và để cơ sở lưu trú du lịch thực sự phát triển ổn định, bền vững trong giai đoạn phát triển mạnh cả về lượng và chất, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng hợp tác và tích cực, chủ động
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ NGỌC TUẤN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH Ở
VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Du lịch
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH HỌC
(CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ANH TUẤN
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục……… i
Danh mục chữ viết tắt……… vii
Danh mục các bảng……… viii
Danh mục các biểu đồ……… ix
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC LƯU TRÚ DU LỊCH TRƯỚC XU THẾ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 10
1.1 Khái niệm cơ bản và phân loại cơ sở lưu trú du lịch 10
1.1.1 Lịch sử về nhu cầu về lưu trú 10
1.1.1.1 Giai đoạn chế độ nô lệ 10
1.1.1.2 Giai đoạn chế độ phong kiến 11
1.1.1.3 Giai đoạn cận đại 11
1.1.1.4 Giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới và giai đoạn hiện nay 12
1.1.2 Khái niệm cơ bản về lưu trú, cơ sở lưu trú du lịch và hội nhập 12 1.1.2.1 Khái niệm lưu trú 12
1.1.2.2 Khái niệm và phân loại cơ sở lưu trú du lịch 13
1.1.3 Khái niệm về hội nhập, hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa 17
Trang 31.1.3.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế 17
1.1.3.2 Toàn cầu hóa 18
1.2 Quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch 19
1.2.1 Khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước 19
1.2.2 Quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch 22
1.2.2.1 Quy trình quản lý nhà nước về lưu trú du lịch 22
1.2.2.2 Chủ thể và khách thể trong quản lý nhà nước về lưu trú du lịch 25
1.2.2.3 Hình thức quản lý hành chính trong lĩnh vực lưu trú du lịch 25 1.2.2.4 Phương pháp quản lý hành chính nhà nước về lưu trú du lịch 26
1.2.2.5 Nội dung quản lý nhà nước về lưu trú du lịch ở Việt Nam 26
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch của một số nước trong khu vực 28
1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 28
1.3.1.1 Văn phòng phát triển du lịch (Office of Tourism Development)……… 29
1.3.1.2 Cơ quan du lịch Thái Lan (Tourism Authority of Thailand) 30 1.3.1.3 Quản lý cơ sở lưu trú du lịch ở Thái Lan 31
1.3.2 Kinh nghiệm của Ma-lai-xi-a 33
1.3.2.1 Cơ cấu tổ chức của Bộ Du lịch Malayxia 33
1.3.2.2 Nhiệm vụ của Bộ Du lịch Malayxia 34
1.3.2.3 Hiến chương khách hàng của Du lịch Malayxia 34
1.3.2.4 Chức năng của Vụ cấp phép - Bộ Du lịch 35
1.3.2.5 Đăng ký kinh doanh lưu trú du lịch 36
1.3.2.6 Đăng ký tên cơ sở lưu trú du lịch 37
Trang 41.3.3 Một số bài học kinh nghiệm đối với quản lý nhà nước về lưu
trú du lịch ở Việt Nam 38
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 40
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 42
2.1 Khái quát thực trạng hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam 42 2.1.1 Khái quát về tình hình phát triển du lịch của Việt Nam 42
2.1.2 Thực trạng hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam 49
2.1.2.1 Đánh giá theo loại hình cơ sở lưu trú du lịch 51
2.1.2.2 Đánh giá theo hình thức sở hữu 53
2.1.2.3 Đánh giá theo vốn đầu tư ban đầu 55
2.1.2.4 Đánh giá theo vị trí địa lý 56
2.1.2.5 Đánh giá theo quy mô 58
2.1.2.6 Số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú du lịch 59
2.1.2.7 Đánh giá thực trạng đội ngũ lao động thuộc hệ thống cơ sở lưu trú du lịch 61
2.1.2.8 Thực trạng công tác đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và an ninh, an toàn, phòng chống tệ nạn xã hội 65
2.1.2.9 Thực trạng hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch 66
2.2 Thực trạng hội nhập khu vực và quốc tế của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam 70
2.2.1 Hiệp định chung về Thương mại và dịch vụ (GATS) và các cam kết của Việt Nam trong Tổ chức Thương mại Thế giới 70
2.2.2 Thực trạng hội nhập của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch 73
Trang 52.3 Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở lưu trú du
lịch 78 2.3.1 Quản lý nhà nước về lưu trú du lịch giai đoạn trước tháng 9
năm 2007 78 2.3.2 Quản lý nhà nước về lưu trú du lịch giai đoạn sau tháng 9
năm 2007 81 2.3.3 Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch
trong bối cảnh hội nhập 83 2.3.4 Cơ hội và thách thức của của quản lý nhà nước về cơ sở lưu
trú du lịch trong xu thế hội nhập 90
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 94
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƠ SỞ LƯU
TRÚ DU LỊCH TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 95 3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển cơ sở lưu trú du lịch ở Việt
Nam 95 3.1.1 Xu hướng phát triển các cơ sở lưu trú du lịch khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương 95 3.1.1.1 Phát triển các loại khách sạn thương mại cao cấp 95 3.1.1.2 Phát triển tổ hợp khách sạn kết hợp với trung tâm thương
mại 96 3.1.1.3 Phát triển tổ hợp khách sạn kết hợp nghỉ dưỡng và tổ chức
hội nghị, hội thảo quốc tế 96 3.1.1.4 Phát triển các khu du lịch ở vùng biển với các loại hình cơ
sở lưu trú đa dạng 96 3.1.1.5 Phát triển loại hình du lịch sinh thái với các cơ sở lưu trú đa
Trang 6dạng và gần gũi với thiên nhiên 97
3.1.1.6 Các thương hiệu khách sạn nổi tiếng sẽ trở thành những nhà quản lý thuê, nhà đầu tư chuyên nghiệp 97
3.1.2 Quan điểm và mục tiêu cải cách công tác quản lý nhà nước trong xu thế hội nhập 98
3.1.2.1 Giải pháp đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 99
3.1.2.2 Mục tiêu cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước…… 100
3.1.3 Mục tiêu và phương hướng phát triển Du lịch Việt Nam trong xu thế hội nhập 102
3.1.3.1 Mục tiêu tổng quát 102
3.1.3.2 Một số mục tiêu cụ thể của Ngành Du lịch Việt Nam đến 2010 103
3.1.4 Xu hướng phát triển các loại cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam 103 3.1.4.1 Cơ sở lưu trú du lịch là một tổ hợp đáp ứng đầy đủ nhất nhu cầu đa dạng của con người 104
3.1.4.2 Các cơ sở lưu trú du lịch hạng cao sao, cao cấp sẽ phát triển mạnh 104
3.1.4.3 Xu hướng nâng cao tỷ lệ sử dụng sản phẩm “sinh thái”, phát triển khách sạn “xanh” phục vụ khách 105
3.1.4.4 Xu hướng thuê tập đoàn quản lý, thuê thương hiệu và phát triển khách sạn theo chuỗi 106
3.2 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam 106
3.2.1 Một số giải pháp 106
3.2.2 Một số kiến nghị 112
3.2.2.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 112
Trang 73.2.2.2 Kiến nghị đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 114
3.2.2.3 Kiến nghị đối với một số Bộ, Ngành và Ủy ban Nhân dân các cấp 115
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 116
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC
Trang 8TCVN: Tiêu chuẩn Quốc gia Việt Nam
SEA Games: Đại hội Thể thao Đông Nam Á
ASEM: Hội nghị Hợp tác Á Âu
APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình
Dương
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Khách sạn được xếp hạng tính đến tháng 3/2008 45 Bảng 2.2: Cơ sở lưu trú du lịch phân theo loại hình 52 Bảng 2.3: Phân bố cơ sở lưu trú du lịch theo các khu vực 56 Bảng 2.4: Phân bố cơ sở lưu trú du lịch tại một số trung tâm du
lịch lớn 57 Bảng 2.5: Tỷ lệ cơ sở lưu trú du lịch tính theo quy mô 59 Bảng 2.6: Công suất buồng bình quân của các cơ sở lưu trú du lịch
theo hạng sao 67 Bảng 2.7: Những cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ du
lịch 72
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1990
- 2007 44
Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng khách du lịch nội địa từ năm 1990 – 2007 46
Biểu đồ 2.3: Số lượng và tốc độ tăng trưởng của CSLTDL ở Việt
Nam giai đoạn từ năm 1990 – 2007 50
Biểu đồ 2.3: Phân bố cơ cấu cơ sở lưu trú du lịch theo hình thức sở
hữu 54
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cải cách, phát huy nguồn lực của đất nước và thu hút, sử dụng có hiệu quả các thế mạnh bên ngoài Từ thời điểm này, nền kinh tế Việt Nam chính thức hội nhập vào sân chơi lớn nhất của thế giới, “sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn bị chi phối, ràng buộc lẫn nhau thông qua các thể chế, sự kiện kinh tế quốc tế Cũng như các ngành kinh
tế khác, du lịch không tránh khỏi sự tác động, ràng buộc tất yếu trên” [20] Điều này đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về lưu trú du lịch cơ hội, vận hội và trách nhiệm mới
Theo ông Iswaran, Quốc vụ khanh đặc trách công nghiệp và thương mại Singapore, trong bài phát biểu với báo chí1 tại Diễn đàn kinh tế Việt Nam, tháng 5/2007, thì thách thức mới cho các nền kinh tế thế giới và châu Á hiện nay, trong đó có Việt Nam, là cuộc cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt Châu Âu và Mỹ, hiện đóng góp đến 40% GDP của thế giới, đang nỗ lực điều chỉnh chính sách kinh tế để cạnh tranh với châu Á nhằm đảm bảo việc làm và thu nhập cho người dân của đất nước họ Trung Đông, với tổng GDP hàng năm khoảng 1.000 tỉ USD [42] là một vùng đất đầy tiềm năng và cơ hội, cũng đang tham gia tích cực hơn vào đấu trường kinh tế toàn cầu
Ở châu Á, những quan tâm truyền thống về an ninh, chạy đua vũ trang không dịu đi nhưng cũng không căng thẳng hơn, song sự ổn định là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia trong khu vực Thêm vào đó, các mối nguy cơ mới như khủng bố, tranh chấp, dịch bệnh đang trở thành các yếu tố gây bất ổn
1 “Hội nhập sâu hơn” - Thời báo kinh tế Sài Gòn - Số Tuần thứ 2 - Tháng 5/2007
Trang 12toàn khu vực Để vượt qua những thách thức đó, các nước đang phát triển châu Á và Việt Nam chúng ta không có con đường nào khác hơn là nỗ lực, hợp tác để cùng làm cho chiếc bánh trên thị trường chung lớn dần lên, đóng góp vào sự ổn định và phát triển của khu vực ASEAN và châu Á
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, du lịch là ngành dịch vụ lớn nhất thế giới, chiếm tới 40% giá trị thương mại toàn cầu Du lịch còn là ngành
sử dụng khoảng 1/10 lao động trên toàn thế giới, đặc biệt là ngành kinh tế có khả năng tạo việc làm cho vùng sâu, vùng xa và vùng nông thôn Trong bức thông điệp nhân Ngày Du lịch thế giới, ngày 27 tháng 9 năm 2006, Tổng Thư
ký Tổ chức Du lịch Thế giới đã khẳng định: “Du lịch - Công cụ quan trọng
Thực vậy, ngành du lịch trên thế giới
là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, tốc độ tăng trưởng nguồn khách đạt khoảng 3,8%/ năm và doanh thu ngoại tệ tăng khoảng 14,6%/năm
Cũng theo dự báo của UNWTO [50], năm 2010, lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới ước lên tới 1.046 triệu lượt khách, thu nhập từ du lịch dự kiến đạt 900 tỷ USD và ngành du lịch sẽ tạo thêm khoảng 150 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Đối với Việt Nam, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, du lịch đã được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Văn kiện Đại hội X của Đảng cũng xác định, du lịch là ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, góp phần tăng trưởng GDP quốc gia và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội
Từ năm 1990 đến nay, du lịch đã phát triển vượt bậc, liên tục tăng trưởng ở mức hai con số, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai
2 Chủ đề Ngày du lịch thế giới năm 2006 – Nguồn: http://vietnamtourism.gov.vn/index.php?option=com
Trang 13đoạn 2001 - 2010 [25] đặt mục tiêu tăng trưởng đạt 11-11,5%/năm Năm 2010 khách quốc tế vào Việt Nam du lịch ước từ 5,5 đến 6 triệu lượt, khách nội địa đạt từ 25 đến 26 triệu lượt, số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú du lịch phát triển đáp ứng nhu cầu lưu trú đa dạng của các đối tượng khách Thu nhập du lịch, năm 2010, ước đạt tới 4 đến 4,5 tỷ USD, trong đó doanh thu thuộc lĩnh vực kinh doanh lưu trú luôn chiếm 70 - 75%, đóng góp của ngành du lịch sẽ chiếm 6,5% GDP của cả nước
Cùng với tốc độ phát triển chung của Ngành Du lịch, các loại cơ sở lưu trú du lịch đã và đang phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách Hệ thống CSLTDL và các dịch vụ bổ sung trong cơ sở lưu trú du lịch đang ngày càng góp phần tích cực tạo nên sức hấp dẫn chung của sản phẩm du lịch Việt Nam Tuy nhiên, trước thực trạng phát triển quá nhanh và đa dạng, cầu lưu trú du lịch hiện luôn vượt quá cung như hiện nay, giá buồng lưu trú du lịch ở Việt Nam cao so với khu vực và thậm chí cả một số nơi trên thế giới, nhiều nhà đầu tư không thể hoặc khó có thể có được địa điểm để đầu tư xây dựng cơ sở lưu trú du lịch mới xứng tầm, cạnh tranh không lành mạnh vẫn xảy ra, và để cơ sở lưu trú du lịch thực sự phát triển ổn định, bền vững trong giai đoạn phát triển mạnh cả về lượng và chất, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng hợp tác và tích cực, chủ động hội nhập với khu vực và thế giới, đáp ứng các yêu cầu về phát triển bên trong, công tác quản lý nhà nước cần phải chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa Tuy nhiên, vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay đối với các nhà quản lý và những nhà khoa học là cải thiện như thế nào, cách thức ra sao vẫn còn là vấn đề thời
sự cần phải được nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo
Xuất phát từ thực tiễn đó, học viên lựa chọn đề tài cho Luận văn Thạc sỹ
du lịch học là "Quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam trong xu
thế hội nhập quốc tế" để tiến hành nghiên cứu
Trang 142 Lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước
Quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch trong xu hướng hội nhập đã và đang là vấn đề cấp bách của Ngành Du lịch Việt Nam trước đây và trong xu hướng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế hiện nay của Việt Nam hiện nay Vấn đề đã được một số tổ chức, cá nhân, cơ quan nghiên cứu, các báo, tạp chí trong và ngoài nước nhiều lần đề cập đến ở các khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu này mang tính khái quát cho Ngành Du lịch Việt Nam, chưa đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể, cơ bản Một trong những khía cạnh cần nghiên cứu là cơ sở lưu trú du lịch
