rồi mở bài, chuyển ý, chuyểnđoạn, kết bài … Trên cơ sở những kỹ năng cơ bản đó, đối với mỗi thể loại,giáo viên phải hình thành cho học sinh những kỹ năng riêng phù hợp với đặctrưng thể l
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT TRONG SÁCH
GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 – 12 (CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO)
Họ tên: Bùi Thị Lan Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
SKKN môn: Ngữ văn
Trang 2A.Đặt vấn đề
I Lý do chọn đề tài:
Thứ nhất: Như chúng ta đã biết, việc hình thành và rèn luyện kỹ năng
trong quá trình làm văn cho học sinh là vô cùng cần thiết Việc làm này cả 3phân môn: Tiếng Việt, Đọc văn, Làm văn cùng đảm nhận, trong đó phân mônLàm văn giữ vai trò chủ đạo Phân môn này giúp học sinh hình thành một hệthống kỹ năng đảm bảo cho quá trình hoàn thiện một bài văn có hiệu quả: từ
kỹ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập ý, lập dàn ý cho đến lập luận (nêu luận điểm,tìm luận cứ, sắp xếp luận điểm, luận cứ ….) rồi mở bài, chuyển ý, chuyểnđoạn, kết bài … Trên cơ sở những kỹ năng cơ bản đó, đối với mỗi thể loại,giáo viên phải hình thành cho học sinh những kỹ năng riêng phù hợp với đặctrưng thể loại (gọi là mô hình chung) như nghị luận về một tác phẩm kịch,nghị luận về một tác phẩm thơ, đoạn thơ … và việc rèn luyện kỹ năng nghịluận về một tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết cũng không ngoại lệ
Thứ 2: Nhìn vào hệ thống chương trình của 3 khối lớp, chúng ta thấy số
lượng tác phẩm văn xuôi (đặc biệt là truyện ngắn, tiểu thuyết) chiếm tỉ lệtương đối lớn Vì vậy trong hầu hết các kì thi lớn như thi tốt nghiệp, thi đạihọc, thi học sinh giỏi….số điểm dành cho những câu hỏi thuộc tác phẩmtruyện, tiểu thuyết cũng chiếm tỉ lệ cao trong cấu trúc đề thi (có thể 50%, thậmchí lên đến 70%) Chính vì thế quan tâm đến những giải pháp nhằm nâng caohiệu quả rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong tácphẩm văn xuôi là vô cùng cần thiết
Thứ 3: Chúng ta biết, tác phẩm văn xuôi (đặc biệt tác phẩm truyện ngắn và
tiểu thuyết) là bức tranh thu nhỏ về đời sống hiện thực xã hội Hiểu hết hếtđược những ý tưởng nhà văn gửi gắm qua những tác phẩm là điều không dễ
Số lượng nhât vật đông, sự kiện nhiều, tình tiết đa dạng Thêm vào đó dunglượng thường lớn (khác với tác phẩm thơ dung luợng chỉ khoảng ½ hoặc 1,5đến 2 trang thì tác phẩm truyện hoặc các đoạn trích tiểu thuyết trong chươngtrình thường dài, có thể 5-7 trang hoặc 10 đến trên 15 trang) Trong khi đó
Trang 3việc học Văn đối học sinh hiện nay đã và đang có nhiều bất cập Các em íttheo khối C, D hoặc những em có nguyện vọng theo khối thường không thực
sự là những học sinh xuất sắc Vì vậy đối với việc học Văn nói chung, các tácphẩm truyện ngăn, tiểu thuyết nói riêngcủa học sinh thường diễn ra theo kiểuđối phó, chiếu lệ Nếu có đọc, học sinh cũng nắm một cách sơ sài, qua loa về
cốt truyện Từ đó dẫn đến quá trình triển khai bài viết học sinh “vấp” nhiều
lỗi: hoặc ý nông, sơ sài, hoặc sai dẫn chứng, lệch lạc về cốt truyện so với vănbản gốc, thậm chí kể lại một cách ngắn câu chuyện trong bài làm Kết quả làchất lượng bài làm thấp Vì lẽ đó, tăng cường rèn luyện kĩ năng cho học sinh
là việc làm không thể thiếu
Thứ 4: từ năm 2007- 2008, tôi đã trực tiếp được phân công dạy thêm ở
một vài lớp Đặc biệt từ năm học 2010- 2011 đến năm học 2012- 2013, tôiđược BGH nhà trường, tổ chuyên môn phân công dạy ở 2 lớp theo khối C, D.Lớp C1- khối D, lớp C2- khối C Qua quá trình dạy chính khoá, dạy bồidưỡng rồi ôn thi đại học, ôn thi HSG Tỉnh, tôi nhận thức rất rõ tầm quan trọngcủa việc rèn luyện kĩ năng nghị luận về 1 tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyếtcũng như hiệu quả mà nó mang lại Tôi rất tâm huyết với vấn đề này
Có thể khẳng định hình thành và rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết bàiđặc biệt kĩ năng viết kiểu bài nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm truyệnngắn và tiểu thuyết là khâu quan trọng, có tính chất quyết định sự thành bạitrong quá trình viết bài của học sinh Vì vậy tôi luôn chú trọng đến vấn đềnày Tôi xin bày tỏ cùng bạn bè, đồng nghiệp một số giải pháp mà tôi gọi đó
là kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn giảng dạy với đề tài: Một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả rèn luyện kĩ năng nghị luận về tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết trong sách giáo khoa Ngữ Văn 11- 12 (chương trinh nâng cao).
II Phạm vi, phương pháp nghiên cứu:
1 Phạm vi nghiên cứu:
Trong chương trình THPT ở cả 3 khối lớp, tỉ lệ các tác phẩm truyện ngắn
và tiểu thuyết tương đối lớn Nhưng ở phạm vi đề tài này tôi chỉ đề cập một số
Trang 4tác phẩm của chương trình Ngữ Văn 11- 12 (thuộc chương trình nâng cao) vàmột số phần kiến thức làm văn, lí luận văn học có liên quan Cụ thể:
- Bài lí luận: Đọc truyện ngắn và tiểu thuyết (SGK Ngữ Văn 11, tập 1
trang 196, 197)
- Bài: Nghị luận về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi (SGK Ngữ Văn 12, tập
2 trang 19-> 21)
- Một số tác phâm truyện ngắn, đoạn trích tiểu thuyết:
+ Hai đứa tre (Thạch Lam- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 121-> 129) + Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 142->
149)
+ Hạnh phúc của một tang gia (Trích tiểu thuyết “Số đỏ”- Vũ Trọng
Phụng- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 159-> 166 )
+ Chí Phèo (Nam Cao- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 178-> 189)
+ Đời thừa (Nam Cao- SGK Ngữ Văn 11, tập 1 trang 202-> 208)
+ Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài- SGK Ngữ Văn 12, tập 2 trang 3-> 15 )
+ Vợ nhặt (Kim Lân - SGK Ngữ Văn 12, tập 2 trang 22-> 32)
+ Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi- SGK Ngữ Văn 12, tập 2
2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu và viết đề tài này, tôi sử dụng một sốphương pháp như: so sánh, phân tích, phân loại, thống kê,…
B Giải quyết vấn đề:
I.Tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng nghị luận về tác phẩm văn xuôi cho học sinh:
Trang 5Chúng ta đã biết, kết quả cuối cùng của quá trình học Văn ở học sinh đượcđánh giá tập trung ở bài viết (qua kiểm tra, qua các kì thi) Hơn bao giờ hết,các em đều mong muốn có được kết quả cao qua những bài làm văn của mình.
Để đạt được điều đó, các em cần có kĩ năng, phương pháp làm bài Như vậy,
kĩ năng làm bài có vai trò như kim chỉ nam soi đường chỉ lối để học sinh đi
đúng hướng trong quá trình viết một bài văn Trên cơ sở đó hình thành mộtbài viết khoa học về bố cục, chặt chẽ, lô gíc trong lập luận
II Thực trạng ở trường THPT:
1.Đối với giáo viên:
Do dung lượng của tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết thường lớn, các vấn
đề phải khai thác lại nhiều, kiểu đề phong phú, đa dạng trong khi đó lượnghọc sinh say mê với văn học vốn dĩ không nhiều Vì vậy giáo viên thường cótâm lí ngại đầu tư trong quá trình soạn giảng, đặc biệt khâu hướng giải đề chohọc sinh, ngoại trừ số ít giáo viên trực tiếp giảng dạy ở một số lớp theo khối
2.Đối với học sinh:
Như đã nói ở trên, việc tiếp nhận văn bản văn xuôi cho đến khâu viết bàicủa học sinh còn sơ sài, chiếu lệ Việc học sinh thực sự yêu thích, say mê với
câu chuyện đề cập trong tác phẩm rồi nhập tâm, sống cùng nhân vật trong tác
phẩm là trường hợp hiếm hoi Do đó khâu viết bài của các em chưa thực sự cóchất lượng thậm chí nhiều đơn vị kiến thức trong bài làm còn thiếu chính xác
Đã thế các em lại ít đầu tư cho công việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp hoặc
tự luyện viết bài Vì vậy kĩ năng triển khai một đề văn liên quan đến tác phẩm
truyện ngắn hay đoạn trích tiểu thuyết của các em còn non yếu.
III.Giải pháp và cách thức thực hiện:
Hiểu rõ được tầm quan trọng của việc hình thành và rèn luyện kĩ năng chohọc sinh trong quá trình giảng dạy tôi luôn trăn trở để tìm ra những giải phápnhằm nâng cao hiệu quả vấn đề Vì vậy tôi đã chú trọng thực hiện một sốgiải pháp sau:
Trang 61 Giúp học sinh nắm vững và vận dụng linh hoạt một số kiến về tác giả
có liên quan, hỗ trợ hữu ích cho việc đọc - hiểu văn bản:
Trên thực tế, chúng ta biết trước khi tiếp cận các đề văn về 1 vấn đề trongtác phẩm truyện ngắn hoặc đoạn trích tiểu thuyết, học sinh thường phải trảiqua quá trình đọc rồi hiểu các giá trị về nội dung, tư tưởng cũng như nhữngnét độc đáo về nghệ thuật của tác phẩm đó rồi mới viết bài Như vậy khâu đầutiên là đọc - hiểu thật tốt văn bản Để đọc- hiểu hiệu quả văn bản, tôi hướngdẫn các em hiểu và vận dụng một số kiến thức có giá trị từ cuộc đời, phongcách hoặc một số thông tin liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp nhà văn Bởi lẽ
tư tưởng, tình cảm cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn chi phối trựctiếp đến quá trình sáng tạo văn bản, thậm chí in đậm dấu ấn trong những hìnhtượng nhân vật, qua những trang viết của những nhà văn
Chẳng hạn: Khi đọc- hiểu truyện ngắn Hai đúa trẻ (Thạch Lam), học sinh
sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về tình cảm mà nhà văn dành cho những con người.đặc biệt những trẻ thơ cũng như cảnh vật quê hương nơi phố huyện nghèo nếucác em nắm vững được những lời tâm sự của chị gái nhà văn là Nguyễn Thị
Thế về kỉ niệm tuổi thơ của 2 chị em: “ Năm Thạch Lam lên 7 tuổi, cha của
ông qua đời, cảnh nhà khó khăn, mẹ Thạch Lam phải tảo tần buôn bán để nuôi con cái ăn học Các anh của Thạch Lam đi học ở Hà Nội thi thoảng mới về Thạch Lam và chị Thế được mẹ giao trông coi một cửa hàng tạp hoá”.Trong cuốn Hồi kí về gia đình Nguyễn Tường, chị Thế tâm sự: Tôi không ngờ em Sáu (tên lúc nhỏ của nhà văn Thạc Lam) lại có trí nhớ dai đến thế như truyện em tôi tả 2 chị em thức đợi chuyến tầu đêm đi qua rồi mới ngủ Năm đó tôi mới 9 tuổi, em tôi lên 8 mà mẹ tôi đã giao cho 2 chị em coi cửa hàng, cửa hàng chỉ bán có rượu, bánh khảo, thuốc lào cốt để đưa khách quen vào nhà bà ngoại Như vậy chính kỉ niệm thời thơ ấu đã khắc sâu
trong tâm trí Thạch Lam rồi in dấu trên những trang văn của đời ông Hay nóikhác đi, kỉ niệm êm đềm, trong sáng của tuổi thơ nơi phố huyện Cẩm Giàng-Hải Dương đã nuôi dưỡng tâm hồn lãng mạn của Thạch Lam
Trang 7Hoặc các em sẽ hiểu được vì sao Tô Hoài – một nhà văn sinh ra, lớn lênbên bờ sông Tô Lịch của mảnh đất Hà Thành lại có những trang viết chânthực, hấp dẫn và cảm động đến thế về cuộc sống sinh hoạt, phong tục tập quán
cũng như thiên nhiên miền Tây (qua Vợ chồng A Phủ) nếu các em nắm vững
đặc điểm nổi bật trong phong cách truyện của Tô Hoài là thể hiện vốn hiểubiết phong phú về nhiều lĩnh vực đời sống, đặc biệt là phong tục tập quán vàsinh hoạt đời thường
Hoặc tương tự đọc truyện ngắn “ Những đứa con trong gia đình” học sinh
sẽ hết ngạc nhiên nếu các em hiểu rằng Nguyễn Thi sinh ra ở Nam Địnhnhưng được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ bởi đó là kếtquả của những năm tháng ông đã sống, gắn bó với chính những con người củasông nước Nam Bộ Thêm nữa, học sinh sẽ hiểu rõ vì sao trong truyện ngắn
Rừng xà nu, cây xà nu trở thành một hình tượng xuyên suốt tác phẩm với
nhiều ý nghĩa (ý nghĩa thực, ý nghĩa biểu tượng) nếu các em hiểu và nắm rõlời tâm sự của Nguyễn Trung Thành trong hồi ức về hình ảnh cây xà nu – Mộtyếu tố tạo nên cảm hứng gián tiếp dẫn đến sự ra đời của tác phẩm này: Ông
tâm sự: Tháng 5 năm 1962, ông cùng nhà văn Nguyễn Thi hành quân từ
miền Bắc vào chiến trường miền Nam Đêm chia tay, mỗi người về chiến trường của mình, họ đã sống giữa khu rừng bát ngát phía Tây Thừa Thiên giáp Lào Đó là một khu rừng xà nu tít tắp chân trời Nhà văn có ấn tượng sâu đậm và yêu cây xà nu từ đó Ông thực sự xúc động trước cây xà nu, bởi
ấy là một loại cây hùng vĩ và cao thượng, man dại mà trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận.
Như vậy cung cấp và giúp học sinh hiểu kỹ những kiến thức về tác giả sẽ
là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả đọc – hiểu văn bản Từ
đó sẽ hình thành ở học sinh khả năng tư duy, vận dụng, liên kết kiến thứctrong việc viết bài
Trang 82 Nắm vững kiến thức đặc trưng thể loại và vận dụng có hiệu quả trong khâu đọc – hiểu văn bản.
Sẽ thật khó thành công khi đọc - hiểu 1 văn bản mà học sinh không hiểu,không nắm được kiến thức về đặc trưng thể loại Vì vậy trong quá trình dạycác tiết văn xuôi, tôi rất quan tâm đến việc hướng dẫn các em nắm vững vàvận dụng kiến thức đọc truyện và tiểu thuyết
a Về hình tượng nhân vật:
Đây là yếu tố đầu tiên, quan trọng hàng đầu của thể loại truyện ngắn vàtiểu thuyết Khi đọc văn bản học sinh cần phân biệt đâu là nhân vật chính, đâu
là nhân vật phụ và nhân vật đó được chú trọng miêu tả theo phương diện nào
Từ đó hiểu được ý nghĩa của các phương tiện đó trong việc xây dựng nhânvật
Ví dụ: Đọc truyện “Vợ chồng A phủ” (Tô Hoài), các em cần thấy được ở
hình tượng nhân vật Mị, Tô Hoài không chú trọng miêu tả những nét chândung, ngoại hình mà ông quan tâm miêu tả tâm lý của Mị Từ đó để khắc hoạcuộc đời, số phận bất hạnh cũng như ngợi ca sức sống tiềm tàng, mãnh liệt ở
người con gái Tây Bắc này Hoặc tương tự đọc truyện “Vợ nhặt”, học sinh
cần thấy rằng ở nhân vật bà cụ Tứ, Kim Lân không quan tâm nhiều trong việcmiêu tả chân dung nhân vật mà chủ yếu khám phá thế giới nội tâm qua việcmiêu tả diễn biến tâm trạng nội tâm của bà cụ Tứ Qua đó nhà văn ngợi ca vẻđẹp tâm hồn của người mẹ nghèo, sống nhân hậu, vị tha, đọ lượng và giàu tìnhyêu thương các con …
Tiếp đó, học sinh cũng phải hiểu mối quan hệ giữa nhân vật với nhân vật,giữa nhân vật với hoàn cảnh xung quanh Vì đó là yếu tố để giúp nhà văn bộc
lộ địa vị, tính cách, số phận nhân vật Ví dụ: Đặt nhân vật Chí Phèo trong tácphẩm cùng tên của Nam Cao trong mối quan hệ với Bá Kiến, ta mới hiểuđược mối xung đọt giai cấp không thể điều hoà trong xã hội Việt Nam trướcCách mạng tháng 8 năm 1945 Hay đặt người đàn bà hàng chài trong truyện
ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu) trong quan hệ với người
Trang 9đàn ông vũ phu, với nghệ sĩ Phùng, với Chánh án Đậu ta mới thấy rõ được vẻđẹp của chị cũng như tính cách của từng nhân vật…
Hiểu được như vậy học sinh mới nhận thức rõ ý nghĩa của nhân vật trongtác phẩm
b Cốt truyện, chi tiết:
Thật thiếu sót và sẽ khó khăn cho học sinh khi các em làm bài về một tácphẩm truyện hoặc một đoạn trích tiểu thuyết mà không nắm vững được cốttruyện của tác phẩm đó Vì vậy, khi hướng dẫn đọc – hiểu văn bản cho họcsinh, tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề này
Cốt truyện được hiểu là hệ thống sự kiện xảy ra trong đời sống của nhânvật có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận của nhân vật Trên thực tế tình trạnghọc sinh nắm sơ sài nội dung cốt truyện rồi kéo theo trong bài làm những kiếnthức nông cạn về tác phẩm là điều không hiếm Do đó khi đọc - hiểu văn bản,cần hình thành cho học sinh thói quen tự tóm tắt cốt truyện Bản thân các em
phải tự đặt cho mình câu hỏi: Câu chuyện đề cập trong tác phầm là gì?
Chuyện kể về ai? Kể như thê nào? rồi tự khắc các em sẽ nắm vững cốt truyện.
Chẳng hạn đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, học sinh cần phảihiểu cốt truyện của tác phẩm có sự đan lồng 2 câu truyện: Đó là câu truyệncủa cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man và cuộc đời bi tráng của Tnú Trong
đó câu chuyện về cuộc đời Tnú là câu chuyện chính Và học sinh phải nắmvững những sự kiện liên quan đến cuộc đời của nhân vật này: Sinh ra, lớn lênnhư thế nào? cuộc đời, số phận của Tnú ra sao? …
Cùng với việc nắm cốt truyện, tôi lưu tâm học sinh để ý đến các chi tiếttrong tác phẩm
Chi tiết được hiểu là những biểu hiện cụ thể, lắm khi nhỏ nhặt nhưng lạicho thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của chúng, đồng thời thể
hiện sự quan sát và nghệ thuật kể chuyện của nhà văn Ví dụ đọc “Chiếc
thuyền ngoài xa’ của Nguyễn Minh Châu học sinh cần nắm vững ý nghĩa của
chi tiết cái vái lạy của người đàn bà hàng chài, chi tiết ngọn đèn chị Tý trong
Trang 10tác phẩm “ Hai đứa trẻ” (Thạch Lam), chi tiết bát cháo hành thị Nở, tiếng chửi của Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí Phèo” – Nam Cao, Chi tiết tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ) – Tô Hoài Hoặc chi tiết
khiêng bàn thờ ba má sang gửi nhà chú Năm của chị em Chiến – Việt trong
tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” – Nguyễn Thi, rồi câu chuyện về cây si già ở đền Ngọc Sơn trong truyện ngắn “Một người Hà Nội” – Nguyễn Khải …
Những chi tiết này có giá trị lớn đối với tác phẩm Vì vậy việc nắm vững,hiểu rõ các chi tiết nhỏ để vận dụng trong quá trình làm bài là rất hữu ích
c Sự miêu tả hoàn cảnh:
Đọc – hiểu văn bản cần thấy được bối cảnh đời sống xã hội, lịch sử, vănhoá mà nhà văn sáng tác Đây là một trong những yếu tố quan trọng để họcsinh hiểu giá trị văn bản Vì vậy tôi luôn ý thức việc cung cấp đơn vị kiến thứcnày cho các em:
Chẳng hạn học sinh sẽ không hiểu hết được tình đời, tình người, cũng như
tinh thần lạc quan của người lao động trong truyện ngắn Vợ nhặt, đặc biệt là
niềm tin mãnh liệt của nhà văn vào người lao động, nếu các em không có hiểubiết về bối cảnh của lịch sử xã hội Việt Nam vào năm 1945 Đó là bối cảnhnạn đói thảm khốc chưa từng có trong lịch sử – nạn đói năm Ất Dậu (1945)với hơn 2 triệu đồng bào chết đói, tính từ Quảng Trị đến Lạng Sơn Có làngchết gần hết, có nhà chết chẳng còn ai, nhiều người chết lả trên đường đi, chếtgục bên gốc cây, chết lăn trên hè phố, ngõ chợ … Nhiều gia đình phải ăn cháocám, rau má, củ chuối … cầm hơi mà vẫn không thoát chết Gia đình nhà vănKim Lân cũng từng trải qua những ngày đói ấy Sự kiện lịch sử bi thảm này đãlàm lay động trái tim nhiều nghệ sĩ Hình ảnh nạn đói xuất hiện trong hàng
loạt những tác phẩm: Địa ngục (Nguyên Hồng), Mười năm (Tô Hoài), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Xuân đến và Đói! Đói! (Tố Hữu) và không thể không nhắc đến Vợ nhặt của Kim Lân Cũng thật thiếu sót nếu không cung cấp cho
học sinh đầy đủ kiến thức về bối cảnh lịch sử như dầu sôi, lửa bỏng dẫn đến
Trang 11sự ra đời của những bài hịch thời đánh Mỹ như Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), và cũng không thể hiểu hết giá trị của truyện ngắn “Chiếc thuyền
ngoài xa” nếu các em thiếu kiến thức về bối cảnh đời sống xã hội Việt Nam
sau 1975
d Kết cấu: Kết cấu là cách tổ chức tác phẩm Khi đọc – hiểu tôi thường lưu ý
học sinh phát hiện ra những trường hợp độc đáo về kết cầu để từ đó thấy được
ý đồ sáng tạo của nhà văn cũng như giá trị mà nó mang lại cho tác phẩm Ví
dụ: đọc Chí Phèo, cần cho học sinh nhận ra kết cấu đặc biệt của tác phẩm, nhà
văn Nam Cao không miêu tả câu truyện theo trình tự thời gian mà theo kiểu
cấu trúc vòng tròn, đầu cuối tương ứng Tương tự như thế, truyện ngắn Rừng
xà nu của Nguyễn Trung Thành, nhà văn mở đầu và kết thúc tác phẩm bằng
hình ảnh rừng xà nu Đây là kiểu kết cấu đầu cuối tương ứng…
Đó là những lưu ý tôi thường thực hiện ở bước đọc – hiểu văn bản Tôithiết nghĩ chừng nào học sinh còn chưa hiểu kỹ văn bản thì việc làm bài về tácphẩm ấy còn là vấn đề nan giải đối với các em
3 Từ đọc – hiểu văn bản đến hình thành kỹ năng làm bài cho học sinh thông qua hướng dẫn giải đề:
Chúng ta biết trong sách giáo khoa cơ bản và nâng cao 12 đều có 1 tiếtnghị luận về 1 tác phẩm, đoạn trích văn xuôi Mục đích của tiết học này ở cả 2chương trình là đều hình thành mô hình chung cho học sinh khi giải quyết 1vấn đề trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi Giáo viên có thể triển khai tiết dạybằng nhiều hướng đi khác nhau Có thể từ những đề văn rồi rút ra các bướccần thiết đảm bảo trong bài làm cho các em Cụ thể:
Bước 1: giới thiệu tác giả hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận.
Bước 2: Phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của
đề hoặc 1 số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích
Bước 3: Đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích.
Từ mục tiêu đó, trong quá trình hướng dẫn giải đề, giáo viên cần linhhoạt để giúp học sinh hình thành một giàn ý cụ thể hơn so với từng kiểu đề
Trang 12nếu không vẫn chỉ là một mô hình trừu tượng, chung chung trong tư duy củahọc trò.
Nhận thức rõ điều này, tôi đã thực hiện từng công việc cụ thể ở khâuhướng dẫn giải để từ đó giúp các em có kỹ năng làm bài hiệu quả hơn Cụ thể:
a) Bước 1: ở bước này tôi lưu ý học sinh về đối tượng (hay còn gọi là kiểu
đề) của bài văn nghị luận về tác phẩm, về đoạn trích văn xuôi là vô cùngphong phú, đa dạng: có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật, có thể chỉ là 1phương diện, thậm chí chỉ là 1 khía cạnh nhỏ của nội dung hoặc nghệ thuật …trên cơ sở đó theo mỗi chuyên đề tôi giới thiệu cho học sinh những dạng câuhỏi (đề văn) cơ bản
Chẳng hạn: sau khi đọc – hiểu Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân, tôi giới
thiệu hệ thống câu hỏi ôn tập cho các em bao gồm:
1 Trình bày hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa nhan đề tác phẩm Vợ nhặt?
2 Phân tích tình huống truyện Vợ nhặt?
3 Vẻ đẹp của các nhân vật: Tràng, thị, bà cụ Tứ?
4 Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trong phần kết thúc truyện Vợ nhặt?
5 Hình ảnh bữa cơm ngày đói trong truyện ngắn Vợ nhặt?
6 Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Vợ nhặt?
7 Hãy phân tích để chứng minh ý kiến tâm sự của nhà văn Kim Lân khi
viết truyện Vợ nhặt: “Trong sự túng đói, quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh
khốn khổ nào, người nông dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên cái chết thê thảm để mà vui, để mà hi vọng”
Từ hệ thống câu hỏi đó, bản thân học sinh bước đầu đã nhận thấy kiểu đề
về một tác phẩm đoạn trích văn xuôi rất phong phú và đa dạng
b) Bước 2: Tôi hướng dẫn học sinh giải quyết một số đề cụ thể Trước một đề
văn tôi thực hiện quy trình giải đề với 1 số việc cụ thể sau đây:
b1) Hình thành kỹ năng phân tích đề cho học sinh:
Tôi nhận thấy, học sinh không thể đọc 1 đề văn là có thể cần bút viếtngay thành bài mà giáo viên cần định hướng cho các em các kỹ năng cụ thể