Vì thế cần phải có quan điểm tiếp cận, đánh giá các tác phẩm phù hợp với đặc trưng của giai đoạn văn học sau 1975 kiến thức về đặc trưng của văn học sau năm 1975 các em đã được trang bị
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Tiếp cận với chương trình phân ban mới, những đơn vị kiến thức mới đặt ra cho người giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn nhiều trăn trở Đặc biệt, trong chương trình Ngữ văn 12, một phần kiến thức mà học sinh tiếp nhận thuộc phần văn học Việt Nam sau 1975 Giai đoạn văn học này là bước tiếp nối quan trọng và liền mạch của nền văn học mới từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay Tuy chặng đường phát triển chưa dài, song văn học Việt Nam sau 1975 đã phát triển với nhiều hướng đa dạng, tạo nên bước chuyển mạnh mẽ, để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả
Những tác phẩm thuộc giai đoạn văn học Việt Nam sau năm 1975 còn mới mẻ đối với học sinh, cho nên việc hướng dẫn các em tiếp cận tất yếu còn gặp phải nhiều khó khăn, thử thách Thực tế học tập và giảng dạy này đòi hỏi người giáo viên phải có sự tìm tòi, học hỏi để có thể tiếp cận và hướng dẫn học sinh tiếp cận một cách phù hợp, hiệu quả nhất những tác phẩm văn học còn khá mới mẻ này Vì thế cần phải có quan điểm tiếp cận, đánh giá các tác phẩm phù hợp với đặc trưng của giai đoạn văn học sau 1975 (kiến thức về đặc trưng của văn học sau năm 1975 các em đã được trang bị từ bài văn hoc
sử Khái quát Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỷ XX )
Vậy, nên tiếp cận, đánh giá như thế nào về các tác phẩm thuộc giai đoạn văn học Việt Nam sau 1975? Làm thế nào để tháo gỡ những vướng mắc trong cách tiếp cận, giảng dạy để có thể cuốn hút học sinh cùng say mê tìm hiểu các tác phẩm thuộc giai đoạn văn học này? Làm thế nào để sự tiếp nhận của cô và trò thông qua hoạt động dạy và học xứng với những giá trị của các tác phẩm tiêu biểu cho cả một giai đoạn văn học đã đạt được những thành tựu lớn lao này? Đó là những điều chúng tôi vô cùng trăn trở và đó cũng chính là
Trang 2lí do đưa chúng tôi đến với đề tài: “Một vài quan điểm tiếp cận, đánh giá tác phẩm Văn học Việt Nam sau 1975 trong nhà trường THPT”
2 Lịch sử của đề tài
Đây là một vấn đề không hoàn toàn mới mẻ, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học, những Giáo sư, Tiến sĩ đầu ngành cũng đã đề cập ít nhiều về vấn đề này
Có thể kể đến các công trình, bài viết sau:
- Nhiều tác giả, 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, Nxb
Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1966
- Nguyễn Văn Long, Tiếp cận và đánh giá Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám , Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.
- Trần Đăng Suyền (Chủ biên), Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại, Tập II
Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội, 2010
- Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Nguyễn Văn Long (Đồng chủ biên) Lịch sử Văn học Việt Nam, Tập III, Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội, 2010.
Ở đây, chúng tôi mong muốn rằng sẽ có cái nhìn, hướng tiếp cận cụ thể hơn, phù hợp với phạm vi, ngưỡng tiếp nhận của học sinh THPT đối với các tác phẩm văn học sau 1975, trên cơ sở các công trình nghiên cứu, bài viết đã có
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm
3.1 Mục đích:
Từ việc tìm hiểu đặc trưng của Văn học Việt Nam sau 1975, tìm hiểu về các tác phẩm thuộc giai đoạn văn học này được chọn giảng trong sách giáo
khoa Ngữ văn lớp 12 (gồm cả các bài học thêm), thông qua các tài liệu hướng
dẫn, sách giáo viên, sách báo tham khảo, kết hợp với thực tế giảng dạy, chúng tôi hệ thống thành một số quan điểm đánh giá, tiếp cận các tác phẩm Văn học Việt Nam sau 1975 nhằm phục cụ cho công việc giảng dạy những tác phẩm này đạt hiệu quả cao hơn
Trang 33.2 Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích của đề tài, chúng tôi xác định một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Tìm hiểu và hệ thống lại các đơn vị kiến thức về đặc trưng của Văn học Việt Nam sau 1975
- Tìm hiểu những giá trị của các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975
được chọn giảng trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 (gồm cả các bài học thêm).
- Xác định những tri thức cần thiết để tiếp cận, đánh giá và đưa ra những quan điểm tiếp cận , đánh giá để có thể phục vụ tốt cho công tác giảng dạy các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 được chọn giảng trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12
4 Phương pháp nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm
- Phương pháp cấu trúc hệ thống
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh
5 Phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm
Trên cơ sở các đơn vị kiến thức của chương trình Ngữ văn 12, tập 1,2,
chương trình Nâng cao để đề ra hướng tiếp cận, đánh giá khách quan, xác thực
6 Đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm
Đặt vấn đề cần nghiên cứu thành một hệ thống, thuận lợi khi tra cứu, tìm hiểu, phục vụ dễ dàng cho việc giảng dạy các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 được chọn giảng trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 Đồng thời cung cấp cái nhìn đa diện để học sinh hiểu sâu sắc hơn về các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 được chọn giảng và có thêm công cụ để tiếp cận hiệu quả các tác phẩm đương đại khác
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
Tiếp cận với một tác phẩm văn học của một giai đoạn văn học, chúng tôi nhận thấy cần có các quan điểm tiếp cận, đánh giá sao cho phù hợp với ngưỡng nhận thức của học sinh THPT đồng thời có thể tạo hứng thú cho học sinh khi tiếp nhận văn bản Sau những trăn trở tìm tòi và thể nghiệm bước đầu trong thực tế giảng dạy, chúng tôi xin đề xuất một vài quan điểm tiếp cận, đánh giá tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 như sau:
1 Cung cấp cho học sinh những tri thức cần thiết khi tiếp nhận tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975
Văn học Việt Nam sau 1975 đã nỗ lực khẳng định vị trí của một nền văn học mới bằng những cách thể nghiệm mới mẻ ở cả hai phương diện nội dung và hình thức Đây chính là những điểm khu biệt so với văn học giai đoạn trước, tất nhiên có sự kế thừa, cách tân Vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh nắm bắt được những điểm cách tân mới mẻ ấy ? Chúng tôi cho rằng: trước hết cần cung cấp các khái niệm công cụ để học sinh có được một cơ sở, nền tảng cần thiết cho việc tiếp cận các tác phẩm văn học Việt Nam từ sau năm 1975 Sau đây là những tri thức mà chúng tôi xác định là thực sự cần thiết để tiếp nhận các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975
1.1 Bối cảnh diễn ra công cuộc đổi mới Văn học sau 1975:
Với thắng lợi mùa xuân năm 1975, đất nước ta khép lại trang sử chiến tranh, bước sang một trang mới - bảo vệ, xây dựng và phát triển non sông đất nước trong bối cảnh hoà bình Trong thời đại mới, đất nước có những biến chuyển sâu sắc trên mọi phương diện
Trước hết, phải kể đến sự chuyển biến về hoàn cảnh xã hội với tốc độ
đô thị hoá nhanh chóng do tác động của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bên cạnh đó, việc giao lưu, hội nhập đa phương với thế giới bên ngoài cũng được rộng mở Những biến chuyển này đã làm thay đổi sâu sắc ý thức
Trang 5xã hội với sự trỗi dậy của tinh thần dân chủ, từ đó nảy sinh nhu cầu nhận thức lại các vấn đề của cuộc sống Nhiều chuẩn mực mặc nhiên đã được thừa nhận trước đây mất dần đi tính chất tuyệt đối và được nhận thức lại, trở nên linh hoạt uyển chuyển hơn Trước trạng thái tâm lí xã hội mới, nhu cầu mới của thời đại, văn học cũng bước vào hành trình đổi mới
Tuy nhiên, công cuộc đổi mới văn học không chỉ được khơi dậy từ những tác động bên ngoài mà còn xuất phát từ quy luật nội tại của văn học với nhu cầu tự khẳng định, tự làm mới mình Công cuộc đổi mới văn học
được mở ra với người “mở đường tinh anh và tài hoa nhất” - Nguyễn Minh
Châu , ngay sau đó là đóng góp cách tân của hàng loạt cây bút đầy trăn trở và khát khao đổi mới như Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Thanh Thảo, Thu Bồn, Hoàng Cầm, Lê Đạt … Các nhà văn, nhà thơ đã mang đến cho văn học giai đoạn này những quan niệm sáng tác mới cùng những thể nghiệm mới trong hình thức thể hiện của tác phẩm văn chương Bằng những thể nghiệm, tìm tòi trên cả sáng tác và lí luận, phê bình… văn học Việt Nam sau 1975 đã từng bước hình thành những đặc trưng mới, hoàn thiện diện mạo của một giai đoạn văn học mới so với các thời kì văn học trước đó
Đặt trong tiến trình phát triển chung của lịch sử văn học nước nhà và trong bối cảnh riêng của những năm sau 1975 có thể thấy tình hình văn học Việt Nam sau 1975 rất phong phú, đa dạng song cũng khá phức tạp và đầy biến động
1.2 Những đổi mới trên bình diện nội dung của văn học sau 1975
1.2.1 Đổi mới quan niệm về hiện thực
Tính hiện thực dù đậm hay nhạt, bao giờ cũng là một thuộc tính cơ bản của văn chương, phản ánh mối liên hệ giữa tác phẩm với cuộc đời Nhà văn lựa chọn một hiện thực trong sáng tác là để chuyển tải tư tưởng, cách đánh giá của mình về cuộc sống và con người Những đổi mới trong quan niệm về hiện
Trang 6thực đời sống của văn học sau 1975 bởi vậy có ảnh hưởng không nhỏ đến văn học giai đoạn này Tiếp cận và đánh giá tác phẩm văn học ở một giai đoạn văn học bởi thế không thể không nắm vững quan niệm về hiện thực đời sống của văn học giai đoạn ấy
Do sự quy định của hoàn cảnh lịch sử, dồn trong tâm cho nhiệm vụ tuyên truyền lí tưởng cách mạng, cổ vũ chiến đấu, giai đoạn văn học 1945 –
1975 thường lựa chọn khám phá và thể hiện hiện thực chính trị rộng lớn, vận động theo xu thế phát triển lạc quan Đó là hiện thực đã biết trước, một hiện thực tuyệt đối hợp lí Với tinh thần dân chủ hoá dám nhìn thẳng vào sự thật, văn học sau 1975 lại mở rộng dần biên độ của vùng hiện thực được phản ánh
Các nhà văn sáng tác ở giai đoạn văn học này đã hướng ngòi bút đến số phận
riêng của cá nhân, những bi kịch của con người là nạn nhân của hoàn cảnh và
số phận Hiện thực trong các tác phẩm văn học sau năm 1975 được nhìn nhận
tự do, đa dạng và nhiều chiều Tâm điểm của nó chính là hiện thực số phận con người
Sự chuyển dịch từ hiện thực xã hội rộng lớn trở về hiện thực cá nhân, lấy con người là trung tâm khám phá không phải là hành vi phủ nhận những
gì trước đó đã hình thành mà khẳng định thêm cho giá trị của con người Với quan điểm này, hiện thực được hiểu một cách toàn diện hơn, đó không chỉ là những gì đã đựoc nhìn thấy, đã được phản ánh mà còn là cái chưa biết, không thể biết, cần phải khám phá và tìm tòi Hiện thực tiềm ẩn vô vàn tình huống vừa xấu - tốt, vừa thiện - ác… buộc người đọc phải suy ngẫm
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của văn học sau 1975
“Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hoá thân thành các phương tiện biện pháp thể hiện con ngưòi trong văn học tạo nên giá trị thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật” [7; tr 778]
Trang 7Quan niệm về con người chính là cơ sở chi phối những nguyên tắc chiếm lĩnh, cắt nghĩa đời sống của nhà văn, là nơi đánh dấu trình độ tư duy nghệ thuật của một thời đại, một trào lưu, một tác giả, tác phẩm Chính vì lẽ
đó tiếp cận và đánh giá tác phẩm văn học ở một giai đoạn văn học, bởi thế không thể không nắm vững quan niệm nghệ thuật về con người của văn học giai đoạn ấy
Văn học sau năm 1975 đã có sự dịch chuyển lớn về quan niệm nghệ thuật về con người: Từ quan niệm con người cộng đồng theo kiểu sử thi trong giai đoạn văn học 1945 – 1975 đến quan niệm con người kiểu thế sự, đời tư, con người cá nhân phức tạp, bí ẩn, nhiều chiều, con ngưòi lưỡng diện, không nhất quán với mình Con ngưòi trong các tác phẩm văn học sau 1975 được tái hiện như nó vốn có, không lí tưởng hoá, thần thánh hoá Đó là con người trong cuộc sống bộn bề của ngày hôm nay ngổn ngang, phức tạp Điều đáng quý, đáng ghi nhận là thông qua con người đời thường này, nhà văn thể hiện một cái nhìn suy tư, chiêm nghiệm khách quan về con người trong hiện thực cuộc đời đầy xô bồ, hối hả buộc người đọc nhìn nhận lại chính thái độ sống của mình
Với việc đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, cách tiếp cận con người và hiện thực đời sống, văn học giai đoạn này đã khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương diện của đời sống, kể cả đời sống tâm linh Khi thì các nhà văn đặt nhân vật trong hoàn cảnh trớ trêu của số phận, khi thì các nhà văn đặt nhân vật trong truyền thống gia đình, nền tảng gia phong cùng niềm thành kính thiêng liêng, khi thì các nhà văn đặt nhân vật trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, quá khứ dân tộc Điều đáng quý là khi viết về con người bao giờ các tác giả cũng hướng tới khẳng định ngợi ca những giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay
1.3 Những đổi mới trên bình diện nghệ thuật của văn học sau 1975
Trang 81.3.1 Tình huống
Tình huống trong tác phẩm văn học chính là hoàn cảnh chứa đựng xung đột được nhà văn tạo lập để triển khai chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Xung đột đó có thể là một biến cố có tác động lớn đến cuộc đời, số phận, tính cách nhân vật, cũng có thể là sự kiện có tác động tạo bước ngoặt nhận thức của nhân vật về cuộc sống và con người
Ý thức được vai trò và ý nghĩa của tình huống trong tác phẩm, các nhà văn đã miệt mài tìm kiếm, chọn lựa các tình huống trong vô vàn sự kiện cuộc sống để tái hiện trong tác phẩm Nhà văn Nguyễn Minh Châu ưa chọn tình huống có tính chất nhận thức để khám phá phát hiện về đời sống bằng chính
sự chiêm nghiệm, tự đối thoại của nhân vật (nhân vật Phùng và hai phát hiện tương phản, sự tự nhận thức của anh về hiện thực) Nhà văn Ma Văn Kháng chọn tình huống gặp gỡ tất niên để khơi dậy trong các nhân vật tình cảm gia đình, nguồn cội cùng những âu lo về sự đổ vỡ rạn nứt trong mối quan hệ giữa con người với con người Còn nhà văn Nguyễn Khải lại đặt nhân vật trong những tình huống cuộc sống thường nhật ở các thời đoạn lịch sử khác nhau
để khẳng định bản lĩnh, nghị lực và phẩm chất cá nhân của con người Sự phong phú muôn vẻ của tình huống được chọn lựa và tái hiện trong tác phẩm văn học sau 1975 cũng chính là sự phức điệu muôn màu của cuộc sống đi vào văn học giai đoạn này
1.3.2 Nghệ thuật trần thuật
Đây là phương diện cơ bản của kết cấu tác phẩm Đó là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, sự vật, hoàn cảnh,… theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định Khoảng cách, góc
độ của lời kể đối với nội dung được kể tạo thành điểm nhìn trần thuật Mối quan hệ, thái độ đối giữa người trần thuật với nhân vật và các sự kiện được kể tạo thành giọng điệu trần thuật Giọng điệu trần thuật có quan hệ mật thiết với điểm nhìn trần thuật
Trang 9Các tác phẩm văn học giai đoạn 1945 – 1975 có khuynh hướng tác động đến người đọc bằng chân lí có sẵn Đó là chân lí được đẩm bảo bởi kinh nghiệm cộng đồng, được khẳng định bằng tính hợp lí tất yếu của hiện thực cách mạng Nhà văn đồng nhất mình với chân lí được phản ánh trong tác phẩm nên quan hệ giữa nhà văn với bạn đọc là quan hệ độc thoại Điểm nhìn trần thuật do người phán truyền chân lí đảm nhận, mỗi tác phẩmbởi vậy thường chỉ có một điểm nhìn Với tinh thần dân chủ hoá sâu sắc, văn học giai đoạn sau 1975 đã thay đổi quan hệ độc thoại một chiều giữa nhà văn với bạn đọc thành quan hệ hai chiều Điểm nhìn trần thuật vì thế được gia tăng Mỗi điểm nhìn là một ý thức độc lập, qua đó, sự việc, con người sẽ được nhận thức
từ nhiều phía Bên cạnh đó, sự thay đổi liên tục điểm nhìn cho các nhân vật cũng như việc nhập thân vào nhân vật một cách sống động góp phần tăng cường khả năng khám phá đời sống và con người Cùng với việc gia tăng điểm nhìn trần thuật, tác phẩm văn học sau 1975 cũng phát triển phong phú
về giọng điệu trần thuật: Có giọng khinh bạc, gai góc; có giọng xót xa, thương cảm; có giọng trĩu buồn, tái tê; có giọng vừa trĩu nặng suy tư vừa giàu chất khái quát triết lí; có cả giọng giễu nhại và hoài nghi … Nhờ vậy mà tác phẩm văn học sau 1975 đậm đặc chất tự sự rất đời thường mà hiện đại, cuốn hút
2 Hướng dẫn học sinh tiếp nhận đúng giá trị của các tác phẩm văn học sau 1975, tránh thái độ đánh giá chủ quan
Trong phần kết thúc bài tham luận “Về cách tiếp cận để đánh giá văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám” trình bày tại hội thảo khoa học
50 năm Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (tổ chức vào tháng 6 năm 1995) tác giả Nguyễn Văn Long nhận định: “Văn học Việt nam từ sau tháng 4 – 1975, nhất là từ giữa những năm 80 trở lại đây, đã đi những bước tiếp xa hơn trên con đường hiện đại hoá nền văn học dân tộc ở thế kỉ XX, để hoà nhập đầy đủ vào tiến trình văn học thế giới” [2; tr 128] Cho đến ngày hôm nay, chúng ta chưa thực sự có được một khoảng cách đủ xa để đánh giá
Trang 10văn học giai đoạn này, nên cần tránh sự đánh giá vội vàng, chủ quan Bởi lẽ, những thái độ như thể có thể phương hại đến chính tác phẩm văn học cụ thể được đánh giá ở giai đoạn văn học này đồng thời ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng các tác phẩm mà văn học đương đại sẽ đóng góp cho văn học dân tộc
Để tránh được thái độ chủ quan trong đánh giá, đồng thời có thể thẩm định đúng giá trị của tác phẩm văn học ở giai đoạn sau 1975 giáo viên cần lưu ý cho học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm phải chú ý đến đặc điểm vận động theo hướng dân chủ hóa của văn học giai đoạn này Đặt tác phẩm văn học được tiếp nhận trong tình hình văn học phát triển đa dạng, phong phú nhưng cũng phức tạp với nhiều khuynh hướng, nhiều cách thức thể nghiệm mới, nhiều vấn đề xã hội nhạy cảm… Đặc biệt lưu ý các em chú ý tới tính nhân bản, sự thức tỉnh ý thức cá nhân vốn đậm nét trong các sáng tác và
là đóng góp cơ bản của văn học giai đoạn này
3 Quan tâm đến yếu tố chủ quan trong cảm thụ tác phẩm văn học sau 1975
Như chúng ta đã biết, mỗi cá thể là một thế giới riêng với nhu cầu, sự hứng thú, năng lực thẩm mỹ khác nhau… nên đặc thù của cá thể ấy có chi phối đến quá trình đọc - hiểu văn bản văn học Bên cạnh đó, tác động đến quá trình cảm thụ tác phẩm văn học còn chịu sự chi phối của các yếu tố như: Khoảng cách về thời gian, không gian tác phẩm với người học; khoảng cách giữa nhà văn và người đọc Tất cả những biểu hiện chủ quan trên đều là rào cản hoàn toàn có thể xảy ra khiến cho quá trình tiếp cận tác phẩm của thầy và trò gặp nhiều khó khăn
Có trường hợp, giáo viên hứng thú với tác phẩm nhưng học sinh thì cảm thấy thật khó hiểu, thậm chí thật khó có thể chấp nhận Khi hướng dẫn
học sinh đọc - hiểu tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyên Minh
Châu chúng tôi đã va phải thực tế này Đã có học sinh bộc lộ quan điểm