1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch tỉnh An Giang trong xu thế hội nhập

142 975 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch phát triển đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh, khôi phục các làng nghề truyền thống, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC Nội dung Trang

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Cấu trúc lận văn 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 11

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 11

1.1.1 Lý luận chung về hoạt động du lịch 11

1.1.2 Điều kiện để phát triển du lịch 19

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển du lịch 27

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 29

1.2.1 Thực tiễn phát triển du lịch của Việt Nam trong xu thế hội nhập 30

1.2.2 Thực tiễn phát triển du lịch của Đồng bằng Sông Cửu Long 33

1.3 PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG XU THẾ HỘI NHẬP35 1.3.1 Lý luận chung về phát triển du lịch trong xu thế hội nhập35 1.3.2 Du lịch Việt Nam trong xu thế hội nhập38 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 39

2.1 CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG 39

2.1.1 Vị trí địa lý 39

2.1.2 Điều kiện về tài nguyên du lịch 39

2.1.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 48

2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG 52

Trang 3

2.2.1 Các hoạt động theo ngành 52

2.2.2 Các hoạt động theo lãnh thổ 63

2.3 CÁC GIẢI PHÁP TỈNH AN GIANG ĐÃ THỰC HIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 70

2.3.1 Tuyên truyền, quảng bá 71

2.3.2 Quy hoạch phát triển du lịch 71

2.3.3 Liên kết phát triển du lịch 73

2.3.4 Đào tạo nguồn nhân lực 73

2.3.5 Mời gọi đầu tư 73

2.3.6 Đối ngoại 74

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG 74

2.4.1 Những thành tựu đạt được 74

2.4.2 Những hạn chế 76

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 78

3.1 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU 78

3.1.1 Quan điểm phát triển 78

3.1.2 Mục tiêu phát triển 78

3.2 DU LỊCH AN GIANG TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ80 3.3 THIẾT LẬP MA TRẬN SWOT 82

3.4 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN 85

3.4.1 Định hướng phát triển thị trường sản phẩm du lịch 85

3.4.2 Định hướng đầu tư phát triển du lịch 86

3.4.3 Tổ chức không gian lãnh thổ du lịch 87

3.5 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG 89

3.5.1 Cải thiện hệ thống quản lý nhà nước về du lịch 89

3.5.2 Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển du lịch 90

3.5.3 Đẩy mạnh công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch 90

3.5.4 Thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch 91

Trang 4

3.5.5 Liên kết vùng, liên kết quốc tế 92

3.5.6 Đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch 93

3.5.7 Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch tạo các sản phẩm du lịch đặc thù 93

3.5.8 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch 94

3.5.9 Kết hợp giữa ngành du lịch với các ngành khác 95

3.5.10 Phát triển đi đôi với bảo tồn và phát huy các giá trị 96

3.6 Một số kiến nghị 96

3.6.1 Đối với Chính phủ và các cơ quan Trung ương 96

3.6.2 Đối với chính quyền địa phương 97

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương UNESCO : Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNWTO : Tổ chức du lịch quốc tế

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

ODA : Vốn hỗ trợ chính thức

FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP : Tổng sản phẩm thu nhập quốc nội

ITDR : Viện Nghiên cứu phát triển du lịch

DLST : Du lịch sinh thái

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BẢN ĐỒ

1 Bản đồ hành chính tỉnh An Giang

2 Bản đồ các khu, điểm du lịch tỉnh An Giang

3 Bản đồ các điểm du lịch nông nghiệp tỉnh An Giang

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

1 Bảng 1.1 Lượng khách du lịch một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

2 Bảng 2.1 Lượng khách du lịch đến An Giang giai đoạn 2006- 2011

3 Bảng 2.2 Cơ sở lưu trú du lịch của An Giang giai đoạn 2006-2011

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 1.1 Hiện trạng khách quốc tế đến Việt Nam (1990-2011)

2 Biểu đồ 2.1 Lượng khách du lịch một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long năm

2011

3 Biểu đồ 2.2 Doanh thu du lịch tỉnh An Giang giai đoạn 2001-2011

4 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh An Giang năm 2011

5 Biểu đồ 2.4 Nguồn đầu tư du lịch An Giang giai đoạn 2006 -2011

6 Biểu đồ 2.5 Lực lượng lao động du lịch tỉnh An Giang giai đọan 2006-2011

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Du lịch là một ngành công nghiệp không khói rất phát triển trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay Lợi ích mà nó mang lại là hết sức to lớn Vì vậy, nhiều quốc gia trên thế giới xác định du lịch là lĩnh vực mũi nhọn để phát triển kinh tế Ở Việt Nam, ngành du lịch tuy còn non trẻ nhưng đã có những bước phát triển nhanh cả về

số lượng và chất lượng, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Những chỉ tiêu về lượng khách, thu nhập, tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳng định vai trò của ngành

Du lịch trong nền kinh tế quốc dân

Cùng với sự phát triển du lịch Việt Nam, du lịch An Giang trong những năm gần đây cũng phát triển mạnh mẽ, là ngành kinh tế quan trọng của Tỉnh, đã được xác định rõ trong Nghi quyết Đại hội Đảng bộ của Tỉnh An Giang là vùng đất nằm phía Tây Nam, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có cơ sở hạ tầng phát triển, có gần

100 km đường biên giới với Campuchia, đường thủy thuận lợi, đáp ứng cho nhu cầu

du lịch Du lịch An Giang với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú đa dạng - nơi có 04 dân tộc sinh sống Kinh, Hoa, Chăm, Khmer An Giang được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến với dãy Thất sơn hùng vỹ và là tỉnh có Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam Đây là lễ hội được nâng cấp thành lễ hội

du lịch cấp quốc gia, hàng năm thu hút hàng triệu lượt du khách đến tham quan

Ngày nay, để ngành du lịch phát triển cần phải hội nhập với thế giới Đối với Việt Nam nói chung và An Giang nói riêng, hội nhập là con đường duy nhất để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, có điều kiện phát huy tốt nhất những lợi thế sẳn có của mình và khai thác những tiềm năng trong việc hợp tác quốc tế Tuy vậy, xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu

mở rộng và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới đã và đang tạo ra những cơ hội to lớn đồng thời cũng là những thách thức đối với sự phát triển du lịch Việt Nam nói chung và An Giang nói riêng Làm thế

Trang 8

nào để tận dụng hết cơ hội và khắc phục những thách thức là vấn đề mà ngành du lịch cần phải quan tâm

Ngành Du lịch An Giang thời gian qua đã hết sức cố gắng, nỗ lực, chủ động hợp tác, hội nhập, giao lưu để ngày càng phát triển Du lịch phát triển đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh, khôi phục các làng nghề truyền thống, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh, quốc phòng, mở rộng giao lưu với bên ngoài, quảng bá giới thiệu đất nước, con người An Giang với bạn

bè thế giới

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành Du lịch An Giang vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẳn có Công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch hiện có quy mô nhỏ, thị trường hẹp, chất lượng sản phẩm các dịch vụ du lịch còn thấp, nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch còn thiếu và yếu, khả năng cạnh tranh còn nhiều hạn chế, chưa chú trọng đến vấn đề phát triển du lịch bền vững…Vì vậy, để du lịch An Giang thực sự phát triển, đòi hỏi phải tìm cách khắc phục một cách có hiệu quả những hạn chế nêu trên, đồng thời phải khai thác bền vững các thế mạnh vốn có Vậy đâu là thực trạng? Đâu là định hướng phát triển? Đâu là những giải pháp để du lịch An Giang trở thành ngành kinh

tế quan trọng? Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu đề tài “Phát triển du lịch tỉnh An Giang trong xu thế hội nhập” là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực thực tiễn cao

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong nước, hiện nay đã có một số đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển du lịch của Việt Nam cũng như phát triển du lịch của từng địa phương cụ thể như: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì nghiên cứu (1991); “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” do Phạm Trung Lương chủ biên (2000), “Báo cáo Hội nhập kinh tế và sự phát triển của Việt Nam” của nhóm nghiên cứu dự án do Ủy ban Châu Âu tài trợ (2009); “Du lịch Việt Nam - Hội nhập

Trang 9

và phát triển” của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam (2007); Luận văn Thạc sĩ “Xây dựng một số tuyến, điểm du lịch ở khu vực phía Tây Hà Nội trong tiến trình hội nhập” của Phùng Thị Hằng (2008), Luận án Tiến sĩ “Phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận” của Đỗ Quốc Thông (2004) Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu, bài báo trong nước viết

về những vấn đề: Du lịch Việt Nam đang trên đường hội nhập, của H H trên Tạp chí

Du lịch Việt Nam (2005); Thương hiệu du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Lê Hải Tạp chí du lịch (2004); Phát triển du lịch Việt Nam trong bối cảnh tích cực, chủ động hội nhập quốc tế của Việt Dũng (2012); Việt Nam trong thế giới toàn cầu hóa của Việt Báo (2007)

Tại An Giang, các công trình nghiên cứu về du lịch như Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh An Giang đến năm 2010 và một số công trình nghiên cứu khác có liên quan đến phát triển du lịch tỉnh An Giang nhìn chung chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống và xây dựng phương pháp luận một cách khoa học

về phát triển du lịch tỉnh An Giang, chưa đánh giá một cách đầy đủ về thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm phát triển du lịch tỉnh An Giang, đặc biệt là trong xu thế hội nhập ngày nay Đề tài “ Phát triển du lịch tỉnh An Giang trong xu thế hội nhập” là một đề tài nghiên cứu độc lập, kết quả của đề tài sẽ có những đóng góp tích cực cho việc phát triển du ịch tỉnh An Giang trong thời gian tới

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu phát triển

du lịch trên thế giới và Việt Nam vào địa bàn tỉnh An Giang nhằm đánh giá tiềm năng phát triển du lịch, kết quả hoạt động du lịch của tỉnh Phân tích thực trạng phát triển du lịch, từ đó đề xuất được những giải pháp để thúc đẩy sự phát triển du lịch tỉnh An Giang trong xu thế hội nhập

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

- Khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch ở Việt Nam và các tỉnh khu vực ĐBSCL trong xu thế hội nhập vận dụng vào việc phát triển du lịch tỉnh An Giang

- Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh An Giang Tập trung nghiên cứu và phân tích các điều kiện phát triển cung du lịch trên địa bàn tỉnh, vì An Giang quan tâm đến việc phát triển du lịch đến, thu hút khách du lịch từ ngoài vào

- Phân tích thực trạng, kết quả hoạt động du lịch và việc khai thác du lịch trên địa bàn tỉnh An Giang

- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch tỉnh An Giang đạt hiệu quả cao và bền vững

4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VỊ NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Tuy nhiên luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh An Giang, từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm phát triển du lịch tỉnh An Giang trong xu thế hội nhập

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung phân tích đánh giá điều kiện phát triển cung

du lịch, kết quả hoạt động du lịch và tìm ra các các giải pháp giúp ngành du lịch An Giang phát triển

- Phạm vi không gian: Đề tài được giới hạn trên địa bàn tỉnh An Giang Bên cạnh đó có sự phân tích cụ thể vào các tuyến, điểm du lịch, cụm du lịch có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển du lịch của Tỉnh Chú ý tới mối quan hệ với các tỉnh lân cận và với tiểu vùng đồng bằng sông Cửu Long

- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu sâu về hoạt động du lịch của tỉnh An Giang giai đoạn 2005- 2010 và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch đến năm

2020

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 11

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài kết hợp rất nhiều phương pháp khác nhau làm cơ sở khoa học cho việc thực hiện luận văn như:

- Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu

- Phương pháp phân tích SWOT

- Phương pháp khảo sát thực địa

- Phương pháp bản đồ, biểu đồ

- Phương pháp dự báo

- Phương pháp chuyên gia

Nguồn tài liệu nghiên cứu bao gồm các thông tin, số liệu, văn bản có liên quan đến phát triển du lịch Trên cơ sở đó luận văn kế thừa, bổ sung, vận dụng, tổng hợp các kết quả thu thập, từ đó đưa ra nhận định chung có liên quan đến việc phát triển ngành du lịch

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Luận văn gồm các nội dung như sau: Phầm mở đầu; phần nội dung; phần kết luận; tài liệu tham khảo và phụ lục Trong đó, phần nội dung gồm có 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch trong xu thế hội nhập Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang trong xu thế hội nhập Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch tỉnh An Giang trong xu thế hội nhập

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN

DU LỊCH TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1.1 Lý luận chung về hoạt động du lịch

1.1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến du lịch

Khái niệm du lịch

Ngày nay, du lịch đã và đang trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến của mỗi quốc gia trên thế giới, là một nhu cầu không thể thiếu ảnh hưởng đến đời sống văn hóa xã hội của con người Hoạt động du lịch có nguồn gốc hình thành

từ rất lâu và được phát triển với tốc độ ngày càng nhanh, tuy nhiên do tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau với sự khác nhau về ngôn ngữ nên cho đến nay nhận thức

về du lịch vẫn chưa thống nhất Theo Giáo sư, Tiến sỹ Berneker - một chuyên gia hàng đầu về du lich trên thế giới đã nhận định: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”

Chính vì thế, có thể thấy nhận thức về du lịch có rất nhiều sự biến đổi, thông qua một số khái niệm tiêu biểu như sau:

Theo Ausher thì du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân, còn viện sĩ Nguyễn Khắc Viện lại quan niệm rằng du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người Trong các từ điển tiếng Việt, du lịch được giải thích là đi chơi cho biết xứ người [18]

Năm 1930, Glusman, người Thụy Sĩ lưu ý rằng du lịch là sự khắc phục về mặt không gian của con người hướng tới một điểm nhất định nhưng không phải là nơi ở thường xuyên của họ [18]

Dưới con mắt của Guer Freuler du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức

Trang 13

khỏe và sự đổi thay của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp của thiên nhiên [18]

Cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải là tất

cả những gì có liên quan đến sự di chuyển của cư dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó nên Kaspar đưa ra định nghĩa: Du lịch là toàn bộ những quan hệ và hiện tượng xảy ra trong quá trình di chuyển và lưu trú của con người tại nơi không phải là nơi ở thường xuyên hoặc nơi làm việc của họ Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của Hunziker và Kraff: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ [18]

Hai học giả Hoa Kỳ, Matheison và Wall gắn kết cả hai cách nhìn nhận về du lịch từ phía người đi du lịch và người kinh doanh du lịch Hai ông viết: Du lịch là sự

di chuyển tạm thời của người dân đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứng những nhu cầu của họ [18]

Qua các định nghĩa trên có thể hình dung được sự biến đổi trong nhận thức

về nội dung thuật ngữ du lịch Một số chỉ cho rằng du lịch là một hiện tượng xã hội,

số khác lại cho rằng đây phải là một hoạt động kinh tế

Từ các cách định nghĩa của các tác giả đã nghiên cứu, có thể nhận thấy rằng,

du lịch là một khái niệm không còn xa lạ trong thế giới hiện đại, nhưng khái niệm

du lịch chỉ mang tính tương đối Do đó, nếu cố gắng đưa ra một định nghĩa chung nhất sẽ rất khó hiểu Có thể sử dụng hai khái niệm sau đây về du lịch để có thể bao quát và định hướng chung

“Du lịch là hoạt động của con người đến và ở tại những nơi ngoài môi trường hàng ngày của họ trong một thời gian nhất định với mục đích giải trí, công

vụ hay những mục đích khác” (WTO - World Tourism Oraginization)

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải

Trang 14

trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Luật Du lịch Việt Nam năm

2005, Điều 4, Chương I)

Khách du lịch

Khái niệm về khách du lịch hay du khách được xuất hiện lần đầu tiên tại Pháp vào cuối thế kỷ thứ XVIII Tuy nhiên cho tới nay tùy theo hoàn cảnh thực tế của mỗi nước khác nhau lại có định nghĩa khác nhau về khách du lịch

Theo định nghĩa của WTO, khách du lịch là những người đi khỏi nơi cư trú của mình từ 24 giờ trở lên và không theo đuổi mục đích kinh tế, Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến tùy theo quan niệm của từng nước [12]

Theo Điều 4, Chương I Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi khác”

Qua nghiên cứu khái niệm khách du lịch của các nước khác nhau, có thể nhận thấy rằng cách hiểu khái niệm khách du lịch của các nước có một điểm chung

đó là: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trù thường xuyên của mình đến một nơi nào đó trong một khoảng thời gian nhất định để nghỉ ngơi, kinh doanh, hội nghị hoặc thăm người thân, không vì mục đích làm công và nhận thù lao từ nơi đến

Khách du lịch được chia làm 2 loại như sau: khách du lịch quốc tế và khách

du lịch nội địa

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, Điều 34 Chương V “Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm

vi lãnh thổ Việt Nam; Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”

Theo Hội đồng Thống kê Liên hiệp quốc ngày 4-3-1993 đã công nhận những thuật ngữ về du lịch như sau:

- Khách du lịch quốc tế (International tourist) bao gồm: Khách du lịch quốc

tế đến (Inbound tourist) gồm những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia

Trang 15

Và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist) gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài

- Khách du lịch trong nước (Internal tourist): Gồm những người là công dân một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi

họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ

du lịch và nghỉ ngơi”

Nguyễn Minh Tuệ cũng cho rằng: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch” [27]

Khoản 4 (Điều 4, Chương 1) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 qui định:

“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu

du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”

Như vậy, tài nguyên du lịch được xem là tiền đề phát triển du lịch Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với du khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao

Trang 16

Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, việc khai thác phụ thuộc vào nhiều điều kiện kinh tế- xã hội, khoa học kỹ thuật, chính trị nên ngày càng được mở rộng Do vậy, tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên du lịch đã, đang khai thác

và chưa được khai thác

* Đặc điểm tài nguyên du lịch

- Tính bất biến về mặt lãnh thổ của tài nguyên du lịch tạo nên lực hút cơ sở

hạ tầng, dòng du lịch tập trung đến loại tài nguyên đó và là thế mạnh đặc trưng của từng địa phương Đối với sản phẩm được tạo ra từ loại tài nguyên du lịch này thì du khách phải đến tận nơi để tận hưởng và thưởng thức

- Tính thời vụ: Việc khai thác các loại tài nguyên du lịch phụ thuộc chủ yếu vào khí hậu và yếu tố tập quán của từng địa phương, chính vì vậy thời gian và thời điểm khai thác không giống nhau và thường xuyên thay đổi trong năm

- Tính phong phú và đa dạng: Nhờ vào đặc điểm này của tài nguyên du lịch

đã tạo nên sự phong phú các sản phẩm du lịch, gia tăng sự hấp dẫn, thu hút khách

du lịch

- Tính dể khai thác: Đa số tài nguyên du lịch thường là do tự nhiên ban tặng hoặc do con người trong quá trình lao động, sản xuất tạo nên Vì vậy để khai thác và

sử dụng các loại tài nguyên này vào việc phát triển du lịch chỉ cần đầu tư tương đối

là có thể trùng tu, tôn tạo, tạo sự hấp dẫn, thu hút khách du lịch

- Khả năng sử dụng nhiều lần: Tài nguyên du lịch có khả năng tái tạo và sử dụng nhiều lần nếu tuân thủ theo các quy định tự nhiên, sử dụng hợp lý và áp dụng những biện pháp bảo vệ chung

* Phân loại tài nguyên du lịch

Việc phân loại tài nguyên du lịch là vấn đề hết sức cần thiết, giúp việc khai thác hợp lý, hiệu quả và mang tính bền vững Vì vậy, hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam có rất nhiều cách phân loại khác nhau

- UNWTO năm 19977 - Tổ chức du lịch thế giới đã phân loại tài nguyên du lịch thành 3 loại, 9 nhóm: loại cung cấp tiềm tàng (gồm 3 nhóm: văn hóa kinh điển,

tự nhiên kinh điển, vận động); loại cung cấp hiện đại (gồm 3 nhóm: đường sá, thiết

Trang 17

bị, hình tượng tổng thể); loại tài nguyên kỹ thuật (gồm 3 nhóm: hoạt động du lịch, cách thức, tiềm lực khu vực)

- Từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, một số tác giả nghiên cứu về du lịch ở Việt Nam đã phân tài nguyên du lịch thành 2 nhóm

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm: các di tích văn hóa lịch sử, các lễ hội, các đối tượng gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức khác [26]

Theo Luật Du lịch Việt Nam, năm 2005, Điểm 10, Điều 4 “Sản phẩm du lịch

là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến

đi du lịch”

Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch

Trong đó tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Còn dịch vụ du lịch, xét dưới góc độ là quá trình tiêu dùng của khách du lịch, có thể tổng hợp theo các nhóm như: Dịch vụ vận chuyển; dịch vụ lưu trú; dịch vụ ăn uống; dịch vụ tham quan, vui chơi giải trí…

* Đăc tính của sản phẩm du lịch

- Tính tổng hợp: thể hiện ở sự kết hợp các loại dịch vụ mà các cơ sở kinh doanh du lịch cung ứng nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ của khách du lịch Sản phẩm du lịch bao gồm các sản phẩm lao động vật chất và các sản phẩm lao động phi vât chất

Trang 18

- Tính không dự trữ: thể hiện ở chỗ sau khi du khách mua sản phẩm, cơ sở kinh doanh du lịch liền trao quyền sử dụng dịch vụ đó cho du khách trong thời gian nhất định

- Tính không thể dịch chuyển được: Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch song song với việc sản xuất ra chúng Chính vì vậy, du khách chỉ có thể sử dụng ở nơi sản xuất ra sản phẩm du lịch, không thể đem đến nơi khác tiêu thụ

- Tính dể dao động: Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, nếu thiếu một điều kiện nào cũng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình trao đổi sản phẩm du lịch, ảnh hưởng đến việc thực hiện giá trị của sản phẩm du lịch

- Tính thời vụ du lịch: Lượng cung sản phẩm du lịch tương đối ổn định trong khi đó lượng cầu thường xuyên thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm tài nguyên du lịch của địa phương, vì vây việc tiêu thụ sản phẩm du lịch mang tính thời vụ

Các loại hình du lịch

- Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ: Du lịch quốc tế, Du lịch nội địa

- Căn cứ theo vị trí địa lí: Du lịch nông thôn; Du lịch thành thị; Du lịch biển;

Du lịch miền núi

- Căn cứ theo hình thức tổ chức: Du lịch cá nhân; Du lịch theo đoàn

- Căn cứ theo phương thức hợp đồng: Du lịch trọn gói; Du lịch từng phần

- Căn cứ theo phương tiện vận chuyển: Du lịch đường bộ; Du lịch đường thủy

- Căn cứ vào mục đích chuyến đi: Theo mục đích chung - Du lịch tham quan,

Du lịch giải trí, Du lịch nghỉ dưỡng; Theo mục đích riêng - Du lịch thể thao, Du lịch

tôn giáo, Du lịch thăm hỏi; Theo trách nhiệm- Du lịch MICE

- Căn cứ theo môi trường tài nguyên: Du lịch văn hóa; Du lịch sinh thái; Du lịch sông nước

1.1.1.2 Chức năng của du lịch

Có thể sắp xếp chức năng du lịch thành 4 nhóm Chức năng xã hội; chức năng kinh tế; chức năng sinh thái; chức năng chính trị

Trang 19

Chức năng xã hội

Du lịch là ngành thu hút số lượng lớn lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương tạo cơ hội cho họ được sinh sống và làm việc ngay trên địa bàn mình với mức thu nhập cao Chính vì vậy, chức năng xã hội của du lịch thể hiện rất rõ ràng ở chỗ, du lịch tạo ra công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo hiệu quả Theo thống kê của UNWTO, lao động trực tiếp và gián tiếp phục vụ du lịch hiện nay chiếm hơn 10,7% tổng lao động trên toàn thế giới Tại Việt Nam, ngành du lịch tạo ra thêm 15.000 - 20.000 chỗ làm việc trực tiếp trong khách sạn, nhà hàng và các

cơ sở dịch vụ du lịch

Chức năng du lịch còn được thể hiện ở việc giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức sống của người dân Trong một chừng mực nào đó du lịch còn có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và tăng cường khả năng lao động của con người Các công trình nghiên cứu sinh học Crivosev, Dorin (1981) đã khẳng định rằng nhờ có chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối ưu nên bệnh tật của dân cư được giảm trung bình 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh đường tiêu hóa giàm 20%

Hoạt động du lịch còn giúp con người tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành các phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn…thể hiện thông qua việc tiếp xúc với các thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời, các di tích lịch sử, các thắng cảnh của quê hương đất nước

Chức năng kinh tế

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, vì vậy sự phát triển du lịch sẽ kích thích các ngành kinh tế khác phát triển như thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, giao thong vận tải…

Du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế các nước Theo thống kê của UNWTO, thu nhập du lịch chiếm trên 10% GDP của thế giới Hơn nữa thu nhập tạo ra trong ngành du lịch là “thu nhập kép”, khi phát triển một cơ sở dịch vụ này sẽ kéo theo sự phát triển của hàng loạt các hoạt động kinh tế

Trang 20

khác.Theo “The Economics of leisure and tourism” (John Tribe) cứ mỗi USD tiêu dùng của du khách sẽ tạo ra khoảng 2 - 3 USD thu nhập gia tăng [12].

Ở một khía cạnh gián tiếp, du lịch còn tác động đến kinh tế của một quốc gia thông qua việc phục hồi sức khỏe, khả năng lao động và đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kin tế rõ rệt [27]

Chức năng sinh thái

Chức năng sinh thái thể hiện ở chỗ tạo môi trường sống ổn định về mặt sinh thái, giúp con người sống hòa mình với thiên nhiên Góp phần vào việc giáo dục người dân địa phương cũng như khách du lịch hiểu và nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ mội trường, bảo vệ tự nhiên, đảm bảo việc sử dụng tài nguyên du lịch một cách hợp lý

Chức năng chính trị

Được thể hiện như một nhân tố cũng cố hòa bình, ổn định chính trị, đẩy mạnh mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người ở các nước khác nhau, khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau, tạo sự hiểu biết lẫn nhau và tình hữu nghị giữa các dân tộc

1.1.2 Điều kiện để phát triển du lịch

Du lịch chỉ có thể phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh thuận lợi nhất định Một địa phương, một vùng, một quốc gia muốn phát triển du lịch đòi hỏi bắt buộc phải đáp ứng được một số điều kiện nhất định

Trang 21

Vị trí địa lý là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch Ý nghĩa của vị trí đối với sự phát triển du lịch thể hiện qua sự ảnh hưởng của nó đến đặc điểm một vài thành phần của môi trường địa lý - khí hậu, mạng lưới thủy văn, thực vật là tiền đề cho sự phát triển các loại hình du lịch khác nhau; nhiều khi chính do vị trí thuận lợi mà quyết định hướng các luồng du lịch tới một nước hay một vùng nào

đó [20]

1.1.2.2 Điều kiện về tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là điều kiện cần thiết để phát triển du lịch Một quốc gia nếu có nền kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển mà không có tài nguyên du lịch thì không thể nào phát triển du lịch

Tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo Khoản 1, Điều 13, Chương II, Luật Du lịch của Việt Nam định nghĩa

“Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích

du lịch”

Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên cũng như các điều kiện văn hóa, kinh tế- xã hội và cũng thường được phân bố gần các tài nguyên du lịch nhân văn Sự phân loại tài nguyên du lịch tự nhiên chỉ mang tính tương đối Thực tế khi tìm hiểu và nghiên cứu theo từng thành phần tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên có các điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, các di sản thiên nhiên thế giới, các điểm tham quan tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố, các thành phần tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên, các quá trình biến đổi chung hoặc có thể được khai thác và sử dụng vào đời sống và sản xuất của con người như địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật, có sức hấp dẫn cho sự phát triển du lịch

* Địa chất, điạ hình

Các quá trình kiến tạo địa chất lâu dài (các quá trình nội sinh) đã tạo nên địa

hình trên bề mặt của Trái Đất cũng như các hoạt động địa chất, địa mạo

Trang 22

Khi nói tới những đặc điểm giá trị địa chất với tư cách là tài nguyên du lịch thực chất là đề cập đến lịch sử phát triển địa chất, các quá trình địa chất, các vận động địa chất qua các thời kỳ lịch sử phát triển của Trái Đất, các hoạt động địa chấn (động đất, núi lửa, sự lún, tạo sơn…) Sự hình thành cấu tạo, sự phân bố của các lớp đất đá, của các loại tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản trong lòng đất

Đối với hoạt động du lịch, tài nguyên địa chất tại các điểm du lịch dựa vào tự nhiên cần nghiên cứu tìm tòi và khai thác là: lịch sử phát triển địa chất, các quá trình địa chất, các vận động địa chất thường xảy ra, cấu tạo, phân bố các lớp đất đá, chất lượng, trữ lượng, sự phân bố của các mỏ nước khoáng

Hình dạng bề mặt đất ảnh hưởng đến du lịch với sự hấp dẫn của danh thắng

tự nhiên, cũng như khả năng xây dựng các cơ sở du lịch thuộc các loại hình khác nhau [20]

* Khi hậu

Là một tài nguyên sớm được khai thác để quy hoạch phát triển du lịch Từ cuối thế kỷ XVIII đến những năm đầu thế kỷ XX đã có nhiều dự án quy hoạch phát triển du lịch trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ở những nơi có khí hậu trong lành, mát mẻ như: Dovos, Crans- Montana, Lesyin ở Thụy Sĩ,…ở Đức, Shimla, Dazilung, Neinitan ở Ấn Độ, núi Thái Sơn ở Trung Quốc; Sapa, Đà Lạt, Bạch Mã,

Ba Vì, Mẫu Sơn, Bà Nà, Tam Đảo ở Việt Nam Các điều kiện của tài nguyên khí hậu khai thác phục vụ cho các mục đích phát triển du lịch khá đa dạng như: tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng; tài nguyên khí hậu phục vụ cho các hoạt động thể thao mùa đông; tài nguyên khí hậu thích hợp cho hoạt động du lịch tắm, lặn biển, thể thao biển,…

Đối với hoạt động du lịch đặc điểm khí hậu sinh học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Các chỉ tiêu khí hậu được quan tâm nhất là nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí Ngoài ra, các chỉ tiêu sinh học khác được chú ý là yếu tố gió, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời Bên cạnh đó, cần lưu ý tới những hiện tượng thời tiết đặc biệt chi phối tới các kế hoạch du lịch Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện

Trang 23

khí hậu khác nhau Để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người các nhà nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu khí hậu sinh học [9]

* Thủy văn

Tài nguyên nước phục vụ du lịch bao gồm nước trên mặt, nước dưới đất và nước khoáng

Nước mặt: sông, hồ, thác nước, các vùng ngập nước ngọt, các vùng nước ven biển

Các điểm nước khoáng, suối nước nóng: các điểm nước khoáng, suối nước nóng là tài nguyên thiên nhiên quý để triển khai các loại hình du lịch, nghỉ dưỡng, tắm khoáng, chữa bệnh Tính chất chữa bệnh của các nguồn nước khoáng được phát hiện từ thời kỳ La Mã cổ đại

* Sinh vật

Tài nguyên sinh vật bao gồm toàn bộ các loài thực vật, động vật sống trên lục địa và dưới nước vốn có sẵn trong tự nhiên và do con người thuần dưỡng, chăm sóc, lai tạo

Tài nguyên sinh vật vừa góp phần cùng với các loại tài nguyên khác tạo nên phong cảnh đẹp, hấp dẫn, vừa có ý nghĩa bảo vệ môi trường như: bảo tồn các nguồn gen, che phủ cho mặt đất, hạn chế hiện tượng xói mòn, xâm thực, rửa trôi, lở đất, trượt đất, lũ quét, lở trượt băng tuyết ở các miền núi, hạn chế được hiện tượng xâm thực, tác dụng tiêu cực của sóng thần, các vùng ven biển Thảm thực vật còn cung cấp chất mùn cho thổ nhưỡng, được coi là máy điều hòa tự nhiên, lọc không khí, làm cho không khí thêm trong lành, mát mẻ

Tài nguyên sinh vật là nguồn cung cấp nhiều loại dược liệu cho việc phát triển loại hình du lịch chữa bệnh và an dưỡng như (tắm thuốc của người Dao Đỏ ở Sapa- Lào Cai); cung cấp nguồn thực phẩm cho du khách Vì vậy tài nguyên sinh vật có ý nghĩa cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch chữa bệnh, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, đi bộ, leo núi, lặn biển, tham quan, nghiên cứu), cùng với tài nguyên nước và địa hình góp phần phát triển du lịch sông nước, miệt vườn

Trang 24

Tài nguyên sinh vật luôn tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qua lại tương hỗ giữa các loài và với các thành phần tự nhiên khác trên cùng một không gian địa lý

Tài nguyên du lịch nhân văn

Theo Điều 13, Chương II, Luật Du lịch Việt Nam định nghĩa “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, các mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể đượcsử dụng phục vụ mục đích du lịch”

Tài nguyên nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn với du khách và

có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn Các giá trị nhân văn được khai thác đối với tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di tích văn hóa - lịch sử, lễ hội, các đối tượng dân tộc học và các giá trị nhân văn khác Tài nguyên nhân văn gồm có tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

* Tài nguyên nhân văn vật thể

Bao gồm các di sản văn hóa thế giới vật thể; Các di tích lịch sử văn hóa, danh thắng cấp Quốc gia và địa phương; Các cổ vật và bảo vật quốc gia; Các công

trình đương đại

Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể thực chất là những di sản văn hóa, hấp dẫn du khách có thể bảo tồn, khai thác vào mục đích phát triển du lịch, mang lại hiệu quả về kinh tế- xã hội và môi trường

Ở Việt Nam, theo luật di sản văn hóa năm 2001 “Di sản văn hóa là những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc các công trình, địa điểm có giá trị lịch sử - văn hóa và khoa học” Di sản văn hóa được phân chia thành

di tích văn hóa - khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hóa nghệ thuật và các danh lam thắng cảnh [9]

* Tài nguyên nhân văn phi vật thể

Trang 25

Gồm di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

- Lễ hội: là một hình thức sinh hoạt văn hóa tập thể của nhân dân sau thời

gian lao động vất vả Lễ hội là dịp để mọi người thể hiện lòng nhớ ơn tổ tiên, những người có công với địa phương và với đất nước, có liên quan đến những nghi lễ, tôn giáo, tín ngưỡng, ôn lại những giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống hoặc hướng

về một sự kiện lịch sử- văn hóa, kinh tế trọng đại của địa phương, của đất nước hoặc là những hoạt động vui chơi giải trí, là dịp để tăng thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng

Lễ hội là tài nguyên nhân văn quí giá, là quốc hồn, quốc túy của dân tộc Lễ hội góp phần cùng với các tài nguyên nhân văn khác tạo ra những giá trị văn hóa đa dạng, phong phú, đặc sắc của mỗi vùng đất, mỗi quốc gia

Nhà nghiên cứu M.Bachie cho rằng: “Thực chất lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động và chiến đấu của cộng đồng dân cư, tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội nếu như nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế của những phương tiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới và cuộc sống thứ thoát li tạm thời, thực tại, hữu hiệu, đạt tới hiện thực, lý

tưởng mà ở đó mọi thứ phát triển đẹp đẽ, lung linh siêu việt và cao cả”

GS.Phan Đăng Nhật cho rằng: “Lễ hội là kho tàng lịch sử khổng lồ, ở đó tích

tụ vô số những lớp phong tục tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện lịch

sử quan trọng của dân tộc Lễ hội còn là bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hoá tinh thần của người Việt Chúng đã sống, đang sống và với đặc trưng của mình, chúng tạo nên sức cuốn hút và thuyết phục mạnh mẽ nhất.”

Lễ hội bao gồm hai phần: phần lễ và phần hội Thời gian diễn ra lễ hội thường khá nhau Nói chung, xuất hiện vào thời điểm thiêng liêng của sự chuyển tiếp giữa các mùa Ở một chừng mực nhất định, lễ hội cũng tạo ra tính mùa của du lịch [12]

Trang 26

- Nghề và làng nghề thủ công truyền thống: Nghề thủ công truyền thống là

những nghề mà bí quyết về công nghệ sản xuất ra các sản phẩm mang những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng triết học tâm tư tình cảm, ước vọng của con người

Nghề thủ công truyền thống là nghề sản xuất mà các nghệ thuật do những nghệ nhân dân gian sáng tạo, gìn giữ phát triển và truyền từ đời này sang đời khác cho những người cùng huyết thống hoặc ở cùng làng bản Nghề thủ công truyền thống là nghề mà các công đoạn sản xuất tạo ra sản phẩm chủ yếu bằng các công cụ sản xuất thô sơ và bằng tài nghệ tinh xảo, khéo léo của các nghệ nhân Các sản phẩm của các nghề thủ công truyền thống không những mang những giá trị sử dụng

mà còn có giá trị về mỹ thuật,, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài nghệ, tâm tư, ước vọng của người làm ra chúng

Khi du khách đến tham quan, nghiên cứu ở các làng nghề thủ công truyền thống, họ không chỉ tìm hiểu, thưởng thức những giá trị nghệ thuật, sản xuất nghề, mua những sản phẩm thủ công quý làm quà cho người thân của mình mà còn là dịp

để du khách có thể tìm hiểu, trải nghiệm, hưởng thụ những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của các làng nghề thủ công truyền thống

- Văn hóa ẩm thực: Mỗi một vùng đất, một quốc gia có điều kiện tự nhiên,

đặc điểm lịch sử phát triển kinh tế- xã hội, văn hóa riêng nên cũng có nhiều món ăn,

đồ uống đặc sản riêng Nghệ thuật ẩm thực là giá trị văn hóa của mỗi quốc gia được sáng tạo, bảo tồn, bồi đắp qua nhiều thời đại, là dấu ấn của mỗi vùng đất với du khách

Người ta nói ăn uống là biểu hiện của văn hóa Mỗi quốc gia có một quan niệm khách nhau và vì vậy hình thành phong cách ẩm thực riêng cho mình Nguyễn Tuân đã từng nói: “Ẩm thực là một dòng chảy không ngừng, không nghỉ như con sông nó đi qua bao tầng nấp, bờ bãi của kinh nghiệm ăn và sống mới phát triển thành nghệ thuật Chủ quan, cảm tính là yếu tố không thể không tránh khỏi Nhưng như mọi hiện diện của đời sống, ẩm thực cũng là một ấn tượng, một thói quen, một

ký ức hay một kỷ niệm”

Trang 27

Nếu như người nước ta chú trọng đến đồ ăn và cách chế biến thức ăn thì đối với người Pháp, thức ăn chỉ là yếu tố tạo nên chất lượng vật chất, còn chất lượng thực sự của bữa ăn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Một cách trang trí bàn ăn độc đáo, một bức tranh trên tường phù hợp, bộ khăn trải bàn mang từ miền đất xa xôi đi cùng với bộ đồ ăn lạ mắt… Tất cả đều mang theo mình một câu chuyện, ẩn chứa một sự tò mò thú vị cho khách Với người Pháp, việc mời một người khách tới là

“chịu trách nhiệm về hạnh phúc của họ trong một thời gian dưới mái nhà của mình” Một bữa ăn truyền thống của người Pháp được sắp đặt như một bản giao hưởng hay

vở kịch có 5 màn gồm: món nguội nhấm nháp, món nhẹ đầu bữa, món chính thường

là thịt và cá, tiếp đến là pho mát và sau cùng là món tráng miệng Theo triết lý của người Pháp: “bữa ăn là duy nhất mà ta không cảm thấy tẻ nhạt nhạt ngay từ lúc đầu”

- Tài nguyên du lịch gắn với văn hóa các tộc người: Tài nguyên du lịch gắn

với văn hóa các tộc người gồm những điều kiện sinh sống, sản xuất, phương thức sản xuất, kiến trúc, trang trí nhà ở, nghề thủ công truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, lễ hội, các phong tục, tập quán với những sắc thái riêng của các tộc người trên những địa bàn sinh sống của họ

Hệ thống giao thông vận tải: Nói đến du lịch là gắn với sự di chuyển, vì vậy

hệ thống giao thông vận tải là rất cần thiết cho Hệ thống giao thông bao gồm đường

bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không…khách du lịch có thể lựa chọn phương tiện phù hợp với nhu cầu của mình

Hệ thống thông tin liên lạc: Bao gồm nhiều loại hình khác nhau như: thông

tin vệ tinh, internet, điện thoại, điện báo, bưu điện…đảm bảo nhu cầu thông tin liên

Trang 28

lạc của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch cũng như khách du lịch trong suốt quá trình di du lịch

Hệ thống điện: Du lịch là hoạt động hưởng thụ, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí

nên nhu cầu sử dụng điện rất lớn Vì vậy các nhà máy điện, cơ cấu mạng lưới điện của địa phương phải đảm bảo khả năng cung ứng điện cho các khu, điểm du lịch, các cơ sở kinh doanh du lịch

Hệ thống cấp thoát nước: Đảm bảo khả năng cung cấp nước, chất lượng

nguồn nước và hệ thống cung cấp nước đáp ứng cho nhu cầu nước sinh hoạt cũng như các dịch vụ du lịch

Dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe: Du lịch là đi nghỉ ngơi, hưởng thụ Vì vậy,

vấn đề này cũng rất cần thiết trong việc phát triển du lịch, tạo sự an tâm cho du khách

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp Vì vậy, việc xây dựng chỉ tiêu bao gồm các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch là một vấn đề hết sức quan trọng, giúp việc đánh giá được đầy đủ và khách quan

1.1.3.1 Chỉ tiêu hoạt động theo ngành

Nguồn khách

Khách du lịch là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá thực trạng

sự phát triển du lịch Một điểm du lịch muốn hoạt động được nhất thiết phải được

sự có mặt của khách du lịch

Thông thường khi đánh giá tiêu chí nguồn khách trước hết cần quan tâm đến tổng lượt khách du lịch qua các năm và tốc độ tăng tưởng bình quân, trong đó có cả khách quốc tế và khách nội địa Tiếp đến là phân tích và xác định mục đích chuyuến

đi du lịch nhằm góp phần cho việc hoạch định quy hoạch chiến lược, định hướng phát triển du lịch cho phù hợp, đem lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh Xem xét cơ cấu khách dưới góc độ phương tiện đi lại, bao gồm đường bộ, đường hàng không, đường thủy,…từ đó làm cơ sở thiết kế các tuyến du lịch hấp dẫn đáp ứng nhu cầu và điều kiện của du khách, góp phần thúc đẩy việc xây dựng nâng cấp

Trang 29

các cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Cuối cùng là xác định được mức chi tiêu và thời gian lưu trú của khách du lịch tại một điểm đến du lịch

Tiêu chí số lượng khách đánh giá được khía cạnh về mặt “lượng”, trong khi

đó mức chi tiêu bình quân và số ngày lưu trú đánh giá về khía cạnh “chất”, mà

“chất” là vấn đề quan trọng cần được quan tâm của ngành, nó thể hiện được kết quả hoạt động du lịch đạt hay không đạt, và đạt ở mức độ nào Chính vì vậy, để đánh giá việc phát triển du lịch không chỉ quan tâm đến việc thu hút lượng khách du lịch mà còn phải tập trung thúc đẩy sự gia tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu bình quân của khách du lịch tại điểm đến

Cơ sở vật chất - kỹ thuật

Đây là điều kiện để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh tiến hành một cách hiệu quả Muốn kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch đòi hỏi phải thể hiện được sự tiện nghi, đa dạng và phong phú của các cơ sở vật chất kỹ thuật tại các điểm đến Cơ sở lưu trú được thể hiện qua số lượng phòng, buồng, công suất sử dụng phòng, phân loại xếp hạng các khách sạn Cơ sở vật chất kỹ thuật còn được thể hiện ở sự có mặt của các khu vui chơi giải trí, mua sắm, cơ sở kinh doanh ăn uống góp phần vào việc cung cấp các dịch vụ cho du khách, là điều kiện để giữ chân du khách ở lại lâu hơn

Doanh thu

Doanh thu du lịch gồm tất cả các khoảng chi của khách từ các hoạt động du lịch như ăn uống, lưu tru, mua sắm, vận chuyển và các dịch vụ khác…nó thể hiện được chức năng kinh tế của ngành du lịch

Nguồn lao động

Chỉ tiêu lao động được đánh giá qua tổng số lao động, mức độ tăng trưởng lao động qua các năm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lao động Đây là một yếu tố quan trọng, đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch, số lượng lao động thể hiện khả năng phục vụ du khách và chất lượng lao động quyết định được sự hài lòng của

du khách

1.1.3.2 Chỉ tiêu hoạt động theo lãnh thổ

Trang 30

Điểm du lịch

Là cấp phân vị thấp nhất, là kết quả đầu ra trước tiên trong hệ thống lãnh thổ

du lịch Các điểm du lịch trước hết được phân tích qua sự có mặt của một loại tài nguyên du lịch nào đó (tự nhiên, văn hóa, lịch sử, hoặc kinh tế - xã hội), cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch và mức độ hoạt động tại điểm du lịch Hai tiêu chí này sẽ quyết định điểm du lịch là điểm đang khai thác hay điểm tiềm năng Dựa vào sự hấp dẫn của tài nguyên và sự hoàn thiện của kết cấu hạ tầng mà người ta xếp hạng các điểm

du lịch quốc gia và điểm du lịch địa phương [8]

Tuyến du lịch

Theo điều 25, Luật Du lịch của Việt Nam định nghĩa “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không” Việc đánh giá tuyến du lịch thường được thông qua các tiêu chí như tên, chiều dài tuyến, các điểm du lịch trên tuyến, thời gian hoạt động của tuyến và các sản phẩm du lịch chủ yếu Tuyến du lịch có thể phân loại thành tuyến du lịch nội tỉnh hay tuyến du lịch liên tỉnh; tuyến du lịch nội địa hay tuyến du lịch quốc tế

Cụm du lịch

Là nơi tập trung nhiều điểm du lịch với mật độ tương đối lớn Các tiêu chí đánh gía cụm du lịch là hạt nhân của cụm, các điểm du lịch, sản phẩm du lịch đặc trưng Việc xác định cụm du lịch là cụm đang hoạt động hay cụm tiềm năng được dựa trên cơ sở đánh giá nguồn tài nguyên, khả năng khai thác và thực trạng hoạt động của các điểm du lịch cùng mức độ liên kết của các điểm trong cụm [5]

Trung tâm du lịch

Là nơi tập trung khá đa dạng các nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng tương đối phong phú và đặc biệt có vai trò thu hút khách du lịch rất lơn Được coi là hạt nhân phát triển du lịch của địa phương Tiêu chí khi phân tích thực trạng của một trung tâm du lịch là nêu được các sản phẩm du lịch của trung tâm và đánh giá vai trò của trung tâm du lịch trong sự phát triển của du lịch địa phương [5]

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Trang 31

1.2.1 Thực tiễn phát triển du lịch của Việt Nam trong xu thế hội nhập

Ngành Du lịch Việt Nam trong suốt chặng đường 45 năm hình thành và phát triển luôn được Đảng và Nhà Nước quan tâm, ở mỗi thời kỳ đều xác định vị trí của

du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phù hợp với yêu cầu cách mạng

Giai đoạn đất nước còn tạm thời bị chia cắt, trong hoàn cảnh chiến tranh

khốc liệt, từ năm 1960 đến 1975, Du lịch ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ các

đoàn khách của Đảng và Nhà nước, khách Du lịch vào nước ta theo các Nghị định thư Để thực hiện mục tiêu này, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số 26/CP, ngày 09/07/1960, thành lập Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương Quản lý nhà nước về Du lịch thuộc chức năng của Bộ Ngoại thương với một Phòng chuyên trách 4 người; năm 1969 chức năng này chuyển về Phủ Thủ tướng; sau đó chuyển sang Bộ Công an Trong điều kiện rất khó khăn của chiến tranh và qua nhiều cơ quan quản lý, ngành Du lịch đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi thử thách, từng bước mở rộng nhiều cơ sở Du lịch ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tam Đảo, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An… Ngành Du lịch đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, phục vụ an toàn, có chất lượng; một lượng lớn khách của Đảng và Nhà nước, các đoàn chuyên gia các nước Xã hội chủ nghĩa anh em vào giúp Việt Nam thực hiện 2 nhiệm vụ là xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước; đồng thời đón tiếp phục vụ, đáp ứng nhu cầu du lịch, tham quan nghỉ mát của cán bộ, bộ đội và nhân dân

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giả phóng, đất nước thống nhất, hoạt động Du lịch dần trải rộng ra các miền Tổ quốc Ngành Du lịch bước vào xây dựng bộ máy

tổ chức và đội ngũ lao động, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, chuẩn bị điều kiện chuyển dần sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ở giai đoạn này, ngành Du lịch hoạt động trong điều kiện đất nước vừa trải qua cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc lâu dài, phải tập trung sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế và phá thế bao vây cấm vận của Mỹ; đồng thời lại phải tiếp tục cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc và Tây Nam

Trang 32

Từ năm 1975 đến 1990, hoà vào khí thế chung của đất nước đã được thống

nhất, ngành Du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quản, bảo toàn và phát triển các cơ sở

Du lịch ở các tỉnh, thành phố vừa giải phóng; lần lượt mở rộng, xây dựng thêm nhiều cơ sở mới từ Huế, Đà Nẵng, Bình Định đến Nha Trang, Lâm Đông, thành phố

Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Cần Thơ… từng bước thành lập các doanh nghiệp du lịch nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu Tháng 6 năm 1978, Tổng cục Du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành Du lịch

Trong giai đoạn này, ngành Du lịch đã phấn đấu vượt qua những khó khăn, thử thách mới, tổ chức đón tiếp và phục vụ khách du lịch quốc tế từ các nước Xã hội chủ nghĩa anh em và các nước khác trên thế giới đến Việt Nam Du lịch đã góp phần tích cực tuyên truyền giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới và tổ chức cho nhân dân đi du lịch giao lưu hai miền Nam - Bắc, thiết thực góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc Thông qua du lịch, thế giới hiểu rõ thêm quan điểm, nguyện vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam sau chiến tranh muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, góp phần phá thế bao vây cấm vận của

Mỹ Về mặt kinh tế - xã hội, ngành Du lịch đã phát triển thêm một bước, hoạt động

có kết quả tốt, đặt nền móng cho ngành Du lịch bước vào giai đoạn mới

Giai đoạn từ 1990 đến nay, cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước ngành Du

lịch đã khởi sắc, vươn lên đổi mới quản lý và phát triển, đạt được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chất luợng, dần khẳng định vai trò, vị trí của mình Chỉ thị 46/CT-TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII

tháng 10 năm 1994 đã khẳng định “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nuớc” Cơ chế chính sách phát triển du lịch từng bước

được hình thành, thể chế hoá bằng văn bản quy phạm phát luật, tạo môi trường cho

du lịch phát triển, nâng cao hiểu lực quản lý

Trang 33

Sau 2 năm sáp nhập vào Bộ Văn hoá - Thông tin, rồi vào Bộ Thương mại, tháng 11 năm 1992 Tổng cục Du lịch được thành lập lại, là cơ quan thuộc Chính phủ Đến tháng 7/2007 Tổng cục Du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch

và đã nhanh chóng củng cố, ổn định tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, khắc phục khó khăn, vươn lên về mọi mặt để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố Trong quá trình cải cách hành chính, đến nay bộ máy quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương có Tổng cục Du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, ở địa phương có 63 Sở Văn hóa Thể tha du lịch

Qua 45 năm hình thành và phát triển, được Đảng và Nhà nước quan tâm, các ngành, các cấp phối hợp, giúp đỡ, nhân dân hưởng ứng, bạn bè quốc tế ủng hộ, cùng với sự cố gắng nỗ lực của cán bộ, công nhân viên toàn ngành, Du lịch Việt Nam đã

có những tiến bộ đáng ghi nhận thực hiện vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

0 1 2 3 4 5

6

Triệu lượt

Năm 1990 Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Năm 2011

(Nguồn: Tổng cục Du lịch Việt Nam)

Biểu đồ 1.1 Hiện trạng khách quốc tế đến Việt Nam (1990-2011)

Lượt khách du lịch không ngừng tăng lên với nhịp độ ngày càng nhanh Từ

Trang 34

nhanh đặc biệt là lượng khách quốc tế, tăng gần 12% so với năm trước, đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ và thành công của sự nghiệp phát triển du lịch Sự tăng trưởng du lịch được xếp là một trong 10 sự kiện nổi bật nhất của đất nước trong năm [24]

Khách du lịch ngày càng tăng kéo theo doanh thu từ du lịch cũng tăng cao nhanh chóng Nếu như năm 1995 doanh thu mới chỉ đạt 8.000 tỷ thì năm 2000 doanh thu đạt 17.400 tỷ, năm 2005 tăng 30.000 tỷ, năm 2010 đạt 96.000 tỷ và năm

2011 con số này đạt đến 110.000 tỷ

Có thể nói hoạt động du lịch của nước ta đã có bước phát triển mới góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước, tạo thêm việc làm, gia tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo; góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, phát triển ngành nghề thủ công; thúc đẩy giao thông, văn hóa, thông tin và giao lưu các vùng miền trong nước và quốc tế Những hiệu quả kinh tế - xã hội mà du lịch đem lại là động lực thúc đẩy đầu tư cho sự phát triển vững chắc của ngành Vận hội mới đang mở ra cho du lịch Việt Nam nhiều cơ hội tốt để đẩy mạnh quảng bá, kích cầu

du lịch, hứa hẹn sẽ đạt được nhiều thành tựu hơn trong thời gian tới [5]

1.2.2 Thực tiễn phát triển du lịch của Đồng bằng Sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vùng đất có 9 con sông cùng đổ ra biển nên được gọi là đất 9 Rồng, nơi có sông nước hữu tình, khí hậu ôn hòa, cây lành trái ngọt quanh năm Vùng châu thổ phì nhiêu rộng lớn được ban tặng bởi dòng Mekong với hệ thống kênh rạch chằng chịt giao thoa cùng núi - rừng -biển- đảo…tạo nên một hệ sinh thái đa dạng với bao cảnh quan xinh đẹp, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng

Từ trước những năm 1990 khái niệm về du lịch còn khá xa lạ ở vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) này, mặc dù những sinh hoạt như đi đây đó, thay đổi môi trường, tìm hiểu, thư giản, vui chơi giải trí, ăn uống mua sắm đã trở thành sinh hoạt khá quen thuộc của người dân trong vùng Đến nay, nhu cầu du lịch

đã được xác định rõ là một nhu cầu văn hóa làm phong phú đời sống không chỉ dành cho người khá giả mà của nhiều đối tượng khác nhau

Trang 35

ĐBSCL, vùng đất có rất nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch, thế nhưng du lịch các tỉnh, thành phố trong khu vực này thời gian qua vẫn còn chậm phát triển so với các khu vực khác trong cả nước…Bên cạnh sự yếu kém về hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng kỹ thuật dịch vụ, số lượng chất lượng nguồn nhân lực thì các tỉnh ĐBSCL do mang nhiều tính chất tương đồng về thời tiết khí hậu, sinh hoạt văn hóa cũng gần gũi, nên các sản phẩm khai thác du lịch của các tỉnh như vườn cây, chợ nổi, đặc sản sông nước… mà phần lớn do tự phát rất đơn điệu, trùng lắp dễ gây nhàm chán cho du khách; nhiều hạn chế trong công tác xúc tiến quảng bá

du lịch, sự bị động thiếu nhạy bén của một bộ phận cán bộ quản lý Nhà nước và của

cả những doanh nghiệp du lịch trên địa bàn cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc chậm phát triển du lịch

Bài toán phát triển du lịch lữ hành của khu vực những năm trước mắt còn nhiều điều phải làm như: quy họach hợp lý hệ thống giao thông, tuyến, điểm du lịch, chọn các loại hình du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng cần có sự phối hợp, liên kết để khai thác các tour du lịch hấp dẫn nối các điểm dừng do mỗi tỉnh, chắt lọc nhằm giới thiệu cái độc đáo riêng có của mỗi nơi, hình thành tour liên hoàn đầy bản

sắc văn hóa, tính cách tinh tế, hồn hậu, hiếu khách của người dân Miệt vườn châu thổ Nam bộ

Xét trên thực tế du lịch ĐBSCL có nhiều điều khá hấp dẫn, không chỉ đối với khách nơi khác, mà kể cả trong vùng, trong nước và nước ngoài, lượng khách vào hàng năm rất lớn, nhưng gần như nghịch lý khi hoạt động lữ hành của khu vực lại rất ít, phổ biến nhất vẫn là khách thuê xe và tự tổ chức, hoặc các chủ xe tổ chức các chuyến theo dạng hợp đồng vận chuyển, và thoải mái trương bảng du lịch trên xe,

mà quản lý nhà nước về du lịch không thể can thiệp, bên cạnh đó là bao nhiêu điều bất cập về an ninh, trật tự, môi trường mà chính quyền nơi đi, nơi đến đều không thể điều chỉnh

Theo số liệu thống kê nắm được thì đến nay hầu như tất cả 13 tỉnh thành đều

đã có ký kết văn bản liên kết du lịch với nhiều hình thức: Liên kết song phương, liên kết đa phương, liên kết cụm, vùng, liên kết với Tp.HCM và một số tỉnh miền

Trang 36

Đông, liên kết với nước bạn Campuchia… Tuy nhiên việc liên kết này vẫn chưa mang lại hiệu quả, còn mang tính hình thức

Bảng 1.1 Lượng khách du lịch một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

An Giang 4.100.000 4.069.609 4.710.430 4.765.000 5.270.000 5.549.087 Kiên Giang 2.561.035 3.131.271 3.308.908 3.853.795 4.320.680 5.067.937 Cần Thơ 543.650 693.055 817.250 820.000 879.800 972.450

Cà Mau 459.530 560.000 670.514 750.000 760.000 800.000 Đồng Tháp 720.542 701.527 961.437 1.130.000 1.184.500 1.313.834

(Nguồn: Sở VHTTDL An Giang và các tỉnh)

Trong bối cảnh hoạt động du lịch ĐBSCL còn manh mún nhỏ lẻ, thiếu tính chuyên nghiệp thì Hiệp hội Du lịch ĐBSCL đã được thành lập như một ngôi nhà chung, một nhạc trưởng, một tiếng nói chung của những người làm công tác du lịch giúp các tỉnh tạo mối liên kết hợp tác chặt chẽ hơn nửa để cùng nhau phát triển trong thời gian tới

1.3 Phát triển du lịch trong xu thế hội nhập

1.3.1 Lý luận chung về phát triển du lịch trong xu thế hội nhập

1.3.1.1 Quan điểm về xu thế hội nhập

Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan đối với Việt Nam Trong bối cảnh khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, mọi quốc gia đều đặt vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế lên vị trí hàng đầu Đây chính là tiền đề quan trọng cho các hoạt động hợp tác song phương, đa phương, tiểu vùng và khu vực trở nên ngày một sôi động trên phạm vi toàn thế giới

Hội nhập kinh tế được hiểu là sự gắn kết nền kinh tế của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các thành viên quan hệ với nhau theo những quy định chung Hiện nay, nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm các khía cạnh: vấn đề về thương mại hàng hóa, về thương mại dịch vụ, về tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và thống nhất Hình thức hội nhập rất đa dạng, chủ yếu hiện nay là các hiệp định thương mại song phương các khối kinh tế khu vực

và liên kết khu vực, các tổ chức kinh tế toàn cầu Quá trình hội nhập diễn ra ở nhiều cấp độ và một nước có thể đồng thời tham gia nhiều hình thức từ tổ chức hợp tác

Trang 37

song phương giữa hai nước đến hợp tác đa phương để hình thành các tổ chức tiểu vùng, các tổ chức khu vực, liên châu lục và các tổ chức toàn cầu [22].

Đánh giá được tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế, từ lâu nhà nước ta

đã ra Nghị quyết 07/NQ/TW về hội nhập kinh tế, nghị quyết xác định mục tiêu khái quát của hội nhập kinh tế quốc tế là: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, trước mắt là thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội 10 năm 2001-2010 và kế hoạch 5 năm 2001-2005” [17]

Việt Nam hiện nay đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hơn bao giờ hết Tính đến năm 2011, chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với

179 quốc gia, có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007

đã đưa quá trình hội nhập của đất nước từ cấp độ khu vực (ASEAN năm 1995) và liên khu vực (ASEM năm 1996, APEC năm 1998) lên đến cấp độ toàn cầu [15]

1.3.1.2 Cơ hội và thách thức trong xu thế hội nhập đối với việc phát triển du lịch

* Cơ hội

- Hội nhập kinh tế quốc tế giúp tiếp thu công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm quán lý tiên tiến trong lĩnh vực du lịch Tham gia được vào sự phân công và hợp tác lao động du lịch trong khu vực và thế giới

- Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, lực lượng kinh doanh du lịch nước ta cũng đã phát triển Hàng trăm khách sạn, khu du lịch cao cấp được xây mới, gia tăng số lượng phòng khách sạn và những sản phẩm du lịch đạt tiêu chuẩn phục

vụ khách quốc tế Công tác xúc tiến, quảng bá, đào tạo nhân lực cũng được đẩy mạnh

- Du lịch Việt Nam đang đứng trước vận hội mới, vị thế Việt Nam đã được nâng lên, "sân chơi" rộng mở và luật chơi cũng rõ ràng Tiến trình hội nhập WTO sẽ thúc đẩy việc cải thiện và mở rộng các mối quan hệ kinh tế song phương, đa

Trang 38

phương giữa Việt Nam và thế giới, góp phần giúp môi trường đầu tư kinh doanh nói chung và trong lĩnh vực du lịch nói riêng của nước ta ngày một thông thoáng hơn, cạnh tranh tự do và bình đẳng hơn Do vậy khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia và huy động được nhiều nguồn vào các hoạt động kinh doanh và phát triển

du lịch Hợp tác với phương châm bình đẳng, liên kết phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước để phát triển

* Thách thức

- Cạnh tranh khốc liệt diễn ra, không chỉ trên thị trường quốc tế mà còn ngay

cả thị trường trong nước Trong điều kiện hội nhập, các biến động của thị trường thế giới tác động rất nhanh, mạnh đến thị trường trong nước Nếu năng lực dự báo không tốt, khả năng phản ứng chính sách không kịp thời và kém hiệu quả, sẽ lúng túng, bị động, dẫn đến rối loạn thị trường du lịch Hội nhập, với việc tăng thu hút đầu tư trong lĩnh vực du lịch, nếu không được thẩm định kỹ lưỡng sẽ dễ xảy ra tình trạng chuyển dịch ô nhiễm môi trường xuyên biên giới Sự bùng nổ thông tin và việc di chuyển thể nhân để triển khai dự án đầu tư cũng tạo ra các thách thức trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ an ninh quốc gia

- Du lịch Việt Nam phát triển ở trình độ thấp Vì thế trong thực tế năng lực cạnh tranh của du lịch nước ta còn thấp bởi dịch vụ chưa đa dạng, cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ phát triển, chất lượng dịch vụ còn kém, giá cả cao, sản phẩm

du lịch ít phong phú Dẫn đến du lịch nước ta chưa giữ chân được khách, kéo dài thời gian lưu trú, tỷ lệ du khách quay lại lần hai còn thấp

- Trình độ và kinh nghiệm quản lý sản xuất của các doanh nghiệp kinh doanh

du lịch còn hạn chế Hội nhập sẽ tạo áp lực rất lớn với doanh nghiệp du lịch Việt Nam trong cạnh tranh Phần lớn doanh nghiệp du lịch của ta thuộc loại nhỏ, chất lượng dịch vụ hạn chế, năng lực quản lý thấp Ðội ngũ nhân lực du lịch thiếu và yếu

về trình độ ngoại ngữ và kinh nghiệm, nhất là thiếu những người có chuyên môn cao Quá trình hội nhập, mở cửa cũng có thể tạo ra nguy cơ phá hoại môi trường và cảnh quan du lịch nếu không có sự quan tâm và những biện pháp quản lý hiệu quả

Trang 39

- Năng suất và hiệu quả kinh tế còn thấp, khả năng cạnh tranh của sản phẩm du lịch còn kém Hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu Trong quá trình hội nhập, Nhà nước chỉ hỗ trợ, tạo môi trường pháp lý thông thoáng và thuận lợi, còn thành công tùy thuộc vào sức cạnh tranh, vào sự năng động của doanh nghiệp Do vậy, đã đến lúc các doanh nghiệp không thể trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước mà phải bắt tay vào cuộc, thật sự tự thân nỗ lực

1.3.2 Du lịch Việt Nam trong xu thế hội nhập

Năm 1981, Du lịch Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức du lịch thế giới (WTO) Năm 1989 là thành viên của Hiệp Hội Du Lịch châu Á Thái Bình Dương (PATA) Với chủ trương đưa du lịch thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung của đất nước, Chính Phủ việt Nam đã thông qua qui hoạch tổng thể phát triển du lịch của cả nước Hợp tác quốc tế, xúc tiến, tuyên truyền quảng cáo về du lịch được chú trọng Việt Nam đã ký 12 hiệp định hợp tác

du lịch với các nước Đông Nam Á, với Trung Quốc, Pháp, Ubekistan, Israel và đang chuẩn bị ký với một số nước khác Nhiều doanh nghiệp Du lịch Việt Nam tham gia PATA, JATA, ASTA và đã có quan hệ làm ăn với 800 doanh nghiệp của trên 50 nước Cả nước có trên 80 công ty lữ hành quốc tế đang hoạt động Số lượng

và chất lượng khách sạn trong vài năm gần đây tăng đáng kể Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách, Du lịch Việt Nam đã huy động nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển cơ sở kỹ thuật nhất là việc xây dựng các khách sạn, nhà hàng, phục vụ 8,9 triệu khách quốc tế và 25 triệu khách nội địa Nhiều dự án hợp tác với nước ngoài về du lịch đang được thực hiện

Phát triển của du lịch Việt Nam theo hướng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn Phát triển du lịch bền vững trên cơ sở khai thác có hiệu quả tài nguyên, đa dạng hóa sản phẩm du lịch Đồng thời tăng cường công tác xây dựng và hoàn thiện

cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống dịch vụ du lịch Từng bước xúc tiến quảng bá, nâng cao hình ảnh của du lịch Việt Nam

Việt Nam chủ động hội nhập trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 40

Chuẩn bị kế hoạch, chiến lược hội nhập một cách cụ thể, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và ngành du lịch Hội nhập theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vai trò của cơ quan quản lý nhà nước là rất quan trọng và cần thiết Cơ quan này có trách nhiệm tạo hành lang pháp

lý, đề ra chính sách định hướng; Xây dựng các nguyên tắc, xác định lộ trình và quản

lý theo dõi Bên cạnh đó, vai trò của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch cũng không kém phần quan trọng Các doanh nghiệp này phải chủ động hội nhập trên cơ sở định hướng của các cơ quan quản lý nhà nước; Tham gia các tổ chức quốc tế, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường năng lực cạnh tranh

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Cơ sở lưu trú du lịch của An Giang giai đoạn 2006-2011 - Phát triển du lịch tỉnh An Giang trong xu thế hội nhập
Bảng 2.2. Cơ sở lưu trú du lịch của An Giang giai đoạn 2006-2011 (Trang 59)
Hình ảnh đặc trưng của cô gái Chăm An Giang - Phát triển du lịch tỉnh An Giang trong xu thế hội nhập
nh ảnh đặc trưng của cô gái Chăm An Giang (Trang 142)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w