Đề tài nghiên cứu cấp ngành năm 2006 của Tổng cục Du lịch: “Thực
trạng và giải pháp chủ yếu phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn” đã đề cập đến một số nội dung chủ yếu như: (i) xu hướng phát
triển của du lịch trên thế giới; (ii) quan điểm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn trong xu hướng hội nhập; và (iii) thực trạng Ngành Du lịch Việt Nam, các định hướng, giải pháp hiện nay của Ngành trong việc thực hiện các mục tiêu của Đảng và Nhà nước giao để từng bước đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn
Báo cáo “Tăng cường năng lực quản lý và xúc tiến các hoạt động
thương mại dịch vụ của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” thuộc Dự án
VIE/02/009 do nhóm tác giả trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội và chuyên gia tư vấn Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản thực hiện năm 2006 Bản báo cáo trên là công trình nghiên cứu công phu, hữu ích đối với Ngành Du lịch Việt Nam, qua đó một số nội dung đã được nhóm nghiên cứu làm rõ như: (i) thực trạng, xu hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam trong xu hướng hội nhập, (ii) kết quả điều tra, phân tích, đánh giá sản phẩm du lịch Việt Nam, (iii) phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách
Trang 15thức đối với Ngành Du lịch Việt Nam và (iv) một số khuyến nghị, giải pháp nhằm phát triển bền vững Ngành du lịch
Ngân hàng thế giới thực hiện “Bản báo cáo tóm tắt Du lịch Việt Nam”
năm 2002, đây là công trình nghiên cứu, phân tích sâu sắc thực trạng Ngành
Du lịch Việt Nam, phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức), một số khuyến nghị và giải pháp nhằm phát triển du lịch trong xu hướng hội nhập Tuy nhiên, bên cạnh phương pháp luận rất hữu ích được báo cáo nêu lên, các số liệu và một số kiến nghị đưa ra trong Bản báo cáo cho đến nay đã không còn phù hợp, lạc hậu với thực tế của nền kinh tế Việt Nam nói chung và Ngành du lịch nói riêng
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, Kỷ yếu hội thảo: “WTO -
những giải pháp phát triển du lịch Việt Nam” do Tạp chí Du lịch Việt Nam
phối hợp với Ban Quốc tế - Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đây là tập hợp các công trình, tham luận của các nhà nghiên cứu, cán bộ đang công tác trong và ngoài Ngành Du lịch Việt Nam bàn về thực trạng, giải pháp đột phá để đẩy mạnh tốc độ phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn hậu WTO của Việt Nam, công tác đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong Ngành Du lịch
Ngoài ra, còn một số luận văn, bài viết liên quan đến quản lý nhà nước
về du lịch Tuy nhiên, vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực lưu trú du lịch thì chưa được quan tâm một cách đầy đủ Như vậy, đề tài này cần thiết được triển khai để giải quyết các vấn đề liên quan cả về mặt lý luận và thực tiễn
3 Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn
Mục tiêu của Luận văn tập trung vào những nội dung sau:
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về công tác quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Xác định xu hướng phát triển của cơ sở lưu trú du lịch trong khu
Trang 16vực và trên thế giới, kinh nghiệm quản lý nhà nước chuyên ngành lưu trú du lịch của một số nước trong khu vực
- Phân tích thực trạng cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam, công tác quản lý nhà nước của Ngành Du lịch đối với lĩnh vực lưu trú du lịch trong bối cảnh hội nhập
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực lưu trú du lịch ở Việt Nam
4 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
a.Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du
lịch trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
b Giới hạn nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian và nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng hệ thống cơ sở lưu trú du lịch và công tác quản lý nhà nước
về lĩnh vực lưu trú du lịch trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
- Phạm vi về thời gian: Do tính chất phát triển mạnh mẽ, nhạy cảm của ngành lưu trú du lịch và sự biến động không ngừng của kinh tế thế giới, kinh
tế khu vực và ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu, tham khảo và đánh giá các số liệu, tài liệu đã công bố chủ yếu từ năm 2002 đến năm 2007, kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho 5 năm sau
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của luận văn dựa trên quan điểm của Đảng
và Nhà nước Việt Nam về công tác quản lý nhà nước, quan điểm và chính sách cải cách hành chính, đổi mới kinh tế, phát triển du lịch, chiến lược phát triển hệ thống cơ sở lưu trú du lịch của Ngành Du lịch trong quá trình mở cửa
Trang 17và hội nhập kinh tế quốc tế Luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể sau:
- Nghiên cứu tài liệu
Mục đích của phương pháp này nhằm thu thập tài liệu liên quan đến lý luận về khoa học quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về lưu trú du lịch, ngành khách sạn và lý thuyết hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, việc nghiên cứu tài liệu góp phần thu thập kết quả nghiên cứu đã công bố, liệt kê chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến vấn đề của Luận văn, làm nổi bật nội dung nghiên cứu, tạo cơ sở tin cậy về lý luận và thực tiễn
để áp dụng giải quyết các nội dung của Luận văn
- Phương pháp thống kê
Kết quả thu thập thông tin từ các tài liệu, số liệu thống kê đã công bố giúp Luận văn chứng minh hoặc bác bỏ các giả thuyết đặt ra trong đề tài hoặc thực tiễn, xử lý thông tin giúp nghiên cứu hoạch định một số phương hướng, kiến nghị và giải pháp giải quyết vấn đề về nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực lưu trú du lịch trước xu hướng hội nhập
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Phỏng vấn là đưa ra câu hỏi đối với người đối thoại để thu thập thông tin Trong Luận văn này, do tính đặc thù của chuyên môn thuộc lĩnh vực quản
lý nhà nước chuyên ngành của một số nước trong khu vực cũng như những vấn đề cấp bách hiện nay của Ngành Du lịch Việt Nam và hệ thống cơ sở lưu
Trang 18trú du lịch chưa được công bố, thông qua phỏng vấn Bà Đỗ Thị Hồng Xoan,
Vụ trưởng Vụ Khách sạn - Tổng cục Du lịch, tiếp xúc trực tiếp với cán bộ Tổng cục Du lịch Thái Lan, Bộ Du lịch Malaysia, Luận văn đã được các chuyên gia trên cung cấp thông tin chuyên môn, gợi ý phương án giải quyết vấn đề rất thực tiễn Đây là một trong những phương pháp hữu ích giúp Luận văn cập nhật thực tế hiện nay của Ngành Du lịch, lưu trú du lịch ở khu vực và Việt Nam
6 Kết quả nghiên cứu
