1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

127 812 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch của các trường Du lịch trực thuộc Bộ VHTTDL đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng chất lượng đào tạo nhân lực tại các cơ sở này chưa cao, trì

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐOÀN THỊ THẮM

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH

TẠI CÁC TRƯỜNG DU LỊCH TRỰC THUỘC

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của Đề tài 1

2 Mục đích: 2

3 Nhiệm vụ: 2

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3

7 Lịch sử nghiên cứu đề tài 4

8 Một số điểm mới của luận văn 6

9 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH 7

1.1 Nhân lực du lịch và các đặc điểm của nhân lực du lịch 7

1.1.1 Các khái niệm 7

1.1.1.1 Du lịch 7

1.1.1.2 Nhân lực du lịch 8

1.1.1.3 Vai trò và đặc điểm của nhân lực ngành Du lịch 10

1.1.2 Một số nghề cơ bản được đào tạo trong lĩnh vực du lịch 14

1.2 Đào tạo nhân lực du lịch và yếu tố chủ yếu tác động đến hoạt động đào tạo nhân lực du lịch 19

1.2.1 Đào tạo nhân lực du lịch 19

1.2.2 Những yếu tố chủ yếu tác động đến hoạt động đào tạo nhân lực du lịch 20

1.2.2.1 Các yếu tố bên ngoài cơ sở đào tạo 20

1.2.2.2 Các yếu tố bên trong cơ sở đào tạo 24

1.3 Một số chỉ số đánh giá kết quả đào tạo nhân lực du lịch 37

1.3.1 Quy mô và cơ cấu đào tạo, dạy nghề 37

1.3.1.1 Quy mô đào tạo, dạy nghề 37

Trang 3

1.3.2 Chất lượng và hiệu quả đào tạo nhân lực du lịch 39

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH TẠI CÁC TRƯỜNG DU LỊCH TRỰC THUỘC BỘ 43

VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH 43

2.1 Thực trang đào tạo của các trường du lịch trực thuộc Bộ 43

2.1.1 Mục tiêu đào tạo 44

2.1.2 Các ngành nghề đào tạo 44

2.1.3 Phương pháp đào tạo 45

2.1.4 Quản lý đào tạo 46

2.1.5 Đánh giá kết quả đào tạo 46

2.2 Thực trạng các yếu tố chính tác động đến công tác đào tạo 46

2.2.1 Tuyển sinh 46

2.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật 50

2.2.3 Đội ngũ giảng viên, giáo viên, đào tạo viên và cán bộ quản lý 51

2.2.4 Chương trình, giáo trình đào tạo 54

2.2.5 Thực trạng liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp 55

2.3 Thực trạng kết quả đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2008-2012 58

2.3.1.2 Cơ cấu đào tạo 60

2.3.1.3 Chất lượng và hiệu quả đào tạo 60

2.3.2 Kết quả đào tạo thông qua kết quả điều tra 61

2.3.2.2 Kết quả khảo sát doanh nghiệp 70

2.4 Đánh giá ưu điểm, hạn chế công tác đào tạo của các trường du lịch trực thuộc Bộ 75

2.4.1 Ưu điểm và nguyên nhân 75

2.4.1.1 Ưu điểm 75

2.4.1.2 Những nguyên nhân của ưu điểm: 76

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 77

2.4.2.1 Hạn chế 77

2.4.2.2 Những nguyên nhân của hạn chế: 78

Trang 4

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNGĐÀO TẠO

CỦA CÁC TRƯỜNG DU LỊCH TRỰC THUỘC BỘVĂN HOÁ, THỂ THAO

VÀ DU LỊCH 82

3.1 Xu hướng phát triển du lịch và yêu cầu về nhân lực du lịch trong thời gian tới 82

3.1.1 Xu hướng phát triển du lịch 82

3.1.2 Yêu cầu về nhân lực du lịch trong thời gian tới 84

3.1.2.1 Về số lượng nhân lực du lịch 85

3.1.2.2 Về chất lượng nhân lực 87

3.1.2.3 Vấn đề đặt ra đối với các trường du li ̣ch trực thuộc Bộ 89

3.2 Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Du lịch trực thuộc Bộ văn hóa , Thể thao và Du lịch 91

3.2.1 Đổi mới chương trình, giáo trình đào tạo 91

3.2.2 Kiện toàn bộ máy cán bộ quản lý, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên 93

3.2.3 Tăng cường đầu tư và quản lý sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị 94

3.2.4 Đổi mới phương pháp giảng dạy 97

3.2.5 Chú trọng đào tạo ngoại ngữ 101

3.2.6 Nâng cao ý thức học tập vì ngày mai lập nghiệp của học sinh, sinh viên 102

3.2.7 Chú trọng quá trình thực tập tại doanh nghiệp của HSSV 104

3.2.8 Tăng cường hợp tác với doanh nghiệp đối với công tác đào tạo nhân lực du lịch 106

3.3 Một số kiến nghị 107

3.3.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo du lịch 107

3.3.2 Đối với các trường du lịch trực thuộc Bộ 108

3.3.3 Đối với các doanh nghiệp du lịch 108

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Chỉ tiêu đào tạo giai đoạn 2008-2012 47

Bảng 2.2 Số lượng cán bộ, giáo viên và giảng viên 51

Bảng 2.3 Số liệu tốt nghiệp giai đoạn 2008-2012 58

Bảng 2.4 Kết quả thống kê về chương trình đào tạo 64

Bảng 2.5 Kết quả thống kê đánh giá về GVGV 65

Bảng 2.6 Thống kê về cơ sở vật chất, trang thiết bị 66

Bảng 2.7 Thống kê về môi trường học tập 67

Bảng 2.8 Thống kê về việc thực tập tại doanh nghiệp 68

Bảng 2.9 Thống kê về kết quả đào tạo 69

Bảng 2.10 Đánh giá chất lượng nhân lực du lịch của doanh nghiệp 72

Bảng 3.1 Thực trạng và nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2015 86

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Cơ cấu nhân lực ngành Du lịch 12 Biểu đồ 2.1 Thời gian cựu sinh viên tìm được việc làm 62 Biểu đồ 2.2 Mức độ giúp ích của chuyên ngành đào tạo đối với công việc hiện tại của cựu sinh viên 63 Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ nhân lực du lịch được đào tạo tại các trường du lịch trực thuộc Bộ trong doanh nghiệp 71 Biểu đồ 2.4 Thứ tự các tiêu chí ưu tiên khi tuyển dụng 74 Biểu đồ 3.1 Thứ tự ưu tiên các tiêu chí du khách mong đợi 88

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Hiện nay, ngành Du lịch đang ngày càng phát triển và khẳng định được vị thế của mình Hoạt động du lịch đã chứng minh khả năng và vai trò là một ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế đất nước và tạo nhiều việc làm cho xã hội , gián tiếp làm tăng mức chi ngân sách sự nghiệp cho các hoạt động khác, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước Trong thời gian vừa qua, từ 2007-2012, trong điều kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu và thiên tai, ngành Du lịch nước ta vẫn giữ được mức tăng trưởng, không bị sụt giảm sút Năm 2012, thu nhập từ du lịch trên 160.000 tỉ đồng, đón 6,85 triệu lượt khách quốc tế và 32,5 triệu lượt khách nội địa, tạo ra

485 nghìn chỗ làm việc trực tiếp và trên 1 triệu việc làm gián tiếp

Những năm gần đây, sự phát triển du lịch đã kéo theo số lượng lao động trong ngành Du lịch tăng mạnh, trong đó lao động gián tiếp có xu hướng tăng với quy mô lớn hơn Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch dự báo, đến năm

2015, ngành Du lịch cần khoảng 620.000 lao động trực tiếp và đến năm 2020

sẽ cần khoảng 870.000 lao động trực tiếp; giai đoạn 2010 - 2015 nhân lực du lịch tăng bình quân mỗi năm 8%, giai đoạn 2016-2020 tăng khoảng 7% Đến năm 2020, lao động du lịch gián tiếp theo nhu cầu xã hội sẽ cần khoảng 2,2 - 2,5 triệu người

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc đào tạo nguồn nhân lực, nhưng hiện ngành Du lịch đang thiếu trầm trọng lực lượng lao động lành nghề Lao động được đào tạo còn chiếm tỷ trọng ít so với tổng số lao động ngành Du lịch Trong số lao động được đào tạo thì số lao động được đào tạo đúng chuyên môn du lịch còn thấp, kỹ năng làm việc, trình độ ngoại ngữ và tính chuyên nghiệp của đội ngũ lao động chưa cao

Hiện có 8 cơ sở đào tạo du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, gồm 01 trường Cao đẳng chuyên nghiệp, 06 trường cao đẳng nghề và 01

Trang 9

trường trung cấp Đây là những cơ sở đào tạo với vai trò là “máy cái”, đào tạo lao động có trình độ chuyên môn mang tính định hướng cho các vùng trên cả nước Những năm vừa qua, Bộ VHTTDL đã nỗ lực phối hợp với Bộ Giáo dục

và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, các tổ chức quốc tế, các địa phương, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư nâng cao năng lực đào tạo cho các trường Du lịch trực thuộc Bộ Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch của các trường Du lịch trực thuộc Bộ VHTTDL đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng chất lượng đào tạo nhân lực tại các cơ sở này chưa cao, trình

độ kiến thức chuyên môn nghiệp vụ còn kém, kỹ năng thực hành chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, kỹ năng giao tiếp đặc biệt là trình độ ngoại ngữ còn yếu, các kỹ năng mềm như khả năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm còn thiếu, thái độ làm việc, tinh thần kỷ luật chưa cao, thiếu tính chuyên nghiệp

