1.TÂM LÝ HỌC TRONG KHÁM BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊTrong quá trình khám và chẩn đoán bệnh, người thầy thuốc có kiến thức tâm lýhọc nhìn nhận người bệnh một cách toàn diện, giúp cho việc điều trị mộ
Trang 11.TÂM LÝ HỌC TRONG KHÁM BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ
Trong quá trình khám và chẩn đoán bệnh, người thầy thuốc có kiến thức tâm lýhọc nhìn nhận người bệnh một cách toàn diện, giúp cho việc điều trị một cách tối ưu Nhiều bệnh tật do các căn nguyên tâm lý thì không thể điều trị khỏi bệnh chỉ đơn thuần bằng thuốc men, mà phải sử dụng phối hợp các phương pháp tâm lý học để tác động lên người bệnh Nói chung tất cả các người bệnh đều có những rối loạn tâm lý chung, lo lắng chung khi mắc bệnh, người thầy thuốc phải hiểu được những đặc điểm tâm lý chung của người bệnh để vận dụng trong khi đối thoại, thăm khám và tác động tâm lý bên cạnh việc sử dụng các phương pháp điều trị khác
I.KHÁM LÂM SÀNG TÂM LÝ
Người thầy thuốc phải áp dụng tâm lý học để góp phần hoàn thiệnphương pháp chẩn đoán, điều trị đồng thời hoàn thiện các phẩm chất tâm lý và
uy tín của thầy thuốc Vì vậy thầy thuốc phải có kiến thức về tâm lý và phải rènluyện phẩm chất của người thầy thuốc
II.ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ TRONG KHÁM BỆNH
1.Thầy thuốc và bệnh nhân
1.1.Thầy thuốc:Trong xã hội, cùng với bố mẹ, cán bộ nhà nước ( ngày xưa gọi
là ông quan) còn có những ông thầy: Thầy giáo, thầy thuốc, thầy tu( thầy cúng,thầy mo )
Đặc điểm của người thầy là:
-Không có quan hệ huyết thống với đối tượng
-Không sử dụng quyền lực nhà nước như ông quan
-Không tác động lên vật chất như người thợ mà tác động lên con người
Để tác động lên con người, người thầy phải:
- Nắm được một học thuật nhất định "Thuật" tức là cách làm, "học" là vốnkiến thức có hệ thống, có bằng cấp hay chức vị
- Không có quyền lực nhưng được 2 bên thỏa thuận cho nên có thể tìm hiểunhững tình tiết thầm kín của con người như có thể cởi áo quần để khám, hỏi vềtâm tư riêng, quan hệ nội bộ, vì vậy người thầy phải giữ bí mật nghề nghiệp,không được phổ biến những gì thầm kín đã phát hiện
- Cần có tinh thần trách nhiệm, làm hết khả năng đối với người bệnh
- Phải đối xử bình đẳng với mọi người, không phân biệt giàu nghèo, dân tộc,tôn giáo
- Tránh đặt người bệnh vào thế thụ động, chỉ biết nhờ vào sự giúp đỡ của ngườikhác Cần lưu ý về khía cạnh tâm lý tính chủ động của đương sự là rất quantrọng Tác động cả về mặc ý thức và vô thức Tác động thông qua ngôn ngữ và
cả những tín hiệu phi ngôn ngữ Vì vậy một đức tính cần thiết là người thầy cầncảm nhận được những phản ứng phi ngôn ngữ và vô thức của bản thân khiđứng trước người này, người khác, đứng trước những thái độ hay hành vi nàykhác Không có đức tính này, không thể làm thầy được
1.2.Về phía bệnh nhân
Trang 2- Có quyền đòi hỏi sự giúp đỡ của người thầy và đặt tín nhiệm vào sự tận tình
và hiểu biết của người thầy
- Có nhiệm vụ làm đúng theo những chỉ định của người thầy như cần nghỉngơi, cách ly
- Cần tích cực hợp tác với người thầy và có những cố gắng bản thân
Như vậy mối quan hệ giữa người thầy, là bác sĩ hay là nhà tâm lý vớibệnh nhân là một mối quan hệ đặc biệt, dựa trên nhiều yếu tố tâm lý xã hội, vàphần nào pháp lý
Chưa nói đến thuốc men, hay bất kỳ biện pháp trị liệu nào được đề xuất, chỉriêng việc tiếp xúc với người thầy, mối quan hệ qua lại giữa hai bên trong quátrình khám và chữa đã có tác dụng trị liệu Trong y học thường nói bản thânngười thầy thuốc đã là một vị thuốc, nhiều khi còn quan trọng hơn một hóachất nào đó
Có thể diễn ra những tình huống:
- Bệnh nhân hôn mê, lên cơn cuồng động, trong tình trạng cấp cứu hoàn toàn bịđộng, người thầy hoàn toàn chủ động
- Người thầy chủ động chẩn đoán và chỉ định cách chữa, bệnh nhân hợp tác
- Bệnh kéo dài qua nhiều giai đoạn hay bước ngoặt đòi hỏi nhiều sự thay đổitrong tâm tư hay cuộc sống của người bệnh Đây là trường hợp phức tạp, nhiềukhi chính người thầy cũng đâm ra lo hãi rồi viện lẽ này lẽ khác để thoái thácnhư thiếu thì giờ, như đôí trách nhiệm sang cho một chuyên khoa khác vàchuyển đến thầy này hay thầy khác
2.Những đặc điểm tâm lý trong khám bệnh
Phòng khám yên tỉnh không có ai ra vào trong lúc khám, trong nhữngtrường hợp phức tạp không để sinh viên tham dự, người thầy không ngồi gầnquá cũng không xa quá, thường không nên trực diện, mặt đối mặt mà ngồi némột bên Có khi cần khám với sự có mặt của người thân, có khi chỉ cần có mộtmình bệnh nhân, không nên khám hỏi quá vội vàng cũng không kéo dài quá.Khi khám người thầy vận dụng một số thao tác : Quan sát, hỏi han, khám vàthử nghiệm, ba thao tác này quyện vào nhau, không nhất thiết cái trước, cái sautheo một trình tự nhất định
Khi hỏi bệnh nên để người bệnh tự nói ra nhưng không để bệnh nhân nóithao thao bất tuyệt, và cuối cùng hỏi một số câu vào những điểm chưa được nóiđến hoặc chưa rõ ràng
Hỏi bệnh là một "kỹ thuật" cần được tiến hành chặt chẽ, vừa là một "nghệthuật" cần được tiến hành một cách linh động
Trong lúc khám thông qua những câu hỏi, đối đáp làm cho người bệnhyên tâm và cũng có dịp để tâm sự những điều thầm kín của mình để giải tỏabớt
Người bệnh thường bắt đầu nói triệu chứng hiện đang làm rối nhiễu cuộc sống:Một triệu chứng hoặc mang tính thể chất, như đau nhức hay rối loạn một chứcnăng sinh lý nào đó, hoặc mang tính chất tâm lý như quên, thay đổi tính tìnhhoặc xung đột trong cuộc sống xã hội Điều đầu tiên là phân tích kỹ triệu
Trang 3chứng trên cơ sở hiểu biết nhất định về các loại bệnh chứng và rối nhiễu tâm
lý, mặc dù sự phân tích triệu chứng đầu tiên chưa nhất thiết dẫn đến chẩn đoán.Cần tìm hiểu tính chất của triệu chứng như thời điểm xảy ra và những tìnhhuống, tình tiết có liên quan ví dụ: uể oải xãy ra vào buổi sáng sau khi ngũ dậyhay buổi chiều sau khi lao động về
Khám nghiệm tâm lý có thể tiến hành sau , trước hay cùng một lúc với khám ykhoa
Bác sĩ Y khoa vừa đồng thời biết tâm lý là rất thuận lợi
Không phải lúc nào khám y khoa cũng cho những kết quả rõ ràng, trong nhiềutrường hợp, thầy thuốc không tìm ra một tổn thương thực thể nào, rồi đó gọi làtriệu chứng chức năng, đối với thầy thuốc chưa học tâm lý điều này nói lên sựbất lực của y học, rồi hoặc bỏ qua, hoặc đưa đâíy bệnh nhân đến chuyên khoatâm thần
Những rối nhiễu tâm lý có thể gặp ở tất cả các chuyên khoa, những triệu chứngthực thể dẫn đến thầy thuốc như: nhức đầu, nhức xương, rối loạn tim mạch,nhiều khi chỉ là một cách vô thức kêu cứu để mong có sự giúp đỡ về tâm lý,đằng sau những triệu chứng là những nỗi khổ, nan giải trong cuộc sống
Tóm lại: Ngay từ lúc đầu trong quá trình khám quan sát theo dõi dáng mạo, tưthế , cách đứng ngồi, cử động, nét mặt, nếp nhăn ở trán, đôi mắt quầng đen, nétmặt bi?n động, nhìn thẳng hay tránh né, nhìn xuống đất hay ngẫng đầu Vềngôn ngữ có thể mất luôn hay ngập ngừng, tự nói hay chỉ trả lời câu hỏi, rụt rè,giọng nói cao thấp, ngôn ngữ thô lỗ, tế nhị
Quan sát tư thế, vận động , ngôn ngữ có thể thực hiện trong lúc tiếp xúc giữahai bên Người thầy có kinh nghiệm sau buổi tiếp xúc đã thu thập những thôngtin có giá trị (con mắt tinh đời) hoặc vận dụng một số trắc nghiệm vận động,ngôn ngữ
3.Chẩn đoán tâm lý
Sau khi tập hợp được các thông tin thu được trong khám nghiệm cần vẽ
ra được toàn bộ nhân cách của người bệnh với những mặt như thể trạng, trínăng, văn hóa, cá tính
-Trong phần chẩn đoán bệnh cần chú ý chẩn đoán phần nhân cách và trạng tháitâm lý người bệnh trên những nét tâm lý đại cương Có loại người nghi bệnh,trầm cảm , bi quan, ngược lại có loại người lạc quan vô tư quá mức hoặc mặc
kệ coi thường bệnh tật vì vậy việc xác định nhân cách và trạng thái tâm lý củangười bệnh trong mối liên quan với bệnh tật và hoàn cảnh gây bệnh, hình ảnhbên trong của bệnh và đặc điểm nhân cách bên ngoài của ngưòi bệnh là điều rất cần thiết Dựa vào sự đánh giá nhân cách và trạng thái tâm lý người bệnh để
đề ra nghệ thuật tiếp xúc, chẩn đoán tâm lý , điều trị tâm lý
Tóm lại thấy rõ "con người " chứ không phải như trong y học chỉ thấy
"ca bệnh”, tệ hơn nữa chỉ thấy một triệu chứng, một đặc điểm nào đó (Huyết
áp, điện não, điên tâm đồ )
Câu hỏi đầu tiên là: Con người này khỏe hay yếu Khỏe cần hiểu theo nghĩa là
có khả năng thích nghi với mọi biến động trong môi trường, đáp ứng với những
Trang 4đòi hỏi và thách thức trong lao động và cuộc sống Thách thức không những vềthể lực mà cả về tâm trí.
Câu hỏi thứ 2 là: Con người này dại hay khôn, có thể đặt các câu hỏi, gợi ý kểchuyện và đánh giá qua những yếu tố cơ bản:
-Trí nhớ
-Khả năng chú ý vào một điểm nào đó
-Khả năng định hướng trong không gian
-Khả năng định hướng thời gian
-Đánh giá khả năng suy tư
-Đánh giá khả năng suy luận phán đoán
III CÁC PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG TÂM LÝ
1.Mục đích
- Vận dụng kiến thức và phẩm chất tâm lý y học vào công tác điều trị
- Vận dụng tâm lý y học để tác động lên bệnh nhân các quá trình tâm lý, trạngthái tâm lý, đặc điểm tâm lý cá nhân
- Áp dụng tâm lý y học tham gia tích cực vào công tác điều trị toàn diện, điềutrị bằng tâm lý để rút ngắn ngày điều trị
-Bình thường hóa nhận thức về bệnh tật không hoang mang lo sợ
-Thích nghi với môi trường bệnh viện cũng như ở nhà
-Nâng cao nhận thức phòng bệnh, tự phấn đấu loại trừ các bệnh chức năng donguyên nhân tâm lý
-Cũng cố tâm lý bệnh nhân qua các giai đoạn bệnh lý
-Chuẩn bị cho bệnh nhân về sống hài hòa với gia đình và xã hội
4.Các phương pháp tác động tâm lý bệnh nhân
4.1.Phương pháp gián tiếp
- Tâm lý môi trường tự nhiên: Quang cảnh , cây xanh, vườn hoa, bóng mát,phòng bệnh, trang thiết bị, khí hậu , nhiệt độ, màu sắc ( tùy theo bệnh lý để cómàu sắc thích hợp có tác động tâm lý bệnh nhân (đen xám ức chế gây buồn,bệnh nhân tim mạch lo sợ màu đỏ, 60% bệnh nhân cường giáp thích màutím )
- Tâm lý môi trường xã hội:Sự tác động của gia đình , cơ quan, xóm làng, tinhthần thái độ Bác sỹ , y tá , hộ lý
4.2.Phương pháp tác động trực tiếp
Trang 5- Lời nói: Nhỏ nhẹ , dịu dàng, khuyến khích an ủi bệnh nhân
- Ám thị bằng lời nói : Thầy thuốc ám thị bệnh nhân để bệnh nhân tin tưởng,
an tâm điều trị,
- Thôi miên ( ám thị trong giấc ngủ): Bác sỹ cho bệnh nhân đi vào giấc ngủbằng lời nói, ám thị , hoặc những kích thích đơn điệu đều đều Bệnh nhân đượcngũ không hoàn toàn có khoảng tỉnh dành cho bác sỹ thôi miên điều khiển,bệnh nhân chỉ nghe theo hướng dẫn của thầy thuốc về chữa bệnh và làm theolời bác sỹ Trong thôi miên người bệnh chịu ảnh hưởng rất lớn của thầy thuốc Chữa bệnh thôi miên có kết quả đối với những bệnh rối loạn chức năng
- Điều trị nhóm: Thầy thuốc điều khiển một nhóm bệnh nhân trao đổi lẫn nhau
để chữa bệnh
- Dùng chế phẩm thuốc Placebos
- Các phương pháp không dùng thuốc: Dưỡng sinh thái cực quyền, yoga, giảitrí, thể thao, du lịch
- Tâm lý học điều trị trong điều trị toàn diện
- Giữ bí mật cho bệnh nhân: Bệnh nhân nào cũng có nỗi niềm riêng khôngmuốn cho người khác biết thầy thuốc phải giữ bí mật cho bệnh nhân nếu điều
đó không ảnh hưởng đến an ninh xã hội Đối với bí mật có hại thầy thuốc phảibiết phân tích vận động để bệnh nhân xử thế đúng đắn Những bí mật có hạicho xã hội thầy thuốc phải ngăn chặn và đồng thời báo các ngành hữu quan
- Phải có lập trường giai cấp trong phục vụ bệnh nhân: Trong khám chữa bệnhkhông phân biệt đối xử giàu nghèo, già trẻ, xấu đẹp Đối với người lao động ,người có công, cần được quan tâm,thể hiện tình cảm giai cấp , gần gũi họ
- Chú ý công tác truyền thông GDSK trong thời gian điều trị
- Chống đau đớn cho bệnh nhân: Chống đau là vấn đề hết sức quan trọng trongtâm lý y học, thầy thuốc phải chú ý điều trị bằng tâm lý kết hợp với các loạithuốc an thần , chống đau , không nên điều trị chống đau kéo dài mà chủ yếuđiều trị bằng tâm lý hoặc dùng thuốc thế phẩm (placebo) làm cho bệnh nhânyên tâm tin tưởng
- Điều trị bằng tâm lý : Các nhà khoa học đều thấy trên 80% bệnh có thể tựkhỏi mà không cần điều trị, vì vậy trong điều trị phải áp dụng điều trị bằng tâm
lý Trong thực tiễn có nhiều bệnh do nguyên nhân tâm lý nếu không chữa khỏibằng tâm lý bệnh có thể chuyển từ cơ năng thành thực thể, tồn tại suốt đời.Điều trị tâm lý có thể kết hợp thuốc, xoa bóp
- Giải quyết tốt các khâu đối với bệnh nhân ra vào viện: Từ phòng bảo vệ đếnphòng tiếp đón đến phòng khám đến bệnh phòng các khâu phải hoàn chỉnh,chăm sóc chu đáo Khi chuyển khoa phải đả thông và có cán bộ đưa đi Khi raviện phải có hướng dẫn cụ thể nếu được thỉnh thoảng có thể đến thăm lại bệnhnhân Khi bệnh nhân hấp hối phải tích cực hết lòng cứu chữa, nếu bệnh nhânchết phải làm tốt quy chế đối với người bệnh tử vong: ít nhất có hai Bác sỹchứng kiến, vuốt mắt, thay áo và đưa đến nhà vĩnh biệt thì chú ý phong tục tậpquán tôn giáo, theo yêu cầu của gia đình
Nguồn ”Nguyễn Trí Dũng”
Trang 62.Tâm Lý Học Trong Marketing Và Hiệu ứng Lan Tỏa
Marketing và tâm lý học có quan hệ mật thiết với nhau Nếu xem tâm lý học là “nghiên cứu mang tính hệ thống về hành vi con người” thì marketing có thể được gọi là “nghiên cứu mang tính hệ thống về hành vi con người trên thị trường”.
Trước tiên, hãy xem một vài con số về iPod Sau một chiến dịch marketing rầm
rộ chỉ tập trung vào một sản phẩm duy nhất – iPod doanh số trong năm tàikhóa 2005 của Apple tăng đến 68%, lợi nhuận trên 384% và cổ phiếu tăng vọtđến 177%
Hiệu ứng lan tỏa (halo effect)
Bạn có thấy rằng những người có vẻ ngoài chỉnh chu, đẹp đẽ thường được xem
là thông minh hơn, thành công và nổi tiếng hơn? Đây chính là hiệu ứng lan tỏatrong tâm lý học, nói một cách nôm na là hiệu ứng từ một ấn tượng tốt
Hiệu ứng lan tỏa cũng hữu hiệu khi ứng dụng vào marketing Bí mật đằng sauthành công phi thường của Apple Computer? Tóm gọn trong 1 từ, đó là iPod
Năm tài khóa 2005, doanh thu của Apple Computer tăng 68% so với nămtrước Lợi nhuận cũng tăng 384%, và cổ phiếu trên 177% Tỉ suất lợi nhuậnròng nhảy từ 3.3% lên 9.6%, một thành tích đáng nể
Thành công rực rỡ của Apple Computer không chỉ đến từ iPod Thực tế, trongnăm tài khóa 2005, cả iPod và iTunes cộng lại chỉ chiếm khoảng 39% doanh sốcủa Apple 61% đến từ tất cả những sản phẩm còn lại (máy tính, phần mềm vàdịch vụ) Máy tính Apple và các dịch vụ liên quan khác đều tăng 27% trongnăm tài khóa 2005 so với năm trước Theo các báo cáo trong ngành, Apple đãgia tăng thị phần máy tính cá nhân từ 3% lên 4% Đây chính là hiệu ứng lan tỏatrong marketing
73.9% thị phần
Trong năm này, Apple liên tục “dội bom” công chúng với quảng cáo TV, báo
và billboards chào hàng máy nghe nhạc iPod Và kết quả rất đáng khâm phục.Apple chiếm 73.9% thị phần nhạc số Thương hiệu iPod mạnh đến nỗi hầu nhưkhông ai nhớ ra thương hiệu thứ 2 sau iPod là gì (Xin thưa chính là iRiver với4.8% thị phần nhỏ nhoi.) Thế những hoạt động marketing hỗ trợ cho dòng sảnphẩm máy tính cá nhân của Apple là gì? Không đáng kể vì hầu như chẳng nhớđược có quảng cáo nào cho Macintosh trong năm ấy hay không Đây chính làmấu chốt Apple đã dồn mọi ngân sách marketing cho iPod, tạo ra hiệu ứng lantỏa bao phủ cho mọi dòng sản phẩm khác Motorola cũng làm điều tương tựkhi chỉ tập trung ca tụng dòng điện thoại Razr Chỉ trong quý 3/2005, hãng này
Trang 7đã chuyển đi 38.7 triệu điện thoại Doanh thu của quý tăng 26% Nhưng trong
số đó, chỉ có 6.5 triệu máy tương đương 17% – thuộc dòng Razr Rõ ràng ấntượng Razr đã lan rộng sang dòng sản phẩm còn lại
Một ví dụ rõ ràng hơn về hiệu ứng lan tỏa là Sirius Satellite Radio và HowardStern Sirius có tổng cộng 120 kênh phát thanh, nhưng họ chỉ tập trung quảng
bá cho “cây hề” Stern Kết quả thu được hết sức ấn tượng Ngày Sirius công bố
ký hợp đồng với Stern năm 2004, đài này chỉ có 660,000 thính giả đăng kýnghe Đến năm 2006, con số này là 3.3 triệu người
Tất nhiên, Stern không phải là “gu” của tất cả mọi bạn nghe đài Có thể hơnmột nửa người đăng ký Sirius không buồn nghe kênh của Stern Nhưng việctập trung quảng bá cho Stern đã mang về khối lượng PR khổng lồ và tạo hiệuứng lan tỏa trong toàn bộ hệ thống phát thanh vệ tinh (Tương tự như tác độngcủa series phim truyền hình The Sopranos lên đài HBO.)
Hiệu ứng lan tỏa trong lịch sử marketing
Hiệu ứng lan tỏa có lịch sử lâu dài trong marketing Từ năm 1930, khi MichaelKullen tạo ra chuỗi siêu thị đầu tiên mang tên King Kullen Ý tưởng đột phácủa ông chính là ở phương pháp định giá Ông quyết định bán 300 mặt hàng ởmức giá gốc 300 mặt hàng khác chỉ nhỉnh hơn giá gốc một tí, và 600 mặt hàngcòn lại với mức lời kha khá
Kullen quyết định quảng cáo cho nhóm hàng thứ nhất nhóm bán ở mức giá gốc.Những gì bạn quảng cáo và những gì mang lại lợi nhuận thật sự có thể là 2 thứhoàn toàn khác biệt Hầu như mọi nguyên tắc tâm lý học đều có một ứng dụngtrong marketing, ví như nguyên lý “khắc ghi dấu ấn” chẳng hạn Thương hiệuđầu tiên trong mọi ngành sản phẩm/dịch vụ sẽ khắc ghi một ấn tượng sâu đậmtrong tâm trí người tiêu dùng như thương hiệu gốc, nguyên thủy, đích thực.Như Kleenex với khăn giấy, Hertz với xe hơi cho thuê, và Heinz với ketchup.Việc học hỏi marketing, vì thế, nên bắt đầu từ học hiểu tâm lý
Trang 8Ví dụ: Phong tục lễ hội, văn hoá, sinh hoạt, cưới xin, ma chay…
- Phong tục: ấn Độ thờ bò, Indonêxia thờ vượn người, tinh tinh…
b Đặc điểm của phong tục tập quán
- Tính ổn định, bền vững được hình thành chậm chạp lâu dài trong quá trình phát triển lịch sử
- Là cơ chế tâm lý bên trong, nó điều khiển, điều chỉnh hành vi, lối sống các thành viên trong nhóm
- Phong tục tập quán được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng con đường truyền đạt, bắt chước thông qua giao tiếp của cá nhân
- Nó có tính bảo thủ rất lớn nhưng có tác động tâm lý mạnh mẽ tới đời sống vậtchất và tinh thần của con người
c Chức năng của phong tục tập quán
- Hướng dẫn hành vi ứng xử� của con người trong nhóm xã hội
- Giáo dục nhận thức cho thế hệ trẻ, xây dựng tình cảm và kỹ năng sống, hành
vi ban đầu cho con người
- Là chất keo gắn bó các thành viên trong nhóm ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới hoạt động, đời sống của các cá nhân và nhóm
- Là tiêu chuẩn thước đo đánh giá về mặt đạo đức, xã hội các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm xã hội với nhau
- Là hình thức lưu giữ những nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của đời sống văn hoá nhóm
d Áp dụng phong tục tập quán trong kinh doanh du lịch
- Người quản lý du lịch cần phải nắm vững phong tục tập quán của du khách vàtập quán của địa phương nơi hoạt động du lịch tiến hành để đưa ra kế hoạch chương trình du lịch hợp lý, khoa học
- Người phục vụ cần phải nắm được du khách từ đâu tới, phong tục tập quán của họ ra sao? Đồ ăn uống phải phù hợp với tập quán của du khách
- Du khách phải hiểu phong tục tập quán của địa phương nơi tiến hành hoạt động du lịch Trên cơ sở phong tục tập quán của mình và tôn trọng phong tục tập quán ở địa phương mà điều chỉnh hoạt động của mình
2 Thị hiếu của nhóm.
a Định nghĩa: Thị hiếu là một hiện tượng tâm lý xã hội, nó phản ánh sự phát triển nhu cầu thẩm mỹ của con người trong nhóm xã hội được quy định bởi vănhoá truyền thống, phong tục tập quán của các nhóm đó, thể hiện ở thái độ lựa chọn ổn định đối với sản phẩm, dịch vụ nào đó
Ví dụ:
- Thị hiếu về sản phẩm du lịch, màu sắc, kiểu dáng…
- Thị hiếu về cách tổ chức hoạt động du lịch vùng, địa phương…
b Đặc điểm của thị hiếu
- Được hình thành một cách nhanh chóng dưới tác động của các quy luật tâm lý
Trang 9như “lây lan”, “ám thị”, “bắt chước”
- Thị hiếu không ổn định, nó có tính nhất thời, dễ thay đổi Ví dụ: Mốt thời trang
- Thị hiếu phụ thuộc rất nhiều vào nhánh văn hoá, phong tục tập quán và truyềnthống của nhóm
Ví dụ: Việc sử dụng màu sắc của các dân tộc có ý nghĩa rất lớn
- Người Phương Đông: Màu vàng tượng trưng cho sự giàu sang, quyền lực, phúquý- Rất trân trọng
- Thị hiếu là cơ chế tâm lý bên trong điều khiển, điều chỉnh các hành vi trong nhóm
c Chức năng của thị hiếu
- Tạo ra sự đồng nhất tâm lý trong nhóm xã hội Ví dụ: Các dân tộc vùng cao dùng hàng dệt thổ cẩm (màu sắc, hoa văn, chất liệu) tạo ra sự thống nhất trong sinh hoạt lễ hội
- Thúc đẩy hoạt động sản xuất, sự sáng tạo phát huy tính độc đáo điển hình của các nền văn hoá khác
- Thể hiện trình độ phát triển tình cảm thẩm mỹ của các nhóm xã hội
- Thị hiếu quy định xu hướng hành vi tiêu dùng của du khách
Ví dụ:
- Truyền thống yêu nước và chống giặc ngoại xâm của ông cha ta
- Truyền thống tôn sư trọng đạo
b Đặc điểm của truyền thống
- Tính ổn định của các cách thức, hành vi ứng xử của con người trong một cộngđồng qua nhiều thế hệ
Ví dụ: Truyền thống kính già, yêu trẻ
- Truyền thống luôn mang tính chất tiến bộ: So với phong tục tập quán thì truyền thống là những giá trị� xã hội mang tính chất tiến bộ hơn nhiều
- Truyền thống góp phần lưu giữ những kinh nghiệm lịch sử, tri thức của xã hộiloài người
- Truyền thống là chất keo gắn kết các thành viên trong nhóm thúc đẩy sự phát triển của tập thể
c Chức năng của truyền thống
- Duy trì các quan hệ xã hội, đảm bảo cho sự ổn định hoạt động của các thành viên
Trang 10- Góp phần xây dựng những chuẩn mực, khuân mẫu hành vi ứng xử cho các thành viên trong nhóm, đặc biệt cho thế hệ trẻ.
- Tạo ra sự khác biệt độc đáo, cần thiết giữa các nhóm xã hội và cộng đồng
- Là cơ� chế tâm lý bên trong thúc đẩy, điều khiển và điều chỉnh hoạt động của các cá nhân và nhóm
4 Tín nghưỡng – Tôn giáo:
a Định nghĩa: Là niềm tin sâu sắc vào một điều gì đó vô hình, nhưng nó chi phối toàn bộ đời sống con người (ví dụ: Thiên chúa giáo- Chúa, Phật giáo- Phật
Tổ, Bồ Tát)
b Đặc điểm của Tín ngưỡng- Tôn giáo
- Đó là niềm tin vào những điều hư ảo, không có thực như: Thánh, Chúa, Đức mẹ…
- Niềm tin tôn giáo là một định hướng giá trị vững chắc và bền vững
- Niềm tin tôn giáo không theo một trật tự tự nhiên, logic
- Nó phụ thuộc nhiều vào trình độ, nhận thức và hoàn cảnh, điều kiện của từng người
c Chức năng của Tín ngưỡng- Tôn giáo
- Là những cơ chế tâm lý bên trong điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con người
- Là chất keo để gắn kết các thành viên của một cộng đồng người
- Là sự lưu giữ, truyền đạt những kinh nghiệm, lối sống, cách ứng xử…Từ thế
- Cần phải nắm được tín ngưỡng, tôn giáo của các địa phương nơi tiến hành hoạt động du lịch Từ đó thiết kế các hình thức, biện pháp phù hợp, tránh xảy ramâu thuẫn đáng tiếc
5 Tính cách dân tộc.
a Định nghĩa: Tính cách dân tộc là những nét điển hình riêng biệt, mang tính
ổn định, đặc trưng trong các mối quan hệ của các thành viên trong cộng đồng
đó (ví dụ: người Anh thì lạnh lùng, người Braxin thì sôi nổi, nhiệt tình…)
b Đặc điểm của tính cách dân tộc
- Được hình thành một cách từ từ cùng với sự phát triển của một dân tộc
Trang 11c Chức năng của tính cách dân tộc.
- Là cơ chế tâm lý bên trong, điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con người
- Thông qua tính cách của dân tộc, ta có thể hiểu biết về văn hoá, nghệ thuật, đời sống của một cộng đồng người nào đó
- Là những nét độc đáo, điển hình của nhân cách, giúp ta phân biệt được các nhóm người và cộng đồng người khác nhau
d Áp dụng trong hoạt động du lịch
- Thông qua tính cách của du khách thuộc về một quốc gia, dân tộc nào đó, người kinh doanh du lịch tạo ra các sản phẩm du lịch và cách thức phục vụ phù hợp với họ
- Giới thiệu với du khách về giá trị, bản sắc văn hoá, dân tộc, tính cách dân tộc,giúp cho du khách hiểu hơn về đất nước và con người Việt Nam
- Cần cho du khách hiểu biết tính cách dân tộc ở nơi tiến hành hoạt động du lịch để tăng cường sự phối hợp với các cơ quan địa phương
6 Hiện tượng nhóm trong du lịch.
a Định nghĩa: Nhóm là sự liên kết tâm lý- xã hội từ hai người trở lên nhằm thực hiện một hoạt động nào đó trong đời sống của họ
Trong hoạt động du lịch, chúng ta gặp lại hai loại nhóm cơ bản:
Nhóm
Chính thức: các tập thể, công ty… kinh doanh du lịch
Không chính thức: Các nhóm nhỏ trong các nhóm chính thức và các nhóm du khách
Ở đây, chúng ta đi sâu phân tích nhóm không chính thức trong hoạt động du lịch, đặc biệt là nhóm du khách
- Thời gian tồn tại của nhóm ít (từ 10- 15 ngày)
- Số lượng thành viên trong nhóm ít (thường từ 15- 30 người)
- Các thành viên trong nhóm thường có ngôn ngữ, trình độ, đặc điểm văn hoá, lịch sử, xã hội khác nhau
- Việc giao tiếp giữa các thành viên thường bị hạn chế do những bất đồng, các phương tiện phi ngôn ngữ ở đây được sử dụng rất hiệu quả
Trang 12nhau hơn.
- Nên sắp xếp các nhóm du khách theo châu lục bởi như vậy họ thường có những đặc điểm, tính cách, tôn giáo gần giống nhau và do đó sự hiểu biết và tạo dựng các mối quan hệ dễ dàng hơn
- Tạo ra được bầu không khí tâm lý lành mạnh trong tập thể để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp Phải cử các cán bộ có năng lực phụ trách các nhóm du lịch, có sức khoẻ và am hiểu hoạt động du lịch Có thể dùng các phương pháp test hoặc đánh giá để tuyển nhân viên tốt hơn
4.Tâm Lý Học Trong Tư Vấn
Xã hội công nghiệp hóa với tốc độ thay đổi của xã hội nhanh chóng, nhữngcông việc với cường độ cao, những mối quan hệ phức tạp, những vấn đề mớiluôn phát sinh, tính cá nhân ngày càng tăng cường… khiến cho không ít ngườirơi vào tình trạng căng thẳng, bức bối về tâm lý Stress (căng thẳng) trở thànhmột bệnh xã hội Để giải quyết vấn đề này, các bạn cần tìm đến các chuyên gia
Tư vấn tâm lý là gì?
Tư vấn tâm lý là một mối quan hệ, một quá trình tương tác giữa Nhà tư vấn tâm
lý với thân chủ nhằm giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cáchkhai thác nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ cảm xúc và hành vi của họ
Nhà tư vấn tâm lý là người được đào tạo một cách bài bản trong ngành tâm lý
và cụ thể là tư vấn tâm lý Họ là người được đào tạo chuyên sâu, có đủ cácphẩm chất và kỹ năng cần có của một nhà tư vấn để có thể trợ giúp tốt nhất chokhách hàng của mình
Nhiệm vụ của nhà tư vấn tâm lý phải biết lắng nghe thân chủ, làm chủ các cuộcnói chuyện trong các cuộc gặp gỡ tư vấn, sử dụng các kỹ năng giao tiếp cụ thể
để “khai thác” các cảm xúc, trải nghiệm suy nghĩ và quan điểm của thân chủ,
và tập hợp các thông tin giúp thân chủ hiểu rõ về tình huống của họ, thể hiện sựthông cảm và thấu hiểu với thân chủ, nhà tư vấn làm việc với họ để xác địnhcác bước họ có thể thực hiện để có thể tìm ra hướng giải quyết tốt nhất cho vấn
đề của họ, giúp thân chủ hiểu được các sự kiện trong quá khứ có thể đã gópphần vào các vấn đề hiện tại, giúp thân chủ suy nghĩ và xử sự theo các cáchkhác nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của các sự kiện quá khứ, giúpthân chủ phân loại các vấn đề trong cuộc sống của họ và khám phá sâu hơn vềbản thân mình, giúp thân chủ bày tỏ các cảm xúc của họ và có cái nhìn sâu sắc
về việc các cảm xúc này tác động dến cách họ ứng xử, suy nghĩ và ra các quyết
Bình thường khi gặp vấn đề, chúng ta luôn có thể tìm đến và nói chuyện vớinhững người bạn mà chúng ta thấy quý mến họ hoặc chúng ta tìm thấy sự vui
vẻ trong những mối quan hệ đó Khi nói chuyện với bạn bè chúng ta có thể nói
về một chủ đề vặt vãnh nào đó hoặc có thể chuyển sang đề tài không mấy thú
Trang 13vị, đôi khi cuộc nói chuyện đó xoay quanh nhu cầu của chính người tham gianói chuyện cùng chúng ta, đặc biệt họ có thể áp đặt cho chúng ta phải làm thếnày thế kia.
Nhưng với tư vấn họ phải luôn luôn tôn trọng ranh giới chuyên môn giữa thânchủ và nhà tư vấn, đảm bảo tính khách quan chuyên nghiệp
Nhà tư vấn phải đặt các nhu cầu của mình sang một bên và tôn trọng tối đa cácnhu cầu của khách hàng, họ tập trung tối đa để xoay quanh vấn đề của thânchủ Đó là một quá trình trợ giúp dựa trên các kỹ năng, trong đó một ngườidành thời gian, sự quan tâm, và sử dụng các kỹ năng của họ một cách rõ ràng
và có mục đích để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống, xác định và triển khainhững giải pháp khả thi trong giới hạn cho phép, sao cho thân chủ cảm thấythoải mái nhất sau cuộc nói chuyện mà nhà tư vấn không hề áp đặt những gì họcho là tốt cho thân chủ
Về đào tạo, bộ môn TVTL mới chỉ được giảng dạy như một môn học chung
Nó chưa được coi như một chuyên ngành sâu Sinh viên chỉ học môn này trongkhoảng từ 2-6 đơn vị học trình, việc thực hành còn rất sơ sài Do vậy tínhchuyên nghiệp của những người làm tư vấn chưa cao
Phần nhiều những người làm tư vấn thường đưa ra những lời khuyên với kháchhàng dựa trên sự nhìn nhận vấn đề của mình, đôi khi mang tính áp đặt Điềunày sẽ dẫn đến việc khách hàng bị lệ thuộc, trong khi nhà tư vấn lại không chịutrách nhiệm về lời khuyên của mình Vì vậy vấn đề đạo đức nghề nghiệp rấtđược coi trọng trong lĩnh vực này Tại một số nước phương Tây, muốn hànhnghề tư vấn phải có bằng hành nghề cấp quốc gia do hội đồng nghề tư vấn sáthạch
5.Tâm lý học trong thiết kế website
Một website được thiết kế tốt là website hướng tới việc thu hút nhiều đối tượngmục tiêu ghé thăm website của bạn, chứ không phải là thiết kế cho các
designer Những người sử dụng internet thường xuyên thì rất dễ nhận biết đượcmột website nào có giá trị hay không Khi bạn truy cập vào một website lần đầu tiên thì ngay lập tức bạn đã có ấn tượng về chất lượng và sự hợp lý của nó Mặc dù nó là vô thức, nhưng thông thường cảm nhận đó rất chính xác Theo báo cáo năm 2006 của BBC News chỉ ra bộ não đưa ra quyết định chỉ trong 1/20 của giây khi xem một trang web Và ấn tượng đầu tiên đó sẽ theo bạn trong suốt quá trình duyệt web, cả về nội dung và độ chuyên nghiệp Từ đó bạn
có thể thấy tại sao việc tạo ấn tượng ban đầu tốt đẹp lại được nhấn mạnh đến thế
Bạn liệu có đặt ra câu hỏi làm thế nào được như thế?
Nó đơn giản nằm ở việc nhìn nhận – bạn phải nhìn nhận dưới góc độ kết hợp
cả tâm lý học con người nói chung và các yếu tố thiết kế website (không có
cái nào độc lập với cái nào) ở một mức độ cao,ví như việc bạn sắp xếp rất nhiều chữ cái lộn xộnlại cùng với nhau thành một từ cụ thể và có nghĩa Tâm lýluôn đóng vai trò là 1 phần trong việc sử dụng internet, và đó chỉ mới bắt đầu hiểu sự sâu sắc về tầm ảnh hưởng của nó Khi chúng ta chia nhỏ vấn đề ra thì việc thiết kế website đơn giản là đưa các nội dung hình ảnh lên website để xuất