Hệ thống lý luận cơ bản về cơ sở lưu trú du lịch, thực trạng hội nhập, quản lý nhà nước về lưu trú du lịch ở Việt Nam trong xu hướng hội nhập và một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước góp phần đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triển hệ thống cơ sở lưu trú du lịch cả về lượng và chất
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực lưu trú du lịch trước xu thế hội nhập quốc tế
Chương này tập trung nêu các vấn đề về khoa học quản lý, quản lý nhà nước; lý luận về lưu trú du lịch và hội nhập kinh tế quốc tế Kinh nghiệm về quản lý cơ sở lưu trú du lịch của một số quốc gia trong khu vực và bài học thực tiễn đối với Việt Nam
Chương 2: Thực trạng cơ sở lưu trú du lịch và công tác quản lý nhà nước về lưu trú du lịch ở Việt Nam
Chương 2 chủ yếu phân tích thực trạng phát triển của cơ sở lưu trú du lịch và công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực lưu trú du lịch ở Việt Nam
Trang 19trong xu hướng hội nhập; phân tích cơ hội, thách thức và những hạn chế của quản lý nhà nước cần phải khắc phục để phát triển hơn nữa số lượng, chất lượng cơ sở lưu trú du lịch đáp ứng các mục tiêu của Đảng và Nhà nước về du lịch trong giai đoạn mới của đất nước
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch trong xu hướng hội nhập
Chương này có các nội dung:
- Mục tiêu và định hướng phát triển cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam; quan điểm và mục tiêu cải cách công tác quản lý nhà nước trong xu thế hội nhập;
- Phương hướng phát triển du lịch và cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam; một số giải pháp và kiến nghị với Chính phủ, Ngành Du lịch và các cơ quan
có thẩm quyền để tăng cường công tác quản lý nhà nước trong xu hướng hội nhập
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC LƯU TRÚ DU LỊCH TRƯỚC XU THẾ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm cơ bản và phân loại cơ sở lưu trú du lịch
1.1.1 Lịch sử về nhu cầu về lưu trú
Cho đến nay, đã có nhiều tác giả cũng như các công trình nghiên cứu khác nhau viết về lịch sử, xuất xứ và nhu cầu về lưu trú nói chung và lưu trú
du lịch nói riêng Hầu hết các công trình này đều khẳng định ngành kinh doanh lưu trú ra đời và chính thức được thừa nhận khi xã hội xuất hiện nền sản xuất hàng hóa, khi đó sự di chuyển của con người diễn ra mạnh mẽ Tuy nhiên, theo Trịnh Xuân Dũng (1999) [43] và Trần Đức Thanh (1999) [34], sự phát triển của ngành kinh doanh lưu trú du lịch được chia thành 4 giai đoạn phát triển cơ bản như sau:
1.1.1.1 Giai đoạn chế độ nô lệ
Thời kỳ này đã có nhiều cuộc hành hương, thăm viếng lẫn nhau, đi chữa bệnh hoặc di chuyển vì các mục đích tôn giáo Dòng người này thường đi về các quốc gia hoặc nơi có các thánh địa tôn giáo như Hy Lạp, Ý, Ai Cập, Palestin, Những điểm họ đến là các khu dân cư dọc đường quốc lộ, chùa, đền, nhà thờ, suối nước nóng,… Ban đầu, chủ nhà thường phục vụ khách nơi
ở, chỗ nghỉ và thức ăn, khi ra về khách hay biếu lại chủ nhà món quà tương đương với công phục vụ của chủ Đây có thể nói là khởi thủy của hoạt động kinh doanh lưu trú sau này Bên cạnh đó, cùng với hoạt động này của dân cư, chính quyền sở tại nơi khách lưu trú có những quy định nhằm đảm bảo an ninh, trật tự, trị an chung cho khách và cộng đồng dân cư như: trách nhiệm của chủ nhà cho khách lưu trú, quy định về hình thức sổ sách, cách thức ghi
Trang 21chép thân thế khách lưu trú đối với chủ nhà, nghiêm cấm khách có các hành
vi làm tổn hại đến thuần phong, mỹ tục, văn hóa của địa phương, …
1.1.1.2 Giai đoạn chế độ phong kiến
Trong giai đoạn này, nghề thủ công phát triển tương đối mạnh, giao lưu thương mại giữa các quốc gia, các vùng miền trong cùng một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ phát triển nhanh Điều này dẫn đến việc hình thành các trung tâm buôn bán ở các đầu mối giao thông quan trọng như cửa sông, thành phố lớn, các làng nghề thủ công truyền thống, Ở những nơi này đã xuất hiện các
cơ sở lưu trú phục vụ khách và thương nhân lưu lại qua đêm cùng một số dịch
vụ phục vụ khách như ăn, uống, tắm, giặt, Ngoài việc nâng cao chất lượng dịch vụ cơ bản như trên, các cơ sở này còn mở thêm các dịch vụ vui chơi giải trí và những dịch vụ bổ sung khác phục vụ khách và kinh doanh thêm đáp ứng nhu cầu của khách và nhu cầu tăng thêm doanh thu cho chủ nhà
Bên cạnh đó, do xã hội phong kiến đã có sự phân hóa giàu, nghèo, phân hóa giai cấp thống trị và hình thành bộ máy thống trị Giai cấp thống trị và những người giàu có đã xây dựng những cơ sở lưu trú tại các khu nghỉ hè, nghỉ đông hoặc tại các nơi có nguồn tài nguyên tự nhiên đa dạng, đẹp, đáp ứng được nhu cầu thư giãn, chữa bệnh và một số nhu cầu khác Như vậy, ngoài các cơ sở lưu trú truyền thống, giai đoạn này đã bắt đầu xuất hiện loại hình lưu trú tại thành phố, khu đông dân cư và các khu nghỉ dưỡng
1.1.1.3 Giai đoạn cận đại
Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, cùng với việc phát minh ra máy hơi nước, công nghiệp phát triển mạnh, giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị diễn ra sôi động trên toàn thế giới Nhu cầu về lưu trú và nghỉ ngơi dường như tăng nhanh, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống lưu trú không chỉ về số lượng mà cả về các loại hình và chất lượng dịch vụ Đối tượng phục vụ của
Trang 22các cơ sở lưu trú thời kỳ này rất đa dạng Nhu cầu của khách về dịch vụ tăng lên không ngừng và chất lượng phục vụ ngày càng hoàn thiện
1.1.1.4 Giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới và giai đoạn hiện nay
Chiến tranh thế giới bùng nổ, kéo theo việc một số quốc gia lớn trên thế giới lâm vào tình trạng chiến tranh Ngành kinh doanh lưu trú cũng tạm ngưng tốc độ phát triển do sự bất ổn của kinh tế, chính trị Nhưng từ khi chiến tranh kết thúc, khoảng từ năm 1950 trở lại đây, ngành này tiếp tục phát triển với quy mô lớn, có thể nói đây là “thời kỳ vàng son” của ngành, là nơi diễn ra các cuộc họp, hội nghị quan trọng, nơi lưu trú, sinh hoạt của nhiều tầng lớp trong xã hội Ngành lưu trú, đặc biệt là kinh doanh lưu trú du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia, là một bộ phận cơ bản, không thể thiếu được đối với hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế, trở thành đầu mối thực hiện công tác “xuất khẩu tại chỗ” mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao Đồng thời đây cũng là nơi tái phân chia nguồn thu nhập xã hội giữa các tầng lớp dân cư, giữa các địa phương, các quốc gia thông qua du lịch
1.1.2 Khái niệm cơ bản về lưu trú, cơ sở lưu trú du lịch và hội nhập
1.1.2.1 Khái niệm lưu trú
Theo Từ điển Tiếng Việt trực tuyến www.vdict.com, "lưu trú" có nghĩa
là "ở lại", Từ điển trực tuyến www.informatik.uni-leipzig.de định nghĩa “lưu trú” là “ở tạm”, Từ điển Tiếng Việt www.vi.wikitionary.org thì "lưu trú" cũng được khái niệm là "ở tạm" Bên cạnh đó, trong Danh mục thuật ngữ của Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế "ISO 18513 trong lĩnh vực dịch vụ du lịch - khách sạn và các loại hình khác của lưu trú du lịch"3
thì khái niệm lưu trú có nghĩa
là cung cấp tối thiểu hai dịch vụ: (i) ngủ và (ii) các trang thiết bị vệ sinh
3 ISO 18153-2003: Thuật ngữ khách sạn và các loại hình khác của cơ sở lưu trú du lịch
Trang 23Qua các quan điểm nêu trên, trong phạm vi đề tài này, chúng ta có thể
đưa ra một định nghĩa như sau: lưu trú có nghĩa là nơi cung cấp tối thiểu hai
dịch vụ: (i) ngủ và (ii) các trang thiết bị vệ sinh cá nhân phục vụ con người ở nơi nào đó trong một khoảng thời gian nhất định
1.1.2.2 Khái niệm và phân loại cơ sở lưu trú du lịch
Theo Điều 4, Luật Du lịch [18] thì: "Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu Cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: khách sạn, làng du lịch, biệt thự kinh doanh du lịch, căn hộ kinh doanh
du lịch, nhà nghỉ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê và các loại cơ sở lưu trú du lịch khác"
Bên cạnh đó, theo Thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL ngày 31 tháng
12 năm 2008 của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch về lưu trú du lịch thì các loại cơ
sở lưu trú du lịch ở Việt Nam được hiểu như sau:
Khách sạn (hotel) là cơ sở lưu trú du lịch, có quy mô từ mười buồng ngủ
trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách lưu trú và sử dụng dịch vụ, bao gồm các loại sau:
- Khách sạn thành phố (city hotel) là khách sạn được xây dựng tại các đô thị, chủ yếu phục vụ khách thương gia, khách công vụ, khách tham quan du lịch;
- Khách sạn nghỉ dưỡng (hotel resort) là khách sạn được xây dựng thành khối hoặc thành quần thể các biệt thự, căn hộ, băng-ga-lâu (bungalow) ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan của khách du lịch;
Trang 24- Khách sạn nổi (floating hotel) là khách sạn di chuyển hoặc neo đậu trên mặt nước;
- Khách sạn bên đường (motel) là khách sạn được xây dựng gần đường giao thông, gắn với việc cung cấp nhiên liệu, bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện vận chuyển và cung cấp các dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch
Làng du lịch (holiday village) là cơ sở lưu trú du lịch gồm tập hợp các
biệt thự hoặc một số loại cơ sở lưu trú khác như căn hộ, băng-ga-lâu (bungalow) và bãi cắm trại, được xây dựng ở nơi có tài nguyên du lịch, cảnh quan thiên nhiên đẹp, có hệ thống dịch vụ gồm các nhà hàng, quầy bar, cửa hàng mua sắm, khu vui chơi giải trí, thể thao và các tiện ích khác phục vụ khách du lịch
Biệt thự du lịch (tourist villa) là biệt thự có trang thiết bị, tiện nghi cho
khách du lịch thuê, có thể tự phục vụ trong thời gian lưu trú Có từ ba biệt thự
du lịch trở lên được gọi là cụm biệt thự du lịch
Căn hộ du lịch (tourist apartment) là căn hộ có trang thiết bị, tiện nghi
cho khách du lịch thuê, có thể tự phục vụ trong thời gian lưu trú Có từ mười căn hộ du lịch trở lên được gọi là khu căn hộ du lịch
Bãi cắm trại du lịch (tourist camping) là khu vực đất được quy hoạch ở
nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có kết cấu hạ tầng, có cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và dịch vụ cần thiết phục vụ khách cắm trại
Nhà nghỉ du lịch (tourist guest house) là cơ sở lưu trú du lịch, có trang
thiết bị, tiện nghi cần thiết phục vụ khách du lịch như khách sạn nhưng không đạt tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn
Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay) là nơi sinh sống của
người sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp trong thời gian cho thuê lưu trú du lịch,
có trang thiết bị, tiện nghi cho khách du lịch thuê lưu trú, có thể có dịch vụ khác theo khả năng đáp ứng của chủ nhà
Trang 25Các cơ sở lưu trú du lịch khác gồm tàu thủy du lịch, tàu hỏa du lịch, ra-van (caravan), lều du lịch
ca-Thực tiễn tại các quốc gia trên thế giới, cách phân loại của một số tài liệu
về quản trị kinh doanh khách sạn và định hướng phân loại của Tổ chức Du lịch Thế giới thì một số loại hình cơ sở lưu trú du lịch khác như nhà nghỉ du lịch, làng du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch và nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, ít có sự phân biệt, chia nhỏ về loại hình [13], [50] Khách sạn là loại hình phổ biến nhất nên việc phân loại được các quốc gia chú trọng, việc phân loại này góp phần đưa hình ảnh, chất lượng khách sạn đến gần hơn với khách du lịch và khách dự kiến có nhu cầu sử dụng dịch vụ tại khách sạn Bên cạnh đó, mỗi quốc gia có cách khái quát, định hướng tên gọi cơ sở lưu trú du lịch của mình một cách khác nhau nhằm tạo thuận tiện cho việc triển khai công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực Trong khu vực ASEAN, Thái Lan phân loại cơ sở lưu trú du lịch thành khách sạn, khách sạn nghỉ dưỡng, căn hộ cho thuê và nhà nghỉ du lịch; Malayxia chia cơ sở lưu trú
du lịch thành khách sạn, nhà nghỉ du lịch, khách sạn nghỉ dưỡng, căn hộ cho khách du lịch thuê, ký túc xá, nhà trọ du lịch Như vậy, đối tượng quản lý được chú trọng nhất và chủ yếu nhất vẫn là khách sạn
Về cơ bản, khách sạn được phân thành các đối tượng như sau:
Phân loại khách sạn theo vị trí địa lý:
Trang 26- Khách sạn quy mô vừa;
- Khách sạn quy mô nhỏ
Tuy nhiên thế nào là khách sạn quy mô lớn, thế nào là khách sạn quy
mô vừa, khách sạn nào là quy mô nhỏ vẫn phụ thuộc vào các quốc gia khác nhau Đơn vị định lượng quy mô thì tại mỗi quốc gia, quy định có những sự khác biệt Nhìn chung, các nước thường căn cứ vào số lượng buồng và số lượng dịch vụ để xác định quy mô của khách sạn Ví dụ: Tại Mỹ, khách sạn
có từ 500 buồng được xếp vào loại quy mô lớn; từ 125 buồng tới cận 500 buồng có quy mô trung bình; còn khách sạn có dưới 125 buồng là khách sạn
Trang 27- Khách sạn hợp đồng quản lý;
- Khách sạn liên kết hỗn hợp (là khách sạn liên kết kết hợp các hình thức trên)
Phân loại theo cơ sở vật chất
- Khách sạn truyền thống;
- Khách sạn hội nghị;
- Khách sạn gia đình
Phân loại theo quy mô quản lý
- Khách sạn độc lập (indepedent hotel): Là khách sạn hoạt động độc lập, không liên kết hoặc có một chi nhánh nào;
- Khách sạn dạng chuỗi (chain - hotels): Một chuỗi khách sạn gồm ba hay nhiều khách sạn trở nên do cùng một công ty sở hữu, quản lý hoặc hoạt động dưới cùng một danh hiệu
1.1.3 Khái niệm về hội nhập, hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa
1.1.3.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, Vũ Dũng4
đã nhìn nhận: "Hội
nhập kinh tế quốc tế là quá trình từng bước xây dựng một nền kinh tế mở, gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế khu vực và thế giới, là xu thế khách quan không một quốc gia nào có thể đứng ngoài cuộc" Thật vậy, hội nhập không phải là một hiện tượng mới Tuy nhiên, đến quá trình toàn cầu hóa mới
