1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới phương pháp một giờ đọc văn phần văn học nước ngoài

16 1,7K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 83,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy văn học nước ngoài cho học sinh không chỉ giúp các em cảm thụ được thế giới tâm hồn phong phú của con người trong văn học mà còn giúp các em tiếp cận với vốn văn hoá phong phú của nh

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Ngay từ thế kỉ XVII, A.Kômenxki đã trăn trở: Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… Hãy tìm ra một phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn Sinh thời

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã rất chú ý chỉ đạo việc “Xây dựng một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em’’ Vì vậy tinh thần cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới việc dạy học môn Ngữ văn nói riêng là làm thế nào để nâng cao tinh thần chủ động tích cực trong tiép nhận kiến thức và ứng dụng kiến thức của học sinh Đó cũng là những trăn trở thường trực của đội ngũ những người trực tiêp đứng lớp như chúng tôi

2 Tác phẩm văn học nước ngoài được đưa vào chương trình phổ thông đều

là những tác phẩm tiêu biểu cho kho tàng văn học nước ngoài, là tinh hoa văn hoá nhân loại Dạy văn học nước ngoài cho học sinh không chỉ giúp các em cảm thụ được thế giới tâm hồn phong phú của con người trong văn học mà còn giúp các em tiếp cận với vốn văn hoá phong phú của nhân loại qua việc hiểu và cảm nhận về văn hoá của mỗi dân tộc trên thế giới Trong những sáng tác văn chương được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông, sáng tác thơ chiếm một vị trí quan trọng Trong ba năm ở THPT, học sinh được học thơ với một sự đa dạng: Thơ Đường, thơ châu Âu, thơ châu Á… với các đại biểu tiêu biểu: Lý Bạch, Puskin, Tago… và những sáng tác tiêu biểu của họ

3 Kho tàng thơ văn thế giới là một vốn quý Tuy nhiên thưởng thức nó là một điều thật không dễ dàng Bởi vì lâu nay chúng ta được tiếp cận văn chương nước ngoài đều qua bản dịch Việc học qua bản dịch là một trở ngại thực sự đối với học sinh và bản thân mỗi giáo viên chúng ta: Mỗi tác phẩm văn học dịch đều có những khác biệt với nguyên bản

4 Hơn nữa việc tiếp cận thơ nước ngoài còn gặp một thử thách nữa: thơ là tiếng nói tâm hồn của con người, thơ gắn liền với đời sống sinh hoạt văn hoá, để

Trang 2

hiểu thơ chúng ta cân hiểu về đời sống văn hoá của đất nước, con người đó.Trong khi đó việc tiếp cận vốn văn hoá,phong tục tập quán của nước ngoài đối với bản thân mỗi học sinh phổ thông là điều không dễ dàng Vì thế với những tac phẩm văn học nước ngoài đôi khi người dạy rơi vào tình trạng truyền thụ một chiều ,mang tính chủ quan áp đặt

Vậy làm thế nào để giải quyết được những khó khăn trên ?

Trang 3

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Bằng kinh nghiệm giảng dạy trên 10 năm và quá trình đi sâu nghiên cứu văn học nước ngoài, bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm nhỏ trong những giờ đọc văn phần văn học nước ngoài ở trường trung học phổ thông như sau:

1 Các sáng tác văn học nước ngoài được đưa vào chương trình giảng dạy đều được dịch sang tiếng Việt và nhiều bài kèm theo cả bản dịch sát nghĩa Với các bài thơ Đường, học sinh còn được tiếp cận với bản phiên âm Đó là những ưu thế

mà chúng ta cần nắm bắt để khi tìm hiểu chúng ta có điều kiện đối chiếu các bản

ấy để thấy chỗ khác biệt, từ đó mà cân nhắc khi tìm hiểu sáng tác dịch

Ví dụ: Ở bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin đưa vào sách giáo khoa với bản dịch của Thuý Toàn Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về hai câu đầu bài thơ chúng ta nên có sự lưu ý đến nguyên tác để có hướng tiếp cận đúng ý nghĩa của nó Trong nguyên bản hai câu thơ đầu chỉ là:

“Tôi đã yêu em, tình yêu, vẫn có lẽ Chưa tắt hẳn trong lòng tôi”

Vậy mà khi tìm hiểu một số người vẫn bám vào hình ảnh ẩn dụ “ngọn lửa tình” mà người dịch thêm vào và phân tích kĩ về hình ảnh đó,thậm chí cho rằng hình ảnh ngọn lửa tình tượng trưng cho một tình yêu rực cháy,mãnh liệt,một hình ảnh vốn rất quen thuộc trong thơ tình thế giới Câu cuối “Cầu em được người tình như tôi đã yêu em” thì chúng ta nên đối chiếu với bản dịch nghĩa “Cầu trời cho cho

em được người khác cũng yêu chân thành, dịu dàng như thế” để thấy được nhà thơ muốn khẳng định tình yêu của mình với em là một tình yêu lớn lao, hiếm có một tình yêu nào sánh kịp (phải cầu trời may ra mới có) Đó cũng là mong ước người con gái hãy nhìn nhận lại và cảm động trước tình yêu của mình và cũng là thể hiện tình yêu thuỷ chung son sắt không dễ gì thay đổi của nhân vật trữ tình

2 Việc đối chiếu với bản dịch nghĩa hoặc phiên âm là một điều cần thiết khi tìm hiểu sáng tác văn học nước ngoài Tuy nhiên, nếu chúng ta quá sa đà vào việc

Trang 4

đó lại cũng là điều không nên Bởi trong khuôn khổ thời gian lên lớp (thường chỉ là một tiết cho một bài thơ ,hai tiết cho một trích đoạn văn xuôi) với đối tượng là học sinh trung học thì việc làm trên là quá sức và không thiết thực Ví dụ, đối với bài thơ “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu khi đưa vào chương trình có đưa theo bản dịch thơ của Tản Đà và Khương Hữu Dụng Cả hai dịch giả đó đều là những dịch giả có tiếng, rất am hiểu thơ Đường Nhưng ban dịch của mỗi người chỉ là thành công về một mặt và vẫn có những hạn chế Ví dụ bản dịch của Tản Đà với thể thơ sáu – tám có phần “Việt hoá” bài thơ, mất đi đôi chút chất Đường thi của bài thơ Còn bản dịch của Khương Hữu Dụng bám khá sát bài thơ của Thôi Hiệu, giữ nguyên thể thơ thất ngôn bát cú của luật thơ Đường Tuy nhiên ở bản dịch của Khương Hữu Dụng vẫn có đôi chỗ khác biệt với nguyên bản: hai chữ “Hạc vàng” được dùng nhất quán trong bài thơ, còn ở bản dịch của Khương Hữu Dụng khi dịch là

“hạc vàng” khi để nguyên “hoàng hạc” Tuy nhiên đây không phải là một vấn đề quan trọng, nếu chúng ta cứ cho học sinh tìm hiểu về sự khác biệt đó thì thật lãng phí thời gian mà hiệu quả cũng không được gì Vì vậy, khi đối chiếu dịch thơ, dịch nghĩa, nguyên bản thì cũng nên tuỳ trường hợp Trường hợp nào việc đối chiếu cho

ta hiệu quả thực sự trong tìm hiểu tác phẩm thì ta nên làm Còn không thì không cần thiết hoặc chỉ gợi ý cho học sinh về nhà tìm hiểu (ở những lớp nâng cao)

3 Những sáng tác hoặc trích đoạn văn học nước ngoài đưa vào chương trình phổ thông nói chung thường có nhan đề Nhưng không phải bài nào cũng thế Trong sách giáo khoa có bài thơ của Tago tạm lấy thứ tự 28 trong tập thơ “Người làm vườn” để làm nhan đề Hoặc nhan đề “Tôi yêu em” chẳng qua do người soạn sách đặt từ việc lấy mấy chữ đầu của bài thơ Khi dạy giáo viên cũng nên lưu ý đến điều ấy Đối với những bài thơ có nhan đề và nhan đề đặc biệt có ý nghĩa thì chúng

ta nên lưu ý giảng cho học sinh những nội dung ý nghĩa của nó Ví dụ như bài

“Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu, phải cho học sinh thấy rõ mối quan hệ thẩm mỹ giữa nhan đề và 8 câu thơ của bài Còn ở trường hợp bài thơ không có nhan đề như “Tôi yêu em” của Puskin mà giáo viên cứ hướng học sinh tìm hiểu nhan đề,

Trang 5

thậm chí phân tích sâu về cách xưng hô “tôi” – “em” thì có vẻ hơi phi lí Bởi cách xưng hô trong nguyên bản của bài thơ không cụ thể tỉ mỉ như vậy Cách xưng hô tôi – em là do người soạn sách đặt dựa trên cách hiểu về nội dung cảm xúc trữ tình trong bài thơ Dù là việc phân tích nhan đề và cách xưng hô “tôi” – “em” ở bài thơ này đem lại thật nhiều ý nghĩa thú vị thì cũng không thể lấy đó làm căn cứ để đi phân tích nội dung của bài thơ mà chỉ có thể từ việc phân tích nội dung của bài thơ rồi đến việc phân tích mối quan hệ tình cảm giữa nhân vật trữ tình và người tình Xác định rõ điều này nên khi dạy “Tôi yêu em” sau khi cho học sinh tìm hiểu hai nội dung chính trong bài thơ: 1 Nhân vật trữ tình giãi bày tình yêu và nói lời từ bỏ

sự theo đuổi; 2 Những cung bậc tình cảm phức tạp, tôi cho học sinh phân tích nội dung mối quan hệ tình cảm của “Tôi” – “em”.Từ cách hiểu về tâm lí nhân vật trữ tình,từ cách cảm thụ về mối quan hệ tình cảm giữa “tôi” và “em” học sinh có thể lí giải vì sao dịch giả lại chọn cách dịch “Tôi yêu em” mà không phải là những cách dịch tương đương như: “Tôi yêu cô” hay “Anh yêu em”

4 Một điều thường gặp khi học sinh học thơ nước ngoài là các em thường chỉ chú ý đến nội dung mà quên đi việc tìm hiểu hình thức của bài thơ Có lẽ do thơ nước ngoài khi dịch sang tiếng Việt thường ít có vần điệu nhịp nhàng như thơ Việt Nhiều học sinh phàn nàn rằng bài thơ khó đọc, khó nhớ vì nó chẳng có vần Chính vì vậy mà khi cho học sinh phân tích đôi khi giáo viên chúng ta cũng quên

đi việc phân tích hình thức của bài thơ Tuy nhiên chúng ta vẫn phải lưu ý một điều rằng dẫu cho nhiều yếu tố hình thức của thơ như thể thơ, vần điệu, âm hưởng… phần lớn bị mất mát đi khi chuyển dịch qua một ngôn ngữ khác, song những gì bản dịch còn giữ lại được nhất là về mặt hình thức của thơ, chúng ta nên chú ý khai thác nhất là khi yếu tố hình thức ấy ẩn chứa ý đồ nghệ thuật của thi sĩ

Ví dụ, khi giảng thơ Thôi Hiệu, Lí Bạch không thể không nói đến luật thơ Đường, với các thể thơ thất ngôn bát cú và thất ngôn bát cú tứ tuyệt

Đối với thơ haikư của Nhật Bản, với mỗi bài thơ chỉ có 17 âm tiết, liền một mạch, không có dấu ngắt câu, thời xa xưa có khi viết thành một hàng, có khi ngắt

Trang 6

thành hai câu thơ theo công thức 7 – 7 nhưng dần dần thành dạng chuẩn mực ba câu theo công thức 5 – 7 – 5 Đó là đặc điểm riêng biệt của thơ haikư Các bài thơ dịch thơ haikư ở sách giáo khoa chỉ giữ được số câu ở mỗi bài mà không giữ được

số âm tiết ở từng bài Khi dạy giáo viên nên nhắc qua cho học sinh về đặc điểm hình thức ấy thì học sinh sẽ cảm thụ thơ haikư tốt hơn

Đặc biệt khi học các trích đoạn sử thi, lâu nay học sinh hay có thói quen khai thác sử thi theo cách khai thác một tác phẩm văn xuôi Bởi sử thi khi dịch thì đều chuyển thành văn xuôi Thực ra trong nguyên bản chúng đều là những tác phẩm thơ dài (Ôđixê gồm 12.110 câu thơ chia thành 24 khúc ca, Ramayana gồm 24.000 câu thơ đôi chia thành 7 khúc ca lớn) Bởi vậy khi dạy các trích đoạn sử thi, giáo viên nên nhắc học sinh lưu ý đến điều này và cho các em nắm được những đặc trưng cơ bản của sử thi làm cơ sở cho việc tìm hiểu các trích đoạn sử thi trong sách giáo khoa Trong chương trình THPT, học sinh được học hai trích đoạn: “Uylixơ trở về” (Ôđixê) và “Rama buộc tội” (Ramayana) Khi phân tích, giáo viên nên hướng cho học sinh chất “thơ” ở trong đó được bộc lộ ở từng phương diện Cụ thể là:

- Khi tìm hiểu về các nhân vật chính trong tác phẩm như Uylixơ, Rama, Hamuman… phải lưu ý đây là các nhân vật của sử thi, rất khác với các nhân vật ở văn xuôi hiện đại sau này Nhân vật chính của sử thi là “những anh hùng – tráng sỹ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí và trí thông minh, lòng dũng cảm của cả cộng đồng”

- Phải khai thác yếu tố thần kỳ toát lên trong tác phẩm thông qua các nhân vật thần kỳ, các lời nói chứa nội dung kỳ ảo

- Chú ý đến lối miêu tả tâm lý mang tính sử thi: ngắn gọn, thường thông qua một dáng điệu, một cử chỉ, một các ứng xử để toát lên tính cách nhân vật.Ví dụ

“Pênêlốp thận trọng đáp…” có tính chất khắc học tính cách nàng Pênêlốp: khôn

Trang 7

khéo, thông minh, điềm tĩnh Vì vậy, khi dạy giáo viên nên chú ý cho học sinh khai thác những chi tiết ấy để từ đó toát lên tính cách nhân vật

5 Giáo án thể nghiệm: ĐỌC VĂN, ĐOẠN TRÍCH UYLITXƠ TRỞ VỀ

UY-LÍT-XƠ TRỞ VỀ

(Trích Ô-đi-xê- Sử thi Hi Lạp)

Hô-me-rơ

A/ MỤC TIÊU BÀI HỌC

Giúp H S:

- Cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của người Hi Lạp thể hiện qua cảnh đoàn tụ vợ chồng sau hai mươi năm xa cách

- Biết phân tích diễn biến tâm lí nhân vật qua các đối thoại trong cảnh gặp mặt để thấy được khát vọng hạnh phúc và vẻ đẹp trí tuệ của họ

- Nhận thức được sức mạnh của tình cảm vợ chồng, tình cảm gia đình cao đẹp là động lực giúp con người vượt qua mọi khó khăn

B/ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN

- SGK, SGV

- Thiết kế bài giảng

- Các tài liệu tham khảo

C/ CÁCH THỨC TIẾN HÀNH

GV tổ chức giờ dạy học theo cách kết hợp giữa các phương pháp đọc sáng tạo, gợi tìm, nêu vấn đề và trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi

D/ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

Trang 8

1 Kiểm tra bài cũ:

- Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thuỷ

- Phân tích bi kịch nước mất nhà tan?

2 Bài mới:

HS căn cứ phần tiểu dẫn

SGK để trả lời câu hỏi

- Phần này trình bày những

nội dung gì?

- Em hãy tóm tắt ngắn gọn

tác phẩm theo cách hiểu của

mình?

- Chủ đề tác phẩm?

- Gọi HS đọc GV có thể

I Tìm hiểu chung

1 Tiểu dẫn

- Có ba nội dung: Giới thiệu Hô-me-rơ; Tóm tắt sử

thi Ô-đi-xê; Nêu chủ đề của tác phẩm.

- Hô-me-rơ sống vào khoảng thế kỉ IX-VIII TCN Ông là tác giả của hai thiên sử thi nổi tiếng thế giới:

I-li-át và Ô-đi-xê

- Đảm bảo hai nội dung:

+ Chinh phục biển cả + Trí tuệ và tình yêu chung thuỷ

- Quá trình chinh phục thiên nhiên biển cả đồng thời miêu tả cuộc đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc gia đình của người Hi Lạp thời cổ

2 Văn bản

- Đọc phải thể hiện đúng tâm trạng các nhân vật

Trang 9

linh hoạt phân vai để phần

đọc sinh động

- Căn cứ vào phần tóm tắt,

em hãy cho biết vị trí của

đoạn trích?

Văn bản có thể chia làm

mấy đoạn? Nội dung của

từng đoạn?

- Dựa vào bố cục, ta thấy có

hai vấn đề cần nêu bật: Tâm

trạng của nàng Pê-nê-lốp

trước hai tác động và cuộc

đấu trí để gia đình hạnh

a Vị trí đoạn trích

- Trước đoạn này, Uy-lít-xơ giả vờ làm người hành khất vào được ngôi nhà của mình và kể cho Pê-nê-lốp nghe những câu chuyện về chồng nàng mà anh

ta biết Pê-nê-lôp tổ chức thi bắn Dựa vào đó hai cha con Uy-lít-xơ đã tiêu diệt 108 vương tôn công

tử láo xược và những gia nhân không trung thành Đoạn trích bắt đầu từ đó

b Bố cục

Có thể chia ba đoạn:

- Từ đầu đến:" và người giết chúng"

Tác động của nhũ mẫu với Pê-nê-lốp

- Tiếp đến: " người kém gan dạ"

Tác động của Tê-lê-mác với mẹ

- Còn lại Cuộc đấu trí hay thử thách giữa Pê-nê-lốp và

Uy-lít-xơ để gia đình đoàn tụ

II Đọc hiểu

- Như vậy ta có thể tìm hiểu qua hai ý:

+ Tâm trạng của nàng Pê-nê-lốp khi nghe tin chồng trở về

+ Thử thách và sum họp

Trang 10

- Vào đầu đoạn trích,

Pê-nê-lốp đang ở trong hoàn cảnh

như thế nào?

- Khi nghe nhũ mẫu báo tin

Uy-lít-xơ đã trở về và đã

trừng trị bọn cầu hôn, tâm

trạng của Pê-nê-lốp như thế

nào?

- Thái độ và suy nghĩ ấy của

Pê-nê-lốp thể hiện tâm trạng

gì?

- Khi nhũ mẫu đưa thêm

bằng chứng, thậm chí còn

đánh cược bằng cả tính

mạng, Pê-nê-lốp có tin

không? Vì sao?

1 Tâm trạng của nàng Pê-nê-lốp

- Chờ đợi chồng hai mươi năm đằng đẵng

+ Tấm thảm ngày dệt đêm tháo để làm kế trì hoãn trước sự thúc giục của bọn cầu hôn

+ Cha mẹ đẻ giục tái giá

- Trước đoạn trích, khi nghe tin nhũ mẫu báo tin, Pê-nê-lốp đã " Mừng rỡ cuống cuồng nhảy ra khỏi giường ôm chầm lấy bà lão , nước mắt chan hoà"

Rõ ràng nàng hạnh phúc đến tột cùng nếu chồng nàng thực sự trở về

- Nhưng ở đầu đoạn trích, nàng không tin vì trong lòng nàng nảy sinh hai điều nghi hoặc:

+ Đó chỉ có thể là một vị thần đã bất bình vì sự láo xược của bọn cầu hôn, mà trừng trị chúng

+ Uy-lít-xơ đã hết hi vọng trở về, chính chàng cũng

đã chết rồi -Đây là nét tâm lí của nàng Pê-nê-lốp Nàng trấn an nhũ mẫu cũng là cách để tự trấn an mình

- Nàng vẫn không tin, mặc dù trong lòng rất mong điều nhũ mẫu nói là sự thật Bởi nàng vốn là người thận trọng Nàng sợ bị người khác lừa dối

- Nàng " rất đỗi phân vân" Nó biểu hiện ở dáng điệu, cử chỉ trong sự lúng túng tìm cách ứng xử:

"Không biết nên đứng xa hay nên lại gần mà ôm lấy đầu, cầm lấy tay Người mà hôn"

Ngày đăng: 20/03/2015, 21:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w