Hoạt động QLNN về du lịch không đảm bảo được định hướng xã hội chủ nghĩa, tác động xấu tới độc lập tự chủ, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc… Để qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG THỊ THU HƯƠNG
TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC
Hà Nội, 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG THỊ THU HƯƠNG
TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
Chuyên ngành: DU LỊCH HỌC
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐỨC THANH
Hà Nội, 2007
Trang 3CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển châu Á
AFTA Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu
BTA Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
GATS Hiệp định Thương mại dịch vụ trong WTO
GDP Tổng thu nhập nhập quốc nội
FDI Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
EU Liên minh châu Âu
HNKTQT Hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 4MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU……… 1
1.Lý do chọn đề tài……… 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu……… 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 3
4 Phương pháp nghiên cứu……… 3
5 Kết cấu của luận văn……… 3
CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM……… 4
1.1 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch……… 4
1.1.1 Khái niệm……… 4
1.1.2 Vai trò của hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế……… 4
1.1.3 Đặc điểm và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế……… 5
1.1.3.1 Đặc điểm……… 5
1.1.3.2 Nội dung chủ yếu của QLNN về kinh tế……… 7
1.1.4.Các nguyên tắc và công cụ quản lý nhà nước……… 8
1.1.4.1.Các nguyên tắc quản lý nhà nước … ……… 8
1.1.4.2.Các công cụ quản lý nhà nước ……… 10
1.1.5 Đặc điểm chủ yếu của quản lý nhà nước về du lịch……… 11
1.1.5.1 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch……… 11
1.1.5.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về du lịch ……… 12
1.2 Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam……… 16
1.2.1 Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế……… 16
1.2.1.1.Khái niệm……… 16
1.2.1.2.Bản chất của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế………… 17
1.2.1.3 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam……… 19
1.2.2 Tác động của toàn cầu hóa tới du lịch và tính tất yếu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực du lịch……… 21
1.2.2.1 Tổng quan về thương mại dịch vụ và thương mại dịch vụ du lịch 21 1.2.2.2 Tác động của toàn cầu hoá tới du lịch……… 24
1.2.2.3 Tính tất yếu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực du lịch……… 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM……… 37
Trang 52.1 Thực trạng cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống pháp luật, chính sách
phát triển du lịch……… 37
2.1.1 Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch……… 37
2.1.1.1 Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở TW……… 37
2.1.1.2.Cơ quan tham mưu giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương……… 39
2.1.2 Hệ thống pháp luật và chính sách phát triển ngành du lịch……… 41
2.1.2.1.Hệ thống pháp luật du lịch……… 41
2.1.2.2 Chính sách phát triển du lịch……… 49
2.2 Quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường du lịch 53 2.2.1 Mặt tích cực trong quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường du lịch……… 53
2.2.2 Những tồn tại trong quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường du lịch……… 54
2.3 Quản lý nhà nước về quy hoạch và đầu tư phát triển du lịch……… 56
2.3.1 Quản lý nhà nước về quy hoạch du lịch……… ………… 56
2.3.1.1 Mặt tích cực trong quản lý nhà nước về quy hoạch du lịch……… 57
2.3.1.2 Những tồn tại trong quản lý nhà nước về quy hoạch du lịch……… 59
2.3.2 Quản lý nhà nước về đầu tư phát triển du lịch……… 61
2.3.2.1 Mặt tích cực trong quản lý nhà nước về đầu tư phát triển du lịch 61
2.3.2.2 Những tồn tại trong quản lý nhà nước về đầu tư phát triển du lịch 62 2.4 Quản lý nhà nước về lữ hành……… 64
2.4.1 Mặt tích cực trong quản lý nhà nước về lữ hành……… 64
2.4.2 Những tồn tại trong quản lý nhà nước về lữ hành……… 67
2.5 Quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch……… 70
2.5.1 Mặt tích cực trong quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch……… 70
2.5.2 Những tồn tại trong quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch…… 71
2.6 Quản lý nhà nước đối với khách du lịch……… 74
2.6.1 Mặt tích cực trong quản lý nhà nước đối với khách du lịch………… 74
2.6.2 Những tồn tại trong quản lý nhà nước đối với khách du lịch……… 75
2.7 Quản lý nhà nước đối với xúc tiến du lịch……… 77
2.7.1 Mặt tích cực trong quản lý nhà nước đối với xúc tiến du lịch………… 77
2.7.2 Những tồn tại trong quản lý nhà nước đối với xúc tiến du lịch……… 80
2.8 Quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực du lịch……… 83
Trang 62.8.1 Mặt tích cực trong quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực du lịch 83 2.8.2 Những tồn tại trong quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực du lịch 86
2.9.Tình hình hội nhập của du lịch Việt Nam……… 89
2.9.1 Hợp tác du lịch song phương……… 89
2.9.2 Hợp tác du lịch đa phương……… 91
2.9.2.1.Hợp tác du lịch trong ASEAN……… 91
2.9.2.2.Hợp tác du lịch trong APEC……… 92
2.9.2.3.Hợp tác du lịch ASEM……… 94
2.9.2.4.Cam kết gia nhập WTO trong lĩnh vực du lịch……… 94
2.9.2.5.Hợp tác trong các tổ chức chuyên ngành du lịch……… 95
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUÁN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM……… 97
3.1 Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của quản lý nhà nước về du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế…… 97
3.1.1.Điểm mạnh……… 97
3.1.2 Điểm yếu……… 98
3.1.3 Cơ hội……… 100
3.1.4 Thách thức……… 101
3.2 Yêu cầu đối với quản lý nhà nước về du lịch trong bối cảnh hội nhập 104
3.2.1 Mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế của du lịch Việt Nam………… 104
3.2.2.Yêu cầu đối với quản lý nhà nước về du lịch trong bối cảnh hội nhập……… 106
3.2.2.1 Về hệ thống pháp luật du lịch……… 107
3.2.2.2 Về cơ chế, chính sách phát triển du lịch……… 107
3.2.2.3 Về chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển du lịch ………… 108
3.2.3.4 Yêu cầu về bộ máy quản lý nhà nước về du lịch……… 108
3.2.2.5 Nhà nước phải đảm bảo điều hòa lợi ích của các đối tượng tham gia hoạt động du lịch,đảm bảo sự phát triển bền vững……… 109
3.2.2.6 Nhà nước phải tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch…… 110
3.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước về du lịch trong bối cảnh hội nhập……… 111
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật du lịch phù hợp với tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, tăng cường pháp chế thực
Trang 7hiện hệ thống pháp luật du lịch……… 111
3.3.2 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển du lịch……… 113
3.3.3 Đổi mới và hoàn thiện công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch……… 117
3.3.4 Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch……… 119
3.3.5 Tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý nhà nước về du lịch… 120
3.3.6 Xây dựng nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập…… 121
3.6.7 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra……… 122
3.3.8 Tăng cường công tác tuyên truyên về vai trò của ngành Du lịch trong nền kinh tế quốc dân và hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực du lịch……… 122
3.4 Một số kiến nghị……… 123
3.4.1 Xây dựng pháp luật du lịch……… 123
3.4.2 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch…… 123
3.4.3 Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển du lịch……… 124
3.4.4 Kiện toàn bộ máy, cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước về du lịch…… 124
3.4.5 Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành……… 125
3.4.6 Đào tạo bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch……… 127
3.4.7 Công tác thanh tra, kiểm tra trong du lịch……… 127
KẾT LUẬN……… 128
PHỤ LỤC……… 130
Phụ lục 1.Tình hình lập Quy hoạch phát triển du lịch cả nước………… 130
Phụ lục 2 Cam kết tự do hóa thương mại dịch vụ theo phân ngành của các nước thành viên WTO……… 132
Phụ lục 3 Các cam kết của 112 nước đã cam kết về dịch vụ du lịch trong WTO……… 132
Phụ lục 4 Lộ trình cam kết thương mại dịch vụ cụ thể của Việt Nam với Hoa Kỳ……… 132
Phụ lục 5 Cam kết du lịch trong ASEAN của Việt Nam 135 Phụ lục 6 Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực du lịch 137 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 138
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa (TCH) là quá trình tăng lên nhanh chóng các mối liên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… giữa các quốc gia và các khu vực trên thế giới TCH là xu thế khách quan của xã hội loài người, tác động mạnh mẽ và lôi cuốn mọi quốc gia vào sự vận động của nó Để tránh thế bị cô lập và nguy cơ tụt hậu trong một thế giới đang phát triển mạnh mẽ, bắt buộc các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển phải tham gia vào quá trình TCH TCH là quá trình phức tạp, luôn chứa đựng những yếu tố tích cực và tiêu cực TCH giúp nhiều quốc gia tiếp thu được những tiến bộ khoa học kĩ thuật, phương thức quản lý tiên tiến, giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy sự phát triển của đất nước Bên cạnh đó, TCH tiềm ẩn không ít thách thức, bất bình đẳng Chính vì thế tham gia vào quá trình TCH hay hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) trở thành vấn đề quan trọng, cấp bách được nhiều quốc gia quan tâm
Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chủ trương, đường lối, chính sách và những nguyên tắc phù hợp với từng thời
kỳ để định hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho đất nước trong tiến trình HNKTQT Tiến trình hội nhập chung của đất nước là cơ sở quan trọng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của du lịch Việt Nam trong những năm qua Với đặc tính là ngành kinh tế đối ngoại, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, du lịch Việt Nam từng bước hội nhập với khu vực và thế giới
Quá trình HNKTQT của Việt Nam tác động tới mọi mặt của hoạt động du lịch, trong đó có hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) về du lịch Bên cạnh những tác động tích cực và những thuận lợi nhất định mà hội nhập đem lại, hoạt động QLNN