từ những thập niên 80 trở lại đây, hội nhập kinh tế quốc tế mới trở thành một trào lưu, cuốn hút sự tham gia của tất cả các nước Hội nhập kinh tế quốc tế được thúc đẩy bởi những nhân tố chính sau:
- Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin;
4 Báo Đầu tư - Số Tháng 8 năm 2005
Trang 28- Hoạt động thương mại, tài chính - tiền tệ và đầu tư quốc tế gia tăng mạnh mẽ theo xu hướng tự do hoá;
- Thương mại hàng hóa, dịch vụ ngày càng gia tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của các nước;
- Các công ty xuyên quốc gia ngày càng lớn mạnh đóng vai trò tiên phong của quá trình toàn cầu hóa;
- Sự thay đổi cơ bản về khái niệm an ninh, lấy phát triển kinh tế là cách thức hữu hiệu để bảo đảm an ninh cho mỗi quốc gia
Những yếu tố trên, đặc trưng của quá trình toàn cầu hóa, đã làm cho hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một trào lưu, một xu thế tất yếu Bất cứ một nền kinh tế nào muốn không bị gạt ra ngoài lề của dòng chảy phát triển, đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, điều chỉnh chính sách, mở cửa thị trường thông qua cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ rào cản phi quan thuế, làm cho việc trao đổi hàng hóa, luân chuyển vốn, lao động, công nghệ và kỹ thuật trên phạm vi thế giới ngày càng tự do, thông thoáng hơn
1.1.3.2 Toàn cầu hóa
"Là quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư, làm cho các rào cản đối với trao đổi thương mại và đầu tư bị loại bỏ dần, từ đó tạo điều kiện thuận lợi
để các nước tăng cường thương mại quốc tế, thu hút đầu tư và các nguồn lực bên ngoài, phát huy các nguồn lực bên trong nhằm phát triển những ngành sản xuất mà mỗi nước có khả năng và hiệu quả nhất" [25]
“Toàn cầu hoá là một quá trình gia tăng đến phạm vi toàn cầu các quá trình sản xuất và lưu thông, dựa trên các thành tựu của công nghệ thông tin, chất lượng mới của nguồn nhân lực, bối cảnh liên kết chính trị và giao lưu văn hoá mạnh mẽ toàn cầu” [21, 22, 25]
Trang 29Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát về toàn cầu hóa là quá trình tự
do hóa thương mại và đầu tư của các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp kinh doanh trên toàn thế giới, các hoạt động kinh doanh không có giới hạn bởi thể chế chính trị hay các rào cản khác mà có quan hệ hữu cơ với nhau Toàn cầu hóa chỉ bị ảnh hưởng bởi các quy luật kinh tế
1.2 Quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch
1.2.1 Khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Việc phát hiện ra "quản lý" được coi là kết quả tất yếu của sự chuyển biến của nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao động được phối hợp lại một cách khoa học C.Mác5
đã viết "Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo, điều hành, điều hòa những hoạt động cá nhân, Một nhạc sỹ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng"
Như vậy, quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hóa càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của nó càng tăng lên
Về nội dung, thuật ngữ "quản lý" [9] có nhiều cách diễn đạt khác nhau Với ý nghĩa thông thường, phổ biến nhất thì "quản lý” có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã ổn định
5 C.Mác: Tư bản quyển 1 - tập 2 NXB Sự thật - Hà Nội 1959
Trang 30Với khái niệm được đề cập trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn
là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
- Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý
Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản
lý khác nhau
- Khách thể quản lý chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể
quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội
Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm xác định
do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp
Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc Thực chất của quản lý con người trong tổ chức là nhằm đạt mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất
Quá trình quản lý chịu sự tác động của các yếu tố sau:
- Yếu tố con người (yếu tố xã hội);
- Yếu tố chính trị (môi trường chính trị);
- Yếu tố tổ chức;
- Yếu tố quyền lực;
- Yếu thông tin;
- Yếu tố văn hóa tổ chức
Bên cạnh khái niệm quản lý, thuật ngữ quản lý nhà nước nói chung (nguyên bản tiếng Anh là Public Administration)6
[9] với các nghĩa là: thứ
6 Quản lý hành chính nhà nước chương trình chuyên viên - Phần II Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính, trang 11 - Học viện hành chính quốc gia - Hà Nội 2001
Trang 31nhất, tất cả quyền lực của hành chính nhà nước là của nhân dân hay nói cách
khác là bắt nguồn từ nhân dân; thứ hai, đối tượng phục vụ của nền hành chính nhà nước là nhân dân; thứ ba, nền hành chính nhà nước thực hiện công cụ và
giải quyết tự do, quyền, lợi ích và nghĩa vụ hợp pháp của công dân, tổ chức Trong quản lý nhà nước, hoạt động quản lý hành chính là hoạt động đa dạng trung tâm, chủ yếu: vì hoạt động hành chính là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội Tuy nhiên, quản lý hành chính nhà nước có phạm vi hẹp hơn so với quản lý nhà nước Thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước tức là hoạt động chấp hành và điều hành Thứ hai, chủ thể quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan, cán bộ, công chức hành chính nhà nước trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến
cơ sở
Như vậy, có thể khẳng định rằng: "quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước nhằm duy trì và phát triển cao các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc" [9]
Với cách tiếp cận về thuật ngữ quản lý như trên, có thể thống nhất quan điểm là: khái niệm quản lý nhà nước, công tác quản lý nhà nước xuất hiện cùng với nhà nước, quản lý nhà nước được gọi là quản lý các công việc của nhà nước Nội hàm của quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi một quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Ngày nay, quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động
Trang 32lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của Chính phủ và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp
Trong hệ thống xã hội, tồn tại rất nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể nhân dân, các Hiệp hội, Trong hoạt động quản lý đó thì quản lý nhà nước có những điểm khác biệt
Một là, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà nước,
gồm: lập pháp, hành pháp, tư pháp
Hai là, đối tượng quản lý của Nhà nước là toàn thể nhân dân tức toàn bộ
dân cư sống và làm việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Ba là, vì tính đa dạng về lợi ích, hoạt động của các nhóm người trong xã
hội, quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân
Bốn là, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật
làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
1.2.2 Quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch
1.2.2.1 Quy trình quản lý nhà nước về lưu trú du lịch
