồn lợi cho doanh nghiệp
2.2 Nội dung phân tích tài chính
2.2.1 Phân tích cơ cấu vốn và nguồn vốn thông qua bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổngquát toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo hai cách đánh giá là tài sản
và nguồn hình thành tài sản tài thời điểm lập báo cáo, các chỉ tiêu trên bảngđược phản ánh dưới hình thức giá trị và theo nguyên tắc cân đối là tổng tàisản bảng tổng nguồn vốn
Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng cân đối số dư các tàikhoản kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý, được chialàm hai phần:
- Phần tài sản phản ánh giá trị tài sản của doanh nghiệp hiện có tới thờiđiểm lập báo cáo đang tồn tại dưới tất cả các hình thái và trong tất cả các giaiđoạn các khâu của quá trình hoạt động kinh doanh
Về mặt kinh tế các chỉ tiêu thuộc phần tài sản phản ánh quy mô và kếtcấu các loại tài sản như tài sản bằng tiền, tài sản cố định, tài sản tồn kho, cáckhoản đầu tư tài chính, các khoản phải thu
- Phần nguồn vốn phản ánh các nguồn hình thành nên các loại tài sản
Trang 9của doanh nghiệp hiện có như các nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn đi vay,nguồn vốn chiếm dụng Tỷ lệ và kết cấu của từng nguồn vốn trong tổng sốvốn hiện có phản ánh tính chất hoạt động, thực trạng tình hình tài chính củadoanh nghiệp.
Về mặt kinh tế, số liệu phần nguồn vốn thể hiện quy mô, nội dung vàđặc điểm sở hữu của các nguồn vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng tronghoạt động kinh doanh
Qua bảng cân đối kế toán, ta tiến hành so sánh tổng số tài sản cuối năm
và đầu năm để đánh giá sự biến động về quy mô doanh nghiệp, so sánh tổngcộng nguồn vốn cuối năm và đầu năm để đánh giá mức độ huy động vốn đảmbảo cho quá trình sản xuất kinh doanh Tiếp theo ta xác định tỷ trọng của từngloại vốn, nguồn vốn để đánh giá việc phân bổ vốn và nguồn vốn cho các khâu,các hoạt động có hợp lý hay không, mặt khác thông qua việc so sánh các chỉtiêu cả về số tuyệt đối và tương đối ở đầu năm và cuối kỳ ta sẽ đánh giá được
sự biến động của từng loại vốn, nguồn vốn là tăng, giảm hay không thay đổi,đây là những thông tin cần thiết để đánh giá thực trạng tài chính của doanhnghiêp Ví dụ đối với doanh nghiệp sản xuất vốn cố định thường chiếm tỷtrọng lớn nhưng nếu ở doanh nghiệp thương mại thì xu hướng trên lại bị coi làkhông hợp lý Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng lớn trong tổngnguồn thì kết luận doanh nghiệp chủ động về mặt tài chính, ngược lại chứng
tỏ doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào bên ngoài về mặt tài chính Đi sâu vàotừng loại tài sản, nguồn vốn:
Phân tích cơ cấu vốn
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp là thành phần và tỷ trọng của các bộ phậncấu thành tổng số vốn trong doanh nghiệp, do đó khi xem xét sự biến độngcủa cơ cấu vốn là đi xem xét sự biến động của các bộ phận cấu thành này quacác thời kỳ cả về số tuyệt đối và số tương đối
Trang 10Qua bảng cân đối kế toán ta tính toán được tài sản lưu động và đầu tưngắn hạn cũng như tính được tài sản cố định và đầu tư dài hạn tăng hay giảm.Nhìn chung theo xu hướng phát triển sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất,đối với tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn thì tăng về giá trị tuyệt đối nhưnggiảm về tỷ trọng trong tổng giá trị tài sản được coi là hợp lý bởi vì điều nàythể hiện quy mô, giá trị tài sản lưu động tăng lên phù hợp với sự gia tăng củatài sản cố định, thể hiện trình độ tổ chức sản xuất cao, công tác dự trữ vật liệuhợp lý của doanh nghiệp Xét về khía cạnh tài chính thì đây chính là sự tiếtkiệm vốn lưu động.
Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Cơ cấu nguồn vốn là thành phần và tỷ trọng của các loại nguồn vốntrong tổng nguồn của doanh nghiệp Vì vậy phân tích cơ cấu nguồn vốn và sựbiến động là xem xét kết cấu của từng bộ phận cấu thành cũng như cả sự biếnđộng về quy mô lẫn tỷ trọng của các bộ phận này qua các thời kỳ hoạt động
2.2.2 Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua việc phân tích diến biến nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được biểu hiện dưới hai hình thái :tài sản và nguồn hình thành vốn Trong quá trình tiến hành các hoạt động kinhdoanh thì các loại tài sản và các nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp luônbiến động Và tại mỗi thời điểm khác nhau thì sự biểu hiện của các loại tài sản
và nguồn vốn cũng không giống nhau.Vì vậy việc phân tích diễn biến sự thayđổi của các loại tài sản và nguồn vốn trong kỳ đã qua là rất quan trọng và hếtsức cần thiết, nó sẽ cho biết doanh nghiệp đang phát triển hay gặp khó khănbởi vì mục đích chính của công việc này là trả lời cho câu hỏi: vốn hình thành
từ đâu và được sử dụng vào việc gì, quá trình tạo lạp và sử dụng vốn củadoanh nghiệp có hợp lí và hiệu quả hay không Từ đó giúp doanh nghiệp đưa
ra các quyết định tài chính đúng đắn cho các kỳ sau góp phần nâng cao hiệu
Trang 11quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Để phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn người ta tiến hànhtổng hợp sự thay đổi của các nguồn vốn và các khoản sử dụng vốn của doanhnghiệp trên bảng cân đối kế toán giữa hai thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ Mỗimột sự thay đổi của từng khoản mục trong bảng cân đối kế toán đều đượcphản ánh vào một trong hai cột: cột diễn biến nguồn vốn hoặc diễn biến sửdụng vốn theo cách thức sau:
Trên cột diễn biến nguồn vốn: phản ánh các trường hợp tăng của nguồnvốn hoặc giảm của tài sản
Trên cột diễn biến sử dụng vốn: phản ánh các trường hợp tăng của tàisản và giảm của nguồn vốn
Sau đó kết hợp với các tài liệu khác có liên quan đến tình hình sản xuấtkinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo để phântích và đánh giá tính chất hợp lý của việc tổ chức nguồn vốn và tổ chức sửdụng vốn của doanh nghiệp trong kỳ đã qua
Như vậy thông qua việc phân tích sự biến động của vốn và nguồn vốnchúng ta có thể đánh giá được việc huy động các nguồn cũng như việc sửdụng, phân phối vốn trong từng khâu, từng loại tài sản, vốn của doanh nghiệptrong kỳ bị chiếm dụng hay ứ đọng như thế nào, trong kỳ doanh nghiệp cóđầu tư tài sản cố định hay máy móc thiết bị không và có đầu tư thì bằngnguồn nào, nợ của doanh nghiệp đã đến hạn phải thanh toán hay chưa, tất cảnhững thông tin đó để đưa chúng ta đi đến kết luận tình hình tài chính củadoanh nghiệp là sáng sủa hay đang có màn sương bao phủ để chúng ta có thểđưa ra các biện pháp khắc phục cho kỳ tới
2.2.3 Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh.
Trang 12Báo cáo kết quả hoạt đông kinh doanh là một bản báo cáo tài chínhtổng hợp phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loạicủa doanh nghiệp cũng như tình hình thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ củadoanh nghiệp đối với Nhà nước Số liệu trên báo cáo này cung cấp thông tintổng hợp về phương thức kinh doanh, việc sử dụng các tiềm năng vốn, laođộng, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của doanh nghiệp, và chỉ ra các hoạtđộng kinh doanh đó mang lại lợi nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn.
Nội dung của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể thay đổitheo từng thời kỳ phù hợp với yêu cầu quản lý nhưng lúc nào cũng phải phảnánh bốn nội dung cơ bản sau: doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng
và chi phí quản lý doanh nghiệp, lợi nhuận
Phân tích chỉ tiêu doanh thu
Doanh thu thuần là số tiền thu được từ việc bán các sản phẩm hàng hóadịch vụ sau khi đã chiết khấu đi các khoản giảm trừ (bao gồm giảm giá hàngbán, chiết khấu thương mại, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế gián thu) Do đó,khái niệm doanh thu được phân tích ở đây là doanh thu thuần
Nhìn chung khi doanh thu trong kỳ tăng cho thấy tình hình tiêu thụ củadoanh nghiệp trong kỳ này được đẩy mạnh hơn Tuy nhiên do doanh thuthuần được ghi nhận ngay cả khi khách hàng chưa thanh toán tiền hàng nênđiều này chỉ thực sự được coi là tốt nếu như khách hàng có khả năng đảm bảothanh toán các khoản nợ
Ngược lại đa phần các trường hợp doanh thu giảm đều là không tốt.Tuy nhiên tính tốt xấu của việc này cũng được cân nhắc trên nhiều mặt khác.Nếu doanh thu giảm do trong kỳ khách hàng giảm giá hàng bán, hoặc trả lạihàng với số lượng lớn thì đây là khuyết điểm của doanh nghiệp từ khâu sảnxuất, chỉ có sản phẩm không đảm bảo chất lượng mới bị trả lại Còn nếu như
Trang 13doanh thu kỳ này giảm so với kỳ trước là do doanh nghiệp chủ động khôngxuất hàng hóa nhằm chờ thời cơ thì điều này không hẳn là xấu, nó còn phụthuộc vào kết quả liệu doanh nghiệp có dự đoán đúng để trong tương lai cóthể bán hàng với giá cao hơn không.
Phân tích chỉ tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp.Bao gồm: lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt độngtài chính và lợi nhuận bất thường (lợi nhuận khác)
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh +Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính + Lợi nhuận khác – Thuế thu nhậpdoanh nghiệp
Qua so sánh nếu lợi nhuận kỳ này tăng so với kỳ trước thì đây đượcđánh giá là thành tích của doanh nghiệp, nếu giảm nhìn chung phản ánh chiếuhướng không tốt Do trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp, lợi nhuận từhoạt động kinh doanh thường chiếm tỷ trọng lớn nhất, vì thế mà sau khi nhậnđịnh khái quát sự biến động của lợi nhuận ta cần đi sâu phân tích lợi nhuận từhoạt đông sản xuất kinh doanh
2.2.4 Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua hệ thống chỉ tiêu tài chính đặc trưng.
Việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáotài chính mới chỉ cho ta những đánh giá mang tính khái quát mà chưa lột tảhết thực trạng tài chính doanh nghiệp Do đó người ta còn sử dụng các hệ sốtài chính đặc trưng cho mỗi doanh nghiệp ở từng thời điểm để giải thích thêmcác mối quan hệ tài chính
Có bốn nhóm chỉ tiêu tài chính đặc trưng bao gồm: các hệ số về khảnăng thanh toán, các hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản, cácchỉ số hoạt động, các chỉ tiêu hiệu quả
Trang 14 Các hệ số về khả năng thanh toán.
Tình hình tài chính doanh nghiệp có lành mạnh hay không thể hiện rõnhất qua khả năng thanh toán, do đó đây là các chỉ tiêu được nhiều ngườiquan tâm nên không thể không xem xét Bao gồm:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát.
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát biểu thị mối quan hệ giữa tổng tàisản hiện có của doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng nợ phải trả (baogồm các khoản nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, nợ trong hạn, nợ quá hạn) tại thờiđiểm tính toán Hệ số này phản ánh một đồng nợ của doanh nghiệp được đảmbảo bằng bao nhiêu đồng tài sản Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì kết luận khảnăng thanh toán của doanh nghiệp là tốt Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao thìcần phải xem xét thêm tại thời điểm tính toán doanh nghiệp còn quá nhiềuhàng tồn kho không tiêu thụ được hoặc không thể thu hồi các khoản phải thuhay không vì nếu như vậy thì lúc này hệ số thanh toán tổng quát cao khônghẳn là tốt, doanh nghiệp phải tăng chi phí bảo quản, tăng chi phí thu hồi nợ,vốn bị ứ đọng, lợi nhuận giảm Ngược lại trong trường hợp hệ số này nhỏ hơn
1 cho biết tại thời điểm tính toán doanh nghiệp không đảm bảo được khả năngthanh toán hết các khoản nợ nhưng không có nghĩa là báo hiệu sự phá sản củadoanh nghiệp
Thực tế, không phải tài sản nào của doanh nghiệp cũng có thể chuyểnđổi ngay thành tiền để thanh toán nợ cũng như trong tổng nợ của doanhnghiệp, không phải tất cả các khoản nợ đều đã đến hạn hoặc là nợ quá hạnphải thanh toán trong kỳ Vì vậy, chỉ tiêu này chỉ dùng để đánh giá một cáchchung nhất khả năng thanh toán, không thể dựa hoàn toàn vào nó để kết luận
Hệ số thanh toán tổng quát
Tổng tài sản
Nợ phải trả
=
Trang 15doanh nghiệp không có khả năng thanh toán hay có dấu hiệu phá sản.
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời.
