CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM AN SINH XÃ HỘI 1.1. Tổng quan về bảo hiểm 1.1.1. Khái niệm bảo hiểm Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít. Theo Monique Gaullier: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê. Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm. Ngoài ra ,Bảo Hiểm còn được Định nghĩa: là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được. Các Định nghĩa trên thường thiên vể một góc độ nghiên cứu nào đó (hoặc thiên về Xã hội, hoặc thiên về Kinh tế Luật pháp hoặc thiên về Kỹ thuật tính). Theo các Chuyên gia Pháp một Định nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh Xã Hội vừa đáp ứng được khía cạnh Kinh Tế và đầy đủ về khía cạnh Kỹ Thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau: Bảo Hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho Người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro .Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của Thống Kê. Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM AN SINH XÃ HỘI 9
1.1 Tổng quan về bảo hiểm 9
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm 9
1.1.2 Vai trò bảo hiểm 10
1.1.3 Phân loại bảo hiểm 12
1.2 Tổng quan về bảo hiểm an sinh xã hội 17
1.2.1 Bảo hiểm xã hội 17
1.2.2 Bảo hiểm y tế 17
1.2.3 Bảo hiểm thất nghiệp 17
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BẢO HIỂM AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 23
2.1 Bảo hiểm xã hội 23
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 23
2.1.2 Đối tượng áp dụng 25
2.1.3 Hệ thống chế độ BHXH ( quy định và các tính) 26
2.1.4 Quỹ BHXH( nguồn hình thành) 32
2.1.5 Đánh giá 33
2.2 Bảo hiểm y tế 33
2.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển của Bảo hiểm Y tế ở Việt Nam 33
2.2.2 Đối tượng áp dụng, mức đóng, trách nhiệm đóng 34
2.2.3 Phương thức tham gia bảo hiểm y tế 39
2.2.4 Quỹ BHYT 41
2.2.5 Đánh giá 42
2.3 Bảo hiểm thất nghiệp 43
2.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển 43
2.3.2 Đối tượng và điều kiện áp dụng 44
2.3.3 Mức trợ cấp và thời gian trợ cấp BHYT 47
2.3.4 Quỹ BHTN( nguồn hình thành) 47
2.3.5 Đánh giá 48
CHƯƠNG III: CÁC KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM AN SINH XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM.51 3.1 Một số giải pháp đưa ra nhằm hoàn thiện chính sách BHXH 51
3.2 Một số giải pháp đưa ra nhằm hoàn thiện chính sách BHYT 55
3.3 Một số giải pháp đưa ra nhằm hoàn thiện chính sách BH thất nghiệp 57
Trang 2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM AN SINH XÃ HỘI
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm
Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít Theo Monique Gaullier: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo
hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc
để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thấtđược trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn
bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê
Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này,
một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công
ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chiagiá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm
Ngoài ra ,Bảo Hiểm còn được Định nghĩa: là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách
kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộngđồng và có thể dự tính được
Các Định nghĩa trên thường thiên vể một góc độ nghiên cứu nào đó (hoặc thiên về Xã hội,hoặc thiên về Kinh tế Luật pháp hoặc thiên về Kỹ thuật tính) Theo các Chuyên gia Pháp mộtĐịnh nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh Xã Hội vừa đáp ứng được khía cạnh Kinh Tế và đầy đủ
về khía cạnh Kỹ Thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau:
Bảo Hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào mộtkhoản đóng góp cho mình hoặc cho Người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấpnày do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệthại theo các phương pháp của Thống Kê
Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của
doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi rocủa người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo
Trang 3hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm
Bản chất của bảo hiểm: Là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả
những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Bảo hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông
1.1.2 Vai trò bảo hiểm
a Bù đắp thiệt hại khắc phục tổn thất:
Nói đến Bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tồn thất xảy ra, và vai trò của các Công
ty Bảo hiểm là cung cấp các loại hình dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tàichính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểmcon người Khi có tổn thất xảy đến với đối tượng được Bảo hiểm thì nhiệm vụ cơ bản của Bảohiểm là khắc phục những hậu quả đó,ổn định đời sống và quá trình sản xuất-kinh doanh
Việc mua Bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức cho phép họ chuyển rủi ro sang các Công ty Bảohiểm Các cá nhân khắc phục được khó khăn về tài chính, dễ dàng ổn định cuộc sống hơn, các tổchức kinh doanh bảo toàn vốn, tài sàn, giữ cho chu trình sản xuất – kinh doanh không bị giánđoạn dẫn đến phá sản khi gặp thiệt hại quá nặng nề
b Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất :
Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, Bảo hiểm còn góp phần thực hiện mộtnội dung trong các biện pháp kiểm soát rủi ro Đó là đề phòng và hạn chế tới mức thấp nhấtnhững tổn thất có thể xảy ra Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảmthiểu và những hậu quả về Kinh tế-Xã hội cũng được chủ động phòng tránh Dựa trên cơ sở cácrủi ro xảy ra hằng năm, các tổ chức kinh doanh Bảo hiểm tiến hành nghiên cứu các rủi ro, thống
kê các tai nạn, tổn thất, từ đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thiệthại Những nghiên cứu này giúp các Công ty Bảo hiểm có thể đề ra được các biện pháp kiểm soátngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất nhằm giảm đến mức thấp nhất tổn thất có thể xảy ra
Việc các Công ty Bảo hiểm tích cực thực hiện các biện pháp phòng tránh rủi ro không chỉ đểgiảm bớt chi phí bồi thường nhằm nâng cao lợi nhuận cho mình, mà quan trọng hơn, nó góp phầngiảm bớt những hậu quả đáng tiếc về vật chất cũng như tinh thần khi xảy ra tổn thất Khi xâydựng các quy tắc, điều khoản,biểu phí,…cũng như trong quá trình triển khai nghiệp vụ, kể từ khiđánh giá rủi ro, kí kết hợp đồng, quản lý hợp đồng cho đến lúc giám định tổn thất, giải quyết bồi
Trang 4thường, các tổ chức Bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránhcần thiết Việc đó không chỉ nhằm bảo vệ đối tượng bảo hiềm mà còn góp phần bảo đảm an toàncho tính mạng sức khoẻ con người, của cải vật chất của toàn xã hội.
Các Công ty Bảo hiểm cũng luôn đôn dốc các cá nhân, tổ chức tham gia mua Bảo hiểm tăngcường các biện pháp bảo vệ tài sản của chính mình Đồng thời, họ cũng tuyên truyền, giáo dụcmọi tầng lớp nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ An toàn giao thông, An toàn lao động,…
Do Bảo hiểm không có nghĩa là đổ hết trách nhiệm cho người Bảo hiểm nên các cơ quan, xínghiệp thường có các quy tắc, quy định cho An toàn lao động, các quy định về phòng cháy chữacháy, các thiết bị chống trộm, báo cháy,…
c Sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đẩu tư vào những lĩnh vực khác :
Trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh, người ta luôn phải tính đến những rủ ro có thểgặp phải, và luôn muốn chủ động trong các tình huống xấu nhất Việc tự khắc phục rủi ro đòi hỏicác cá nhân, tổ chức phải bỏ ra một khoản tiền lớn lập quỹ Dự phòng Xét trên toàn xã hội, tổngcác quỹ Dự phòng sẽ là một khoản tiền không nhỏ, có khả năng sinh lời lớn nếu đem đầu tư Dovậy, người ta có thể đóng cho các Công ty Bảo hiểm một khoản nhỏ hơn thay vì bỏ một khoảntiền lớn lập quỹ, và có thể dùng tiền đó nâng cao đời sống hoặc đầu tư kinh doanh Bảo hiểm đãtrở thành lựa chọn tối ưu trong môi trường đầy rủi ro hiện nay, đảm bảo mức độ an toàn tươngđối về khả năng tài chính khi xảy ra rủi ro mà vẫn không gây đọng vốn
Vốn là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.Mộtnền kinh tế muốn tăng trưởng thì phải có một thị trường vốn phát triển mạnh, các kênh thu hútvốn đa dạng để có thể đáp ứng tối đa nhu cẩu về vốn Ngày nay, các Công ty Bảo hiểm là mộtkênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và đang ngày càng được khai thác một cáchhiệu quả, do phạm vi hoạt động rộng, các loại hình Bảo hiểm phong phú Thông qua các Hợpđồng Bảo hiểm, các công ty Bảo hiểm đã tập trung lượng tiền phân tán rải rác thành những quỹtiền tệ khá lớn Quỹ Bảo hiểm đã trở thành một định chế tài chính trung gian quan trọng trên thịtrường vốn Đặc biệt, thông qua loại hình Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm đã khuyến khích các tầnglớp nhân dân tăng cường tiết kiệm và qua đó đã thu hút được một khối lượng lớn vốn nhàn rỗi đểđầu tư
d Tăng thu cho Ngân sách Nhà nước:
Trang 5Qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm tự thân nó đã trở thành một ngành kinh doanh độclập, có hạch toán Thu –Chi lỗ lãi rõ ràng Vì vậy, các công ty Bảo hiểm phải thực hiện đầy đủnghĩa vụ đối với Nhà nước như mọi Doanh nghiệp khác hoạt động trong nền kinh tế Hằng năm,thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã đóng góp một phần không nhỏ vào Ngân sách Nhà nước.Bên cạnh đó, bảo hiểm cũng góp phần tiết kiệm cho Ngân sách thông qua việc thực hiện tốt khâuphòng ngừa và hạn chế tổn thất, giúp bảo vệ tối đa tài sản công cộng, giảm đến mức thấp nhấtnhững thiệt hại đáng tiếc Điều này giúp Nhà nước giảm bớt chi tiêu những khoản lớn để bù đắpcho những tổn thất như phải xây dựng lại đường xá, cầu cống, nhà xưởng, công trình,…Ngoài ra,một thị trường Bảo hiểm phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các cá nhân và tổ chức muaBảo hiểm của các Công ty Bảo hiểm trong nước, góp phần tiết kiệm một lượng ngoại tệ lớn choNgân sách Nhà nước
e Tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống :
Khi kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì người tacàng có nhu cầu được đảm bảo an toàn trong tương lai Môi trường kinh doanh cũng như môitrường xã hội đang dần xuất hiện những rủi ro mới Những rủi ro do thiên nhiên như bão lũ, hạnhán, sóng thần, cháy rừng tự nhiên,…đang trở nên hết sức phức tạp, khó dự đoán do môi trườngthế giới đang thay đổi theo chiều hướng xấu Chiến tranh, xung đột, khủng bố, đình công,…không những không giảm bớt mà lại ngày càng diễn biến phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới.Trong tình hình như vậy, Bào hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm
lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống cho con người
1.1.3 Phân loại bảo hiểm
a Căn cứ vào cơ chế hoạt động của Bảo hiểm:
*Bảo hiểm Xã hội: là chế độ bảo hiểm của Nhà nước, của đoàn thể xã hội hoặc của các công ty
nhằm trợ cấp cho các viên chức Nhà nước, người làm công, trong trường hợp ốm đau, bệnh tật,
bị chết, hoặc tai nạn trong khi làm việc, về hưu
Bảo hiểm Xã hội: là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã đượcthực hiện ở tất cả các nước trên thế giới So với các loại hình bảo hiểm khác, đối tượng, chứcnăng và tính chất của BHXH có những điểm khác biệt BHXH có một số đặc điểm: có tínhchất bắt buộc, hoạt động theo những luật lệ quy định chung; không tính đến những rủi ro cụthể; không nhằm mục đích kinh doanh…Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm
Trang 6ngoài Ngân sách nhà nước, hình thành chủ yếu từ các nguồn đóng góp hay ủng hộ của ngườilao động,người sử dụng lao động, nhà nước, các tổ chức, cá nhân, từ thiện…Theo khuyến nghịcủa tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong công ước 102 tháng6/1952 tại Giơnevơ, quỹ BHXHđược sử dụng để trợ cấp cho:
*Bảo hiểm Thương mại: là loại hình bảo hiểm mang tính chất kinh doanh, kiếm lời Khác với
BHXH, loại hình bảo hiểm này có những đặc điểm: không bắt buộc, có tính đến từng đối tượng,từng rủi ro cụ thể, nhằm mục đích kinh doanh
Bảo hiểm Thương mại hiện nay cũng có rất nhiều loại nhiệm vụ :
- Bảo hiểm hàng hóa Xuất nhập khẩu
- Bảo hiểm thân tàu
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
- Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
- Bảo hiểm hàng không
- Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
- Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Trang 7- Bảo hiểm rủi ro xây dựng và lắp đặt
- Bảo hiểm thiệt hại máy móc
- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
- Bảo hiểm tai nạn con người
- Bảo hiểm sinh mạng cá nhân
- Bảo hiểm cây trồng
- Bảo hiểm chăn nuôi
- Bảo hiểm sắc đẹp…
b Căn cứ vào tính chất của Bảo hiểm:
Bảo hiểm Nhân thọ: là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống
hoặc chết Thực chất đây là bảo hiểm tính mạng hoặc tuổi thọ của con người nhằm bù đắpcho người được bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi người đượcbảo hiểm bị chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn Nói cách khác, bảo hiểm nhân thọ làviệc bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người.Đối tượng tham gia Bảo hiểm Nhân thọ rất rộng,bao gồm nhiều người ở các lứa tuổi khácnhau
Bảo hiểm Nhân thọ ngày nay phát triển với tốc độ ngày càng nhanh, với doanh thu phí bảohiểm ngày càng lớn, có lẽ bởi vai trò to lớn của nó Đối với mỗi cá nhân, mỗi gia đình, bảohiểm Nhân thọ giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp rủi ro góp phần ổn định cuộc sống Trênphạm vi rộng, nó góp phần huy động vốn đầu tư từ các nguồn nhàn rỗi, góp phần thực hành tiếtkiệm , chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động
Bảo hiểm Nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ:
- Bảo hiểm trọn đời
- Bảo hiểm sinh kỳ
- Bảo hiểm tử kỳ
- Bảo hiểm hỗn hợp
- Bảo hiểm trả tiền định kỳ
Trang 8 Bảo hiểm Phi nhân thọ: là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các
nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc Bảo hiểm Nhân thọ
Bảo hiểm Phi nhân thọ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống cũng như trongkinh doanh Các nghiệp vụ của Bảo hiểm Phi nhân thọ cũng hết sức phong phú Theo Luậtkinh doanh Bảo hiểm Việt Nam (Ban hành ngày 09/12/2000) thì Bảo hiểm Phi nhân thọbao gồm:
- Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người
- Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại
- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt vàđường không
- Bảo hiểm hàng không
- Bảo hiểm xe cơ giới
- Bảo hiểm cháy, nổ
- Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu
- Bảo hiểm trách nhiệm chung
- Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính
- Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh
- Bảo hiểm nông nghiệp
Ngoài ra, Bảo hiểm Phi nhân thọ cũng còn một số loại nghiệp vụ khác như: Bảo hiểm xâydựng và lắp đặt, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm du lịch, bảo hiểm trách nhiệm củ người sử dụng laođộng
c Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm:
Bảo hiểm con người: là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sứckhoẻ, tai nạn của con người Bảo hiểm con người bao gồm các loại sản phẩm bảohiểmnhân thọ, bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người bao gồm các loại như bảo hiểm ansinh giáo dục, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm tiết kiệm và đầu tư, bảo hiểm chi phíkhám chữa bệnh và chắm sóc sức khoẻ, bảo hiểm tai nạn học sinh, lao động…Bên mua bảohiểm có thể mua bảo hiểm cho chính bản thân mình hoặc vợ, chồng, con, cha, mẹ, anh, chị,
em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; và người khác nếu bên mua bảo hiểm
có quyền lợi có thể được bảo hiểm
Trang 9Trong bảo hiểm tai nạn con người, người thụ hưởng nhận được số tiền trong phạm vi số tiềnbảo hiểm, căn cứ vào thương tật thực tế của người được bảo hiểm và thoả thuận trong hợp đồngbảo hiểm Còn trong bảo hiểm sức khoẻ con người, người được bảo hiểm được nhận số tiền trongphạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ, củangười đó do bệnh tật, hoặc tai nạn gây ra và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Bảo hiểm Tài sản: là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu
động) của người được bảo hiểm (tập thể hay cá nhân) bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trịgiá, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản Nhóm các loại sản phẩm bảo hiểmtài sản bao gồm bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy, bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm nhà,bảo hiểm công trình,…Có 3 loại hợp đồng tài sản là:Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị,Hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị, Hợp đồng bảo hiểm trùng
c Căn cứ vào quy định của Pháp luật:
Nếu xét trên cơ sở quy định của Pháp luật, các loại hình bải hiểm lại có thể được phân chiathành :
Bảo hiểm Bắt buộc: là loại bảo hiểm do Pháp luật quy định về điều kiệm bảo hiểm, số tiền
bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và Doanh nghiệp bảo hiểm cónghĩa vụ thực hiện Loại bảo hiểm này chỉ áp dụng với một số loại bảo hiểm nhằm mụcđích bảo vệ lợi ích cộng đồng và an toàn xã hội
Các nước có những quy định khác nhau về các loại hình bảo hiểm bắt buộc Theo Luậtkinh doanh bảo hiểm Việt Nam được ban hành ngày : 09/12/2000 các loại hình bảo hiểm sau làbắt buộc:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự củangười bảo hiểm hàng không đối với hành khách
- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt đọng tư vấn Pháp luật
- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của Doanh nghiệp môi giới Bảo hiểm
- Bảo hiểm cháy nổ
Tuy nhiên, căn cứ vào nhu cầu phát triển Kinh tế- Xã hội của từng thời kỳ, Chính Phủ trình Uỷban thường vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác
Bảo hiểm không bắt buộc: là những loại bảo hiểm khác, không thuộc Bảo hiểm bắt buộc
Trang 101.2 Tổng quan về bảo hiểm an sinh xã hội.
1.2.1 Bảo hiểm xã hội
1.2.1.1 Bản chất và đặc điểm*
a) Bản chất của BHXH.
Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho người lao độngkhi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp,tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bêntham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống chongười lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội
BHXH là nhu cầu khách quan,đa dạng và phức tạp của xã hội.Các bên tham gia quan hệBHXH
+Bên tham gia BHXH
+Bên BHXH
+Bên được BHXH
- Biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động,mất việc làm trong BHXH
+Những rủi ro ngẫu nhiên
+Những rủi ro không hoàn toàn ngẫu nhiên
Trang 11+Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của đặc biệt người già,người tàn tật và trẻem.
b) Đặc điểm của BHXH
- BHXH là hoạt động chia sẻ rủi ro của cộng đồng theo nguyên tắc “số đông bù số ít” và “tiếtkiệm chi tiêu”;
- BHXH thực thi chính sách xã hội,không nhằm mục đích kinh doanh;
- BHXH là một bộ phận của hệ thống an sinh xã hội được thực hiện theo nguyên tắc đóng góp;
- BHXH thực hiện phân phối trên cơ sở mức đóng góp và quỹ BHXH
a) Đối tượng BHXH và đối tượng tham gia BHXH
- Thứ nhất, BHXH bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động
- Thứ hai, BHXH phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH
- Thứ ba, BHXH góp phần kích thích nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất laođộng xã hội Giúp người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, tích cực trong laođộng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Giúp các nhà đầu tư yên tâm tínhtoán để phát triển sản xuất, không bị phá sản kể cả khi có rủi ro lớn sảy ra Kích thích người laođộng nâng cao năng suất lao động cá nhân, thu hút đầu tư và qua đó, nâng cao năng suất lao động
xã hội
- Thứ tư, BHXH góp phần thu hút lao động, hình thành và phát triển thị trường lao động, gắn
bó các lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và các lợi ích xã hội
+ Thu hút lao động tốt trong xã hội vào khu vực thuộc phạm vi bảo hiểm Ở Việt Nam, trongthời kỳ nền kinh tế kế hoạch tập trung, khu vực Nhà nước luôn hấp dẫn người lao động
Trang 12+ Muốn khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, dịch chuyển quan hệ lao động đểphân phối lao động theo yêu cầu của thị trường thì phải mở rộng BHXH, kết hợp hình thức bắtbuộc và hình thức tự nguyện trong BHXH.
+ Điều hòa mâu thuẫn về tiền lương tền công, thời gian lao động giữa chủ và thợ, làm chocác bên có trách nhiệm với nhau hơn, gắn bó lợi ích được với nhau, hợp tác, phát triển cùng cólợi
c) Vai trò của bảo hiểm xã hội
- Đối với người lao động: giúp khắc phục khó khan thông qua trợ cấp BHXH
- Đối với xã hội:
+ Góp phần phục hồi năng lực làm việc,khả năng sang tạo của sức lao động:nâng caonăng suất lao động xã hội
+ Gian tiếp làm tang sự tiêu dung cho xã hội;đồng thời đảm bảo an ninh quốc gia
+ Tác động tới hệ thống tài chính thông qua hoạt động đầu tư,bảo tồn và phát triển quỹBHXH
+ Góp phần thực hiện công bằng xã hội
Trang 13+Cân bằng thu chi
Trang 14
=
Tổng chi trả chế độ
Tổng chi phí quản lý
và các khoản chi khác
+
Qũy dự phòng
-Phí BHXH được xác định theo công thức
+Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
+Chi đầu tư tang trưởng quỹ BHXH
Trang 15- Đối tượng BH : là sức khỏe của người được bảo hiểm.
- Đối tượng tham gia : l mọi ngàười dân có nhu cầu về BHYT cho mình hay đại diện chotập thể
- Có 2 nhóm đối tượng tham gia BHYT chính: nhóm đối tượng bắt buộc và nhóm đốitượng tự nguyện
+BHYT trọn gói ,trừ các đại phẫu thuật;
+BHYT thông thường
-Việc áp dụng phương thức BHYT nào phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và mức sống của cư dântừng nước
*Thực tế có một bộ phận BHYT mang đặc trưng của BHXH , còn số khác cũng liên quan đếnhoạt độngchăm sóc sức khỏe nhưng mang tính chất kinh doanh
So sánh BHYT thuộc BHXH và BHYT kinh doanh :
Trang 16Tiêu thức BHYT thuộc BHXH BHYT kinh doanh
1-Đối tượng tham
hiểm
Tính nhân đạo,Tính cộng đồng… Hoạch toán kinh tế,cân đối
thu chi và làm nghĩa vụ đốivới nhà nước
5-Nguồn quỹ BHYT NSDLD,NLĐ đóng góp theo tỷ lệ %
quỹ lương và tiền lương có sự hỗ trợcủa ngân sách
Người tham gia bảo hiểm nộpphí bảo hiểm theo các mứcthỏa thuận
Trả cho người được bảo hiểmhoặc bệnh viện đã ký hợpđồng với công ty bảohiểm.Mức chi trả theo mức
đã ký trong hợp đồng
a) Nguồn hình thành quỹ BHYT
- Qũy BHYT được hình thành từ các nguồn sau:
+Nếu là BHYT tự nguyện:chủ yếu từ người tham gia đóng góp qua phí
+Nếu là BHYT bắt buộc:từ cả 2 bên tham gia đóng góp
- Ngoài ra được bổ xung từ NSNN,tổ chức từ thiện,lãi do đầu tư vốn nhàn rỗi
b) Phí BHYT
- Phí BHYT thường được tính trên cơ sở các số liệu thống kê về chi phí y tế và số người tham giaBHYT thực tế trong thời gian liền ngay trước đó
- Công thức tính: P=f + d
Trang 17Trong đó :
P :Phí BHYT/người/năm
f : phí thuần
d: phụ phí
-Phụ phí:thường được quy định bằng một tỷ lệ %( thường 20-30%)
-Phí thuần được xác định như sau
+ fi : Chi phí y tế thuộc trách nhiệm BHYT của toàn bộ người được BHYT trong năm i
+ ni :Số người được BHYT trong năm i
+ i: Số năm thống kê để tính toán,thường từ 3 năm
c) Các khoản chi
Qũy BHYT được sử dụng như sau:
- Chi thanh toán chi phí y tế cho người BHYT
Trang 18động của những người lao động muốn làm việc với mức tiền lương danh nghĩa tại một thời điểmlớn hơn khối lượng việc làm hiện có.
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không cóviệc làm Họ có thể là người chưa có việc làm hoặc có việc làm nhưng đã thôi việc và đang cầntìm thêm việc làm có thu nhập
Tại Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu mô hình chính sách thực hiện Bảo Hiểm thấtnghiệp,các ý kiến cho rằng:
Người thất nghiệp :là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, trong khoảng thời gianxác định không có việc làm, đang tìm việc làm, đã đăng ký thất nghiệp theo quy định
Bảo Hiểm Thất nghiệp:
Nhiều biện pháo được thực hiện nhằm trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trongthời gian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới Mộttrong số các biện pháp đó là xây dựng và thực hiện chế độ Bảo hiểm Thất nghiệp
Dưới góc độ kinh tế - xã hội, Bảo hiểm Thất nghiệp được hiểu là giải pháp nhằm khắc phụchậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp người thất nghiệp tạm thời đảm bảo được cuộc sống vàtìm kiếm việc làm thông qua việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung
Dưới góc độ pháp lý, Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp là tổng thể các quy phạm Pháp luật quyđịnh việc đóng góp và sử dụng Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp, chi trả cho trợ cấp thất nghiệp để bùđắp thu nhập cho người lao động bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa người thấtnghiệp trở lại làm việc Bảo hiểm thất nghiệp vì thế thường được hiểu là một chế độ trong hệthống các Chế độ Bảo hiểm Xã hội, có mục đích hỗ trợ thu nhập cao cho người lao động bị mấtthu nhập do thất nghiệp
Như vậy, có thể hiểu Bảo hiểm thất nghiệp là quá trình tổ chức và sử dụng Quỹ tiền tệ tậptrung (Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp) được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia (Ngườilao động, người sử dụng lao động và Sự hỗ trợ của Nhà nước) nhằm hỗ trợ tài chính tạm thờidành cho những người bị mất việc làm mà đáp ứng yêu cầu luật định
Trang 19Bảo hiểm Thất nghiệp là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu
nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thị trường laođộng
- Những công chức, viên chức Nhà nước; những người lao động độc lập không có chủ;những người làm thuê theo mùa vụ thường không thuộc đối tượng tham gia BHTN Bởi vì,hoặc là họ được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm lâu dài nên khả năng thất nghiệp thấp,hoặc là những người khó xác định thu nhập để xác định Phí bảo hiểm, thời gian làm việcngắn, công việc không ổn định, thời gian đóng Phí bảo hiểm không đủ
Những người sử dụng lao động: Có trách nhiệm tham gia đóng góp BHTN chongười lao động mà họ sử dụng
Vì rủi ro việc làm trong một chừng mực nào đó xuất phát từ phía Người sử dụng lao độngnên đối tượng tham gia BHTN hẹp hơn rất nhiều so với BHXH
b) Phạm vi:
Mục đích của BHTN là trợ giúp về mặt Tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộcsống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vàothị trường lao động để có những cơ hội mới về việc làm Vì thế, một số nhà kinh tế học còn chorằng BHTN là hạt nhân của thị trường lao động và nằm trong chính sách kinh tế xã hội của quốcgia Chính sách này trước hết vì lợi ích của người lao động sau nữa là vì lợi ích xã hội
Trang 20BHTN cũng là một loại hình Bảo hiểm con người, song nó có một số đặc điểm khác như:không có Hợp đồng trước, người tham gia và người thụ hưởng quyền lợi là một,không có việcchuyển rủi ro của những người bị thất nghiệp sang những người khác có khả năng thất nghiệp BHTN không có dự báo chính xác về Số lượng và Phạm vi và có thể bị thiệt hại về kinh tế rấtlớn, đặc biệt là trong những thời kỳ nền kinh tế bị khủng hoảng
c) Điều kiện hưởng BHTN:
Rủi ro thuộc phạm vi BHTN là rủi ro nghề nghiệp, rủi ro việc làm Người lao động tham giaBHTN bị mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp BHTN Điều kiện để được hưởng trợ cấp BHTNkhá chặt chẽ:
- Người tham gia BHTN phải nộp Phí nảo hiểm trong một thời gian nhất định
- Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động
- Phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm kiếm việc làm tại Cơ quan lao động có thẩm quyền
do Nhà nước quy định
- Phải sẵn sàng làm việc
- Có sổ BHTN để chứng nhận có tham gia đóng Phí BHTN đủ thời hạn quy định
Những người thất nghiệp mặc dù có đóng BHTN nhưng không được hưởng trợ cấp khi họ đơnphương chấm dứt Hợp đồng lao động trái Pháp luật, bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động hoặc
từ chối không đi làm việc do Cơ quan lao động việc làm giới thiệu
Để được hưởng trợ cấp BHTN, người lao động phải có một thời gian nhất định đã tham giađóng góp vào Quỹ BHTN-thời gian dự bị Việc đặt ra thời gian dự bị có nhiều tác dụng Một mặt
nó đảm bảo rằng, chỉ có những người thường xuyên tham gia hoạt động kinh tế mới được xemnhư bị mất thu nhập thực sự do bị thất nghiệp, còn đối với những người chưa từng có việc làm,chua có thu nhập,không được coi họ là những người họ bị thiệt hại về thu nhập Mật khác, thôngqua thời gian dự bị, Quỹ BHTN có thể đảm bảo số đóng góp của mỗi người lao động đạt tới mộtmức tối thiểu trước khi xảy ra thất nghiệp Điều này sẽ tích cực góp phần cân đối Quỹ Tài chínhBHTN
Là một quỹ tài chính độc lập tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nước Quỹ được hình thànhchủ yếu từ 3 nguồn:
Trang 21- Nguồn tham gia BHTN đóng góp.
- Nguồn sử dụng lao động đóng góp
- Nhà nước bù thiếu
Ngoài ra còn được bổ sung bởi Lãi suất đầu tư đem lại từ phần quỹ nhàn rỗi Người tham giaBHTN và người sử dụng lao động đóng góp bằng một tỷ lệ phần trăm nhất đính so với tiềnlương và Tổng quỹ lương Hầu hết các quốc gia quy định mức đóng góp BHTN trong Luật tàichính để đảm bảo an toàn và chắc chắn cho quỹ hoạt động
Quỹ BHTN nhiều hay ít phụ thuộc vào tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia và số người thamgia BHTN Tỷ lệ đóng góp của người lao động phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ thất nghiệp, mứchưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN cũng như nội dung sử dụng quỹ
Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ số giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động Lực lượng laođọng phải được xác định thống nhất Còn số người thất nghiệp được xác định thông qua điềutra hay dựa vào số liệu thống kê những người đã đăng ký thất nghiệp Nhìn chung, tỷ lệ thấtnghiệp thường xuyên biến động, vì thế nó là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ đóng góp củacác bên tham gia BHTN cũng như sự hỗ trợ của Nhà nước Sự hỗ trợ của Nhà nước cho quỹBHTN là không thể thiếu, bởi vì thất nghiệp là một vấn đề mang tính xã hội rộng lớn Nhànước không chỉ ban hành chính sách,mà phải quan tâm đến việc thực hiện chính sách, bằngcách trích một khoản ngân sách đáng kể hỗ trợ Quỹ BHTN Mặc dù chỉ hỗ trợ một phần nhưngNhà nước có một nguồn quỹ rất lớn để khắc phục tình trạng thất nghiệp, từ đó góp phần ổnđịnh xã hội
Mặt khác, nhiều khi Doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất,kinh doanh, lao động bị thấtnghiệp nhiều không hẳn tại Doanh nghiệp hay người lao động mà tại Nhà nước, do nhà nướcthay đổi các chính sách kinh tế, do quản lý thị trường yếu kém và tiền vốn cấp phát không kịpthời v v Vì vậy, Nhà nước cũng phải tham gia đóng góp vào Quỹ BHTN Nhà nước có thểtham gia theo một trong hai hình thức:
+) Thứ nhất, đóng góp thường xuyên thông qua việc trích Ngân sách hỗ trợ quỹ BHTN +) Thứ hai, Nhà nước chỉ tham gia với tư cách là người bảo hộ khi đóng góp của người laođộng và người sử dụng lao động không đủ bù đắp các khoản chi hoặc khi Quỹ BHTN cónhững biến động lớn do Lạm phát
Trang 22Mức độ tham gia đóng góp vào Quỹ BHTN trong những năm gần đây của một số nước thựchiện BHTN cũng rất khác nhau Có nước quy định, người lao động, người sử dụng lao động vàNhà nước đóng góp ngang nhau Cách đóng góp này có ưu điểm là giảm được mức đóng gópcủa Người lao động và Người sử dụng lao động, đồng thời Cơ quan BHTN chủ động đượcnguồn quỹ vì Nhà nước tham gia đóng góp ngay từ đầu Ngoài ra nó còn tạo tâm lý công bằngchia sẻ gánh nặng thất nghiệp, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi bên Có một sốnước lại quy định ,Người lao động và người sử dụng lao động đóng góp ngang nhau, Nhà nướccấp bù khi có những biến động lớn Cách đóng góp này có ưu điểm làm giảm gánh nặng Ngânsách nhà nước Nhưng lại tạo ra tâm lý ỷ lại vào Nhà nước Cơ quan BHTN sẽ không tích cựcthu và tiết kiệm chi dẫn đến không chủ động được Nguồn quỹ Do vậy, khi áp dụng cách thứcnày,Cơ quan BHTN phải nhận thức rõ hơn là, nhà nước chỉ cấp bù khi thị trường lao động cóbiến động xấu, tỷ lệ thất nghiệp tăng đột biến hoặc tốc độ Lạm phát gia tăng v v
Ngoài ra còn có nước quy định, Người sử dụng lao động đóng gấp đôi người lao động , Nhànước chỉ tiến hành bù thiếu Bởi vì, người sử dụng lao động luôn có tiềm lực kinh tế mạnh hơn
và vấn đề thất nghiệp chủ yếu do họ gây ra chứ không phải do người lao động
Quỹ BHTN được sử dụng chủ yếu để chi trả trợ cấp BHTN Ngoài ra nó còn được sử dụngcho các hoạt động nhằm đưa người thất nghiệp mau chóng trở lại vị trí làm việc
Trang 23CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BẢO HIỂM AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Bảo hiểm xã hội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
a) Giai đoạn trước năm 1945:
- Trước năm 1945 ở Việt Nam chưa có pháp luật bảo hiểm xã hội Bởi vì đất nước bị thực dânPháp đô hộ Đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ, nghèo đói
- Tuy nhiên nhân dân Việt Nam có truyền thống cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau những khi gặp rủi rohoạn nạn Đặc biệt là sự che chở của họ hàng làng xã thân tộc Cũng có một số nhà thờ tổ chứcnuôi trẻ mồ côi, thực hiện tế bần (BHXH sơ khai)
b) Giai đoạn từ tháng 8/1945 đến 1960
Ngay từ năm đầu kháng chiến chống Pháp chính phủ đã áp dụng chế độ hưu chí cũ củaPháp để giải quyết quyền lợi cho một số công chức đã làm việc dưới thời Pháp sau đó đi theokháng chiêns nay đã già yếu Đến năm 1950, Hồ Chủ Tịch dã kí sắc lệnh số 76/SL ngày20/5/1950 ban hành quy chế công chức và sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 ban hành quy chếcông nhân
Nhìn lại các chế độ ban hành ở giai đoạn nay cho thấy: Các chính sách được ban hànhngay sau khi giành được độc lập, trong tình trạng kinh tế còn nhiều thiếu thốn nên chưa đầy đủchỉ đảm bảo được mức sống tối thiểu cho công nhân viên chức Nhà nước Mức hưởng mang tínhbình quân, đồng cam cộng khổ, chưa có tính lâu dài Các khoản chi còn lẫn lộn với tiền lương,chính sách BHXH chưa có quỹ riêng để thực hiện Tuy nhiên, chính sách BHXH có ý nghĩa giảiquyết khó khăn cho công nhân viên chức khi tuổi già hoặc mất sức lao động
Áp dụng 6 chế độ BHXH là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao
Trang 24động, hưu trí và tử tuất cho công nhân viên chức Ngày 18/9/1985 Hội đồng bộ trưởng ban hànhnghị định 236/HĐBT về việc bổ xung, sửa đổi chế độ BHXH.
Như vậy qua hơn 35 năm thực hiện hnàg triệu người đã được hưởng lương hưu và trợ cấpBHXH, nên đã có tác dụng làm cho đội ngũ công nhân viên chức gắn bó với cách mạng với chínhquyền, khuyến khích họ hăng say chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong laođộng sản xuất xây dựng đất nước Chính sách BHXH này đã đảm bảo điều kiện thiết yếu về vậtchất và tinh thần cho người lao động trong trường hợp gặp rủi ro không làm việc được góp phầnđảm bảo an toàn xã hội Tuy nhiên, các chính sách BHXH đã ban hành cũng bộc lộ một số mặttồn tại như: phạm vi đối tượng tham gia BHXH chỉ giới hạn chưa thể hiện rõ sự công bằng đốivới người lao động làm việc trong và ngoài khu vực nhà nước, quyền lợi trách nhiệm các bêntham gia chưa được thiết lập đầy đủ
d) Giai đoạn từ 1995 đến nay
Bộ luật lao động đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua tại kì họp thứ VQuốc hội khoá IX ngày 28/6/1994, qui định tại chương XII về BHXH áp dụng cho người laođộng cho mọi thành phần kinh tế Chính phủ ban hành điều lệ BHXH kèm theo nghị định số12/CP hướng dẫn qui định thi hành
Chính sách BHXH trong giai đoạn này đã mở rộng phạm vi đối tượng tham gia đối vớilao động làm công hưởng lương ở các đơn vị, tổ chức kinh tế sử dụng 10 lao động trở lên thuộcmọi thành phần kinh tế Thực tế trước nghị định số 12/CP số lao động tham gia BHXH là 3,4triệu người thì hiện nay đã có 4,1 triệu người trong đó có 517 nghìn người ngoài quốc doanh( kể
cả doanh liên doanh) Quỹ BHXH chủ yếu từ người sử dụng lao động đóng ( 15% quĩ lương) vàngười lao động đóng(5% tiền lương) độc lập với ngân sách nhà nước Qui định rã trách nhiệmcủa người sử dụng lao động khi thuê mướn lao động phải đóng BHXH cho người lao động Quiđịnh rõ nghĩa vụ của người lao động trong việc đóng góp Nguồn thu BHXH hàng năm tăng lên
Thu(Tỉ đồng) 2569 3875 5800 5718
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 25Việc tăng nguồn thu này đã giúp cho việc thực hiện chế độ BHXH trước hết là người nghỉ hưuđược tốt hơn Chế độ BHXH có tác dụng tích cực làm ổn định đời sống người lao động từ đó cótác dụng tích cực động viên mọi người an tâm lao động sản xuất, với năng suất cao, hiệu quả cao.
Đã thể hiện được sự công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ đồng thời mang tính chất cộng đồng
xã hội để chia sẻ rủi ro.Tuy nhiên,về đối tượng tham gia BHXH chủ yếu vẫn là ở khu vực Nhànước, lao động làm việc ở cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh, kể cả liên doanh cồnthấp, chỉ có 15% lực lượng lao động xã hội thuộc đối tượng BHXH bắt buộc.Hiện nay, loại hìnhBHXH tự nguyện chưa được ban hành Do đó, nhiều người lao động không thuộc diện làm công
ăn lương, có nguỵện vọng tham gia BHXH thì chưa thực hiện được nguyện vọng của mình, chưa
có chế độ bảo hiểm thất nghiệp để ổn định cuộc sống người lao động bị mất việc làm Công tácgiáo dục tuyên truyền còn rất hạn chế nên nhiều doanh nghiệp không đống BHXH Một số quiđịnh trong chính sách chế độ BHXH hiện hành trong quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc
2.1.2 Đối tượng áp dụng
1.Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thờihạn từ đủ ba tháng trở lên;
b) Cán bộ, công chức, viên chức;
c) Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan,
hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương nhưđối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;
đ) Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thờihạn;
e) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
2 Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước
Trang 26ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinhdoanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho ngườilao động.
3 Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồnglao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác địnhthời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người sử dụng lao động quy định tạikhoản 4 Điều này
4 Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động quy định tạikhoản 2 Điều này có sử dụng từ mười lao động trở lên
5 Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động,không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này
6 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội
2.1.3 Hệ thống chế độ BHXH ( quy định và các tính)
a) Chế độ ốm đau:
- Các trường hợp hưởng chế độ ốm đau
+ Bản thân chúng ta ốm đau thong thường, dài ngày ( lớn hơn 180 ngày)
- Đối với người mắc bệnh cần điều trị dài ngày, quy định độ dài thời gian hưởng trợ cấp khôngquá 180 ngày trong một năm, sau đó chuyển sang hưởng mức trợ cấp thấp hơn tuỳ thuộc vào thờigian đóng BHXH, cụ thể như sau:
+ Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đãđóng từ đủ 30 năm trở lên;
+ Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đãđóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm;
Trang 27+ Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đãđóng dưới 15 năm.
+ Mức trợ cấp thấp nhất bằng mức tiền lương tối thiểu chung
- Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH, nếu người mẹ (hoặc người cha) đã hết thời hạnhưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người cha (hoặc người mẹ) được hưởng chế độ theo quyđịnh
b) Chế độ thai sản:
- Điều kiện được hưởng chế độ thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi là: người lao độngphải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhậnnuôi con nuôi
- Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 5 lần, mỗi lần 1 ngày
- Tăng thêm thời gian hưởng trợ cấp thai sản đối với các trường hợp sẩy thai hoặc sau khi sinhcon mà con chết đảm bảo lao động nữ có đủ thời gian phục hồi sức khoẻ:
+ Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thaisản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một tháng đến dưới ba tháng;bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trởlên
+ Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới 60 ngày tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 90 ngàytính từ ngày sinh con; nếu con từ 60 ngày tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc 30 ngày tính
từ ngày con chết
- Quy định đối tượng là nữ bị tàn tật được nghỉ hưởng trợ cấp thai sản 6 tháng
- Quy định trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ đều tham giaBHXH mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độthai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi
- Sửa đổi mức trợ cấp 1 lần khi sinh con, nhận nuôi con nuôi: Lao động nữ sinh con hoặc ngườilao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần bằng 2 tháng lương tốithiểu chung cho mỗi con.Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết khi sinhcon thì cha được trợ cấp 1 lần bằng 2 tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con
- Mức hưởng trợ cấp thai sản bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXHcủa 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc
c) Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Trang 28* Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động: Người lao động bị tai nạn và suy giảm khả năng lao
động từ 5% trở lên thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Tai nạn tại nơi làm việc trong giờ làm việc;
- Tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu củangười sử dụng lao động;
- Tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyếnđường hợp lý
* Điều kiện hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp: Người lao động bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề
nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môitrường hoặc nghề có yếu tố độc hại và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên
* Giám định mức suy giảm khả năng lao động: Bổ sung quy định giám định tổng hợp mức suy
giảm khả năng lao động khi người lao động vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp hoặc
bị tai nạn lao động nhiều lần hoặc bị nhiều bệnh nghề nghiệp
* Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
được chia thành nhiều mức tuỳ thuộc vào từng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động Mức trợ cấp tainạn lao động, bệnh nghề nghiệp được tính gồm có 2 phần: phần trợ cấp tính theo mức suy giảmkhả năng lao động được hưởng trên nền mức lương tối thiểu chung và phần trợ cấp tính theo thờigian đóng bảo hiểm xã hội được hưởng trên nền tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội, cụthể như sau:
- Trợ cấp hàng tháng:
+ Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó
cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung;
+ Ngoài mức trợ cấp trên, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm
đã đóng BHXH, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng
Trang 29BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khinghỉ việc để điều trị.
- Điều chỉnh mức trợ cấp phục vụ như sau: Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thìhằng tháng được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương tối thiểu chung (theo quy định hiệnhành là bằng 80% mức lương tối thiểu chung)
- Nâng mức trợ cấp 1 lần đối với trường hợp chết do tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, cụ thể:Người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trongthời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp
1 lần bằng 36 tháng lương tối thiểu chung (Theo quy định cũ là 24 tháng mức lương tối thiểuchung)
d) Chế độ hưu trí
* Điều kiện hưởng lương hưu:
- Đối với cán bộ công nhân viên chức và người lao động: có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên vàthuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;
năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hoặcLuật công an nhân dân có quy định khác;
+ Nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và có đủ 15 năm làm nghềhoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trởlên
- Đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20năm trở lên được hưởng lương hưu hằng tháng với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện theoquy định trên khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi trở lên;
+ Có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộcdanh mục do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành
* Mức lương hưu: