ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN QUANG TRUNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH THỜ MẪU TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN QUANG TRUNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH THỜ MẪU TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP PHỦ TÂY HỒ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN QUANG TRUNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH THỜ MẪU TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP PHỦ TÂY HỒ)
Chuyên ngành: Du lịch (Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS DƯƠNG VĂN SÁU
Hà Nội - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả luận văn đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình từ phía các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè cả về tinh thần cũng như kiến thức khoa học
Đầu tiên, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Dương Văn Sáu - người đã hướng dẫn tận tình, tạo cho tác giả động lực mạnh mẽ, say
mê nghiên cứu với ý thức làm việc nghiêm túc trong suốt thời gian qua
Đồng thời, tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Du lịch học - Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu để luận văn này được hoàn thành
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tác giả vượt qua những quãng thời gian khó khăn nhất
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Trung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội (Qua nghiên cứu trường hợp phủ Tây Hồ)” là một công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân Các tài liệu tham
khảo, tài liệu trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác và có đề dẫn nguồn Các kết luận khoa học chƣa đƣợc công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Trung
Trang 5UBND: Ủy ban nhân dân
UNESCO: United Nations Educational Scientific and Cultural
Organiation (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích của luận văn 4
4 Nhiệm vụ của luận văn 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp khoa học của luận văn 6
8 Bố cục của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Những vấn đề chung 7
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 7
1.1.2 Cơ sở lý luận về tín ngưỡng và tôn giáo 16
1.2 Cơ sở thực tiễn của tổ chức hoạt động du lịch 26
1.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức hoạt động du lịch 26
1.2.2 Vai trò của tổ chức hoạt động du lịch 28
1.2.3 Những nội dung cần tiến hành khi tổ chức hoạt động du lịch 29
1.3 Du lịch tín ngưỡng 32
1.3.1 Hoạt động du lịch tại một số thờ Mẫu ở Việt Nam 34
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH THỜ MẪU TẠI PHỦ TÂY HỒ (HÀ NỘI) 41
2.1 Một số tiên đề 41
2.1.1 Vị trí địa lý 41
2.1.2 Lịch sử và truyền thuyết 42
2.1.3 Phủ Tây Hồ trong tâm thức của người Việt ở Bắc bộ 45
2.2 Sự giao thoa văn hóa của tam giáo và tục thờ Mẫu 46
2.2.1 Sự giao thoa của Phật giáo trong tục thờ Mẫu 46
Trang 72.2.2 Giao thoa của Đạo giáo trong tục thờ Mẫu 48
2.2.3 Giao thoa của Nho giáo trong tục thờ Mẫu 48
2.3 Tiềm năng tài nguyên du lịch thờ Mẫu 49
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 49
2.3.2 Tiềm năng về văn hóa phi vật thể trong tín ngưỡng Mẫu 51
2.3.3 Tiềm năng về văn hóa vật thể trong tín ngưỡng Mẫu 53
2.3.4 Vai trò của tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống xã hội 58
2.3.5 Vai trò của tín ngưỡng Mẫu trong hoạt động du lịch 59
2.4 Thực trạng tổ chức hoạt động du lịch tại di tích phủ Tây Hồ 60
2.4.1 Thực trạng về cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật 60
2.4.2 Thực trạng bảo tồn các giá trị văn hóa thờ Mẫu tại phủ Tây Hồ 61
2.4.3 Thực trạng tổ chức quản lý di tích phủ Tây Hồ 62
2.4.4 Thực trạng sinh hoạt tín ngưỡng ở phủ Tây Hồ 64
2.4.5 Thực trạng các dịch vụ du lịch ở phủ Tây Hồ 67
2.4.6 Thực trạng về nguồn khách du lịch tại phủ Tây Hồ 70
2.5 Tác động của du lịch đến các di sản văn hóa 72
2.5.1 Tác động tích cực của du lịch đến di sản 72
2.5.2 Tác động tiêu cực của du lịch đến di sản 74
Tiểu kết chương 2 74
Chương 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH THỜ MẪU TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 75
3.1 Những căn cứ cho đề xuất các giải pháp 75
3.1.1 Căn cứ khoa học 75
3.1.2 Căn cứ thực tiễn 76
3.1.3 Căn cứ pháp lý 77
3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích thờ Mẫu 78
Trang 83.2.1 Giải pháp: Quy trình tổ chức du lịch tại các di tích thờ Mẫu 78
3.2.2 Giải pháp: Ứng xử văn hóa trong di tích thờ Mẫu 83
3.2 3 Giải pháp đào tạo chuyên biệt và phổ cập 84
3.2.4 Giải pháp xúc tiến, quảng bá du lịch 86
3.2.5 Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng 87
3.2.6 Giải pháp liên kết vùng du lịch 88
3.2.7 Giải pháp bảo tồn các giá trị văn hóa 88
3.3 Những kiến nghị nhằm nâng cao tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích thờ Mẫu 90
3.3.1 Đối với cơ quan quản lý 90
3.3.2 Đối với địa phương 91
3.3.3 Đối với các đơn vị kinh doanh du lịch 91
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 9chỉ đạo kịp thời với chủ trương „„Đi vào kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hóa đất nước, tiếp thu những tinh hoa nhân loại, song phải luôn coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không được tự đánh mất mình, trở thành bóng mờ hoặc bản sao chép của người khác” [42, tr.45]
Một trong những ngành kinh tế đóng góp nhiều trong công cuộc đổi mới
và phát triển đất nước giàu mạnh là ngành Du lịch Cũng không ngoài chỉ đạo của Đảng và Nhà Nước nhằm đẩy mạnh được ngành du lịch trong nước đến cộng đồng thế giới thì việc quan trọng trước nhất là phải giữ gìn những giá trị văn hóa dân tộc truyền thống, song cần bảo tồn được tính đặc thù của văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo Với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn phong phú du lịch Việt Nam nói chung và trung tâm
du lịch Hà Nội nói riêng sẽ luôn thu hút được thị phần khách du lịch lớn của thế giới
Nghiên cứu đề tài là góp phần khẳng định được tính chất văn hóa dân tộc và tính sáng tạo trong ngành du lịch Trên thế giới các nước tiên tiến luôn
có những chính sách giữ gìn nền văn hóa và hoạt động quảng bá truyền thông
về nét đẹp riêng biệt đến du khách nhằm thu hút sự đầu tư cơ sở phát triển du lịch, các dự án bảo tồn bản sắc dân tộc và tham quan du lịch nhiều hơn đến các quốc gia khác
Trang 102
Tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích văn hóa mang đậm tính tâm linh như: Chùa, đình, đền, miếu…đặc biệt là các Phủ thờ Mẫu đối với người làm
du lịch và du khách chưa tiếp cận thông tin hoặc có biết nhưng chưa rõ ràng
và đúng theo phong tục tín ngưỡng về những nội dung, các khía cạnh của tục thờ Mẫu của người Việt Hoạt động du lịch mang tính đặc thù trong hệ thống các chương trình du lịch văn hóa tín ngưỡng hiện chưa được khai tác đúng tiềm năng, hoặc chưa được xây dựng một cách có hệ thống và có quy chuẩn
Là một người nghiên cứu về văn hóa - du lịch, một người làm trong ngành du lịch Trên hết là tình yêu đất nước, cùng sự nhiệt tình, say mê muốn tìm hiểu văn hóa, tín ngưỡng dân gian, đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu của
người Việt Tác giả đã nhận thấy rằng đề tài: “Tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội (Qua nghiên cứu trường hợp phủ Tây Hồ), là một vấn đề khoa học cần thiết trong việc tổ chức hoạt động du
lịch đồng thời góp phần quảng bá văn hóa dân tộc Việt
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các công trình nghiên cứu về tục thờ Mẫu đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả Các nhà nghiên cứu như GS Ngô Đức Thịnh, Đặng Văn Lung, Nguyễn Đăng Duy, Đỗ Thị Hảo, Mai Ngọc Chúc, Nguyễn Đình San… đã công bố các công trình nghiên cứu về tục thờ Mẫu đã phần nào đó giải mã những mật mã văn hóa dân gian, lịch sử trải qua các thời
kỳ của dân tộc Có thể kể đến các tác giả và công trình nghiên cứu như:
- Vũ Ngọc Khánh, Tục Thờ Mẫu và Đức Thánh Trần, Nxb Văn hóa
thông tin Cuốn sách với tổng số trang là 245 trang, tác giả nghiên cứu đã chỉ
rõ về thần tích, nguồn gốc và các nghi lễ trong tục thờ Đức Mẫu và Đức Thánh Trần trong tâm thức của người dẫn Việt Nam từ bao đời xưa
- Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam, Nxb Tôn giáo Cuốn sách với
tổng số trang 815 trang bao gồm các phần nội dung nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu của các vùng trên cả nước
Trang 113
- Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, Nxb Hà Nội, Cuốn sách
của tác giả nghiên cứu đã thể hiện quan điểm văn hóa tâm linh với việc đưa ra các khái niệm, quan điểm và hiện tượng trong cuộc sống sinh hoạt tâm linh Cuốn sách bao gồm 313 trang Với các nội dung nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đăng Duy đã cho thấy nét cơ bản trong tín ngưỡng Việt Nam với văn hóa luôn song hành và tương hỗ nhau cùng tồn tại và phát triển
Về tờ báo, tạp chí có thể kể đến bài viết của một số tác giả như:
- Đinh Gia Khánh với bài "Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hoá dân gian ở Việt Nam" (Tạp chí văn học, số 5, tr 7-13, 1992)
- Đặng Văn Lung với bài "Thử tìm hiểu cách xây dựng hình tượng Mẫu Liễu" (Tạp chí Văn học, số 5, tr 24-28, 1992)… Ngoài ra còn nhiều cuộc hội
thảo về tín ngưỡng Mẫu thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu trong nước và
quốc tế tham gia, tiêu biểu là cuộc Hội thảo quốc tế: "Tín ngưỡng Mẫu và lễ hội Phủ Dầy" tổ chức năm 2001 tại Hà Nội
- Phan Thị Thu Thủy, Nguyễn Quang Trung (2010), Tìm hiểu du lịch văn hóa tâm linh trong City Tour Hà Nội, Giải thưởng nghiên cứu khoa học
sinh viên 2009-2010 Bước đầu nhóm tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu về những hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng trên địa bàn Hà Nội với các danh thắng
và di tích văn hóa tâm linh của thủ đô Mạnh dạn đề cập đến những giải pháp trong lĩnh vực du lịch áp dụng với chương trình City tour Hà Nội
- Đường Ngọc Hà (2012), Khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ – Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ
Tác giả đã đề cập nhiều góc gìn của di sản Nho học và đề ra những giải pháp khai thác giá trị di sản phục vụ cho hoạt động du lịch của Hà Nội
- Nguyễn Văn Tú (2011), Tổ chức và quản lý phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp Văn Miếu Quốc Tử Giám, khu di tích Hoàng thành Thăng Long, phủ Chủ Tịch) Luận
văn đã khát quát những thông tin về việc đề cập đến cấp độ quản lý du lịch tại
Trang 12di tích thờ Mẫu hầu như chưa được nghiên cứu Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này
3 Mục đích của luận văn
Luận văn nhằm đóng góp một phần trong việc nghiên cứu những giá trị văn hoá tín ngưỡng dân gian Việt Nam Thông tin nghiên cứu này sẽ trở thành một trong những tài liệu hữu ích trong việc tìm hiểu và nghiên cứu khoa học nói chung và văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng ở Việt Nam
Qua nghiên cứu hoạt động du lịch tại phủ Tây Hồ (Hà Nội) Luận văn đưa ra các Quy trình tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội
Luận văn chỉ ra những ứng xử văn hóa khi du khách tham gia chương trình du lịch hành hương và vãn cảnh trong không gian thiêng liêng tại các di tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội
4 Nhiệm vụ của luận văn
Làm rõ các khái niệm tín ngưỡng, tục thờ Mẫu, những cơ sở hình thành
và tồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
Thực hiện khảo sát thực trạng du lịch tại các di tích thờ Mẫu trên địa bàn
Hà Nội, nhằm thu thập thông tin phục vụ cho luận văn
Quan sát các sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân xung quanh các di tích thờ Mẫu và các điểm du lịch có thờ Mẫu, nhằm đưa ra các quy trình tổ chức
hành hương và tham quan tại các di tích này
Thực hiện thử nghiệm tổ chức một số chương trình tham quan tại các di tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội, nhằm đưa ra những ứng xử đúng đắn với
du khách tham quan tại đây
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 135
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề tổ chức hoạt động du lịch tại các di
tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội Qua nghiên cứu trường hợp phủ Tây Hồ
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của luận văn là duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và
phương pháp liên ngành văn hóa cùng các ngành liên quan văn hóa dân gian,
Sử học, Dân tộc học, Tôn giáo học, Nghệ thuật dân gian, kiến trúc mĩ thuật dân gian Các Phương pháp nghiên cứu:
Phân tích và tổng hợp nghiên cứu tài liệu: Đây là phương pháp thu nhập
thông tin chủ yếu qua sách, báo chí có liên quan đến đề tài
Phương pháp điền dã: Trong quá trình thực hiện nghiên cứu tác giả đề
tài đã đi điền dã thực tế tại các ngôi đền, miếu phủ thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội, để thu thập những thông tin hữu ích, tài liệu, ghi hình, chụp ảnh tìm tư liệu liên quan( bia đá, văn tự, truyền thuyết, giấy chứng nhận…), nhằm giúp cho việc nghiên cứu có tính thực tế cao và giá trị thực tiễn
Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả luận văn có sử dụng phương pháp
phỏng vấn chuyên gia nhằm thu thập thông tin giải thích hiện tượng sự việc
có liên quan đến nội dung nghiên cứu Hệ thống thông tin nội dung trong nghiên cứu khoa học được người nghiên cứu thu thập từ nhiều kênh khác nhau Phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp nghiên cứu khoa học mà
Trang 146
người nghiên cứu thu thập được những thông tin là những nhận định của những chuyên gia, những người nghiên cứu, am hiểu hoặc có liên quan đến đối tượng được nghiên cứu Những nhận định đó có tính bổ trợ cơ sở khoa học cho những lập luận, hay nhận định của tác giả trong nghiên cứu
Phương pháp thử nghiệm: Luận văn có sử dụng phương pháp thử nghiệm
xây dựng các sản phẩm du lịch, chương trình du lịch văn hóa tín ngưỡng trong việc tổ chức hoạt động du lịch từ đó đề xuất giải pháp áp dụng vào thực
tế nhằm kiểm chứng hiệu quả đạt được của vấn đề được đưa ra có tính khả thi
Phương pháp miêu thuật: Khi nghiên cứu đề tài tác giả có sử dụng
phương pháp miêu thuật là việc thuật lại những sự việc, hiện tượng quan sát được hay nói cách khác là sự tái hiện lại những sự vật, hiện tượng, trạng thái con người nghiên cứu tín ngưỡng đã chứng kiến và trải nghiệm
Phương pháp giải mã: Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng
phương pháp giải mã văn hóa nhằm làm rõ các hiện tượng, hình tượng, kiến trúc, mĩ thuật trong tín ngưỡng thờ Mẫu, cung cấp thông tin cần thiết cho nội dung nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Tác giả sử dụng phương pháp
nghiên cứu chuyên ngành du lịch học để khai thác và làm rõ nội dung về tổ chức du lịch, tư vấn, hỗ trợ tổ chức, hướng dẫn các chương trình du lịch tới du khách tham quan Bên cạnh các phương pháp nêu trên tác giả còn sử dụng một số phương pháp khoa học khác nhằm hỗ trợ thực hiện đề tài một cách hiệu quả nhất
7 Đóng góp khoa học của luận văn
Về mặt khoa học:
Kết quả luận văn sẽ góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng dân gian – tục thờ Mẫu Đồng thời củng cố thêm những hiểu biết về văn hóa tín ngưỡng dẫn gian Hiểu một cách sâu sắc những giá trị văn hoá thông qua tục thờ Mẫu, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về văn hóa - lịch
Trang 15Đề tài còn là nguồn tư liệu khoa học để các nhà nghiên cứu văn hóa, quản lý văn hóa và kinh doanh du lịch khai thác, xây dựng kế họach phát triển tuyến
điểm du lịch văn hoá hấp dẫn trong tục thờ Mẫu
8 Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm các phần: phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo cùng phục lục Bố cục luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Tiềm năng và thực trạng tổ chức hoạt động du lịch thờ Mẫu tại
phủ Tây Hồ (Hà Nội)
Chương 3 Một số đề xuất giải pháp nâng cao tổ chức hoạt động du lịch tại
các di tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong
cuộc sống hiện đại hóa đất nước và nó cũng trở thành một nhu cầu thiết yếu
Trang 168
của xã hội Về lợi ích kinh tế, du lịch đã trở thành một sự bùng nổ, một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước trên thế giới và Việt Nam cũng không là
ngoại lệ Vậy nghĩa từ của Du lịch được hiểu như thế nào trong quá trình đẩy
mạnh tổ chức hoạt động này trong xã hội
Để đáp ứng nhu cầu đó của du lịch người làm công tác du lịch cần phải được đào tạo, cần có vốn hiểu biết về văn hóa, đặc biệt là những hiểu biết về văn hóa liên quan đến du lịch như những di tích lịch sử, những lễ hội, tín ngưỡng dân gian, kể cả văn hóa ẩm thực, văn hóa địa phương dân cư nơi có những điểm tham quan du lịch
“Về nguồn gốc chữ nghĩa, từ du lịch là một từ gốc Hán, thì du lịch có ý nghĩa là đi chơi và trải nghiệm đời sống (du = đi chơi; lịch = trải nghiệm) Như vậy, tự nghĩa gốc từ du lịch đã nói lên mục đích của du lịch không chỉ đi chơi mà còn để học hỏi và trải nghiệm” [32, tr.10]
Du lịch là (kinh tế) 1, Một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực
của con người ở ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật…2, Một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước mang lại hiệu quả rất lớn; du lịch có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và lao động dịch vụ tại chỗ [39, tr.684]
„„Du lịch nhìn chung là Đi chơi và Trải nghiệm Con người biết đi từ thời tiền sử, khi đã đứng được trên hai chân Lúc đầu đi là để kiếm cái ăn, sau là đi công chuyện, đi chơi hoặc kết hợp cả hai” [2, tr.20]
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”[14, tr.15]
Trên đây là một số khái niệm tiêu biểu về du lịch Bên cạnh những quan điểm khác nhau về du lịch cũng có nhiều khái niệm khác nhằm sáng tỏ ý nghĩa của du lịch
Trang 179
1.1.1.2 Du lịch văn hóa
Quan niệm về văn hóa được cho rằng đó chính là toàn bộ những hoạt động, sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Khái
niệm văn hóa được hiểu theo nghĩa nhân văn rất rộng: “Văn hóa bao gồm tất
cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [39, tr.798]
Khái niệm văn hóa cũng được Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
“ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn,
ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hóa” [43, tr.473]
Văn hóa bao gồm hai loại đó là: văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Văn hóa vật thể, là một bộ phận của văn hóa nhân loại, thể hiện đời
sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất: là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người
“Đó là các phương tiện: tài nguyên năng lượng, dụng cụ lao động, công nghệ sản xuất, các công trình kiến trúc phục vụ nhu cầu ăn ở, tâm linh, làm việc và giải trí, các phương tiện tiêu khiển, tiêu dùng…Tóm lại những giá trị thuộc về vật chất đều là kết quả lao động của con người” [39, tr 817]
“Văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể), trong dân tộc học một trong
ba hình thái văn hóa của mỗi tộc người, bao gồm: tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, kiêng cữ, văn học dân gian, âm nhạc hội họa, điêu khắc, giáo dục, nghệ thuật dân gian, các tri thức khoa học, các nghi lễ, lễ hội, thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu” [39, tr 818]
Trang 1810
Qua đó, chúng ta cũng có thể quan niệm: “văn hóa du lịch”, là một hiện tượng khách quan Văn hóa và du lịch đều có những mối quan hệ mật thiết, chúng tương tác với nhau, cùng phát triển duy trì sự bền vững Du lịch và văn hóa có những mối tương tác qua lại với nhau chúng được thể hiện như sau:
Sự tương tác giữa văn hóa và du lịch
- Các sản phẩm văn hóa khi phục vụ nhu cầu được làm vui và thỏa
mãn du khách qua việc mua sắm
- Thỏa mãn nhu cầu của du khách về tinh thần, văn hóa giao tiếp
của con người bản địa
- Nền nông nghiệp của một nước
- Hệ thống giáo dục của đất nước đến du khách
- Các thành tựu về khoa học kỹ thuật tiên tiến
- Ngôn ngữ quốc gia đến các du khách quốc tế
- Hoạt động khí hậu của một quốc gia với du khách
- Tôn giáo và tín ngưỡng của một quốc gia
Sự tương tác giữa ảnh hướng từ du lịch vào văn hóa
- Có thể xâm hại với văn hóa bản địa của một quốc gia
- Có thể do lợi ích trước mắt mà người ta trình diễn văn hóa nghệ
thuật sai lệch với ý nghĩa văn hóa
- Do sự thiếu nhiều hiểu biết, văn hóa bị thương mại hóa, kinh
doanh các sản phẩm văn hóa từ các loại hình du lịch
- Do lợi nhuận dẫn đến sản xuất sản phẩm du lịch hàng loạt, làm cho
du khách nhàm chán và không thích sử dụng chúng
- Văn hóa bản địa bị thay đổi và biến dạng khi bị các văn hóa khác
du nhập vào bản địa quốc gia mình
- Thái độ ứng xử của du khách với cộng đồng dân cư tại nơi tham
quan nghỉ dưỡng
Khái niệm du lịch văn cũng đã được Luật Du lịch thể hiện như sau:
Trang 1911
“ Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với
sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống”.[14, tr.20]
Một số quan điểm khác thì du lịch văn hóa được diễn là hoạt động như sau:
“ Du lịch văn hóa là loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim” [3, tr 8]
Như vậy, du lịch và văn hóa luôn song hành tồn tại và gắn bó mật thiết với nhau để cùng, phát triển và trở thành nguồn tài nguyên du lịch vô giá trong quá trình phát triển du lịch
1.1.1.3 Tổ chức hoạt động du lịch
“Tổ chức là hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội (cá nhân, tập thể) nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của các thành viên; cùng nhau hành động vì mục tiêu chung” [15, tr.722]
Các tổ chức trong xã hội loài người được hình thành, đào thải, phát triển không ngừng theo tiến trình phát triển của xã hội với nhiều hình thức tập hợp, quy mô, nội dung và cách thức hoạt động khác nhau
Các tổ chức trong xã hội hiện đại rất phong phú, đa dạng, được hình thành trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ở từng ngành, từng địa phương, từng cơ sở, có quy mô cả nước Có loại tổ chức được liên kết chặt chẽ, hoạt động lâu dài (đảng chính trị, cơ quan nhà nước, tổ chức Liên hợp quốc, tổ chức ASEAN, vv.) Có loại tổ chức chỉ có hình thức liên kết và nội quy hoạt động đơn giản, linh hoạt Phân loại các tổ chức trong xã hội hiện đại thường là: tổ chức chính trị; Tổ chức chính trị - xã hội; Tổ chức tôn; Tổ chức kinh tế; Tổ chức văn hoá, thể thao vv.)
“Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch” [14, tr 15]
Hoạt động du lịch còn bao gồm cả việc tham quan vui chơi, nghỉ dưỡng
của khách du lịch trong thời gian ấn định tại nơi có nhiều cảnh quan và dịch
Trang 2012
vụ du lịch hấp dẫn Tại đây du khách có nhu cầu du lịch với mục đích tìm hiểu, sự khác biệt ở các địa phương khác nơi mình ở, vừa để thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu văn hóa, khám phá thiên nhiên vừa giải trí ở những vùng đất mới trong thời gian nhất định đó mà không bị lặp đi lặp lại cái mình đã biết
Tổ chức hoạt động du lịch là việc hướng du khách tham gia vào hoạt động tham quan du lịch đã được giới thiệu tổng quát trong các chương trình
du lịch ngay từ khi các nhà kinh doanh du lịch, lữ hành thiết kế và chào bán chương trình đến khách hàng là những cá nhân, tổ chức có nhu cầu đi du lịch
Trong khoa học du lịch khái niệm “tổ chức” cũng được sử dụng với cả hai nghĩa đã đưa ra trên đây “Tổ chức” chỉ những đơn vị thực hiện các hoạt động có liên quan tới ngành dịch vụ du lịch “Tổ chức” với nghĩa thứ hai được
sử dụng như là một quá trình sắp xếp và thực hiện các hoạt động như: ăn, lưu trú, tham quan, hướng dẫn… mà những vấn đề này là những hợp phần tạo nên hoạt động du lịch nói chung
Với đề tài luận văn “Tổ chức hoạt động tham du lịch tại các di tích thờ Mẫu trên đại bàn Hà Nội Nghiên cứu trường hợp Phủ Tây Hồ”, thì khái niệm
về “tổ chức” được nghiên cứu theo nghĩa thứ hai phản ánh đúng hướng và sát
với nội hàm của đề tài
1.1.1.4 Sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch
Thực hiện tổ chức hoạt động du lịch phải kể đến việc nghiên cứu, thực hiện, và sáng tạo ra các loại hình sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của
du khách Hay nói cách khác, chính hoạt động lữ hành là việc xây dựng, bán
và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách
Trang 2113
“ Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi” [14, tr.16]
“Hướng dẫn du lịch là hoạt động hướng dẫn cho khách du lịch theo chương trình du lịch Người thực hiện hoạt động hướng dẫn được gọi là hướng dẫn viên và được thanh toán cho dịch vụ hướng dẫn du lịch.” [14, tr.17]
Đáp ứng nhu cầu khác nhau của du khách, việc đa dạng hóa sản phẩm
du lịch là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của các vùng miền Vì vậy, trong những năm qua ngành du lịch luôn phát huy, sáng tạo đổi mới các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch mới, trong đó phải kể đến loại hình du lịch tín ngưỡng, du lịch tâm linh…thu hút du khách tham gia
1.1.1.5 Hệ thống các di tích thờ Mẫu
Di tích cũng chính là một chữ Hán Việt theo nghĩa là: Di là sót lại, rớt lại,
để lại; Tích: tàn tích, dấu vết Trong đó có Di tích lịch sử - văn hóa là công
trình xây dựng, các địa điểm và các di vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Khái niệm về Di tích được hiểu là: “Di tích là tàn tích, dấu vết còn để lại của quá khứ” [17, tr 28]
Các cơ sở kiến trúc thuộc hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo cũng đều có những nét đặc trưng dễ nhận thấy chẳng hạn như: Thiên chúa giáo thì có kiến trúc nhà thờ phương tây, thành Hoàng làng thì gắn liền kiến trúc thờ tự là ngôi Đình, đối với Phật giáo có kiến trúc là các ngôi Chùa… trong khi đó tín ngưỡng thờ Mẫu cũng có hệ thống thờ tự khang trang, lộng lẫy trong không gian thiêng liêng của thiên nhân đạo Trong đó:
Đền thờ cũng chính là nơi tôn nghiêm, với hệ thống ban thờ đa dạng và được sắp xếp theo nguyên tắc thiết chế riêng của tín ngưỡng thờ Mẫu, thường các ngôi đền được quản lý theo quy mô của cấp nhà nước
Đền thờ: “là một nơi thờ nhiều nhà thờ, ban thờ điện thờ khác nhau là
công trình kiến trúc tín ngưỡng" [11, tr.92]
Trang 2214
Phủ thờ: “Khái niệm trong dân gian ở nước ta được hiểu khác rộng rãi: Phủ là một cõi (cõi trời, cõi đất, cõi nước) Phủ là một nơi thờ gồm nhiều nhà thờ, nhiều điện Phủ có thể thờ ở một ban, một cái tĩnh ở trong nhà, phủ có thể là một khu kiến trúc tín ngưỡng” [11, tr.278]
Hơn nước Phủ là nơi di tích từ xưa các vị thánh Mẫu đã giáng trần hiển linh giúp dân cứu độ muôn loài Thường thì trong các phủ thờ chính là Mẫu Liễu Hạnh và Tam tòa thánh Mẫu như có phủ Tiên Hương (Nam Định), phủ Văn Cát (Nam Định), phủ Nấp (Nam Định), phủ Tây Hồ (Hà Nội), cấp quản
lý là cơ quan nhà nước
Miếu thờ cũng nơi tu cấp lập thờ nhân vật lịch sử, thánh Mẫu Tam tòa Tứ
phủ công đồng,và các bị thần linh khác của tín ngưỡng Mẫu Miếu thường do cấp quản lý của địa phương, dân gian thường gọi là miếu làng
Điện thờ là loại hình kiến trúc tín ngưỡng cấp độ và phạm vi nhỏ hơn
thường được xây dựng theo tư nhân, riêng biệt của một cá nhân hay một nhóm người hưng công xây dựng và chăm nom tu cấp tôn thờ thánh Mẫu và
hệ thống thần linh tín ngưỡng Tứ phủ và Tam phủ Cấp quản lý hoàn toàn là
do cá nhân phụng thờ sùng bái thánh Mẫu
Ở những hệ thống kiến trúc Đền, Phủ, Miếu, Điện nêu trên của các khu di tích đền thờ Mẫu, ngoài việc là nơi thờ tự còn có tiềm năng khai thác du lịch rất rõ rệt Tiềm năng này sẽ được phát huy nếu biết phát huy tốt được lợi thế
đó của thiên nhiên và không gian thiêng liêng được hội tụ nơi đây Để giúp du khách thấy rõ được ý nghĩa và cách ứng xử đúng khi vào đền thờ, tác giả đã tập hợp được những trải nghiệm khi hướng dẫn du khách tham quan, vãn cảnh
du lịch tại các khu di tích văn hóa tín ngưỡng Mẫu
1.1.1.6 Khái niệm về Mẫu
Khái niệm về Mẫu (dân tộc):
Hình ảnh Mẫu, là một biểu hiện của tín ngưỡng dân gian rất phổ biến ở Việt Nam từ Bắc chí Nam Đối tượng thờ cúng là Bà Mẹ được thần thánh hóa, xem như có sức mạnh siêu nhiên, có khả năng ban phước và mang lại sự tốt
Trang 2315
lành cho cá nhân, gia đình và cộng đồng làng xã Cơ sở xã hội của tục thờ Mẫu là vai trò to lớn của nữ giới Việt Nam trải qua lịch sử trường kỳ của dân tộc, trong gia đình ngoài xã hội, trong sản xuất và chiến đấu, trong dựng nước
và giữ nước Theo quan niệm dân gian, có các Tòa (phủ) Thánh Mẫu: Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ, Địa phủ Tục thờ Mẫu Việt Nam quan trọng đến mức chiếm vị trí cao nhất trong Tứ bất tử là thánh mẫu Liễu Hạnh được dân gian tôn xưng
Tục thờ Mẫu và Tam toà Thánh Mẫu có gốc từ tư duy thờ Nữ thần Mẫu
là Nữ thần nhưng không phải tất cả các nữ thần đều là Mẫu, mà chỉ có một số
nữ thần được tôn vinh là Mẫu Danh từ Mẫu là gốc Hán - Việt (母), còn thuần Việt gọi là Mẹ Ngoài ý nghĩa xưng hô thông thường đó, từ ngữ Mẫu và Mẹ
có ý nghĩa rộng rãi tôn vinh những bà Mẹ chung của mọi người
Trang 2416
Khái niệm về Thánh Mẫu:
„„Các vị thánh đứng đầu trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam tòa: Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa, Thiên YaNa…đều được gọi là Thánh Mẫu Các vị Hoàng hậu, Công chúa có tài năng, công lao lớn, hiển linh được tôn xưng là Mẫu: Quốc Mẫu, Vương Mẫu như Ỷ Lan (Hà Nội), ở trong đền thờ Bà Tấm (Hà Nội)” [26, tr 17]
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu với trung tâm là Mẫu Tam Tòa có thứ tự bài
trí theo thiết chế riêng (Bảng1 trong phần phụ lục 1)
1.1.2 Cơ sở lý luận về tín ngưỡng và tôn giáo
Theo các góc độ tiếp cận khác nhau nên có những định nghĩa và quan điểm khác nhau về tín ngưỡn và tôn giáo Song hành tồn tại với lịch sử phát triển loài người, tôn giáo là do con người sáng tạo ra như định nghĩa của L.Phơbách cho rằng: „„Con người tư duy thế nào, được sắp đặt thế nào thì Chúa của họ cũng là thế Ý thức về Chúa là ý thức mà con người rút ra từ bản thân nó” Một quan điểm khác đưa ra:
„„Sự khổ ải tôn giáo vừa là sự biểu hiện sự khổ ải hiện thực, lại vừa là sự phản kháng lại sự khổ ải hiện thực đó Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của trạng thái không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân của minh”.[35, tr.79]
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển hàng ngàn năm nay Trong quá trình tồn tại và phát triển, dù chủ ý hay tự nhiên, tôn giáo đã tác động khá sâu sắc và toàn diện đến đời sống xã hội, từ thiết chế chính trị đến pháp luật; từ văn hóa, xã hội đến tâm lý, đạo đức, lối sống; từ các quan điểm triết học nhận định thế giới đến những ứng xử xã hội; từ các dạng thức nghệ thuật đến phong tục, tập quán… của nhiều quốc gia, dân tộc Ở nước ta, tôn giáo là vấn đề lớn liên quan đến chính sách luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện
Trang 2517
Cũng như ở nhiều quốc gia khác, tôn giáo ở Việt Nam rất đa dạng, có sự xuất hiện của hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới, như Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo,…,và nhiều tôn giáo nội sinh khác Bản thân mỗi tôn giáo chứa đựng nội dung phong phú về lịch sử, tư tưởng, triết học, đạo đức, văn hóa… riêng biệt Việc tìm hiểu sâu để có cái nhìn tổng quát về các tôn giáo không chỉ ở trong nước và trên thế giới, về phía các tổ chức tôn giáo là để củng cố, phát triển tôn giáo mình trong tính nhân văn, tình đoàn kết, sự thân hữu Đó là điều cần thiết trong bối cảnh xã hội hiện nay, đặc biệt trong việc phát huy các giá trị nhân bản, ưu việt của các tôn giáo vì mục đích chung phục vụ cuộc sống hòa bình và sự phát triển của xã hội
1.1.2.1 Phật Giáo
Vị Giáo chủ sáng lập ra đạo Phật là Phật Thích Ca Mâu Ni (Sàkyàmuni), lấy ý nghĩa Ngài là một bậc trí tuệ trong giòng họ Thích Ca Tên chính của Ngài là Cù Đàm Tất Đạt Đa (Gautama Siddhàtha) Cù Đàm nghĩa là Giác Giả (Budha), hay là Thế Tôn (Bhagavat) Giác Giả và Thế Tôn là danh hiệu tôn xưng về đức độ của Ngài Giòng họ Thích Ca cư trú ở nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), thuộc phía Bắc Trung Ấn
Sau những ngày tu hành khổ cực, Thái Tử đến dưới cây Tất-bà-la (Pippala, tức là cây Bồ-đề, Bodhydruma) ở Già Da (Yàyà) rải cỏ cát tường làm tòa, ngồi kiết già, hướng mặt về phía Đông Khi bắt đầu ngồi, Thái Tử thề rằng: “Nếu ta ngồi tòa này mà không chứng được đạo Vô Thượng Bồ Đề, thì thân này dù nát, ta cũng quyết không chịu đứng dậy” Phát nguyện xong, Thái
Tử lặng lẽ vào thiền định, suy nghĩ luôn trong 49 ngày đêm, Ngài suy nghĩ biết được kiếp trước của mình, của người, của mọi chúng sinh Đến nửa đêm thứ 49, nhằm vào ngày mồng 8 tháng 12, giữa lúc sao Mai mọc thì trong tâm Thái Tử tự nhiên đại ngộ, sạch hết phiền não, chứng được đạo quả Vô Thượng Đại Bồ Đề, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni, vào năm Thái Tử 35 tuổi (có thuyết 30 tuổi) Quãng đời còn lại của Phật, Ngài đi các nơi để truyền bá học thuyết của mình Năm 80 tuổi, Phật nhập niết bàn
Trang 2618
Đạo Phật được truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, Phật giáo Việt Nam có bước phát triển mới cùng với nền độc lập của dân tộc Thời Lý-Trần (từ đầu thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIV) là thời kỳ cực thịnh của Phật giáo ở Việt Nam Vua Trần Nhân Tông là người sáng lập ra Thiền phái Trúc lâm Yên tử mang bản sắc Việt Nam với tinh thần sáng tạo, dung hợp và nhập thế Phật giáo Nam Tông truyền vào phía nam của Việt Nam từ thế kỷ IV sau Công nguyên Tín đồ Phật giáo Nam Tông chủ yếu là đồng bào Khơ-me, tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long nên gọi là Phật giáo Nam Tông Khơ-me Phật giáo hiện nay ở Việt Nam có khoảng 10 triệu tín đồ, gần 17.000 cơ sở thờ tự, khoảng 40.000 tăng ni và 36 trường đào tạo các chức sắc tôn giáo Ngày nay đã có nhiều chùa và nơi thờ tự đưa và hoạt động tham quan hành hương thu hút đồng đảo du khách như: Chùa Trấn Quốc, chùa Hương, Chùa Yên Tử, chùa Bái Đính…
Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão)
và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá dân tộc Trung Quốc Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả ba giáo lí này đã hoà hợp thành một truyền thống Ảnh hưởng Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Quốc, được truyền đến các nước Đông Nam Á lân cận như Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản
Đạo giáo tiếp thu nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời nhà Chu (1040-256 TCN) Thuộc về những tư tưởng này là vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành, thuyết về năng lượng, chân khí ), thuyết âm dương và Kinh Dịch Nhưng,
Trang 2719
ngoài chúng ra, những truyền thống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở, Thái cực quyền, Khí công, Thiền định, thuật luyện kim và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử Việc tu luyện đạt trường sinh có bắt nguồn có lẽ từ những khái niệm rất cổ xưa, bởi vì trong Nam Hoa chân kinh của Trang Tử, một tác phẩm trứ danh của Đạo giáo thế kỉ thứ 4 trước công nguyên thì các vị tiên trường sinh bất tử đã được nhắc đến, và đại diện tiêu biểu chính là Hoàng Đế và Tây Vương Mẫu, những hình tượng đã có trong thời nhà Thương, thiên niên kỉ 2 trước công nguyên
Đến khi Trang Tử (khoảng 369 – 286 tr.CN), học thuyết của Lão Tử mới lại được người đời chú ý Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứng tới mức cực đoan thành một thứ tương đối luận Trong lĩnh vực xã hội, nếu như Lão Tử chỉ dừng ở mức không tán thành cách cai trị hữu vi, thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ
Sự khác biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo - được dùng ở đây vì những nguyên nhân thực tiễn - có thể được hiểu như sau: Đạo giáo triết học theo lí tưởng của một Thánh nhân, thực hiện Đạo bằng cách gìn giữ một tâm thức nhất định, trong khi Đạo giáo tôn giáo tìm cách đạt Đạo qua việc ứng dụng những phương pháp như Tĩnh toạ (Khí công, Thái cực quyền), sự tập trung cao độ, thiết tưởng hình dung, thuật luyện kim, nghi lễ và huyền học
để tạo một thế giới vi quan từ thân tâm - một ánh tượng của đại vũ trụ - và qua đó đạt được sự hợp nhất với vũ trụ
Ở Việt Nam, ảnh hưởng của Đạo giáo triết học chủ yếu diễn ra trong từng lớp Nho sĩ nhưng ảnh hưởng của Đạo giáo thì không đậm nét Sự đan xen của Đạo giáo phù thủy và các tín ngưỡng dân gian là phức tạp Thời Bắc thuộc các nhà nghiên cứu cho rằng:
“ Người Việt Nam lúc bấy giờ thì vẫn chịu ảnh hưởng của Đạo giáo phù thủy vì nó phù hợp với tín ngưỡng dân gian và nó bổ sung những tín điều cần
Trang 28Khổng Tử (Sinh năm 551 mất năm 479 tr.cn), người sáng lập học phái Nho Gia (Nho giáo) vào những năm cuối thời Xuân Thu (Trung Quốc) Ông tên Khâu, tự là Trọng Ni, người ấp Tưu (nay thuộc Khúc Phụ – Sơn Đông - TQ) Ông là người có nhiều tài năng và tinh thần ham học Với sự hiểu biết sâu rộng của mình Ông đã biên soạn các sách được đời sau gọi là lục kinh như Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu
Vấn đề trung tâm của Nho giáo là con người, tư tưởng về con người Con người thiện hay ác, Nho học quan niệm tính Thiện của con người gồm năm đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín hay còn gọi là Ngũ thường
Để thực hiện Ngũ thường mỗi người phải thực hiện Tam cương, Ngũ luân (Tam cương, là ba mối quan hệ cơ bản của xã hội: Vua – Tôi, Cha – Con, Chồng – Vợ; Ngũ luân là năm mối quan hệ: Vua – Tôi, Cha – Con, Chồng – Vợ, Anh – Em, Bạn bè) Ngũ thường là bản tính của con người, nó là phổ biến và hằng thường Tính là do trời sinh [35, tr.82]
Những ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam Tiếp thu một học thuyết từ bên ngoài để làm giàu vốn tri thức, văn hoá của dân tộc là một sự thực khách quan qua các triều đại của dân tộc Việt Nam Trong ý thức hệ phong kiến mà người Hán đưa vào nước ta từ thời
kỳ Bắc thuộc, Nho giáo tồn tại lâu bền nhất và có ảnh hưởng sâu sắc nhất Vấn đề có nhiều lý do, nhưng có lý do chính là nhu cầu phát triển văn hoá và giáo dục nước ta khi chế độ phong kiến tập quyền đã bắt đầu, việc bổ
Trang 2921
sung quan lại bằng hai con đường “nhiệm tử” và “thủ sĩ” không đủ mà cần phải bổ sung một phương thức đào tạo và tuyển lựa quan lại mới Phương thức này chỉ có thể đạt được bằng con đường phát triển giáo dục văn hoá và thực hiện chế độ thi cử để tuyển lựa nhân tài
Như vậy, Nho giáo đã đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hoá tinh thần của xã hội, trước hết nó làm cho nền giáo dục phát triển hết sức mạnh mẽ Nền giáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ trí thức đông đảo cho dân tộc Việt Nam như: Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du …Và để lại nhiều giá trị hiện vật sâu sắc như Văn Miếu Quốc Tử
Giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam
Tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng cũng là vấn đề được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong công cuộc bảo tồn, phát huy, xây dựng nền văn hóa tự chủ đậm đà bản sắc dân tộc Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị
tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng chỉ có tính chất
là tương đối về mặt khoa học Các nhà nghiên cứu về văn hóa cho
rằng:“Lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” Trong khi đó, khi giải thích về từ Tôn giáo, ông lại viết: “ Một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ước để khiến người ta tín ngưỡng” [3, tr.91]
Tín ngưỡng là niềm tin tuyệt đối, không đòi hỏi sự chứng minh (không dựa trên các tài liệu khoa học và thực tiễn), vào sự tồn tại thực tế của những bản chất siêu nhiên (thần thánh)
“Tín ngưỡng là đặc điểm chủ yếu của ý thức tôn giáo, giữ vị trí trung tâm trong ý thức đó Trong ý thức tôn giáo, những lực lượng đó mang hình thức
Trang 30Như vậy, cũng có thể cho rằng tín ngưỡng là niềm tin có ngưỡng, nếu vượt qua ngưỡng đó dẫn đến sự mù quáng và trở nên mê tín, nhưng dưới ngưỡng đó quá dài thì lại là sự báng bổ và vô thần vô thánh không quan tâm
Từ những tâm thức đó Việt Nam đã tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới và duy trì chọn lọc những nét đẹp phù hợp trong đời sống thành các tín ngưỡng của
riêng dân tộc mình Các tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay bao gồm có:
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng
“Thành hoàng là một tự Hán – Việt, mang ý nghĩa là hào bao quanh thành, nếu có nước sẽ gọi là trì (thành trì) Thành hoàng làng là vị thần bảo trợ một thành quách cụ thể Các vương triều Lý, Trần, Lê vẫn duy trì tục thờ thần thành hoàng của thành Thăng Long” [3, tr.93]
Tuy nhiên tại các làng quê lại có một dòng chảy khác của tín ngưỡng thờ thành hoàng làng Với người dân ở cộng đồng làng xã vị thần làng được coi như một vị thánh Mỗi làng quê đều có một vị thánh của mình Ca dao có
câu: „„Trống làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ” Thành
hoàng làng được thờ tự tại các ngôi đình làng hay nghè, hoặc là Miếu thờ tôn nghiêm của các làng, xã ở từ miền Bắc đến miền Nam trong cả nước
Trang 3123
Tín ngưỡng phồn thực
Đặc điểm cơ bản tín ngưỡng phồn thực của người Việt được bắt nguồn
từ khát vọng cầu mong sự sinh sôi nảy nở của con người và tạo vật, lấy các biểu tượng về sinh thực khí và hành vi giao phối làm đối tượng thờ phụng Tín ngưỡng này có mặt rất sớm từ trong nền văn hóa của vùng Đông Nam Á
cổ đại nhưng có sự biến thiên khác nhau giữa các vùng văn hóa.Với người Việt Nam có dấu vết tín ngưỡng phồn thực còn lại cho thấy tượng Linga (sinh thực khí của nam), và Yoni (sinh thực khí của nữ), chúng ta có thể cả một nền văn hóa Champa đã tôn thờ các vị thần của mình là tín ngưỡng phồn thực cầu mong những điều tốt đẹp về cuộc sống con người
Tín ngưỡng thờ Tổ tiên
Người Việt từ xa xưa đã có hiện tượng thờ cúng ông bà tổ tiên của mình, tín ngưỡng này được thể hiện rõ ràng nhất là tín ngưỡng thờ Hùng Vương, càng được rõ nét hơn khi thế giới đã công nhận là một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong thời gian gần đây
Hơn nữa, qua việc thờ tổ tiên, thờ các bà cô, ông mãnh đã thác trẻ của dòng họ mình vì dân gian luôn rằng khi họ mất đi trên cõi đời trần thế họ về một thế giới tâm linh khác vẫn luôn dõi theo và phù hộ cho con cháu muôn đời được ấm no và bình an Dân gian thường có tục cúng giỗ các vị chân linh trong gia tộc của nhà mình, thỉnh mời về vào các ngày lễ tết lớn trong năm như: tết nguyên đán, rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, ngày quốc lễ nhằm tưởng nhớ và giáo dục con cháu thế hệ sau, nhớ nguồn cội của mình
Tín ngưỡng thờ Mẫu
Trong những tín ngưỡng dân gian được kể trên thì nổi bật có tín ngưỡng thờ Mẫu, luôn hữu hình trong tiềm thức và đời sống sinh hoạt tâm linh của dân tộc Việt từ xưa đến nay Một biểu hiện của tín ngưỡng dân gian rất phổ biến ở Việt Nam từ Bắc đến Nam Đối tượng chính nhân vật trung tâm được phụng thờ là hình ảnh người Mẹ được thần thánh hóa, xem như có sức mạnh siêu nhiên, có khả năng ban phước và mang lại sự tốt lành cho cá nhân,
Trang 3224
gia đình và cộng đồng làng xã Cơ sở xã hội của tín ngưỡng Mẫu, là vai trò to lớn của người phụ nữ trải qua các giai đoạn lịch sử của dân tộc, trong gia đình hay ngoài xã hội, trong sản xuất và chiến đấu, trong dựng nước và giữ nước
Những nơi thờ Mẫu tiêu biểu nhất ở miền Bắc phải kể đến là phủ Dầy (Nam Định) thờ thánh mẫu Liễu Hạnh; ở miền Trung (Thừa Thiên- Huế), là điện Hòn Chén thờ thánh mẫu Thiên Yana; ở miền Nam là núi Bà Đen (Tây Ninh) thờ Linh Sơn thánh mẫu Ngoài đền và phủ, ngày nay tín ngưỡng Mẫu
đã xâm phạm vào các chùa và các điện tại gia Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, ngày nay trong tín ngưỡng Mẫu, có sự hội nhập và đan xen các yếu tố của tín ngưỡng nguyên thủy đến các tôn giáo khi xã hội hiện đại có như Đạo giáo, hay Phật giáo Trong sự tín ngưỡng Mẫu ngày nay không tránh khỏi có những yếu tố mê tín dị đoan cần phải khắc phụ
Tín ngưỡng thờ Mẫu, là một tín ngưỡng dân gian của dân tộc Việt có nguồn gốc từ tư duy suy tôn các nữ thần Tín ngưỡng Mẫu cấu thành một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của dân tộc Việt Nguồn gốc lịch
sử của tín ngưỡng Mẫu, không được ghi lại một cách chính thức bằng văn bản
mà chỉ được truyền trong đời sống dân dã Hiện nay, một số nghiên cứu cho rằng, tín ngưỡng này có nguồn gốc từ thời tiền sử, khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên, các thần linh đó được dung hội lại trong hình tượng Thánh Mẫu hay các Nữ thần được tôn thờ qua nhiều đời
Tuy đều là sự suy tôn các thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ Nữ thần với thờ Mẫu không hoàn toàn đồng nhất Từ rất lâu đời, ở nước ta nữ thần đã được nhân dân thờ cúng Người xưa cũng đã từng tập hợp các vị tiên có nguồn gốc thuần Việt, thì đa số các vị thần được thờ đều là các Nữ thần: Các
nữ thần Tứ pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, cai quản những hiện hiện tượng thiên nhiên là: mây, gió, sấm, chớp Sinh thành ra dân tộc Việt Nam có Mẹ Âu Cơ, sinh ra một bọc trứng, nở thành trăm người con Nhiều Nữ thần là các danh tướng anh hùng ngoài trận mạc, là những nhân tài xây dựng đất nước như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Dương Vân Nga (đời tiền
Trang 3325
Lê), Nguyên Phi Ỷ Lan (thời Lý), Bùi Thị Xuân (thời Tây Sơn), Võ Thị Sáu (thời chống Pháp)…và còn nhiều người phụ nữ có công chống giặc ngoại xâm, đã được tôn thành nữ thần để đời đời ghi nhớ ơn đức
Đi sâu hơn vào đời sống của người nông dân trồng lúa nước thì đất và nước là những điều kiện quan trọng hàng đầu Hai yếu tố quan trọng đó đã nuôi sống cây lúa để tạo ra thóc gạo, duy trì cuộc sống con người Bởi thế, từ lâu nay, người nông dân coi đất, nước và cây lúa như thần linh hay là biểu tượng thiêng liêng và gần gũi như người Mẹ Các quy trình canh tác, từ cày đất, gieo hạt, chăm bón, cho tới gặt hái… đều được mở đầu bằng các nghi lễ trang nghiêm và thiêng liêng
Ở một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ, việc tôn thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần, thờ Mẫu Tam tòa và Tứ phủ, là hiện tượng khá phổ biến có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa Tín ngưỡng Mẫu của người Việt là tín ngưỡng bản địa có những ảnh hưởng ngoại lai từ Đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ nữ thần với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người Tín ngưỡng mà ở đó thần linh đã được giới tính hoá mang hình mẫu của người Mẹ, là nơi mà ở đó hình ảnh người phụ nữ Việt Nam được giải thoát khỏi những thành kiến và ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến
Tục thờ Mẫu của người Việt
Tục thờ Mẫu của người Việt được khởi thủy với truyền thống được dân gian ca tụng từ các thế hệ này đến thế hệ khác cùng cao dao, tục ngữ truyền
khẩu là: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”; “Uống nước nhớ nguồn”, cho đến:
“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kín cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Tục thờ Mẫu đã kế thừa được nét đẹp truyền thống dân tộc này với câu
ca dao truyền miệng trong dân gian: “Tháng Tám giỗ cha, tháng ba tiệc mẹ”
Trang 34Nữ thần nhưng không phải tất cả các nữ thần đều là Mẫu, mà chỉ có một số nữ thần được tôn vinh là Mẫu Danh từ Mẫu là gốc Hán Việt (母), còn thuần Việt gọi là Mẹ Ngoài ý nghĩa xưng hô thông thường đó, từ Mẫu và Mẹ có ý nghĩa rộng rãi tôn vinh những bà Mẹ chung của dân tộc Từ đây, với tín ngưỡng về Mẫu đã hình thành nên tục thờ Mẫu với các nhiều cơ sở thờ tự, như hệ thống các di tích đền, miếu, phủ, điện, chùa có thờ Mẫu uy linh trong không gian tín ngưỡng thiêng liêng Đồng thời cũng có nhiều nghi lễ, lễ hội
và diễn xướng dân gian, nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa
truyền thồng của dân tộc Việt Nam
1.2 Cơ sở thực tiễn của tổ chức hoạt động du lịch
1.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức hoạt động du lịch
Yếu tố về kinh tế Đây là một trong các yếu tố quan trọng quyết định
đến việc hoạt động du lịch hay các hoạt động lữ hành được thực hiện một cách hiệu quả nhất Khi nền kinh tế của thế giới, khu vực và một quốc gia có biến chuyển về giá cả, tỷ lệ hối đoái hay các mặt hàng kinh tế chung của toàn cầu luôn biến động và các chỉ số luôn thay đổi điều này đã khiến cho việc tổ chức hoạt động du lịch có sự tác động kéo theo về giá cả chương trình, thậm chí còn có thể gây ra việc bão giá thị trường du lịch Vì vậy, yếu tố kinh tế có tác động quan trọng trong việc quyết định tổ chức với chất lượng dịch vụ và
Trang 3527
giá sản phẩm du lịch được tốt hay là không sau khi chương trình du lịch được thực hiện
Yếu tố về nguồn tài nguyên du lịch: Đây được coi là yếu tố quan trọng
quyết định đến sự tò mò và quan tâm của du khách tại một điểm, tuyến tham quan du lịch Tài nguyên du lịch cũng là đối tượng mang tính tất yếu trong bất
kì một chuyến tham quan nào Đặc điểm các nguồn tài nguyên du lịch khác nhau nên tạo ra nhiều giá trị đặc biệt
Yếu tố về xã hội: Khi tổ chức hoạt động du lịch yếu tố xã hội được thể
hiện với việc mang lại lợi ích kinh tế cho các ngành, các lĩnh vực có liên quan trực tiếp và gián tiếp Hoạt động du lịch góp phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động trong các ngành liên quan như: giao thông vận tải; cơ sở lưu trú; cơ sở hạ tầng kỹ thuật; dịch vụ phục vụ ăn uống; đội ngũ nhân viên phục tại các khu du lịch; đội ngũ hướng dẫn viên du lịch Hơn nữa, khi yếu tố xã hội của một quốc gia, một khu vực có được phát triển, dân trí cao mà bản sắc dân tộc vẫn được giữ gìn, điều đó thu hút khách du lịch
Yếu tố về văn hóa Yếu tố văn hóa luôn là phần quyết định sự tò mò của
du khách bởi tính đặc thù của nó với từng vùng miền khác nhau của quốc gia
có phát triển về du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các giá trị văn hóa có vị trí quan trọng tạo nên sản phẩm du lịch tức là các chương trình du lịch được thiết kế, quảng bá hình ảnh quốc gia, khu du lịch và điểm đến du lịch hấp dẫn Bằng việc chọn lọc các giá trị văn hóa, hoạt động du lịch giới thiệu văn hóa của dân tộc bản địa đến khách du lịch Việc thỏa mãn tâm lý chuộng „„lạ” của du khách thường là từ các giá trị văn hóa truyền thống mang lại
Yếu tố về cộng đồng dân cư tại điểm đến du lịch Tại các điểm đến du
lịch của du khách không thể không đề cập đến công đồng dân cư tại địa phương đó, vấn đề này rất tế nhị khi những điểm tham quan thường gần gũi
Trang 3628
với cuộc sống sinh hoạt của người dân Vậy để thu hút du khách đến tham quan thì không bằng cách nào khác là người dân cư bản địa tại đó luôn có sự thân thiện và dễ hòa đồng với du khách bên cạnh đó du khách đến cũng có thái độ và cách ứng xử đúng đắn và văn minh nhất đối với địa phương để đạt được những thỏa mãn khám phá sự hấp dẫn của văn hóa bản địa
Yếu tố về môi trường cảnh quan và tính thời vụ Đất nước Việt Nam luôn có những rào cản cho việc thực hiện chương trình du đó là thời tiết thiên tai, điều này thường xuyên xảy ra đã làm cho việc thực hiện chương trình khó
khăn, vì vậy đã hình thành nên tính thời vụ của hoạt động du lịch Nhằm khắc phục được tính chất này đó là việc vận động, quảng bá, thực hiện các chương trình bảo vệ môi trường xung quanh và môi trường sinh thái tại các điểm du lịch từ nhiều hành động thiết thực: xử lý rác thải; chất thải, trồng rừng quan trọng hơn là giáo dục, tuyên truyền dân cư địa phương và du khách tham quan luôn có ý thức bảo vệ môi trường sống xung quanh và cảnh quan thiên nhiên
1.2.2 Vai trò của tổ chức hoạt động du lịch
Nói đến vai trò của hoạt động du lịch cần phải nói đến những vai trò của nhà tổ chức du lịch, những người kinh doanh tổ chức hoạt động lữ hành trong các doanh nghiệp lữ hành và các nhà quản lý về du lịch nói chung Ở đây không đề cập nhiều đến vai trò của khách du lịch lữ hành bởi vì đó lại là phạm vi nghiên cứu liên quan đến tâm lý khách, khả năng thanh toán, tập quán giao tiếp ứng xử và các mối quan hệ tương tác khác trong xã hội Những vai trò cơ bản của tổ chức hoạt động du lịch:
Vai trò cầu nối giữa dịch vụ với tài nguyên du lịch để tài nguyên đó được khai thác và với các dịch vụ du lịch khác nhau Khi tổ chức và tạo ra sản
phẩm du lịch song song với việc thực hiện chương trình du lịch, các nhà tổ chức, các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh lữ hành vừa đưa vào những chương trình đó các tài nguyên du lịch vật thể hoặc phi vật thể thậm chí là cả hai để khai thác phục vụ khách du lịch như tham quan, tìn hiểu, thưởng ngoạn tài nguyên quí giá đó
Trang 37vụ các nhu cầu của khách mà trước đó tự chuẩn bị, tự phục vụ nên không đầy
đủ hoặc không thể có chuyến đi theo mong muốn đề ra Vai trò phục vụ của các doanh nghiệp, của nhà tổ chức ngày càng trở nên cần thiết và cơ bản đối với khách du lịch ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới
Vai trò đảm bảo những lợi ích kinh tế, xã hội, nhằm thúc đẩy phát triển
du lịch và bảo tồn được nền văn hóa đặc sắc của dân tộc Hoạt động du lịch
nhằm đáp ứng nhu cầu về việc đi lại, tham quan, chiêm ngưỡng, nghỉ dưỡng,
ẩm thực, thăm thân, tìm kiếm cơ hội học hỏi, giao lưu hợp tác nên vai trò đối với xã hội được thể hiện nổi bật nhất Vì điểm tham quan du lịch thường
là nơi mà du khách chưa từng được đến, là nơi có giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc và đôi khi rất lạ lùng, hoặc những nơi có cảnh quan kỳ ảo , thích hợp với những nhu cầu du lịch nên thu hút được du khách
Vai trò điều tiết mối quan hệ cung – cầu trong du lịch và kinh tế xã hội
Trong hoạt động du lịch, xác định quan hệ cung – cầu có ý nghĩa rất quan trọng để tạo ra sản phẩm du lịch, sảm phẩm lữ hành là những chuyến đi được sắp xếp theo một kế hoạch một cách chi tiết bằng việc khai thác các tài nguyên du lịch cùng với các dịch vụ nằm trong chương trình, được đặt trước
và không thể mang đi, không thể trì hoãn và chỉ có thể coi là sản phẩm hoàn chỉnh, chỉ đánh giá chất lượng sau khi đã thực hiện Để đáp ứng được nhu cầu khác du lịch, hoạt động kinh doanh du lịch phải làm sao có sức hấp dẫn, thu hút khách du lịch Điều này không dễ dàng, mặt khác cầu trong du lịch hết sức đa dạng, phong phú, có tính chất hỗn hợp trong khi xung du lịch chỉ đáp ứng một cách đơn lẻ những dịch vụ nhất định đối với cầu du lịch
1.2.3 Những nội dung cần tiến hành khi tổ chức hoạt động du lịch
Trang 3830
Việc xây dựng tuyến, điểm du lịch góp phần quan trọng trong việc triển khai quảng bá các tài nguyên du lịch, của địa phương và dân cư nơi có hoạt động du lịch đang phát triển
“Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [14, tr.16]
“Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không” [14, tr.16]
Trên phương diện tổng thể, một tuyến du lịch, điểm du lịch tạo được sức hấp dẫn đối với du khách trước hết phải dựa trên những giá trị riêng biệt của
nó, tiếp sau đó là khả năng đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của du khách khi tới tham quan, nghỉ dưỡng… Như vậy cơ sở vật chất, kĩ thuật của tuyến, điểm tham quan có vai trò trong việc thu hút và sự trở lại của khách Trong phạm vi nhỏ hơn đó là việc tổ chức hoạt động tham quan cho khách du lịch, thì nhà tổ chức, công ty lữ hành căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất, khả năng tiếp cận mà đưa ra những đề xuất trong các hoạt động nghỉ ngơi, tham quan, giải trí…trong suốt hành trình của du khách
Xây dựng sản phẩm và chương trình du lịch
Các sản phẩm du lịch tại thị trường Việt Nam và du khách nước ngoài là một hàng hóa sẵn sàng để bán cho du khách như: chương trình du lịch trọn gói; các dịch vụ vận chuyển; lưu trú trong khách sạn theo nhiều hạng mục tiêu chuẩn khác nhau; bảo hiểm; các nhà hàng; tham quan các điểm du lịch tự nhiên và nhân tạo; tham dự các sự kiện và lễ hội hoặc sử dụng các dịch vụ giải trí khác Để tăng nguồn doanh thu cho du lịch thì việc xây dựng các sản phẩm du lịch hấp dẫn, độc đáo, giá bán hợp lý và đáp ứng các tiêu chuẩn yêu cầu của du khách là điều quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp tổ chức
lữ hành
Trang 3931
“Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi” [14, tr.18]
Một chương trình du lịch, luôn được cung cấp nhiều mức giá khác nhau
để cho du khách dễ dàng lựa chọn sao cho phù hợp nhất với mình Khách du lịch không nhất thiết phải mua toàn bộ các dịch vụ có trong chương trình du lịch mà có thể mua từng dịch vụ riêng lẻ trong đó như vận chuyển, hướng dẫn viên, dịch vụ ăn uống hoặc lưu trú Chương trình du lịch cũng được phân loại bao gồm có: Chương trình du lịch tôn giáo tín ngưỡng; chương du lịch chữa bệnh; du lịch thể thao; du lịch mạo hiểm; thăm thân; du lịch văn hóa; du lịch sinh thái; du lịch sự kiện; du lịch tổng hợp rất đa dạng du khách có thể lựa chọn nhu cầu cho mình
Tổ chức nguồn nhân lực phục vụ du lịch
Nguồn nhân lực không chỉ quan trọng đối với ngành kinh tế, ngành quản lý, mà còn cần thiết không kém phần về chất lượng và số lượng Ngành
du lịch nói chung luôn cần được đáp ứng nguồn lao động dồi dào, phong phú
về ngiệp vụ chuyên môn và cả lao động thời vụ Với đặc tính là ngành cung cấp dịch vụ thực hiện chương trình du lịch cần có một đọi ngũ xuyên suốt: là lái xe, nhân viên nhà hàng, hướng dẫn viên du lịch, nhận lực khách sạn, nhân lực tại điểm tham quan, nhân viên y tế trong quá trình thực hiện chương trình đối với nhu cầu du khách đã lực chọn Hơn nữa, ngày du lịch có tính chất vụ mùa rất cao, dẫn đến nguồn nhân lực cũng được chọn lựa theo tính chất này gồm có nguồn nhân lực công tác theo vụ mùa (ngắn hạn) và nguồn nhân lực cố định (dài hạn) trong các bộ phận quản lý, bộ phận điều hành và thực hiện nội dung lịch trình du lịch
Tổ chức quản lý hoạt động du lịch
Trên phương diện quản lý để chỉ việc nghiên cứu xem làm thế nào để tiến hành phân công, sắp xếp trình tự hợp lý để đạt được mục tiêu và mục đích đã được đề ra trong quá trình thực hiện chương trình du lịch
Trang 4032
Tổ chức quản lý du lịch là một kết cấu được xây dựng theo mục tiêu chung và tiến hành phân công nhiệm vụ, xác định chức trách, trao đổi thông tin, kết hợp hỗ trợ làm việc đối với toàn bộ công việc hoạt động du lịch một cách hợp lý sao cho có thể thu được hiệu quả cao nhất khi thực hiện các chương trình du lịch Quản lý tổ chức du lịch là cả một quá trình hay hoạt động công việc xuyên suốt của hoạt động du lịch diễn ra với việc thực hiện các thỏa thuận giữa khách và doanh nghiệp lữ hành
1.3 Du lịch tín ngưỡng
Du lịch tín ngưỡng hay còn gọi là du lịch tâm linh vẫn còn là khái niệm mới mẻ đối với ngành du lịch Việt Nam Đến nay, việc phát triển loại hình du lịch này còn ở dạng tiềm năng và Việt Nam hoàn toàn có nhiều điều kiện để khai thác từ loại hình du lịch này
Du lịch tâm linh theo quan điểm của các nhà nghiên cứu văn hóa cũng có nhiều ý kiến khác nhau Trong đó, theo quan điểm của TS Dương Văn Sáu đã cho rằng: “ Du lịch tâm linh là loại hình du lịch đưa du khách tới các cơ sở và điều kiện đặc thù giúp du khách có cơ hội được chiêm bái và thực hành các nghi thức tôn giáo – tín ngưỡng giúp cho họ thỏa mãn các nh cầu tâm linh - tinh thần của mình”
Bê cạnh đó các yếu tố du lịch tín ngưỡng và tôn giáo thường gắn liền với yếu tố “thiêng”, hay nói cách khác đó chính là niềm tin vào sức mạnh vô hình của các tôn giáo khác nhau Du lịch tín ngưỡng - tâm linh là việc thỏa mãn nhu cầu giao tiếp với môi trường tự nhiên, xã hội và giao tiếp với thần linh tâm linh, hưởng thụ sinh hoạt văn hóa… làm cho con người gần gũi với
tự nhiên hơn Loại hình du lịch này hiện đang rất phát triển tại nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nhậy Bản, Thái Lan, Nepal, Ấn Độ…Tại Việt Nam có nhiều địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng như: Đền Hùng (Phú Thọ), Yên Tử (Quảng Ninh), chùa Bái Đính (Ninh Bình), Phủ Dầy (Nam Định), chùa Thiên Mụ (Huế), điện Hòn Chén (Huế), phủ Tây Hồ Hà Nội)… Cả nước