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời biểu thị mối quan hệ giữa tài sảnlưu động và đầu tư ngắn hạn với các khoản phải nộp, phải trả, phải thanh toán
có kỳ hạn dưới một năm, các khoản nợ dài hạn đến hạn trả trong kỳ tính đếnthời điểm tính toán Hệ số này phản ánh mức độ đảm bảo của tài sản lưu động
và đầu tư ngắn hạn đối với các khoản nợ ngắn hạn Nếu hệ số này lớn hơn 1thì được coi là an toàn, nếu nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có thể rơi vào tìnhtrạng mất khả năng thanh toán Tuy nhiên tính chất hợp lý của hệ số này cònphụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào mà tài sản lưu độngchiếm tỷ trọng lớn thì hệ số này lớn và ngược lại, do đó khi xem xét hệ số nàycần thiết phải so sánh với hệ số trung bình của ngành Ngoài ra cũng cần phảilưu ý thêm rằng hệ số này mới chỉ phản ánh khả năng sẵn sàng trả nợ củadoanh nghiệp còn khi các khoản nợ tới hạn doanh nghiệp phải dùng tiền trả
nợ chứ không thể đem bất kỳ loại tài sản nào để thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số này phản ánh khả năng trả ngay các khoản nợ đến hạn của doanhnghiệp mà không tính đến vật tư hàng hóa là loại tài sản lưu động có khả năngchuyển đổi thành tiền kém nhất Nếu hệ số này lớn hơn 1 chứng tỏ doanhnghiệp thừa khả năng thanh toán đúng hạn các khoản nợ và đây là dấu hiệu về
sự lành mạnh tài chính của doanh nghiệp
Có thể nói hệ số khả năng thanh toán nhanh phản ánh trung thực nhất
Hệ số thanh tóan hiện thời
Tổng TSLĐ – HTKTổng nợ ngắn hạn
=
Trang 16khả năng thanh toán của doanh nghiệp tại thời điểm xác định Thông thường
hệ số này bằng 1 được coi là lý tưởng nhất vì như vậy doanh nghiệp có đủtiền mặt để thanh toán nợ ngay lập tức mà lại tránh được hiện tượng dư thừatiền mặt, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Nếu cả ba hệ số trên đều giảm dần và tiến gần đến 0 thì người ta có thểđánh giá được rằng doanh nghiệp đang mất dần khả năng thanh toán, lúc này
có thể khẳng định doanh nghiệp đang mất dần khả năng thanh toán, lúc này cóthể khẳng định doanh nghiệp đang có nguy cơ lâm vào tình trạng phá sản
Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn
Hệ số này phản ánh khả năng đảm bảo các khoản vay đầu tư xây dựng
cơ bản, trang bị tài sản cố định bằng giá trị TSCĐ được hình thành từ vốn vaychưa được thu hồi
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lợinhuận thu được từ các hoạt động kinh tế trong kỳ Do đó hệ số này phản ánhkhả năng thanh toán các khoản lãi vay từ lợi nhuận của doanh nghiệp Nóicách khác hệ số này cho biết nếu doanh nghiệp sử dụng hết lợi nhuận thuđược do việc sử dụng vốn tạo ra để trả các khoản lãi vay trong năm thì có thểđảm bảo quy mô trả nợ là bao nhiêu Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì có thể doanhnghiệp làm ăn có lãi, nếu hệ số này nhỏ hơn 1 phản ánh lợi nhuận thu đượckhông đủ để trả lãi vay, và đương nhiên trong trường hợp này doanh nghiệp
đã bị lỗ, uy tín của doanh nghiệp giảm sẽ làm cho doanh nghiệp khó có thể
=
Trang 17huy động vốn từ bên ngoài để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Các hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp luôn thay đổi
tỷ trọng các loại vốn và nguồn vốn nhằm đạt tới kết cấu tối ưu Nhưng kết cấunày luôn bị phá vỡ do tình hình đầu tư Vì vậy nghiên cứu cơ cấu vốn, nguồnvốn, tỷ suất tự tài trợ sẽ cung cấp cho các nhà quản trị một cái nhìn tổng quát
về sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp
Hệ số nợ
Hệ số nợ cho biết trong một đồng vốn kinh doanh có mấy đồng hìnhthành từ vay nợ bên ngoài Hệ số này phản ánh mức độ độc lập tài chính củadoanh nghiệp cũng như sự mạo hiểm của người quản lý doanh nghiệp trongviệc tổ chức nguồn vốn bởi vì hệ số nợ cao có khả năng khuyếch đại tỷ suấtlợi nhuận vốn chủ sở hữu nhưng rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặpphải cũng vì thế mà được nhân lên Thông thường đối với các chủ nợ thì tâm
lý của họ thích hệ số này thấp vì nó đảm bảo khả năng thu hồi các khoản chovay của họ cao hơn
Các chỉ số về khả năng hoạt động
Các chỉ số về khả năng hoạt động phản ánh tình hình sử dụng cácnguồn lực trong doanh nghiệp Bao gồm:
Số vòng quay hàng tồn kho
Hệ số này thể hiện số lần mà hàng tồn kho luân chuyển trong kỳ Nóicách khác nó cho biết cứ mỗi đồng vật tư hàng hóa trong kỳ đã tham gia luânchuyển và đã tạo ra được bao nhiêu đồng giá vốn hàng hóa Hệ số này được
Tổng tài sản
=
Vòng quay hàng tồn kho
Doanh thuGiá trị HTK
=
Trang 18đánh giá là càng cao càng tốt bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn khothấp nhưng vẫn đạt được doanh thu cao, thể hiện việc quản lý dự trữ vật tưthành phẩm hàng hóa của doanh nghiệp là tốt Ngược lại nếu
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho.
Số ngày tồn kho = Số ngày trong năm
Số vòng quay hàng tồn kho
Chỉ số này phản ánh thời gian cần thiết để vốn vật tư hàng hóa quayđược một vòng nên chỉ số này còn được gọi là kỳ luân chuyển vốn vật tư hànghóa Kỳ luân chuyển hàng tồn kho càng ngắn thì vòng quay hàng tồn khocàng nhanh, số vòng quay hàng tồn kho trong kỳ càng nhiều, vốn không bị ứđọng Ngược lại, số ngày này càng lớn và tăng dần thì doanh nghiệp cần xemxét lại công tác dự trữ vật tư, tiêu thụ hàng hóa
Kỳ thu tiền bình quân.
Kỳ thu tiền bình quân
Các chỉ số về khả năng sinh lời.
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả của toàn bộhoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không thể là chỉ tiêu duy nhất Điều nàyxuất phát từ nhiều nguyên nhân như: thứ nhất là do lợi nhuận là kết quả tàichính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố có sự bù trừ lẫnnhau;thứ hai là do điều kiện kinh doanh, điều kiện vận chuyển, điều kiện thị
Trang 19trường làm cho lợi nhuận doanh nghiệp thường không giống nhau; thứ ba là
do tính quy mô khác nhau mà có thể doanh nghiệp có lợi nhuận nhiều hơnnhưng chưa chắc đã làm ăn hiệu quả bằng doanh nghiệp có lợi nhuận thấphơn Do đó để đánh giá đúng đắn chất lượng hoạt động kinh doanh ngoài chỉtiêu lợi nhuận tuyệt đối người ta phải xem xét các chỉ tiêu tương đối giữa lợinhuận và doanh thu hoặc với các nguồn lực Các chỉ tiêu này được các nhàquản trị dùng làm cơ sở đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trongmột thời kỳ nhất định, là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh doanh và còn làmột luận cứ quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chínhtrong tương lai
T su t l i nhu n trên doanh thu.ỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ất lợi nhuận trên doanh thu ợi nhuận trên doanh thu ận trên doanh thu
Lợi nhuận trên doanh thu= Lợi nhuận ròng
Doanh thuChỉ tiêu này phản ánh trong kỳ cứ thực hiện được 100 đồng doanh thuthuần thì sẽ đem lại cho doanh nghiệp được bao nhiêu đồng lợi nhuận sauthuế Nhìn chung chỉ số này càng cao càng tốt, tuy nhiên để đánh giá đúngđắn cũng cần phân tích thêm liệu lợi nhuận tăng lên là do doanh nghiệp tiếtkiệm được chi phí, hạ giá thành hay là do nguyên nhân khách quan bên ngoàitác động như cầu tăng đột ngột, do chính sách của Nhà nước… Ngoài ra khiphân tích cũng phải so sánh với chỉ tiêu trung bình của ngành, nếu mức tỷsuất lợi nhuận trên doanh thu của doanh nghiệp thấp hơn mức trung bình củangành thì cần phải xem xét lại các biện pháp quản lý nhằm giảm chi phí kinhdoanh, tăng thêm lợi nhuận hoặc xem xét lại khâu định giá tiêu thụ sản phẩm
Tỷ số sinh lợi căn bản
Tỷ số sinh lợi căn bản= EBIT
Tổng tài sản
Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lợi căn bản của công ty, điều đó có
Trang 20nghĩa là mức sinh lợi này hoàn toàn không tính đến tác động của thuế hay đònbẩy tài chính Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lợi trước thuế và lãi cho nênthường được sử dụng để so sánh khả năng sinh lợi trong trường hợp các công
ty, doanh nghiệp có thuế thu nhập và mức độ sử dụng nợ khác nhau
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA)
ROA = Lợi nhuận ròng
Tổng tài sảnROA (tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản) phản ánh và đo lường khả năngsinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp Cùng với ROE, ROA là tỷ sốđược sử dụng chủ yếu khi xét về khả năng sinh lợi của mỗi doanh nghiệp
Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu
ROE đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn, chính vì vậy đây làchỉ tiêu luôn được các nhà đầu tư quan tâm
trưởngCác tỷ số tăng trưởng cho thấy triển vọng phát triển của công ty trongdài hạn Do vậy, nếu đầu tư hay cho vay dài hạn người ta thường quan tâmnhiều hơn đến tỷ số này Phân tích triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp
có thể xem xét tới hai tỷ số sau:
Tỷ số lợi nhuận tích lũy
Tỷ số lợi nhuận tích lũy = Lợi nhuận tích lũy
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ số này đánh giá mức độ sử dụng lợi nhuận sau thuế để tích lũy cho mụcđích tái đầu tư Vì vậy, tỷ số này cho thấy được triển vọng phát triển của
ROE
=
Lợi nhuận ròngVốn chủ sở hữu
Trang 21doanh nghiệp trong tương lai
là chỉ tiêu đánh giá khả năng tăng trưởng lành mạnh của mỗi doanh nghiệp
2.3 Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp với việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Mục tiêu cuối cùng của mỗi doanh nghiệp là lợi nhuận, là sự tăngtrưởng và phát triển Song kết quả này lại là bài toán không hề đơn giản bởi
nó đòi hỏi doanh nghiệp phải giải quyết được rất nhiều các mục tiêu ở nhiềukhâu, từ nghiên cứu thị trường tới tổ chức sản xuất rồi xúc tiến tiêu thụ Thực
tế thì doanh nghiệp phải trả lời không ít các câu hỏi cũng như tổ chức thựchiện câu trả lời đó:
- Trước hết là đầu tư vào đâu và như thế nào là hiệu quả, hợp pháp vừaphù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp vừa đáp ứng được nhu cầu thịtrường đang cần Đây chính là việc doanh nghiệp tham gia đánh giá, lựa chọncác dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh: trên góc độ tài chính cần xem xéthiệu quả tài chính của dự án tức là xem xét, tính toán xem doanh thu khi thựchiện dự án có đủ bù đắp chi phí bỏ ra và mang lại một phần lợi nhuận mongmuốn cho doanh nghiệp hay không Quá trình phân tích lựa chọn các dự ántối ưu không phải chỉ xem xét các dự án có mức sinh lời cao mà còn phảiđánh giá mức độ rủi ro của dự án và quan trọng hơn cả là xem xét việc sửdụng vốn đầu tư như thế nào để đảm bảo khả năng cạnh tranh cũng như sự tồn
Trang 22tại phát triển của doanh nghiệp.
- Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứngcho hoạt động của doanh nghiệp: Vốn hoạt động của doanh nghiệp gồm cóvốn dài hạn và vốn ngắn hạn, việc xác định chính xác nhu cầu vốn cũng nhưviệc tổ chức huy động các nguồn vốn sẽ đảm bảo lượng vốn cần thiết cho cáchoạt động của doanh nghiệp một cách đầy đủ mà không bị lãng phí Để đi đếnquyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp cầnxem xét tổng thể các mặt như: kết cấu nguồn vốn, chi phí sử dụng vốn, điểmlợi và bất lợi của các hình thức huy động vốn… Việc này rất quan trọng bởinếu doanh nghiệp không phân tích hiện tại quy mô vốn của doanh nghiệp làbao nhiêu, có thể huy động thêm từ bên ngoài đủ để tài trợ cho dự án haykhông, việc sử dụng nợ vay có ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanhnghiệp… thì dù dự án có mức sinh lời rất cao nhưng thiếu vốn để triển khaithì chuyện thua lỗ cũng là chuyện bình thường Trên cơ sở đó nó còn giúpdoanh nghiệp lựa chọn các dự án với mực sinh lời thấp hơn nhưng doanhnghiệp có khả năng đáp ứng được và mang lại hiệu quả lâu dài
- Tổ chức quản lý và sử dụng vốn như thế nào để đảm bảo sử dụng vốntiết kiệm và có hiệu quả, quản lý chặt chẽ các khoản thu chi, đảm bảo khảnăng thanh toán của doanh nghiệp: điều này đồng nghĩa với việc tìm ra cácbiện pháp góp phần huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh,giải phóng các khoản vốn còn bị ứ đọng, trên cơ sở kiểm soát các khoản chitiêu tiến hành cân đối giữa thu và chi bằng tiền để luôn đảm bảo khả năngthanh toán và an ninh tài chính cho doanh nghiệp Đó chính là việc phân tíchcác chỉ tiêu về khả năng thanh toán và các chỉ số hoạt động để các kỳ tiếptheo doanh nghiệp tiến hành phát huy hay cải thiện chỉ số đó cho phù hợp
- Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của
Trang 23doanh nghiệp như thế nào để vừa dung hòa được các lợi ích vừa đảm bảodoanh nghiệp có nguồn lợi nhuận bổ sung cho hoạt động kinh doanh.
Như vậy, ta có thể thấy mọi hoạt động của doanh nghiệp hầu hết đềuliên quan tới các quyết định tài chính, mỗi một quyết định đúng và phù hợp làtiền đề của một bức tranh kết quả sáng lạng Các nhà quản trị hơn ai hết làngười nắm rõ nhất sức mạnh của doanh nghiệp vởi bì họ là nhóm người phảitrực tiếp đưa ra các quyết định mang tính sống còn đối với doanh nghiệp Màmuốn phát huy lợi thế cũng như tiềm năng của mình trước hết phải hiểu mình,tức phải đánh giá bản thân doanh nghiệp đang ở tình trạng như thế nào Nóicách khác là để các quyết định tài chính dù ngắn hạn hay dài hạn có tính khảthi và hiệu quả cao đòi hỏi nó phải được lựa chọn trên cơ sở phân tích, đánhgiá cân nhắc kỹ về mặt tài chính
Trang 24CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIỄN THÔNG FPT (FPT TELECOM)
1 KHÁI QUÁT VỀ TẬP ĐOÀN FPT
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của tập đoàn FPT
FPT là một trong những tập đoàn kinh tế lớn ở Việt Nam với lĩnh vựckinh doanh chính là cung cấp các dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin.FPT được thành lập vào ngày 13 tháng 09 năm 1988 với nhóm kỹ sư trẻ từNga về, đứng đầu là Trương Gia Bình Ban đầu, FPT hoạt động là một doanhnghiệp nhà nước kinh doanh xuất khẩu các lương thực thực phẩm, chế biếnlương thực thực phẩm (chữ FPT ban đầu có nghĩa là Food ProcessingTechonology, năm 1990 được đổi thành Financing Promoting Tecology –Công ty đầu tư và phát triển công nghệ)
Năm 1994, FPT bắt đầu phân phối máy tính IBM tại thị trường ViệtNam Năm 1998, trở thành một trong bốn nhà cung cấp dịch vụ Internet đầutiên tại Việt Nam với số lượng người đăng ký đông đảo Năm 2001, ra mắt tờtin nhanh VnExpress – tờ báo điện tử đầu tiên tại Việt Nam
Tháng 04 năm 2002, là một bước ngoặt lớn khi FPT chính thức trởthành một công ty cổ phần Năm 2005, FPT là đối tác vàng của tập đoàn máytính Microsoft
Ngày 08 tháng 09 năm 2006, chính phủ Việt Nam đã chính thức kýquyết định thành lập trường Đại học FPT trực thuộc tập đoàn FPT với nhữnglĩnh vực đào tạo về công nghệ thông tin,phần mềm… Cũng trong năm này,tháng 12, cổ phiếu FPT lên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và đãlập kỷ lục với mức giá chào sàn là 400.000 đồng/cổ phiếu Thậm chí, đã cóthời điểm cổ phiếu vượt mức 500.000đồng/cổ phiếu khiến cho chủ tịch hội
Trang 25đồng quản trị tập đoàn FPT dẫn đầu danh sách những người giàu nhất nhờchứng khoán tại Việt Nam Đồng thời, 25 tháng 12, Chủ tịch HĐQT FPT đãquyết định hợp nhất công ty TNHH hệ thống thông tin FPT (FIS), công tyTNHH giải pháp phần mềm FPT (FSS) và trung tâm dịch vụ ERP (FES).Công ty hợp nhất có tên là công ty hệ thống thông tin FPT.
Năm 2007, thành lập công ty TNHH bán lẻ FPT, công ty cổ phầnquảng cáo FPT và công ty TNHH phần mềm Châu Á Thái Bình Dương đặt tạiSingapore (FAPAC)
Năm 2008, tập đoàn FPT chính thức đổi tên “Công ty Phát triển đầu tưcông nghệ FPT” thành “Công ty cổ phần FPT” viết tắt là “FPT Corporation”
1.2 Đặc điểm
1.2.1 Về kinh doanh:
Năm vừa qua được đánh giá là năm khủng hoảng đối với nền kinh tếcủa thế giới Song với thế mạnh và những chiến lược kinh doanh đúng đắn,tập đoàn FPT vẫn có những con số khả quan Lợi nhuận sau thuế đạt gần 725triệu đồng Lãi cơ bản trên cổ phiếu cuối kỳ (EPS) đạt 5.457 đồng, tăng10.08% so với năm 2007
1.2.2 Về cơ cấu tổ chức:
FPT hiện có15 công ty thành viên:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hệ thống Thông tin FPT (FPTInformation System)
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Phân phối FPT (FPT Distribution)
Tổng Công ty Viễn thông FPT (FPT Telecom Corporation)
Công ty Cổ phần Phần mềm FPT (FPT Software)
Trang 26 Công ty Công nghệ Di động FPT (FPT Mobile)
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bán lẻ FPT (FPT Retail)
Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT (FPT Securities)
Công ty Cổ phần Quản lý quỹ đầu tư FPT (FPT Capital)
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Tin học FPT
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Phát triển Khu công nghệ cao HoàLạc FPT
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bất động sản FPT (FPT Land)
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Truyền thông Giải trí FPT
Công ty Cổ phần Quảng cáo FPT
Trang 27 Phân phối các sản phẩm Công nghệ thông tin
Cung cấp các giải pháp, dịch vụ viễn thông và Internet
Giáo dục đại học: đào tạo lập trình viên quốc tế và chuyên gia mỹ thuật
đa phương tiện
Lắp ráp máy vi tính
Phân phối điện thoại di động
Bảo hành, bảo trì các thiết bị viễn thông và tin học
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Từ khi thành lập tới nay, FPT Telecom đã có những bước chuyển biếnvượt bậc, đồng thời cũng có những dấu mốc đáng ghi nhận trong công ty nóiriêng và trong ngành dịch vụ viễn thông nói chung
- Từ năm 1997 – 2004 (giai đoạn trước khi cổ phần hóa)
FPT Telecom đã thành lập trung tâm dịch vụ trực tuyến FPT OnlineExchange chuyên cung cấp các dịch vụ, các thông tin trên Internet Khôngnhững vậy, FPT Telecom còn là nhà cũng cáp dịch vụ Internet thứ 2 tại ViệtNam với xấp xỉ 31% thị phần Đây được coi là bước đầu thành công tronglĩnh vực dịch vụ viễn thông của FPT bởi trong giai đoạn này, Internet vẫn cònchưa phổ biến như bây giờ Ngoài ra, trong giai đoạn này, để đưa Internet tớigần hơn với người sử dụng, FPT đã mạnh rạn cho ra đời tờ báo điện tử đầutiên tại Việt Nam – tờ báo VnExpress.net Sự ra đời của tờ báo đã đánh dấu
Trang 28bước ngoặt lớn trong sự phát triển của FPT đồng thời mở ra một kênh thôngtin mới luôn cập nhật và gần gũi với người đọc, đánh dấu sự phat triển vượtbậc của thông tin mạng
- Từ năm 2005 – nay (giai đoạn cổ phần hóa)
FPT vấn không ngừng làm việc và phấn đấu đưa ra những sản phẩmviễn thông tiện ích và có lợi nhất cho người sử dụng Với sự phát triển mạnh
mẽ của dịch vụ Internet, FPT đã mở đầu đi tiên phong trong việc cung cấpdịch vụ cáp quang FTTH với chất lượng đường chuyền tốt hơn, nhanh nhạyhơn Đặc biệt, trong năm 2007, FPT Telecom được Bộ Thông tin và Truyềnthông trao giấy phép “Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông” Điều
đó có nghĩa rằng, FPT Telecom sẽ hoàn toàn chủ động trong việc đầu tư, xâydựng hệ thống mạng viễn thông liên tỉnh trên toàn quốc và mạng viễn thôngquốc tế kết nối các nước nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhằm cung cấp trựctiếp cũng như bán lại các dịch vụ viễn thông Và đến năm 2008, cung với sựphát triển trong ngành nghề kinh doanh, doanh số bán được và phạm vi mởrộng tới các tỉnh trên cả nước, FPT lại đưa ra một sản phẩm mới giúp chokhách hàng sử dụng có nhiều tiện ích đó chính là dịch vụ truyền hình tươngtác iTV – muốn gì xem nấy“ với 45 kênh truyền hình, phim theo yêu cầu,truyền hình theo yêu cầu, đọc báo trên tivi, nhắn tin, bầu chọn
Trang 29Bảng 1: Tỷ trọng sản phẩm trên tổng doanh thu qua các năm
Đơn vị tính:triệu đồngn v tính:tri u ị tính:triệu đồng ệu đồng đồngng
ST
T
Tên sản phẩm dịch vụ
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
69.22
%
43765 2
Dịch vụ Internet gián tiếp
FPT Telecom là nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet gián tiếp qua mạngđiện thoại công cộng được khách hàng tín nhiệm tại Việt Nam trong nhiềunăm liền Các điểm mạnh của FPT là dịch vụ đa dạng, chất lượng ổn định,chính sách hỗ trợ khách hàng phong phú FPT Telecom hiện đang cung cấpcho khách hàng các dịch vụ Internet gián tiếp sau:
- Internet thuê bao
- Internet Card
- Gọi 1280
Internet băng thông rộng ADSL
Trang 30Kể từ năm 2003 đến nay, FPT Telecom đã triển khai dịch vụ Internetbăng thông rộng ADSL cho gần 500 000 khách hàng và luôn giữ vị trí số 1 vềthị phần Internet băng rộng tại Việt Nam Với nhiều gói sản phẩm, tạo điềukiện cho sự lựa chọn của khách hàng với những tiêu chí hợp lý
Như vậy, với dịch vụ Internet đối tượng khách hàng của công ty bao gồmcác cá nhân, hộ gia đình, Internet công cộng cũng như các doanh nghiệp Vớimỗi đối tượng khách hàng công ty đã cung cấp những dịch vụ phù hợp
B ng 2 : ảng 2 : Đặc điểm khách hàng sử dụng dịch vụ ADSL Đặc điểm khách hàng sử dụng dịch vụ ADSL đ ểm khách hàng sử dụng dịch vụ ADSLc i m khách h ng s d ng d ch v ADSLàng sử dụng dịch vụ ADSL ử dụng dịch vụ ADSL ụng dịch vụ ADSL ị tính:triệu đồng ụng dịch vụ ADSL
Đối tượng
khách hàng Đặc điểm
Loại sản phẩm tiêu thụ
Cá nhân, hộ gia đình
Mục đích sử dụng Internet khá đơn giảnnhư: tra cứu thông tin, trò chuyện, tángẫu…
MegaPLAYMegaME,MegaYOU,MegaSTYLE
Internet công cộng
Dung lượng sử dụng hàng tháng cao vàyếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyếtđịnh của đối tượng này đa phần là do uytín về chất lượng đường truyền củathương hiệu và chế độ ưu đãi đặc biệt
Mega PUBLICFiber Public
Doanh nghiệp
Mức sử dụng hàng tháng rất cao và yêucầu tốc độ truy cập nhanh cùng các dịch
vụ hậu mãi và chế độ bảo mật mạng thậttốt vì đa số các hoạt động kinh doanh đềuđược thực hiện thông qua hệ thống mạng
MegaBIZ,MegaNET,MegaOFFICEFiber SilverFiber Gold
Nguồn : Công ty cổ phần viễn thông FPT
2.2.2 Kênh thuê riêng (Leased Line)
Là một trong những dịch vụ của FPT Telecom, cung cấp đường truyềncho các công ty hay văn phòng có nhu cầu sử dụng Internet tốc độ cao một
Trang 31cách thường xuyên Thế mạnh của dịch vụ Leased Line là tính linh hoạt, sự
ổn định, kết nối tới mọi địa điểm mà khách hàng yêu cầu Đối tượng sử dụngdịch vụ này là các doanh nghiệp, tổ chức lớn cần một đường truyền riêng tốc
độ cao, ổn định với chất lượng cùng sự hỗ trợ kỹ thuật tốt nhất từ FPTTelecom
2.2.3 Dịch vụ giá trị gia tăng
Tên miền:
FPT Telecom là nhà đăng ký chính thức tên miền cấp cao mã quốcgia VN (Accredited Registrar of VN ccTLD) được Trung tâm Internet ViệtNam - Bộ Bưu Chính Viễn Thông chứng nhận Đồng thời cũng là nhà phânphối cấp cao tên miền quốc tế (TLDs Reseller) duy nhất của Register tại ViệtNam FPT Telecom đại diện cho khách hàng đăng ký, thanh toán, khai báo kỹthuật và quản lý tên miền song song với việc hỗ trợ khách hàng trong suốt quátrình sử dụng
Dịch vụ lưu trữ:
Hệ thống các Trung tâm lưu trữ dữ liệu (IDC - Internet Data Center) củaFPT Telecom đang vận hành tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có khảnăng vận hành từ 1000 - 3000 máy chủ cùng lúc Hệ thống đạt tiêu chuẩnquốc tế và được bảo trì liên tục 24/24 Hệ thống được vận hành với nhiều hệđiều hành và ứng dụng khác nhau (Microsoft, Sun, Linux, Novell )
Thiết kế web:
FPT Telecom có những chuyên gia hàng đầu về thiết kế, thấu hiểu trongviệc kết hợp giữa hai yếu tố kỹ thuật và mỹ thuật cũng như đặc trưng củakhách hàng để tạo ra những sản phẩm ấn tượng và hiệu quả nhất
Dịch vụ thiết kế Web chất lượng cao của FPT Telecom giúp khách hàngphản ánh hoàn hảo hình ảnh về tổ chức, doanh nghiệp của mình Bằng hệ
Trang 32thống thư viện ảnh và đồ họa phong phú, kết hợp với sự sáng tạo của các hoạ
sỹ, công ty có thể tạo ra hàng loạt những giao diện Website phức tạp, cầu kỳ,đáp ứng được các nhu cầu khắt khe của mỗi khách hàng
Quảng cáo trực tuyến:
Dịch vụ quảng cáo trực tuyến của FPT Telecom đem đến cho khách hàngcác lựa chọn quảng cáo đa dạng trên tờ báo điện tử lớn nhất tại Việt Nam làVnExpress.net, Phụ san Ngôi sao, Số hóa và hầu hết các tờ báo lớn khác tạiViệt Nam FPT Telecom cũng đại diện cho khách hàng mua các dịch vụquảng cáo trên các Search Engine lớn như Google, Yahoo, MSN hoặc gửithông tin về khách hàng cho các cỗ máy tìm kiếm này
FPT Telecom là công ty kinh doanh quảng cáo trực tuyến có doanh thulớn nhất Việt Nam và tuân thủ chặt chẽ các chuẩn quảng cáo trực tuyến củaIAB
2.2.4 Báo điện tử
Báo điện tử VnExpress - Tin nhanh Việt Nam do FPT Telecom quản lý là
tờ báo điện tử có uy tín và được nhiều người truy cập nhất tại Việt Nam Ápdụng mô hình thành công của VnExpress, FPT Telecom đã cho ra đời cácchuyên trang Ngoisao.net, Sohoa.net, Gamethu.net, Danduong.net được độcgiả hào hứng đón nhận
Có thể nói, với nhiều sản phẩm đa dạng và nhiều đối tượng khách hàng,FPT Telecom cần xây dựng chính sách khách hàng cụ thể để có thể đáp ứngđược yêu cầu của mỗi đối tượng khách hàng khác nhau Cung cấp các dịch vụtheo đúng tiêu chuẩn đã cam kết của công ty với khách hàng, nâng cao cungcách phục vụ khách hàng trong các trường hợp như hỗ trợ kĩ thuật, giải quyếtkhiếu nại một cách nhanh chóng và lịch sự
Đa dạng và tiện lợi hóa các hình thức thanh toán, hiện nay, FPT Telecom
đã áp dụng phương pháp thanh toán phí cước bằng hình thức chuyển khoản,
Trang 33rất tiện lợi cho khách hàng Bên cạnh đó, công ty cần đưa ra các chính sáchquảng cáo khuyến mãi hấp dẫn để có thể thu hút thêm khách hàng.
2.3 Cơ cấu tổ chức
Mô hình tổ chức hoạt động của công ty cổ phần viễn thông FPT (FPTTelecom) được xây dựng theo mô hình hiện đại, phù hợp với quy mô, loạihình kinh doanh và đặc điểm hoạt động của công ty Gồm :
- Ban tổng giám đốc: Đưa ra những quyết định, chiến lược kinhdoanh chính cho công ty Đồng thời chịu trách nhiệm quản lý cácchi nhánh chính tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
- Các ban của tổng (FOX) : chịu trách nhiệm chính về quản lý, tổnghợp, phân loại, giúp đỡ cho ban tổng giám đốc có cái nhìn tổng quát
về công ty và đưa ra quyết định
- Ban giám đốc chi nhánh Hà Nội (FOX MB): quản lý các hoạt độngcủa các chi nhánh của FPT Telecom ở miền Bắc
- Ban giám đốc chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh (FOX MN): quản
lý các chi nhánh của FPT Telecom ở miền Nam
Trang 34kế hoạch tài chính
Ban đảm bảo chất lượng
Ban tổ chức cán bộ Văn phòng
Báo điện tử Vnexpress
Vp đại diện Vnexpress
Ban giam đốc chi nhánh Hà Nội
TT đảm bảo chất lượng
Phòng hành chính
TT dịch vụ khách hàng
Phòng Nhân sự
TT triển khai
1, 2, 3
TT Internet băng rộng
Phòng kế toán
TT Internet băng rộng
TT triển khai
1, 2, 3, 4
TT dịch vụ khách hàng
Phòng
kế toán
Phòng Nhân sự
Phòng hành chính
TT phát triển
Trang 352.4 Đặc điểm của công tác Tài chính- Kế toán tại Công ty (FAF)
Công ty có phòng tài chính kế toán đặt tại trụ sở Công ty tại Hà nội đểđảm nhiệm công tác hạch toán thống kê của toàn Công ty Đồng thời, Công tycũng tổ chức công tác tài chính kế toán đến từng chi nhánh để theo dõi trựctiếp việc hạch toán tại từng khu vực một cách chi tiết và cụ thể Hầu như mọihoạt động thường xuyên của Công ty là qua các chi nhánh này
Năm tài chính bắt đầu từ 1/1 và kết thúc vào 31/12 hàng năm Để phùhợp với khối lượng công việc rất lớn hàng ngày thì Công ty triển khai công tác
kế toán trên máy vi tính, Công ty sử dụng hình thức kế toán Nhật ký chun, đơn
vị tiền tệ được sử dụng để ghi chép là đồng Việt Nam Tài sản cố định đượcđánh giá theo giá thực tế và phương pháp khấu hao áp dụng là phương phápkhấu hao theo đường thẳng Giá trị hàng tồn kho được đánh giá theo giá trịthực tế và áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán, tính giáxuất theo phương pháp FIFO Do đặc điểm của ngành kinh doanh nên Công ty
có trích lập quỹ dự phòng nợ phải thu khó đòi
Phòng tài chính kế toán chịu trách nhiệm chính trong việc huy động vàđảm bảo đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
2.5 Đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty.
Công ty kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông nên sản phẩm củaCông ty sản xuất là các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu thông tin, giải trí củakhách hàng mang những đặc điểm sau:
- Sản phẩm là những hàng hóa vô hình không cầm nắm được, phục vụnhu cầu thông tin, giải trí Thực chất là một chuỗi thông tin liên tục đượcchuyển qua lại giữa khách hàng và nhà cung cấp thông tin Những thông tinnày phải cần có những thiết bị chuyển đổi phức tạp mới đến được với kháchhàng
Trang 36- Sản phẩm mang tính trí tuệ cao nên để quản lý sản phẩm về chấtlượng, giá thành rất khó khăn Để đo lường số lượng phải sử dụng đơn vị đolường thông tin Để quản lý chất lượng sản phẩm phải thông qua các chỉ tiêu
về tốc độ truyền tải, tốc độ upload và download rất phức tạp mà bản thânkhách hàng phải qua thực tế sử dụng mới nắm rõ được
- Sản phẩm mang tính khoa học kỹ thuật cao, chịu ảnh hưởng lớn củanhân tố xã hội, phải theo nhu cầu thông tin của xã hội để phát triển
2.6 Hoạt động kinh doanh của FPT Telecom
Doanh thu năm 2006 là 619 632 triệu đồng, trong khi đó doanh thu củanăm 2007 tăng mạnh lên đến 894 000 triệu đồng tăng 274 368 triệu đồng,tương ứng với tốc độ tăng là 44.3% Sự tăng trưởng mạnh mẽ này là do năm
2007 công ty đã đẩy mạnh việc phát triển hạ tầng mạng và thúc đẩy việc cungcấp dịch vụ FTTH đến với khách hàng Năm 2007 cũng là một năm phát triểnmạnh mẽ về các dịch vụ game online do FPT cung cấp qua đó làm tăng doanhthu một cách nhanh chóng
Doanh thu năm 2008 là 2,206 tỷ đồng, tăng 1,312 tỷ đồng so với năm
2007, tương ứng với tốc độ tăng là 146.86% Trong năm này doanh số đã tăngmột cách đột biến, có được thành công này là do công ty đã mở rộng thêm 2chi nhánh ở Tp Hải Phòng và Tp Hải Dương Nối tiếp sự phát triển trong năm
2007 sang năm 2008 thì các dịch vụ gia tăng trên các trang báo điện tử, cácdịch vụ game online của FPT Telecom đã đem lại những nguồn thu đáng kểđóng góp không nhỏ vào sự thành công của công ty
Trang 37Biểu đồ : Doanh thu của công ty qua các năm
Nguồn: Phòng hành chính tổng hợp
Doanh thu tăng dẫn đến lợi nhuận trước thuế và sau thuế tăng Năm
2006, lợi nhuận sau thuế chỉ là 115.000 triệu đồng, đến năm 2007 lợi nhuậnsau thuế là 176.764 triệu đồng, tăng 61.764 triệu đồng Lợi nhuận sau thuếcủa năm 2008 là 262.753 triệu đồng, tăng 85.989 triệu đồng so với năm 2007.Nguyên nhân của sự tăng mạnh doanh thu và lợi nhuận vào năm 2007 vànăm 2008 là do công ty đã cổ phần được một thời gian và có chỗ đứng vữngchắc trên thị trường trong nước Đồng thời FPT Telecom cũng mở rộng chinhánh của mình ra các vùng miền trên toàn quốc để tăng mật độ phủ sóng.Việc phát triển dịch vụ kênh thuê riêng và dịch vụ giá trị gia tăng bao gồm:tên miền, dịch vụ lưu trữ, quảng cáo trực tuyến, báo điên tử đang đem lại chocông ty giá trị doanh thu lớn Các dịch vụ như thiết kế web hay quảng cáotrực tuyến với sự đa dạng, phong phú đem lại cho khách hàng rất nhiều sự lựachọn, và đội ngũ nhân viên thiết kế chuyên nghiệp và nhiệt tình đã và đangđem lại lợi nhuận cho FPT Telecom
Bên cạnh đó, cũng có thể thấy, nguyên nhân khách quan chủ yếu là kháchhàng ngày càng muốn tiếp cận vơi những công nghệ hiện đại và tiện ích Sự
Trang 38phát triển mạnh mẽ của người sử dụng Internet đã tạo điều kiện cho FPTTelecom phát triển; đồng thời FPT Telecom đã phát triển và đánh đúng tâm lýkhi đánh ADSL cho những khách hàng là các hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ
và vừa, còn dịch vụ cáp quang FTTH cho các doanh nghiệp lớn trong nướccũng như nước ngoài khiến doanh thu tăng mạnh Chính điều đó đã khiếnFPT Telecom luôn đứng ở vị trí top của các công ty cung cấp dịch vụ viễnthông trong nước
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, FPT Telecom đang có những sự cạnh tranh
về thị phần viễn thông từ hai công ty viễn thông lớn là VNPT vàViettel bởihai công ty có thế mạnh về tài chính, mật độ phủ sóng rộng và một số ưu thếnhất định nên sự tăng trưởng của FPT Telecom cũng bị ảnh hưởng
2.7 Thuận lợi và khó khăn của Công ty trong thời gian hiện nay.
Là một doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin vàtruyền thông ra đời năm 1997, thời điểm nền kinh tế rất nhạy cảm với nhữngchuyển biến lớn, những bước đi đúng hướng thực sự sẽ đem lại kết quả rất lớnđối với các doanh nghiệp Do đó ngay từ khi thành lập, Công ty Cổ phần ViễnThông FPT đã có chớp được thời cơ phát triển đó Với một hướng đi đúngtrong bối cảnh nhu cầu về công nghệ thông tin của thị trường là rất lớn, cơ hội
đó đã đem lại cho FPT Telecom sự phát triển vượt bậc Tuy nhiên, những khókhăn trước mắt đặt ra cho Công ty cũng rất nhiều đòi hỏi Công ty phải cóchiến lược và các giải pháp thích hợp để khẳng định vị thế của mình trong mọihoàn cảnh và tiến tới vươn rộng ra thị trường nước ngoài
* Thuận lợi:
Tuy là một công ty mới được thành lập trong năm 2005, tuổi đời còn rấttrẻ song Công ty Cổ phần Viễn thông FPT lại đạt được thành tích tăng trưởngrất xuất sắc so với mặt bằng nền kinh tế Việt Nam, có thể nói FPT Telecom là
đã “ăn nên làm ra”.Sự xuất sắc đó có được là do Công ty có nhiều thuận lợitrong hoạt động kinh doanh của mình
Trang 39Trong những năm gần đây, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa nền kinh tếcàng thể hiện rõ rệt Trong bối cảnh đó, nhu cầu về thông tin, về kết nối là rấtlớn, đây chính là mảnh đất màu mỡ cho FPT Telecom thả sức tung hoành Nóicách khác, nhu cầu về thông tin, internet của xã hội ngày càng lớn chính làthuận lợi lớn cho thị trường đầu ra của Công ty.
Cùng với xu thế trên thì thị trường các yếu tố đầu vào của Công ty cũngđược mở rộng, không chỉ bó hẹp trong nước mà đã vươn ra quốc tế và khuvực, đó chính là nhờ sự chuyển giao mạnh mẽ khoa học công nghệ trên toànthế giới FPT Telecom đã trở thành trung tâm phân phối, nơi đầu tư hiệu quảcủa nhiều nhà cung cấp có thương hiệu lớn trên thế giới
FPT Telecom là một thành viên của tập đoàn FPT, một tập đoàn có tiềmlực tài chính mạnh, có đội ngũ nhân viên quản lý, nhân viên kỹ thuật đầy kinhnghiệm và trình độ cao nên chất lượng sản phẩm dịch vụ của Công ty có tiếngvang lớn trên thị trường, tạo được sự uy tín đối với người tiêu dùng Điều đó
là một thuận lợi rất lớn cho FPT Telecom mở rộng thị trường tiêu thụ, tăngdoanh thu và lợi nhuận
* Khó khăn:
Trong lĩnh vực công nghệ truyền thông xuất hiện nhiều đối thủ cạnhtranh có thương hiệu mạnh như VNPT, Viettel,…Công ty đã phải gia tăngđáng kể chi phí cho việc maketing thương hiệu nhằm giữ vững và mở rộngđược thị trường của mình
Tiêu dùng trong lĩnh vực này chủ yếu là đối tượng khách hàng có thunhập khá trở lên, vì vậy mà Công ty chưa thể triển khai dịch vụ ra nhiều địabàn mà chỉ tập trung ở các thành phố lớn và đông dân cư Điều này lại tạo nênkhó khăn trong triển khai cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc tiêu dùng dịch vụ củaCông ty, chẳng hạn như việc kéo dây internet tới từng khách hàng rất khókhăn do quá chật
Năm 2008 và 2009 cả thế giới rơi vào cuộc suy thoái kinh tế, đây cũng là mộtkhó khăn chung với các doanh nghiệp Việt Nam không ngoại trừ FPT Telecom