Trong lĩnh vực du lịch nói chung và lưu trú du lịch nói riêng, nội dung hoạt động quản lý hành chính nhà nước được cụ thể hóa thông qua các mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng hoạt động của bộ máy tổ chức hành chính nhà nước được tổ chức theo từng cấp với quyền hạn, thẩm quyền xác định Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức tương ứng thực hiện chức năng hành pháp tương ứng được cơ quan có thẩm quyền phân cấp, giao phó
Để thực hiện có hiệu quả những mục tiêu, nhiệm vụ của mình, cơ quan liên quan trong lĩnh vực du lịch và lưu trú du lịch, cán bộ, công chức và người
Trang 33lao động các cấp tuân thủ quy trình của quản lý hành chính nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch
- Triển khai Quy hoạch, kế hoạch phát triển cơ sở lưu trú du lịch
Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế, xã hội đã được Đảng và Nhà nước hoạch định, quyết định; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lưu trú du lịch, chính quyền địa phương các cấp xây dựng, chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch chi tiết về phát triển hệ thống cơ sở lưu trú du lịch, đảm bảo các yêu cầu về quy hoạch, phát triển đã được đặt ra, đáp ứng tuyệt đối định hướng đặt ra của cấp trên và nhu cầu của khách du lịch
- Tổ chức bộ máy hành chính quản lý lưu trú du lịch
Ngành Du lịch phối hợp với Bộ Nội vụ hoặc cơ quan liên quan về tổ chức cán bộ, công chức và lao động các cấp tổ chức bộ máy đảm bảo tinh gọn
từ trung ương đến địa phương gồm Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố để điều hành tập trung, thống nhất, thông suốt, linh hoạt, giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền những vấn
đề về lưu trú du lịch đã được đặt ra và các vấn đề phát sinh theo nhu cầu thực tiễn phát triển Cơ quan trực tiếp tham gia quản lý lưu trú du lịch cấp quận, huyện được tổ chức linh hoạt theo cấp phòng, giúp địa phương triển khai các
kế hoạch quản lý, phát triển đã được cơ quan cấp trên hoạch định, phê duyệt
- Sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức theo từng cấp
Đội ngũ cán bộ, công chức các cấp đủ về số lượng, tinh về chất lượng, đảm bảo được sắp xếp, bố trí công việc theo tiêu chuẩn chức danh, tiêu chuẩn công việc Về cơ bản, đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay đủ phẩm chất chính trị, vững về chuyên môn và có đạo đức, trách nhiệm với công việc được giao,
Trang 34thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý nhà nước về lưu trú du lịch theo phân cấp, thẩm quyền Tuy nhiên, việc tuyển dụng, sử dụng và bố trí cán bộ, công chức
và người lao động theo nhu cầu phát triển và thực tiễn tại từng cấp, từng địa phương
- Ra các quyết định hành chính và tổ chức thực hiện quyết định
Quản lý nhà nước về lưu trú du lịch được thực hiện bằng các công cụ pháp luật, các quyết định, hướng dẫn pháp luật của cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh tất cả các hành vi liên quan, đảm bảo các quyết định hành chính được thực hiện có hiệu lực, có tính khả thi cao phù hợp với thực tế đa dạng của các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn cả nước
- Quản lý lưu trú du lịch là sự phối hợp giữa các ngành, các cấp liên quan
Việc phối hợp giữa các ngành, các cấp nhằm tạo sự đồng bộ hoạt động theo cấp và phân hệ trong hệ thống hành chính, phối hợp giữa Ngành du lịch với các ngành khác; giữa Du lịch với các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn
vị sự nghiệp để thực hiện các quyết định quản lý phù hợp, hiệu quả
- Gám sát, kiểm tra, báo cáo, tổng kết, đánh giá công tác quản lý nhà nước
Bất cứ lĩnh vực nào, ngành nào dù là quản lý nhà nước hay quản trị doanh nghiệp thì công tác giám sát, kiểm tra, báo cáo, tổng kết và đánh giá luôn là nội dung quan trọng, là thước đo việc thực hiện công việc Muốn quản
lý tốt cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức thuộc bộ máy nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương của Ngành Du lịch Tạo lập một hệ thống giám sát công tác kiểm tra thực sự, có hiệu quả và thường xuyên để có những biện pháp điều chỉnh kịp
Trang 35thời, đặc biệt trước tình hình phát triển nhanh, nhạy hiện nay của hệ thống cơ
sở lưu trú du lịch ở Việt Nam
1.2.2.2 Chủ thể và khách thể trong quản lý nhà nước về lưu trú du lịch
Chủ thể nói chung là Đảng, Nhà nước và các cơ quan liên quan có chức năng quản lý nhà nước được pháp luật phân quyền, phân cấp Nhưng với lưu trú du lịch, chủ thể chủ yếu là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các ngành liên quan như Công an, Y tế, Môi trường, Lao động, Bảo hiểm, và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố trong cả nước Chủ thể có nhiệm
vụ chấp hành pháp luật và chỉ đạo thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà nước
Chủ thể có những thẩm quyền nhất định liên quan đến 04 (bốn) nội dung, bao gồm;
- Ban hành các văn bản dưới luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hành và tổ chức bộ máy trong quản lý nhà nước về lưu trú du lịch cấp tương ứng
- Sử dụng quyền lực để điều chỉnh và điều hành các vấn đề thuộc lưu trú
du lịch theo thẩm quyền
- Cán bộ lãnh đạo của cơ quan chủ thể theo cơ chế bổ nhiệm, chủ thể thực hiện cơ chế lãnh đạo và quản lý theo chế độ thủ trưởng
- Chủ thể ký văn bản quản lý theo chế độ thủ trưởng hoặc liên tịch
Bên cạnh chủ thể nêu trên, khách thể của quản lý hành chính nhà nước
về lưu trú du lịch là toàn bộ hệ thống, nguồn nhân lực và hành vi, quá trình phát sinh trong thực tế phát triển của cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam
1.2.2.3 Hình thức quản lý hành chính trong lĩnh vực lưu trú du lịch
- Hình thức pháp lý: Cơ quan có thẩm quyền các cấp được phép ban
hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cơ sở lưu trú du lịch Đây là
Trang 36hình thức pháp lý quan trọng nhất trong hoạt động của Ngành Du lịch nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, Ngành Du lịch quy định những quy tắc xử sự chung trong lĩnh vực quản lý, những nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ đối với cơ sở lưu trú du lịch
- Hình thức ban hành văn bản áp dụng pháp luật Đây là hoạt động chủ
yếu của Ngành Du lịch, nội dung chủ yếu là áp dụng một hay nhiều quy phạm pháp luật vào một trường hợp cụ thể, trong những điều kiện cụ thể Việc ban hành văn bản này làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ hành chính, pháp luật liên quan đến lĩnh vực lưu trú du lịch
1.2.2.4 Phương pháp quản lý hành chính nhà nước về lưu trú du lịch
Trên cơ sở vận dụng thành tựu của các khoa học khác để thực hiện quản
lý hành chính nhà nước như kế hoạch hóa, thống kê, toán học, tâm lý - xã hội
và nhóm phương pháp khoa học quản lý: giáo dục tư tưởng, tổ chức thực hiện, kinh tế và phương pháp hành chính Cho đến nay, phương pháp quản lý hành chính nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch được áp dụng cụ thể như sau:
- Phương pháp quản lý đảm bảo hiệu quả, tính tác động của công tác quản lý có tính đến đặc điểm của từng cơ sở lưu trú du lịch
- Phương pháp quản lý đảm bảo tính khả thi, mang lại hiệu quả cao đồng thời phải mềm dẻo, linh hoạt
- Phương pháp quản lý có tính sáng tạo, phù hợp với pháp luật hiện hành
và cơ chế cho phép của nhà nước
1.2.2.5 Nội dung quản lý nhà nước về lưu trú du lịch ở Việt Nam
Điều 10 Luật du lịch nêu nội dung quản lý nhà nước về du lịch và Mục
4, chương VI của Luật Du lịch quy định chi tiết đối với kinh doanh lưu trú du lịch, các hàng hóa, dịch vụ trong cơ sở lưu trú du lịch, căn cứ theo đó cùng với các văn bản hiện hành của Tổng cục Du lịch quy định về chức năng,
Trang 37nhiệm vụ và bộ máy của các đơn vị thành viên thì, quản lý nhà nước về lưu trú du lịch ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển cơ sở lưu trú du lịch trong phạm vi cả nước;
- Xây dựng, ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật trong lưu trú du lịch;
- Phối hợp tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ liên quan đến lưu trú du lịch;
- Điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên, cung và cầu du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển cơ sở lưu trú du lịch tại các địa phương trong cả nước;
- Tổ chức hợp tác quốc tế trong lưu trú du lịch, phối hợp với các bên liên quan xúc tiến hình ảnh cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam trong và ngoài nước;
- Tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mô hình tổ chức quản lý nhà nước về lưu trú du lịch theo chiều ngang và chiều dọc từ Trung ương đến địa phương trong quản lý nhà nước về lưu trú du lịch, nội dung phối hợp quản lý đối với các bộ, ngành, các cấp có liên quan;
- Xác định chủ thể, điều kiện được phép kinh doanh lưu trú du lịch;
- Phân loại cơ sở lưu trú du lịch và tổ chức thẩm định, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch;
- Phân biệt quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh lưu trú du lịch;
- Phối hợp kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về lưu trú du lịch;
- Tham gia công tác cải cách hành chính của Ngành Du lịch và các bộ, ngành, các cấp có liên quan đến lưu trú du lịch
Trang 381.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch của một
số nước trong khu vực
Việt Nam hiện là nước có nền kinh tế tăng trưởng, phát triển vào hạng nhanh nhất của thế giới, tốc độ trung bình hàng năm khoảng 8% (từ năm 2007 trở về trước) [42], trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới, nền kinh tế - xã hội Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội
và thách thức lớn, đặc biệt là vấn đề cải cách hành chính, thay đổi phương thức xây dựng và thực thi nền hành chính quốc gia
Đối với lĩnh vực dịch vụ, du lịch, một số quốc gia trong khu vực có đặc điểm văn hóa, địa lý, lịch sử và xuất phát điểm kinh tế tương đối tương đồng
đã có những thay đổi và cải cách mạnh mẽ, góp phần trở thành động lực quyết định đưa nền kinh tế đất nước phát triển, đặc biệt là Thái Lan, Ma-lay-xi-a Trong lĩnh vực quản lý lưu trú du lịch, Ngành du lịch Việt Nam cũng cần tiếp thu nhiều kinh nghiệm đưa điểm đến Việt Nam sánh ngang hai cường quốc du lịch ở Đông Nam Á này Trong phạm vi luận văn, tác giả đề cập sơ lược mô hình, kinh nghiệm về công tác quản lý nhà nước về du lịch và lưu trú du lịch của Thái Lan và Malayxia
1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Bộ Du lịch và Thể thao Thái Lan với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là thực
hiện công tác quản lý, xúc tiến, hỗ trợ và phát triển các lĩnh vực du lịch, thể thao, giáo dục thể thao và những nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Du lịch Thái Lan Bộ Du lịch và Thể thao Thái Lan có 4 văn phòng trực thuộc bao gồm:
- Văn phòng Bộ trưởng;
- Văn phòng thư ký;
Trang 39- Văn phòng thể thao và giải trí;
- Văn phòng phát triển du lịch
Bộ Du lịch và Thể thao là cơ quan chính chịu trách nhiệm đưa Thái Lan trở thành trung tâm du lịch chất lượng cao của châu Á, mang văn hóa Thái Lan ra thế giới bên ngoài; thúc đẩy, phát triển Thái Lan trở thành cường quốc thể thao trong khu vực nhằm tạo thu nhập, công việc và mang lại thể chất khỏe mạnh cho người dân Thái Lan
Bên cạnh bộ máy của Bộ được tổ chức tổng hợp, khoa học, tập trung sức mạnh vào việc hành pháp thông qua Cơ quan Du lịch và Cơ quan Thể thao Thái Lan
Cơ quan giúp việc cho Bộ trưởng Du lịch và Thể thao Thái Lan là Văn phòng phát triển du lịch, tuy nhiên đơn vị trực tiếp thừa hành các biện pháp xúc tiến, thúc đẩy du lịch phát triển là Cơ quan du lịch Thái Lan (Tourism Authority of Thailand)
1.3.1.1 Văn phòng phát triển du lịch (Office of Tourism Development)
Văn phòng Phát triển Du lịch có nhiệm vụ và trách nhiệm phát triển tiêu chuẩn dịch vụ du lịch và xây dựng điểm đến cho du khách, bao gồm cả việc
hỗ trợ tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp du lịch và hướng dẫn viên, là nơi khởi xướng việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch bền vững của đất nước
Trách nhiệm và chức năng chính của Văn phòng Phát triển Du lịch Thái Lan bao gồm:
- Nghiên cứu, phân tích và thống kê số liệu liên quan đến du lịch nhằm tạo điều kiện phát triển du lịch phù hợp với kế hoạch và chính sách chung của quốc gia;
- Tạo lập kế hoạch phát triển dịch vụ du lịch bao gồm điều phối, xúc tiến
và hỗ trợ thực hiện kế hoạch;
Trang 40- Tạo lập kế hoạch phát triển doanh nghiệp du lịch, tổ chức đăng ký quản
lý hướng dẫn viên du lịch Thực hiện công tác xúc tiến, điều phối và hỗ trợ việc thực hiện kế hoạch;
- Triển khai thực hiện các quy định của pháp luật liên quan tới doanh nghiệp kinh doanh du lịch;
- Giám sát và theo dõi tình hình phát triển du lịch của đất nước;
- Thúc đẩy; hỗ trợ việc kinh doanh phim bao gồm cả sản xuất, dịch vụ;
- Thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của Bộ và của Nội các Thái Lan
1.3.1.2 Cơ quan du lịch Thái Lan (Tourism Authority of Thailand)
Cơ quan Du lịch Thái lan có chức năng và nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Xúc tiến du lịch, thúc đẩy cơ hội nghề nghiệp liên quan đến du lịch của người Thái;
- Bảo tồn nét đẹp của người Thái, giá trị cổ, đồ cổ, lịch sử, nghệ thuật, văn hóa, thể thao, cách mạng công nghệ và các hoạt động khác nhằm thu hút du lịch;
- Tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho khách du lịch;
- Thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị, thân thiện giữa người với người thông qua du lịch;
- Phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch, bao gồm
cả quản lý chất lượng các loại hình cơ sở lưu trú du lịch;
- Cố vấn và khuyến nghị các biện pháp hợp tác và điều phối về du lịch với các cơ quan của Chính phủ, các tổ chức, Viện nghiên cứu và khối kinh tế tư nhân trong và ngoài nước;
- Xúc tiến, hợp tác và tổ chức các khóa đào tạo, học tập nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức;