1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dưỡng học sinh giỏi Văn ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú

157 1,7K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 809,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là một bộ môn nghệ thuật ngôn từ, văn học có những đặc điểm cơ bản như sau: * Tính chất phi vật thể của hình tượng văn học Được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, hình tượng

Trang 1

Dẫu biết đây là công việc nhiều gian nan của những ai thật sự tâm huyết với nghề, song chúng tôi - những giáo viên may mắn và cũng rất tự hào đuợc công tác và trưởng thành từ một mái trường anh hùng: Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hoà Bình – đã luôn luôn nỗ lực hết mình trong công tác giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi Văn Lặng lẽ mà miệt mài, âm thầm mà tận tụy - các thầy giáo, cô giáo nơi đây cùng với các thế hệ học sinh trong đội tuyển Văn đã liên tục ghi những nét son trong bảng vàng thành tích học tập của nhà trường

Chúng tôi biết rằng, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Văn ở các trường phổ thông không phải là một điều mới mẻ Những điều chúng tôi nêu ra có thể đồng nghiệp ở trường bạn đã làm và làm rất thành công Song với tính chất đặc thù của một mái trường có nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo con em các

dân tộc thiểu số của tỉnh nhà, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Bồi dưỡng học sinh giỏi Văn ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hoà Bình” với mong muốn đây sẽ là dịp thuận lợi để nhóm giáo viên Ngữ văn của

trường cùng nhìn nhận, đánh giá lại và định hướng những gì mình đã, đang và

sẽ làm Những ý kiến đưa ra trước hết là bài học kinh nghiệm cho chính bản thân chúng tôi; sau nữa là mạnh dạn chia sẻ với đồng nghiệp Hi vọng chúng

Trang 2

ta sẽ cùng trao đổi, học tập, cùng cảm thông, thấu hiểu và cùng tiến bộ trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn.

2 Mục đích nghiên cứu:

Mục tiêu lớn nhất mà đề tài hướng tới là qua quá trình khảo sát, đánh

giá công tác ôn luyện học sinh giỏi Văn của trường trong nhiều năm qua để rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm duy trì và phát huy hơn nữa thành tích học tập - giảng dạy môn Văn của nhà trường

Đây cũng là cơ hội để nhóm giáo viên Ngữ văn chúng tôi được trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, qua đó mỗi người dần dần tự hoàn thiện chính bản thân đồng thời thúc đẩy chất lượng dạy - học bộ môn trong nhà trường

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

Khách thể nghiên cứu:

Quá trình ôn luyện học sinh giỏi Văn tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hoà Bình

Đối tượng nghiên cứu:

Việc giảng dạy đội tuyển học sinh giỏi Văn của giáo viên và việc ôn luyện trong đội tuyển Văn của học sinh tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hòa Bình

4 Giả thuyết khoa học:

Những nhìn nhận, đánh giá được chúng tôi nêu ra trong đề tài nghiên cứu

sẽ có ý nghĩa to lớn đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Văn của trường trong những năm tiếp theo: Phát huy thành tích đã đạt được và không ngừng đổi mới, sáng tạo để duy trì, phát triển hiệu quả dạy học cho học sinh giỏi Văn

ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hoà Bình

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận:

- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp ( văn hoá, tâm lí học, lí luận văn học )

- Phương pháp phân tích

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trang 3

- Phương pháp khảo sát, thống kê.

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

6 Cơ sở, phạm vi, thời gian nghiên cứu:

6.1 Cơ sở:

- Cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu: Đặc trưng bộ môn Văn

- Cơ sở thực tiễn của đề tài:

Trang 4

PHẦN THỨ HAI QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đây không phải là lần đầu tiên công tác ôn luyện học sinh giỏi Văn tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hòa Bình được đề cập tới Điều này đã được bàn đến qua:

• Sáng kiến kinh nghiệm của thầy Nguyễn Đại Dương ( năm học

Tuy nhiên, bên cạnh những nét chung có thể thống nhất về quan điểm giải pháp…cho việc ôn luyện học sinh giỏi Văn thì từ đó đến nay, việc ôn luyện học sinh giỏi Văn tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hoà Bình luôn không ngừng biến đổi theo quá trình phát triển của nhà trường, thay đổi theo nội dung chương trình, hình thức kiểm tra đánh giá của sách giáo khoa

mới Vì vậy, khi chọn đề tài nghiên cứu “Bồi dưỡng học sinh giỏi Văn tại trường Dân tộc Nội trú tỉnh Hoà Bình ” cho năm học 2012- 2013, chúng tôi

mong muốn một lần nữa đánh giá, tổng hợp lại những kinh nghiệm có tính chất truyền thống mà chúng tôi đã và vẫn đang làm; đồng thời đề xuất một số giải pháp mà các thầy cô giáo ở các thế hệ sau đang vận dụng trong quá trình

Trang 5

ôn luyện học sinh giỏi Văn của trường trong thời điểm hiện tại Đề tài mà chúng tôi nghiên cứu mang tính chất tiếp nối, kế thừa, phát huy chứ không phải là những sáng tạo hoàn toàn mới mẻ.

2 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu: Đặc trưng bộ môn Văn

Mỗi bộ môn được giảng dạy trong nhà trường phổ thông đều có những

đặc trưng riêng của nó Thiết nghĩ để việc dạy – học có hiệu quả, mỗi người thầy cần hiểu đúng, nắm chắc những đặc trưng của bộ môn mình đảm nhiệm

để từ đó có những phương pháp dạy – học hiệu quả, phù hợp với đặc trưng môn học Điều này còn cần thiết, quan trọng hơn rất nhiều đối với những ai phụ trách công tác ôn luyện học sinh giỏi

Riêng với môn Văn, chúng ta hãy cùng nhau điểm lại sơ lược những đặc trưng cơ bản nhất của bộ môn này (nhìn từ góc độ bản chất thẩm mĩ của văn học)

2.1 Văn học – hình thái ý thức thẩm mĩ.

2 1.1 Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học:

* Đối tượng của văn học:

Nội dung là yếu tố đầu tiên quy định sự khác nhau của văn học so với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, tôn giáo, lịch sử, địa lí, sinh học Nội dung, trước hết là cái được nhận thức, chiếm lĩnh từ đối tượng Vậy đối tượng của văn học là gì?

Các nhà mĩ học duy vật từ xưa đến nay đều khẳng định: đối tượng của nghệ thuật chính là toàn bộ đời sống hiện thực khách quan Như vậy, có thể

nói, đối tượng của văn học, nghệ thuật là toàn bộ đời sống xã hội và tự nhiên Tsécnưsépxki từng nói: “Cái đẹp là cuộc sống” vì lí do đó Nhưng phạm vi này vô cùng rộng Bởi lẽ, nếu nói đối tượng của văn học là đời sống thì chưa tách biệt với đối tượng của các ngành khoa học và các hình thái ý thức xã hội khác như lịch sử, địa lí, hóa học, y học, chính trị, đạo đức Văn học phải có cách nhận thức và thể hiện đối tượng khác biệt

Trang 6

Nếu như đối tượng của triết học là những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; đối tượng của lịch sử là các sự kiện lịch sử, sự thay thế nhau của các chế độ; đối tượng của đạo đức học là các chuẩn mực đạo đức trong mối quan hệ người với người

thì đối tượng của văn học là toàn bộ đời sống hiện thực, nhưng chỉ là hiện thực có ý nghĩa đối với đời sống tâm hồn, tình cảm con người Tức là, dù văn

học có miêu tả thế giới bên ngoài như thiên nhiên, lịch sử, chiến tranh, hòa bình , văn học cũng chỉ chú ý tới quan hệ của chúng đối với con người

* Nội dung của văn học:

Nội dung văn học là toàn bộ đời sống đã được ý thức, cảm xúc, đánh giá

và phán xét phù hợp với một tư tưởng về đời sống, một cảm hứng và một lí tưởng thẩm mĩ và xã hội nhất định Đó là một nội dung hòa quyện giữa hai mặt khách quan và chủ quan, vừa có phần khái quát, tái hiện đời sống khách quan vừa có phần bắt nguồn từ nhận thức, cảm hứng và lí tưởng của nghệ sĩ Nội dung khách quan của văn học là toàn bộ đời sống hiện thực được tái hiện, từ các vấn đề lịch sử, con người, phong tục, đạo đức, xã hội, từ các chi tiết hiện thực đời sống nhỏ nhặt đến những biến cố xã hội lớn lao Không chỉ miêu tả đời sống khách quan trong văn học còn thể hiện những tình cảm xã hội, ước mơ, khát vọng, cảm hứng, lí tưởng thẩm mĩ, những chân lí được thể nghiệm, những thiên hướng đánh giá của chính tác giả Toàn bộ đời sống

hiện thực đi vào tác phẩm đã hóa thành nỗi niềm, khát vọng Đọc Truyện Kiều, ta đâu chỉ thấy bộ mặt đời sống hiện thực xã hội phong kiến mà còn cảm nhận “tấm lòng sáu cõi, rộng nghìn đời” của Nguyễn Du thấm từng con chữ Người xưa nói “viết như máu chảy đầu ngọn bút” chính là nói đến phần

nội dung đầy cảm xúc chủ quan mãnh liệt này của chính bản thân con người sáng tác Như vậy, nội dung chủ quan của văn học là hiện thực được nhìn nhận dưới con mắt nghệ sĩ, được khái quát theo kiểu nghệ thuật, được phơi bày dưới ánh sáng một thế giới quan, một lí tưởng thẩm mĩ và những thiên hướng tình cảm nhất định

Trang 7

Trong văn học, hai nội dung khách quan và chủ quan này không hề tách bạch, mà xuyên thấm trong hình tượng Khi chúng ta chiêm ngưỡng một hình tượng nghệ thuật,trong đó đã bao hàm sự phản ánh, đánh giá, cũng như sự lí giải đời sống một cách trọn vẹn.

2.1.2 Hình tượng văn học

* Khái niệm

Văn học nhận thức đời sống, thể hiện tư tưởng tình cảm, khát vọng và mơ

ước của con người thông qua hình tượng nghệ thuật Hình tượng chính là phương thức phản ánh thế giới của văn học được sáng tạo bằng hư cấu và tưởng tượng, vừa cụ thể vừa khái quát, mang tính điển hình, giàu ý nghĩa thẩm mĩ, thể hiện tư tưởng và tình cảm con người

* Đặc trưng của hình tượng

Hình tượng văn học gồm những đặc trưng cơ bản như sau: Hình tượng là

một khách thể mang tính tinh thần; Hình tượng mang tính tạo hình và biểu hiện; Tính quy ước và sáng tạo của hình tượng; Hình tượng chứa đựng tình

cảm xã hội và lí tưởng thẩm mĩ; Tính nghệ thuật của hình tượng (Do vấn đề

này khá rộng và xa với mục đích nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi không tiến hành phân tích cụ thể mà chỉ điểm qua những nét cơ bản)

Tóm lại, những đặc trưng riêng biệt về đối tượng, nội dung, phương thức phản ánh hiện thực đã phân biệt văn học là một hình thái ý thức thẩm mĩ đặc thù, Với những nét riêng ấy, việc tiếp nhận văn học đòi hỏi có những phương pháp, cách thức và con đường riêng

2.2 Văn học – nghệ thuật ngôn từ

2.2.1 Ngôn từ - chất liệu của văn học

Văn học không chỉ là một loại hình ý thức xã hội mà còn là một loại hình nghệ thuật Mỗi loại hình nghệ thuật có vai trò và vị trí riêng trong đời sống tình cảm của con người Xét đến cùng đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật đều bắt nguồn từ chất liệu của nó Ví dụ chất liệu của hội hoạ là màu sắc, đường nét, của vũ đạo là hình thể động tác, của âm nhạc là âm thanh, tiết tấu,

Trang 8

v.v Chất liệu của văn học là ngôn từ Tìm hiểu văn học như nghệ thuật ngôn

từ là tìm hiểu đặc thù riêng của văn học trong mối tương quan với các loại hình nghệ thuật khác

Với tư cách là một bộ môn nghệ thuật ngôn từ, văn học có những đặc điểm cơ bản như sau:

* Tính chất phi vật thể của hình tượng văn học

Được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, hình tượng văn học là một loại

hình tượng gián tiếp chỉ có thể hiện lên qua sự hình dung, tái tạo, qua trí tưởng tượng của người đọc Hình tượng văn học tác động vào trí tuệ và sự liên tưởng của người đọc Không ai nhìn thấy hình tượng văn học bằng mắt thường Nó chỉ bộc lộ qua cái “nhìn” bên trong thầm kín Đó là tính chất tinh thần hay tính phi vật thể của hình tượng văn học

* Thời gian và không gian trong văn học

Không gian và thời gian là phương thức tồn tại của bản thân hình tượng

Đặc thù gián tiếp của hình tượng văn học đã đưa đến chỗ mạnh của việc sử dụng hai phương thức này

Thời gian trong văn học có những nhịp điệu, sắc độ riêng để phản ánh hiện thực Văn học có thể kéo dài thời gian bằng cách miêu tả rất tỉ mỉ mọi diễn biến tâm trạng, mọi diễn biến hành động của nhân vật của các sự kiện Ngược lại, nhà văn có thể làm cho thời gian trôi nhanh đi bằng cách dồn nén làm cho khoảng một thời gian dài chỉ qua một dòng trần thuật ngắn Chính nhờ ngôn từ mà hình tượng văn học có những hình thức thời gian đặc biệt để văn học có thể chiếm lĩnh đời sống trên một tầm sâu rộng mà hội hoạ và điêu khắc khó bề đạt được

Không gian trong văn học cũng có những nét đặc thù Không gian chính

là môi trường tồn tại của con người: dòng sông, cánh đồng, ngọn núi, đèo xa, biển cả Với mỗi không gian tồn tại, con người có một phong thái sống riêng biệt Còn trong văn học, không gian không hề bị một giới hạn nào, con người

có thể đi từ thế giới này sang thế giới khác một cách dễ dàng Đặc sắc này

Trang 9

làm cho văn học phản ánh đời sống trong sự toàn vẹn, đầy đặn của nó.

* Khả năng phản ánh ngôn ngữ và tư tưởng của hình tượng văn học

Người ta cho rằng: ngôn từ chẳng những là phương tiện miêu tả, mà còn

là đối tượng miêu tả của văn học Hoạt động lời nói, suy nghĩ là một mặt cơ bản của đời sống xã hội của con người Qua văn học ta có thể nghe thấy tiếng nói của mọi tầng lớp người ở các thời đại khác nhau

Khác với các loại hình nghệ thuật khác, văn học có khả năng miêu tả tư tưởng và các xung đột tư tưởng, nên tính tư tưởng của tác phẩm văn học sắc bén hơn Không những văn học mang tính khuynh hướng tư tưởng rõ rệt mà còn có khả năng thâm nhập sâu xa vào dòng ý thức, dòng tình cảm của con người Nghệ thuật miêu tả tâm lí của Tônxtôi đạt đến trình độ phép biện chứng tâm hồn chính vì đã miêu tả được sự vận động tất yếu của dòng cảm xúc và ý nghĩ của nhân vật

2.3 Tính đa chức năng của văn học

2.3.1 Chức năng thẩm mĩ

Chức năng thẩm mĩ là khả năng của văn học làm thỏa mãn khoái cảm thẩm mĩ, từ đó xây dựng, bồi đắp tình cảm thẩm mĩ và ý thức thẩm mĩ cho con người

*Thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ

Văn học nghệ thuật có khả năng làm thỏa mãn khoái cảm thẩm mĩ (aesthetic - còn gọi là mĩ cảm) của con người, tức là sự vui sướng, phấn khích, vui vẻ, dễ chịu, hấp dẫn khi tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật

Trước hết, đó là những giá trị hướng tới cái đẹp Sáng tạo cái đẹp là một mục đích và nhu cầu của con người trong nhiều lĩnh vực Trong nghệ thuật, cái đẹp không chỉ nằm trong yếu tố hình thức mà còn trong các yếu tố nội dung Bên cạnh cái đẹp, còn có những nội dung tạo mĩ cảm khác như cái bi, cái hùng, cái cao cả, và cả cái tầm thường, cái xấu, cái gớm ghiếc như là những phản đề của cái đẹp

Giá trị thẩm mĩ còn bộc lộ qua những điều sâu sắc, mới lạ, có ý nghĩa

Trang 10

nhân sinh độc đáo, mang giá trị tinh thần cao; hoặc được tạo nên từ sự miêu tả chân thực cuộc sống Miêu tả thật đúng, chính xác những nét tính cách, những phẩm chất của con người, dù có thể xấu xa nhưng cũng tạo nên sự hấp dẫn Bởi đó chính là bản chất và tính đa dạng của cuộc sống đã hiện hình qua những nhân vật đó.

Khoái cảm thẩm mĩ còn bắt nguồn từ việc thỏa mãn những ước mơ của con người Trong văn học, con người có thể sống nhiều cuộc đời, có thể giãi bày những oan khuất, người tốt được đền bù, kẻ ác bị trừng phạt, công lí được thi hành, phù hợp với niềm tin và mơ ước của số đông

2.3.2 Chức năng nhận thức

* Văn học cung cấp tri thức bách khoa về cuộc sống

Chức năng nhận thức là chức năng đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con

người về thế giới Hiện thực cuộc sống vô cùng phong phú với những kiến thức về địa lí, lịch sử, phong tục, tôn giáo, đạo đức, văn hóa của một dân tộc hoặc một thời đại

Nhưng nội dung nhận thức cơ bản nhất vẫn là đời sống tâm tư tình cảm và

số phận con người thông qua những bức tranh thiên nhiên, phong tục và lịch

sử đó Gắn với đời sống con người là các vấn đề của đời sống vật chất và tinh thần con người: vấn đề tự do, độc lập, khát vọng hạnh phúc, khẳng định cá tính, quyền lực, rồi chuyện miếng ăn, cái đói

* Nhận thức cái khái quát qua cái cụ thể, cái mới lạ trong cái quen thuộc, làm cho con người có khả năng tự nhận thức

Mục đích cuối cùng của nhận thức là hướng tới những khái quát lớn,

Trang 11

khám phá bản chất, quy luật của các hiện tượng Do phản ánh được bản chất

và quy luật của đời sống hiện thực, các kiệt tác văn học bao giờ cũng có sức hấp dẫn mang tính thời đại

Nhưng nhận thức khái quát đó phải được nhận thức thông qua những hình tượng cụ thể.Ví như vẻ đẹp của Hà Nội được cảm nhận qua hương cốm mùa thu, một con ngõ nhỏ

2.3.3 Chức năng khêu gợi tư tưởng, tình cảm (chức năng giáo dục)

* Văn học khêu gợi tư tưởng tình cảm, nuôi dưỡng tâm hồn

Chức năng giáo dục là chức năng giúp xây dựng một thái độ, một tình cảm nhất định đối với cuộc sống

Tác phẩm văn học bao giờ cũng phản ánh hiện thực trong tính khuynh hướng tư tưởng và tình cảm, bao giờ cũng toát lên nhiệt tình khẳng định hay phủ định, khát khao nhìn thấy lẽ phải, chân lí ở đời được thực hiện, cho nên văn học còn thức tỉnh con người lương tri, dạy biết yêu, biết căm giận, biết chia sẻ, xót thương

Văn học giúp hình thành thế giới quan và các quan điểm chính trị, xã hội Văn học còn góp phần hình thành những quan điểm đạo đức Văn học dạy ta biết yêu biết ghét, biết khinh bỉ sự phản trắc, cái tẹp nhẹp, tầm thường, cái lười biếng, độc ác gian tham Văn học khơi dậy niềm tin vào sự tất thắng của cái thiện, niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai, dạy cho người ta biết xả thân

vì nghĩa lớn, khát khao đóng góp cho cuộc sống ngày càng đẹp hơn

* Văn học giúp con người tự hoàn thiện nhân cách

Văn học giúp tác động, cải tạo phẩm chất người (đạo đức, cách ứng xử, suy nghĩ phù hợp với lẽ phải, với tình thương, lòng nhân ái, làm cho con người hiểu nhau, sống tốt hơn, có ý nghĩa hơn, hướng tới sự hoàn thiện Văn học còn giúp rèn luyện và phát triển những giác quan thẩm mĩ, khả năng nhận biết cái đẹp trong đời sống và trong nghệ thuật

2.3.4 Chức năng giao tiếp và giải trí

Trong cuộc sống, việc giao tiếp diễn ra thường xuyên với nhiều hình thức

Trang 12

Văn học thực hiện nhiệm vụ giao tiếp theo cách riêng Trong tác phẩm văn học, nhà văn không chỉ chuyển tải những thông tin thông thường, mà những thông tin ấy chứa đựng nội dung tư tưởng, tình cảm và mang tính khuynh hướng xã hội đậm nét.

Với chức năng giao tiếp của mình, văn học đã mang tiếng nói của dân tộc này đến với dân tộc khác làm cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn

Khi cầm bút sáng tác chính là lúc nhà văn muốn trình bày, muốn chia sẻ với bạn đọc những suy tư, những nỗi niềm để tâm hồn thanh thoát Người đọc văn học cũng là để thư giãn sau những giờ phút lao động căng thẳng Do đó, trong chức năng giao tiếp của văn học có chứa đựng cả chức năng giải trí

* Tóm lại, các chức năng nói trên của văn học không tách rời các giá trị chân – thiện – mĩ nên chúng cũng không thể tách rời Sự gắn bó giữa các chức năng làm cho văn học có sức tác động sâu xa, bền bỉ, có sức sống mãnh liệt, dài lâu, không gì thay thế trong đời sống tinh thần của chúng ta

3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

3.1 Thực trạng kinh tế xã hội

Đặc việc dạy và học đối với học sinh giỏi bộ môn Văn trong bối cảnh nền

kinh tế xã hội hiện nay chúng tôi nhận thấy: thực trạng kinh tế xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc dạy – học Văn, nhất là bồi dưỡng học sinh giỏi Văn Bởi vì, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin như ngày nay, học sinh được tiếp xúc rất sớm với các trang thiết bị hiện đại Điều này giúp các em có thể cập nhập thông tin một cách nhanh chóng nhưng mặc khác cũng khiến nhiều em lười suy nghĩ, có thói quen ỷ lại vào máy móc Thói lười suy nghĩ ngại tìm tòi từ ngữ, khiến cho khả năng diễn đạt của học sinh trước một vấn

đề nào đó thường lung túng, “bí từ”, thậm chí rất ngô nghê Chúng tôi vẫn phàn nàn là “ chất” văn của học sinh bây giờ ít quá! Thêm vào đó cuộc sống hiện đại khiến các em có một quan niệm sống và xu hướng chọn nghành nghề rất thực tế Nhiều em không thích lựa chọn các nghành nghề khoa học xã hội

Trang 13

vì ra trường khó xin việc làm, thu nhập thấp…

Từ thực trạng trên mà việc dạy và học bộ môn Ngữ văn ở các trường Phổ thông gặp không ít khó khăn, Những em có niềm đam mê thực sự với môn Văn ngày càng ít ỏi Rất nhiều học sinh cảm thục văn học không có tính hình tượng, không bằng trí tưởng tượng, sự liên tưởng mà bằng cái nhìn “ trần trụi”, thực tế của các em ngoài đời

3.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Việc ôn luyện, bồi dưỡng học sinh giỏi văn ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hòa Bình có những thuận lợi và khó khăn cơ bản như sau:

Về thuận lợi: Do đặc thù của một trường chuyên biệt, học sinh học tập tại trường hầu hết là con em của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, các em được lớn lên từ núi rừng, bản làng với một tâm hồn hết sức trong sáng Những cảm xúc văn chương trong tâm hồn các em hầu như còn được lưu giữ nguyên vẹn, chưa bị cái phồn tạp của cuộc sống đô thị làm cho mai một, mài mòn Những tâm hồn trong sáng ấy lại được những bàn tay, khối óc của các thế hệ thầy cô giáo nơi đây ngày đêm miệt mài vun xới, như một mảnh đất màu mỡ, gặp dòng nước mát lành và đôi tay cần cù, khối óc sáng tạo của người gieo hạt nên đã cho kết quả những vụ mùa bội thu

Nhưng có thành quả nào không phải đánh đổi bằng mồ hôi và nước mắt?

Để có được bề dày thành tích như ngày hôm nay, việc bồi dưỡng học sinh giỏi Văn của thầy và trò nhà trường đã phải đổi mặt với không ít khó khăn, thử thách Là học sinh dân tộc nên học sinh vẫn có thói quen phát âm và viết theo tiếng địa phương Cũng vì đa phần lớn lên từ miền quê nghèo nên trước khi lên đây, các em hầu như phải vừa học, vừa lao động giúp đỡ gia đình Các em không có nhiều quĩ thời gian để học tập, không có nhiều sách tham khảo nâng

có như học sinh thành phố Những khó khăn đó khiến nhiều em trước khi bước vào ôn luyện đội tuyển có vốn văn học rất hạn chế Với phương trâm

“đãi cát tìm vàng” – chúng tôi – những thầy cô đang phụ trách công tác ôn luyện học sinh giỏi Văn của trường vẫn luôn tâm niệm: đây là một công việc

Trang 14

nhọc nhằn nhưng cũng thật vinh quang; là trách nhiệm của một người giáo viên nhưng cũng là tình thương yêu đối với con em các dân tộc thiểu số của tỉnh nhà Những khó khăn, thử thách đã không làm nản bước, chùn lòng các thầy cô giáo trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn của trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hòa Bình trong bao năm học vừa qua.

Trang 15

CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

1 Việc phát hiện và chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi Văn.

Việc phát hiện học sinh giỏi Văn người dân tộc cho đến nay chưa có một công trình khoa học sư phạm nào đề cập đến một cách kĩ càng và hệ thống Nếu có nói đến thì cũng chỉ là vấn đề lẻ tẻ, những bài viết trong phạm vi nhỏ, tầm phổ biến chưa rộng, chưa có sức thuyết phục cao

Hơn thế, đây lại là một vấn đề vừa dựa vào lí giải khoa học nhưng vừa nặng về nhận định cảm tính Tuỳ theo cách nhìn nhận cùa mỗi giáo viên mà học sinh này hay học sinh kia có năng lực học Văn

Vì vậy, việc chọn đội tuyển học sinh giỏi Văn thường gây ra những bàn luận sôi nổi của đội ngũ giáo viên và kể cả học sinh Thậm chí có những ý kiến nhận định trái ngược nhau có khi tạo ra những ngạc nhiên đầy thú vị

Việc phát hiện học sinh giỏi Văn người dân tộc của chúng tôi không nằm ngoài thực trạng chung đó Qua thực tế nhiều năm làm đội tuyển Văn, chúng tôi cho rằng: Việc phát hiện học sinh giỏi Văn người dân tộc tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Hòa Bình phải chú trọng, căn cứ vào những yếu tố sau :

1.1 Nguyên tắc lựa chọn:

Thứ nhất, cần xem xét xem tố chất học Văn của học sinh đó có tốt không như: tiếp thu nhanh, trí nhớ bền vững, có khả năng phát hiện vấn đề và khả năng sáng tạo Điều này được xem xét qua các bài làm văn hoặc những câu trả lời miệng của học sinh trong giờ học văn, trong các buổi ngoại khoá văn học

Thứ hai, chọn học sinh có vốn tri thức phong phú và hệ thống, thuộc nhiều thơ văn trong, ngoài nhà trường qua sự tìm đọc tích luỹ, phải có sự hiểu biết càng nhiều càng tốt

về con người và xã hội

Trang 16

Chẳng hạn nhờ có sự say mê tìm đọc mà một học sinh đã biết thêm ý kiến của thầy

giáo Mai Văn Hoan về cách hiểu câu thơ: Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng là phải

dựa vào đặc điểm cây Bồ đề - một loài cây cao chừng 15 m, búp non, phủ lông mịn màu vàng, hoa nhỏ mọc thành chùm Bồ đề có hai loại: loại hoa trắng gọi là cánh kiến trắng, loại hoa vàng gọi là cánh kiến vàng Loại cánh kiến hoa vàng thường mọc trên vùng sỏi sạn ở độ cao 300 - 700 m Nhựa của nó vừa là loại thuốc quý, vừa để chế ra loại keo gắn

kết rất chặt Phải chăng vì những phẩm chất đó mà nhà thơ Chế Lan Viên so sánh Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng - một tình yêu đẹp được ươm mầm trong gian khổ, khó

khăn và khăng khít keo sơn mãi mãi

Thứ ba, một trong những biểu hiện thường không thể thiếu và thường không thể giấu của học sinh giỏi Văn là rất giàu tình cảm và nhạy cảm trước mọi vấn đề, trước cuộc sống Biểu hiện của những học sinh này là rất vui nhưng cũng dễ buồn trước những vấn

đề đặt ra trong tác phẩm và nhất là do sự tác động qua lời giảng của giáo viên Thường đây là những học sinh sống tình cảm gần gũi với bạn bè, thầy cô, hay bộc lộ cảm xúc qua tình cảm và chiều sâu nội tâm, thông qua cách biểu hiện trực tiếp hay gián tiếp qua các bài viết

Thứ tư, học sinh giỏi Văn là học sinh có vốn tiếng Việt khá dồi dào, biết sử dụng chính xác chúng trong những trường hợp khác nhau

Thứ năm, chọn những học sinh có năng lực trình bày rõ ràng, chắc chắn qua bài làm văn Văn các em này có thể còn hơi khô khan, viết chưa sinh động, vì không biết dùng

từ ngữ, câu văn gợi cảm, có hình ảnh, nhưng đây cũng được coi là mảnh đất dễ cải tạo, nếu được thầy cô rèn giũa thêm thường có tiến bộ rất nhanh chóng Lợi thế của dạng học sinh này là các em rất thích hợp với việc làm các bài tập, bài văn bình luận, kiểu bài đòi hỏi tính kỉ luật, lập luận chặt chẽ, khúc chiết hơn là lời văn giàu cảm xúc Nếu gặp những đề bài loại này sở trường của các em thường được phát huy tốt

Thứ sáu, học sinh giỏi Văn được chọn phải là những học sinh có niềm say mê văn học, yêu thích môn Văn và có khát khao đạt giải học sinh giỏi Văn các cấp Trong thực

Trang 17

tế có khá nhiều học sinh dân tộc có tố chất học Văn tốt, có kĩ năng làm bài văn nghị luận khá vững vàng, nhưng các em lại coi môn Văn là môn phải học để thi chứ không thật say mê nó Các em theo đuổi niềm say mê ở các môn học khác Những học sinh này nếu đưa vào học đội tuyển thường lười làm bài tập và có thể sẵn sàng bỏ giữa chừng Nếu cố ép đi thi, hiệu quả đạt điểm thường không cao.

Thứ bảy, chọn học sinh đội tuyển Văn còn phải đặc biệt chú ý đến thái độ học tập nghiêm túc của các em Phải chọn những em cần cù chăm chỉ, kiên trì học tập và kiên quyết đi thi đoạt giải Đây là tố chất của ý chí nghị lực và là chìa khóa của sự thành công, đúng như một danh ngôn đã nói: “Trên con đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng ”

Trong thực tế đã từng có một số em học sinh có tố chất học Văn, rất say mê văn chương, rất khao khát đạt giải Văn, thế nhưng khi học đội tuyển Văn, ý thức học tập thiếu nghiêm túc, không chịu khó làm bài tập, ngại viết bài, ngại sửa lỗi … nên đạt kết quả không cao trong các kì thi

1.2 Phương pháp chọn.

Thứ nhất, cách tốt nhất là nên để các em tự bộc lộ mình qua kiểm tra, phát vấn, từ đó tìm ra sự tinh nhạy và lô gíc trong tư duy Cho các em làm bài nhiều lần ở nhiều dạng đề ( cảm thụ văn học, bình luận văn học, đề tổng hợp, đề đối sánh…) để kiểm tra năng lực diễn đạt, khả năng sáng tạo và vốn kiến thức

Thứ hai, để việc lựa chọn mang tính chuẩn xác cao và không bị cách đánh giá chủ quan của mình chi phối thì nên tranh thủ sự đánh giá của đồng nghiệp bằng cách: đưa cho họ đọc các bài viết của các em hoặc nhờ ra đề và chấm Sau đó đối chiếu kết quả đánh giá của mình với đồng nghiệp để có sự lựa chọn chính xác

2 Việc trang bị kiến thức, kĩ năng cho học sinh trong đội tuyển học sinh văn 2.1 Lập hệ thống chương trình

Việc đầu tiên của giáo viên luyện đội tuyển Văn trong một kì ôn thi học sinh giỏi là phải phải lập được hệ thống chương trình ôn tập phù hợp cho từng năm Để học sinh

Trang 18

ngay từ đầu ý thức được mình phải học gì, huy động tài liệu gì… Hệ thống chương trình

ôn tập phải khoa học, chặt chẽ và phải toàn diện Khi ôn tập song chương trình học sinh phải có khả năng xử lí tốt tất cả các đề bài, kể cả những đề bài không phải là sở trường của các em Hết sức tránh lối ôn tủ theo kiểu “ được ăn cả, ngã về không ”

2.2 Tạo cho học sinh một cái phông kiến thức sâu, rộng

2.2.1 Kiến thức về đời sống chính trị , xã hội:

Người dạy cần cung cấp qua các bài dạy trên lớp, các buổi nói chuyện ngoài giờ học…

Yêu cầu học sinh tự trang bị cho mình qua đọc báo, nghe đài, xem truyện hình, truy cập In tơ net …

2.2.2 Kiến thức về sách vở:

Khi ôn luyện người thầy phải đi vào những kiến thức thiết thực, tạo lập cho bài giảng kiến thức phù hợp với tiến trình ôn tập và đối tượng học sinh dân tộc Cần hết sức tránh lối dạy phô trương, dạy những kiến thức quá xa xôi, cao siêu, vì dạy như thế các

em học sinh chỉ tỏ ra thích thú lúc đầu, sau sẽ dẫn đến chán chường

Trong những kiến thức cần trang bị thì việc coi trọng kiến thức sách giáo khoa là điều cực kì cần thiết Học sinh đội tuyển phải hiểu sâu, rộng, nắm thật chắc, thật nhuần nhuyễn kiến thức sách giáo khoa Giáo viên phải coi dó kiến thức nền tảng không thể thiếu trong ôn luyện Không được có thái độ coi thường cho rằng đó là kiến thức dễ hiểu, thông thường không cần mất thời gian cày xới

Nhưng cũng cần chú trọng bổ sung kiến thức ngoài sách giáo khoa để giúp hiểu sâu rộng hơn kiến thức trong sách giáo khoa phổ thông Đặc biệt phải trang bị kiến thức chuyên sâu cho học sinh giỏi:

Kiến thức về văn học sử, về các tác phẩm của các nhà văn.Ví dụ: Học Nam Cao học

sinh phải biết thêm các tác phẩm khác của chính nhà văn như: Lang Rận, Dì Hảo, Sống mòn, Giăng sáng…Đồng thời phải biết thêm một số tác giả, tác phẩm khác của trào lưu văn học hiện thực phê phán như: Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn

Trang 19

Công Hoan, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng…Không những thế còn phải biết thêm các tác giả

hiện thực nước ngoài như Lỗ Tấn,

Tsê khốp…để có điều kiện so sánh Khi dạy về Hồ Chí Minh thì các học sinh giỏi không chỉ nắm được một trong những nét phong cách nổi bật của thơ nghệ thuật của người là

sự kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp cố điển và tinh thần hiện đại mà phải trả lời thật tốt câu hỏi: Thế nào là vẻ đẹp cổ điển, tinh thần hiện đại? Sự kết hợp hài hoà là ở chỗ nào? Vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại đã biểu hiện cụ thể như thế nào trong thơ Bác? Vì sao trong thơ Bác có vẻ đẹp ấy?

Tương tự như vậy khi dạy bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 một trong những yêu cầu quan trọng các em phải nắm được

là văn học giai đoạn này được hiện đại hóa Nếu đối với học sinh đại trà chỉ cần các em

nhớ và công nhận, thì học sinh giỏi phải chứng minh và lí giải được điều đó

Dạy bài Tràng Giang của Huy Cận, đối tượng nào cũng cần phải nắm được: nỗi

buồn, tâm trạng cô đơn, tình cảm gắn bó với cuộc đời và quê hương của nhà thơ thông qua bức tranh trời rộng, sông dài vừa có màu sắc cổ điển, vừa gần gũi thân thiết Nhưng riêng đối với học sinh giỏi thì còn phải lí giải những điều đó: Vì sao Huy Cận buồn? Nỗi buồn đó nói lên điều gì? Tích cực hay tiêu cực? Có gì khác so với nỗi buồn của một số nhà thơ mới? Hay chất thơ mới ở bài thơ thể hiện qua những điểm nào? Có dạy như

vậy mới hi vọng : sau khi học xong Tràng Giang các em không những nắm chắc bài thơ

này mà còn ít nhiều biét phương pháp đọc một bài thơ mới

2.2.3 Kiến thức lí luận văn học:

Dạy về đặc trưng văn học, tư tưởng và phong cách nhà văn, mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm và người đọc, tính nhân dân, tính đân tộc, tính hiện thực…Với loại kiến thức khó này hầu như giáo viên phải cung cấp cho các em là chính Tuy nhiên người dạy phải biết tinh giản hoá, giản dị hoá cho dễ hiểu…Kiến thức lí luận có thể đến bằng con đường lí thuyết song phần đa nên qua các bài tập rèn luyện kĩ năng

Ví dụ: Để khắc sâu đặc trưng của thơ thì cho học sinh làm đề bài sau:

Trang 20

Bình luận về câu nói: Thơ khởi phát từ trong lòng người ta hay hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần.

Giáo viên nên chuẩn bị kiến thức thành các chuyên đề như tác gia Xuân Diệu Nam

Cao, Tố Hữu, …để học sinh có được cái nhìn toàn diện về vấn đề Đây cũng là cách khắc sâu, mở rộng và nâng cao kiến thức cho các em

2.3 Yêu cầu đối với học sinh.

Thứ nhất, ngoài kiến thức thầy dạy, giáo viên phải yêu cầu học sinh đội tuyển thường xuyên đọc sách tham khảo để bổ sung kiến thức, phải coi đó như là việc làm bài tập bắt buộc Phải yêu cầu các em đọc đúng hệ thống tài liệu thầy đã cung cấp hoặc giới thiệu.Trong quá trình đọc sách học sinh phải ghi chép chọn lọc những kiến thức cần cho việc ôn luyện, làm các dạng đề bài trong hệ thống chương trình ôn tập Hàng tuần, hàng tháng giáo viên phải kiểm tra việc đọc tài liệu của các em Chỉ có như thế, việc đọc sách tham khảo của các em mới có hiệu quả thiết thực

Thứ hai, ngoài việc đọc sách tham khảo nhằm mở rộng kiến thức về tác giả, tác phẩm, học sinh cần đọc các sách lí luận văn học vì đây là khu vực các em còn trống nhiều Đặc biệt các em cần đọc những bài văn mẫu, các bài văn chọn lọc, các bài văn đạt giải quốc gia để qua đó học cách mở bài, kết bài, cách diễn đạt, cách chuyển ý… để trong chừng mực nhất định có thể vận dụng được vào bài văn của mình

3 Việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi Văn.

3.1 Cách lựa chọn hướng ra đề.

Đây là là khâu quan trọng đầu tiên của quá trình phát hiện, kiểm tra, đánh giá

và lựa chọn học sinh giỏi Đề đúng và hay sẽ giúp phân hoá được trình độ học

sinh, giúp người thầy nắm được điểm mạnh, điểm yếu của mỗi học sinh, từ đó

đánh giá khách quan, chính xác, công bằng năng lực, sự cố gắng vươn lên của học

sinh, đồng thời tạo được niềm tin, sự hứng thú học tập cho các em khi hiểu được

năng lực của mình Ngược lại, đề thiếu chính xác, sáo mòn không những không

đánh giá được chính xác năng lực của học sinh mà còn giảm hứng thú học Văn,

Trang 21

tính độc lập, sáng tạo ở các em Và hậu quả của nó là việc rèn kĩ năng trở nên vô nghĩa.

Theo dõi hướng ra đề thi học sinh giỏi những năm qua, chúng tôi nhận thấy đề thường có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức về lí luận văn học và cảm thụ văn chương Phạm vi thường xoay quanh những vấn đề cốt lõi của chương trình như: chức năng và đặc trưng của văn học nghệ thuật, phẩm chất của người nghệ

sỹ, phong cách nhà văn…hoặc phân tích một tác phẩm văn học đặc sắc, có nhiều cách hiểu, hoặc phân tích một tác phẩm để làm nổi bật vấn đề nào đó liên quan đến phong cách tác giả…Nhìn chung tinh thần nhất quán của đề thi học sinh giỏi

là theo sát chương trình Từ nhận thức đó, trong quá trình ra đề, rèn luyện kĩ năng cho học sinh cần tập trung vào một số dạng đề cơ bản sau:

* Đề kiểm tra khả năng cảm thụ văn học.

Dạng đề này phải gắn với tác phẩm hay có trong chương trình

Ví dụ: Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của nhà thơ Hàn Mặc Tử có nhiều cách hiểu

khác nhau, anh - chị hãy phân tích bài thơ theo cách hiểu của mình

Qua dạng đề này có thể kiểm tra được kiến thức cơ bản của học sinh về tác phẩm: nắm hệ thống chi tiết, hình ảnh; hiểu khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm; năng lực chọn và cảm thụ tác phẩm nghệ thuật ở nhiều cấp độ khác nhau: chỉnh thể tác phẩm, hình tượng, chi tiết, hình ảnh, ngôn từ…

*Đề kiểm tra kiến thức lí luận văn học kết hợp với cảm thụ tác phẩm văn chương.

Dạng đề này yêu cầu học sinh bao quát được những vấn đề cơ bản của văn học

và soi sáng nó vào những tác phẩm văn học cụ thể

Ví dụ: Nghệ thụât bao giờ cũng là tiếng nói của tình cảm con người, là sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tư (Lê Ngọc Trà).

Qua bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh hãy làm rõ ý kiến của Lê Ngọc Trà.

Trang 22

Với dạng đề này có thể kiểm tra được những kiến thức về những vấn đề lí luận văn học cơ bản, đồng thời củng cố kiến thức về tác phẩm văn học, gắn lí luận văn học với việc cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm Qua lí luận văn học, học sinh có căn cứ khoa học để hiểu sâu hơn tác phẩm và ngược lại, qua tác phẩm học sinh hiểu và biết khái quát thành những vấn đề lí luận cơ bản.

*Đề rèn luyện kĩ năng so sánh văn học.

Đây là một dạng khó, nhưng học sinh dễ có cơ hội phát huy năng khiếu và sở trường riêng của một học sinh giỏi Nó đòi hỏi học sinh vừa nắm được những vấn

đề cụ thể, chi tiết, vừa biết khái quát tổng hợp và lí giải vấn đề Có thể so sánh tác phẩm cùng đề tài, cảm hứng trong một giai đoạn văn học, của một tác giả hoặc khác giai đoạn, khác tác giả…

Ví dụ: Sắc thái nhân đạo riêng biệt trong tác phẩm Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam và tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân.

* Dạng đề tổng hợp kiến thức.

Ví dụ: Tình yêu quê hương, đất nước qua những tác phẩm đã học trong văn học 1945- 1975

Dạng đề này đòi hỏi học sinh nắm được các tác phẩm học trong chương trình,

có khả năng tổng hợp chúng thành từng đề tài, biết xác định và khái quát thành các luận điểm chính trong mỗi nhóm tác phẩm, từ đó có khả năng đánh giá được đặc điểm của giai đoạn văn học

là tối ưu? Đối với học sinh giỏi một điều cần thiết nữa là phải nâng cao, mở rộng

đề ra Đồng thời dù đề thi có yêu cầu hay không, học sinh vẫn phải vận dụng

Trang 23

nhiều thao tác khác nhau trong một bài làm, điều quan trọng là xác định thao tác nào là chính, thao tác nào là bổ trợ Nắm được yêu cầu này, học sinh có cơ sở để xây dựng hệ thống luận điểm hợp lí và khoa học cho bài viết Thông thường luận điểm chính của bài viết thường nằm ở những thao tác chính Đây cũng là trọng tâm của bài viết Những thao tác hỗ trợ thường gắn với ý phụ, ý bổ sung giúp cho nội dung bài viết hoàn chỉnh, trọn vẹn.

3.3.Rèn kĩ năng lập ý.

Giáo viên cần chú trọng cho học sinh lập ý các đề bài làm văn tạo thành thói quen khi làm bài Nhất là đối với học sinh giỏi người dân tộc thì yêu cầu này rất cần đề cao Bởi vì một thực tế cho thấy khi viết văn học sinh dân tộc rất hay bị cảm xúc chi phối, dẫn đến sa đà vào một dòng cảm xúc nào đó mà quên mất sự hài hoà cân đối của kết cấu bài văn nghị luận Điều đó dẫn đến lệch ý, lệch trọng tâm khi làm bài

Bước đầu tiên trong rèn kĩ năng lập ý là yêu cầu học sinh phải lập dàn ý sơ lược theo yêu cầu:

• Đề xuất được hệ thống luận điểm sẽ triển khai trong bài viết

• Xác định mối quan hệ giữa các luận điểm, tầm quan trọng của mỗi luận điểm trong việc thể hiện các yêu cầu của bài

• Sắp xếp các luận điểm theo trình tự chặt chẽ, khoa học

Để giúp học sinh thực hiện các yêu cầu trên, nên hướng dẫn các em đặt hệ thống câu hỏi và tự trả lời:

• Câu hỏi tìm luận điểm: Yêu cầu trọng tâm của đề là gì? Vấn đề cần giải quyết có thể triển khai ở những khía cạnh, phương diện nào?

• Câu hỏi xác định quan hệ và vai trò của các luận điểm: Những khía cạnh, phương diện ấy quan hệ với nhau như thế nào? Phương diện nào thể hiện tập trung rõ nét các yêu cầu trọng tâm của đề?

Trang 24

• Câu hỏi sắp xếp luận điểm: Các khía cạnh, nội dung nghị luận được trình bày như thế nào là tối ưu?

Học sinh có thể lập ý theo một số gợi ý sau:

• Đối với đề ở dạng chứng minh: học sinh phải xác định vấn đề cần chứng minh ở đây là gì? Để làm sáng tỏ điều đó cần phải có mấy ý lớn? Mỗi ý có bao nhiêu ý nhỏ? Để soi sáng cho ý nhỏ cần có những dẫn chứng nào? Số lượng dẫn chứng, chất lượng dẫn chứng cũng cần chú ý

• Ðối với dạng đề giải thích: học sinh phải lần lượt lập ý theo hệ thống câu hỏi: Nghĩa của khái niệm đó là gì? Nhận định, ý kiến, danh ngôn, châm ngôn…đó

là gì? Vì sao lại nói như vậy? Muốn vậy ta phải làm gì?

• Đối với dạng đề bình luận: Đây là dạng đề rất khó với học sinh và cũng rất khó với người dạy, tuy nhiên có thể tuân thủ các bước sau:

Thứ nhất, giải thích vấn đề (nếu vấn đề ấy diễn đạt theo cách nói tu từ hoặc có những từ ngữ khó nên giải thích khái niệm trước khi giải thích ý nghĩa)

Thứ hai, đề xuất nhận định nội dung, đặc điểm hiện tượng văn học được xét Nếu là tác phẩm văn học thì nó viết cái gì? Viết như thế nào? Biểu hiện cái gì? Nếu là phong cách nghệ thì phong cách ấy có đặc điểm nào?

Thứ ba, đề xuất nhận định đánh giá: Đánh giá ý nghĩa của hiện tượng hoặc vấn đề văn học nên đặt câu hỏi như: Hiện tượng ấy đáp ứng đòi hỏi gì của xã hội

và thời đại? Tính chân thực và thẩm mĩ của nó đạt tới đâu? Nó góp phần và làm phong phú cho tâm hồn con người những gì? Nó đóng góp gì cho sự phát triển của văn học xét từ các mặt ngôn ngữ, thể loại, phong cách, kiểu sáng tác…

Các kĩ năng này nếu dược rèn luyện ráo riết và nghiêm túc sẽ hình thành ở học sinh khả năng chủ động và độc lập tư duy trong học tập, khắc phục dần học sinh làm bài theo kiểu ngẫu hứng, nghĩ đến đâu viết đến đó Tác dụng của khâu này là giúp các em khi đọc đề bài có thể nhanh chóng hình thành hệ thống luận điểm,

Trang 25

định hướng kiến thức cho bài trong khoảng thời gian từ 15 – 20 phút đầu, từ đó bài viết sẽ đủ ý, mạch lạc Đây cũng là một trong biểu hiện của tính khoa học ở một bài văn học sinh giỏi.

3.4 Rèn kĩ năng viết văn.

Đây cũng là khâu quan trọng, bởi nhận thức đề đúng, đề xuất luận điểm hợp lí,

có kiến thức phong phú chưa đủ Muốn có một bài văn hay, học sinh phải biết trình bày những hiểu biết, những rung động, suy nghĩ của mình một cách mạch lạc, sáng sủa và có sức thuyết phục Điều này phụ thuộc vào cách viết văn của học sinh Bởi vậy học sinh cũng cần được rèn kĩ năng viết văn Có thể tiến hành theo các bước sau đây:

Thứ nhất, trước hết rèn cho học sinh viết cho đúng, cho đủ Viết đúng là bám sát đề, viết đủ là giải quyết hết các yêu cầu của đề ra Muốn vậy học sinh phải thuần thục kĩ năng phân tích đề như đã nói ở trên

Thứ hai, viết cho hay (riêng phần này cần phải rèn từng khâu)

3.4.1 Rèn kĩ năng mở bài.

Không phải không có lí khi có ý kiến cho rằng: văn hay chỉ cần đọc mở bài Tất nhiên nếu chỉ đọc mở bài sẽ không đánh giá được toàn bộ bài văn, nhưng quả thật khi có được mở bài hay, tự nhiên dòng văn như khơi chảy tuôn trào Mở bài lúng túng sẽ khiến bài viết mất cảm hứng, văn phong không liền mạch, ý tứ sẽ trở nên rời rạc Hơn nữa học sinh thường mất nhiều thời gian vào khâu mở bài, còn phần sau thường sơ sài, nhất là kết luận chỉ vài ba câu qua quýt Vì vậy cần luyện tập mở bài thường xuyên, đỡ mất nhiều thời gian mà mở bài vẫn hay và hấp dẫn Muốn mở bài hay trước hết phải xác định được nhiệm vụ của mở bài: giới thiệu vấn đề cần nghị luận, gợi sự hấp dẫn, cuốn hút với người đọc

* Phải nắm được các cách mở bài: Khi mở bài thực chất là trả lời câu hỏi: vấn

đề cần bàn bạc là gì? Trả lời thẳng câu hỏi ấy gọi là mở bài trực tiếp Từ một ý kiến khác dẫn dắt vào yêu cầu của đề gọi là mở bài gián tiếp Trong thực tế để bài

Trang 26

có chất văn người ta thường mở gián tiếp Có nhiều cách mở gián tiếp, tựu trung

có bốn cách cơ bản: diễn dịch, quy nạp, tương liên, tương phản

Thứ nhất: Diễn dịch ( nêu một ý khái quát hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi mới bắt vào vấn đề ấy)

Ví dụ: Đề bài : Hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ

không kể đến các chàng trai ngang tàng lẫm liệt, hào hoa phong nhã trong bài thơ

Tây Tiến của Quang Dũng- những con người tiêu biểu của một thời một đi không

Cuộc chia li màu đỏ của Nguyễn Mĩ – nhà thơ quá cố.

Trong cuộc sống có biết bao điều ta nâng niu quý trọng, yêu mến Bạn rất yêu bức phù điêu tạc chân dung một vị thần công lí, còn người khác lại rung động bởi nét nhạc dịu nhẹ thiết tha của Soopanh, và người thứ ba lại yêu cánh rừng xào xạc như hiện ra trước mắt trong “Mùa thu vàng” của Lê vi tan…Nhưng có lẽ riêng tôi, cái mà tôi yêu nhất đó là những vần thơ có” cái màu đỏ ấy” … Tôi muốn các bạn cùng tôi yêu bài thơ ấy và màu đỏ ấy

Trang 27

Thứ ba: Tương liên ( Nêu lên một ý giống như trong đề bài rồi bắt sang vấn

đề cần nghị luận Ý được nêu ra trước thường là những câu châm ngôn, danh ngôn, tục ngữ hoặc những chân lí nổi tiếng)

Ví dụ: Đề bài: Bình luận câu nói của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng: “ Nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời sống, thoát li đời sống nghề thuật nhất định sẽ khô héo”

Mở bài: Thần thoại Hi Lạp còn để lại một câu chuyện đầy cảm động về chàng lực sĩ Ăng tê và đất mẹ Thần Ăng tê sẽ bất khả chiến bại khi chân chàng gắn chặt vào đất mẹ Gaia Có thể ví mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống hệt như quan hệ giữa Ăng tê và đất mẹ vậy Chưa tin ư, bạn cứ giở các tác phẩm văn học lớn mà xem

Thứ tư: Tương phản (Nêu lên một ý trái ngược với ý trong đề bài rồi từ đó chuyển sang vấn đề nghị luận)

Ví dụ: Đề bài: Vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Mở bài: Đối với giai cấp thống trị, Cao Bá Quát là quân phản ngịch, quân giặc cỏ, nhưng đối với nhân dân, ông là một con người có khí phách tài hoa Từ nguyên mẫu ấy nhà văn Nguyễn Tuân đã xây dựng nhân vật Huấn Cao một hình

ảnh đẹp trong tác phẩm Chữ người tử tù.

Chia ra bốn cách ấy để học sinh có ý thức phân loại và thực hành rèn luyện cho có bài bản Song cũng có thể kết hợp các kiểu mở bài thành một kiểu hỗn hợp

* Cũng cần xác định bố cục của mở bài: Mở bài là một đoạn văn hoàn chỉnh, đoạn văn ấy cũng có ba phần: mở đầu đoạn, phần giữa đoạn, phần kết đoạn

• Mở đầu đoạn: Viết những câu dẫn dắt là những câu liên quan gần gũi với vấn đề chính sẽ nêu Tuỳ từng nội dung vấn đề chính mà lựa chọn những câu dẫn dắt có thể là một câu thơ, một câu danh ngôn hoặc một câu chuyện kể

Trang 28

• Phần giữa đoạn: Nêu vấn đề chính sẽ bàn trong thân bài Vấn đề này có thể

đã được chỉ rõ, hoặc có thể tự người viết khái quát ra đối với loại đề phân tích, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật thì nêu ấn tượng chủ đạo bao trùm toàn bộ tác phẩm

mà người viết cảm nhận được

• Phần kết đoạn: Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ trình bày

Ví dụ: Đề bài: Phân tích bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên.

Mở bài: Tôi nhớ mãi câu nói của hoạ sĩ Hà Lan Van Gốc: “Không có gì nghệ thuật hơn bản thân lòng yêu quý con người” Đó là chân lí của cuộc sống cũng là

chân lí của thơ ca Cho đến khi đọc những dòng thơ giản dị chân thành của Vũ Đình Liên, tôi lại càng cảm nhận sâu sắc hơn bao giờ cái chân lí vĩnh cửu xanh tươi ấy:

Mỗi năm hoa đào nở

…Hồn ở đâu bây giờ.

(Ông Đồ)

Câu1-2 là phần mở đoạn, câu 3 vừa dẫn dắt vào vấn đề vừa giới thiệu phạm

vi kiến thức cần làm

* Một số yêu cầu của mở bài:

• Tránh dẫn dắt vòng vo quá xa mãi mới bắt vào vấn đề cần nghị luận

• Tránh ý dẫn dắt ý không liên quan đến vấn đề nghị luận

• Tránh nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, sau đó lại lặp lại ở thân bài

• Một mở bài hay cần phải: ngắn gọn, đầy đủ, độc đáo, gây được ấn tượng với người đọc, những câu dẫn dắt phải tạo được bất ngờ Đồng thời mở bài cũng phải tự nhiên, tránh vụng về gượng ép

Ví dụ: Đề bài: Phân tích bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử

Mở bài: Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luân chuyển Con người cũng chỉ xuất hiện một lần trong đời và cũng chỉ một lần ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng

Trang 29

Nhưng những gì là thơ, là văn, là nghệ thuật đích thực… thì vẫn còn mãi với thời gian Trước khi chết vua Phổ cầm tay Môda nói: “ Ta tiêu biểu cho trật tự, ngươi tiêu biểu cho cái đẹp Biết đâu hậu thế sẽ quên ta mà nhắc đến ngươi” Có lẽ mãi

mãi về sau, chúng ta vẫn gặp lại một Mùa thu vàng trong Lê vi tan, một mùa thu thôn quê Việt Nam trong thơ Nguyễn Khuyến và một Mùa xuân chín trong thơ

Hàn Mặc Tử, một mùa xuân tràn đầy sức sống vui tươi mà không ồn ào, thắm đượm sắc màu mà không sặc sỡ, một mùa xuân duyên dáng mà rất Việt Nam Đây là mở bài độc đáo, ấn tượng, cuốn hút, bất ngờ Người viết dẫn dắt từ quy luật của thời gian, đời người đến cái chết của vua Phổ rồi đột ngột dẫn vào bài

Mùa xuân chín cũng rất tự nhiên, từ đó khơi gợi cảm xúc ở người đọc.

Muốn mở bài thành thạo và cho hay, điều quyết định vẫn là luyện tập nhiều Cùng làm một đề văn nhưng yêu cầu học sinh suy nghĩ và viết nhiều mở bài khác nhau Các mở bài khác nhau chủ yếu ở phần dẫn dắt, phần giữa và phần cuối mở bài thường không mấy thay đổi Chỉ cần phần dẫn dắt hấp dẫn, có hơi văn riêng,

có giọng điệu riêng, độc đáo là mở bài sẽ mới lạ

Ví dụ: Đề bài: Nhà văn Bêlinxki viết:

Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hay trả lời những câu hỏi đó.

Bằng hiểu biết về văn học, anh - chị hãy bình luận và làm sáng tỏ ý kiến trên

Mở bài 1:

Có ai yêu một loài hoa không hương không sắc; có ai yêu cánh chim bay không gửi lại cuộc đời tiếng hót ngọt ngào, đắm say; và có ai yêu những áng văn chương nghệ thuật ép khô trong xác chữ vô cảm Bởi tư tưởng tình cảm là tư tưởng của tác phẩm, cũng như hương sắc, tiếng ca là linh hồn của nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải tiếng thết khổ

Trang 30

đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi và không trả lời những câu hỏi đó”.

Mở bài 2:

Dostoevski khi lí giải động lực khiến mình cầm bút đã nói rằng: Tôi hãy còn một trái tim, một dòng máu nóng để yêu thương, cảm thông và chia sẻ Còn Tagor mong muốn sau khi từ giã cõi đời được nhắn nhủ lại một lời: Tôi đã từng yêu Có

phải bởi những nhà văn, nhà thơ vĩ đại- những con người đã sống, đã yêu, sống hết mình và yêu hết mình với cuộc đời với con người bởi họ đã thấm thía sâu sắc rằng: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu

nó không phải tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi và không trả lời những câu hỏi đó”

Mở bài 3:

Như con ong hút ngàn vạn nhuỵ hoa mới tạo thành giọt mật, con trai chịu bao đau đớn, xót lòng vì hạt bụi bặm biển khơi để tạo thành viên ngọc tròn trặn ánh ngời, sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ cũng là một công việc cực nhọc và vô cùng gian khổ Nghệ nhân điêu khắc không thể cứ nhìn nguyên mẫu rồi mô phỏng lại trên chất liệu mình đã chọn, người hoạ sĩ không thể chỉ quan sát đời sống để rồi tái hiện lại bằng những đường nét, màu sắc vô cảm, vô hồn và đặc biệt nhà văn không thể chỉ dùng vốn ngôn ngữ của mình như một trò chơi “du hí”, ghi lại những cảnh “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”…Bởi vì “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết…những câu hỏi đó”

3.4.2 Rèn kĩ năng kết bài.

Kết bài cũng là một khâu vô cùng quan trọng của bài văn Nếu như mở bài tạo

sự cuốn hút ở người đọc thì kết bài sẽ phải tạo được dư ba sâu lắng, người đọc đã đọc hết mà vẫn bị ám ảnh bởi bài văn

Trang 31

* Để có kết bài hay trước hết cũng cần nắm được nhiệm vụ của kết bài: thông báo sự kết thúc của việc trình bày vấn đề, nêu đánh giá khái quát của người viết

về những khía cạnh nổi bật nhất của vấn đề; gợi liên tưởng rộng hơn, sâu sắc hơn

* Nắm được các cách kết bài cơ bản: Tóm lược, phát triển, vận dụng, liên tưởng, điểm nhãn, đầu cuối tương ứng

Tóm lược: tóm tắt quan điểm của người viết ở phần thân bài

Ví dụ: Phân tích bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử.

Kết bài: Cả bài thơ là một bức tranh sống động, có màu sắc, có âm thanh rộn

rã, có con người, có giàn thiên lí, thoáng có bóng trúc tre Đúng là một bức tranh mùa xuân thanh bình và đẹp đẽ đến nỗi làm cho nhà thơ yêu đời một cách đắm say Cảm nhận được tấm lòng yêu đời của Hàn Mặc Tử bao nhiêu, ta lại càng cảm thông và xót thương cho số phận nhà thơ bấy nhiêu Ông đã phải vĩnh biệt cuộc đời khi tài năng đang chín, nhưng thơ ca của ông vẫn còn đó, thời gian không

những không làm phai mờ, mà trái lại đấy chính là chất xúc tác để Mùa xuân chín

của ông trở thành kiệt tác bất hủ

Phát triển: Là cách kết bài mở rộng thêm vấn đề đặt ra trong đề bài

Ví dụ: Đề bài: Hình tượng Tổ quốc trong thơ ca Cách mạng tháng Tám

Kết bài: Trong giai đoạn mới chúng ta vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa bảo

vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên đất nước đã hoàn toàn thống nhất, Tổ quốc vẫn

là một mảng đề tài quan trọng Chúng ta mơ ước có những bài thơ hay viết về Tổ quốc, vừa cao đẹp, vừa gần gũi, vừa giàu tính chiến đấu lại vừa hết sức thân tình, thâu tóm được những gì đã qua, nói về những ngày đang sống, vừa hướng chúng

ta tới tương lai của tổ quốc…Bởi vì nói như Pauxtopxki “niềm vui của nhà thơ chân chính là niềm vui của người đến cái đẹp, của người biết đi tới tương lai…” Chúng ta có quyền hi vọng và chờ đợi ở các nhà thơ của chúng ta

Vận dụng: là cách kết bài nêu ra phương hướng áp dụng cái tốt, cái hay hoặc khắc phục cái xấu, cái dở của vấn đề vào cuộc sống

Trang 32

Ví dụ: Đề bài: Phân tích bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên

Kết bài: Ông Đồ của Vũ Đình Liên quả là một giọt nước trong biển cả, là một

nét đơn sơ nhỏ bé trước bao thành tựu lớn lao của văn học thế giới và văn học nước nhà Nhưng dẫu hoà trong một biển, giọt nước Vũ Đình Liên vẫn mặn mà nồng thắm, vẫn âm vang nhịp đập thuỷ triều…Bài thơ nói về số phận con người, bài thơ nhắc nhở chúng ta trong công cuộc đổi thay to lớn ngày nay, hãy giữ gìn con người, giữ gìn tình thương và những giá trị đẹp đẽ của con người để không bao giờ phải xót xa và luyến tiếc

Liên tưởng: là cách kết bài mượn ý tương tự ở dân gian, của một người có uy tín hay của sách để thay cho lời tóm tắt của người làm bài

Ví dụ: Đề bài: Về bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh.

Kết bài: Tìm hiểu bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể hoàn

toàn chia sẻ với cảm xúc chân thành của nhà thơ Tố Hữu khi viết về những ngày Bác bị giam cầm:

Lại thương nỗi đoạ đày thân Bác Mười bốn trăng tê tái gông cùm

Ôi chân yếu mắt mờ, tóc bạc

Mà thơ bay cánh hạc ung dung.

Điểm nhãn: Đây là câu chuyện điểm nhãn cho Rồng theo nguyên tắc hội hoạ phương Đông Người hoạ sĩ vẽ đúng người xem vẫn nhận ra đây là con Rồng, song khi ông ta điểm nhãn thì con Rồng sống động hẳn lên Viết văn cũng vậy, nếu biết lựa chọn từ ngữ, hình ảnh hay, có được giọng văn truyền cảm, thì đó không chỉ là bài văn đúng mà còn là bài văn hay, có hồn, truyền cảm, hấp dẫn người đọc

Ví dụ: Cùng kết bài cho bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên, có hai cách kết

sau:

Trang 33

Kết bài 1:

Cùng với các nhà thơ khác trong phong trào thơ mới, Vũ Đình Liên và bài thơ

Ông Đồ của mình đã đóng góp một giọng điệu thơ mới mẻ, đầy khởi sắc, đóng

góp cho đời một cách nhận thức, cách hiểu biết, và một thái độ, một nhân sinh quan mới mẻ, mang giá trị nhân đạo và ý nghĩa nhân bản sâu sắc

Kết bài 2:

Ông Đồ của Vũ Đình Liên quả là một giọt nước trong biển cả, là một nét đơn

sơ nhỏ bé trước bao thành tựu lớn lao của văn học thế giới và văn học nước nhà Nhưng dẫu hoà trong một biển, giọt nước của nhà thơ Vũ Đình Liên vẫn mặn mà nồng thắm, vẫn âm vang nhịp đập thuỷ triều…Bài thơ nói về số phận con người, bài thơ nhắc nhở ta trong cuộc đời đổi thay to lớn ngày nay, hãy gìn giữ con người, giữ gìn tình thương và những giá trị đẹp đẽ của con người để không bao giờ phải xót xa, luyến tiếc

Kết bài một chỉ đúng, nhưng kết bài hai người viết đã điểm nhãn cho lời văn của mình bằng cách dùng những từ ngữ, hình ảnh rất hay: “ giọt nước trong biển cả” “ nét đơn sơ, bé nhỏ” “ mặn mà nồng thắm, âm vang nhịp đập thuỷ triều” cùng với lời văn giàu cảm xúc “ không bao giờ phải xót xa, luyến tiếc”

Kết bài theo lối “đầu cuối tương ứng”: kết bài ứng với mở bài, láy lại mở bài

mà không rơi vào lặp lại nguyên văn vì nó là sự luyến láy để nâng cao, để khẳng định những cảm nhận của mình

Ví dụ: Đề bài: Lá đỏ một bài thơ đáng yêu, đáng nhớ.

Mở bài:

Từ hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh chống Mĩ đã đi qua cách đây mười năm, vẫn còn lưu lại đậm trong tâm trí người đọc những dòng thơ của một thời lửa cháy, của những tháng năm không thể nào quên Làm sao không nhớ, không yêu một bài thơ như thế này:

( Trích bài thơ Lá đỏ)

Trang 34

Kết bài:

Thơ hay là thứ thơ làm cho người ta nghĩ đến tình người, nghĩ đến sự sống…Thơ nói riêng, cũng như văn học nói chung trở thành cần thiết cho con người là vì

như vậy Làm sao không nhớ, không yêu một bài thơ như bài Lá đỏ.

Trong các kết bài này đều chung một điểm nhất định: đúng, sáng tạo, gây ấn

tượng, vừa đóng lại, vừa mở ra, nâng cao và cứ ngân nga mãi trong lòng người đọc

* Yêu cầu của kết bài: Thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài

Chỉ nêu những ý khái quát, có tính tổng kết, đánh giá Không lan man, không lặp lại những gì đã trình bày ở thân bài

Cũng giống như mở bài, kết bài cũng phải được luyện viết nhiều, làm sao trở thành kĩ năng nhuần nhuyễn để trước bất cứ bài văn nào, học sinh sẽ không nặng

nề, mà chọn được cách kết ngay, vừa đúng, vừa hay

3.4.3 Rèn kĩ năng viết câu, đoạn chuyển tiếp

Như chúng ta đã biết, một bài văn là một thể thống nhất hoàn chỉnh, được tạo nên bởi các phần, các đoạn, các câu Giữa các phần này có thể tự thân nó có sự kết dính vì chúng chung một nội dung, chủ đề…Nhưng có nhưng phần, những đoạn

tự thân không kết dính thì chúng ta phải sử dụng các phương tiện chuyển tiếp Một thực tế cho thấy, nhiều học sinh kĩ năng chuyển câu, chuyển ý, chuyển đoạn rất kém, bài văn rời rạc, chắp nối vụng về, nghĩa là bài văn bị phá vỡ Vì vậy không thể không rèn luyện kĩ năng viết câu đoạn chuyển tiếp Đối với học sinh giỏi văn thì điều này càng quan trọng và cần thiết hơn Không thể có một bài văn giỏi mà mối quan hệ nội dung, hình thức lại kém khiến bài viết không nhuần nhuyễn, không mượt mà, không để lại ấn tượng sâu sắc Muốn làm tốt khâu này học sinh cần nắm được:

Trang 35

* Vị trí cần có sự chuyển tiếp trong bài văn: Giữa các phần trong bố cục ba phần của bài văn Giữa các đoạn ý và đoạn ý, giữa trình bày luận điểm, lập luận với luận cứ.

* Các cách chuyển tiếp:

Thứ nhất, dùng các kết từ hoặc các từ ngữ tương đương với kết từ:

Để nối các đoạn có quan hệ thứ tự với nhau: trước tiên, trước hết, tiếp theo, sau

đó, một là, hai là, cuối cùng, sau cùng…

Để nối các đoạn có quan hệ song song: một mặt, mặt khác, ngoài ra, bên cạnh

đó, đồng thời…

Để nối các đoạn có quan hệ tương đồng: tương tự, cũng thế, cũng vậy, cũng giống như trên…

Để nối các đoạn có quan hệ tăng tiến: vả lại, hơn nữa, thậm chí…

Để nối các đoạn quan hệ nhân quả: bởi vậy, bởi thế, cho nên, vì lí do trên…

Để nối các đoạn có quan hệ tương phản: nhưng, song, tuy nhiên, tuy thế, tuy vậy, thế mà, thế nhưng, trái lại, ngược lại…

Để nối một đoạn có ý nghĩa tổng kết với các đoạn trước: tóm lại, nói tóm lại, tổng kết lại, như vậy là, có thể nói…

Thứ hai, dùng câu chuyển đoạn:

Chêm vào mạch văn những câu thông báo trực tiếp về ý định chuyển đoạn của người viết:

Ví dụ: Ở trên chúng ta đã bàn về các nhà văn hiện thực, nếu như các nhà văn hiện thực phê phán muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời như Vũ Trọng Phụng từng tuyên ngôn thì các nhà văn lãng mạn chủ trương thoát ra khỏi hiện thực…Và bây giờ chúng ta cùng đi tìm hiểu về các nhà văn này

Chuyển đoạn bằng những câu nối kết ý một cách tự nhiên

Ví dụ: “Ca dao yêu thiên nhiên, nhưng yêu nhất là con người Chúng ta không thể nào kể hết những câu hát nói về tình yêu của dân chúng…

Trang 36

… Nhưng đã yêu là phải nhớ Người dân ta nhớ như thế nào?

… Nhớ nghĩa là buồn Người Việt Nam ta buồn như thế nào? ”

Sau dấu ba chấm thứ nhất là những câu ca dao về tình yêu Sau dấu ba chấm thứ ba là nỗi nhớ trong ca dao về tình yêu Sau dấu ba chấm cuối cùng là nỗi buồn trong ca dao tình yêu Đây là cách chuyển ý khiến bài văn tự nhiên, trôi chảy đi vào lòng người đọc nhẹ nhàng, tinh tế

Thứ ba, trên đây là một số cách chuyển tiếp cơ bản, có thể nói cách chuyển tiếp vô cùng phong phú, học sinh cần phải có sự lựa chọn phù hợp với nội dung bài viết, để bài văn vừa mạch lạc, vừa lưu loát Muốn như vậy thì việc luyên tập cũng cân công phu Có thể luyện tập như thế này:

Học thuộc các cách chuyển tiếp cơ bản

Xác định sự chuyển tiếp trong các bài văn nghị luận, phân tích cách chuyển tiếp trong đó để học tập: Tại sao người ta lại chuyển tiếp như vậy? Cách chuyển tiếp ấy có hay không? Hay ở chỗ nào?

Tìm các cách chuyển tiếp khác, so sánh, đối chiếu để chọn cách hay nhất

Tập tìm cách chuyển tiếp khác nhau trong khi luyện viết văn

Tập đánh giá, nhận xét sửa chữa cách chuyển tiếp của nhau

3.4.4 Các yêu cầu diễn ý và hành văn hay.

Sau khi đã có ý, thì người viết phải biết diễn đạt thành lời văn cụ thể Muốn diễn ý hay, cần phụ thuộc vào nhiều yếu tố, sau đây là một số yếu tố cơ bản:

* Giọng văn và sự thay đổi giọng văn: Trong bài văn, người viết bao giờ cũng thể hiện tư tưởng, quan điểm của mình qua giọng văn nào đó, tán thành hay ngợi ca hay phê phán…Tuy nhiên để bài viết không đều đều, đơn điệu thì cần phải thay đổi giọng điệu một cách linh hoạt

Trước hết, cần thay đổi đại từ nhân xưng trong bài viết: xưng Tôi, chúng tôi, chúng ta…

Trang 37

Thứ hai: khi gọi tác giả, gọi nhân vật cần xác định một đại từ phù hợp, tránh lặp lại đơn điệu: Với tác giả: gọi tác giả, nhà thơ, nhà văn, thi sĩ, người nghệ

sĩ, ông(bà), anh(chị) hoặc có thể gọi tên… Nhưng cần lưu ý khi gọi tác giả là

ông-bà, anh- chị thì phải xác định được lứa tuổi rồi, tránh gọi không phù hợp.Với nhân vật cũng vậy: gọi nhân vật, gọi tên, gọi theo một đặc điểm nào đó của nhân vật…

Ví dụ: Phân tích về nhân vật Tnu : gọi tên, anh, người con của núi rừng Tây Nguyên, người con của Xô Man…)

Thứ ba: Các tiểu từ cũng nên sử dụng trong bài viết: vâng, đúng thế, không, như vậy, như thế…để tạo ấn tượng như người viết đang tranh luận, đối thoại trực tiếp với người đọc

Thứ tư: Thay đổi các thao tác tư duy: phân tích trước, dẫn chứng sau, hoặc ngược lại, hoặc lồng dẫn chứng vào lời văn, khi liên hệ, khi so sánh… cũng là để bài viết phong phú, sinh động

* Dùng từ độc đáo

Viết bài văn nghị luận muốn hay thì phải dùng được những từ hay, đoạn hay Dùng từ hay là một trong những yếu tố quyết định để có cách diễn đạt hay, làm người đọc thấy thích thú Từ ngữ hay là được dùng linh hoạt đúng lúc, đúng chỗ, lột tả được thần thái của sự vật, sự việc

Muốn thế người viết phải tích luỹ cho mình được vốn từ ngữ phong phú, mặt khác phải có ý thức sử dụng khi viết Nhưng khi sử dụng cần lưu ý: phải hiểu nghĩa của từ, dùng đúng văn cảnh, vì nếu không sẽ rơi vào sáo rỗng, khoe chữ.Một trong những cách để giúp học sinh biết dùng từ hay đó là phải đọc nhiều những bài văn hay, các tác phẩm văn học hay, ghi chép lại những từ sắc sảo, độc đáo, có hình ảnh, giàu cảm xúc, những câu văn đẹp, như ghim vào trí óc người đọc Tìm hiểu tại sao trong văn cảnh ấy chọn từ ấy là rất hay, rất phù hợp

Ví dụ: Về khổ thơ cuối trong bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên.

Trang 38

Khổ thơ kết thúc có vẻ như tàn nhẫn Dù vắng đến không ai hay nhưng ông

đồ vẫn kiên nhẫn ngồi chờ bên con đường khách vô tình qua lại Năm nay lại một mùa đào nở, nhưng hình ảnh ông đồ già viết câu đối không còn nữa Thế là một cái nghề, cái nghề làm giàu tâm hồn con người, cái nghề làm đẹp cho dân tộc

không còn nữa Chẳng còn ai cần đến đôi tay tài hoa và những nét bút phượng múa rồng bay của ông nữa người ta không còn tấm tắc khen những câu đối đẹp

mà chẳng làm ra những giá trị thực tế, chẳng còn thời gian để lòng mình rung động trước hình ảnh cổ xưa thiêng liêng dù đơn giản Và sự vắng mặt của ông đồ chắc chỉ kịp lưu tâm vào người khác: “Tội nghiệp, chắc ông cụ mất rồi” và chút lòng trắc ẩn ấy “chưa nồng trên má đã phôi pha” Câu thơ có cái gì lưu luyến, đậm

đà, không chỉ thế mà còn buồn đau: Không thấy ông đồ xưa Liệu có bao nhiêu

người như nhà thơ còn nhớ đến ông đồ già mỗi năm xuất hiện vào lúc hoa đào nở?

Ta thấy tấm lòng nhà thơ thật đáng quý, đáng quý giữa bao tấm lòng nguội lạnh, thờ ơ trước những gì cao quý, thiêng liêng dù nhỏ nhặt của cuộc sống Nỗi buồn của tác giả lắng đọng trong mỗi câu thơ, nó khác hẳn những câu thơ trơn tru, êm đềm của một kí ức đẹp ở những câu thơ đầu, nó trĩu xuống u buồn Cái bồi hồi đã trở thành xót xa:

Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?

Cứ đọc kĩ mà xem, sẽ thấy cái xót xa thấm đượm trong câu thơ cuối Những người muôn năm cũ là những tâm hồn đẹp, thanh cao bên câu đối đỏ của ông đồ hay những ông đồ trên phố phường Hà Nội xưa? Tôi nghĩ là cả hai Thắc mắc của tác giả rất có lí, và chính vì có lí nên nó thật tàn nhẫn và đau xót Những cái đẹp cao quý và sâu kín, cái đẹp của hồn người Hà Nội, cái đẹp của hồn Việt Nam cứ ngày càng mai một, càng bị cuộc sống với những quy tắc rất thực tế lấn át, chà đạp và xô đẩy, để rồi biến mất như ông đồ già kia, và có lẽ sẽ mãi mãi không còn nếu như không có những Vũ Đình Liên đáng cảm phục Hồn ở đâu bây giờ? Câu

Trang 39

hỏi ấy là tiếng chuông cảnh tỉnh người đọc mọi thế hệ, mọi thời đại, thức dậy những gì sâu xa đã bị lãng quên, chôn vùi dưới cuộc sống ồn ào, náo nhiệt Làm sao để khôi phục cái hồn cho cả dân tộc, đó là điều nhà thơ Vũ Đình Liên muốn nhắn gửi tới chúng ta.

Trong đoạn văn này những câu từ: khách vô tình qua lại, hình ảnh cổ xưa thiêng liêng, chút lòng trắc ẩn, tấm lòng nguội lạnh thờ ơ, tiếng chuông cảnh tỉnh…là những câu từ rất hay, giàu giá trị biểu cảm, nó khiến đoạn văn thực sự rung cảm, ám ảnh người đọc

* Viết câu linh hoạt

Trong ngữ pháp tiếng Việt chúng ta, có rất nhiều loại câu, phân chia theo nhiều tiêu chí: câu ngắn, câu dài, câu cảm thán, câu nghi vấn, câu khẳng định, câu phủ định…Khi viết văn, để lời văn linh hoạt, cuốn hút, tránh sự tẻ nhạt thì người viết cũng cần sử dụng linh hoạt các kiểu câu, miễn sao phù hợp và thể hiện hiệu quả nội dung cần diễn đạt Ví dụ khi diễn tả tình cảm, thái độ của mình thì trực tiếp dùng câu cảm thán Khi muốn gây sự chú ý thì dùng câu nghi vấn Câu nghi vấn là cách đặt ra vấn đề gây chú ý ở người đọc, rồi sau đó tự trả lời, tự làm sáng

tỏ Khi muốn nhấn mạnh một ý nào đó và vế đó nằm ở vế thứ hai thì dùng loại câu

có hai mệnh đề hô ứng: Tuy…nhưng, Càng…càng, Không những…mà còn…Tóm lại căn cứ vào nội dung, ý đồ của người viết mà kết hợp các kiểu câu cho phù hợp

Ví dụ: Giới thiệu về Tuyển tập Nguyễn Bính

Cái làng Thiện Vịnh trong thơ Nguyễn Bính cũng chỉ là môt bóng mơ Làng Thiện Vịnh thật có giữa vùng chiêm khê mùa thối đất Nam Định, Thái Bình, đâu đâu cũng xơ xác nước trắng đồng, gió lùa sóng đồng cờn lên, quằn lại, lật thuyền mảng, cả đến người ra cứu lúa cũng chết đuối Mỗi năm, mỗi mùa biết bao người

đã bỏ làng đi tha phương Nhà thơ bó gối nhìn vào trong đêm Chỉ nghĩ lại cũng

đã se lòng Nhà thơ tưởng tượng trên những khổ cực ấy, phấp phới những lứa tuổi

Trang 40

đương tơ, hoa cải vàng tháng chạp, mưa dây, mưa dợ, trăng rằm sáng như ban ngày và những đêm chèo hát…

Thơ là niềm khao khát là ước nguyện của con người Khi chưa quen Nguyễn Bính, tôi cũng không thật hiểu được những bài thơ viết về đồng quê của Nguyễn Bính, và cũng chưa phân biệt được đâu là chút lòng mộc mạc thiết tha của người làm thơ, đâu là cái hoa hoè, hoa sói của chàng trai quê ra tỉnh

Phân tích cách sử dụng các kiểu câu trong bài viết: Đoạn trích chủ yếu sử dụng kiểu câu miêu tả với những từ ngữ, hình ảnh giàu tính hình tượng Việc sử dụng kiểu câu này có tác dụng gợi lên ở người đọc những tưởng tượng cụ thể,

sinh động về làng quê của Nguyễn Bính, giúp người đọc hiểu hơn “chân quê”

trong thơ ông Câu dài (câu2) cho ta cảm giác nỗi buồn thê thiết về cái làng quê nghèo Câu 6 cũng là câu dài liệt kê liên tiếp những tưởng tượng, những ước mơ của Nguyễn Bính Dường như cảm xúc thơ đang trào về, tình yêu với quê hương

đang cồn lên Câu ngắn “Chỉ nghĩ lại đã se lòng” có tác dụng dồn nén thông tin,

dồn nén cảm xúc xót xa, ngẩn ngơ, se sắt của người viết Đây cũng là câu không chủ ngữ nên có giá trị khái quát, nỗi se lòng không phải của riêng ai mà của tất cả người đọc khi nghĩ về làng quê của Nguyễn Bính

Như vậy sự kết hợp giữa các kiểu câu: dài, ngắn, miêu tả, cảm thán trong đoạn văn bản này đã tạo cho nó sự hấp dẫn và giàu ý nghĩa

* Viết văn có hình ảnh

Bài văn nghị luận hay là bài văn giàu sức thuyết phục nhưng cũng giàu hình ảnh Hình ảnh làm tăng sức thuyết phục, làm cho chân lí sáng tỏ, thấm thía Biện pháp tốt nhất tạo nên bài viết có hình ảnh là người viết dùng phép so sánh, liên hệ, đối chiếu Ở đây những tư tưởng, ý đồ của người viết được minh hoạ, diễn đạt bằng cách so sánh với hàng loạt hình ảnh cụ thể, sinh động tạo sự thích thú cho người đọc

Ngày đăng: 20/03/2015, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w