về du lịch gặp nhiều khó khăn và thách thức Du lịch Việt Nam mới thực sự phát triển trong những năm gần đây, trình độ và kinh nghiệm quản lý về du lịch còn nhiều hạn chế, bị ảnh hưởng nhiều của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung Hệ thống pháp luật du lịch, chính sách chung chưa đồng bộ và phù hợp với thông lệ quốc tế Nhận thức và hiểu biết về hội nhập kinh tế nói chung và hội nhập trong lĩnh
vực du lịch còn chưa toàn diện Hệ thống doanh nghiệp du lịch Việt Nam chưa đủ
lớn mạnh, khả năng cạnh tranh chưa cao và vẫn còn thói quen được bảo hộ
Trang 9Trong bối cảnh HNKTQT, hoạt động QLNN về du lịch dễ bị chi phối, áp đặt bởi các tổ chức quốc tế, các quốc gia, các công ty đa quốc gia có tiềm lực kinh tế Hoạt động QLNN về du lịch khó đảm bảo việc khai thác hiệu quả các nguồn lực của đất nước theo định hướng phát triển du lịch bền vững, phục vụ sự phát triển kinh tế -
xã hội chung Nhà nước không phát huy được vai trò điều hòa lợi ích của các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động du lịch Hoạt động QLNN về du lịch không đảm bảo được định hướng xã hội chủ nghĩa, tác động xấu tới độc lập tự chủ, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc…
Để quá trình HNKTQT thực sự là động lực cho ngành Du lịch Việt Nam phát huy hiệu quả, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước thì công tác QLNN về du lịch phải được tăng cường trên nhiều mặt
Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về QLNN trong lĩnh vực du lịch, trong đó tập trung nghiên cứu bộ máy QLNN về du lịch hoặc tập trung hoàn thiện QLNN về du lịch ở phạm vi địa phương Một số công trình nghiên cứu đã quan tâm đến bối cảnh HNKTQT ở Việt Nam Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào chỉ rõ được các đặc điểm của hoạt động QLNN về du lịch, những tác động của TCH tới hoạt động du lịch cũng như tính tất yếu của HNKTQT trong lĩnh vực du lịch đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO Vì vậy, việc nghiên cứu và hệ thống hoá các kiến thức về QLNN, HNKTQT trong lĩnh vực du lịch, nghiên cứu về thực trạng QLNN trong lĩnh vực du lịch, phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của công tác QLNN về du lịch, đề xuất những yêu cầu đối với công tác QLNN và một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về du lịch trong bối cảnh HNKTQT là cần thiết
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài nhằm góp phần tăng cường vai trò QLNN về du lịch trong bối cảnh HNKTQT
Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài có 3 nhiệm vụ chủ yếu:
- Tìm hiểu hoạt động QLNN, QLNN về du lịch Tìm hiểu về TCH và thực trạng HNKTQT trong lĩnh vực du lịch; Phân tích thực trạng QLNN về du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế Từ đó chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức của hoạt động QLNN về du lịch của Việt Nam; Đề xuất những yêu cầu đối với
Trang 10hoạt động QLNN về du lịch đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò QLNN về du lịch trong bối cảnh HNKTQT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu, tập trung nghiên cứu hoạt động QLNN về du lịch trong bối cảnh HNKTQT Bao gồm hệ thống pháp luật, chính sách về du lịch, bộ máy QLNN về du lịch, các hoạt động QLNN về du lịch đối với lĩnh vực cụ thể (quy hoạch du lịch, xúc tiến du lịch, quản lý lữ hành, lưu trú du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch, quản lý khách du lịch, HNKTQT trong lĩnh vực du lịch)
Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: Nghiên cứu các hoạt động QLNN về du lịch trên phạm vi toàn quốc; Nghiên cứu quá trình hội nhập của du lịch Việt Nam với khu vực và thế giới; Về thời gian: Tập trung nghiên cứu các hoạt động QLNN về
du lịch từ năm 1990 trở lại đây
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp tổng hợp, nghiên cứu và phân tích tư liệu;
- Phương pháp phân tích SWOT;
- Phương pháp chuyên gia
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Quản lý nhà nước về du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 11CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
1.1 Nội dung QLNN về du lịch
1.1.1 Khái niệm QLNN
Quản lý được hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định
hướng của chủ thể quản lý vào đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu nhất định
QLNN là hoạt động quản lý các công việc của nhà nước Tính chất của QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia QLNN xét về mặt chức năng bao gồm các hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của Chính phủ và hoạt động tư pháp của hệ thống cơ quan tư pháp
QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và
sử dụng pháp luật của nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội do cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [9]
QLNN được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: QLNN về kinh tế-tài chính; QLNN về văn hóa-xã hội; QLNN về khoa học-công nghệ; QLNN về tài nguyên và môi trường; QLNN về hành chính-chính trị… Tất cả các hoạt động QLNN đều mang đặc điểm của chế độ chính trị, phục vụ mục tiêu chung của Nhà nước Trong các hoạt động quản lý, QLNN về kinh tế có những đặc điểm, nguyên tắc quản lý cơ bản chi phối các hoạt động quản lý khác
1.1.2 Vai trò của hoạt động QLNN về kinh tế
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) hoạt động QLNN đóng vai trò quan trọng:
- Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật, chính sách và thực hiện các biện pháp cưỡng chế để hoạt động kinh tế - xã hội phát triển theo mục tiêu đã định
- Nhà nước định hướng và đảm bảo môi trường chính trị - xã hội, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định để các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển
Trang 12- Nhà nước xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội trong những giai đoạn nhất định
- QLNN nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế khuyết tật của nền kinh tế thị trường Điều hòa lợi ích, giải quyết các mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế Đảm bảo phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đặc biệt chú trọng xóa đói giảm nghèo, đảm bảo cho cả cộng đồng đều được hưởng lợi từ các thành tựu phát triển chung của nền kinh tế
- QLNN nhằm mục đích quản lý nguồn tài sản quốc gia, quản lý các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước, phát huy các lợi thế, khai thác hiệu quả các nguồn lực từ các thành phần kinh tế và giải phóng lực lượng sản xuất
- Nhà nước hỗ trợ, cung cấp thông tin thị trường cho doanh nghiệp Nhà nước thực hiện hợp tác quốc tế giúp doanh nghiệp tiếp cận, mở rộng thị trường quốc tế
- Nhà nước cung ứng dịch vụ công, những hàng hóa và dịch vụ mà thị trường không đáp ứng được hoặc đáp ứng không đầy đủ, đặc biệt là đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
- Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động của các thành phần kinh tế, đảm bảo
sự vận hành của nền kinh tế theo định hướng, đồng thời điều chỉnh những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật, chính sách đã ban hành
1.1.3 Đặc điểm và những nội dung chủ yếu của QLNN về kinh tế
1.1.3.1.Đặc điểm của QLNN về kinh tế
Thứ nhất, chủ thể QLNN là các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước
Trong các cơ quan nhà nước có đội ngũ cán bộ công chức thực thi các công vụ quản
lý Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những nguyên tắc chung, thống nhất tạo thành một chỉnh thể đồng bộ để thực hiện theo các chức năng, nhịêm vụ của nhà nước Chức năng của bộ máy nhà nước thể hiện trên ba lĩnh vực hoạt động: lập pháp, hành pháp, tư pháp Trong lĩnh vực lập pháp, Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản thành pháp luật, phù hợp với tình hình kinh tế-chính trị-xã hội của đất nước và thông lệ quốc tế Trong lĩnh vực hành pháp, bộ máy nhà nước đưa pháp luật vào đời sống, đảm bảo hệ thống pháp luật được thực hiện thống nhất ở mọi cấp, mọi ngành, trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia Trong lĩnh vực tư pháp, bộ máy nhà
Trang 13nước đảm bảo hệ thống pháp luật được thực hiện nghiêm nhằm duy trì tật tự, kỉ cương, ổn định của xã hội
Thứ hai, đối tượng quản lý của Nhà nước là toàn thể nhân dân sống và làm việc
trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Trong lĩnh vực kinh tế, đối tượng quản lý của Nhà nước là toàn bộ nền kinh tế quốc dân bao gồm: kinh tế trên lãnh thổ quốc gia và ngoài lãnh thổ quốc gia (các hoạt động kinh tế của công dân Việt Nam đang diễn ra ở nước ngoài); tài nguyên quốc gia; kết cấu hạ tầng kinh tế; quỹ tiền tệ quốc gia; hệ thống doanh nghiệp; các ngành kinh tế Cụ thể, Nhà nước quản lý các yếu tố đầu vào và phương hướng đầu ra của một nền kinh tế Các yếu tố đầu vào được quản lý bao gồm: tư liệu sản xuất, tài nguyên, quản lý về giải pháp thiết bị và công nghệ; mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất kinh doanh… Phương hướng đầu ra của nền kinh
tế được quản lý bao gồm: sản lượng, chủng loại và chất lượng hàng hóa, dịch vụ…
Thứ ba, Nhà nước thực hiện vai trò quản lý thông qua các công cụ quản lý
mang tính quyền lực nhà nước nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Hoạt động QLNN phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc kết hợp QLNN theo vùng và theo lãnh thổ, nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhân dân kiểm tra giám sát…
Thứ tư, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh Nền kinh tế vận hành theo cơ chế quản lý là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước Cơ chế quản lý được hiểu là tổng thể các yếu tố mà Nhà nước vận dụng để tác
động vào các đối tượng quản lý, đảm bảo các đối tượng quản lý đó có thể vận động theo các mục tiêu kinh tế-xã hội đã được xác định trong từng thời kì Trong nền kinh
tế thị trường, các quan hệ thị trường quyết định sự phân bổ nguồn lực thông qua hệ thống giá cả và sự điều tiết vô hình của thị trường Các hoạt động QLNN phải thừa nhận, tuân thủ và chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan vốn có của thị trường như quy luật giá cả, cạnh tranh, cung cầu, lợi nhuận Cơ chế thị trường có những vai trò tích cực hơn so với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, có khả năng huy động tối đa mọi nguồn lực của xã hội, phân phối các nguồn lực tốt hơn, tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khoa học, công nghệ, kĩ thuật đạt hiệu quả cao,
Trang 14thúc đẩy sự liên kết tự động giữa các nền kinh tế, điều tiết thị trường mềm dẻo hơn Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng có khuyết tật, gây ra nhiều biến động với những tổn thất nặng nề, ảnh hưởng tới ổn định xã hội và đời sống nhân dân Các giá trị đạo đức, tinh thần bị thương mại hóa Bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường trầm trọng… do đó cần có sự quản lý của Nhà nước nhằm hạn chế khuyết tật của cơ chế thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua việc: Tạo môi trường pháp lý, môi trường đầu tư
và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng để phát huy các nguồn lực xã hội; Định hướng sự phát triển nền kinh tế nói chung bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường, phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; Hỗ trợ phát triển, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội quan trọng… nhằm mục đích đảm bảo mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ và văn minh
Trong quá trình hơn 20 năm sau đổi mới (từ năm 1986 đến nay) định hướng phát triển nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước XHCN từng bước được củng cố và đem lại những thành công nhất định Tuy nhiên, cho đến nay nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, những dấu ấn của mô hình kinh tế cũ còn tồn dư Nền kinh tế chưa thực sự vận hành theo
cơ chế thị trường Trình độ của lực lượng sản xuất, trình độ quản lý còn thấp kém, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tiến trình HNKTQT
1.1.3.2 Những nội dung chủ yếu của QLNN về kinh tế
Hoạt động QLNN về kinh tế bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
- Tổ chức bộ máy QLNN về kinh tế: phân công, phân cấp các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ QLNN về kinh tế
- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện hệ thống pháp luật
- Xây dựng phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước; Xây dựng hệ thống các chương trình dự án đầu tư nhằm cụ thể hóa chương trình
Trang 15mục tiêu chiến lược; Xây dựng hệ thống chính sách, chiến lược để chỉ đạo việc thực hiện các mục tiêu đó
- Tổ chức hệ thống doanh nghiệp: Tổ chức, sắp xếp, hoàn thiện hệ thống doanh nghiệp nhà nước; Xúc tiến các hoạt động pháp lý và hỗ trợ cho các đơn vị kinh tế dân doanh (xét duyệt, cấp, thu hồi giấy phép, đầu tư, giấy phép kinh doanh)
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho hoạt động kinh tế của đất nước
- Kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các đơn vị kinh tế như: kiểm tra việc tuân thủ hệ thống pháp luật về kinh doanh, lao động, tài nguyên, môi trường, tài chính, kế toán, thống kê, kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ
1.1.4 Các nguyên tắc QLNN về kinh tế và các công cụ quản lý
1.1.4.1 Các nguyên tắc QLNN
Trong mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, QLNN phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát
Trong hệ thống chính trị ở nước ta, Đảng Cộng sản là Đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng đề ra các đường lối, chủ trương, chính sách nhiệm vụ cho QLNN và căn cứ vào đó để Nhà nước ban hành hệ thống các văn bản pháp luật nhằm thực hiện đường lối chính sách của Đảng Đảng định hướng hoàn thiện hệ thống các cơ quan quản lý về mặt cơ cấu, tổ chức, sắp xếp, bố trí cán
bộ chủ chốt cho các cơ quan QLNN
Sự tham gia, kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với công tác QLNN là một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ, được Hiến pháp nước CH XHCN Việt Nam công nhận Sự tham gia này của nhân dân được thể hiện một cách trực tiếp và gián tiếp như góp ý vào các dự thảo luật; kiểm tra các cơ quan nhà nước, thực hiện quyền khiếu nại tố cáo…
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ đòi hỏi sự phân định thẩm quyền một cách phù hợp giữa Nhà nước và công dân Nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện quyền lực tập trung ở Nhà nước nhưng có sự phân cấp giữa các cơ quan ở trung ương, giữa trung ương với địa phương, giữa các cơ quan ở địa phương
- Nguyên tắc QLNN bằng pháp luật và tăng cường pháp chế
Trang 16Các hoạt động QLNN phải tuân thủ pháp luật, đồng thời Nhà nước phải có các biện pháp để pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh Trong hoạt động hành pháp, các quyết định hành chính phải phù hợp với nội dung của Hiến pháp và pháp luật
Để thực hiện được nguyên tắc này cần phải làm tốt các nội dung cơ bản sau: Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật; Tổ chức thực hiện tốt pháp luật đã ban hành;
Xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật; Tăng cường giáo dục ý thức pháp luật cho toàn dân
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ
Các đơn vị kinh tế có mối liên hệ trong ngành về công nghệ, khoa học, kĩ thuật, nhân lực… được chuyên quản bởi cơ quan quản lý ngành Các đơn vị kinh tế tuy khác ngành nhưng được phân bổ trên những địa bàn lãnh thổ nhất định, có mối quan
hệ chung về môi trường sinh thái, cùng khai thác các nguồn lực và chịu sự quản lý lãnh thổ đó theo sự phân cấp từ trung ương tới tỉnh, huyện, xã và tương đương QLNN theo ngành thực hiện một số nội dung sau: Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển ngành đưa vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung; Xây dựng quy trình, quy phạm định mức kĩ thuật, để đưa vào hệ thống quy phạm chung của Nhà nước nhằm thống nhất quản lý ngành; Xây dựng chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, tài nguyên của ngành; Tổ chức, điều phối các đơn
vị kinh tế trong ngành sử dụng hiệu quả những nguồn lực của ngành; Xây dựng chiến lược thị trường, chiến lược HNKTQT của ngành
QLNN theo lãnh thổ thực hiện những nội dung sau: Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; Thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường, tài sản, tính mạng của cộng đồng dân cư trên địa bàn lãnh thổ; Thực hiện quyền lợi của Nhà nước về kinh tế như thu phí, thuế…; Bảo vệ, sử dụng nguồn thu của ngân sách đúng pháp luật, hiệu quả; Điều chỉnh các hoạt động kinh tế trên địa bàn hài hòa thống nhất với nhau và với các hoạt động văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng…
Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý của mình, các cơ quan QLNN theo ngành và theo lãnh thổ, cơ quan QLNN theo lãnh thổ các cấp phải có sự phối hợp với nhau nhằm tránh sự quản lý chồng chéo hay “bỏ rơi” đối tượng quản lý, đồng thời đảm bảo cơ cấu kinh tế theo ngành và theo lãnh thổ có sự phân bố thống nhất, hợp lý trong cơ cấu kinh tế chung
Trang 17- Nguyên tắc phân biệt chức năng QLNN về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh
Nhà nước nắm quyền sở hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, có nhiệm vụ tổ chức
và quản lý nền kinh tế quốc dân trên quy mô toàn quốc, trực tiếp tổ chức và quản lý các thành phần kinh tế nhưng Nhà nước không phải là người trực tiếp quản lý kinh doanh Nhà nước phải tôn trọng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước chỉ thực hiện vai trò điều tiết gián tiếp hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp qua cung, cầu, giá cả thị trường, không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước tạo môi trường và điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh Định hướng và hỗ trợ phát triển thông qua kế hoạch và các chính sách kinh tế Hoạch định và thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo sự thống nhất giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội Quản lý và kiểm soạt việc sử dụng tài nguyên, tài sản quốc gia Tổ chức nền kinh tế và điều chỉnh bằng các công cụ và biện pháp vĩ mô Tổ chức và giám sát các hoạt động tuân thủ pháp luật của các đơn
vị kinh tế
1.1.4.2 Công cụ QLNN
Công cụ quản lý là những phương tiện được chủ thể quản lý sử dụng để tác
động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra Công cụ chủ yếu mà nhà nước sử dụng để quản lý bao gồm hệ thống pháp luật, chính sách, bộ máy nhà nước
và các công cụ kế hoạch Cụ thể:
- Hệ thống pháp luật: Là hệ thống các quy tắc ứng xử có tính chất bắt buộc
(qui phạm pháp luật) do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ nhằm bảo toàn và phát triển xã hội theo hướng đã định Hệ thống các văn bản pháp luật trong QLNN bao gồm Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định, Nghị quyết, Thông tư, Chỉ thị… mang tính cưỡng chế của Nhà nước Chúng chứa đựng chuẩn mực, quy định giới hạn, điều chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh tế
- Chính sách: là công cụ để Nhà nước thể hiện phương hướng, biện pháp điều
chỉnh một loại quan hệ kinh tế nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển ngành Các chính sách được sử dụng phổ biến như: chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách khuyến khích đầu tư, miễn, giảm thuế, vay tín dụng ưu đãi…
Trang 18- Bộ máy QLNN và đội ngũ công chức là các công cụ để thực hiện các công vụ
của Nhà nước
- Kế hoạch: Kế hoạch được hiểu là phương án hành động trong tương lai Là
công cụ quản lý vĩ mô quan trọng được Nhà nước sử dụng để thể hiện mục tiêu, định hướng các đối tượng quản lý của mình hướng tới Kế hoạch là quá trình xây dựng, thực hiện, kiểm tra việc thực hiện phương án hành động đó Kế hoạch bao gồm nhiều nội dung:
+ Chiến lược phát triển: là kế hoạch định hướng dài hạn cho những vấn đề
quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, phát triển ngành của đất nước Chiến lược thường đưa ra các mục tiêu chung tổng quát và các giải pháp chủ yếu mang tính tổng thể trong giai đoạn nhất định Chiến lược phát triển định hướng cho công tác quản
lý, điều hành của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, tác động vào các đối tượng quản lý phát triển theo định hướng trong chiến lược
+ Qui hoạch phát triển: Là sự cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,
phát triển ngành Là một tập hợp các mục tiêu và sự bố trí sắp xếp các nguồn lực tương ứng trong không gian và thời gian để thực hiện được các mục tiêu đó
+ Kế hoạch trung hạn (3-5 năm): Là phương tiện chủ yếu để cụ thể hóa các
mục tiêu và giải pháp đã lựa chọn trong chiến lược
+ Kế hoạch hàng năm: Là sự cụ thể hóa kế hoạch trung hạn nhằm thực hiện
nhiệm vụ, mục tiếu phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành được đề ra trong kế hoạch trung hạn
+ Chương trình: được sử dụng để xác định một cách đồng bộ các mục tiêu cần
đạt được, các bước công việc phải tiến hành, các nguồn lực cần huy động để thực hiện các mục tiêu
+ Dự án: Là tổng thể các hoạt động, các nguồn lực và chi phí được bố trí chặt
chẽ theo thời gian và không gian nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, mục tiêu của ngành cụ thể
+ Ngân sách: Bảng tường trình bằng con số sự phân bổ và huy động các nguồn
lực cần thiết cho việc thực hiện các chương trình, dự án trong giai đoạn nhất định
1.1.5 Đặc điểm chủ yếu của QLNN về du lịch
1.1.5.1 Nội dung QLNN về du lịch
Trong Luật Du lịch, nội dung QLNN về du lịch bao gồm:
Trang 19- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch
- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ
- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
- Thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; tổ chức hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài
- Quy định tổ chức bộ máy QLNN về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc QLNN về du lịch
- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về du lịch
1.1.5.2 Đặc điểm QLNN về du lịch
QLNN về du lịch được hiểu là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước đối với hoạt động của các đối tượng tham gia vào hoạt động du lịch nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước để đạt được mục tiêu phát triển ngành mà Nhà nước đặt ra
Trong hoạt động QLNN về du lịch, chủ thể QLNN được xác định là bộ máy QLNN về du lịch bao gồm hệ thống cơ quan quản lý và đội ngũ công chức Đối tượng QLNN là các đối tượng tham gia vào hoạt động du lịch, bao gồm khách du lịch, doanh nghiệp cung cấp các hàng hóa và dịch vụ du lịch, chính quyền sở tại và dân cư địa phương
Đặc điểm của QLNN về du lịch xuất phát từ một số đặc điểm của hoạt động du
lịch, cụ thể:
- Du lịch là một hoạt động kinh tế Trong mối quan hệ giữa khách du lịch và các nhà cung cấp dịch vụ du lịch tồn tại quan hệ cung cầu đối với dịch vụ du lịch, trong đó khách du lịch là người tiêu dùng, các nhà cung cấp dịch vụ tổ chức hoạt động kinh doanh các dịch vụ du lịch cung ứng cho khách du lịch nhằm mục đích
Trang 20sinh lời Trong cơ cấu kinh tế, du lịch được xếp vào nhóm ngành dịch vụ Du lịch là ngành kinh tế có đóng góp vào nền kinh tế quốc dân một tỉ lệ nhất định1 Trong định hướng phát triển của nước ta, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn [11]
Vì vậy, QLNN về du lịch thực chất là QLNN về kinh tế QLNN về du lịch phải tuân
thủ đầy đủ các nguyên tắc QLNN về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý như pháp luật, kế hoạch và các chính sách quản lý tác động vào các đối tượng tham gia hoạt động du lịch nhằm đạt được mục tiêu và định hướng phát triển nhất định Nhà nước không áp đặt, không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh du lịch, phải tôn trọng các quy luật khách quan của thị trường (quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh )
- Du lịch là ngành dịch vụ, khác với hàng hóa, dịch vụ du lịch mang tính “vô
hình”, khó xác định được chất lượng dịch vụ bằng các tiêu chuẩn kĩ thuật như đối với hàng hóa Quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ diễn ra đồng thời với tiêu dùng dịch vụ và có sự tham gia trực tiếp của người tiêu dùng du lịch, người cung ứng sản phẩm du lịch và các trang thiết bị phục vụ Việc đánh giá chất lượng dịch vụ phụ
thuộc rất lớn vào người tiêu dùng dịch vụ du lịch Do đó, QLNN về chất lượng dịch
vụ du lịch phức tạp hơn so với QLNN đối với sản xuất hàng hóa thông thường Nhà
nước phải xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn chất lượng để quản lý chất lượng dịch
vụ du lịch đồng thời phải xây dựng được cơ chế giám sát nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ đã được công nhận và bảo về quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng du lịch Trong bối cảnh HNKTQT, chất lượng dịch vụ du lịch quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia trên thị trường khu vực và thế giới, do đó, Nhà nước phải xây dựng được chiến lược nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu
- Đối với các nhà quản lý, du lịch được coi là ngành kinh tế đối ngoại2 [9, phần
III, tr 70-74] Du lịch liên quan nhiều đến việc di chuyển qua biên giới của khách du
lịch quốc tế (inbound và outbound) Du lịch thực hiện việc xuất khẩu tại chỗ đối với các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch nước ngoài đem lại ngoại tệ
Trang 21cho đất nước Doanh thu từ du lịch quốc tế chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong thu nhập du lịch Hoạt động kinh tế đối ngoại có phạm vi rộng, phức tạp, tiềm ẩn nhiều
rủi ro và xuất hiện ngày càng nhiều tranh chấp mang tính quốc tế Vì vậy, QLNN về
du lịch mang đặc trưng của QLNN đối với hoạt động kinh tế đối ngoại Nhà nước
một mặt cần có biện pháp để nâng cao khả năng thu hút khách quốc tế, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác với các quốc gia, khu vực, thế giới để tạo điều kiện cho du lịch phát triển, mặt khác cũng cần có các biện pháp nhằm hạn chế các rủi và đạt được sự bình đẳng trong giải quyết các tranh chấp quốc tế trong lĩnh vực du lịch
- Du lịch là ngành dịch vụ mang tính mùa vụ [21] Chính vì vậy, QLNN về du
lịch phải có sự linh hoạt nhằm hạn chế những ảnh hưởng của tính mùa vụ do du lịch đem lại.Đối với mùa cao điểm, Nhà nước vừa phải có biện pháp đảm bảo hiệu quả kinh tế đồng thời hạn chế tình trạng quá tải của điểm du lịch, quản lý được chất lượng dịch vụ và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng du lịch Đối với mùa thấp điểm, Nhà nước có các biện pháp nhằm tăng cường thu hút khách thông qua việc tổ chức các sự kiện hoặc các chương trình khuyến mãi nhằm khai thác hiệu quả các lợi thế tài nguyên và hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch đã được đầu
tư đồng thời hạn chế tình trạng thất nghiệp của lao động ngành Du lịch
- Du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, có liên quan đặc biệt đến đến các yếu tố văn hóa, môi trường tự nhiên - xã hội [37, tr 30] Do đó, để du lịch có thể phát triển bền vững, QLNN về du lịch phải tuân thủ các nguyên tắc của QLNN đối với văn hóa và môi trường
- Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng
Du lịch sử dụng nhiều sản phẩm của các ngành kinh tế khác làm yếu tố đầu vào Theo bảng Phân loại các hoạt động du lịch theo tiêu chuẩn quốc tế (SICTA) của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), thì có khoảng 70 dịch vụ liên quan trực tiếp đến
du lịch và khoảng 70 dịch vụ liên quan gián tiếp đến việc cung cấp dịch vụ du lịch [42] Du lịch khai thác lợi thế tổng hợp của đất nước như điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử, con người để phát triển Du lịch có mối liên hệ chặt chẽ với chính trị, ngoại giao, an ninh quốc phòng, văn hóa, xã hội, môi trường
Du lịch chịu sự tác động và ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đa dạng và phức tạp Hoạt động du lịch diễn ra trên phạm vi rộng có sự trao đổi và liên kết giữa các địa
Trang 22phương, vùng thậm chí quốc gia, liên quốc gia Du lịch chỉ có thể phát triển nhanh
và bền vững trong điều kiện kinh tế-xã hội phát triển đồng bộ cùng với sự tham gia tích cực của các thành phần kinh tế và các tầng lớp xã hội Do đó, hoạt động QLNN
về du lịch cũng phải mang tính tổng hợp và có sự tham gia liên ngành, liên vùng
- Du lịch là một hoạt động mang tính xã hội Thứ nhất, du lịch tạo ra nhiều việc làm cho xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư đặc biệt ở vùng sâu vùng xa, vùng kém phát triển Thứ hai, du lịch thể hiện nhu cầu đi lại, tham quan, giải trí của người dân, góp phần nâng cao dân trí, tái tạo sức lao động và phân phối lại thu nhập Hiện nay, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, các điều kiện kinh tế xã hội khác có nhiều thay đổi tích cực, người dân có nhiều điều kiện để
đi du lịch, du lịch đã trở thành nhu cầu phổ biến của người dân.Do đó, QLNN về du
lịch phải đảm bảo phát huy được lợi thế của ngành Du lịch, tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cư QLNN về du lịch phải đảm bảo nhân dân được hưởng những quyền lợi tham gia vào các hoạt động du lịch chính đáng, đồng thời định hướng các hoạt động du lịch diễn ra “lành mạnh”, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
- Các ngành dịch vụ ở Việt Nam chỉ thực sự phát triển sau khi nhà nước thực hiện chính sách cải cách mở cửa kinh tế Là một trong những ngành dịch vụ, sau cải cách mở cửa, du lịch cũng đã bắt đầu phát triển nhưng mới chỉ trong giai đoạn đầu
so với các nước có ngành Du lịch phát triển trong khu vực Khuôn khổ pháp lý, chính sách cho hoạt động du lịch mới bắt đầu hình thành Bộ máy QLNN về du lịch chưa hoàn chỉnh, thiếu sự phân cấp, phân quyền hợp lý… Do đó, QLNN về du lịch gặp phải nhiều khó khăn do xuất phát điểm của ngành thấp
Trong bối cảnh hiện nay, để hoạt động du lịch thực sự phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các hoạt động QLNN về du lịch phải xuất phát từ các đặc điểm của hoạt động du lịch QLNN về kinh tế du lịch còn phải chú trọng các đặc điểm của ngành kinh tế đối ngoại, ngành kinh tế dịch vụ mang tính mùa vụ cao, có định hướng tài nguyên, đòi hỏi phát triển bền vững QLNN về
du lịch phải chú trọng tới khía cạnh xã hội của du lịch: du lịch tạo ra việc làm, đem lại thu nhập, nâng cao mức sống cho cộng đồng dân cư đặc biệt ở những nơi vùng sâu, vùng xa kém phát triển, đồng thời du lịch là hoạt động giải trí, góp phần nâng
Trang 23cao sự hiểu biết, tái tạo sức lao động cho con người QLNN về du lịch đòi hỏi sự chỉ đạo tập trung và thống nhất, đảm bảo sự phối hợp liên ngành, liên vùng hiệu quả và
sự linh hoạt, năng động để thích ứng với những biến đổi không ngừng của những yếu tố môi trường khách quan…
1.2 Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
1.2.1 Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1.1 Khái niệm
TCH là hiện tượng hay quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự tác động và phụ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt của đời sống xã hội, kinh tế, văn hoá, chính trị, an ninh, môi trường… của tất cả các nước và các khu vực trong quan hệ quốc tế [5]
Trong lĩnh vực kinh tế, sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng chặt chẽ thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu quốc tế về thương mại, đầu
tư, vốn, công nghệ, dịch vụ, nhân lực… dẫn tới xu hướng hình thành và phát triển các thị trường chung mang tính toàn cầu và khu vực Các thị trường chung mang tính toàn cầu và khu vực liên tục được mở rộng phạm vi và chiều sâu, thông qua đàm phán hình tự do hóa thương mại, với các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau và hợp tác chặt chẽ Cùng với quá trình hình thành các thị trường toàn cầu và khu vực các định chế, tổ chức quốc tế nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế
mang tính toàn cầu và khu vực cũng được hình thành và củng cố [41] Toàn cầu hóa
kinh tế chính là sự gia tăng nhanh các hoạt động kinh tế vượt qua biên giới mọi quốc
gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động và phát triển Sự gia tăng xu hướng này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô thương mại thế giới, sự luân chuyển của các dòng vốn, lao động trên phạm vi thị trường toàn cầu
Khu vực hóa có thể coi là một bộ phận của toàn cầu hóa, là những bước đi để
tiến tới toàn cầu hóa Khu vực hóa còn kích thích việc thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ từ các công ty xuyên quốc gia, từ đó thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh
tế mạnh mẽ hơn Một số yếu tố của khu vực hóa biểu hiện như sau: Tự do mậu dịch,
di chuyển dòng vốn; Mở rộng phân công và hợp tác lao động qua biên giới; phát triển cơ sở hạ tầng chung (Vận tải, thông tin liên lạc); Thiết lập cơ chế kinh tế mang
Trang 24tính đồng nhất, nhằm tăng trưởng khả nămg cạnh tranh về yếu tố sản xuất của nền kinh tế khu vực và của mỗi nước
Hội nhập hay HNKTQT là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường
của mỗi quốc gia với nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa
và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương Hội nhập là sự chủ động tham gia của các quốc gia vào quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá thông qua các các nỗ lực thay đổi về pháp luật, chính sách trong nước để tham gia các định chế, tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực
1.2.1.2 Bản chất của TCH và HNKTQT
TCH và HNKTQT là quá trình có mối liên hệ chặt chẽ với nhau TCH là xu hướng tiến tới sự tăng cường giao lưu, tạo lập mối quan hệ chặt chẽ, tự do hóa kinh tế… giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới Tuy nhiên, do trình độ phát triển kinh tế-xã hội, sự khác biệt về chính trị, văn hoá, ngôn ngữ, tôn giáo giữa các quốc gia trên thế giới, trở thành những rào cản, cản trở sự tham gia vào quá trình TCH Hội nhập là quá trình các quốc gia chủ động dỡ bỏ những rào cản (thuế quan, văn hoá, xã hội, tôn giáo…) để mở cửa tham gia với khu vực và thế giới
TCH là một quá trình phức tạp, đem tới đồng thời những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đối với tất cả các quốc gia
Tác động tích cực:
- TCH làm tăng xu hướng hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới ở nhiều cấp
độ và nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm thúc đẩy sự phát triển và phối hợp giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu mà các quốc gia đơn lẻ không thể giải quyết được như vấn đề nóng lên của khí hậu, suy thoái tài nguyên và môi trường toàn cầu, thiên tai, dịch bệnh, khủng bố…
- TCH giúp mở rộng thị trường xuất nhập khẩu và tìm thêm đối tác thương mại, tăng thu hút đầu tư;Tiếp thu công nghệ và phương thức quản lý tiên tiến, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh; Tự do hóa thương mại làm giảm các chi phí đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh Từng bước đưa doanh nghiệp và nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh Tự do hóa thương mại và hệ thống tài chính của nền kinh tế quốc gia có tác dụng bổ trợ tích cực cho nhau tạo sự phát triển ổn định, góp phần làm cho nền kinh tế phát triển ở mức cao, thu hẹp khoảng
Trang 25cách giàu nghèo và khoảng cách giữa các nước Toàn cầu hoá tăng cường sự giao lưu trên toàn cầu, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế thông qua tự do hóa thương mại đối với hàng hóa dịch vụ, đầu tư, chuyển giao công nghệ, nguồn nhân lực
- Đối với các nước đang phát triển, toàn cầu hóa đem lại những thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội của đất nước thông qua việc tranh thủ các nguồn vốn đầu tư,
mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học công nghệ và kinh nghiệm phát triển Góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường…
Tác động tiêu cực:
-Toàn cầu hóa làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, từ đó có thể
làm hạn chế sự độc lập tự chủ về kinh tế của đất nước
- Xu hướng tự do hóa và mở cửa thị trường tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt trên nhiều lĩnh vực trên thị trường quốc tế và thị trường trong nước
- Tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế, chính trị quốc tế luôn có tính toàn cầu, có thể lan truyền rộng khắp và gây những hậu quả nặng nề
- Toàn cầu hóa dẫn tới nguy cơ xói mòn quyền lực nhà nước, thu hẹp đáng kể phạm vi và hiệu quả sự tác động của QLNN và bị chi phối bởi hệ thống luật lệ, quy tắc của các tổ chức quốc tế mang tính toàn cầu như: IMF, WB, WTO…và các công
ty, tập đoàn xuyên quốc gia có tiềm lực về kinh tế
- Toàn cầu hoá cũng dẫn tới mâu thuẫn và đấu tranh về lợi ích gay gắt giữa các nước và các nhóm nước trong quá trình tiến tới tự do hoá thương mại
- Đối với các nước đang phát triển, tự do hóa thương mại có thể gây thâm hụt ngân sách, gia tăng nợ nước ngoài; nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào những biến động của khu vực và thế giới; tăng tính phụ vào bên ngoài về vốn, công nghệ và thị trường; dễ bị suy thoái tài nguyên, môi trường sinh thái và nguy cơ trở thành “bãi rác” chứa máy móc và công nghệ lạc hậu
Cơ hội mà toàn cầu hóa đem lại luôn đan xen cùng thách thức Một quốc gia không hội nhập đồng nghĩa với việc bị cô lập và tụt hậu với thế giới
HNKTQT thực chất là một quá trình chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu
hoá, khu vực hoá của mỗi quốc gia HNKTQT có thể được thực hiện dựa trên nhiều
Trang 26phương thức, cấp độ khác nhau như: đơn phương, song phương; đa phương (ở phạm
vi khu vực, liên khu vực, tham gia các tổ chức hay thể chế quốc tế mang tính toàn cầu) Đối với mỗi quốc gia trong quá trình HNKTQT cần phải đồng thời thực hiện các hoạt động “bên trong” và “bên ngoài” cụ thể:
- Với bên ngoài là việc ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế; cùng các thành viên đàm phán, xây dựng các “luật chơi” chung và thực hiện các quy định, cam kết đối với thành viên của các định chế, tổ chức đó, đồng thời thừa nhận các thông lệ, quy tắc được các tổ chức quốc tế đặt ra…
- Ở phạm vi bên trong là việc tiến hành điều chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cải cách bộ máy nhà nước, điều chỉnh cơ chế kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường và những cải cách cần thiết về kinh tế, xã hội khác cho phù hợp với yêu cầu của các thể chế quốc tế Đồng thời chuẩn bị các điều kiện
để sẵn sàng hội nhập, thích nghi với tiến trình tự do hóa mở cửa thị trường
Đối với những quốc gia đang phát triển, HNKTQT thành công là một trong những bước đi quan trọng chiến lược để tránh tụt hậu và rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển, tranh thủ những tiến bộ khoa học kĩ thuật, công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm để phát triển kinh tế xã hội HNKTQT còn là giải pháp để tránh nguy cơ bị cô lập, đảm bảo độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tuy nhiên để tiến trình HNKTQT đem lại lợi ích thực sự, đảm bảo được mục tiêu và nguyên tắc đặt ra, cần phải có chính sách đúng đắn, lộ trình phù hợp, lựa chọn và phát triển những lợi thế cạnh tranh; đưa ra những biện pháp hữu hiệu kịp thời để bảo hộ những ngành nghề chưa đủ sức cạnh tranh và khắc phục những hạn chế để phát triển đất nước Việc lựa chọn chiến lược HNKTQT sai lầm hoặc không có những lộ trình phù hợp sẽ làm cho quốc gia bị lệ thuộc và tụt hậu ngày một xa hơn
1.2.1.3 Quá trình HNKTQT của Việt Nam
Trước những chuyển biến sâu sắc và sự phát triển mạnh mẽ của nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được sự cần thiết phải HNKTQT với khu vực và thế giới Trên cơ sở tình hình phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chủ trương và đường lối chủ động hội nhập khu vực và thế giới phù hợp từng giai đoạn, trên tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN
Trang 27Quá trình HNKTQT của Việt Nam đã được tiến hành ngày một sâu rộng với các mốc cơ bản như sau:
- Tháng 12/1994, Việt Nam gửi đơn gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
- Sau 1994, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính quốc
tế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) Với các mối quan hệ này Việt Nam đã tranh thủ được nguồn kinh phí hỗ trợ cho các chương trình cải cách kinh tế của Việt Nam
- Tháng 7/1995, Việt Nam tham gia vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và từng bước thực hiện các cam kết nhằm hướng tới xây dựng khu vực thị trường tự do ASEAN (AFTA) vào năm 2010 và tự do hóa hoàn toàn vào năm 2020 Việc đẩy nhanh tự do hóa trong giai đoạn tới, sẽ được tiến hành trước đối với các nước có trình độ phát triển kinh tế cao như Singapore, Thái Lan, còn các quốc gia
có trình độ phát triển thấp hơn sẽ tham gia sau theo một lộ trình phù hợp Tự do hóa dịch vụ trong ASEAN, góp phần nâng cao tính cạnh tranh và hấp dẫn của thị trường ASEAN, đem lại nhiều lợi ích cho các nước thành viên
- Tháng 3/1996, Việt Nam tham gia và trở thành một trong 25 sáng lập viên của Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM), diễn đàn này được thành lập nhằm mục đích tăng cường sự đối thoại và hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư văn hóa, kinh tế, kĩ thuật và chính trị ngoại giao
- Tháng 11/1998, Việt Nam trở thành thành viên của Diễn đàn kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Trong khuôn khổ của diễn đàn này, nhiều nội dung đã được cam kết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa các nước thành viên
- Tháng 7/2000, Việt Nam tiến hành ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, đây là thời điểm quan trọng của Việt Nam trong tiến trình hội nhập
- Ngày 7/11/2006, Việt Nam được công nhận là thành viên thứ 150 của WTO Đánh dấu bước ngoặt lớn của nền kinh tế Việt Nam khi tham gia sâu, rộng vào thị trường toàn cầu trên cơ sở mở cửa tự do hóa thị trường và cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ Việt Nam sẽ phát triển một môi trường kinh doanh minh bạch, mở rộng xuất khẩu và thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Quá trình hội nhập đã tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế, từng bước khắc phục
Trang 28được tình trạng phân biệt đối xử, phá thế bị cô lập, bao vây trong thời gian dài Thị trường xuất khẩu được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu được cải thiện, hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu của Việt Nam được nhận những ưu đãi về thuế quan Nguồn vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp, vốn hỗ trợ phát triển vào Việt Nam không ngừng tăng lên Tiếp thu được trình độ quản lý và chuyển giao công nghệ, có điều kiện nâng cao trình độ của người lao động ở nước ta, phát triển tư duy sản xuất, tư duy cạnh tranh quốc tế HNKTQT góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển công nghiệp và dịch vụ Thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và chuyển biến tích cực nhiều ngành, lĩnh vực trong đó có du lịch
1.2.2 Tác động của TCH tới du lịch và tính tất yếu hội HNKTQT trong lĩnh vực du lịch
1.2.2.1 Tổng quan về thương mại dịch vụ và thương mại dịch vụ du lịch
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là tập hợp đầu tiên và duy nhất những quy định đa biên điều chỉnh thương mại dịch vụ trên thế giới GATS phân chia tất cả các ngành dịch vụ của nền kinh tế thành 12 ngành và 155 phân ngành Dịch vụ du lịch và các dịch vụ lữ hành thuộc nhóm 9 trong Danh mục Phân loại ngành dịch vụ MTN.GNS/W/120 (W/120) Trong đó ngành Du lịch được chia thành 4 phân ngành, 3 phân ngành đầu tiên được đưa vào Danh mục Phân loại sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên hợp quốc (CPC) gồm: A.Khách sạn - nhà hàng (bao gồm dịch vụ cung cấp thức ăn, đồ uống) (CPC 641- 643); B.Dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour (CPC 7471); C Dịch vụ hướng dẫn du lịch (CPC 7472); D Dịch vụ khác (Chưa có phân loại chi tiết) Các hoạt động du lịch là một phần của các hoạt động dịch vụ chung, chủ yếu là các dịch
vụ giao thông, nhưng cũng bao gồm một số dịch vụ kinh doanh, dịch vụ phân phối
và các dịch vụ thể thao, văn hóa, giải trí…
Theo CPC, Dịch vụ khách sạn và lưu trú khác - CPC 641 được chia thành CPC
6411 (dịch vụ khách sạn), CPC 6412 (dịch vụ nhà nghỉ) và CPC 6419 (các dịch vụ lưu trú khác như dịch vụ căm trại, nhà trọ…); Dịch vụ phục vụ đồ ăn - CPC 642 được chia thành CPC 6421 (dịch vụ nhà hàng), CPC 6422 (dịch vụ tại các cơ sở tự phục vụ thức ăn), CPC 6423 (Dịch vụ cung cấp thực phẩm và CPC 6429 (các dịch
vụ khác), CPC 6423 (các cơ sở cung cấp thức ăn nhanh); Dịch vụ phục vụ đồ uống
Trang 29trong nhà hàng - CPC 643) được phân thành CPC 6431 (các dịch vụ phục vụ đồ uống không kèm theo dịch vụ giải trí) và CPC 6432 (các dịch vụ phục vụ đồ uống kèm theo dịch vụ giải trí); Dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour - CPC 7471 được phân chia thành ba loại: hãng lữ hành (r 67811), điều hành tour-chương trình
du lịch (r 67812) và dịch vụ thông tin du lịch (r 67813) Dịch vụ hướng dẫn du lịch (CPC 7472) không chia thành các phân ngành nhỏ [42]
Ngoài ra, GATS còn đưa ra những nguyên tắc pháp lý chung buộc các nước thành viên phải tuân thủ Các nguyên tắc này một mặt thúc đẩy tự do hóa và mở cửa thị trường thương mại dịch vụ thông qua việc thúc đẩy các nước thành viên hoàn thiện hệ thống luật pháp quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế, mặt khác, các nguyên tắc này tạo sự cân bằng về quyền và nghĩa vụ của các nước thành viên, đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đang và kém phát triển có cơ hội tham gia vào thương mại dịch vụ quốc tế Một số nguyên tắc cơ bản được quy định trong GATS như sau:
- Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc được hiểu là nếu một quốc gia dành cho một quốc gia thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì cũng phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các quốc gia thành viên khác Ví dụ, nếu Việt Nam cho phép hướng dẫn viên
du lịch là người Hàn Quốc được hành nghề tại Việt Nam thì đồng thời phải chấp nhận hướng dẫn viên người Trung Quốc, Hoa Kỳ, Thái Lan… cũng như hướng dẫn viên của các quốc gia thành viên WTO khác hành nghề tại Việt Nam [5]
- Nguyên tắc đối xử quốc gia được hiểu là đối với các ngành dịch vụ đã cam kết, mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bất cứ thành viên nào sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự trong nước Ví dụ, Việt Nam có bất cứ ưu đãi nào dành cho doanh nghiệp
du lịch trong nước thì cũng phải dành những ưu đãi đó cho các doanh nghiệp du lịch của các nước đã cam kết GATS kinh doanh du lịch trên lãnh thổ Việt Nam Nguyên tắc này nhằm dỡ bỏ và hạn chế sự phân biệt đối xử đối với người cung cấp dịch vụ nước ngoài, tạo điều kiện cho họ tiếp cận thị trường trong nước [5]
- Nguyên tắc minh bạch hóa hệ thống chính sách là nguyên tắc chung yêu cầu mỗi thành viên phải thông báo tất cả các biện pháp ảnh hưởng tới thương mại dịch
vụ và các thông tin liên quan khác Nguyên tắc này thể hiện ở việc đáp ứng các yêu
Trang 30cầu sau: Các nước thành viên tham gia GATS phải công bố, ấn hành một cách công khai rộng rãi tất cả các văn bản pháp lý, cam kết quốc tế có liên quan hoặc tác động trực tiếp đến thương mại dịch vụ; Các nước thành viên phải có nghĩa vụ đáp ứng đầy
đủ các yêu cầu về thông tin liên quan đến thương mại dịch vụ khi các nước thành viên khác có yêu cầu Phải thành lập cơ quan chuyên cung cấp thông tin để đáp ứng yêu cầu trên trong thời gian 2 năm kể từ khi tham gia Hiệp định; Các nước thành viên phải có nghĩa vụ thông báo khẩn trương và ít nhất mỗi năm một lần cho Hội đồng Thương mại dịch vụ của WTO về việc ban hành hoặc sửa đổi bất kì luật, thể chế, hướng dẫn hành chính có tác động đến thương mại dịch vụ thuộc các cam kết
cụ thể theo Hiệp định này (trừ các thông tin bí mật); Các nước thành viên không được phép áp dụng những yêu cầu về chuyên môn, về chất lượng dịch vụ, về giấy phép… mà những yêu cầu này làm vô hiệu hóa các nguyên tắc pháp lý hoặc làm nguy hại đến việc thực hiện các cam kết cụ thể…[5]
- Nguyên tắc tự do hóa từng bước thương mại dịch vụ: Do sự phát triển giữa các quốc gia không đồng đều, nên khi tham gia vào thị trường toàn cầu các nước có thể thỏa thuận mở cửa thị trường từng bước phù hợp thực tiễn phát triển của đất nước mình Điều này có lợi cho các nước đang và chậm phát triển trong quá trình tham gia vào thương mại dịch vụ toàn cầu
- Về nguyên tắc tiếp cận thị trường (Market Access), GATS đưa ra 4 phương thức tiếp cận như sau [42]:
Phương thức 1: Cung cấp qua biên giới (cross border) được hiểu là dịch vụ
được cung cấp từ lãnh thổ của một nước sang lãnh thổ của một nước khác Người tiêu dùng không di chuyển vẫn ở tại lãnh thổ cư trú Người cung cấp dịch vụ không
di chuyển Ví dụ, các cuộc điện thoại quốc tế cung cấp thông tin, tư vấn du lịch qua điện thoại, dịch vụ chuyển phát nhanh, dịch vụ vận tải đường ống, một hãng tàu biển Việt Nam cung cấp dịch vụ vận chuyển khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam
Phương thức 2: Tiêu dùng ở nước ngoài (abroad consumption): Người cư trú
của một nước tiêu dùng dịch vụ trên lãnh thổ của một nước khác Người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tại một nước khác Người tiêu dùng dịch vụ ở ngoài lãnh thổ cư trú Người cung cấp dịch vụ không di chuyển Ví dụ, du khách Hoa Kỳ đi du lịch ở Việt Nam theo tour du lịch do doanh nghiệp lữ hành Việt Nam
Trang 31tổ chức, đi du lịch ra nước ngoài chữa bệnh, du lịch quốc tế, dịch vụ du học, sửa chữa tàu biển tại nước ngoài…
Phương thức 3: Hiện diện thương mại (commercial presence): Người cư trú
tại một nước thiết lập cơ sở cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ của nước khác Các cơ sở cung cấp dịch vụ này gọi là hiện diện thương mại, bao gồm chi nhánh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài lập chi nhánh hoặc công ty con hoặc văn phòng đại diện tại một nước nhằm cung ứng dịch
vụ tại nước đó Ví dụ, doanh nghiệp lữ hành Việt Nam mở chi nhánh tại Nhật Bản
để khai thác nguồn khách; một nhà đầu tư Hoa Kỳ đầu tư xây dựng một khách sạn tại Việt Nam thông qua hình thức liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài
Phương thức 4: Hiện diện thể nhân (presence of natural person): người cư trú
của một nước di chuyển sang nước khác để cung cấp dịch vụ Người cung cấp dịch
vụ cử đại diện hoặc các cá nhân rời khỏi một nước để sang cung ứng dịch vụ tại một nước khác Ví dụ: chuyên gia du lịch, nhà tư tư vấn, quản lý du lịch, hướng dẫn viên
du lịch của doanh nghiệp nước ngoài được cử đến Việt Nam hoạt động
Việc tìm hiểu các vấn đề về thương mại dịch vụ có ý nghĩa hết sức quan trong đối với hoạt động QLNN trong lĩnh vực du lịch vì bên cạnh việc tuân thủ những quy định chung của Việt Nam, hoạt động quản lý phải tuân thủ và phụ thuộc vào những quy định và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia
1.2.2.2.Tác động của TCH tới du lịch
Cũng giống như các ngành kinh tế khác, du lịch chịu ảnh hưởng và có nhiều thay đổi dưới các tác động của quá trình TCH Bên cạnh đó, với những đặc thù riêng của ngành dịch vụ có tính tổng hợp, liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao; hoạt động
du lịch mang tính quốc tế cao thể hiện ở đặc trưng di chuyển và tiêu dùng du lịch qua biên giới; hoạt động du lịch phụ thuộc và bị ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố chính trị, ngoại giao, văn hoá, môi trường, an ninh, hay các chính sách xuất nhập cảnh và nhập cư… do đó những tác động của quá trình TCH tới hoạt động du lịch càng mạnh
mẽ Đặc biệt thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, TCH làm tăng lượng khách du lịch trên toàn cầu đồng thời mở rộng phạm vi thị trường khách
Trang 32TCH thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới, mức sống của người dân nói chung và các nước công nghiệp phát triển không ngừng được cải thiện Những tiến bộ của khoa học công nghệ được ứng dụng trong các hoạt động cung ứng dịch
vụ du lịch đã thúc đẩy nhu cầu đi du lịch của con người Du lịch trở thành hoạt động giải trí quan trọng và ngày càng phổ biến Lượng khách du lịch trên toàn cầu đã không ngừng tăng lên Năm 1995 toàn thế giới có khoảng 563 triệu lượt khách quốc
tế thì theo dự báo của UNWTO tới năm 2010 toàn thế giới đạt khoảng 1 tỷ lượt khách, tới năm 2020 ước tính sẽ là 1,6 tỷ lượt khách [45]
TCH và xu thế HNKTQT làm gia tăng các hoạt động giao lưu, thương mại quốc tế đối với hàng hoá, dịch vụ, tiền tệ (bao gồm đầu tư trực tiếp từ nước ngoài)
và sự di chuyển của con người giữa các quốc gia, khu vực và trên toàn cầu Sự liên kết, hợp tác, giao lưu giữa các quốc gia tạo ra những sự thuận lợi cho quá trình dịch chuyển của con người (bao gồm khách du lịch thuần túy và khách công vụ )
Các quy định liên quan đến chính sách nhập cư, hải quan, xuất nhập cảnh đối với người và phương tiện… cũng được nới lỏng tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển tự do của các dòng khách du lịch giữa các quốc gia, trong khu vực, liên khu vực và trên toàn cầu Chính những yếu tố này khiến lượng khách trên toàn cầu không ngừng tăng lên và thị trường khách du lịch được mở rộng
Sự tham gia vào quá trình TCH và mở cửa HNKTQT, thúc đẩy sự hình thành quan hệ hợp tác song phương; hợp tác khu vực (ASEAN, NAFTA, EU), hợp tác liên khu vực (ASEM, APEC) hoặc tham gia các tổ chức mang tính toàn cầu (WTO) Trên cơ sở những mối quan hệ hợp tác này, nhiều lĩnh vực, ngành nghề có điều kiện phát triển mạnh mẽ, trong đó có du lịch Thị trường du lịch được mở rộng Lượng khách du lịch quốc tế không ngừng tăng lên nhờ các cam kết hợp tác giữa các nước như tăng cường trao đổi khách giữa hai quốc gia, trong khu vực, liên khu vực, thậm chí toàn cầu Sự di chuyển khách du lịch trong khu vực được thuận lợi hơn nhờ chính sách nới lỏng thủ tục xuất nhập cảnh đối với người và phương tiện vận chuyển, chính sách miễn visa hoặc áp dụng visa chung trong một khu vực…
Thứ hai, toàn cầu hóa thúc đẩy sự phát triển của hoạt động cung ứng du lịch, người tiêu dùng dịch vụ du lịch được hưởng lợi hơn nhờ các cam kết tự do hóa, mở cửa thị trường, cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ
Trang 33Những cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cắt giảm thuế quan… giữa các quốc gia làm giảm thế độc quyền, tạo ra những cạnh tranh có lợi cho người tiêu dùng Người tiêu dùng dịch vụ du lịch được cung cấp những hàng hóa, dịch vụ cấu thành trong sản phẩm du lịch như dịch vụ vận tải, viễn thông, tài chính, ngân hàng… ở mức giá hợp lý, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, chi phí rẻ hơn, chất lượng phục vụ tốt hơn ở trong nước và tại nước ngoài…
Đặc biệt, Hiệp định Thương mại dịch vụ (GATS) được thực thi với những yêu cầu mở cửa thị trường dịch vụ trên các lĩnh vực có ảnh hưởng quan trọng đối với du lịch là: dịch vụ vận tải (vận tải biển, hàng không), viễn thông, dịch vụ tài chính, ngân hàng và nới lỏng các chính sách tác động đến sự di chuyển của con người (ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận thị trường du lịch và thị trường lao động)
Cụ thể, trong lĩnh vực vận tải hàng không, các cam kết “mở rộng bầu trời” và
sự hình thành liên minh các hãng hàng không làm giảm sự độc quyền của nhiều hãng hàng không quốc gia Dịch vụ hàng không được đa dạng hóa, linh hoạt về chuyến bay, tuyến bay Các tuyến bay mới được hình thành, tăng khả năng tiếp cận của nhiều điểm đến Giá dịch vụ hàng cạnh tranh nhờ tiết kiệm chi phí, chất lượng phục vụ tốt Sự xuất hiện của nhiều hãng hàng không giá rẻ và máy bay vận chuyển
cỡ lớn đã tạo ra những chuyển biến tích cực đối với du lịch Sự mở cửa thị trường hàng không ở nhiều quốc gia là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của ngành Du lịch Trong lĩnh vực lữ hành và khách sạn, phương thức kinh doanh thương mại điện
tử ngày càng trở nên phổ biến Những tiến bộ của khoa học công nghệ như bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, mạng Internet, hệ thống phân phối toàn cầu (GDS) và hệ thống đặt chỗ máy tính hoá (CRS) trở thành những kênh phân phối dịch vụ du lịch hữu ích Các nhà cung ứng dịch vụ du lịch thông qua những công cụ này xúc tiến quảng bá về dịch vụ của mình, nâng cao hiệu quả kinh doanh Đối với
du khách, các công cụ này còn giúp họ tìm kiếm các thông tin về chương trình du lịch, các nhà cung ứng dịch vụ, giá cả dịch vụ du lịch một cách thuận tiện
Các cam kết trong thương mại dịch vụ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ
du lịch thông qua những quy định mang tính quốc tế về tiêu chuẩn nghề nghiệp chung Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch và nâng cao năng lực cạnh tranh với thị trường khu vực, quốc tế, các quốc gia phải chú trọng đào tạo theo
Trang 34tiêu chuẩn quốc tế cho lao động ngành du lịch Nhờ đó, chất lượng dịch vụ du lịch ở nhiều quốc gia tiến tới tiêu chuẩn chung của quốc tế, người tiêu dùng du lịch được hưởng chất lượng dịch vụ cao, mang tính chuyên nghiệp hơn
Thứ ba, TCH làm tăng sự cạnh tranh nhưng đồng thời tăng khả năng liên kết trong phát triển du lịch
TCH thúc đẩy việc mở cửa, tự do hoá trong lĩnh vực du lịch Điều này đặt
ngành Du lịch mỗi quốc gia trong môi trường cạnh tranh gay gắt ở 3 góc độ: cạnh
tranh điểm đến; cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ du lịch; cạnh tranh về nguồn nhân lực du lịch ở cả thị trường trong nước và quốc tế
Nhận thức được vai trò và những lợi thế cạnh tranh của du lịch trong cơ cấu kinh tế, nhiều quốc gia đã xác định phát triển du lịch như một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước Nhiều chính sách phát triển du lịch được ban hành nhằm thu hút khách du lịch, thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp vào du lịch Nhiều điểm du lịch mới được hình thành cạnh tranh với những điểm du lịch đã phát triển Du khách ngày càng có nhiều điểm đến để lựa chọn Chính vì thế,
sự cạnh tranh ở góc độ điểm đến ngày càng gay gắt hơn giữa các địa phương trong cùng một quốc gia, giữa quốc gia với quốc gia, giữa khu vực với khu vực
Sự mở cửa, tự do hóa thị trường du lịch, dỡ bỏ các rào cản bảo hộ giữa các quốc gia giúp tạo điều kiện cho doanh nghiệp du lịch nước ngoài được bình đẳng kinh doanh với các doanh nghiệp du lịch trong nước Các doanh nghiệp du lịch trong nước cũng có điều kiện mở rộng phạm vi kinh doanh, vươn ra thị trường nước ngoài Điều này dẫn đến mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp du lịch ngày càng trở nên gay gắt ngay ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế Các doanh nghiệp du lịch trong nước không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với lượng lớn doanh nghiệp du lịch nước ngoài
Điều này cũng xảy ra tương tự đối với nguồn nhân lực du lịch Sự mở cửa, tự
do hóa giữa các quốc gia, cho phép sự di chuyển tự do của lực lượng lao động Người lao động có thể mang quốc tịch của một quốc gia nhưng có thể làm việc và nhận lương ở một quốc gia khác, bình đẳng với người lao động của quốc gia sở tại
Sự cạnh tranh về nguồn nhân lực du lịch sẽ trở nên gay gắt, nguy cơ thất nghiệp sẽ càng cao, nếu như trình độ của nhân lực du lịch của một quốc gia không đáp ứng
Trang 35yêu cầu của sự phát triển du lịch Sự cạnh tranh này thể hiện càng rõ nét ở những nơi
có mức lương được trả cao và đối tượng lao động có trình độ cao
Trước sự cạnh tranh gay gắt, để tồn tại và phát triển, xu hướng liên kết trong phát triển du lịch cũng gia tăng và trở nên phổ biến Nhiều hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực du lịch được kí kết Nhiều “điểm đến chung” trong lĩnh vực
du lịch được hình thành trên cơ sở hợp tác chung như hợp tác du lịch ASEAN, hợp tác du lịch châu Á-Thái Bình Dương, hợp tác du lịch các nước tiểu vùng sông Mê kông (GMS), hợp tác tiểu vùng sông Mê kông mở rộng (AMECS); hợp tác du lịch
“Ba quốc gia một điểm đến Việt-Lào-Campuchia”… Hầu hết các liên kết hợp tác trong du lịch nhằm mục đích: khai thác thế mạnh về tài nguyên du lịch; bảo tồn và phát triển bền vững các giá trị tài nguyên du lịch; thu hút đầu tư phát triển du lịch; tập trung các nguồn lực triển khai các hoạt động quảng bá, xúc tiến cho điểm đến chung, thương hiệu chung; phát triển nguồn nhân lực du lịch; xây dựng và áp dụng một tiêu chuẩn chung về nghề nghiệp du lịch; thúc đẩy sự phát triển dòng khách đi lại giữa các nước… Sự liên minh liên kết trong lĩnh vực du lịch một mặt thúc đẩy sự phát triển du lịch chung của các quốc gia và khu vực, mặt khác nâng cao khả năng cạnh tranh với khu vực khác
Thứ tư, các rào cản trong lĩnh vực du lịch ngày càng đa dạng và phức tạp
Thuật ngữ rào cản (barries, ostacles) thường được sử dụng nhiều trong bối cảnh TCH và HNKTQT Theo nghĩa chung nhất, rào cản là những cản trở xuất phát từ bên trong và bên ngoài địa phương, quốc gia, gây cản trở sự phát triển của du lịch trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới Theo nghĩa hẹp hơn, rào cản có thể được hiểu ở hai góc độ như sau: Thứ nhất, rào cản là những yếu tố kìm hãm ngành
Du lịch một quốc gia hội nhập với khu vực và thế giới Những rào cản này có thể là những hạn chế về trình độ phát triển; sự thiếu đồng bộ về hệ thống luật pháp, cơ chế vận hành; sự yếu kém của nguồn nhân lực; những khác biệt về văn hóa, môi trường, tôn giáo…Thứ hai, rào cản là những biện pháp, hành động được sử dụng để bảo hộ doanh nghiệp du lịch, lao động ngành tại thị trường trong nước; gây những khó khăn, hạn chế sự thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp du lịch nước ngoài đặc biệt khi trình độ phát triển của ngành Du lịch, trình độ quản lý, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch trong nước chưa cao Một số rào cản được sử dụng nhằm
Trang 36hạn chế sự tiếp cận điểm đến của du khách Trong một số trường hợp, một số rào cản được dựng lên nhằm mục đích chính trị, bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ môi trường hoặc dùng để đáp lại những hành động thương mại không bình đẳng cũng trở thành những rào cản trong lĩnh vực du lịch
Hầu hết các nước tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và trong lĩnh vực du lịch nói riêng đều cam kết từng bước dỡ bỏ các rào cản để thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại, thúc đẩy du lịch quốc tế được phát triển tự do trên toàn cầu Như vậy, về mặt hình thức, rào cản trong lĩnh vực du lịch sẽ được giảm bớt Tuy nhiên, quá trình hội nhập dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt nên những rào cản được dựng lên nhằm mục đích bảo hộ ngành Du lịch và các mục đích khác ngày càng gia tăng Thị trường khách du lịch càng đa dạng thì các hình thức rào cản càng phức tạp Trong lĩnh vực du lịch có một số dạng rào cản sau:
- Rào cản đối với khách du lịch: Đây là những rào cản làm ảnh hưởng tới khả
năng tiếp cận điểm đến của khách du lịch inbound và outbound Đối với quốc gia gửi khách (source countries), dạng rào cản này được dựng lên nhằm mục đích hạn chế người dân đi du lịch nước ngoài Đối với quốc gia đón khách (host countries), dạng rào cản này làm hạn chế khả năng thu hút khách du lịch Mặt khác, rào cản dạng này còn được sử dụng nhằm mục đích đảm bảo sự phát triển bền vững cho một điểm đến, hạn chế sự quá tải về khách du lịch hoặc kiểm soát tình trạng dân tị nạn núp dưới hình thức du lịch Ngoài ra, rào cản đối với khách du lịch còn xuất phát từ một số nguyên nhân khác như xung đột về ngoại giao, chính trị, kinh tế giữa các quốc gia hoặc những yêu cầu bảo vệ công dân trước tình trạng khủng bố, chiến tranh, dịch bệnh… Dạng rào cản này thể hiện ở các hình thức như: Các biện pháp cấm xuất cảnh, nhập cảnh đối với công dân; Các quy định về thủ tục cấp hộ chiếu, visa, thủ tục hải quan (đối với người, hành lý, phương tiện vận chuyển của khách du lịch); Chính sách thuế và tài chính không thuận lợi cho khách du lịch như không áp dụng chính sách hoàn thuế cho khách du lịch hoặc các quy định nhằm hạn chế lượng tiền được mang theo của khách du lịch; Các yêu cầu bắt buộc về chứng nhận bảo hiểm du lịch hoặc chứng nhận đóng tiền kí quỹ, chứng minh tài chính trước khi đi
du lịch; Các yêu cầu về y tế như bắt buộc phải kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng phòng bệnh trước khi đi du lịch, yêu cầu phải cách ly nếu khách du lịch đến hoặc trở về từ vùng có dịch bệnh…
Trang 37- Rào cản đối với hoạt động kinh doanh du lịch:
+ Rào cản xuất phát từ hệ thống luật pháp, cơ chế quản lý, chính sách, thủ tục hành chính liên quan đến kinh doanh du lịch thiếu sự minh bạch và có sự phân biệt đối xử đối với các thành phần kinh tế
+ Rào cản xuất phát từ hệ thống luật lệ, cơ chế quản lý liên quan đến du lịch của Chính phủ và chính quyền địa phương có sự khác biệt Ví dụ ở Mỹ, bên cạnh hệ thống luật pháp của liên bang còn có hệ thống luật của các bang
+ Các quy định về điều kiện thành lập doanh nghiệp, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty, điều kiện được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ du lịch cao hơn nhiều nước trong khu vực Cụ thể: vốn thành lập doanh nghiệp lớn; tiền kí quỹ cao; giám đốc điều hành doanh nghiệp du lịch phải là người có kinh nghiệm; yêu cầu phải sử dụng lao động có hợp đồng dài hạn; doanh thu, số lượng khách hàng đã phục
vụ trong 1 đến 3 năm đầu tiên phải đạt tiêu chuẩn nhất định mới được phép tiếp tục kinh doanh hoặc thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh; phải có cơ sở chứng minh được nguồn khách tiềm năng mới được cấp giấy phép kinh doanh… Ngoài ra, còn những rào cản xuất phát từ các quy định chặt chẽ về thanh toán kiểm soát ngoại tệ, chính sách thuế, vấn đề bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, quy định về quảng
bá, xúc tiến, xây dựng thương hiệu…
+ Thủ tục hành chính, chi phí thành lập doanh nghiệp du lịch, hoạt động của doanh nghiệp cao…
+ Một số quốc gia đang phát triển gặp rất nhiều rào cản khi tham gia vào các
hệ thống phân phối toàn cầu (CRS, GDS) do các điều kiện đưa ra từ các chủ sở hữu các hệ thống phân phối này là quá cao như chi phí và các ràng buộc khác Sự tham gia của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch nhỏ không được khuyến khích
do những điều kiện chưa tương thích với sự yếu kém về hệ thống, kĩ thuật và nguồn nhân lực Hơn nữa, tại các quốc gia đang phát triển do trình độ phát triển của du lịch quá thấp, nên những thể hiện trên mạng lưới cung cấp toàn cầu còn nghèo nàn Nhiều trường hợp, hệ thống phân phối toàn cầu không đem lại những lợi ích cho các hãng du lịch vừa và nhỏ
- Rào cản đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực du lịch
Trang 38+ Tạo ra những quy định về luật pháp, chính sách có lợi cho doanh nghiệp du
lịch trong nước, bất bình đẳng với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Cung cấp các điều kiện kinh tế như hỗ trợ vốn, thông tin, xúc tiến quảng bá… cho cho doanh nghiệp du lịch trong nước
+ Hạn chế lĩnh vực cho phép đầu tư nước ngoài như: chỉ cho phép doanh nghiệp du lịch nước ngoài kinh doanh lữ hành quốc tế, không được phép kinh doanh
lữ hành nội địa và tổ chức đưa khách du lịch outbound Chỉ cho doanh nghiệp nước ngoài đầu tư xây dựng những khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên + Hạn chế phạm vi đầu tư: Chỉ được phép đầu tư xây dựng khách sạn, doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại những vùng hoạt động du lịch chưa thực sự phát triển
+ Áp dụng các quy định về giấy phép nhập khẩu và mức thuế nhập khẩu cao
đối với các trang thiết bị phục vụ xây dựng các cơ sở lưu trú du lịch cao cấp, phương tiện vận chuyển khách du lịch, các loại trang thiết bị phục vụ cho lĩnh vực vụ vui chơi giải trí
+ Các quy định nhằm hạn chế thành lập doanh nghiệp du lịch 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện, chi nhánh của các doanh nghiệp du lịch nước ngoài thông qua các quy định các doanh nghiệp du lịch nước ngoài phải thành lập các liên doanh
du lịch với đối tác trong nước; Quy định tỉ lệ góp vốn tối thiểu, tối đa trong các liên doanh du lịch; Yêu cầu chủ đầu tư nước ngoài phải duy trì doanh nghiệp, liên doanh
và không được chuyển nhượng trong khoảng thời gian nhất định
+ Yêu cầu doanh nghiệp du lịch nước ngoài, liên doanh du lịch phải sử dụng giám đốc điều hành, hướng dẫn viên du lịch, người lao động là người bản địa… + Các hạn chế chuyển tiền, lợi nhuận của các liên doanh du lịch ra nước ngoài + Cấm/ hạn chế người nước ngoài hành nghề trong lĩnh vực du lịch tại nước sở tại thông qua các điều kiện, tiêu chuẩn về điều kiện hành nghề, thu nhập, visa nhập cảnh, giấy phép hành nghề…
Du lịch ít chịu những rào cản về thuế quan như chống bán phá giá, hạn ngạch, hàng rào tiêu chuẩn kĩ thuật đối với sản xuất hàng hóa, tiêu chuẩn về bao bì nhãn mác, quy định về sở hữu trí tuệ…Tuy nhiên, rào cản trong lĩnh vực du lịch rất đa dạng và phức tạp Du lịch là một hoạt động có tính chất liên ngành, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, văn hóa, môi trường, an ninh, chính trị…do
đó, những vấn đề xung đột, mâu thuẫn trong các lĩnh vực trên giữa các quốc gia
Trang 39cũng thường xuyên nảy sinh khiến rào cản trong lĩnh vực du lịch ngày càng gia tăng
Du lịch sử dụng nhiều dịch vụ từ các ngành khác như tài chính ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, thương mại điện tử, hàng không, nên những rào cản của các ngành, lĩnh vực có liên quan đến du lịch cũng là rào cản đối với hoạt động du lịch Ngành Du lịch mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới phải một mặt dỡ bỏ những rào cản xuất phát từ bên trong, một mặt phải chủ động đối phó với các rào cản xuất phát từ bên ngoài tạo điều kiện để du lịch có thể thâm nhập sâu vào thị trường nước ngoài nhưng cũng phải có biện pháp dựng được những rào cản hợp pháp để bảo vệ du lịch trong nước Trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO, việc nghiên cứu, nhận dạng các rào cản trong du lịch, nghiên cứu giải pháp nhằm vượt qua và sử dụng hiệu quả các rào cản du lịch ở Việt Nam là cần thiết
Thứ năm, TCH tác động mạnh mẽ đến ngành Du lịch của một số quốc gia đang phát triển
Phần lớn các quốc gia đang phát triển có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn nhưng lại hạn chế và khả năng khai thác, quản lý và đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất du lịch hiện đại có chất lượng cao Nhận thức được lợi thế cạnh tranh của du lịch như tăng thu ngoại tệ từ xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch và khả năng tạo ra việc làm; sự phát triển du lịch sẽ là động lực phát triển có tác động tích cực tới các ngành khác, nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển sẽ có những chính sách phát triển du lịch, hình thành các điểm đến và chính sách liên kết để nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia mình trong việc khai thác phát triển du lịch
Những cam kết mở cửa thị trường từ các quốc gia đang phát triển cho phép các công ty du lịch nước ngoài, các tập đoàn du lịch, khách sạn lớn, các quốc gia có ngành Du lịch phát triển đầu tư vào lĩnh vực du lịch tại các quốc gia này Sự chuyển giao trên quy mô lớn những thành tựu của khoa học công nghệ, tổ chức, quản lý kinh doanh trong lĩnh vực lữ hành, khách sạn với sự xuất hiện của các tập đoàn khách sạn lớn, các khu nghỉ mát hiện đại tại các quốc gia đang phát triển đã làm thay đổi hình ảnh du lịch của các quốc gia đang phát triển Các nước đang phát triển có thể tham gia vào kênh phân phối, mạng lưới thông tin du lịch toàn cầu, tiếp cận với thị trường khách lớn trên toàn thế giới
Trang 40Các nước đang phát triển có cơ hội nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch thông qua việc tiếp thu những tiến bộ khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý hiện đại của các nước có ngành Du lịch phát triển Chất lượng dịch vụ còn có thể nâng cao thông qua việc tiếp nhận lao động du lịch nước ngoài có tay nghề cao tại các khách sạn, nhà hàng cao cấp có vốn nước ngoài, qua đó đào tạo nguồn lao động du lịch trong nước Mặc dù toàn cầu hóa thúc đẩy tự do hóa mở cửa thị trường du lịch nhưng ngành Du lịch các nước đang phát triển vẫn có thể mở cửa từng bước theo lộ trình, như vậy, có điều kiện chuẩn bị tốt hơn để quá trình hội nhập đem lại lợi ích thực sự
1.2.2.3.Tính tất yếu của HNKTQT trong lĩnh vực du lịch của Việt Nam
Thứ nhất, xu hướng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng dịch vụ ngày càng mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Trong xu hướng
đó, sự phát triển của ngành Du lịch có vai trò hết sự quan trọng Tốc độ tăng của du lịch không ngừng tăng lên trong khoảng 30 năm3, không tính đến các chi phí vận chuyển quốc tế, du lịch thế giới đã tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm 7%
về lượng khách tới và 12% đối với doanh thu từ các hoạt động du lịch và thu nhập từ
du lịch chiếm tới khoảng 1/3 doanh thu các ngành dịch vụ toàn cầu Năm 2004, du lịch toàn thế giới đón 760 triệu lượt khách quốc tế, đạt doanh thu 514 tỷ USD, tương đương 7% tổng GDP toàn thế giới, dự báo đến năm 2010, lượng khách quốc tế tăng khoảng 1 tỷ lượt với doanh thu 2000 tỷ USD [27] Du lịch được coi là ngành tạo ra nhiều lợi ích đối với xã hội, bên cạnh những đóng góp vào nền kinh tế quốc dân, du lịch còn tạo nhiều việc làm cho người lao động Du lịch đã tạo ra việc làm cho hơn
215 triệu lao động chiếm gần 10% lực lượng lao động thế giới, cứ khoảng 11 việc làm thì có 1 việc làm trong ngành du lịch Dự báo đến năm 2010, ngành Du lịch thế giới sẽ tạo ra khoảng 251,6 triệu việc làm cho người lao động [45] Du lịch còn góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững ở những vùng sâu vùng xa Du lịch thúc đẩy các ngành khác phát triển do du lịch sử dụng nhiều sản phẩm của các ngành kinh tế khác làm yếu tố đầu vào Do đó, phát triển du lịch có tác động tích cực tới quá trình HNKTQT của Việt Nam
Thứ hai, xu thế tự do hóa đối với thương mại dịch vụ ngày càng phát triển, du lịch cũng chịu ảnh hưởng của xu thế này Trong khuôn khổ GATS/WTO, phân
3 Khoảng từ 1975 đến 2005