+ Trong kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 chưa thể có tác động nào của điện hạt nhân, nên cần quy hoạch và ưu tiên nguồn lực để đầu tư xây dựng các khu công nghiệp chế biến.+ Trên cơ sở Đề án t
Trang 2ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NINH THUẬN ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Kỷ yếu hội thảo
Trang 4KỶ YẾU hội thaÛo
NINH THUẬN, THáNg 12 Năm 2014
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NINH THUẬN ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Trang 6PHẦN 1
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHUNG
❖ Sự phát triển tỉnh Ninh Thuận theo quy hoạch: Nhìn lại và định hướng
PGS.TS Nguyễn Trọng Hòa - ThS Cao Minh Nghĩa 97
❖ Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế Ninh Thuận giai đoạn 1993 - 2012 và định hướng chiến lược trong thời gian tới
PGS.TS Nguyễn Văn Ngãi - ThS Trần Quang Sáng 105
Mục lục
Trang 7CÔNG NGHIỆP NĂNG LƯỢNG
❖ Giải pháp đột phá trong thu hút đầu tư và phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế của tỉnh Ninh Thuận
Cục Công nghiệp địa phương 171
❖ Định hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển ngành năng lượng (điện gió, điện mặt trời, thủy điện tích năng) tại Ninh Thuận
Hoàng Tiến Dũng - Nguyễn Đức Cường 177
❖ Định hướng và giải pháp phát triển bền vững ngành năng lượng sạch (điện gió, điện mặt trời, thủy điện tích năng) tại tỉnh Ninh Thuận
TS Ngô Tuấn Kiệt - TS Nguyễn Thúy Nga - ThS Vũ Minh Pháp 185
Trang 8PGS.TS Ngô Văn Doanh 211
❖ Khai thác giá trị văn hóa truyền thống để phát triển bền vững du lịch ở Ninh Thuận
NÔNG LÂM THỦY SẢN VÀ KINH TẾ BIỂN
❖ Định hướng và giải pháp phát triển bền vững ngành thủy sản gắn với tái cơ cấu kinh tế tỉnh Ninh Thuận
Nguyễn Huy Điển 249
❖ Những vấn đề đặt ra đối với cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới
PGS.TS Nguyễn Đình Hiền - TS Nguyễn Thanh Sơn 261
❖ Thực trạng và giải pháp đột phá trong phát triển ngành thủy sản của tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới
Trang Sĩ Trung - Nguyễn Văn Minh - Trần Đức Phú - Nguyễn Tấn Sỹ 267
❖ Định hướng phát triển kinh tế biển tỉnh Ninh Thuận
ThS Hồ Công Hường 279
❖ Phát triển sản phẩm muối, sản phẩm hóa chất sau muối và một số nông sản có lợi thế
ở Ninh Thuận
Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối 299
❖ Ứng dụng các công nghệ vào bảo quản và chế biến một số sản phẩm nông nghiệp của
tỉnh Ninh Thuận
TS Nguyễn Thị Mỹ Hương 307
Trang 10PHẦN I ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHUNG
Trang 12SỰ PHÁT TRIỂN TỈNH NINH THUẬN THEO QUY HOẠCH:
NHÌN LẠI VÀ ĐỊNH HƯỚNG
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Ngày 22.7.2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1222/QĐ-TTg phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020” Theo Quyết định trên thì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận được phân định thành 2 kế hoạch 5 năm: 2011 - 2015 và 2016 - 2020 Đến nay gần hết kế hoạch 5 năm đầu, chuẩn bị điều kiện để triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm tiếp theo, nên cần nhìn lại kết quả thực tế so với mục tiêu đề ra để có cơ sở thực tiễn xây dựng kế hoạch phát triển cho giai đoạn 2016 - 2020
2 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận được ban hành vào thời điểm (giữa năm 2011) nền kinh tế nước ta rơi vào giai đoạn bất ổn vĩ mô kéo dài nhiều năm; tổng cầu nền kinh tế suy giảm Các chính sách kinh tế của Chính phủ chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô nên nền kinh tế tăng trưởng chậm, thậm chí là trì trệ, ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế địa phương, trong đó có Ninh Thuận Trong bối cảnh khó khăn chung đó, cần đánh giá lại các mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch
5 năm phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2015 của Ninh Thuận để có giải pháp phát triển phù hợp
3 Theo Quy hoạch đã được Thủ tướng phê duyệt, kinh tế Ninh Thuận sẽ phát triển theo
6 nhóm ngành ưu tiên (dự kiến chiếm 91% GDP): (1) Năng lượng; (2) du lịch; (3) nông, lâm, thủy sản; (4) sản xuất chế biến; (5) giáo dục đào tạo; (6) xây dựng và kinh doanh bất động
Trang 13nông - lâm - ngư nghiệp; (2) du lịch và (3) năng lượng và chế tạo Do đó cần nhìn lại triển vọng phát triển theo các định hướng trên như thế nào? Trong giai đoạn 2016 - 2020 cần tập trung vào trụ cột nào, nhóm ngành ưu tiên nào, mà Ninh Thuận có cơ hội phát triển nhất?
Từ cách đặt vấn đề như trên, tham luận này sẽ trao đổi 3 nội dung sau đây:
I Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: cơ sở để định hướng phát triển kinh tế - xã hội
1 Vị trí địa lý
Ninh Thuận là địa phương thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ; phía bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía đông giáp biển Đông; Toàn tỉnh có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.358 km2, dân số hơn 590 ngàn người Ninh Thuận nằm trên giao điểm của 3 trục giao thông chiến lược là đường sắt Bắc Nam, Quốc lộ 1A
và Quốc lộ 27 lên Nam Tây Nguyên, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km về phía nam; cách thành phố Nha Trang 105 km về phía bắc và cách thành phố Đà Lạt 110 km về phía tây Đây là một tỉnh có vị trí địa lý quan trọng nằm trên ngã ba nối liền vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ với Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trong chuỗi liên kết các tỉnh duyên hải miền Trung
2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
- Địa hình: Ninh Thuận là một tỉnh có đầy đủ các loại địa hình: ven biển, đồng bằng,
trung du và miền núi Đây là một lợi thế không nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của miền Trung nói chung và của tỉnh Ninh Thuận nói riêng Trong đó dạng địa hình chính của Ninh Thuận là đồi núi, bán sơn địa chiếm hơn 77,65% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, 22,35% diện tích còn lại chủ yếu là dạng đồng bằng ven biển
- Khí hậu, thủy văn: Ninh Thuận có dạng thời tiết nắng nóng, khô hạn thuộc loại điển
hình trong cả nước Thời tiết của tỉnh có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau với lượng mưa trung bình năm khoảng 653 mm
và tương quan nhiệt - ẩm 0,80 tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển các loại cây trồng và vật nuôi đặc thù như nho, bò, dê, cừu
- Tài nguyên đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên hiện tại của tỉnh Ninh Thuận là
335.806 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm 17,96%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng chiếm 46,81%; diện tích đất chuyên dùng chiếm 3,42%; diện tích đất ở chiếm 0,79%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá chiếm 31%
Trang 14- Tài nguyên biển và ven biển: Tỉnh Ninh Thuận có bờ biển dài 105 km Ngư trường
của tỉnh nằm trong vùng nước trồi, có nguồn lợi hải sản phong phú và đa dạng với trên
500 loài hải sản các loại với hệ sinh thái san hô phong phú và đa dạng cùng 120 loài và rùa biển đặc biệt quý hiếm chỉ có ở Ninh Thuận Bên cạnh đó, vùng ven biển có nhiều đầm vịnh phù hợp phát triển du lịch, nuôi trồng thủy sản và sản xuất tôm giống là một thế mạnh của ngành thủy sản
- Tài nguyên rừng: Toàn tỉnh hiện có 157.687 ha rừng, trong đó: Diện tích rừng tự
nhiên là 152.260 ha, diện tích rừng trồng là 5.427 ha Trữ lượng gỗ đạt gần 11 triệu m3
- Tài nguyên khoáng sản: Tỉnh Ninh Thuận có nguồn khoảng sản với rất nhiều chủng
loại và quy mô lớn bao gồm các khoáng sản kim loại (wolfarm, titan); khoáng sản phi kim loại (thạch anh, đất sét); nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng (đá granite, đá vôi san
hô, đá xây dựng) và muối khoáng…
- Tài nguyên du lịch: Với đường bờ biển dài 105 km, Ninh Thuận có rất nhiều bãi
biển đẹp phục vụ cho phát triển du lịch như: Ninh Chữ - Bình Sơn, Cà Ná, Tuấn Tú, Từ Thiện, Phước Dinh…
Bên cạnh nguồn tài nguyên du lịch biển, Ninh Thuận được xem là điểm đến hội tụ nhiều nhất giá trị văn hóa Chăm đặc trưng bao gồm cả những giá trị vật thể (cụm tháp Chăm Pô Klông Garai), và giá trị phi vật thể (lễ hội Katê, sinh hoạt truyền thống đồng bào Chăm, các làng nghề, tiêu biểu là làng gốm Bàu Trúc, làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp hay làng Chăm Irahani, làng Chung Mỹ) Ngoài ý nghĩa văn hóa lâu đời có giá trị nhân văn sâu sắc, đây còn là điểm đến rất hấp dẫn khách du lịch khi đến tham quan tại Ninh Thuận
- Năng lượng: Với đặc điểm khí hậu khô nắng và gió nhiều thuộc loại lớn nhất Việt
Nam, Ninh Thuận có một nguồn tài nguyên gần như vô hạn là năng lượng gió, một loại hình không phải nơi nào cũng được thiên nhiên ưu đãi Loại hình này, nếu được nghiên cứu bài bản, đầy đủ sẽ đem lại nhiều lợi ích quan trọng, không những cung cấp năng lượng
từ gió (có thể có từ thủy triều) mà còn tạo nên một loại hình cảnh quan đẹp, độc đáo phục
vụ du lịch không ống khói không nhiều trên thế giới hiện nay
3 hệ thống giao thông
Tỉnh Ninh Thuận có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 27 và đường sắt Thống Nhất chạy qua; trên địa bàn tỉnh không có sân bay dân sự, gần nhất là sân bay quốc tế Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) cách 60 km về phía bắc Ninh Thuận có 3 cảng biển là Đông Hải, Cà Ná và cảng Ninh Chữ Trong đó, cảng hàng hóa Dốc Hầm - Cà Ná là một trong cảng biển miền Trung được quy hoạch phát triển thành cảng nước sâu, quy mô công suất hàng hóa qua cảng 15 triệu tấn/năm
Trang 15đạt thấp, mới chỉ 0,68 km/km2, tuyến đường ven biển chưa được khai thác tốt nên tiềm năng du lịch vẫn còn rất hạn chế.
4 Dân số và lao động
Trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 23 dân tộc sinh sống, đông nhất là dân tộc Kinh chiếm khoảng 78,5%, dân tộc Chăm chiếm 12,7%, Raglai 8%, còn lại các dân tộc khác Dân số trung bình tỉnh Ninh Thuận tính đến năm 2014 là 590.377 người, trong đó thành thị 213.716 người (chiếm 36,20%), còn nông thôn là 376.660 người (chiếm 63,80%) Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 174 người/km2 Dân số phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở thành phố, thị trấn, đồng bằng ven sông, gần các trục đường giao thông với mật độ gần 374 người/km2 Vùng miền núi đất rộng, người thưa, mật độ dân số khoảng 25 người/km2
Dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) hiện có của Ninh Thuận là 325.145 người Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế - xã hội là 318.685 người, chiếm 53,98% tổng dân số Tuy vậy có đến 68,2% số lao động là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, chủ yếu lao động trong khu vực nông nghiệp
Nhìn chung, Ninh Thuận có nguồn lao động dồi dào, tính về số lượng có thể đáp ứng lao động cho các ngành kinh tế Tuy nhiên sự phân bổ nguồn lực thiếu hợp lý, tập trung vào các ngành có năng suất thấp cũng như chất lượng nguồn lực không cao sẽ là lực cản lớn đối với Ninh Thuận khi muốn thúc đẩy kinh tế tăng trưởng bền vững
5 Tổng quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Trong những năm gần đây, kinh tế của tỉnh Ninh Thuận có những chuyển biến tích cực trên nhiều mặt, tổng GDP bình quân trong giai đoạn 2010 - 2014 đạt 11.450 tỷ đồng, riêng năm 2014 ước đạt 15.834,1 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,2%/năm Mức GDP bình quân đầu người tính đến thời điểm hiện tại ước đạt 26,8 triệu đồng/người, dần rút ngắn khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người so với cả nước Tuy cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có những chuyển dịch đúng hướng nhưng tốc độ vẫn còn chậm: Tỷ trọng GDP khu vực nông nghiệp chỉ giảm 2,8% so với năm 2010 còn chiếm 38,5% GDP của tỉnh; dịch vụ tăng 1,2% so với năm 2010, chiếm 37,7% GDP; Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng 1,6% so với năm 2010, chiếm 23,8% GDP
- Tình hình phát triển của các ngành kinh tế:
+ Về nông, lâm, thủy sản: Với tiềm năng đất có khả năng đưa vào sản xuất nông nghiệp còn lớn, trong những năm vừa qua Ninh Thuận đã thực hiện mở rộng diện tích cây
Trang 16hằng năm và đất nông nghiệp khác Bước đầu hình thành các vùng sản xuất tập trung đối với các nông sản có lợi thế của tỉnh (lúa, mía, thuốc lá, nho, chăn nuôi bò, dê, cừu) chủ yếu cung cấp cho thị trường trong nước và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Đây cũng đang là lĩnh vực tỉnh khuyến khích và kêu gọi đầu tư.
Bên cạnh đó, được xác định là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước với tổng trữ lượng cá, tôm tương đối lớn, khả năng khai thác 50.000 tấn/năm với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao có thể phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu, trong giai đoạn 2010 - 2014 vừa qua ngành thủy sản Ninh Thuận luôn tăng trưởng với tốc độ cao, bình quân đạt 11,8%/năm Cơ cấu nội bộ ngành chuyển dịch dần theo hướng nâng cao tỷ trọng nuôi trồng và sản xuất giống thủy sản nhờ tận dụng nguồn giống bố mẹ dồi dào và môi trường nước biển trong sạch, là địa bàn lý tưởng để sản xuất các loại giống có chất lượng cao và với số lượng lớn, nhất là tôm giống và ốc hương giống Tỉnh cũng đã chú trọng hình thành các trung tâm thương mại hậu cần phát triển nghề cá trong đó cảng cá
Cà Ná đang đầu tư trở thành Trung tâm nghề cá của tỉnh và khu vực, cảng Ninh Chữ được xây dựng thành nơi neo đậu an toàn cho tàu thuyền khu vực miền Trung
Tuy vậy, nông nghiệp Ninh Thuận hiện tại vẫn là nền sản xuất nhỏ, một số ngành chiếm tỷ trọng lớn nhưng thiếu yếu tố bền vững Tốc độ tăng trưởng năng suất lao động giai đoạn vừa qua tuy đạt trung bình 17,7%/năm nhưng mức tăng tuyệt đối mỗi năm chỉ đạt 5,62 triệu đồng/nông dân
+ Về công nghiệp: Trong giai đoạn hiện nay ngành công nghiệp Ninh Thuận đang nhận được nhiều sự quan tâm của các cấp ngành, bước đầu phát huy được một số sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010 - 2014 đạt 17,24% Một số lĩnh vực công nghiệp chính hiện tại: Chế biến thủy sản, chế biến đá ốp granit, chế biến hạt điều, xi măng, thủy điện, khai khoáng Các lĩnh vực đang triển khai thu hút đầu tư: công nghiệp nước khoáng, cấp nước, chế biến thức ăn thủy sản và gia súc, muối công nghiệp
+Về du lịch: Toàn tỉnh hiện có 80 cơ sở lưu trú với trên 1.800 phòng, 30% trong số đó đạt chuẩn 3 sao Tuy vậy toàn tỉnh chỉ có 8 doanh nghiệp lữ hành và tổng số lao động trực tiếp trong ngành đạt khoảng 1.244 người, trong đó có 15 hướng dẫn viên du lịch nội địa, không có hướng dẫn viên quốc tế Kết quả đạt được: Đã có 1.380.000 lượt khách du lịch đến Ninh Thuận trong năm 2014, trong đó có 95.000 lượt khách quốc tế; thu nhập xã hội
Trang 17cách khá xa so với các địa phương lân cận có du lịch phát triển trong vùng Hạn chế đối với du lịch Ninh Thuận tồn tại nổi bật ở một số vấn đề:
- Khả năng tiếp cận điểm đến còn rất hạn chế Tỉnh chưa có sân bay, cảng biển du lịch; mật độ giao thông của tỉnh còn thấp, thiếu đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông dẫn đến các điểm du lịch của tỉnh
- Phương tiện vận chuyển hành khách, nguồn nhân lực du lịch tại địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu, cả về chất lượng lẫn số lượng
- Hệ thống dịch vụ còn nghèo nàn, chưa có nhiều khách sạn 3 - 5 sao, các khu nghỉ dưỡng tầm cỡ, các nhà hàng và điểm dừng đạt chuẩn
6 Vốn đầu tư
Với điều kiện kinh tế hiện tại, Ninh Thuận vẫn là địa bàn khó khăn với tổng vốn huy động đầu tư toàn xã hội năm 2014 đạt khoảng 7.615 tỷ đồng, tuy có tăng 1,5 lần so với năm 2010, nhưng chiếm tỷ trọng lớn vẫn là nguồn vốn đầu tư của nhà nước, chiếm trên 42% (trong đó có 50% là từ ngân sách nhà nước); vốn đầu tư từ doanh nghiệp và dân cư chỉ chiếm từ 47,5% - 54,5%; vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài chiếm tỷ trọng khá nhỏ
7 Năng lực cạnh tranh
Đánh giá chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Ninh Thuận trong giai đoạn vừa qua đã cho thấy có những thay đổi theo chiều hướng tích cực trong năng lực cạnh tranh của tỉnh: Chỉ số tổng hợp tăng dần qua các năm, nhất là trong các năm từ 2011 - 2013; Điểm số từ mức 47,82 điểm năm 2008 đến năm 2013 đã đạt 54,22 điểm sau khi đạt mức cao 59,76 điểm năm 2012; Các chỉ số có sự cải thiện rõ rệt đó là Chi phí thời gian, Tính năng động và thiết chế pháp lý Tuy vậy sự cải thiện PCI của tỉnh vẫn chưa ổn định; kết quả chung của tỉnh vẫn xếp ở nhóm tương đối thấp
II Kết quả và hạn chế sau 4 năm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo Quy hoạch
1 Thành tựu
- Có tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 2010 - 2014 vừa qua Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của tỉnh đạt 12,2%/năm, cao hơn mức tăng trưởng trung bình của 9 tỉnh vùng duyên hải miền Trung1 (11,94%/năm) và của cả nước (5,83%/năm), nhưng thấp hơn nhiều so với mục tiêu theo quy hoạch (16 - 18%/năm)
- Ngoài ra tỉnh còn đạt được mục tiêu đa dạng hóa hoạt động phi nông nghiệp và
Trang 18hướng tới công nghiệp - xây dựng, giúp đẩy nhanh tăng trưởng trong giai đoạn này Ngành nông nghiệp, vốn chiếm 44,7% GDP và 52,4% lao động năm 2009, đến nay chỉ còn chiếm 38,5% GDP và 44,8% lao động Với sự chuyển dịch này, tạo điều kiện cho công nghiệp và các ngành liên quan tăng trưởng và phát triển, các hoạt động trong khu vực này tập trung vào chế biến và khai khoáng Dịch vụ và thương mại cũng có sự phát triển nhất định, thu hút 30,8% lượng lao động và đóng góp tới 1/3 tổng GDP
- Ninh Thuận cũng đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới tư duy kinh tế, xác định được các khâu đột phá quan trọng bao gồm cả việc cải thiện môi trường đầu tư thông qua thành lập Văn phòng phát triển kinh tế Ninh Thuận (EDO) và nhìn nhận khách quan xác định 3 trụ cột kinh tế mang tính đặc thù, phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh trong quá trình phát triển cơ cấu kinh tế
2 Những hạn chế tồn tại
- Ninh Thuận vẫn là một tỉnh nhỏ, tổng mức đầu tư toàn xã hội chưa lớn, chuyển dịch
cơ cấu ngành nông nghiệp còn chậm chưa có sự đột phá trong công nghiệp, dịch vụ để tạo động lực thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Bản chất mô hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn hiện nay của Ninh Thuận vẫn là mô hình tăng trưởng chất lượng thấp và kém hiệu quả, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân có tăng nhưng không bền vững Nếu so với cả nước thì tốc độ tăng trưởng này khá cao nhưng quy mô nền kinh tế của tỉnh so với các tỉnh trong khu vực còn thấp và có xu hướng chậm lại Nếu tính về lượng tuyệt đối, mức GDP của Ninh Thuận chỉ bằng 36,1% mức bình quân toàn vùng còn GDP bình quân đầu người Ninh Thuận năm 2014 là 26,8 triệu đồng/người chỉ khoảng 60% mức bình quân của Việt Nam
- Chất lượng sản phẩm và môi trường đầu tư chưa đạt yêu cầu và sức cạnh tranh thấp Nhất là khi Ninh Thuận còn phải đối mặt với sự cạnh tranh lớn từ chính các địa phương liền kề vốn có nhiều lợi thế về vị trí kinh tế và có năng lực cạnh tranh khá như Khánh Hòa, Bình Thuận
- Các lợi thế của tỉnh Ninh Thuận chủ yếu tồn tại dưới dạng tiềm năng trong việc phát triển các trọng điểm về công nghiệp, nông - ngư nghiệp và du lịch Trong khi đó phần lớn thách thức mà Ninh Thuận đang phải đối mặt như trình độ của đội ngũ nhân lực, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội… lại đòi hỏi thời gian và nguồn lực đầu tư lớn
- Bên cạnh đó Ninh Thuận còn phải đối mặt với nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên
1 Từ tỉnh Thừa Thiên Huế đến tỉnh Bình Thuận.
Trang 19dựng và titan vận hành với công suất cao.
III Một số gợi ý về định hướng và giải pháp phát triển tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới.
1 Quan điểm, định hướng phát triển chung
- Thứ nhất, về định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
+ Cơ bản lâu dài việc xác định 3 trụ cột và 6 nhóm ngành sản phẩm ưu tiên phát triển
là đúng Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016 - 2020 cần ưu tiên đầu tư và chính sách để phát
triển 3 nhóm ngành: nông - ngư nghiệp; công nghiệp chế biến và du lịch Gắn các mục tiêu
phát triển ưu tiên với quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, dựa vào vốn đầu tư như hiện nay sang phát triển dựa vào công nghệ, năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh
+ Ưu tiên thu hút các nhà đầu tư chiến lược đầu tư phát triển ngành công nghiệp điện gió và sản xuất thiết bị phục vụ ngành điện gió và công nghiệp chế biến nông, thủy sản; công nghiệp hóa chất sau muối chất lượng cao; ngành nông nghiệp công nghệ cao và ngành du lịch nhằm tạo sức lan tỏa, tạo động lực cho phát triển kinh tế của tỉnh
- Thứ hai, về thể chế
+ Đẩy mạnh cải cách về thể chế, tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường xúc tiến để thu hút các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước Chính quyền địa phương phải thực sự là người cung cấp dịch vụ hành chính công cho doanh nghiệp, là người đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình đầu tư và kinh doanh + Cần chú trọng, đẩy mạnh, khuyến khích và hỗ trợ phát triển khu vục kinh tế tư nhân Phải xem nguồn vốn đầu tư tư nhân là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng Tiếp tục tái cơ cấu đầu tư công, xem vốn đầu tư của ngân sách nhà nước là “vốn mồi”
+ Xã hội hóa đầu tư cơ sở hạ tầng Chọn dự án thí điểm để triển khai mô hình công - tư đối tác (PPP) nhằm huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
+ Cần xây dựng chương trình cụ thể để tham gia vào các hoạt động liên kết vùng, liên kết với các địa phương trong xúc tiến quảng bá thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại, sản phẩm du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, trước mắt ưu tiên liên kết phát triển du lịch với 3 địa phương:
Trang 20Khánh Hòa, Bình Thuận và Lâm Đồng.
- Thứ ba: về điều chỉnh quy hoạch
+ Mặc dù theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phát triển kinh tế
- xã hội đến năm 2020 với 3 trụ cột kinh tế và 6 nhóm sản phẩm hàng hóa dịch vụ về cơ bản là phù hợp với điều kiện tự nhiên lợi thế phát triển lâu dài của Ninh Thuận Tuy nhiên, cần đánh giá lại cơ cấu từng nhóm ngành, tốc độ tăng trưởng và đặc biệt cân đối nguồn lực, bảo đảm tính khả thi Cần tận dụng cơ hội thực hiện các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương mà Chính phủ đã sẽ ký kết trong tương lai gần để phát triển các ngành thâm dụng lao động và hải sản mà Ninh thuận có lợi thế
+ Trong kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 chưa thể có tác động nào của điện hạt nhân, nên cần quy hoạch và ưu tiên nguồn lực để đầu tư xây dựng các khu công nghiệp chế biến.+ Trên cơ sở Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế theo Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày
19 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, cần xây dựng Đề án tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng tỉnh Ninh Thuận phù hợp với định hướng chung của cả nước; gắn với sự phát triển chung của vùng duyên hải miền Trung
2 Định hướng và giải pháp phát triển các ngành cụ thể
(1) Phát triển ngành nông lâm, thủy sản và nghề muối: Tập trung đầu tư phát triển
ngành nông lâm, thủy sản và nghề muối gắn với đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới nhằm tạo đột phá và xoay chuyển ngành nông lâm, thủy sản và nghề muối của tỉnh Ninh Thuận theo hướng nông nghiệp hiện đại, công nghệ cao, sạch và phát triển bền vững góp phần đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội, cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến nông lâm, thủy sản; công nghiệp chế biến sản phẩm sau muối; đồng thời phát triển các sản phẩm nông sản đặc sản phục vụ khách du lịch
- Phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng tại các vùng sản xuất, khuyến khích và có các chính sách ưu đãi đặc thù đối với các doanh nghiệp “đầu đàn” tham gia trong chuỗi giá trị sản xuất các nông sản
- Lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp; đồng thời tổ chức lại sản xuất theo hướng doanh nghiệp hóa sản phẩm, liên kết hóa sản xuất và xã hội hóa đầu tư
- Phát triển gắn với công nghiệp bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ; gắn hộ nông dân với thị trường với doanh nghiệp
- Đẩy mạnh việc xây dựng các chuỗi liên kết kinh tế trong sản xuất, ưu tiên đầu tư và
hỗ trợ phát triển, xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn đối với các
Trang 21xuất tôm giống…) để nâng cao giá trị sản xuất và quảng bá thương hiệu nông sản của tỉnh Ninh Thuận trên thị trường nông sản trong và ngoài nước
- Đẩy mạnh ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học công nghệ mới, sử dụng hiệu quả các tài nguyên đất, nước, lao động; thích ứng biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái
- Tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo lao động cho khu vực nông nghiệp, nông thôn
- Hướng dẫn và tạo điều kiện để nông dân tiếp cập và thụ hưởng có hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Nhà nước
(2) Phát triển ngành công nghiệp: tiếp tục chú trọng và đẩy mạnh phát triển các cụm
ngành nhằm phát huy tiềm năng của tỉnh, sử dụng nhiều lao động gắn với bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, nhằm tạo điều kiện để từng bước chuyển dần sang phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ hiện đại, năng suất lao động cao, có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh lớn…
- Tập trung nguồn lực đầu tư và khai thác có hiệu quả ngành công nghiệp năng lượng đặc biệt là năng lượng sạch như năng lượng mặt trời và điện gió, đưa Ninh Thuận trở thành trung tâm năng lượng của cả nước
- Tiếp tục ưu tiên phát triển trong giai đoạn đến 2020 như: công nghiệp chế biến nông, thủy sản; công nghiệp sản xuất muối và hóa chất sau muối (muối cao cấp, xút, magiê clorua ); công nghiệp chế biến khoáng sản (chế biến xỉ titan); vật liệu xây dựng cao cấp; năng lượng (điện gió, điện mặt trời), may xuất khẩu
- Thu hút đầu tư phát triển các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ như: máy móc và thiết bị phục vụ sản xuất, khai thác và chế biến nông, lâm, thủy sản; thiết bị phục vụ ngành điện (điện gió, điện mặt trời…); thiết bị dây chuyền phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng…
- Khuyến khích và hỗ trợ phát triển các cụm công nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại khu vực nông thôn, đồng thời duy trì và đẩy mạnh việc phát triển các làng nghề truyền thống, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
- Quy hoạch và xây dựng lộ trình để từng bước chuyển đổi các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh sang mô hình các khu công nghiệp, cụm công nghiệp sinh thái Phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp của tỉnh phải đặt trong tính liên kết vùng, tính liên kết chuỗi giá trị và liên kết ngành trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh riêng có
- Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng việc tạo mối liên kết giữa các
Trang 22doanh nghiệp lớn trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ cung ứng đầu vào hay tiêu thụ sản phẩm.
(3) Phát triển ngành du lịch: Trước mắt tiếp tục ưu tiên khai thác và sử dụng tài nguyên
về du lịch và các giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống của tỉnh để xây dựng các loại hình, sản phẩm du lịch đặc trưng, riêng có (tạo sự khác biệt) của tỉnh Ninh Thuận, góp phần phát triển bền vững ngành du lịch của tỉnh Bên cạnh đó đẩy mạnh thu hút đầu tư xây dựng các
dự án du lịch, các khu nghỉ dưỡng biển và các loại hình giải trí cao cấp phục vụ cho khách
du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa có thu nhập, lưu trú dài ngày và sẵn sàng chi tiêu cao, tạo đột phá trong phát triển du lịch của tỉnh cho những năm tiếp theo
- Tiếp tục tập trung phát triển các loại hình và nhóm sản phẩm du lịch, cụ thể:
+ Du lịch nghỉ dưỡng, gắn với giải trí và sinh thái biển như: lặn ngắm rạn san hô, bơi lội dưới nước, các trò chơi thể thao biển…
+ Du lịch văn hóa khám phá và trải nghiệm các giá trị di sản văn hóa, các lễ hội, kiến trúc Chăm gắn với tham quan các làng nghề truyền thống (làng gốm Bàu Trúc, dệt thổ cẩm
- Đẩy mạnh thu hút và đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao cho tất cả các lĩnh vực từ quản lý nhà nước về du lịch, nhà hàng, khách sạn, hướng dẫn viên du lịch…
- Tiến hành rà soát và đẩy nhanh việc thực hiện các dự án du lịch (mạnh dạn thu hồi các
dự án chậm triển khai), thu hút đầu tư xây dựng thêm các cơ sở lưu trú 3 đến 5 sao, phát triển các dịch vụ còn thiếu như: sản phẩm điểm đến, các dịch vụ vui chơi giải trí trong nhà
về đêm và trên biển; khu mua sắm tập trung
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch; bảo đảm an ninh, an toàn cho khách
du lịch, xử lý các hành vi vi phạm (gian lận, ép giá, chèo kéo, đeo bám khách…), bảo vệ môi trường du lịch…
Tóm lại, một số ý kiến trên đây mang tính gợi ý về định hướng và giải pháp thúc đẩy
sự phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới, trên cơ sở các ý tưởng, các đề
Trang 23từng ngành, lĩnh vực cụ thể nhằm bổ sung và hiện thực hóa các quan điểm, định hướng
và giải pháp nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Thuận nhanh và bền vững đến năm 2020 và những năm tiếp theo
Trang 24NINH THUẬN: TÌM KIẾM CÁCH TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN MỚI
TRONG KHÔNG GIAN HỘI NHẬP
?PgS.TS TrầN ĐìNh ThIÊN
Viện Kinh tế Việt Nam
Giả thuyết: Ninh Thuận không sẵn có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển Nhưng ít lợi thế có phải là một “lợi thế” cho sự lựa chọn đột phá phát triển?
1 Ninh Thuận: tiềm năng, lợi thế và vấn đề
Ninh Thuận có những nét đặc sắc và khác biệt, vừa là “lợi thế”, vừa là “bất lợi thế” cho sự phát triển
1.1 Trước hết, nói về những lợi thế
Ninh Thuận không có nhiều lợi thế và tiềm năng phát triển nổi trội Có thể nêu một số lợi thế và tiềm năng phát triển sẵn có chủ yếu của tỉnh như sau:
- Tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đặc thù:
+ Nắng gió nhiều nhưng ít bão
Với điều kiện tự nhiên này, Ninh Thuận được đánh giá là địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất cả nước để phát triển điện gió
Ninh Thuận là địa phương có tiềm năng gió thuộc loại lớn nhất ở Việt Nam, có khả năng phát triển điện gió với quy mô công nghiệp tại hầu hết các huyện, thành phố Theo Quy hoạch phát triển điện gió tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2011 - 2015 có xét đến năm 2020 thì tiềm năng điện gió lý thuyết đạt 10.447 MW với diện tích trên 261.176 ha Sau khi loại trừ diện tích có trùng lặp với các quy hoạch khác và vùng đệm cách xa khu dân cư,… thì tiềm năng điện gió và diện tích có tính khả thi cao là 1.429 MW với 21.432 ha
Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020”
”
Trang 25càng bức thiết, dù đã có những dự án phát triển, sự phát triển điện gió của Ninh Thuận thực tế hầu như vẫn chưa có gì
Tại sao vậy? Tại sao Ninh Thuận chưa phát triển được điện gió mặc dù có những điều kiện tự nhiên thuận lợi, trong khi Bạc Liêu, một tỉnh cũng thuộc “vùng sâu, vùng xa”, điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý có lẽ không thuận lợi hơn Ninh Thuận, nếu không nói là kém thuận lợi hơn - đã phát triển được dự án điện gió lớn và hiện đang chuyển sang giai đoạn hai, với quy mô Dự án mở rộng?
+ Các tài nguyên du lịch đặc sắc và “đẳng cấp”
Trước hết, đó là các vịnh biển và bãi biển đẹp, kết hợp với núi đá và khí hậu khô - nóng quanh năm Đây là những cơ sở tự nhiên để phát triển du lịch, không chỉ du lịch biển - mà còn cả du lịch núi - để du khách có không gian tận hưởng và khám phá rộng rãi
Ninh Thuận còn có di sản lịch sử - văn hóa đặc sắc Đó là nền văn hóa Chăm độc đáo,
là các tòa tháp Chăm, là nghề gốm Bàu Trúc, là văn hóa truyền thống của các dân tộc ít người như Raglai, Chu Ru, Đây là một loại tài nguyên du lịch có khả năng tạo sự khác biệt và có sức hấp dẫn du khách rất riêng của Ninh Thuận
Ngoài ra, nhờ điều kiện tự nhiên đặc thù, Ninh Thuận còn là xứ của một số“đặc sản”nông nghiệp ít có hoặc không có ở các địa phương khác như: cừu, dê, nho, táo, hải sản.Những đặc sản này vốn là sản phẩm “tự nhiên, tự thân” nhiều đời của Ninh Thuận Giờ đây, trong thời đại hội nhập và bùng nổ du lịch toàn cầu, chúng có tiềm năng trở thành
- và đang là - những tài nguyên du lịch mang tính “đặc hữu Ninh Thuận”
Như vậy, tài nguyên tự nhiên - vốn có và mang tính đặc sắc - đặc hữu của Ninh Thuận không nhiều Nhưng đó lại là những điều kiện cơ bản để phát triển ngành du lịch hiện đại
và đẳng cấp Gọi là “những điều kiện cơ bản” vì chúng đáp ứng tốt hai yêu cầu căn bản để phát triển ngành du lịch hiện đại: i) khám phá và ii) tận hưởng.1
1 Khái niệm “hiện đại” được nhấn mạnh ở đây gắn với tính “toàn cầu” đang bùng nổ của ngành du lịch và
“đẳng cấp nhu cầu” ngày càng cao của du khách Tính hiện đại đòi hỏi mỗi điểm đến du lịch phải thỏa mãn
ở mức độ rất cao hai nhu cầu đặc trưng của du lịch hiện đại: khám phá và tận hưởng Tính mục đích tối cao của hoạt động du lịch hiện đại là thỏa mãn du khách hoạt động khám phá và tận hưởng Hai nội dung này hàm chứa đòi hỏi của du khách đối với ngành du lịch: ăn gì? xem gì? chơi gì? mua gì? Nếu không đáp ứng các đòi hỏi thì du lịch chỉ còn lại nội dung “nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng”, không có khả năng hấp dẫn du khách đến và ở lại lâu dài, chi tiêu “hào phóng” Thực tế diễn ra đối với ngành du lịch Việt Nam mấy năm qua: 80
- 90% du khách tuyên bố “một đi không trở lại” - có lý do căn bản là do các điểm đến du lịch của Việt Nam không đủ năng lực cung cấp các yếu tố thỏa mãn nhu cầu “khám phá” và “tận hưởng” của du khách quốc tế
ở mức độ cạnh tranh cao so với các nước khác.
Trang 26Việc định vị lợi thế nói trên cho phép nhận diện đúng tiềm năng và triển vọng phát triển du lịch của Ninh Thuận.
Nhưng câu hỏi đặt ra là: với tiềm năng như vậy, tại sao cho đến nay, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực, ngành du lịch Ninh Thuận vẫn thuộc nhóm kém phát triển ở Việt Nam Trong phạm vi các tỉnh duyên hải miền Trung, du lịch Ninh Thuận đang đứng ở vị trí thứ
8 trong số 9 tỉnh
Cách tiếp cận này gợi ý tìm kiếm, xác định đúng những điều kiện then chốt mà Ninh Thuận còn thiếu để phát triển ngành du lịch, giúp nó vươn lên đúng tầm, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của du lịch toàn cầu hiện đại
Có thể hình dung Ninh Thuận kết nối với các trung tâm phát triển qua các “cánh gà”
có nhiều tiềm năng và triển vọng phát triển bậc nhất Việt Nam:
i) Tuyến nối Nha Trang và duyên hải miền Trung Đây là “cánh gà” phía bắc, nối với Nha Trang là một trung tâm du lịch quốc tế tầm cỡ Trong tầm nhìn dài hạn, tuyến này còn chứa đựng tiềm năng rất lớn nếu xét đến triển vọng bùng nổ phát triển của vùng vịnh Vân Phong (đang được đề xuất xây dựng Đặc khu kinh tế) và vùng bờ biển Phú Yên tuyệt đẹp;ii) Tuyến nối Đà Lạt và Tây Nguyên Đây là“cánh gà” phía tây, nối với một trung tâm du lịch quốc gia, có định hướng trở thành trung tâm du lịch tầm cỡ và đẳng cấp quốc tế trên
cơ sở thực hiện Đề án xây dựng Đà Lạt thành Thành phố có quy chế đặc thù - một dạng
“đặc khu” du lịch;
iii) Tuyến nối với Bình Thuận - Thành phố Hồ Chí Minh Đây là “cánh gà” phía Nam, nối với trung tâm phát triển lớn nhất và mạnh nhất nước - Thành phố Hồ Chí Minh và cả Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Như vậy, xét trên 3 mặt đất liền, Ninh Thuận lọt vào giữa “vòng vây” của các trung tâm phát triển lớn hiện tại và tương lai của đất nước Triển vọng bùng nổ phát triển và định hướng vươn tầm thế giới và khu vực của những địa chỉ này là điều khó nghi ngờ về mặt chiến lược Theo nghĩa đó, vị trí địa lý của Ninh Thuận là “đắc địa”
Đề cập đến vị trí “địa - kinh tế” là để định vị “chức năng” phát triển vùng của Ninh Thuận Liên quan đến cách tiếp cận “địa - kinh tế” này, có một câu hỏi: phải chăng cho đến
Trang 27Thuận hay Phan Rí - Tháp Chàm, là do chúng đã định vị rõ “chức năng” và “vị thế” của mình, đã biết cách tận dụng và khai thác hợp lý “chức năng” và vị thế đó; còn Ninh Thuận/Phan Rí - Tháp Chàm vẫn “nhẫn nại đi sau” vì chưa xác định (hay chưa được xác định??)
“trúng” vị thế và chức năng phát triển của mình trong quan hệ với các tọa độ lớn đó?
Về vị thế địa - kinh tế, cũng cần kể thêm “cánh gà” phía đông của Ninh Thuận là “mặt tiền” hướng ra biển Đây là một lợi thế có giá trị tiềm tàng trong tương lai Ninh Thuận phải căn cứ vào đây như một cơ sở quan trọng bậc nhất để xác định đúng chức năng phát triển của mình Với “mặt tiền” hướng ra biển, Ninh Thuận có điều kiện thuận lợi cho định hướng mở cửa và hội nhập quốc tế Biển cũng là “không gian mở” chứa đựng tiềm năng phát triển nhiều mặt to lớn
rộ trên phạm vi cả nước trong những năm qua
Hoạt động tiên phong này cho thấy rõ khát vọng tiến vượt, ý chí vươn lên mạnh mẽ của Ninh Thuận cũng như tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo tỉnh
Một khát vọng phát triển, kết hợp với định hướng tầm nhìn xa là nền tảng bảo đảm sự thống nhất trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc phát triển Sự kết hợp của tầm nhìn vượt trội, sự thống nhất ý chí và hành động là điều kiện tiên quyết bảo đảm công cuộc bứt phá phát triển của tỉnh có thể diễn ra và thành công
Ninh Thuận đang sở hữu yếu tố này và đang nỗ lực củng cố và phát triển nó
2 Lựa chọn ngành ưu tiên và xác định tọa độ đột phá căn cứ vào lợi thế
Nói chung, những lợi thế “tĩnh” nêu trên của Ninh Thuận vốn được khai thác trong lịch
sử và cho đến tận ngày nay Gần đây, tỉnh vẫn tiếp tục khẳng định những lợi thế đó, đưa chúng vào chiến lược và các quy hoạch phát triển ngành với tư cách là những căn cứ quan trọng hàng đầu để xác định ngành trọng điểm và mũi nhọn
Đó là các ngành điện gió và du lịch, các ngành sản xuất một số sản phẩm nông nghiệp đặc hữu như cừu, nho, tôm giống
Danh sách ưu tiên phát triển ngành như vậy quả thật có phần “khiêm tốn”, nhất là khi
so với các địa phương khác trong cả nước
Trang 28Một số ngành quan trọng, thậm chí rất quan trọng, như sản xuất muối, khai thác và chế biến thủy sản, hiện nay và trong tương lai, chắc chắn vẫn được chú trọng phát triển Nhưng nếu không có gì đột biến, về cơ bản, đó chỉ là sự chú trọng vốn có xưa nay vẫn được dành có các ngành có tầm quan trọng do “tính đại chúng” của chúng Đây không phải là những ngành chủ lực nếu xét theo tiêu chí “dẫn dắt và lan tỏa phát triển”, hoặc theo tiêu chí “khả năng gây đột biến cơ cấu” thông qua những cú “đột phá”.
Có một điểm khác biệt nổi bật: trong sơ đồ phát triển của Ninh Thuận, không có sự hiện diện của các ngành công nghiệp chế tạo - chế biến với tư cách là ngành trọng điểm, chủ lực như ở nhiều tỉnh khác.1 Đối với Ninh Thuận, công nghiệp chế tạo - chế biến không phải là yếu tố chủ chốt định hình “chân dung” kinh tế tương lai của tỉnh Đây là một nét khác biệt cơ cấu nổi bật Với cách định hình cơ cấu như vậy, Ninh Thuận đang đưa ra một quan niệm mới về công nghiệp hóa, khác với quan niệm thông thường vốn có ở Việt Nam,
là quan niệm nhiều khi đậm tính giáo điều, quy định rằng các tỉnh đều phải phát triển thành “tỉnh công nghiệp” với công thức cơ cấu gần như y hệt nhau, bất chấp thực tế là các điều kiện phát triển rất khác nhau
Có nhiều cơ sở để tin rằng sự “lựa chọn khác biệt” mô hình công nghiệp hóa của Ninh Thuận là thực sự đúng đắn, chí ít cũng trên quan điểm “lợi thế”
Vì có ít lợi thế nói chung, ngoại trừ “điện gió”, tỉnh hầu như không có lợi thế gì đặc biệt
để phát triển các ngành công nghiệp truyền thống, Ninh Thuận chỉ chọn một số ít ngành
“phi công nghiệp”, đều là những ngành gắn với lợi thế tự nhiên - truyền thống của tỉnh (du lịch, nông sản - đặc sản), làm ngành “chủ lực” để ưu tiên phát triển và định hướng đột phá
Nhưng câu hỏi đặt ra là: lựa chọn đúng mà tại sao cho đến nay, Ninh Thuận vẫn “tụt hậu phát triển”, vẫn nghèo, chưa bứt lên được? Tại sao chỉ chọn có ít ngành mà Ninh Thuận vẫn chưa tạo được đột phá? Ninh Thuận còn thiếu, còn yếu những yếu tố căn bản nào cho sự đột phá và tiến vượt?
Đây là những câu hỏi rất căn bản, mang tầm quyết sách chiến lược cho tỉnh trong giai đoạn tới Để đột phá được, trước hết, phải xác định cho đúng những cái thiếu và yếu đó
Trang 29có hai “nút thắt” làm cho sự lựa chọn đó của Ninh Thuận chưa được hiện thực hóa, khiến cho nỗ lực phát triển chưa biến thành lợi ích phát triển thực tế của người dân và của ngân sách nhà nước như mong đợi.
Nút thắt thứ nhất: Ninh Thuận thiếu một số điều kiện nền tảng, bao gồm sức mạnh
chủ thể (lực lượng doanh nghiệp, vốn, nhân lực) và thể chế (cơ chế, chính sách, môi trường kinh doanh) đáp ứng được yêu cầu Không có những yếu tố xã hội này, không thể phát huy, không thể hiện thực hóa các tiềm năng và lợi thế tự nhiên, không thể tạo đột phá mạnh, lan tỏa rộng, từ đó, bứt lên.1
Nút thắt thứ hai: việc phát triển các ngành được “ưu tiên” của Ninh Thuận cho đến
nay cơ bản vẫn diễn ra theo cách cũ, vẫn dựa vào công nghệ cũ, do đó, không tạo ra bất
kỳ sự thay đổi đáng kể nào về đẳng cấp và trình độ.2 Nói khác đi, tuy điều kiện mới, mục tiêu mới nhưng giải pháp vẫn cũ, chưa hề có một sự đổi mới mang tính đột phá nào, do vậy, hiện thực (đẳng cấp và trình độ) vẫn như vậy
Cụ thể hóa cách tiếp cận nguyên nhân nói trên, không kể những nguyên nhân chung cho cả nền kinh tế, có thể nêu một số nguyên nhân kìm hãm hay bất lợi thế “đặc thù Ninh Thuận” như sau:
- Địa thế: tuy là tỉnh duyên hải ven biển, có vị thế địa - kinh tế kết nối thuận lợi với các trung tâm lớn (tiềm năng kết nối tốt) nhưng Ninh Thuận khá biệt lập với bên ngoài do địa hình chia cắt Ninh Thuận là vùng đất cuối của dãy Trường Sơn với nhiều dãy núi đâm ra biển Đông Lãnh thổ tỉnh được bao bọc bởi 3 mặt núi và một mặt biển Đồi núi chiếm tới 63,2% diện tích của tỉnh Địa hình, địa thế như vậy, trong logic phát triển bình thường, là một bất lợi thế lớn
Tuy nhiên, chính sự biệt lập này, cùng với vài “lợi thế tự nhiên” khác (ít động đất, sát biển) lại làm cho Ninh Thuận trở nên “có lợi thế đặc biệt” để được chọn xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân Đây là “sứ mệnh lịch sử” hay “nghĩa vụ quốc gia” mà Ninh Thuận phải nhận lãnh Việc thực hiện sứ mệnh này làm cho Ninh Thuận không thể xây dựng một quy hoạch phát triển bình thường Khác với tất cả các tỉnh khác, quy hoạch phát triển của Ninh Thuận phải tính đến khả năng xảy ra rủi ro phát triển thuộc loại đặc biệt và bất thường - rủi ro ô nhiễm phóng xạ hay sự cố hạt nhân Trên thực tế, đó là một quy hoạch mang tính
“đánh đổi”, trong đó, tương quan cơ bản là Ninh Thuận “chịu phần thiệt” để quốc gia được
“hưởng phần lợi” Về thực chất, đây là một thách thức phát triển rất lớn đối với nỗ lực “tiến
1 Đó là trường hợp ngành du lịch và điện gió.
2 Đó là trường hợp ngành du lịch, ngành trồng nho và nuôi cừu.
Trang 30kịp”các tỉnh khác, tiến kịp cả nước của Ninh Thuận.
Sự “đánh đổi” bất lợi cho Ninh Thuận như vậy đòi hỏi cả nước, đòi hỏi Trung ương phải cam kết
i) Bảo đảm sự phát triển an toàn cho Ninh Thuận (cũng là bảo đảm an toàn cho cả xã hội);
ii) Dành sự hỗ trợ đặc biệt cho Ninh Thuận, nhằm bù đắp lại “thiệt thòi” mà tỉnh, nhân dân và các doanh nghiệp trong tỉnh phải gánh chịu, giúp Ninh Thuận phát triển các ngành không chỉ một cách “bình thường” mà còn phải là “vượt trội”
Nếu Trung ương thực hiện đầy đủ và kịp thời hai cam kết đó, Ninh Thuận có “cơ” bứt phá phát triển mạnh để tiến vượt lên.“Trong nguy có cơ” chính là vậy Ninh Thuận có điều kiện cơ bản để biến “nguy” thành “cơ” Có thể chính đây là điểm khởi đầu cho một cú đột phá phát triển mạnh của tỉnh
- Trình độ kết nối với bên ngoài thấp Ninh Thuận nối với bên ngoài chủ yếu thông qua tuyến đường bộ “độc đạo” là Quốc lộ 1 Ngoài ra, còn có tuyến đường nối Đà Lạt, song chất lượng chưa cao, chưa phải là huyết mạch phát triển của tỉnh Đường sắt, cho đến nay, ít
có tác động phát triển đối với Ninh Thuận, trong khi tỉnh vẫn chưa có tuyến vận tải biển đúng nghĩa (chỉ có các cảng cá, vận tải thủy kém phát triển, chưa có cảng biển hàng hải), không có kết nối hàng không.1
- Khan hiếm nước ngọt gay gắt bậc nhất Việt Nam, trong khi đây là loại tài nguyên quan trọng hàng đầu của công cuộc phát triển hiện đại Việc phát triển ngành du lịch, một
số ngành nông nghiệp đặc sản và điện hạt nhân phụ thuộc gần như quyết định vào khả năng cung cấp nước ngọt Về dài hạn, đây sẽ là thách thức phát triển lớn nhất đối với Ninh Thuận Tình trạng mưa ít, địa hình dốc, nguồn nước ngầm hạn chế sẽ đặt ra những giới hạn và ràng buộc khắt khe đối với việc lựa chọn phương án và các giải pháp phát triển ngành của Ninh Thuận trong giai đoạn tới.2
Xuất phát từ điều kiện nền tảng và tiên quyết này, có thể nêu định hướng phát triển ngành hầu như là bắt buộc đối với Ninh Thuận:
1 Nhưng bù lại, Ninh Thuận là địa phương hiếm hoi nằm gần ba sân bay, trong đó có 2 sân bay quốc tế Đó
là sân bay Cam Ranh (Khánh Hòa), sân bay Liên Khương (Lâm Đồng); và sân bay Phan Thiết (Bình Thuận) trong tương lai gần Khoảng cách từ Thủ phủ Ninh Thuận đến 3 sân bay này xa nhất chưa đến 150 km, nghĩa
là chỉ khoảng 1 giờ rưỡi chạy ô tô đường cao tốc.
2 Để giải quyết “bài toán nước ngọt” của Ninh Thuận, kinh nghiệm phát triển đô thị hiện đại của Singapore, kinh nghiệm phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Israel và đặc biệt gần đây, kinh nghiệm bùng nổ du lịch và đô thị hiện đại “siêu tốc” và “siêu lớn” của Dubai chắc chắn sẽ đưa ra nhiều gợi ý và cung cấp nhiều giải pháp hiệu quả.
Trang 31truyền thống hiện có cũng như các loại cây con mới) + công nghệ cao cho phép sử dụng nước (tưới tiêu) một cách hợp lý và tiết kiệm (phát triển nông nghiệp công nghệ cao kiểu Nhật Bản hay Israel).
ii) Công nghiệp: Ninh Thuận có ít tiềm năng phát triển công nghiệp Định hướng chủ đạo là công nghiệp điện gió và điện nguyên tử Trong khi nhu cầu nước cho công nghiệp điện gió là không quá lớn thì điện nguyên tử lại cần rất nhiều nước - sẽ phải sử dụng công nghệ lọc nước biển Đây sẽ là vấn đề của Trung ương, của ngành điện nguyên tử
iii) Du lịch: một ngành sử dụng ngày càng nhiều nước ngọt Do đó, định hướng Ninh Thuận nên (và phải) chọn là du lịch hướng tới đẳng cấp cao chứ không phải là du lịch
“đại chúng”, bình dân, với mục tiêu chính là “sản lượng” chứ không phải là chất lượng khách
iv) Xu hướng phát triển đô thị: quá trình đô thị hóa của Ninh Thuận đang bắt đầu khởi động mạnh Kéo theo đó là nhu cầu nước ngọt ngày càng tăng cao Do vậy, chiến lược phát triển đô thị của Ninh Thuận phải tính đến xung đột cung - cầu nước ngọt Có hai phương
án giải quyết cơ bản: một là ngay từ đầu, cần định hướng phát triển đô thị thông minh để
sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nước ngọt; hai là sớm tính đến việc sử dụng công nghệ “chế tạo” nước ngọt từ nước biển và cả từ nước thải
- Nguồn nhân lực: nhìn chung kỹ năng và trình độ còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển hiện đại cả về chất và về lượng Đồng bào dân tộc ít người có tỷ lệ cao trong tổng dân số nhưng trình độ văn hóa thấp Đây cũng là một yếu tố bất lợi phát triển đặc thù Ngoài ra, với số dân ít, tỉnh sẽ khó “tự” đáp ứng nhu cầu nhân lực có khả năng bùng
nổ trong giai đoạn tới, khi các chương trình điện hạt nhân, điện gió và du lịch được triển khai mạnh mẽ Việc phải nhập cư một số lượng lớn lao động sẽ gây ra nhiều vấn đề kinh
tế - xã hội phức tạp, với hệ lụy không nhỏ
- Bất lợi thế về quy mô kinh tế Đây là kết quả của tổ hợp hai yếu tố liên quan trực tiếp
là quy mô dân số và mức thu nhập đầu người bình quân
So với các tỉnh, diện tích đất đai của Ninh Thuận không lớn (3.358 km2) Bù lại, Ninh Thuận có diện tích biển rộng Với chiều dài bờ biển 105 km, Ninh Thuận có vùng lãnh hải rộng 1.800 km2 và vùng đặc quyền kinh tế rộng gần 24.500 km2 Nhưng không thể không lưu ý một thực tế rằng dù có biển rộng, với năng lực hiện tại của tỉnh, về cơ bản, đó vẫn chỉ là một điều kiện phát triển tiềm năng khá xa vời
Trình độ phát triển: còn thấp, thể hiện rõ qua một số chỉ tiêu cơ bản như nông nghiệp
Trang 32đang chiếm tới 50% GDP; mức GDP/người mới chỉ đạt 1.200 USD, trong khi mức bình quân
cả nước đã đạt gần 2.000 USD (số liệu năm 2013), kim ngạch xuất khẩu năm 2012 chỉ mới đạt hơn 70 triệu USD, mà theo cách nói thông thường, “vẫn thấp xa mức tiềm năng”
Tổ hợp hai yếu tố cấu thành trực tiếp - dân số ít, GDP/người thấp - dẫn tới kết quả: quy
mô kinh tế của Ninh Thuận rất bé Đo theo GDP, quy mô kinh tế của Ninh Thuận năm 2013 chỉ tương đương 720 triệu USD Một quy mô thực sự là nhỏ bé
Quy mô kinh tế bé như vậy đồng nghĩa với việc tỉnh không có “lợi thế nhờ quy mô” - một yếu tố rất cơ bản cho công cuộc cất cánh kinh tế.1
Cộng thêm vào những yếu tố “bé” khác - diện tích không lớn, lực lượng lao động không đông, số lượng doanh nghiệp ít ỏi - không khó để nhận ra rằng thực lực kinh tế nội tại của Ninh Thuận còn rất yếu, không đủ mạnh để tập trung thực hiện dù chỉ một cú đột phá để nhanh chóng xoay chuyển tình hình
Mức độ kết nối và liên kết phát triển với bên ngoài yếu (do sức hấp dẫn tự thân chưa cao, độ kết nối với bên ngoài thấp) - càng làm trầm trọng hơn thế yếu của tỉnh do quy mô kinh tế nhỏ gây ra
Chúng tôi cho rằng quy mô kinh tế nhỏ, với cách quan niệm tổ hợp nêu trên, là bất lợi thế phát triển hàng đầu hiện nay của Ninh Thuận Đồng nghĩa với một sự yếu kém thực lực, quy mô kinh tế nhỏ đang tạo thành một trở lực phát triển mạnh mẽ nhất hiện nay Nó đặt giới hạn cho sự vươn lên tự thân; trong khi chính nó là một trong những nguyên nhân chủ yếu giải thích tại sao sức hấp dẫn đầu tư từ bên ngoài vào Ninh Thuận không mạnh Trong điều kiện khó tự mình vươn lên theo kiểu đột phá, thử hỏi nếu không có đủ sức thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, quan trọng nhất là vốn và công nghệ, Ninh Thuận sẽ dựa vào đâu để bứt phá, để tiến vượt lên?
Có thể khái quát vắn tắt: Điểm yếu nhất về kinh tế của Ninh Thuận là quy mô nhỏ, tổng lượng kinh tế thấp, các nguồn lực kinh tế - xã hội (vốn, nhân lực, công nghệ, hạ tầng) yếu Cùng với nó, xuất hiện điểm yếu cơ bản thứ hai: sức hấp dẫn, khả năng thu hút các nguồn lực từ bên ngoài của Ninh Thuận để tăng nhanh “quy mô kinh tế” yếu
Lập luận trên hàm ý: tạo sức hấp dẫn đầu tư và liên kết phát triển với bên ngoài là giải pháp quan trọng bậc nhất để tăng nhanh quy mô kinh tế của Ninh Thuận, nhờ đó, tăng
1 Nhưng xin lưu ý: tuy “nhỏ”, song diện tích của Ninh Thuận vẫn lớn gấp 4,5 lần diện tích Singapore - 718
km 2 Nghĩa là Ninh Thuận vẫn “đủ lớn về diện tích” để tạo ra một sự đột biến phát triển Tất nhiên, đừng quên rằng dân số Singapore lúc “cất cánh” lớn gấp gần 5 lần dân số Ninh Thuận hiện nay Nghĩa là xét theo“quy mô kinh tế” (tổ hợp của số dân và mức thu nhập) lúc “cất cánh”, Ninh Thuận vẫn thực sự nhỏ bé
so với Singapore
Trang 33giải pháp quan trọng bậc nhất để giải quyết bài toán phát triển hiện đại của Ninh Thuận theo logic đột phá mạnh, lan tỏa nhanh để tiến vượt.
4 Tìm kiếm giải pháp đột phá dựa vào lợi thế, định hướng khác biệt và đẳng cấp 4.1 Định hướng chung
Ninh Thuận đi sau Đây là một lợi thế lớn, có giá trị tuyệt đối, cho phép Ninh Thuận học hỏi, xác lập tầm nhìn tốt hơn, lựa chọn hình mẫu phát triển tốt nhất, thể chế hiện đại
để tiến vượt lên Bài học này có ý nghĩa to lớn, nhất là trong việc định hướng cho các nỗ lực phát triển và củng cố ý chí phát triển
Như kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm thành công của các nền kinh tế Đông Á, cho thấy, nền kinh tế đi sau, muốn tiến vượt lên thì không thể sử dụng cách thức
“đi theo” - hiểu theo nghĩa bắt chước, sao chép cách phát triển của kẻ đi trước Trái lại, cần phải đi khác “Đi sau nhưng đi khác” - đó là công thức tổng quát của sự thành công hiện đại.1
Ninh Thuận có sẵn tiền đề, đúng hơn là điều kiện cần để vận dụng công thức thành công đó: đó là các lợi thế tự nhiên khác biệt và vị thế đi sau của tỉnh Các nguồn lực và các điều kiện phát triển bên ngoài để “tiếp ứng” cho sự phát triển của Ninh Thuận nói chung
đã sẵn sàng.2
Vấn đề còn lại là việc Ninh Thuận chuẩn bị các điều kiện bên trong Đó là định hướng phát triển đúng, nguồn nội lực đủ mạnh cùng với thể chế hiện đại và vượt trội
Để thực hiện được yêu cầu này, cách tiếp cận cơ bản là tập trung nỗ lực để tăng “quy
mô kinh tế” của tỉnh, tạo ra “lợi thế nhờ quy mô” để tăng sức hấp dẫn đầu tư Hạn chế của tỉnh do quy mô kinh tế nhỏ gây ra là rất cơ bản Vì thế, nó cần (và chỉ có thể) được giải quyết trước hết và chủ yếu bằng cách cải thiện sự kết nối và liên kết phát triển mạnh của Ninh Thuận với bên ngoài Kết nối tốt bằng hệ thống hạ tầng được nâng cấp căn bản - cải
1 Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan là những ví dụ thành công của việc áp dụng sáng tạo công thức “đi sau nhưng đi khác” để giải quyết vấn đề phát triển của mình và tiến vượt lên Singapore, Các Tiểu vương quốc
Ả rập (nổi bật nhất là Dubai) cũng lựa chọn mô hình phát triển rất đặc sắc, nhưng đều tuân thủ nguyên tắc phương pháp luận “đi sau nhưng đi khác”, nhờ đó, trở thành những hình mẫu phát triển đặc biệt thành công Có lẽ Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ của quy tắc này Nhưng Trung Quốc có lợi thế quy mô kinh tế quá lớn nên trở thành một ngoại lệ của chính quy tắc này.
2 Trong thời đại toàn cầu hóa, cơ bản mọi người đều thừa nhận rằng các điều kiện và nguồn lực “bên ngoài”phục vụ sự phát triển của các nước đi sau - vốn, thị trường, công nghệ, nhân lực đều đã có sẵn Vấn
đề còn lại chỉ là ở chỗ các nước đi sau có thể chế tốt (hiện đại, tốt nhất theo thông lệ quốc tế) và có đủ chính sách “tốt” để “kéo” tất cả các nguồn lực quốc tế đó về phục vụ công cuộc phát triển đất nước mình hay không
mà thôi
Trang 34tạo giao thông đường bộ kết nối trục dọc (đường 1) và trục ngang (nối Đà Lạt) lên đẳng cao tốc; phát triển giao thông hàng hải đúng nghĩa, xây dựng lại tuyến đường sắt Tháp Chàm
- Trại Mát; tạo liên kết phát triển mạnh thông qua chính sách mở cửa với cơ chế thông thoáng, hấp dẫn, mang tính khuyến khích cao Đây là cách thức quan trọng nhất - nhanh
và hiệu quả - để mở rộng quy mô kinh tế của Ninh Thuận
Theo cách tiếp cận đó, xin đề xuất hệ các giải pháp phát triển cho Ninh Thuận trong giai đoạn tới như sau
4.2 Định hướng phát triển đúng
Khẳng định quy hoạch phát triển, kiên trì thực hiện định hướng tập trung ưu tiên chỉ cho một số ít ngành Các nguồn lực xã hội của Ninh Thuận - vốn, nhân lực, công nghệ- là rất khan hiếm, khả năng thu hút đầu tư từ bên ngoài chưa cao nên nhất thiết phải tập trung ưu tiên thể chế và tạo khuyến khích đủ mạnh để hướng dòng đầu tư vào chỉ một số ít ngành có lợi thế Những ngành này phải dựa chắc vào lợi thế vốn có, trong đó nhấn mạnh tính đặc sắc, sự khác biệt và tiềm năng vươn lên đẳng cấp cao Cho đến nay, Ninh Thuận
đã xác định rõ chỉ 3 nhóm ngành ưu tiên đột phá: điện gió, du lịch và một số ngành nông nghiệp đặc sản - đặc hữu
Sự lựa chọn ít ngành ưu tiên như vậy là đúng Ninh Thuận phải kiên trì sự lựa chọn này, tránh việc chạy theo quá nhiều mục tiêu ưu tiên theo kiểu “chiến lược quả mít”.1.1 Tận dụng việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân để cải thiện căn bản hạ tầng kết nối, định hình khung khổ thể chế hỗ trợ phát triển (bù đắp thiệt thòi) cho các ngành trong tỉnh, xác lập thể chế và các hoạt động đầu tư liên quan đến việc bảo đảm an toàn phóng xạ từ sớm Cam kết có tính nguyên tắc là không được gây tổn hại đến hoạt động kinh tế - xã hội bình thường, tạo điều kiện để Ninh Thuận phát huy tốt hơn các lợi thế không nhiều nhưng đặc sắc của mình, coi đây như một sự “bồi hoàn” hay “bù đắp” cho việc thực hiện “sứ mệnh quốc gia” có tính rủi ro
Thêm vào đó, Ninh Thuận có thể đề xuất một số giải pháp“ưu tiên” đặc thù để tăng cường kết nối, lôi kéo các nguồn lực từ bên ngoài Một trong những đề xuất đó là cho phép Ninh Thuận không đánh thuế thu nhập cá nhân để lôi kéo các chuyên gia hàng đầu về tham gia các dự án phát triển Ninh Thuận
1.2 Thúc đẩy các dự án điện gió Cơ hội để thúc đẩy hiện nay đang bộc lộ rõ qua hai sự kiện Một là cơ chế giá điện mới, trong đó, nhà nước bảo đảm thu mua giá điện gió ở mức cao hơn, có lợi cho nhà sản xuất điện vừa được ban hành Đây là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy việc khởi động thực sự các dự án này Hai là việc thực hiện nguyên tắc “mua bán chỉ
Trang 35Rõ ràng đã đến lúc Ninh Thuận thúc đẩy mạnh các dự án điện gió để khai thác lợi thế Cần coi đây là một nhiệm vụ ưu tiên trong chương trình hành động của tỉnh trong giai đoạn tới.
1.3 Quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh đã được xây dựng và phê duyệt Tuy nhiên, cần có chương trình thúc đẩy việc nâng đẳng cấp toàn bộ hệ thống du lịch Ninh Thuận theo tinh thần đáp ứng cao nhất hai yêu cầu “khám phá” và “tận hưởng” Tài nguyên du lịch của tỉnh, khả năng kết nối tour tuyến với bên ngoài bảo đảm cho du lịch Ninh Thuận các điều kiện để xây dựng một ngành du lịch “khám phá” và “tận hưởng”
1.4 Việc phát triển các đặc sản nông nghiệp của Ninh Thuận - dựa vào công nghệ cao
và sạch - cần được đặt thành một nhiệm vụ chiến lược từ góc nhìn kết nối Ninh Thuận với thế giới bên ngoài, trong đó, hướng quan trọng nhất chính là thông qua phát triển du lịch
và phục vụ du lịch đẳng cấp cao
1.5 Cách tiếp cận “vươn lên đẳng cấp cao” của Ninh Thuận, trước hết trong các lĩnh vực
ưu tiên, vừa là điều kiện thúc đẩy, vừa là yêu cầu để thu hút các nguồn lực tương xứng từ bên ngoài vào đầu tư phát triển Việc thu hút đầu tư, xuất phát từ đó, thay vì cách làm truyền thống (quảng bá đại trà, được chăng hay chớ, thiếu mục tiêu ưu tiên, không rõ yêu cầu đẳng cấp), cần chuyển sang hoạt động “săn tìm” các nhà đầu tư chiến lược và có đẳng cấp.Chỉ có như vậy, Ninh Thuận mới thu hút được dòng đầu tư có chất lượng, tương xứng với các lợi thế vốn có “đẳng cấp cao” và với kỳ vọng phát triển mà Ninh Thuận đặt ra cho mình.1.6 Ninh Thuận cần sớm có chương trình khảo sát, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, nhất
là ở các mẫu hình thành công Singapore, Dubai có thể cung cấp cho Ninh Thuận những bài học phát triển đặc biệt hữu ích - về tầm nhìn, về quy hoạch phát triển, về thiết kế hệ thống thể chế
Trang 36PHÁT TRIỂN CÁC QUAN HỆ LIÊN KẾT VÙNG - ĐIỀU KIỆN
KHAI THÁC LỢI THẾ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH NINH THUẬN1
1 Khái quát về sự phát triển liên kết vùng
Phát triển quan hệ liên kết vùng, trong đó có quan hệ liên kết giữa các tỉnh trong một quốc gia, là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển Mỗi vùng bất kể quy mô và trình độ phát triển đến mức nào cũng đều có những lợi thế và yếu thế nhất định về tự nhiên, kinh
tế và xã hội so với các vùng khác Phát triển quan hệ liên kết vùng dưới những hình thức thích hợp là cách thức hữu hiệu để phát huy lợi thế, hạn chế yếu thế, tạo nên thế bổ sung,
hỗ trợ nhau trong quá trình phát triển Nếu tổ chức tốt các quan hệ liên kết, mỗi vùng sẽ khắc phục được tình trạng phân tán, dàn trải, để phát triển theo hướng chuyên môn hóa
và từ đó phát huy được hiệu quả kinh tế theo quy mô
Đó là những vấn đề đã được khẳng định về lý thuyết, nhưng trong thực tế ở Việt Nam, các quan hệ liên kết vùng, liên kết giữa các tỉnh còn hết sức yếu ớt, một số quan hệ mang tính hình thức và chưa phát huy được tác dụng mong muốn Với thể chế kinh tế và phân cấp quản lý hiện nay cùng với tư duy nhiệm kỳ, tính cục bộ bản vị địa phương đã dẫn đến tình trạng 63 tỉnh, thành phố được coi là “63 nền kinh tế” do xu hướng phát triển “khép kín” trong phạm vi địa phương
1 Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ liên kết được phát triển dưới nhiều hình thức đa dạng với những phạm vi khác nhau Bài viết này giới hạn vào một số khía cạnh của liên kết vùng theo nghĩa liên kết giữa các địa phương (các tỉnh) trong phạm vi một quốc gia.
?gS.TS Nguyễn Kế Tuấn
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 37- Tình trạng rầm rộ phát triển đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng (bến cảng, sân bay…), khu đô thị, khu công nghiệp ở tất cả các địa phương Tình trạng này đồng nghĩa với việc dàn trải và hiệu quả thấp trong đầu tư phát triển
- Tính tương tự trong cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu sản phẩm chủ lực của các địa phương do chỉ chú ý xác định và khai thác các nguồn lực ở địa phương Hệ lụy tất yếu của tình trạng này là các chủ thể kinh tế gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa và sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường
- Đã xuất hiện tình trạng tranh chấp tài nguyên và đùn đẩy trách nhiệm trong việc xử
lý ô nhiễm môi trường giữa các địa phương có ranh giới liền kề nhau
- Các tỉnh, thành phố thực hiện riêng rẽ hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại
ở trong và ngoài nước
- Tình trạng cạnh tranh giữa các địa phương trong việc thu hút đầu tư bằng việc tạo
ra những ưu đãi đặc biệt với các nhà đầu tư, thiếu cân nhắc tính toán lợi ích trước mắt và lâu dài, lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia…
Sự phát triển mang đậm nét “biệt lập, khép kín” này sẽ không phát huy được đầy đủ
và có hiệu quả các lợi thế đặc thù, không hạn chế được những yếu thế cố hữu, làm ảnh hưởng tiêu cực đến sức mạnh kinh tế của địa phương và của quốc gia
Nhằm khắc phục tình trạng này, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011
- 2020 được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra yêu cầu: “Rà soát, điều chỉnh,
bổ sung quy hoạch và có cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nước cùng phát
triển, phát huy lợi thế của từng vùng, tạo sự liên kết giữa các vùng”.1
2 Nhận diện lợi thế và yếu thế, cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Thuận
Trên cơ sở tổng hợp tài liệu từ các nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu là Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, cũng như các quy hoạch ngành (công nghiệp và thủ công nghiệp; nông, lâm, ngư nghiệp; du lịch) đã được phê duyệt, xin tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Thuận trong ma trận SWOT (Strengths - Điểm mạnh; Weaknesses - Điểm yếu; Opportunities - Cơ hội; Threats - Nguy cơ) dưới đây
1 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, tr.119.
Trang 38ĐIỂM MẠNh (S) ĐIỂM YẾu (W)
- Vị trí địa kinh tế - chính trị thuận lợi;
- Điều kiện phát triển kinh tế biển;
- Đất đai và một số khoáng sản;
- Các công trình văn hóa và bản sắc văn hóa;
- Nền tảng vật chất ban đầu được tạo ra
trong những năm đổi mới;
- Quyết tâm của lãnh đạo trong việc tạo phát
triển đột phá…
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội;
- Cơ cấu kinh tế lạc hậu và chuyển dịch chậm;
- Chưa có sự kết nối với các địa phương khác trong phát triển kinh tế;
- Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI);
- Chất lượng nguồn nhân lực;
- Cơ sở hạ tầng (giao thông; cấp thoát nước);
- Khí hậu khắc nghiệt…
- Chủ trương phát triển một số công trình hạ
tầng cơ sở trọng điểm quốc gia kết nối vùng
(đường sắt, đường bộ);
- Chủ trương đầu tư xây dựng 2 nhà máy
điện hạt nhân quy mô lớn, kỹ thuật hiện
đại;
- Các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế của
đất nước;
- Năng lực phát huy điểm mạnh, nắm bắt
cơ hội và hạn chế điểm yếu;
- Tình trạng cạnh tranh gay gắt trên thị trường;
- Năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Việc xây dựng chính xác ma trận SWOT có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo lập luận cứ khoa học để xác định đúng đắn phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương
Từ ma trận SWOT của tỉnh Ninh Thuận đã được phác họa khái quát trên đây, xin nhấn mạnh mấy điểm:
- Các lợi thế của tỉnh Ninh Thuận chủ yếu tồn tại dưới dạng tiềm năng trong việc phát triển các trọng điểm về công nghiệp, nông - ngư nghiệp và du lịch Việc khai thác và phát huy tiềm năng này vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh phụ thuộc vào nhiều điều kiện, trong đó có hai điều kiện cơ bản: 1/ Tính năng động và hiệu quả của các cấp ủy Đảng và chính quyền tỉnh trong lãnh đạo và quản lý điều hành; 2/ Sự sẵn sàng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước với việc khai thác tiềm năng của tỉnh Hai điều kiện này có quan hệ tương hỗ, ước định lẫn nhau: nhà đầu tư mong muốn thực hiện đầu tư để thu lợi cho mình
và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh khi có sự ủng hộ, tạo điều kiện và “đồng
Trang 39lợi trong khuôn khổ các quy định của luật pháp và phù hợp với định hướng phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh
- Trong khi phần lớn các điểm mạnh của tỉnh Ninh Thuận tồn tại dưới dạng tiềm năng, thì các điểm yếu lại đang hiện hữu Các điểm yếu này cũng đồng thời là các khó khăn cản trở lớn với việc thực hiện mong muốn có sự phát triển đột phá về kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Trong những loại khó khăn cản trở ấy, có loại có thể khắc phục trong ngắn hạn với nguồn lực đầu tư không lớn (chẳng hạn, cải thiện các tiêu chí xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - PCI), có loại đòi hỏi phải có thời gian và nguồn lực đầu tư lớn (chẳng hạn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế)
- Các cơ hội phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh có được chủ yếu từ sự quan tâm, hỗ trợ ngày càng nhiều hơn của Trung ương với tỉnh Ninh Thuận Các cơ hội này là hiện thực thể hiện qua những quyết định về chủ trương đầu tư trên địa bàn tỉnh các công trình trọng điểm quốc gia có quy mô lớn và phạm vi ảnh hưởng rộng Việc hiện thực hóa các cơ hội này
và phát huy vai trò của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh phụ thuộc vào: 1/ Khả năng và điều kiện cân đối các nguồn lực của Nhà nước cho việc thực hiện các công trình trọng điểm quốc gia; 2/ Khả năng của tỉnh trong việc bảo đảm các điều kiện tại chỗ cho việc triển khai các công trình này và phát huy ảnh hưởng lan tỏa của chúng tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh
Từ những nội dung trình bày trên có thể thấy, tính năng động, sự nỗ lực chủ quan của tỉnh Ninh Thuận là yếu tố quyết định trong việc thực hiện yêu cầu tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Đó là vấn đề mang tính nguyên lý, song trong thực tế, sự nỗ lực ấy chỉ có thể mang lại kết quả mong muốn khi tạo lập được các quan hệ liên kết có hiệu quả và bền chặt với các chủ thể ở các địa phương khác Quan hệ liên kết này là điều kiện để phát huy lợi thế, biến tiềm năng thành hiện thực, tranh thủ các cơ hội
và hạn chế các điểm yếu của tỉnh Ninh Thuận trong phát triển kinh tế - xã hội
Đáng tiếc là, mặc dù thừa nhận “Tính kết nối với trung tâm kinh tế lớn như Thành phố
Hồ Chí Minh và Đà Nẵng còn hạn chế”, nhưng các giải pháp đề ra trong các quy hoạch đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt, các giải pháp về thiết lập và phát triển các quan hệ liên kết vùng chưa được chú trọng đúng mức
3 Một số khuyến nghị phát triển quan hệ liên kết của tỉnh Ninh Thuận với các địa phương trong nước
* Đổi mới nhận thức về tư duy phát triển vùng và liên kết vùng
Trang 40Nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí của phát triển kinh tế vùng trong hệ thống kinh tế quốc dân và vai trò của liên kết vùng trong hệ thống các quan hệ quản lý kinh tế vĩ mô, nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quan điểm phát triển chung và vì lợi ích phát triển toàn cục, quốc gia, trong đó có lợi ích kinh tế - xã hội của từng địa phương Điều cần thiết
là khắc phục tư tưởng bản vị, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, xây dựng tinh thần sẵn sàng chia sẻ cơ hội và kinh nghiệm phát triển giữa các địa phương
Sự đổi mới này trước hết phải từ cấp lãnh đạo cao nhất của tỉnh Từ sự đổi mới tư duy nhận thức này, chủ động nghiên cứu và thiết lập quan hệ liên kết với các địa phương khác theo nội dung và hình thức thích hợp Đó là cơ sở để chỉ đạo điều hành hoạt động của các bộ phận trong bộ máy các cơ quan Đảng và chính quyền, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
* Đa dạng hóa các nội dung, hình thức và chủ thể liên kết trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh
Tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng của các chủ thể trên địa bàn, các quan hệ liên kết
- Liên kết trong các hoạt động xúc tiến thương mại và xúc tiến đầu tư; liên kết trong việc thực hiện các chương trình khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư
- Liên kết trong trao đổi kinh nghiệm phát triển và quản lý thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
- Liên kết, phối hợp trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
- Liên kết, phối hợp trong nghiên cứu khoa học giải quyết các vấn đề có tính chất phổ biến của nhiều doanh nghiệp…
Các chủ thể tham gia liên kết vùng là các chủ thể có nhu cầu và có khả năng phối hợp với các chủ thể khác để giải quyết có hiệu quả các vấn đề đặt ra Đó là các tổ chức kinh doanh, hiệp hội ngành nghề, cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ, cơ quan quản lý nhà nước…