Những vấn đề trên đây đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch Do đó vấn đề trọng tâm trước mắt đối với ngành Du lịch là phải kiện toàn nâng cao chất lượng nhân lực du lịch, trước hết là đội ngũ lao động trực tiếp của ngành Cần phải có cái nhìn tổng thể về thực trạng nhân lực du lịch

do các trường du lịch trực thuộc Bộ VHTTDL đào tạo để từ đó đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch của các trường du lịch trực thuộc Bộ nói riêng và trên toàn quốc nói chung Với những lý do trên tôi đã chọn

đề tài: “Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch

trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch” để làm Luận văn

Trang 10

- Phản ánh, phân tích và đánh giá thực trạng công tác đào tạo nhân lực

du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ VHTTDL Nhiệm vụ này có thêm việc khảo sát, lấy ý kiến các nhà quản lý, cơ sở đào tạo, sinh viên và doanh nghiệp về công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường trực thuộc Bộ

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ VHTTDL

4 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận đào tạo nhân lực du lịch

và thực tiễn công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc

Bộ VHTTDL

5 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Cơ sở lý luận về đào tạo nhân lực du lịch và thực tiễn công tác

đào tạo của 08 trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ, đề tài chưa thể đề cập đến những nhóm giải pháp

cụ thể cho từng khối trường (cao đẳng, cao đẳng nghề, trung cấp), nhiệm vụ đó xin được giải quyết ở những công trình nghiên cứu sâu hơn

- Về thời gian: Về thực trạng các chuỗi số liệu được sử dụng để phân tích là từ

năm 2008 đến nay; các giải pháp tổng thể đề xuất cho 08 trường trong 5 năm tới

- Về không gian: 08 trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du

lịch trên phạm vi cả nước

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Luận văn lựa chọn phương pháp tiếp cận, nghiên cứu dưới góc độ nghiên cứu du lịch thông qua phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp chuyên gia Ngoài ra, luận văn còn kế thừa các công trình nghiên cứu, các số liệu thống kê và các tài liệu có liên quan

Trang 11

Một phần do hạn chế thời gian và cách tiếp cận, một phần vì một số trường du lịch trực thuộc Bộ mới được thành lập, chưa có HSSV chính quy tốt nghiệp hoặc số lượng sinh viên tốt nghiệp chưa đáng kể nên luận văn chỉ khảo sát cựu sinh viên thuộc 04 trường: 1) Cao đẳng Du lịch Hà Nội; 2) Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng; 3) Cao đẳng nghề Du lịch Huế; 4) Cao đẳng nghề Du lịch Vũng Tàu, và các doanh nghiệp sử dụng lao động được đào tạo tại 04 trường nêu trên

7 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Các công trình nghiên cứu của các tác giả về vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch được chia thành 3 nhóm chính:

- Các báo cáo khoa học, các bài đăng trên các báo, tạp chí: Có khá

nhiều học giả tiếng đề cập vấn đề đào tạo nhân lực du lịch như TS Nguyễn

Bá Ngọc, Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội “Đào tạo nhân lực ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế du lịch” Thạc sĩ Ninh Thị Kim Anh, Đại học Nha Trang “Vai trò đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành du lịch đáp ứng nhu cầu xã hội, phát triển kinh tế trong thời

kỳ hội nhập” TS Dương Văn Sáu, Trưởng khoa Du lịch Trường Đại học Văn hóa Hà Nội “Đào tạo nhân lực du lịch ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”

- Các công trình dưới dạng dự án, chương trình, đề tài: Dự án “Phát

triển nguồn nhân lực Du lịch Việt Nam” (Mã số: VNM/B7-301/ IB/97/0234)

do Tổng cục Du lịch và Cộng đồng châu Âu thực hiện với mục tiêu nâng cao tiêu chuẩn và chất lượng nguồn nhân lực trong ngành Du lịch Việt Nam Dự

án VIE/031 (Dự án tăng cường năng lực nguồn nhân lực ngành Du lịch và khách sạn Việt Nam), do Chính phủ đại Công quốc Luxembourg tài trợ, thực hiện từ 20/1/2010 đến ngày 31/12/2014 với mục tiêu hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch ở các vùng du lịch trọng điểm do Chính phủ Việt

Trang 12

Nam chỉ định Luận văn thạc sĩ Nguyễn Viết Trung, Đại học Đà Nẵng “Đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho tỉnh Quảng Nam”

- Các công trình dưới dạng giáo trình, tài liệu tham khảo: Một số giáo

trình tiêu biểu về đào tạo phát triển nguồn nhân lực và nhân lực ngành Du lịch là: Giáo trình “Kinh tế du lịch”, Chủ biên: GS.TS Nguyễn Văn Đính; PGS.TS Trần Thị Minh Hòa – Hà Nội: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân,

2008 Một số nghiên cứu được các dịch giả dịch sang tiếng Việt làm tài liệu giảng dạy, tham khảo tại một số cơ sở đào tạo du lịch Ví dụ: “Quản lý khách sạn hiện đại” (Chủ biên: Lục Bội Minh, NXB Thượng Hải, 1996), Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch và NXB Chính trị Quốc gia dịch và xuất bản năm 1997 “Kinh tế du lịch và du lịch học”, Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình, NXB Trẻ TP HCM, 2000

Những nghiên cứu kể trên mới dừng lại mức độ nghiên cứu chung về nguồn nhân lực du lịch ở tầm vĩ mô, hoặc chỉ đề cập đến một số khía cạnh của việc phát triển nguồn nhân lực du lịch nói chung, chưa công trình nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống về cơ sở lý luận của công tác đào tạo nhân lực Du lịch

Hệ thống các giải pháp của các nghiên cứu trên cũng dừng lại ở tầm vĩ

mô, hoặc một khía cạnh hoặc cho một địa phương, nếu áp dụng cho ngành Du lịch thì sẽ rất khó phát huy hiệu quả

Chưa có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu về công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ

Từ những đánh giá về tình hình nghiên cứu như trên, Luận văn này đặt

ra nhiệm vụ: Hệ thống hóa chọn lọc, có phát triển những khái niệm và vấn đề

lý luận về đào tạo nhân lực du lịch, hình thành cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu luận văn; Phản ánh, phân tích và đánh giá thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ VHTTDL Nhiệm vụ này

có thêm việc khảo sát, lấy ý kiến các nhà quản lý, cơ sở đào tạo, sinh viên và

Trang 13

doanh nghiệp về công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường trực thuộc Bộ; Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ VHTTDL

8 Một số điểm mới của luận văn

Học viên cao học hy vọng luận văn này sẽ có những điểm mới sau đây:

- Là một trong số ít những công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về vấn đề đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ VHTTDL

cả về mặt lý thuyết và thực tiễn

- Đánh giá một cách có hệ thống về công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ trên cơ sở khảo sát, tham khảo ý kiến của các nhà quản lý, các cơ sở đào tạo, sinh viên và các doanh nghiệp sử dụng lao động - sản phẩm đào tạo của các trường và các số liệu thống kê, các tư liệu liên quan trong 5 năm vừa qua để từ đó tìm ra nguyên nhân điểm mạnh, điểm yếu của công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ;

Đề xuất những giải pháp thực tế, có tính khả thi để nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ VHTTDL nói riêng và các cơ sở đào tạo du lịch trên toàn quốc nói chung

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Lý luận chung về đào tạo nhân lực du lịch; Chương 2 Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; và Chương 3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực du lịch tại các trường Du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Trang 14

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH

1.1 Nhân lực du lịch và các đặc điểm của nhân lực du lịch

1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Du lịch

Du lịch đã hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ nhanh chóng, những đóng góp của du lịch đối với đời sống con người là không thể phủ nhận Song, cho đến nay khái niệm “du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ các góc độ khác nhau Theo định nghĩa của hai giáo

sư, tiến sỹ Hunziker và Krapf: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” [9] Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa quốc tế về Du lịch (Viện Hàn lâm khoa học quốc tế về du lịch): “Du lịch

là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách

du lịch… Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ” [9] Đại học kinh tế Praha (Cộng hòa Séc) cho rằng: “Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ” [9] Ở Việt Nam, khái niệm du lịch được nêu trong Luật Du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[6,tr.10]

Từ các định nghĩa trên cho thấy du lịch là một hoạt động liên quan đến một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên

Trang 15

của họ bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủ yếu không phải là kiếm lời Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ và các trải nghiệm ở nơi họ

đến Trong luận văn này, du lịch được hiểu là: Một ngành kinh tế tổng hợp thu

hút một lực lượng đông đảo lao động trực tiếp và gián tiếp tạo ra những sản phẩm, dịch vụ chuyên nghiệp và khác biệt nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của người đi du lịch, tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

du lịch và mang lại thu nhập cho bản thân người lao động Để làm tốt nhiệm

vụ trên người lao động làm việc trong ngành Du lịch cần được đào tạo đầy đủ

cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ một cách bài bản và phù hợp

Trong lĩnh vực du lịch, nhân lực tham gia vào các hoạt động phục vụ khách du lịch bao gồm:

- Nhân lực phục vụ tại các đầu mối giao thông: Nhân lực phục vụ

khách du lịch đi lại bằng phương tiện giao thông đường hàng không, đường

bộ, đường sắt, đường biển để đến điểm du lịch của họ tại hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đặc thù như: sân bay, nhà ga, mạng lưới đường xá, cảng, các kho nhiên liệu, các phương tiện máy móc và sửa chữa,… Các dịch vụ và phương tiện phục vụ khách du lịch bao gồm: Nhà hàng, quầy bar, cơ sở lưu

Trang 16

trú, ngân hàng, viễn thông, các cửa hàng bán lẻ, cửa hàng sách…, và hoạt động của một số cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến phục vụ khách du lịch như: biên phòng, xuất nhập cảnh, hải quan

- Nhân lực phục vụ tại điểm đến du lịch:

a) Nhân lực tại các doanh nghiệp có giao dịch trực tiếp với du khách bao gồm: Dịch vụ lưu trú - khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ mát; dịch vụ ăn uống - nhà hàng, quán Bar; dịch vụ giải trí, thể thao, rạp hát, sòng bạc, công viên giải trí, viện bảo tàng, các sự kiện và hoạt động lễ hội; dịch vụ lữ hành, vận chuyển - các hãng lữ hành, phòng bán vé hàng không, xe tuyến, tàu hỏa, tàu thủy, taxi, xe cho thuê

b) Nhân lực tại các doanh nghiệp và dịch vụ hỗ trợ du lịch bao gồm các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các doanh nghiệp trực tiếp phục vụ du khách như: Công ty xây dựng, kiến trúc, công ty quảng cáo, công

ty bia rượu , nước giải khát , công ty phát hành thẻ tín dụng , công ty vận tải , thương ma ̣i bán buôn , bán lẻ hàng hóa, vệ sinh môi trường, cung cấp điện, nước, kỹ thuật, sức khỏe, y tế…

c) Nhân lực làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành

có liên quan đến hoạch định chính sách, điều hành, kiểm soát, quản lý các dịch vụ phục vụ du lịch như: Cơ quan cấp phép, đăng ký kinh doanh, cơ quan bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, cơ quan quản lý rừng quốc gia, bảo tồn thiên nhiên, cơ quan quản lý văn hóa…

d) Cư dân liên quan đến phục vụ du lịch, như: Các gia đình, cá nhân, các tổ chức cộng đồng của dân tộc ít người tham gia trong quá trình phục vụ khách du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

đ) Các đơn vị nghiên cứu, đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp du lịch trực tiếp phục vụ du khách hoặc các doanh nghiệp hỗ trợ phục vụ du lịch

Trang 17

Như vậy, nhân lực ngành Du lịch bao gồm toàn bộ lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch Do đó, khi đề cập đến khái niệm nhân lực ngành Du lịch thì không chỉ đề cập đến các lao động nghiệp vụ phục vụ khách một cách trực tiếp mà còn cả các lao động

ở cấp độ quản lý, lao động làm công tác sự nghiệp phát triển ngành (nghiên cứu, đào tạo) và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch Căn cứ vào mối liên hệ với đối tượng phục vụ là khách du lịch, lao động du lịch được chia thành hai nhóm: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Lao động trực tiếp bao gồm những người trực tiếp phục vụ khách du lịch như nhân lực trong khách sạn, nhà hàng, quán bar, công ty lữ hành, vận chuyển, các đơn vị trực tiếp cung cấp dịch vụ giải trí, thể thao cho du khách,… Lao động gián tiếp bao gồm những người cung ứng, hỗ trợ cho các hoạt động trực tiếp phục vụ khách du lịch như: cung ứng thực phẩm cho khách sạn nhà hàng, cung ứng hàng hoá cho các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, các dịch vụ của Chính phủ hỗ trợ phát triển du lịch, đào tạo nhân lực du lịch, xây dựng khách sạn, các trang thiết bị phục vụ khách du lịch… Tất nhiên lao động trực tiếp phục vụ khách du lịch bao giờ cũng có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến chất lượng dịch vụ và chất lượng sản phẩm du lịch Tuy nhiên sự phân biệt này cũng chỉ là tương đối, tùy thuộc quy định, cách hiểu và hoàn cảnh cụ thể

ở một địa điểm nhất định

Tóm lại, nhân lực ngành Du lịch được hiểu là “lực lượng lao động

tham gia vào quá trình phát triển du lịch, bao gồm lao động trực tiếp và lao

động gián tiếp” [7,tr.38] Trong khuôn khổ của Luận văn này tác giả chỉ đề

cập đến công tác đào tạo lực lượng lao động trực tiếp cho ngành Du lịch

1.1.1.3 Vai trò và đặc điểm của nhân lực ngành Du lịch

Nhân lực trong ngành Du lịch thường được chia thành 3 nhóm với những vai trò khác nhau:

Trang 18

a) Nhóm nhân lực quản lý nhà nước về du lịch, nhóm này có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và từng địa phương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch; đại diện cho Nhà nước để hướng dẫn để các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh

b) Nhóm nhân lực sự nghiệp là bộ phận có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về ngành Du lịch, có chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch, tác động lớn đến chất lượng và số lượng của nguồn nhân lực ngành Du lịch hiện tại và tương lai

c) Nhóm nhân lực kinh doanh là nhóm có chức năng tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch như các nhà hàng, khách sạn, công ty du lịch, công ty vận chuyển khách du lịch… Nhóm nhân lực này chiếm đa số trong hoạt động của ngành Du lịch

Nhóm nhân lực chức năng kinh doanh có một số đặc điểm riêng là:

- Cơ cấu độ tuổi trẻ, tỷ lệ lao động nữ cao hơn so với lao động nam:

xuất phát từ tính đặc thù của ngành Du lịch đòi hỏi phải có lực lượng lao động

có sức khoẻ, trẻ trung và nhanh nhẹn, nên hình thành lực lượng lao động có

cơ cấu độ tuổi trẻ Nhiều lĩnh vực phục vụ khách du lịch như lễ tân, bàn, bar, buồng đòi hỏi có sự duyên dáng, cẩn thận và khéo léo của người phụ nữ, vì vậy tỷ lệ lao động nữ thường cao hơn lao động nam

- Không đồng đều về chất lượng và cơ cấu: Có sự phân bố không đồng

đều theo lãnh thổ và các nghiệp vụ du lịch Xuất phát từ tính định hướng tài nguyên rõ nét của ngành Du lịch, các hoạt động du lịch thường diễn ra tại các khu, điểm du lịch, những nơi có nhiều tài nguyên du lịch và được đầu tư đồng

bộ về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ngành, vì vậy phần lớn lao động đã qua đào tạo đều làm việc tại những khu du lịch, trung tâm du lịch lớn, ở những khu vực còn lại thường thiếu lao động Bên cạnh đó, cơ cấu lao động du lịch

Trang 19

còn không đồng đều giữa các ngành nghề, lao động hoạt động trong khối nhà hàng, khách sạn nhiều hơn lao động trong khối lữ hành, vận chuyển, cụ thể tại Biểu đồ 1.1

Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Biểu đồ 1.1 Cơ cấu nhân lực ngành Du lịch

Trong ngành Du lịch có nhiều công việc với yêu cầu lao động giản đơn, không đòi hỏi phải đào tạo ở trình độ cao mới thể hiện được, dẫn đến tình trạng tỷ lệ lao động chưa tốt nghiệp phổ thông trung học khá cao Ngược lại,

ở những bộ phận tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch, đội ngũ lao động thường được trang bị đầy đủ các kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, giao tiếp và tỷ lệ thông thạo ngoại ngữ tương đối cao

- Có sự biến động mạnh về số lượng theo thời gian trong năm: Do ảnh

hưởng của tính thời vụ du lịch các hoạt động du lịch thường diễn ra sôi động trong một thời gian nhất định của năm (còn gọi là mùa cao điểm), vào thời điểm cao điểm của mùa du lịch, các doanh nghiệp du lịch thường phải tuyển dụng thêm các lao động thời vụ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, phục vụ khách của mình Đến mùa thấp điểm, doanh nghiệp du lịch chấm dứt hợp đồng lao động với những lao động thời vụ

+ Lực lượng lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp du lịch lại được chia thành 4 nhóm cơ bản với vai trò và đặc trưng khác nhau trong quá trình hoạt động kinh doanh du lịch:

Trang 20

1) Nhóm lao động chức năng quản lý chung: Nhóm này gồm những

người đứng đầu các doanh nghiệp như khách sạn, hãng lữ hành du lịch, vận chuyển du lịch…, là tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc hoặc các chức danh tương đương) Lao động của người lãnh đạo trong lĩnh vực kinh doanh

du lịch có những điểm riêng biệt, bởi đối tượng, công cụ và sản phẩm lao động của họ có tính đặc thù riêng đòi hỏi người lãnh đạo phải được đào tạo chu đáo, bài bản, vừa có trình độ về quản lý vừa có kiến thức về du lịch

2) Nhóm lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế: Bao

gồm lao động thuộc các phòng chức năng như tài chính-kế toán (hoặc phòng kinh tế); vật tư thiết bị, tổng hợp; quản lý nhân sự Nhiệm vụ chính của lao động thuộc các bộ phận này là tổ chức hạch toán kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp, tổ chức lao động, tổ chức các hoạt động kinh doanh, hoạch định quy mô và tốc độ phát triển doanh nghiệp Lao động thuộc nhóm này có khả năng phân tích các vấn đề, đang hoặc sắp xảy ra trong doanh nghiệp của mình, các tác động của các biến số vĩ mô của nền kinh tế, ảnh hưởng tới nhiệm vụ của mình hoặc doanh nghiệp Do đó, để có được những thông tin này, mỗi lao động thuộc các bộ phận quản lý chức năng đồng thời phải có khả năng biết “tổng hợp” vấn đề Bản tổng hợp vấn đề đòi hỏi phải chính xác, có giá trị thực tiễn và có thể dùng để tham mưu cho lãnh đạo Lao động quản lý chức năng phải được đào tạo theo đúng chuyên ngành và có những kiến thức, hiểu biết về các lĩnh vực kinh doanh du lịch

3) Nhóm lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp du lịch: Nhóm này gồm nhân viên thường trực bảo vệ; vệ sinh môi

trường; bảo dưỡng, sửa chữa điện nước; cung ứng hàng hoá; tạp vụ trong các công ty, khách sạn hoặc các doanh nghiệp kinh doanh du lịch Họ không trực tiếp cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho du khách Nhiệm vụ chính của họ

là cung cấp những nhu yếu phẩm, phương tiện làm việc cho những lao động thuộc các bộ phận khác của doanh nghiệp du lịch

Trang 21

4) Nhóm lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách: Đây là những

lao động trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ phục vụ du khách Nhóm lao động này rất đông đảo, thuộc nhiều ngành nghề khác nhau và đòi hỏi phải tinh thông nghề nghiệp Trong khách sạn có lao động thuộc nghề lễ tân; nghề buồng; nghề chế biến món ăn; nghề bàn và pha chế đồ uống; Trong kinh doanh lữ hành có lao động làm công tác điều hành chương trình du lịch, marketing du lịch và đặc biệt có lao động thuộc nghề hướng dẫn du lịch Trong ngành vận chuyển khách du lịch có lao động thuộc nghề điều khiển phương tiện vận chuyển du lịch Các nghề trên lại được chi tiết hoá thành từng việc cụ thể, phân công cho từng chức danh nghề nghiệp khác nhau và số lượng tuỳ theo quy mô của các doanh nghiệp mà

có thể thêm bớt lao động ở các vị trí, hoặc bố trí một người kiêm nhiều việc

Kinh doanh du lịch là chủ yếu nhằm cung cấp các dịch vụ và giải quyết các mối quan hệ giữa con người với con người, nên đòi hỏi nhân viên phải có các kỹ năng giao tiếp, sự thân thiện và hình thức ưa nhìn Đặc biệt, một số công việc trong ngành khách sạn và nhà hàng tương tự như các hoạt động nội trợ trong gia đình Do các đặc điểm này, lực lượng phụ nữ tham gia lao động trong ngành Du lịch thường chiếm tỷ trọng cao

1.1.2 Một số nghề cơ bản được đào tạo trong lĩnh vực du lịch

- Nghề Lễ tân: Nghề lễ tân là nghề giao tiếp với khách hàng để chào

bán dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung trong và ngoài khách sạn, nhằm mục đích mang lại lợi nhuận tối ưu cho khách sạn và sự hài lòng cho khách hàng Nhân viên lễ tân là người đại diện cho khách sạn trong việc giao tiếp với khách hàng Vị trí làm việc thường được bố trí tại quầy tiếp tân trong khu vực tiền sảnh với không gian rộng lớn, sang trọng, thoáng mát, đông người qua lại Do phải giao tiếp với nhiều đối tượng khách khác nhau với những nhu cầu sở thích khác nhau, trình độ văn hóa nhận thức cũng khác nhau, nên nhân viên lễ tân khách sạn cần phải có kỹ năng giao tiếp tốt, kiến

Trang 22

thức nghề vững, hiểu rõ về sản phẩm của khách sạn và những kiến thức cần thiết về kinh tế, văn hóa, xã hội, … Ngoài ra, nhân viên lễ tân cần phải có sức khỏe tốt, ngoại hình ưa nhìn, có khả năng làm việc hiệu quả theo nhóm hoặc độc lập, có tâm với nghề nghiệp

- Nghề phục vụ buồng: Nghề buồng hay còn gọi là nghiệp vụ lưu trú là

nghề thực hiện quá trình thu, dọn và thay đổi các vật dụng, đồ vải trong phòng khách; thực hiện qui trình vệ sinh sạch sẽ tất cả các khu vực phòng khách, khu vực công cộng, hậu sảnh theo tiêu chuẩn của khách sạn, khu resort hoặc các đơn vị có kinh doanh lưu trú; duy trì vẻ đẹp và kéo dài tuổi thọ của các loại trang thiết bị, tiện nghi trong khách sạn thuộc phạm vi trách nhiệm của bộ phận Buồng Ngoài ra, còn cung cấp các dịch vụ bổ sung cho khách lưu trú như giặt là, mini bar, phục vụ ăn, uống tại phòng, trông trẻ Người làm nghề phục vụ buồng thường được bố trí làm việc tại bộ phận phòng trong khách sạn, khu resort hoặc các đơn vị có kinh doanh lưu trú Trong quá trình làm việc thường xuyên sử dụng các chất tẩy, rửa và các loại đồ vải trong phòng khách Để hành nghề, người lao động trong nghiệp vụ lưu trú phải đáp ứng các yêu cầu về sức khoẻ, có ngoại hình phù hợp, đủ kiến thức và hiểu biết chuyên môn, có trình độ ngoại ngữ phù hợp, có khả năng giao tiếp ứng xử trong quá trình phục vụ, có phẩm chất nghề nghiệp tốt, trung thực, nhiệt tình, chịu khó, yêu nghề

- Nghề chế biến món ăn: Là nghề kỹ thuật, trực tiếp chế biến các loại

món ăn tại các cở sở kinh doanh ăn uống (khách sạn, nhà hàng…) đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm Các công việc của nghề chủ yếu được thực hiện tại bộ phận chế biến món ăn (khu vực nhà bếp); với các yêu cầu cao về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với điều kiện

và môi trường làm việc Trong công việc có thể tiến hành độc lập hoặc phối hợp theo nhóm tùy theo yêu cầu cụ thể của công việc cũng như cơ sở chế biến Để hành nghề, người lao động phải đáp ứng yêu cầu về sức khỏe, có

Trang 23

ngoại hình phù hợp, đủ kiến thức và hiểu biết chuyên môn, có khả năng giao tiếp ứng xử trong quá trình sản xuất chế biến, có đạo đức nghề nghiệp, có khả năng tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ của nghề kỹ thuật chế biến món ăn

- Nghề phục vụ bàn và pha chế đồ uống: Là nghề chuyên tổ chức, đón

tiếp và phục vụ khách ăn uống tại các nhà hàng, khách sạn và các cơ sở kinh doanh ăn uống khác, với các hình thức phục vụ đa dạng phong phú (ăn theo thực đơn, chọn món, buffet, các loại tiệc, các loại đồ uống pha chế, đồ uống không cồn, đồ uống có cồn, các hình thức phục vụ khác ) đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, vệ sinh, an toàn, an ninh, chu đáo và lịch sự Các công việc của nghề chủ yếu được thực hiện tại bộ phận nhà hàng; với các yêu cầu cao về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với điều kiện và môi trường làm việc; để tiến hành các công việc của nghề đòi hỏi phải được trang

bị đầy đủ các trang thiết bị cần thiết cho quá trình phục vụ Trong công việc

có thể tiến hành độc lập hoặc phối hợp theo nhóm tùy theo yêu cầu cụ thể của công việc cũng như loại hình nhà hàng, loại hình phục vụ Để hành nghề người lao động phải đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe, có ngoại hình phù hợp,

đủ kiến thức và kỹ năng chuyên môn, có khả năng giao tiếp ứng xử trong quá trình phục vụ, có đạo đức nghề nghiệp, có khả năng tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ của nghề

- Nghề hướng dẫn du lịch: Là nghề chuyên tổ chứ c thực hiê ̣n và phu ̣c

vụ khách theo các chương trình du lịch với các nhiệm vụ cơ bản như : Chuẩn

bị, tổ chức thực hiê ̣n chương trình ; thuyết minh; quản lý đoàn khách ; hướng dẫn tham quan; hỗ trợ quảng cáo tiếp thị và bán chương trình du lịch; thiết lập

và duy trì các mối quan hệ với đối tác ; giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình du lịch; chăm sóc khách hàng… đáp ứng nhu cầu của khách du li ̣ch Đảm bảo các yêu cầu về chất lượng , vê ̣ sinh, an toàn,

an ninh, chu đáo và li ̣ch sự Các công việc của nghề chủ yếu được thực hiện tại: Các tuyến, điểm du lịch; điểm tham quan, thắng cảnh; các cơ sở kinh

Trang 24

doanh dịch vụ du lịch… trong điều kiện và môi trường làm việc rất đa dạng phong phú trải rộng cả về mặt không gian và thời gian; thường xuyên có sự giao tiếp với khách du lịch, các nhà cung cấp dịch vụ và các đối tác khác Cường độ công việc của nghề không quá nặng nhọc nhưng luôn chịu những sức ép tâm lí nhất định Là nghề có tính dịch vụ rất cao Các công việc trong nghề chủ yếu được tiến hành độc lập; chỉ có số ít công việc được tiến hành theo nhóm hoặc được một phần hỗ trợ từ doanh nghiệp chủ quản, các nhà cung ứng dịch vụ du lịch, hướng dẫn viên tại điểm Để hành nghề người lao động phải đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe, có ngoại hình phù hợp, đủ kiến thức và hiểu biết chuyên môn, có khả năng giao tiếp ứng xử trong quá trình phục vụ, có đạo đức nghề nghiệp, có khả năng tổ chức và thực hiện các nhiệm

vụ của nghề hướng dẫn du lịch

- Nghề Quản trị Lữ hành: Quản trị lữ hành là nghề trực tiếp thực hiện,

quản lý và điều phối các hoạt động du lịch lữ hành Nhiệm vụ của nghề quản trị lữ hành bao gồm: Thiết kế chương trình du lịch; tổ chức xúc tiến và bán sản phẩm du lịch; điều hành tổ chức và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình du lịch nhằm đảm bảo thực hiện tốt việc chăm sóc khách hàng để duy trì thị phần, thiết lập và duy trì tốt các mối quan

hệ với đối tác; quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, đảm bảo an toàn, an ninh theo quy định, giám sát và đánh giá kết quả công việc một cách chặt chẽ nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao Các nhiệm vụ trên chủ yếu được thực hiê ̣n ta ̣i các doanh nghiê ̣p kinh doanh lữ hành, văn phòng

đa ̣i lý lữ hành và các cơ sở kinh doanh di ̣ch vu ̣ du li ̣ch khác trong điều kiện môi trường làm việc rất đa dạng, phong phú, thường xuyên có sự giao tiếp với khách hàng, với các nhà cung cấp dịch vụ và các đối tác trong và ngoài nước Để thực hiện nhiệm vụ, người lao động cần có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và ngoa ̣i ngữ; có sức khỏe, ngoại hình phù hợp; có khả năng giao tiếp ứng xử và đạo đức nghề nghiệp Ngoài ra, nghề quản trị lữ hành đòi hỏi người lao động phải có

Trang 25

năng lực chỉ đạo, điều hành, giám sát các công việc nêu trên và có trình độ ngoại ngữ thích ứng với từng cấp quản trị

- Nghề Quản trị khách sạn: Quản trị khách sạn gắn với trách nhiệm

chính là quản lý trực tiếp các hoạt động hàng ngày của các bộ phận trực tiếp

và gián tiếp phục vụ khách du lịch như: Lễ tân, buồng, nhà hàng, chế biến món ăn, dịch vụ giải trí, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, kế toán, bán hàng và marketing, nhân sự, Phạm vi công việc và nhiệm vụ cụ thể hàng ngày, tuần, tháng của các khách sạn khác nhau về quy mô, cấp hạng, tính chất thông thường rất khác nhau Tuy nhiên, các công việc chủ yếu chung nhất của nghề Quản trị khách sạn bao gồm: Quản lý toàn bộ hoạt động của khách sạn (quản

lý chung), quản lý bộ phận buồng, quản lý bộ phận lễ tân, quản lý bộ phận chế biến món ăn, quản lý dịch vụ khác, quản lý nhân sự hành chính, quản lý bán hàng và tiếp thị, quản lý cơ sở vật chất-kỹ thuật, quản lý tài chính, quản lý an ninh an toàn Nghề Quản trị khách sạn đòi hỏi người lao động phải thực hiện các công việc từ thấp đến cao Muốn thực hiện được công việc quản trị khách sạn, trước hết, người lao động phải thực hiện tốt các nghiệp vụ trực tiếp phục

vụ khách hàng Ngoài ra, nghề Quản trị khách sạn đòi hỏi nguời lao động phải

có năng lực chỉ đạo, giám sát kiểm tra các công việc nêu trên và phải có trình

độ ngoại ngữ thích ứng với từng cấp quản trị Để hành nghề, người lao động phải có sức khỏe tốt, có ngoại hình phù hợp, đạo đức nghề nghiệp tốt, có đủ kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề đáp ứng với vị trí công việc Ngoài ra, cần phải thường xuyên học tập để nâng cao khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ, mở rộng kiến thức xã hội; rèn luyện tính cẩn thận, chi tiết, rõ ràng; xây dựng ý thức nghề và sự say mê nghề

- Quản trị dịch vụ giải trí thể thao: Là nghề chuyên về nghiên cứu ,

khảo sát nhu cầu giải trí, thể thao của khách du lịch và tiến hành lâ ̣p kế hoa ̣ch, tổ chức thực hiê ̣n, kiểm tra, đánh giá, tổng kết các di ̣ch vu ̣ giải trí , thể thao… đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng dịch vụ

Trang 26

Các công việc của nghề chủ yếu được thực hiện tại : Các điểm du lịch; các cơ sở lưu trú du li ̣ch Điều kiện và môi trường làm việc của nghề rất đa dạng phong phú trải rộng cả về mặt không gian và thời gian; thường xuyên có sự giao tiếp với khách hàng , các nhà cung cấp dịch vụ và các đối tác khác Cường độ công việc của nghề thường không cao nhưng phải chịu những sức

ép tâm lý nhất định Đây là nghề có tính dịch vụ rất cao ; các công cụ, máy móc, thiết bị, dụng cụ của nghề rất đa da ̣ng liên quan đến viê ̣c quản trị các dịch vụ giải trí… Các công việc trong nghề thường được tiến hành theo nhóm

và cần có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa các khâu trong quá trình thực hiện cũng như giữa các bô ̣ phâ ̣n, giữa những người tham gia vào viê ̣c lâ ̣p kế hoa ̣ch, quản trị và tổ chức thực hiện các dịch vụ này Để hành nghề người lao động phải đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe, có ngoại hình phù hợp, có đạo đức nghề nghiệp, đủ kiến thức và hiểu biết chuyên môn , có khả năng tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ của nghề quản tri ̣ di ̣ch vu ̣ giải trí, thể thao…

1.2 Đào tạo nhân lực du lịch và yếu tố chủ yếu tác động đến hoạt động đào tạo nhân lực du lịch

1.2.1 Đào tạo nhân lực du lịch

Theo Từ điển trực tuyến Wikipedia thì đào tạo là việc dạy các kỹ năng

thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: Đào tạo

cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo

Trang 27

Một số nhà nghiên cứu cho rằng đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người

Đào tạo trong luận văn này được hiểu là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức,

kỹ xảo, kỹ năng, thái độ… để hoàn thành nhân cách cho một cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả Hay nói một cách chung nhất, đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định

Đào tạo nhân lực du lịch tại các cơ sở đào tạo du lịch là hoạt động đào tạo nghề nghiệp nhằm cung cấp nhân lực có chất lượng cho ngành Du lịch Quá trình đào tạo cung cấp cho người học kiến thức, rèn luyện cho họ kỹ năng và định hướng cho họ thái độ cần thiết để làm việc và phát triển trong lĩnh vực du lịch

1.2.2 Những yếu tố chủ yếu tác động đến hoạt động đào tạo nhân lực

và các tiền đề quan trọng để phát triển giáo dục nói chung, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề du lịch nói riêng cả về quy mô, đối tượng và chất lượng

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, làm thay đổi căn bản tư duy kinh tế, chính trị và xã hội trên phạm vi toàn thế giới theo xu hướng hội nhập cùng phát triển Đối với các cơ sở đào tạo nói chung,

cơ sở đào tạo du lịch nói riêng, toàn cầu hóa tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy

Trang 28

giao lưu, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao và tiếp nhận công nghệ đào tạo tiên tiến trên thế giới Thêm vào đó, du lịch là một trong những lĩnh vực hội nhập quốc tế từ rất sớm, dịch vụ du lịch phải tuân thủ các quy trình tiêu chuẩn quốc tế Do đó nhân lực du lịch cũng phải có năng lực, tiêu chuẩn trình độ phù hợp Đây cũng là một trong số các yếu tố có tác động lớn đến công tác đào tạo của các cơ sở đào tạo du lịch

Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển làm thay đổi thế giới, đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa và hình thành một nền kinh tế không biên giới, một “thế giới phẳng”, không còn cách trở về địa lý và trình độ phát triển,

đã tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo tìm kiếm, trao đổi và sử dụng thông tin phục vụ giảng dạy và nghiên cứu Yếu tố này dẫn đến những thay đổi sâu sắc của giáo dục và đào tạo trên thế giới theo hướng hiện đại hóa và quốc tế hóa

Quốc tế hóa giáo dục và đào tạo nói chung và quốc tế hóa giáo dục và đào tạo du lịch nói riêng chính là một biểu hiện của toàn cầu hóa Đó là việc tích hợp, thể chế hóa các yếu tố quốc tế vào tiến trình quản lý và tổ chức thực hiện giáo dục đào tạo du lịch Quá trình này diễn ra ở cả nội tại cơ sở đào tạo

du lịch và ở bên ngoài cơ sở đào tạo du lịch Đối với cơ sở đào tạo du lịch, quốc tế hóa là việc đổi mới chương trình, giáo trình, phương pháp dạy và học, hoạt động nghiên cứu và hợp tác nhằm hướng tới tính quốc tế và liên thông văn hóa trong giáo dục và đào tạo du lịch Trong khi đó, phía bên ngoài cơ sở đào tạo, quốc tế hóa giáo dục và đào tạo du lịch là sự dịch chuyển bốn yếu tố

cơ bản xuyên biên giới giữa các quốc gia: Người học, người dạy, chương trình đào tạo và cơ sở đào tạo du lịch Quá trình quốc tế hóa giáo dục và đào tạo đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển giáo dục đào tạo du lịch của các nước, tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các cơ sở đào tạo du lịch ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển Tính cạnh tranh trong giáo dục

và đào tạo du lịch trở nên gay gắt hơn

b) Yếu tố trong nước

Trang 29

Năm 2006 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đặt ra nhiệm vụ vô cùng to lớn cho ngành giáo dục nước ta là đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập quốc tế gia tăng

Đời sống kinh tế xã hội nước ta sau hơn gần 30 năm đổi mới đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng Kinh tế tiếp tục tăng trưởng ở mức cao so với khu vực và thế giới, trung bình khoảng 7%/năm giai đoạn 2006-2010 Văn hóa xã hội phát triển, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu trong năm năm tới (2011-2015) là phát triển kinh tế nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đạt được các mục tiêu đã đề

ra, Đại hội đã xác định các nhiệm vụ chủ yếu, trong đó có nhiệm vụ phát triển nguồn lực con người: “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học công nghệ và kinh tế trí thức” với chỉ tiêu đề ra “tỉ lệ lao động qua đào tạo là 55%”

Luật Giáo dục và Luật Dạy nghề đã tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa của sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề nước ta, khuyến khích đầu tư phát triển giáo dục đào tạo dưới nhiều hình thức, chú trọng dạy nghề, tạo cơ chế quản lý linh hoạt theo hướng tăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở đào tạo

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, đồng thời nhấn mạnh: Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế

Đối với công tác đào tạo nhân lực du lịch, Chiến lược phát triển du lịch

Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030 xác định: Coi trọng phát triển nguồn

Trang 30

nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu về chất lượng , hợp lý về cơ cấu ngành nghề

và trình độ đào tạo để đảm bảo tính chuyên nghiê ̣p , đủ sức cạnh tranh và hội nhập khu vực , góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch ; tập trung đào tạo nhân lực bậc cao , đô ̣i ngũ quản lý trở thành lực lượng “máy cái” để thúc

đẩy chuyển giao, đào ta ̣o ta ̣i chỗ theo yêu cầu công viê ̣c

- Cạnh tranh ngày càng gay gắt về chất lượng đào tạo, đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý, các nguồn lực và các quan hệ đối tác cả ở trong nước và quốc tế Tính cạnh tranh thể hiện ở chương trình đào tạo, chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy, các điều kiện đảm bảo chất lượng, tính hiệu quả của các hoạt động và dịch vụ đào tạo du lịch;

- Các cơ sở đào tạo du lịch tiếp tục tăng mạnh và bắt đầu phân hóa về chất lượng tuy nhiên tất cả đều theo hướng hiện đại hóa với xu hướng hội nhập quốc tế, vươn tầm khu vực và thế giới;

- Xuất hiện ngày càng nhiều các cơ sở đào tạo du lịch nước ngoài tại Việt Nam Xu hướng du học tại chỗ này đang và sẽ tạo nhiều áp lực cạnh tranh không chỉ đối với việc thu hút người học mà còn cả đối với nguồn giáo viên có trình độ

- Nhiều hình thức hợp tác, liên kết đào tạo giữa các cơ sở đào tạo du lịch trong nước với các cơ sở cơ uy tín trên thế giới đang ngày càng phát triển;

- Các nguồn lực phát triển như tài chính, khoa học công nghệ, nhân lực, thông tin và các thể chế quản lý sẽ dần có tiềm năng huy động và bổ sung từ

Trang 31

xã hội, từ các quan hệ hợp tác với các trường, các doanh nghiệp và các tổ chức trong và ngoài nước

1.2.2.2 Các yếu tố bên trong cơ sở đào tạo

a) Các yếu tố đầu vào của đào tạo

- Chất lượng tuyển sinh đầu vào: Trong hoạt động đào tạo có nhiều việc rất quan trọng trong đó có công tác tuyển sinh - một khâu của đầu vào Hàng năm, các cơ sở đào tạo du lịch dưới sự chỉ đạo của Bộ GDĐT, Bộ LĐTBXH, các Bộ, ngành liên quan dành rất nhiều thời gian, tài chính và nhân lực cho công tác tuyển sinh Thực ra đào tạo có nhiều công đoạn, nhưng nếu xét trên tác động thực tế trong xã hội thì tuyển sinh là một trong những công đoạn quan trọng nhất, đặc biệt đối với Việt Nam, nơi mà mọi gia đình xem học đại học là con đường tốt nhất đảm bảo tương lai của con em mình Nếu xét về khía cạnh đầu vào của các cơ sở đào tạo du lịch, tuyển sinh là một khâu sống còn của hoạt động đào tạo đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh cao như hiện nay, một cơ sở đào tạo du lịch sẽ không thể tồn tại nếu không tuyển sinh được Cho nên đưa ra phương án hợp lý và thực hiện tốt các kỳ thi để tuyển sinh đầu vào cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề du lịch không chỉ là một trách nhiệm lớn của ngành giáo dục và dạy nghề nước ta mà còn là sự sống của các cơ sở đào tạo du lịch và là mối quan tâm của toàn xã hội Hơn nữa, tổ chức một kỳ tuyển sinh có chất lượng để thu được kết quả đánh giá chính xác năng lực của thí sinh là một việc phức tạp, phải là một hoạt động có tính chuyên nghiệp cao và khá tốn kém

- Chương trình, giáo trình đào tạo: Chương trình, giáo trình là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của đào tạo nhân lực du lịch Chương trình đào tạo thể hiện mục tiêu đào tạo, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có sau khi học viên kết thúc khóa học; phạm vi và cấu trúc nội dung đào tạo, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với các môn học ở mỗi trình độ đào tạo

Trang 32

Theo quy định trong hệ thống giáo dục, đào tạo và dạy nghề của nước

ta trước năm 2013, chương trình gồm chương trình khung và chương trình chi tiết Chương trình khung là do Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành, quy định khung tối thiểu kiến thức, kỹ năng cần thiết cần phải được đào tạo cho học viên của từng chuyên ngành/nghề đào tạo Chương trình chi tiết hay còn gọi là chương trình đào tạo là do các cơ sở đào tạo xây dựng dựa trên nền tảng chương trình khung, người đứng đầu cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm ban hành và chỉ đạo cơ

sở mình áp dụng thực hiện Tuy nhiên, hiện nay theo quy định mới của Luật giáo dục đại học ban hành có hiệu lực từ 01/01/2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cơ sở đào tạo tự chủ, tự chịu trách nhiệm về xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo Bộ không quy định chương trình khung mà quy định chuẩn đầu ra Luật Dạy nghề vẫn để quy định về chương trình khung tuy nhiên xu hướng trong thời gian tới các cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề cũng sẽ bỏ quy định về chương trình khung, thay vào đó sẽ quy định về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ để các cơ sở đào tạo chủ động, tự chịu trách nhiệm về chương trình đào tạo của cơ sở mình đảm bảo tính đặc thù, cạnh tranh trong sản phẩm đào tạo

Luật Giáo dục đại học ban hành năm 2012 quy định: “Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học gồm: mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; nội dung đào tạo, phương pháp đánh giá đối với mỗi môn học và ngành học, trình độ đào tạo; bảo đảm yêu cầu liên thông giữa các trình độ và với các chương trình đào tạo khác”

Chương trình đào tạo được tổ chức thực hiện theo năm học hoặc theo hình thức tích luỹ tín chỉ đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề Yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình đào tạo phải được cụ thể hóa thành giáo trình và tài liệu giảng dạy ở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên Giáo

Trang 33

trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục Giáo trình đào tạo cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng, thái

độ quy định trong chương trình đào tạo đối với mỗi môn học, ngành, nghề, trình độ đào tạo, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục nghề nghiệp Cho

dù có quy định chi tiết, hay thay đổi cơ quan, thẩm quyền ban hành thì chương trình, giáo trình đào tạo cần được xây dựng trên nguyên tắc lấy người học làm trung tâm, xây dựng dựa trên kinh nghiệm và kiến thức của học viên

- Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý: Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, các cơ sở đào tạo du lịch đã có nhiều đổi mới trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của mình nhằm đào tạo đội ngũ nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội Để nâng cao chất lượng đào tạo, các cơ sở đào tạo du lịch đã có những giải pháp đồng bộ như: Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết

bị phục vụ dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên, giảng viên; thực hiện đổi mới phương pháp dạy học… Trong đó, xác định việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên, giảng viên là giải pháp mang tính quyết định trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, quyết định chất lượng “sản phẩm” đầu ra của các trường du lịch

Điều 15 Luật Giáo dục do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2005 khẳng định: “Nhà giáo giữ vao trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục” Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để đánh giá đúng vai trò của nhà giáo trong quá trình đào tạo

Với đặc thù là ngành kinh tế tổng hợp, sản phẩm tạo ra chủ yếu là dịch

vụ và nhân lực tham gia phần lớn vào quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ Các trường du lịch có môi trường đào tạo với nhiều đặc điểm riêng bởi tính chất, mục tiêu của ngành nghề đào tạo Sinh viên, học viên sau khi được đào tạo

ra trường phải là những người không chỉ hiểu biết về ngành Du lịch, có các kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ du lịch mà còn cần có kiến thức

Trang 34

tổng hợp, khả năng ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp tốt và thái độ làm việc chuyên nghiệp, cầu thị vì đối tượng phục vụ là khách du lịch với trình độ hiểu biết và nhu cầu phục vụ rất đa dạng Để đạt được mục tiêu này, cần có nhiều yếu tố tác động trong quá trình giáo dục, đào tạo góp phần hình thành

ở học viên những phẩm chất chính trị, kỹ năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp theo yêu cầu của thực tiễn công việc, trong những yếu tố đó phải đặc biệt nhắc đến “Người thầy” Do đó, người thầy chính là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo và thể hiện rõ nét, sâu sắc nhất trong mối quan hệ, tác động qua lại với người học

Bên cạnh đó, cán bộ quản lý sở đào tạo có vai trò hết sức quan trọng trong công tác đào tạo nhân lực nói chung, đào tạo nhân lực du lịch nói riêng Nếu cán bộ quản lý giỏi có kỹ năng bao quát, điều hành công việc tốt, biết sử dụng nhân lực, vật lực đúng chỗ, đúng việc hiệu quả sẽ tác động tích cực tới công tác đào tạo, ngược lại người quản lý yếu kém, không có năng lực sẽ có tác động không tốt tới công tác đào tạo thậm chí kìm hãm sự phát triển của các cơ sở đào tạo

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học: Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật cần thiết được GVGV và HSSV sử dụng trong hoạt động dạy và học, nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học bao gồm cả các đồ vật, những của cải vật chất và tinh thần, tự nhiên xung quanh nhà trường CSVC của nhà trường gồm nhà cửa (phòng học, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, phòng chức năng…) sân chơi, các đồ dùng, thiết bị dạy học CSVC của xã hội được các cơ sở đào tạo du lịch sử dụng vào mục tiêu đào tạo như các công cụ, dụng cụ, thiết bị của các nhà hàng, khách sạn, công ty du lịch, đại lý lữ hành, các danh lam thắng cảnh, di tích văn hóa, lịch sử, thư viện, bảo tàng, nhà văn hoá, nhà truyền thống, sân bãi thể dục thể thao

Trang 35

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, sự hội nhập và phát triển của kinh

tế-xã hội, khoa học công nghệ, yêu cầu của tế-xã hội về việc đào tạo nhân lực du lịch ngày càng cao, thì CSVC, trang thiết bị của các cơ sở đào tạo du lịch ngày càng phải phong phú, hiện đại, đồng bộ đáp ứng tiêu chuẩn của ngành CSVC trang thiết bị đào tạo du lịch rất quan trọng và là một trong những yếu

tố tác động trực tiếp đến quá trình đào tạo, góp phần quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường Thực tiễn giáo dục, đào tạo và dạy nghề của các nước trên thế giới cũng như ở nước ta cho thấy không thể đào tạo con người phát triển toàn diện theo yêu cầu phát triển của xã hội mà không có những CSVC tương ứng Đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo nhân lực du lịch chủ yếu là đào tạo nghề, tập trung thực hành nhiều để hình thành và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho HSSV Do đó CSVC, trang thiết bị thực hành là điều kiện cần thiết, quan trọng

- Tài chính, luật định, cơ chế chính sách: Trong các cuộc thảo luận về giáo dục đào tạo ở khắp nơi trên thế giới, những vấn đề về tài chính thường nổi bật do quan điểm khác nhau của nhiều bên liên quan Các nhà hoạch định chính sách đang đặt câu hỏi liệu ngân sách nhà nước nên đóng góp bao nhiêu cho giáo dục đào tạo giữa những đòi hỏi đang cạnh tranh lẫn nhau: Giáo dục phổ thông, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phát triển giao thông công cộng, và nhiều thứ khác nữa mà ngân quỹ quốc gia phải lo liệu Các quan chức trong lĩnh vực giáo dục đại học, dạy nghề và các giảng viên thì quan tâm đến chất lượng giáo dục cùng với sự khan hiếm nguồn lực và việc duy trì đời sống sinh hoạt bình thường của họ Sinh viên và gia đình họ thì lo lắng về việc làm cách nào để chi trả cho việc học tập sau khi tốt nghiệp trung học

Mức độ tổng thể các nguồn lực dành cho giáo dục đào tạo là nhân tố chủ yếu quyết định quy mô và chất lượng của toàn bộ sự nghiệp giáo dục Nói chung, càng có nhiều tiền cho giáo dục, càng có thêm cơ hội tiếp cận cho nhiều người (vì có thêm chỗ học được cung cấp) Chất lượng cũng có khả

Trang 36

năng sẽ tốt hơn khi có nhiều nguồn lực hơn, vì sẽ có thêm nguồn tài chính để chi cho đội ngũ, chi cho các dịch vụ và trang thiết bị

Quy chế, luật định cũng có tác động lớn tới hoạt động đào tạo Mối quan hệ giữa quy chế, luật định với đào tạo cũng giống như mối quan hệ kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng Hoạt động đào tạo cần có hệ thống quy định pháp luật để điều chỉnh sao cho các cơ sở đào tạo hoạt động đảm bảo các quy định, tiêu chuẩn đề ra Nếu các quy chế, luật định sát với yêu cầu thực tế, phù hợp với các cơ sở đào tạo sẽ giúp cho các cơ sở đào tạo hoạt động tốt và ngày càng phát triển Tuy nhiên, nếu các quy chế, luật định cứng nhắc, không phù hợp sẽ gây khó khăn cho các cơ sở đào tạo và kìm hãm sự phát triển của các cơ sở đào tạo

b) Các yếu tố tác động trong quá trình đào tạo

- Môi trường học tập: Môi trường giáo dục là tổng hòa các mối quan hệ trong đó giáo dục và người được giáo dục tiến hành hoạt động dạy và học Môi trường giáo dục rất đa dạng, có thể phân chia một cách tương đối thành các môi trường nhà trường, gia đình, xã hội và tự nhiên “Các phương tiện và điều kiện vật chất - kĩ thuật và xã hội - tâm lí tác động thường xuyên và tạm thời, được người dạy và người học sử dụng một cách có ý thức, để đảm bảo cho lao động dạy và học tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao Đây là một trong các yếu tố của quá trình giáo dục”[10, tr.358]

Ở một phương diện khác, môi trường giáo dục, dạy nghề là tập hợp không gian với các hoạt động xã hội của cá nhân, các phương tiện và giao lưu được phối hợp với nhau tạo điều kiện thuận lợi để giáo dục đạt kết quả cao nhất Nhiệm vụ chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và phát triển môi trường giáo dục lành mạnh đã trở thành chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được xác định trong Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề để mọi cá nhân và tổ chức phải thực hiện Do đó, việc xác định nhiệm vụ xây dựng và phát triển môi trường văn hoá giáo dục cho thế hệ trẻ là trọng tâm

Trang 37

của ngành Giáo dục, nhưng để hoàn thành được nhiệm vụ quan trọng này đòi hỏi phải có sự quan tâm của toàn xã hội Xác định mục tiêu chung của giáo dục là phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ, để giáo dục được một con người trưởng thành là một việc rất khó nhưng cũng rất đáng trân trọng

Môi trường giáo dục và học tập của các trường đào tạo du lịch bao gồm các phương tiện và điều kiện vật chất - kĩ thuật và xã hội - tâm lí tác động thường xuyên và tạm thời, được người dạy và người học du lịch sử dụng một cách có ý thức, để đảm bảo cho hoạt động đào tạo du lịch được tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao Đồng thời môi trường giáo dục và học tập du lịch cũng là tập hợp không gian với các hoạt động xã hội của cá nhân, các phương tiện và giao lưu được phối hợp với nhau tạo điều kiện thuận lợi để đào tạo du lịch đạt kết quả cao nhất Nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo du lịch là phải xây dựng một môi trường học tập thân thiện, hiện đại và chuyên nghiệp

để đào tạo ra đội ngũ nhân lực du lịch giỏi chuyên môn nghiệp vụ, ý thức tổ chức kỷ luật cao, yêu nghề, trách nhiệm với công việc, có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu công việc

- Phương pháp giảng dạy và quy trình đào tạo: Thế giới đã bước sang

kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của công nghệ thông tin và kinh tế tri thức, kỷ nguyên đang và sẽ chứng kiến rất nhiều những đổi thay to lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Trong giáo dục, đào tạo và dạy nghề đã hình thành và bước đầu phát triển mạnh mẽ các khuynh hướng mới như đa dạng hoá các loại hình giáo dục, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy-học, diễn đàn khoa học trên mạng Internet

Những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin, đang làm thay đổi nhanh chóng diện mạo của thế giới, thúc đẩy nhanh chóng tốc độ hội nhập và toàn cầu hoá, theo đó làm thay đổi mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy và học Nội dung giáo dục, đào tạo và dạy nghề ngày nay mang tính hiện đại và phát triển, phương tiện trang thiết bị hỗ trợ giảng dạy ngày càng

Trang 38

phong phú, đa dạng và tiện ích Do đó đòi hỏi phải có những phương pháp giảng dạy tích cực, coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo và tạo tiền đề để họ có khả năng tự học suốt đời

Theo ThS Phạm Thị Thúy, tác giả cuốn Cẩm nang Phương pháp sư phạm thì phương pháp giảng dạy tích cực, hay phương pháp giáo dục chủ động, phương pháp sư phạm hiện đại…, là những cách gọi để chỉ những phương pháp, cách thức kỹ thuật khác nhau làm cho giờ học sinh động, hấp dẫn, người học được làm việc, được sáng tạo… Chẳng hạn phương pháp làm việc nhóm, sắm vai, tình huống… Đây là một nhóm các phương pháp cụ thể kết hợp với phương pháp thuyết trình, giúp nâng cao chất lượng dạy và học

Áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực mang lại ích lợi rất lớn cho người dạy Phương pháp giảng dạy tích cực sẽ giúp cho giờ giảng của mỗi giáo viên trở nên sinh động, hấp dẫn và có ý nghĩa Người học là trung tâm nhưng vai trò, uy tín của người thầy được đề cao hơn Bên cạnh đó, khả năng chuyên môn của người thày sẽ tăng lên nhờ áp lực của phương pháp, bởi nội dung kiến thức của từng giờ giảng phải được cập nhật liên tục để đáp ứng các câu hỏi của người học trong thời đại thông tin rộng mở Ngoài ra, quá trình dạy học còn là quá trình giao lưu, trao đổi kiến thức giữa thày và trò, phương pháp giảng dạy tích cực sẽ giúp giáo viên biết được những nội dung, kiến thức mà người học đã có, tránh được việc cung cấp kiến thức một chiều Từ

đó người thầy luôn phải đổi mới bài giảng cũng như phong cách đứng lớp Người dạy cũng sẽ học được từ học trò của mình rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế Mối quan hệ giữa thầy và trò sẽ trở nên gần gũi, tốt đẹp hơn qua việc giải quyết các tình huống liên quan đến nội dung bài học và cuộc sống của người học

Áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực không chỉ ích lợi đối với người dạy mà còn rất có ích đối với người học Họ sẽ thấy là họ được học chứ

Trang 39

không phải bị học Người học được chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm của mình đồng thời bổ sung kiến thức kinh nghiệm mới không chỉ từ người thày mà còn từ chính các bạn trong lớp Họ được sáng tạo, được thể hiện và được làm việc Từ đó họ sẽ ghi nhớ kiến thức sâu hơn, tăng khả năng áp dụng vào thực tiễn, thực hành và rèn luyện kỹ năng tốt hơn Thêm vào đó, phương pháp giảng dạy đào tạo tích cực giúp người học được khám phá tiềm năng của chính mình từ đó họ sẽ cảm thấy tự tin hơn trong công việc và trong cuộc sống sau này Charles Handy, nhà triết lý kinh doanh nổi tiếng người Anh đã

nói: “Để làm cho tương lai trở thành hiện thực, chúng ta cần phải tự tin và tin

tưởng vào giá trị của chính mình Đó là điều mà các trường học phải dạy cho mọi người” Muốn người học có được sự tự tin vào giá trị của mình, họ cần

được học theo phương pháp chủ động

Đối với công tác đào tạo nhân lực du lịch, cũng giống như việc đào tạo

ở các lĩnh vực khác, cần áp dụng kết hợp giữa phương pháp thuyết trình với các phương pháp giảng dạy tích cực như đóng vai, làm việc nhóm, nghiên cứu giải quyết các tình huống đặt ra… Ngoài ra, Chiến lược phát triển nhân lực du lịch giai đoạn 2011-2020 xác định đào tạo du lịch là đào tạo nghề, chú trọng thực hành, rèn luyện kỹ năng tay nghề, bồi dưỡng đạo đức, ý thức thái độ nghề nghiệp Do đó, phương pháp đào tạo du lịch còn cần chú trọng đào tạo thực hành, người dạy không chỉ áp dụng các phương pháp tích cực để giảng dạy lý thuyết mà còn cần có các phương pháp làm mẫu, thị phạm vừa thực hành làm vừa hướng dẫn cho người học sau đó theo dõi họ làm và chỉ ra cho

họ biết những bước công việc hoặc những kỹ năng người học làm còn chưa đúng, chưa tốt để họ sửa và rèn luyện hình thành kỹ năng, nâng cao tay nghề, phát triển tư duy, sáng tạo trong công việc sau này

Nội dung đào tạo: Đào tạo nhân lực du lịch bao gồm những hoạt động sau: Xác định mục tiêu đào tạo, kiến thức kỹ năng cần trang bị, xây dựng kế

Trang 40

hoạch, lựa chọn phương pháp, tổ chức và quản lý quá trình đào tạo và cuối cùng là đánh giá kết quả đào tạo

Quá trình đào tạo: Quá trình dạy học trong giáo dục và đào tạo nói chung và trong đào tạo du lịch nói riêng thường được phân chia ra một cách tương đối thành hai quá trình bộ phận là dạy học lí thuyết và dạy học thực hành Dạy lí thuyết là truyền đạt và lĩnh hội hệ thống kiến thức chung và kiến thức lí thuyết nghề nghiệp, trên cơ sở đó phát triển năng lực trí tuệ cũng như giáo dục cơ sở thế giới quan khoa học, hình thành những phẩm chất đạo đức cho người học Dạy học thực hành nghề có nhiệm vụ chủ yếu là truyền đạt, xây dựng và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, hình thành ý thức thái độ nghề nghiệp

và những kinh nghiệm thực tiễn cho người học Dạy thực hành là một quá trình đào tạo được tổ chức có kế hoạch, là một quá trình giảng dạy, học tập và lao động Quá trình trình ấy cùng với quá trình giảng lý thuyết và thực tập tại doanh nghiệp tạo nên một thể thống nhất trong đào tạo nghề Rõ ràng là sự phân chia tương đối quá trình dạy học trong đào tạo nghề như vậy là dựa vào chức năng, nhiệm vụ của dạy lí thuyết và dạy thực hành nghề Hai quá trình thường được bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau, được tổ chức thực hiện xen kẽ, thay đổi và kế thừa nhau Hiện nay chúng ta đang có xu hướng thực hiện thống nhất quá trình dạy lí thuyết chuyên môn với quá trình dạy thực hành Đào tạo theo Môdul đang triển khai thực hiện chính là cầu nối giữa dạy

lí thuyết và dạy thực hành nghề gắn bó chặt chẽ với nhau Tuy nhiên sự khác nhau trong phương pháp lĩnh hội, nhận thức đối với các kiến thức lý thuyết và các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp vốn tồn tại khách quan trong quá trình dạy học ở đào tạo du lịch nói riêng, đào tạo nghề nghiệp nói chung

- Quản lý giáo dục đào tạo: Khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều

cách hiểu Do giáo dục là một lĩnh vực hoạt động xã hội nên quản lý giáo dục được xem là quản lý xã hội Quản lý giáo dục luôn bám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị-xã hội, phát triển kinh tế trong từng thời kỳ, giai đoạn lịch

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch (2011), Báo cáo công tác đào tạo nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2007-2011, Khách sạn Điện lực, ngày 17-18/9/2011, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác đào tạo nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2007-2011
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch
Năm: 2011
3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Báo cáo tổng kết các năm 2008-2012 4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), Dự thảo Thông tư quy định Tiêuchuẩn kỹ năng nghề quốc gia trong lĩnh vực du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết các năm 2008-2012" 4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), "Dự thảo Thông tư quy định Tiêu
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Báo cáo tổng kết các năm 2008-2012 4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2012
5. Dự án Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam (2007), Quản lý nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp khách sạn, dịch từ cuốn “Human Resource Management in the Hospitality Industry” của Michael Boella và Steve Goss Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp khách sạn, "dịch từ cuốn “Human Resource Management in the Hospitality Industry
Tác giả: Dự án Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
Năm: 2007
6. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Du lịch, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Du lịch
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
8. Phạm Minh Hạc (2007), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
9. Nguyễn Duy Mậu, Luận án tiến sỹ kinh tế (2011), “Phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”
Tác giả: Nguyễn Duy Mậu, Luận án tiến sỹ kinh tế
Năm: 2011
10. Hà Thế Ngữ (2001), Giáo dục học - một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà NộiTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học - một số vấn đề lí luận và thực tiễn," Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
Tác giả: Hà Thế Ngữ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
11. Caroline Ashley, Peter De Brine, Amy Lehr and Hannah Wilde (2007), The role of Tourism Sector in Expanding Economic Opportunity, Corperate Social Responsibility Inititial Report No.23. Cambridge, MA: Kennedy School of Government, Havard University Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of Tourism Sector in Expanding Economic Opportunity
Tác giả: Caroline Ashley, Peter De Brine, Amy Lehr and Hannah Wilde
Năm: 2007
12. Dinh Van Dang (2008), Rising the Role of Tourism Institutions in Vietnam Tourism Human Resource Development Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rising the Role of Tourism Institutions in Vietnam
Tác giả: Dinh Van Dang
Năm: 2008
14. Gary P. Latham (1988), Human Resource Training and Development, Annual Review of Psychology Vol. 39, February 1988, pg. 545-582 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Resource Training and Development
Tác giả: Gary P. Latham
Năm: 1988
15. Nguyen Ngoc Thang (2012), Human Resource Training and Development as Facilitators of Corporate Social Responsibility, Journal of Economics and Development Vol. 14, No.3, December 2012, pg. 88 - 98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Resource Training and Development as Facilitators of Corporate Social Responsibility
Tác giả: Nguyen Ngoc Thang
Năm: 2012
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2011), Quy hoạch phát triển nhân lực du lịch đến năm 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Chỉ tiêu đào tạo giai đoạn 2008-2012 - Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Bảng 2.1. Chỉ tiêu đào tạo giai đoạn 2008-2012 (Trang 54)
Bảng 2.2. Số lượng cán bộ, giáo viên và giảng viên - Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Bảng 2.2. Số lượng cán bộ, giáo viên và giảng viên (Trang 58)
Bảng 2.3. Số liệu tốt nghiệp giai đoạn 2008-2012 - Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Bảng 2.3. Số liệu tốt nghiệp giai đoạn 2008-2012 (Trang 65)
Bảng 2.4. Kết quả thống kê về chương trình đào tạo - Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Bảng 2.4. Kết quả thống kê về chương trình đào tạo (Trang 71)
Bảng 2.6 thể hiện kết quả đánh giá về cơ sở vật chất, trang thiết bị của  cựu sinh viên - Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Bảng 2.6 thể hiện kết quả đánh giá về cơ sở vật chất, trang thiết bị của cựu sinh viên (Trang 73)
Bảng 2.8 đánh giá về việc thực tập tại doanh nghiệp của cựu sinh viên - Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Bảng 2.8 đánh giá về việc thực tập tại doanh nghiệp của cựu sinh viên (Trang 75)
Bảng 2.9. Thống kê về kết quả đào tạo - Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Bảng 2.9. Thống kê về kết quả đào tạo (Trang 76)
Bảng 3.1. Thực trạng và nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2015 - Thực trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch tại các trường du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Bảng 3.1. Thực trạng và nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2015 (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w