Một số nhân tố tác động đến công tác quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách tại Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist .... Nhận xét, đánh giá chung về công tá
Trang 1Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG QUỐC DŨNG
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ NHẬN KHÁCH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH TÂN ĐỊNH FIDITOURIST
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
Trang 3nhận khách trang 14 1.3 Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế
nhận khách trang 16 1.3.1 Bản chất của quản trị rủi ro trang 16 1.3.2 Mục tiêu của quản trị rủi ro trang 17 1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro trang 18 1.3.4 Các nội dung của hoạt động quản trị rủi ro trang 20 1.3.5 Các phương thức quản trị rủi ro trang 26 1.3.6 Các công cụ được sử dụng trong quản trị rủi ro trang 27 1.4 Một số bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro trong kinh doanh
lữ hành quốc tế nhận khách tại Việt Nam trang 29
Trang 4Trang 4
Tiểu kết chương 1 trang 31 Chương 2 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ NHẬN KHÁCH TẠI CTY CP DU LỊCH TÂN ĐỊNH FIDITOURISRT trang 32
2.1 Khái quát về Fiditour và hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách của Fiditour trang 32 2.1.1 Khái quát về Fiditour trang 32 2.1.2 Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách (Inbound) tại Fiditour trang 39 2.2 Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách của Fiditour trang 43 2.2.1 Nhận diện rủi ro trang 43 2.2.2 Phân tích – đo lường rủi ro trang 51 2.2.3 Kiểm soát – phòng ngừa rủi ro trang 54 2.2.4 Xử lý rủi ro trang 69 2.2.5 Một số nhân tố tác động đến công tác quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách tại Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist trang 70 2.3 Nhận xét, đánh giá chung về công tác quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách của công ty Du lịch Tân Định Fiditourist trang 71 Tiểu kết chương 2 trang 74 Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ NHẬN KHÁCH TẠI CTY
CP DU LỊCH TÂN ĐỊNH FIDITOURIST trang 75
3.1 Phương hướng kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách
của Fiditour trang 75 3.1.1 Quan điểm, mục tiêu, xu hướng khai thác khách du lịch quốc tế đến của Việt Nam trang 75
Trang 6Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 7Trang 7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Ma trận đo lường rủi ro trang 22
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức và quản lý của Fiditour trang 36 Bảng 2.2 Số khách quốc tế của Fiditour và Toàn quốc trang 41 Bảng 2.3 Số khách quốc tế và nội địa của Fiditour trang 41 Bảng 2.4 Số khách quốc tế của Fiditour phân theo thị trường
khách qua các năm trang 42 Bảng 2.5: Phân loại rủi ro tại Fiditour trang 53 Bảng 2.6 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro từ môi trường
kinh doanh của Fiditour trang 62 Bảng 2.7 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro từ môi trường
nội bộ doanh nghiệp Fiditour trang 68
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế
nhận khách trang 80
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ nhận diện các rủi ro trong môi trường kinh doanh
của doanh nghiệp trang 83
Sơ đồ 3.3 Sơ đồ nhận diện các rủi ro trong môi trường kinh doanh
của doanh nghiệp trang 84 Bảng 3.4 Bảng mô tả định tính hậu quả của rủi ro trang 87 Bảng 3.5 Bảng mô tả định tính khả năng xảy ra của rủi ro trang 87 Bảng 3.6 Bảng phân tích định lượng rủi ro trang 88 Bảng 3.7 Sơ đồ tham vấn và truyền thông trong quản trị rủi ro trang 92 Bảng 3.8 Bảng theo dõi rủi ro trang 96
Trang 8Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Sự phát triển mạnh mẽ của du lịch toàn cầu cùng với việc xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn đã thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam nói chung cũng như các công ty lữ hành nói riêng phát triển mạnh mẽ hơn
Hội nhập toàn cầu, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, du lịch Việt Nam đối diện với nhiều rủi ro trong kinh doanh
Như nhiều đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam, Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist cũng chưa đưa ra những giải pháp cụ thể để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách một cách hiệu quả
Việc nghiên cứu các rủi ro cùng các biện pháp phòng ngừa mà một đơn
vị kinh doanh lữ hành thường gặp phải là điều kiện thiết yếu để hoàn thiện hoạt động kinh doanh lữ hành, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế không chỉ cho những nhà đầu tư mà còn góp phần cho phát triển kinh tế xã hội Việt Nam Vì vậy, Luận văn sẽ đưa ra một số biện pháp nhằm giải quyết vấn đề trên
2 Lịch sử nghiên cứu:
- Trung tâm quốc tế APEC về du lịch bền vững (APEC International Centre for Sustainable Tourism - AICST) tháng 12 năm 2006 đưa ra các hướng dẫn chính thức để quản lý rủi ro trong du lịch Báo cáo này đưa ra các hướng dẫn để xây dựng chiến lược quản lý rủi ro cho các điểm đến và các doanh nghiệp làm du lịch Tuy nhiên, báo cáo cũng mới đưa ra hướng dẫn khung nhằm giúp các điểm đến và doanh nghiệp
Trang 9ra một số biện pháp để quản trị các rủi ro này Nghiên cứu này dựa trên những rủi ro chung cho toàn ngành du lịch và môi trường kinh doanh
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa các khái niệm về quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành
- Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách
- Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách tại Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist
Trang 10Trang 10
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách tại Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
- Các rủi ro có khả năng xảy ra trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách
- Hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh quốc tế nhận khách của doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist trong giai đoạn từ 1994 (từ ngày Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist có tư cách pháp nhân riêng) đến nay
- Về không gian: Luận văn có tham khảo, sử dụng các tư liệu từ nhiều quốc gia, cũng như có nghiên cứu thực tế tại các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế khác tại Việt Nam
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu lĩnh vực kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách
5 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng nhiều nhất các phương pháp sau trong nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập các tư liệu từ nhiều nguồn, phân tích, tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Trực tiếp tiếp xúc đối tượng để nghiên cứu
Trang 11Trang 11
6 Nội dung của luận văn:
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị rủi ro trong kinh
doanh lữ hành nhận khách
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi trong kinh doanh lữ hành nhận khách
tại Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong kinh doanh
lữ hành quốc tế nhận khách tại Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist
Trang 12Lữ hành bao gồm tất cả những hoạt động di chuyển của con người và những hoạt động cần thiết có liên quan đến việc di chuyển đó Với cách tiếp cận này thì lữ hành là một hoạt động chính của du lịch, tức phục vụ cho con người di chuyển đến một nơi không phải nơi mình lưu trú với mục đích cụ thể nào đó Du lịch bao gồm lữ hành nhưng tất cả các hoạt động lữ hành chưa hẳn
là du lịch
Theo nghĩa hẹp hơn: Lữ hành là hoạt động kinh doanh du lịch trọn gói nhằm phân biệt với các hoạt động kinh doanh du lịch khác như lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí,…Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 thì “Lữ hành
là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch” Tức lữ hành là việc thực hiện một chuyến đi theo một chương trình cụ thể, theo kế hoạch rõ ràng, theo một lộ trình chi tiết
1.1.2 Kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách
Trang 13Trang 13
Kinh doanh lữ hành: Theo khái niệm về lữ hành trên đây về khía cạnh kinh doanh thì kinh doanh lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lợi
Vậy kinh doanh lữ hành ở đây thực hiện các chức năng: Chức năng sản xuất ra sản phẩm, chức năng thông tin và chức năng thực hiện
Theo Luật Du lịch Việt Nam, kinh doanh lữ hành bao gồm 2 loại hình
là kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế Cách thức chia này dựa trên lãnh thổ thường trú của khách du lịch Khách du lịch của một quốc gia đi du lịch trong lãnh thổ quốc gia đó được gọi là khách nội địa và lĩnh vực kinh doanh lữ hành phục vụ đối tượng khách này gọi là kinh doanh
lữ hành nội địa Khách đi du lịch ra khỏi biên giới lãnh thổ quốc gia mình gọi
là khách du lịch quốc tế và lĩnh vực kinh doanh phục vụ đối tượng khách này gọi là kinh doanh lữ hành quốc tế
Kinh doanh lữ hành quốc tế sẽ bao gồm:
- Kinh doanh lữ hành phục vụ khách trong nước đi du lịch nước ngoài gọi là kinh doanh lữ hành quốc tế gởi khách (outbound) Các công ty lữ hành kinh doanh loại hình này gọi là hãng (công ty) lữ hành quốc tế gởi khách – Outgoing Tour Operator
- Kinh doanh lữ hành phục vụ khách nước ngoài du lịch đến nước mình gọi là kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách (inbound) Các công ty lữ hành kinh doanh loại hình này gọi là hãng (công ty) lữ hành quốc tế nhận khách – Incoming Tour Operator
Theo luật du lịch Việt Nam, các đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế được phép kinh doanh lữ hành nội địa, tuy nhiên các đơn vị kinh doanh lữ hành nội địa không được phép kinh doanh lữ hành quốc tế
1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách
Trang 14Trang 14
1.2.1 Định nghĩa chung về rủi ro
Nói đến rủi ro, ai cũng nghĩ đến việc không tốt xảy ra Rủi ro có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, không ngoại trừ bất cứ một ai Một tổ chức, một cá nhân, một công ty nhỏ hay một tập đoàn lớn đều có thể gặp rủi ro Rủi ro có thể xuất hiện ở mọi nơi, từ những nơi được xem là an toàn nhất cho đến những nơi, những chỗ mà không một ai ngờ tới
Chưa có định nghĩa thống nhất nào về rủi ro, mỗi trường phái, mỗi cá nhân đều đưa ra những định nghĩa khác nhau Tuy nhiên, nhìn nhận rủi ro có
Trong kinh doanh: “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”; “Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp”…
Nguồn: GS TS Đoàn Thị Hồng Vân, Quản trị rủi ro và khủng hoảng, NXB Lao Động – Xã Hội, 2009 [6,30]
Tóm lại, theo xu hướng tiêu cực thì rủi ro là điều xảy ra ngoài mong muốn của con người, tổ chức; rủi ro mang lại những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm đến con người, đến các tổ chức, đến xã hội
Trong thực tế, chúng ta đang đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn khác nhau và ngày càng gia tăng Xã hội càng phát triển, những rủi ro mới sẽ xuất
Trang 15Trang 15
hiện và ngày càng phức tạp hơn Con người ngày càng quan tâm đến rủi ro nhằm tìm kiếm các biện pháp hạn chế Trong phát triển, con người nghiên cứu, nhận thức rõ ràng hơn về rủi ro và có những quan điểm trung hòa hơn
Xu hướng trung hòa (tích cực) thì rủi ro được khái niệm khác với xu hướng tiêu cực – truyền thống:
Theo Frank Knight thì: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”; còn theo Allan Willett thì “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi”; và theo Irving Preffer “Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”; “Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến” Các tác giả C Arthur William,
Jr Micheak, L Smith đã viết trong cuốn Risk management and insurance thì:
“Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào có một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước”
Theo xu hướng dung hòa thì chúng ta có thể đo lường được rủi ro Đo lường được có nghĩa là có thể hạn chế được rủi ro và chính những rủi ro có thể mang lại cơ hội cho chúng ta Nghiên cứu rủi ro, chúng ta có thể quản trị các rủi ro, đưa ra các biện pháp né tránh, phòng ngừa rủi ro và biến các rủi ro thành các cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp hơn Xu hướng này nhìn nhận rủi ro một cách tích cực hơn, không hoàn toàn tiêu cực như xu hướng truyền thống
Nhằm nghiên cứu rủi ro một cách toàn diện để đưa ra những biện pháp quản trị hiệu quả, chúng ta cần tiếp cận rủi ro theo hướng tích cực Đây là cơ
sở để tác giả triển khai các nghiên cứu về quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách ở luận văn này
Trang 16từ thảm họa (động đất, núi lửa, sóng thần, chiến tranh, hỏa hoạn, lũ lụt,…); rủi
ro tài chính (các khoản nợ xấu, tỷ giá hối đoái, …); rủi ro tác nghiệp (trang thiết bị, máy móc,…)
Theo các quan điểm hiện đại, người ta phân loại rủi ro còn có thêm nhóm Rủi ro chiến lược Chiến lược có vai trò quyết định trong sự thành bại của một công ty, một tổ chức Chiến lược sai dẫn đến công ty, tổ chức đó đối diện với nguy cơ thất bại Các rủi ro thảm họa, tài chính hay tác nghiệp là quan trọng, tuy nhiên rủi ro chiến lược có thể nói còn quan trọng hơn mà một công ty, một tổ chức có thể gặp phải
Xét chủ thể là một công ty (hãng) lữ hành, việc nghiên cứu các rủi ro tập trung hai khía cạnh đó là các rủi ro do môi trường tạo ra và các rủi ro do chính doanh nghiệp tạo ra Trong khuôn khổ của luận văn này, người viết phân loại rủi ro theo nguồn gốc gồm hai nhóm rủi ro là rủi ro từ tác động của môi trường kinh doanh và rủi ro phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp
1.2.2.1 Rủi ro từ tác động của môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng thể các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp có tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động của doanh nghiệp về cơ bản phải tuân theo môi trường kinh doanh bên ngoài và chịu sự tác động của các yếu tố này
Các rủi ro từ tác động của môi trường kinh doanh có thể kể đến là:
- Rủi ro do môi trường thiên nhiên:
Trang 17Trang 17
Đây là nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên nhiên như: Động đất, lũ lụt, bão, sóng thần, lở đất, núi lửa,… gây ra Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại to lớn và việc khắc phục cần thời gian dài
- Rủi ro do môi trường văn hóa, xã hội:
Rủi ro do môi trường văn hóa, xã hội là những rủi ro về thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống, các chuẩn mực giá trị, cấu trúc xã hội, các hành vi của con người… của dân tộc hay một nhóm người dẫn đến những hành xử, thái độ, hành vi không phù hợp và gây ra những thiệt hại, mất mác trong kinh doanh Kinh doanh lữ hành quốc tế, chủ thể là khách du lịch sẽ được cung cấp dịch vụ ở môi trường văn hóa, xã hội khác với môi trường sinh sống hằng ngày của họ, các rủi ro này rất dễ gặp phải trong kinh doanh
- Rủi ro do môi trường chính trị:
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần một môi trường chính trị ổn định
để kinh doanh Môi trường chính trị ảnh hưởng lớn đến đường lối kinh doanh của doanh nghiệp Khi có những chính sách mới ra đời, có thể sẽ làm đảo lộn các kế hoạch kinh doanh của một doanh nghiệp Doanh nghiệp lữ hành cần nắm rõ và có chiến lược thích hợp với môi trường chính trị không chỉ ở trong nước mà còn ở các nước gửi hoặc nhận khách
- Rủi ro do môi trường kinh tế:
Việc hội nhập kinh tế toàn cầu mở ra nhiều cơ hội, tuy nhiên cũng lắm rủi ro cho các đơn vị kinh doanh nhất là kinh doanh lữ hành quốc tế Mọi hiện tượng diễn ra trong môi trường kinh tế như: Tốc độ phát triển kinh tế, lạm phát, suy thoái, khủng hoảng kinh tế,… đều ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Đặc biệt tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế
Trang 18Trang 18
1.2.2.2 Rủi ro phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp:
Đây là những rủi ro phát sinh trong môi trường nội bộ của doanh nghiệp Để nghiên cứu rủi ro trong nội bô doanh nghiệp lữ hành, có thể phân loại theo các bộ phận của doanh nghiệp Tuy nhiên nghiên cứu rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách, ta có thể phân loại theo các lĩnh vực:
- Quản trị: Theo các chức năng hoạch định, tổ chức, thúc đẩy, nhân sự, kiểm soát
- Marketing: Nghiên cứu thị trường, sản phẩm dịch vụ, giá cả, phân phối, chiêu thị
1.3.1 Bản chất của quản trị rủi ro
Cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về quản trị rủi ro Có nhiều khái niệm về quản trị rủi ro, tuy nhiên chưa được nhất quán thậm chí có mâu thuẫn, trái ngược nhau
Có tác giả cho rằng quản trị rủi ro chỉ đơn thuần là việc mua bảo hiểm cho các rủi ro, nên quản trị rủi ro là quản trị những rủi ro “thuần túy”, “những rủi ro có thể phân tán”, “những rủi ro có thể mua bảo hiểm”
Các trường phái mới cho rằng quản trị rủi ro là quản trị tất cả mọi loại rủi ro của tổ chức, doanh nghiệp một cách toàn diện
Theo PGS TS Nguyễn Thị Ngọc Trang thì: “Quản trị rủi ro là xác định mức độ rủi ro mà công ty mong muốn, nhận diện được mức độ rủi ro
Trang 19Nguồn: GS TS Đoàn Thị Hồng Vân, Quản trị rủi ro và khủng hoảng, NXB Lao Động – Xã Hội, 2009 [6,62]
Như vậy, quản trị rủi ro không chỉ là tìm cách phân tán các rủi ro hoặc mua bảo hiểm cho các rủi ro, mà quản trị rủi ro bao gồm các nội dung:
- Nhận diện – phân tích – đo lường rủi ro
- Kiểm soát – phòng ngừa rủi ro
- Xử lý rủi ro khi nó đã xuất hiện
- Tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công
Quản trị rủi ro hiện đại, không chỉ xem rủi ro là điều xấu, là mất mát, là tổn thất, mà còn tiếp cận các rủi do để biến các rủi ro thành cơ hội cho doanh nghiệp Trong kinh doanh lữ hành, quản trị rủi ro không chỉ là nhận dạng ra rủi ro rồi hạn chế hoặc né tránh, mà còn phải biến các rủi ro này thành cơ hội cho doanh nghiệp trong bước đường tiến tới thành công
1.3.2 Mục tiêu của quản trị rủi ro
Trang 20Trang 20
Với việc phân tích các khái niệm và bản chất của quản trị rủi ro ở trên, mục tiêu của quản trị rủi ro sẽ gồm:
1.3.2.1 Kiểm soát rủi ro
Rủi ro có nhiều dạng tiềm ẩn và có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu Trong kinh doanh, chúng ta xác định được các rủi ro tiềm ẩn, tuy nhiên rủi ro có thể xảy ra hoặc không xảy ra; doanh nghiệp chịu sự tác động có thể
là rất lớn, bé hoặc không chịu tác động Rủi ro có thể gây ra thiệt hại lớn hoặc
bé
Mục tiêu quan trọng bậc nhất của quản trị rủi ro là kiểm soát được rủi
ro Kiểm soát rủi ro và cho phép rủi ro trong giới hạn kiểm soát đó là mục tiêu của doanh nghiệp
1.3.2.2 Biến rủi ro thành cơ hội, lợi thế cho doanh nghiệp
Theo các quan niệm hiện đại về rủi ro, rủi ro không chỉ là mất mát, là thiệt hại mà còn có khả năng đem lại cơ hội cho doanh nghiệp Một mục tiêu quan trọng nữa của quản trị rủi ro là doanh nghiệp cần nhận thức đúng về rủi
ro và chuyển đổi các rủi ro này thành lợi thế cho doanh nghiệp
Muốn làm được việc này, doanh nghiệp cần có kế hoạch quản trị rủi ro phù hợp với năng lực của mình và cần xuyên suốt trong quá trình hoạt động Cần đưa ra kế hoạch quản trị rủi ro ngay từ khi bắt đầu triển khai kế hoạch, chuẩn bị các kịch bản từ tốt đến xấu để chủ động ứng phó trong mọi trường hợp
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro
1.3.3.1 Qui mô và hình thức tổ chức của doanh nghiệp
Rủi ro có thể xảy ra với bất cứ doanh nghiệp nào, không phân biệt qui
mô là doanh nghiệp lớn hay nhỏ; loại hình doanh nghiệp là gì Tuy nhiên qui
mô và loại hình tổ chức của doanh nghiệp sẽ quyết định sự ảnh hưởng nhiều
Trang 21Trang 21
hay ít của các rủi ro
Các doanh nghiệp có qui mô lớn, sẽ có bộ máy tổ chức chặt chẽ, công nghệ hiện đại, có đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, có kế hoạch quản trị rủi ro tốt, có tiềm lực mạnh về tài chính, Do đó, các doanh nghiệp lớn dễ dàng hơn trong kiểm soát rủi ro, mức độ ảnh hưởng sẽ được hạn chế Ngược lại các doanh nghiệp không có tiềm lực mạnh sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn do các rủi ro gây ra
Hình thức tổ chức của doanh nghiệp cũng quyết định đến mức độ ảnh hưởng của rủi ro Các công ty Cổ phần có đầy đủ Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát,… giúp công ty kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của công ty Ban kiểm soát có thể kiểm soát nội bộ và đưa ra các giải pháp phòng ngừa rủi ro với Hội đồng Quản trị Các ban ngành kiểm tra, giám sát lẫn nhau và giúp Ban Giám đốc đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro thích hợp nhằm hạn chế rủi ro hiệu quả hơn
Ngược lại, các doanh nghiệp tư nhân nhỏ do bộ máy tổ chức gọn nhẹ, thiếu các cơ chế kiểm tra, giám sát, người quản lý cũng là chủ doanh nghiệp
dễ dàng đưa ra các quyết định cá nhân thiếu sự giám sát của các bộ phận khác Khi có rủi ro, mức độ ảnh hưởng sẽ lớn hơn các công ty có bộ máy tổ chức chặt chẽ
1.3.3.2 Nhận thức của nhà quản trị
Nhà quản trị đưa ra các kế hoạch hành động của một doanh nghiệp Nhận thức của nhà quản trị về rủi ro là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc quản trị rủi ro của doanh nghiệp Nhận diện, đánh giá nguy cơ rủi ro, xây dựng các chương trình, kế hoạch phòng ngừa rủi ro là nhiệm vụ của nhà quản trị Nhận thức của nhà quản trị về rủi ro không đầy đủ sẽ mang lại những thiệt hại to lớn khi rủi ro xảy ra
Trang 22Trang 22
1.3.4 Các nội dung của hoạt động quản trị rủi ro
Như đã phân tích ở bản chất của rủi ro theo các quan niệm hiện đại, nội dung của quản trị rủi ro sẽ bao gồm:
1.3.4.1 Nhận diện rủi ro
Để quản trị rủi ro cần phải nhận dạng được các rủi ro Nhận diện là cả một quá trình liên tục phân tích, tổng hợp các thông tin nhằm xác định các yếu tố gây nên rủi ro, các loại rủi ro, môi trường tạo ra rủi ro Xác định không chỉ các rủi ro đã và đang xảy ra mà còn xác định các rủi ro tiềm ẩn có thể xuất hiện đối với doanh nghiệp Trên cơ sở nhận định các rủi ro này đề xuất các biện pháp quản trị hữu hiệu nhất
Có nhiều phương pháp để nhận diện rủi ro, sau đây là một số phương pháp có thể sử dụng trong kinh doanh lữ hành:
- Phương pháp lưu đồ: Đây là phương pháp quan trọng để nhận diện rủi
ro thông qua việc xây dựng lưu đồ trình bày tất cả các hoạt động của doanh nghiệp Mỗi bộ phận của doanh nghiệp hoạt động theo các qui trình cơ bản, dựa vào các công đoạn này để nhận diện các rủi ro có thể xuất hiện theo mỗi công đoạn
- Phương pháp lập bảng câu hỏi: Lập các bảng câu hỏi để nghiên cứu về rủi ro, thường sẽ sắp xếp theo nguồn gốc của rủi ro Thường sẽ xoay quanh các câu hỏi: Các rủi ro nào mà doanh nghiệp đã gặp phải? Tổn thất như thế nào? Số lần xuất hiện? Những rủi ro nào là tiềm ẩn? Các biện pháp phòng ngừa? Kết quả xử lý rủi ro? Từ các thông tin này, doanh nghiệp xác định các rủi ro mà mình có thể sẽ gặp phải và có các biện pháp phòng ngừa cụ thể
- Phương pháp phân tích thông tin thứ cấp: Thông qua các số liệu, thông tin từ nhiều nguồn từ bên ngoài và bên trong doanh nghiệp để xác định các rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải Bên cạnh đó còn xác định được
Trang 23Trang 23
các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra với doanh nghiệp Nguồn thông tin thứ cấp quan trọng cần phân tích là các báo cáo của doanh nghiệp và các hợp đồng
Phân tích các báo cáo của doanh nghiệp: Báo cáo tài chính, báo cáo nhân sự,…từ các báo cáo này giúp doanh nghiệp xác định các rủi
ro về mặt tài chính, nguồn nhân lực, các trách nhiệm pháp lý,…
Phân tích các hợp đồng: Hợp đồng có vai trò đặc biệt trong kinh doanh; hợp đồng với khách hàng đo lường kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; hợp đồng với nhà cung ứng đo lường tiềm lực của doanh nghiệp Việc phân tích các hợp đồng là phương pháp giúp doanh nghiệp xác định được các rủi ro trong kinh doanh và có các giải pháp phòng ngừa không chỉ trong các quan hệ với khách hàng mà còn cả các quan hệ với nhà cung ứng
1.3.4.2 Phân tích – đo lường rủi ro
Phân tích rủi ro: Nhận dạng được rủi ro, bước tiếp theo là phân tích rủi ro
nhằm xác định được các nguyên nhân gây ra rủi ro để đưa ra các biện pháp phòng ngừa Phân tích các rủi ro dựa trên nhiều nguyên nhân có nguồn gốc khác nhau, do đó việc phân tích các rủi ro là một quá trình phức tạp
Đo lường rủi ro: Rủi ro đối với một doanh nghiệp là vô cùng phức tạp,
một doanh nghiệp không thể kiểm soát được toàn bộ các rủi ro Việc đo lường
để biết được rủi ro nào xuất hiện nhiều, rủi ro nào gây ra hậu quả nghiêm trọng,… từ đó có các biện pháp quản trị thích hợp nhất Việc đo lường các rủi
ro dựa trên các rủi ro đã được xác định và qua các biện pháp phân tích Đo lường rủi ro chủ yếu theo hai khía cạnh là tần suất xuất hiện và mức độ nghiêm trọng của rủi ro
Trang 24Trang 24
Tần suất xuất hiện của rủi ro là số lần xảy ra các nguy cơ đối với doanh nghiệp, thường xác định theo một khoảng thời gian nhất định như năm, mùa, quí,…
Mức độ nghiêm trọng của rủi ro đo bằng những tổn thất, mất mát, nguy hiểm,… khi rủi ro xảy ra
ro
Theo ma trận đo lường rủi ro trên (Bảng 1.1):
- Ô I tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao và tần suất xuất hiện cao
- Ô II tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao và tần suất xuất hiện thấp
- Ô III tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp và tần suất xuất hiện cao
- Ô IV tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp và tần suất xuất hiện thấp
Trang 25Trang 25
Sau khi đo lường, quản trị rủi ro sẽ tập trung vào các nhóm theo thứ tự mức độ nguy hiểm rồi đến tần xuất; quản trị rủi ro sẽ tập trung theo thứ tự từ nhóm I rồi đến II, rồi III và IV Ở đây quản trị rủi ro sẽ theo ưu tiên từ những rủi ro gây ra mức độ thiệt hại lớn trước
1.3.4.3 Kiểm soát – phòng ngừa rủi ro
Theo nhiều tác giả về quản trị rủi ro, thì công việc trọng tâm của quản trị rủi ro là kiểm soát rủi ro “Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp,
kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động… để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến với tổ chức”
Kiểm soát rủi ro là một “nghệ thuật”, nó luôn đòi hỏi phải sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo Mỗi một doanh nghiệp đối diện với những rủi ro khác nhau; tùy thuộc vào năng lực của mỗi doanh nghiệp cũng như từng trường hợp, hoàn cảnh cụ thể mà doanh nghiệp có các cách kiểm soát, phòng ngừa khác nhau Các biện pháp kiểm soát rủi ro được chia thành các nhóm sau:
Các biện pháp né tránh rủi ro: Né tránh những hoạt động phát sinh các tổn
thất, mất mát có thể có đối với doanh nghiệp Để né tránh có thể sử dụng một trong hai biện pháp sau:
- Chủ động né tránh từ trước khi rủi ro xảy ra Ví dụ, trước khi ký hợp đồng với một hãng lữ hành gửi khách lớn ở nước ngoài, mặc dù tất cả các điều khoản đều làm hài lòng cả hai bên, tuy nhiên qua các thông tin đáng tin cậy thì đối tác đang có vấn đề về mặt tài chính, có dấu hiện chậm thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán Doanh nghiệp lữ hành nhận khách sẽ quyết định không ký hợp đồng này mà chuyển sang
đi tìm một khách hàng khác uy tín hơn
- Né tránh bằng cách loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro Ví dụ, hợp đồng ký kết với hãng lữ hành gởi khách có điều khoản không được
Trang 26Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất: Ngăn ngừa tổn thất là sử dụng các biện
pháp để giảm mức độ thiệt hại do rủi ro để lại hoặc giảm số lần xuất hiện rủi
ro Ngăn ngừa tổn thất bao gồm:
- Các biện pháp tập trung tác động vào chính mối nguy để ngăn tổn thất
Ví dụ, mua bảo hiểm để ngăn ngừa tổn thất với các tai nạn trong du lịch
- Các biện pháp tập trung tác động vào môi trường rủi ro Ví dụ tăng cường huấn luyện, đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ hướng dẫn viên và tài xế nhằm hạn chế tai nạn trong du lịch
- Các biện pháp tập trung vào sự tương tác giữa mối nguy cơ và môi trường rủi ro Ví dụ, khi tổ chức cho khách tham quan những nơi hoang vắng, xa địa bàn hoạt động của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp sẽ thông qua bên thứ ba để bên thứ ba chủ động hạn chế bớt rủi ro cho doanh nghiệp do tiềm lực tại địa phương của bên thứ ba Như doanh nghiệp tại Tp HCM khi tổ chức khách tham quan khu vực Đông Bắc hoặc Tây Bắc sẽ thông qua một doanh nghiệp địa phương để tận dụng mối quan hệ, hiểu biết của họ tại địa phương nhằm ngăn ngừa rủi ro
Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: Đây là biện pháp giảm thiểu thiệt hại,
mất mát do rủi ro mang lại, như: Cứu vớt các tài sản còn sử dụng được sau tai nạn; chuyển nợ; xây dựng các biện pháp phòng ngừa; dự phòng các biện pháp; phân tán các rủi ro
Các biện pháp chuyển giao rủi ro: Chuyển giao rủi ro có thể thực hiện:
Trang 27Trang 27
Chuyển tài sản hoặc hoạt động có rủi ro đến cho người khác hay tổ chức khác
Ví dụ doanh nghiệp lữ hành chuyển giao các hoạt động có nhiều rủi ro cho một đơn vị khác
Chuyển giao rủi ro thông qua các hợp đồng bảo hiểm
Các biện pháp đa dạng hóa rủi ro: Gần giống với phân tán rủi ro là chia rủi
ro cho nhiều đơn vị; đa dạng hóa rủi ro là đa dạng hóa thị trường, khách hàng, nhà cung ứng,… để hạn chế rủi ro Ví dụ doanh nghiệp lữ hành phải đa dạng hóa thị trường khách nhằm hạn chế rủi ro khi có một thị trường khách gặp các khủng hoảng
1.3.4.4 Xử lý rủi ro khi nó đã xuất hiện:
Rủi ro chỉ có thể phòng ngừa, né tránh chứ không thể triệt tiêu hoàn toàn rủi ro, do đó rủi có thể đến với bất cứ doanh nghiệp nào Đây là biện pháp mà doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ khi rủi ro xảy ra Trong trường hợp này, doanh nghiệp chấp nhận các rủi ro và đưa ra các biện pháp khắc phục Các biện pháp khắc phục chia làm hai nhóm:
- Tự khắc phục rủi ro, và
- Chuyển giao rủi ro
Tự khắc phục rủi ro: Là phương pháp mà doanh nghiệp bị rủi ro tự thanh
toán các tổn thất Nguồn để bù đắp các rủi ro là nguồn tự có của doanh nghiệp hoặc có trách vay mượn để trang trãi Doanh nghiệp có kế hoạch tự khắc phục bằng cách lập quĩ rủi ro Ví dụ doanh nghiệp lữ hành sẽ lập quĩ để trang trải cho các thiệt hại khi khách du lịch tại Việt Nam gặp phải do lũ lụt gây ra
Chuyển giao rủi ro: Doanh nghiệp lữ hành chuyển giao rủi ro qua các hợp
đồng mua bảo hiểm du lịch Khi rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải ứng phó bằng cách kết hợp chặt chẽ với công ty bảo hiểm nhằm được bồi thường cho những tổn thất mà doanh nghiệp đã mua bảo hiểm
1.3.4.5 Tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công
Trang 28Trang 28
Theo quan niệm hiện đại, rủi ro không hoàn toàn mang lại thiệt hại, thua lỗ cho doanh nghiệp, mà rủi ro cũng có thể mang lại những cơ hội, lợi thế cho doanh nghiệp Một nội dung quan trọng của quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành là doanh nghiệp lữ hành cần nắm rõ thực trạng của rủi ro và biết vận dụng chuyển đổi các rủi ro thành lợi thế cho doanh nghiệp Doanh nghiệp lữ hành cần xây dựng các kịch bản để đối phó với từng rủi ro Khi rủi
ro xảy ra doanh nghiệp thực hiện các biện pháp ứng phó, các biện pháp ứng phó tốt sẽ mang lại lợi thế cho doanh nghiệp trên thị trường qua các cảm tình
mà thị trường mang lại cho doanh nghiệp Việc doanh nghiệp chuẩn bị các kịch bản ứng phó tốt khi rủi ro xảy ra giúp doanh nghiệp chuyển đổi được các rủi ro thành lợi thế cho doanh nghiệp trên thị trường
1.3.5 Các phương thức quản trị rủi ro
Quan niệm cũ, quản trị rủi ro là đối phó, khắc phục rủi ro khi rủi ro xảy
ra Quan niệm hiện đại thì quản trị rủi ro là nghiên cứu, nắm bắt rủi ro và đưa
ra các biện pháp phòng ngừa, né tránh Phương thức quản trị rủi ro sẽ bao gồm:
- Quản trị rủi ro chủ động: Là phương thức quản trị thông qua các kế hoạch cụ thể của doanh nghiệp Doanh nghiệp xây dựng các biện pháp
để nhận dạng rủi ro, phân tích, đo lường cụ thể và đưa ra các biện pháp phòng ngừa, né tránh hoặc hạn chế Các biện pháp quản trị ngay từ khi rủi ro còn là tiềm ẩn và có kế hoạch cụ thể khi rủi ro xảy ra Do đó với phương thức quản trị rủi ro chủ động, doanh nghiệp không chỉ đưa ra các biện pháp quản trị xuyên suốt quá trình hoạt động mà còn tìm cách chuyển các rủi ro thành cơ hội, lợi thế cho doanh nghiệp
- Quản trị rủi ro thụ động: Là các biện pháp đối phó với rủi ro và khắc phục hậu quả khi rủi ro đã xảy ra Quản trị rủi ro theo phương thức thụ
Trang 29Trang 29
động sẽ chịu những tổn thất cao hơn do chỉ xây dựng các biện pháp khi rủi ro đã xảy ra Phương thức quản trị thụ động chỉ như là một công đoạn trong phương thức quản trị rủi ro chủ động
1.3.6 Các công cụ được sử dụng trong quản trị rủi ro
Trong xu thế hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng tiếp cận các công nghệ tiên tiến từ các nước khác, các nguồn thông tin dồi dào; sự lưu thông dịch chuyển tài chính cũng như hàng hóa dễ dàng hơn, dồi dào hơn Chính vì thế mà rủi ro cũng dễ dàng xuất hiện và đa dạng hơn
Ngày nay, các doanh nghiệp cần có nhiều phương thức quản trị rủi ro chủ động hơn, do đó các công cụ hiện đại ngày càng được sử dụng trong quản trị rủi ro Tùy theo đặc trưng của mỗi doanh nghiệp mà có những công cụ sử dụng trong quản trị rủi ro khác nhau Tuy nhiên các doanh nghiệp lữ hành sử dụng một số các công cụ liên quan đến các vấn đề về tai nạn trong du lịch, thanh toán, tỷ giá, giá cả hàng hóa Các công cụ quản trị rủi ro các doanh nghiệp lữ hành bao gồm:
- Hợp đồng kỳ hạn (forwards), là loại công cụ quản trị rủi ro ra đời sớm nhất, đơn giản nhất, xuất phát từ nhu cầu quản trị rủi ro những bất
ổn liên quan đến giá cả hàng hóa Đây là loại hợp đồng giữa hai bên
- người mua và người bán - để mua hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thỏa thuận ngày hôm nay Trong kinh doanh
lữ hành giá thỏa thuận hôm nay sẽ có giá trị trong một thời hạn nhất định
- Hợp đồng Quyền chọn mua/bán ngoại tệ (Currency option): Là một hợp đồng giữa hai bên, theo đó người mua Option có quyền, chứ không phải nghĩa vụ, mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ cụ thể với một tỷ giá thực hiện đã được ấn định tại thời điểm giao dịch trong một thời
Trang 30Trang 30
hạn cụ thể trong tương lai sau khi đã trả một khoản phí (gọi là premium) cho người bán Option ngay từ lúc ký hợp đồng
Có 2 dạng quyền chọn ngoại tệ căn bản:
Quyền chọn mua: Cho phép người mua Option có quyền quyết định thực
hiện mua ngoại tệ hay không mua ngoại tệ theo tỷ giá đã ấn định trước trong hợp đồng
Quyền chọn bán: Cho phép người mua Option có quyền quyết định thực
hiện bán ngoại tệ hay không bán ngoại tệ theo tỷ giá đã ấn định trước trong hợp đồng.thực hiện
Trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách, công ty lữ hành sử dụng quyền chọn bán ngoại tệ để tránh rủi ro sụt giảm tỷ giá ngay thời điểm doanh nghiệp cần bán ngoại tệ để lấy tiền Đồng thanh toán trong nước
- Hợp đồng hoán đổi (swaps): Là hợp đồng mà hai bên đồng ý hoán đổi dòng tiền Đây được xem là công cụ để phòng ngừa rủi ro về tỷ giá và lãi suất, nó là sự kết hợp giữa các hợp đồng kỳ hạn Trong kinh doanh, các doanh nghiệp lữ hành quốc tế vừa là công ty lữ hành gởi khách vừa
là công ty lữ hành nhận khách Do đó công ty lữ hành tại Việt Nam có thể là người bán và cũng là người mua Hợp đồng hoán đổi sẽ giúp doanh nghiệp lữ hành nhận khách hạn chế rủi ro về giao dịch, rủi ro về
tỷ giá – nhất là tỷ giá ngoại hối tại Việt Nam không được ổn định
- Bảo lãnh ngân hàng: Trong kinh doanh có nhiều loại bảo lãnh ngân hàng như bảo lãnh chất lượng sản phẩm, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán Kinh doanh lữ hành chủ yếu là bảo lãnh thanh toán Bảo lãnh thanh toán do ngân hàng bên mua phát hành nhằm đảm bảo việc thanh toán của bên mua cho bên bán thông qua ngân hàng của bên bán
Trang 31đổ, rơi Giá trị của bảo hiểm tùy thuộc vào gói bảo hiểm mà công ty lữ hành mua cho khách du lịch
1.4 Một số bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách tại Việt Nam:
Bài học kinh nghiệm thứ 1: Công ty du lịch Quảng Đạt với tên giao dịch là Allez Vietnam, có văn phòng chính tại thành phố Hồ Chí Minh và các văn phòng Đại diện tại Đà Nẵng, Hà Nội, website: www.allezvetnam.com, email: allezvietnam@vnn.vn Allez Vietnam tập trung khai thác thị trường khách Pháp, hầu hết khách hàng của Allez Vietnam có quốc tịch Pháp hoặc các nước nói tiếng Pháp Mỗi năm Allez Vietnam đón vài ngàn khách du lịch tham quan Việt Nam với các chương trình du lịch trọn gói từ 10 ngày trở lên Năm 2009, với sự suy giảm kinh tế toàn cầu, số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam sụt giảm rất lớn, đặc biệt là thị trường châu Âu, trong đó có Pháp Allez Vietnam chịu sự ảnh hưởng nặng nề của việc sụt giảm này Allez Vietnam không có sự chuẩn bị các kế hoạch cho khủng hoảng này nên không
có biện pháp đối phó, do đó chịu tổn thất lớn về tài chính Cuối năm 2009,
Trang 32Trong khi khách du lịch Nga mua tour của Lanta Tour còn bị kẹt ở các nước như Thái Lan, Ấn Độ, Ý, Mexico,…; các văn phòng Lanta Tour ở các nước còn bị đập phá thì Lanta Tour Việt Nam vẫn bình an và tất cả khách du lịch Nga được giải quyết về nước đúng thời hạn họ đi du lịch
Qua việc này cho thấy sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan hữu quan Việt Nam và các nhà cung ứng, tổ chức du lịch Việc này không chỉ làm cho các nhà cung ứng du lịch tại Việt Nam hạn chế thiệt hại mà còn mang lại hình
Trang 33Trang 33
ảnh đẹp cho Việt Nam trong lòng du khách Nga và quốc tế Việt Nam đã chuyển đổi được rủi ro thành cơ hội, lợi thế cho mình trước mắt du khách quốc tế
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, dựa trên các tư liệu khoa học và qua một số thực tế, tác giả nêu ra một số khái niệm về lữ hành, rủi ro trong kinh doanh lữ hành và quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành Tác giả nêu ra các rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như cách đánh giá, phân loại, phòng ngừa rủi ro và các công cụ quản trị rủi ro trong kinh doanh lữ hành lữ hành quốc tế nhận khách
Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số bài học thực tế về quản trị rủi
ro của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách đã gặp phải Dựa trên các cơ sở lý luận này, chúng ta tiếp tục nghiên cứu thực tế công tác quản trị rủi ro tại một doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế lớn là công ty
Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist và đối chiếu với một số bài học thực tế
mà các doanh nghiệp khác đã làm
Trang 34Trang 34
Chương 2
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH
LỮ HÀNH QUỐC TẾ NHẬN KHÁCH TẠI
CTY CP DU LỊCH TÂN ĐỊNH FIDITOURISRT
2.1 Khái quát về Fiditour và hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách của Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist
2.1.1 Khái quát về Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist
số 4583/QĐ.UB.CNV ngày 14/07/2000 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Thương mại và Dịch vụ Du lịch Tân Định là thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công Ty Du lịch Sài Gòn
Khi mới thành lập, Công ty Thương mại và Dịch vụ Du lịch Tân Định hoạt động trong các lĩnh vực: Kinh doanh thương mại, kinh doanh dịch vụ du lịch và vận chuyển Sau hơn 10 năm tồn tại và phát triển, Công ty Thương mại và Dịch vụ Du lịch Tân Định đã bổ sung thêm nhiều chức năng nhằm phù hợp với qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp du lịch nội địa và quốc tế
Trang 35Trang 35
Tháng 1 năm 2005, Công ty Thương mại và Dịch vụ Du lịch Tân Định Fiditourist được cổ phần hóa và chuyển thành Công ty Cổ phần Du lịch Tân Định Fiditourist (Fiditour), chuyên kinh doanh dịch vụ lữ hành, lưu trú, văn phòng cho thuê và các lĩnh vực khác Liên tục nhiều năm liền kể từ năm 2001 cho đến nay, Fiditour là một trong những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành hàng đầu với tổng doanh thu hằng năm đạt hơn 300 tỷ đồng và phục vụ khoảng 100 ngàn khách quốc tế và nội địa mỗi năm Fiditour cũng là thành viên chính thức của các Hiệp hội du lịch quốc tế (PATA, ASTA, JATA), Hiệp hội Du lịch Việt Nam (VTA) và Hiệp hội Du lịch Tp HCM (HTA) Công ty hiện có nhiều đầu mối kinh doanh du lịch ở trong nước và là đối tác của hơn
60 hãng lữ hành nước ngoài ở nhiều nước khác nhau
Qua 19 năm hoạt động, Fiditour đã nhận được nhiều giải thưởng của Chính phủ, Tổng cục Du lịch Việt Nam và nhiều tổ chức uy tín khác trao tặng:
- Huân chương Lao động hạng Hai cấp năm 2007
- Huân chương Lao động hạng Ba cấp năm 2002
- Bằng khen của Ủy ban nhân dân Tp Hồ Chí Minh năm 2006
- Cờ thi đưa của Chính phủ năm 1999, 2000, 2001
- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cấp năm 2001
- Cờ thi đua của Tổng cục Du lịch cấp năm 1997, 1998, 1999, 2000,
2001
- Cờ thi đua của Ủy ban nhân dân Tp Hồ Chí Minh năm 2010
- Danh hiệu “Một trong mười hãng lữ hành hàng đầu Việt Nam (TOPTEN)” liên tiếp 10 năm liền (từ 2000 đến 2009) do Tổng cục Du lịch và Hiệp hội Du lịch Việt Nam bình chọn
- Danh hiệu Hạng nhì Công ty Lữ hành nội địa hàng đầu Việt Nam năm
2009 do Hiệp hội Du lịch Việt Nam bình chọn
Trang 36Trang 36
- Danh hiệu “Dịch vụ Lữ hành được hài lòng nhất” năm 2003, 2004,
2005, 2007, 2008 và 2009 do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức
- Danh hiệu “Thương hiệu Việt yêu thích nhất” năm 2004, 2005, 2006,
2007, 2008, 2009 do báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chức
- Danh hiệu “Thương hiệu Vàng” năm 2007 với 3 năm liền đạt danh hiệu
“Thương hiệu Việt yêu thích nhất” do báo Sài Gòn Giải Phòng tổ chức
- Giải thưởng “Friend of Thailand” do Bộ Du lịch và Thể thao Thái Lan tặng năm 2008
- Giải thưởng “Best supporting Vietnam Outbound Travel Agent” do Genting – Malaysia trao tặng năm 2009
- Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận năm 2008
- Danh hiệu Doanh nghiệp Du lịch tiêu biểu 2008 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Hiệp hội Du lịch Bình Thuận bình chọn
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý Công ty
Trụ sở chính – Văn phòng Công ty:
Địa chỉ: 127 – 129 – 129A Nguyễn Huệ, quận 1, Tp HCM
Điện thoại: (08) 39 14 14 14 Fax: (08) 39 14 13 63
Trang 37Địa chỉ: 34 Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại: (04) 3943 4933 Fax: (04) 3943 4932
Văn phòng Giao dịch Đà Nẵng:
Địa chỉ: 125A Nguyễn Chí Thanh, quận Hải Châu, Đà Nẵng
Điện thoại: (0511) 6253 033 Fax: (0511) 6253 034
Trang 39Trang 39
- Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty theo Luật doanh nghiệp và Điều lệ Công ty Đại hội đồng cổ đông có những trách nhiệm chính: Thảo luận và phê chuẩn những chính sách dài hạn và ngắn hạn về phát triển của Công ty; quyết định về cơ cấu vốn, bầu ra bộ máy quản
lý và điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
- Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan quản trị Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông mà không được ủy quyền Hội đồng quản trị
có nhiệm vụ quyết định chiến lược phát triển Công ty, xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý Công ty, đưa
ra các biện pháp, các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu do Đại hội đồng
cổ đông đề ra
- Ban Kiểm soát, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan có nhiệm vụ giúp Đại hội đồng cổ đông giám sát, đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty một cách khách quan nhằm đảm bảo lợi ích cho các cổ đông
- Tổng Giám đốc, do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, là người điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, thực hiện các biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của Công ty, chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
- Các khối chức năng: Công ty có 3 khối chức năng:
+ Khối kinh doanh lữ hành:
o Phòng thị trường Quốc tế: Kinh doanh tour inbound (lữ hành quốc tế nhận khách)
Trang 40Trang 40
o Phòng Du lịch trong nước: Kinh doanh du lịch nội địa
o Phòng du lịch nước ngoài: Kinh doanh tour outbound (lữ hành quốc tế gởi khách)
o Phòng Điều hành: Thực hiện đặt dịch vụ cho các phòng kinh doanh lữ hành
o Phòng Hướng dẫn: Thực hiện hướng dẫn du lịch cho các phòng kinh doanh lữ hành
o Trung tâm Vận chuyển: Cung cấp dịch vụ vận chuyển cho các phòng kinh doanh lữ hành và khách hàng bên ngoài
o Trung tâm tổ chức sự kiện: Cung cấp dịch vụ tổ chức những cuộc hội thảo, triễn lãm, sự kiện trong và ngoài nước
o Phòng Hệ thống phân phối: Phụ trách phát triển mạng lưới chi nhánh và đại lý
o Phòng Kế toán Lữ hành: Phụ trách vấn đề tài chính kế toán của khối kinh doanh lữ hành
o Đại lý vé máy bay: Kinh doanh vé máy bay (phục vụ cho các phòng kinh doanh lữ hành và khách bên ngoài Công ty)
và giữ chỗ khách sạn, xe, hướng dẫn viên toàn cầu cũng như các dịch vụ liên quan khác
o Phòng Giao dịch: Tìm kiếm, thương thảo giá cả, đàm phán,
ký kết hợp đồng với các đối tác Cùng các đơn vị giải quyết các vấn đề liên quan đến đối tác