Mục tiêu nghiên cứu Với đề tài này, Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu về tình hình quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Trung; những hoạt động mà Việt Nam đã tiến hành để thu hút khách du
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=== ===
LÊ QUỲNH PHƯƠNG
QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT - TRUNG VÀ HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TRUNG QUỐC
CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC
Hµ néi, 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=== ===
LÊ QUỲNH PHƯƠNG
ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TRUNG QUỐC
CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM
Chuyên ngành du lịch học (Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRỊNH XUÂN DŨNG
HÀ NỘI, 2009
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT I DANH MỤC BẢNG BIỂU II
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục tiêu nghiên cứu 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 9
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Đóng góp của luận văn 10
6 Tổng quan các công trình nghiên cứu vấn đề 10
7 Bố cục của luận văn 11
CHƯƠNG 1 QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT TRUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM DU LỊCH TRUNG QUỐC 12
1.1 Khái quát về đất nước con người Trung Quốc 12
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 12
1.1.1.1 Vị trí địa lý 12
1.1.1.2 Khí hậu 13
1.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội 13
1.1.2.1 Dân số 13
1.1.2.2 Văn hoá 14
1.1.2.3 Ngôn ngữ 15
1.1.2.4 Kinh tế 16
1.1.2.5 Giao thông 18
1.2 Khái quát về sự phát triển du lịch của Trung Quốc 18
1.2.1 Lý luận chung về thị trường du lịch 18
1.2.2 Sơ lược về sự phát triển du lịch của thị trường Trung Quốc 19
1.3 Một số xu hướng phát triển của thị trường khách du lịch Trung Quốc 23
Trang 41.4 Quan hệ hợp tác hai nước Việt Nam – Trung Quốc 26
1.4.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao 26
1.4.2 Quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư 32
1.4.3 Hợp tác du lịch giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc 35
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TRUNG QUỐC ĐẾN V IỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003 – 2008… 40
2.1 Tình hình khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2003 – 2008 40
2.2 Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam 44
2.2.1 Sản phẩm du lịch 44
2.2.2 Cơ sở hạ tầng du lịch 45
2.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 47
2.2.4 Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch 49
2.2.5 Quản lý nhà nước, phối hợp liên ngành, liên vùng 51
2.3 Một số đặc điểm khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam 53
2.3.1 Số lượng khách và tốc độ tăng trưởng 53
2.3.2 Cơ cấu khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam 56
2.3.2.1 Theo mục đích chuyến đi 56
2.3.2.2 Theo giới tính và theo độ tuổi 59
2.3.2.3 Theo số lần đến 60
2.3.2.4 Cách thức và phương tiện hỗ trợ trong tổ chức chuyến đi 61
2.3.2.5 Ngày lưu trú trung bình 62
2.3.2.6 Điểm đến du lịch yêu thích 62
2.3.2.7 Các loại hình du lịch ưa thích của khách Trung Quốc 64
2.3.2.8 Khả năng chi tiêu 64
2.3.2.9 Phương tiện vận chuyển chủ yếu trong chuyến đi 65
2.3.2.10 Các nước thứ ba khách du lịch Trung Quốc dự định đến trong tour 65
2.3.3 Một vài nét tâm lý chung của du khách Trung Quốc đi du lịch tại Việt Nam 67
Trang 52.3.3.1 Những điểm khách du lịch Trung Quốc thích khi du lịch ở Việt Nam 69
2.3.3.2 Những điều du khách Trung Quốc không thích khi du lịch ở Việt Nam 70
2.4 Những thuận lợi, thành công và những khó khăn, hạn chế trong hoạt động thu hút khách du lịch Trung Quốc của Việt Nam 71
2.4.1 Những thuận lợi, thành công 71
2.4.2 Những khó khăn, hạn chế 73
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH TRUNG QUỐC ĐẾN VIỆT NAM 78
3.1 Định hướng của ngành Du lịch Việt Nam thu hút khách du lịch Trung Quốc trong thời gian tới 78
3.1.1 Định hướng về sản phẩm du lịch 78
3.1.2 Định hướng về kênh phân phối sản phẩm du lịch 79
3.1.3 Định hướng về giá cả 80
3.2 Các nhóm giải pháp về việc thu hút khách du lịch Trung Quốc 80
3.2.1 Cải cách các thủ tục hành chính đối với khách Trung Quốc vào Việt Nam du lịch 81
3.2.2 Đẩy mạnh công tác xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch 82
3.2.3 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch 84
3.2.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động 86
3.2.5 Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 89
3.2.6 Giáo dục du lịch toàn dân 90
3.3.7 Phối hợp liên ngành để phục vụ nhu cầu khách hàng 91
3.2.8 Về hợp tác quốc tế 92
3.2.9 Nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch 93
3.3 Kiến nghị 94
3.3.1 Đối với Chính phủ và các ngành có liên quan 94
3.3.2 Đối với Cục hàng không Việt Nam 95
3.3.3 Đối với ngành đường sắt Việt Nam 95
3.3.4 Đối với Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch 95
Trang 63.3.5 Đối với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao 96
3.3.6 Đối với Tổng cục Du lịch 96
3.3.7 Đối với địa phương 96
3.3.8 Đối với các doanh nghiệp lữ hành 97
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THĂM KHẢO 102
PHỤ LỤC……… 102
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
UNWTO Tổ chức Du lịch thế giới
PATA Hiệp hội Du lịch Châu Á – Thái Bình Dương Outbound Du lịch nước ngoài
Inbound Đón khách du lịch quốc tế đến
CNTA Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc
CNXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU
TT TÊN BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ TRANG
SƠ Đồ 1.1 Mối quan hệ giữa ngành du lịch và thị trường 12 BảNG 2.1 Số LƯợNG KHÁCH DU LịCH QUốC Tế ĐếN VIệT
NAM GIAI ĐOạN 2003 - 2008
28
BảNG 2.2 TổNG HợP CÁC CƠ Sở LƯU TRÚ THEO CƠ CấU
LOạI, HạNG NĂM 2008
35
BảNG 2.3 SO SÁNH MứC TĂNG TRƯởNG KHÁCH TRUNG
QUốC VớI TổNG LƯợNG KHÁCH QUốC Tế ĐếN VIệT NAM GIAI ĐOạN
2003 – 2008
42
BảNG 2.4 Số LƯợNG KHÁCH CÁC THị TRƯờNG HÀNG ĐầU
CủA DU LịCH VIệT NAM GIAI ĐOạN
BảNG 2.6 KHÁCH DU LịCH TRUNG QUốC ĐÃ ĐếN VIệT NAM
THEO Độ TUổI, GIớI TÍNH
49
BIểU Đồ
2
54
BảNG 2.8 ĐÁNH GIÁ CủA KHÁCH DU LịCH TRUNG QUốC Về
GIÁ Cả ở
54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Lần đầu tiên trong lịch sử, số người Trung Quốc đi du lịch nước ngoài cao như thế và kết quả là sự bùng nổ các công ty lữ hành tại nước này Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt như vậy, ngành du lịch toàn cầu sẽ phải vội vã thay mọi thứ bằng tiếng Trung để đáp ứng nhu cầu của làn sóng khách du lịch lớn nhất từ trước đến nay Năm 1995, số người Trung Quốc ra nước ngoài du lịch là 4,5 triệu Năm
2005, con số này lên đến 31 triệu Các chuyên gia về du lịch của Trung Quốc và thế giới dự đoán rằng ít nhất 50 triệu du khách nước này sẽ ra nước ngoài du lịch hàng năm trước năm 2010 và lên đến 100 triệu trước năm 2020[44] Và quan trọng
hơn cả như lời của ông Giám đốc Tổ chức Du lịch Châu Á – Thái Bình Dương đã
nói: “Họ là những người đến sau trong bản đồ du lịch, nhưng đến một cách
hoành tráng”(www.langson.gov) Tổ chức Du lịch Thế giới cũng bình luận “Tốc
độ tăng trưởng của ngành du lịch quốc tế của Trung Quốc trong 5 năm qua cao nhất thế giới, với tỷ lệ 37% đến 38% mỗi năm”
Chính từ những ưu điểm và lợi thế to lớn trên, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên Thế Giới, đã xác định Trung Quốc là một trong những thị trường gửi khách hàng đầu Hiện nay Trung Quốc luôn được đánh giá là thị trường khách trọng điểm của du lịch Việt Nam Đây là thị phần có tốc độ gia tăng rất cao, liên tục, chiếm tỉ trọng lớn, có thể nói là phát triển bền vững với tốc độ gia tăng từ 17.509 lượt khách năm 1993 lên đến 650.055 lượt khách năm 2008, chiếm phần lớn số lượng khách quốc tế vào Việt Nam (www.aseanta.org)
Những điều kiện thuận lợi cùng số lượng khách lớn, mức gia tăng nhanh đã khẳng định tầm quan trọng của thị phần khách này đối với hoạt động của ngành du lịch Việt Nam Do đó, bên cạnh việc đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác du lịch giữa hai nước, ngành du lịch Việt Nam cần phải tăng cường nghiên cứu và tìm hiểu, xây dựng định hướng để chủ động thu hút và khai thác nguồn khách Đây là vấn đề vừa mang tính kế hoạch lâu dài, vừa mang tính cấp thiết được đặt ra không chỉ đối với ngành du lịch cấp Quốc gia mà đối với hoạt động du lịch tại các điểm đón khách
Trang 11“Quan hệ hợp tác Việt – Trung và hoạt động thu hút khách du lịch Trung Quốc của ngành du lich Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài này, Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu về tình hình quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Trung; những hoạt động mà Việt Nam đã tiến hành để thu hút khách du lịch Trung Quốc nói riêng và khách du lịch Quốc tế nói chung, thực trạng khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam giai đoạn 2003 – 2008; giải pháp ngành du lịch đã áp dụng để khai thác thị trường khách du lịch Trung Quốc Trên
cơ sở đó, đề xuất và kiến nghị giải pháp phát triển nguồn khách đầy tiềm năng này trong thời gian tới để có thể đạt hiệu quả cao hơn nữa trong việc khai thác nguồn khách cho ngành du lịch Việt Nam
Căn cứ vào mục tiêu đề ra, luận văn tiến hành giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tổng quan về thị trường khách du lịch Trung Quốc, tìm hiểu đặc trưng và các sở thích tiêu dùng du lịch của du khách Trung Quốc
- Mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Trung Quốc, cơ sở cho hoạt động thu hút khách du lịch Trung Quốc
- Một số hoạt động thu hút khách du lich Trung Quốc nói riêng và khách du lịch Quốc tế nói chung tại Việt Nam
- Tình hình khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam giai đoạn 2003 – 2008
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch Trung Quốc tại thị trường Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ hợp tác trên một số lĩnh vực giữa hai nước Việt -
Trung và cơ cấu khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung chủ yếu trong giai đoạn từ
2003-2008, đảm bảo tính cập nhật và khách quan của số liệu nghiên cứu
Trang 12- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động thu hút khách du lịch Trung
Quốc tại địa bàn Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài mang tính nghiên cứu thực tiễn, do đó trong quá trình thực hiện, tác giả đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau để đảm bảo kết quả của công trình nghiên cứu: phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội, phương pháp chuyên gia… những phương pháp này đã giúp tác giả khai thác thông tin, số liệu liên quan phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài Đảm bảo số liệu được cập nhật, mang tính thời sự, có tính khách quan và đáp ứng được yêu cầu về kết quả nghiên cứu của đề tài Tác giả cũng nhận được nhiều ý kiến đóng góp, chỉ dẫn của các chuyên gia trong vấn đề liên quan đến thị trường khách du lịch Trung Quốc
5 Đóng góp của luận văn
- Đưa ra bức tranh tổng quát về mối quan hệ hợp tác hai nước Việt Trung, đặc điểm của thị trường gửi khách Trung Quốc nói chung và cơ cấu của khách Trung Quốc giai đoạn 2003 - 2008 nói riêng
- Nhìn nhận về hoạt động thu hút khách du lịch Trung Quốc nói riêng và khách quốc tế nói chung giai đoạn 2003 – 2008
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cho việc phát triển thị trường khách
TQ vào Việt Nam trong tương lai gần
6 Tổng quan các công trình nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến nội dung nghiên cứu về thị trường khách du lịch Trung Quốc, trước tác giả nghiên cứu đã có một số công trình liên quan công bố như:
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa học du lịch, “Thị phần khách du lịch
Trung Quốc của du lịch Việt Nam,, tiềm năng – hiện trạng – giải pháp khai thác và phát triển”, Cao Thị Thu Hiền, 2001
Trang 13Đề tài khoa học cấp ngành: “Nghiên cứu đánh giá một số đặc điểm của thị
trưởng khách Nhật Bản và Trung Quốc nhằm phát triển nguồn khách của du lịch Việt Nam” do bà Nguyễn Quỳnh Nga và nhóm nghiên cứu thực hiện, 2001
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa học du lịch, “Nghiên cứu tâm lý và ứng
dụng xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù cho khách Trung Quốc trên thị trường du lịch Quảng Ninh”, Vũ Khắc Điệp, 2003
Bản tin du lịch, Du lịch Trung Quốc cơ hội phát triển mới, Trung tâm
Thông tin du lịch – Tổng cục du lịch, 2004
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa học du lịch: “Việc xây dựng định hướng
thu hút khách du lịch Trung Quốc vào Lạng Sơn”, Hồ Minh Châu, 2006
Báo cáo: “Phát triển Trung Quốc tình hình và triển vọng”, Viện Khoa học xã hội
Việt Nam, Viện nghiên cứu Trung Quốc, PGS.TS Đỗ Tiến Sâm thực hiện năm 2006
Và một số công trình khác nghiên cứu về thị trường khách du lịch Trung Quốc, hoạt động xúc tiến du lịch Việt Nam vào thị trường Trung Quốc…
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quan về mối quan hệ giữa hai nước Việt Trung để từ đó điều chỉnh những hoạt động thu hút khách Trung Quốc đi du lịch vào Việt Nam Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng hiện tại và đề xuất giải pháp cho thời gian tới là hoạt động thiết thực cho ngành du lịch Việt Nam nói chung
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu thăm khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Quan hệ hợp tác Việt Trung và đặc điểm du lịch Trung Quốc
Chương 2 Thực trạng du lịch Việt Nam và khách du lịch Trung Quốc đến Việt
Nam giai đoạn 2003 – 2008
Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút khách du lịch
Trung Quốc đến Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT TRUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM DU LỊCH TRUNG QUỐC
1.1 Khái quát về đất nước con người Trung Quốc
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa (tên gọi tắt là Trung
Quốc) nằm trong vùng du lịch Châu Á – Thái Bình Dương, rộng 9.600.000km2 Biên giới của Trung Quốc phía Đông giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều tiên; phía Bắc giáp Mông Cổ; Đông Bắc giáp nước Nga; Tây Bắc giáp Kazactan, Tadghigixtan; phía Đông và Đông Nam giáp với Mianma, Lào và Việt Nam; phía Đông
và Đông Nam Trung Quốc có đường biên giới với Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippin, Brunây và Indonexia [20]
Lãnh thổ rộng lớn, điều kiện tự nhiên phong phú, địa hình phức tạp: nhiều dạng địa hình (đồng bằng, bồn địa, cao nguyên, hoang mạc, núi cao) nhưng núi là chủ yếu (chiếm 4/5 diện tích; trong đó gần 1/3 ở độ cao trên 3000m); nhiều kiểu khí hậu (ôn đới gió mùa, ôn đới lục địa, hoang mạc và cận nhiệt gió mùa); nhiều sông lớn chảy theo hướng Tây - Đông (Trường Giang, Hoàng Hà, Châu Giang )
Bờ biển Trung Quốc dài hơn 18.000km (gấp 9 lần bờ biển Việt Nam) Ngoài ra còn có hơn 5000 hòn đảo khác nhau nằm rải rác ở biển phía Đông và phía Nam Trung Quốc Biển ven bờ Trung Quốc có thềm lục địa bằng phẳng và nhiều vịnh, phần lớn vịnh không đóng băng Tổng diện tích mặt nước biển khoảng 4,73 triệu km2 Nằm trong vùng biển Trung Quốc có tới 5.400 đảo, Đài Loan là đảo có diện tích lớn nhất: 36.000
km2, thứ hai là đảo Hải Nam – 34.000km2
[1]
Trung Quốc nổi tiếng với những dãy núi, chúng chiếm 1/3 tổng diện tích của toàn lãnh thổ Khắp đất nước Trung Quốc đâu đâu cũng thấy xuất hiện núi Trung Quốc có tới hàng trăm ngọn núi cao trên 7000m, gần 1000 ngọn núi cao trên 6000m Trong 14 ngọn núi cao nhất thế giới thì Trung Quốc chiếm 9 ngọn
Trung Quốc không chỉ nổi tiếng với những núi non mà còn nổi tiếng với các nguồn nước Trung Quốc có rất nhiều sông, tổng lưu vực hơn 1.500 con sông
Trang 15chiếm diện tích 1.000km2 Phần lớn những con sông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, nước chảy về miền đồng bằng Những thác cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác thủy điện, tổng dữ trữ điện năng lên tới 680 triệu kw, đứng đầu Thế giới Những dòng sông chính chảy qua Trung Quốc là: Trường Giang, Hoàng Hà, Hắc Long Giang… Trong đó dòng sông lớn nhất là sông Trường Giang Dòng sông này chảy qua ba hẻm núi tạo nên những kỳ quan hết sức kỳ thú
Bên cạnh những dòng sông đẹp một cách tự nhiên, Trung Quốc còn nổi tiếng với những con kênh, dòng sông, mặt hồ nhân tạo Trong đó có đến 2000 mặt hồ đẹp nằm rải rác khắp đất nước Trung Hoa tráng lệ Phần lớn hồ nước rất trong, nằm ở vùng bình nguyên, trung lưu và hạ lưu sông Trường Giang và trên cao nguyên Tây Tạng
1.1.1.2 Khí hậu
Phần lớn lãnh thổ Trung Quốc nằm trong vùng khí hậu ôn hòa, đặc trưng bởi
sự thay đổi theo mùa: mùa khô và mùa mưa Từ tháng 9 đến tháng 4, những trận gió mùa đông khô thổi từ Sibêri và cao nguyên Mông Cổ làm cho khí hậu khô và lạnh, nhiệt độ giữa miền Nam và miền Bắc chênh lệch lớn Từ tháng 4 đến tháng 9 gió mùa hè ấm và ẩm thổi từ các biển Đông và Nam làm khí hậu nóng và ẩm, mưa nhiều, sự chênh lệch nhiệt độ không đáng kể Trung Quốc có 6 vùng khí hậu là khí hậu vùng xích đạo, ôn đới, cận ôn đới, ấm, lạnh vừa và lạnh Lượng mưa giảm từ các vùng Đông – Nam tới Tây Bắc, lượng mưa trung bình giữa các vùng chênh lệch lớn, các vùng Đông Nam mưa tới 1.500mm còn tại các vùng Tây Bắc chỉ có 200mm
Nhiệt độ trung bình của Trung Quốc tăng dần từ phía Bắc xuống phía Nam Lượng mưa tăng dần từ phía Tây Bắc sang Đông Nam Mỗi vùng của Trung Quốc
có khí hậu khác nhau Do đó trước khi đến Trung Quốc du khách sẽ phải tìm hiểu trước khí hậu ở nơi mình sẽ đến Đặc biệt, du khách cần lưu ý rằng ở vùng Tây Tạng của Trung Quốc có đến 10 tháng băng giá trong một năm
1.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội
1.1.2.1 Dân số
Trung Quốc với số dân 1.247 triệu người, là nước đông dân nhất thế giới và chiếm 1/4 dân số thế giới Mật độ dân cư khá cao 135 người/km2, phân bố không đồng đều
Trang 16Trung Quốc là một quốc gia đang trên đà phát triển, có tốc độ phát triển kinh
tế nhanh, dân cư nông thôn nhiều hơn dân cư thành thị Dân số Trung Quốc là dân số trẻ vì dân số từ 15 – 64 tuổi chiểm tỷ lệ áp đảo (72,0%), tỷ lệ dân cư trên 65 tuổi chiếm tỷ lệ nhỏ (7,7%) Trung Quốc nổi tiếng là quốc gia có tư tưởng phong kiến, trọng nam khinh nữ, nhưng hiện nay, tỷ lệ nam giới và nữ giới chênh lệch không đáng kể (51,5%- nam/ 48,5% - nữ) Những số liệu này cung cấp cho ngành du lịch nước nhà những thông tin quý giá trong việc xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp, tập trung vào đúng thị trường khách mục tiêu của ngành du lịch [16]
Mức thu nhập của người dân Trung Quốc ngày càng cao, đặc biệt là người dân thành thị Đến năm 2005, mức thu nhập trung bình của dân cư thành thị đã đạt đến con số trung bình là hơn 10.000 nhân dân tệ/người [16]
Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc, gồm 56 dân tộc trong đó có dân tộc Hán chiếm khoảng 92% dân số cả nước, còn lại là dân tộc khác Do người Hán chiếm quá đông nên 55 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số trong đó có một dân tộc Kinh khoảng
2000 người nói tiếng Việt, tập trung ở phía Đông tỉnh Quảng Đông
1.1.2.2 Văn hoá
Nền văn hóa Trung Quốc rất phong phú đa dạng Với lịch sử 5000 năm trải qua bao thăng trầm của các triều đại, Trung Quốc đã tích cho mình một sự thăng hoa về văn hóa rất đặc sắc, tạo sự khâm phục cho toàn Thế giới Trung Quốc cùng với Ai Cập, Ấn Độ và Babylon được coi là những cái nôi văn minh lớn trong nền văn hóa Thế giới Quốc gia này còn là quê hương của bốn phát minh lớn, những cống hiến trọng đại cho Thế giới, đó là: la bàn, chế tạo giấy, kỹ thuật in và làm thuốc nổ Trung Quốc có nền văn hóa lâu đời mà cả Thế giới đều biết như đời Thương 3000 năm trước đã có lịch pháp hoàn thiện Đời Hán hơn 2000 năm trước
đã phát minh ra “máy định vị thiên thể”, đầu thế kỷ XI đã hoàn thành tác phẩm khoa học lớn “Mộng khê bút đàm” và thế kỷ XVII đã hoàn thành công nghệ bách khoa toàn thư “Thiên công khai vật” Văn hóa cổ Trung Hoa đã có nhiều ảnh hưởng tới Phương Đông, thơ Đường, Tống từ, Nguyên khúc trong văn học cổ đại
Trang 17Trung Quốc và các tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng như “Tây du ký”, “Tam quốc diễn nghĩa”, “Hồng lâu mộng”… đã ảnh hưởng sâu rộng và lưu truyền khắp nơi
Tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới
tiêu dùng của du khách là người Trung Quốc (Năm 1994, Davis Hitchcok, cựu
giám đốc phòng Đông Á – Thái Bình Dương thuộc cơ quan thông tin Bộ ngoại giao
Mỹ (USIA) đã tiến hành cuộc nghiên cứu so sánh quan niệm sống của người Đông
Á Ông đã thực hiện một cuộc điều tra quy mô lớn về quan niệm giá trị ở những người Trung Quốc Ông chia các giá trị có ý nghĩa định hướng hành vi thành các giá trị xã hội (Cần cù, Hiếu học, Trung thực, Tự lực cánh sinh, kỷ luật) và các giá trị con người (Xã hội trật tự, Sự hòa hợp xã hội, Các quan chức có trách nhiệm, Cởi mở đón nhận tư tưởng mới, Tự do ngôn luận, Tôn trọng chính quyền) (www.aseanta.org)
Trung Quốc là một quốc gia đa tôn giáo: Đạo Giáo, Đạo Phật, Đạo Hồi, Thiên Chúa, Cơ Đốc Những tôn giáo chính ở Trung Quốc là Phật giáo, Hồi giáo, Chính thống giáo và Thiên chúa giáo Đạo giáo là tôn giáo truyền thống của Trung Quốc Những dân tộc khác nhau có tín ngưỡng khác nhau trong đó có 10 dân tộc theo đạo Hồi tập trung ở vùng Duy Châu, Tây An, Bắc Kinh, Thượng Hải; các dân tộc khác theo đạo Phật; còn một số ít dân tộc theo đạo Cơ Đốc và đạo Thiên Chúa Pháp luật đảm bảo mỗi công dân có quyền tự do tín ngưỡng Trung Quốc có hơn
100 triệu tín đồ, hơn 100 ngàn chùa chiền, nhà thờ và cơ sở tôn giáo, hơn 3 ngàn tổ chức tôn giáo, 76 trường học tôn giáo
Ngày Tết truyền thống của đất nước Trung Hoa: Tết Nguyên Đán (giống Việt Nam); Nguyên tiêu (15 tháng giêng); Thanh minh (5/4); Đoan ngọ (5/5); Xá tội vong nhân (15/7); Trung thu (15/8); Ông Công ông Táo (23 tháng chạp) Ngoài
ra, các dân tộc thiểu số còn có các ngày tết riêng của họ
1.1.2.3 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ chủ yếu của người Trung Hoa là nói tiếng phổ thông – tiếng Hán, nhưng là một quốc gia đa dân tộc nên mỗi dân tộc có tiếng nói riêng của mình như
Trang 18tiếng Bạc Và, tiếng Choang, tiếng Mông Cổ, Tây Tạng và một số tiếng dân tộc thiểu số khác
Tiếng Hán là một trong 5 ngôn ngữ chính thức sử dụng tại Liên Hợp Quốc
1.1.2.4 Kinh tế
Trung Quốc là một nước có nền kinh tế đang ở trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế phát triển dựa trên cơ chế kế hoạch hóa tập trung “khép kín” sang nền kinh tế phát triển dựa trên cơ chế thị trường “mở” chịu sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sau 30 năm tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế
Từ năm 1978-2007 [46], tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP Trung Quốc là
9,8%, cao hơn 3% so với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của thế giới trong cùng thời kỳ GDP của Trung Quốc năm 2007 đạt 3.280 tỷ nhân dân tệ (481 tỷ USD), tương đương 23,7% GDP của Mỹ, 74,9% GDP của Nhật Bản và 99,5% GDP của Đức
Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người ở Trung Quốc đạt 2.360 USD
Năm 2007, kim ngạch xuất nhập khẩu Trung Quốc đạt 2.170 tỷ USD, tăng
107 lần so với mức 20,6 tỷ USD của năm 1978 Từ vị trí 32 trong buôn bán trên thế giới, từ khi bắt đầu thực hiện chính sách cải cách mở cửa, đến năm 2004 Trung Quốc đã vươn lên đứng thứ 3 thế giới Nhờ chính sách buôn bán khôn khéo Trung Quốc đã nhanh chóng tích lũy được lượng dự trữ ngoại tệ dồi dào Chính phủ Trung Quốc chủ trương chú trọng khâu tái chế, nhanh chóng biến Trung Quốc trở thành "công xưởng thế giới" Các nhà nhập khẩu nước ngoài hưởng phần lớn số lợi nhuận được tạo ra từ "công trường thế giới" nhưng bù lại quá trình gia công chế biến đã giúp Trung Quốc gia tăng lượng dự trữ ngoại tệ Với số tiền dự trữ ngoại tệ lớn, Trung Quốc có thể đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay
Trước năm 1992, Trung Quốc hầu như phải mượn tiền của nước ngoài, đặc biệt
là thông qua các khoản vay Năm 1992, lần đầu tiên lượng tiền đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc vượt số tiền vay nước ngoài Kể từ đó, FDI trở thành kênh quan trọng nhất để Trung Quốc thu hút tư bản nước ngoài
Trang 19Năm 1983, FDI vào Trung Quốc chỉ đạt 916 triệu USD nhưng đến năm
2007, con số này đã đạt 74,8 tỷ USD, tăng 81 lần Tính đến cuối năm 2007, Trung Quốc đã thu hút được trên 770 tỷ USD từ FDI với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 20,1%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP
Năm 2001, Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từng bước mở cửa thị trường tài chính của mình và hoàn thiện các quy định, văn bản luật pháp có liên quan Hiện nay Trung Quốc đã thông qua 54 nhà đầu tư nước ngoài đủ tiêu chuẩn có thể đầu tư với tổng số tiền 30 tỷ USD vào thị trường tài chính Trung Quốc Trung Quốc cũng đang mở dịch vụ môi giới chứng khoán cho các cơ quan tài chính liên doanh Trung Quốc với nước ngoài Tháng 4/2008, Ủy ban quản lý chứng khoán Trung Quốc phê chuẩn 7 công ty chứng khoán liên doanh chứng khoán và 31 công ty liên doanh quản lý quỹ Tính đến cuối năm 2007, các nhà đầu tư nước ngoài đã cổ mua cổ phần trong 21.800 doanh nghiệp trong nước
Trong vòng 30 năm cải cách mở cửa, thành phần kinh tế phi tập thể trong nền kinh tế đã phát triển với tốc độ nhanh Hiện tại, thành phần kinh tế nhà nước không còn đóng vai trò độc quyền ở Trung Quốc Kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài cùng tồn tại trong hệ thống kinh tế của quốc gia này
Số liệu của NBS cho thấy (theo www.aseanta.org), năm 1978, xí nghiệp quốc doanh chiếm 77,6% tổng sản lượng công nghiệp Trung Quốc Đến năm 2007, tỷ lệ này chỉ còn chiếm 29,5% Mặc dù tỷ lệ giảm, nhưng kinh tế quốc doanh vẫn là yếu
tố quan trọng trong kinh tế Trung Quốc Đóng góp lớn nhất của thành phần kinh tế phi tập thể đối với kinh tế Trung Quốc là duy trì sự cân bằng giữa cung và cầu
Năm 2007, sản lượng lương thực của Trung Quốc đạt 501,6 triệu tấn, tăng 64,6%
so với sản lượng lương thực của năm 1978 Giá trị gia tăng công nghiệp năm 2007 vượt mức 10.000 tỷ nhân dân tệ (1.470 tỷ USD), tăng 23 lần so với năm 1978
Năm 2007, Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng sản phẩm nông nghiệp như ngũ cốc, thịt và bông Các sản phẩm công nghiệp như thép, than đá, xi măng và phân hóa học của Trung Quốc cũng đạt sản lượng hàng đầu thế giới
Trang 20Sự phát triển vượt bậc về kinh tế của Trung Quốc chính là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nhu cầu đi du lịch nước ngoài (Outbound) của người dân Trung Quốc
1.1.2.5 Giao thông
Giao thông ở Trung Quốc rất thuận tiện Khách du lịch có thể sử dụng nhiều loại hình phương tiện giao thông khác nhau như: đường xe lửa (khoảng 64.000km), đường bộ (1.029 triệu km) Ngoài ra có hai cảng biển chính là Thượng Hải và Quảng Châu Nhiều sân bay quốc tế lớn như: Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu
1.2 Khái quát về sự phát triển du lịch của Trung Quốc
1.2.1 Lý luận chung về thị trường du lịch
Theo TS.Nguyễn Văn Lưu: Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung,
một phạm trù của sản xuất lưu thông hàng hoá, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch
Dưới quan điểm marketing người bán họp thành ngành sản xuất, còn người mua thì họp thành thị trường Mối quan hệ giữa ngành sản xuất, chẳng hạn ngành
du lịch và thị truờng được thể hiện qua sơ đồ 1.1
Thị trường du lịch xuất hiện muộn hơn so với thị trường hàng hoá và nó có một số đặc điểm sau:
- Trên thị trường du lịch không có sự dịch chuyển của hàng hoá và dịch vụ du lịch từ nơi sản xuất đến nơi ở của khách hàng, điều đó cũng có nghĩa là khách mua sản phẩm phải đi đến tận nơi để tiêu dùng và thẩm nhận những giá trị của sản phẩm
- Trên thị trường du lịch, cung-cầu chủ yếu là về dịch vụ, bao gồm các dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung, xu hướng thay đổi tỷ trọng giữa dịch vụ cơ bản và dịch vụ bổ sung ngày càng thể hiện rõ ở chỗ: tỷ trọng tiêu dùng của dịch vụ bổ sung ngày càng cao lên
- Do sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể do vậy việc mua, bán trên thị trường không có dạng hiện hữu của sản phẩm, người mua không nhìn được sản phẩm nên khó đánh giá thực chất giá trị của nó Các khâu chào bán, lựa chọn, cân
Trang 21nhắc, trả giá và quyết định mua, bán thông qua những thông tin như các ấn phẩm quảng cáo, kinh nghiệm trong quá khứ và những thông tin truyền miệng
- Trên thị trường du lịch, đối tượng mua bán rất đa dạng, ngoài hàng hoá và dịch vụ, đối tượng mua bán còn là những giá trị tiềm ẩn trong sản phẩm du lịch như những giá trị nhân văn, giá trị của tài nguyên du lịch
- Quan hệ thị trường giữa người mua và người bán là một khoảng thời gian khá dài từ khi người mua quyết định mua đến khi khách thực hiện xong chuyến đi
và trở về nơi ở của họ Đặc điểm này khác biệt so với thị trường các hàng hoá khác
- Sản phẩm du lịch được trao đổi trên thị trường là loại sản phẩm dễ hỏng, nó mang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ, ngoài ra còn có các đặc trưng riêng như một sản phẩm thường là do nhiều nhà cung ứng các dịch vụ khác nhau tạo ra một sản phẩm chung; sản phẩm có thể trọn gói hay từng dịch vụ riêng rẽ
- Một đặc điểm rất quan trọng khác của thị trường du lịch là mang tính mùa vụ rất rõ nét, điều này thể hiện rõ ở cả cung và cầu một loại sản phẩm du lịch nào đó chỉ xuất hiện trong những thời kỳ nhất định xét dưới góc độ một không gian cụ thể
- Thị trường du lịch chịu ảnh hưởng rất lớn của các biến động kinh tế, chính trị, văn hoá
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa ngành du lịch và thị trường
Truyền thông giao tiếp Sản phẩm du lịch
Tiền
Thông tin ngược
1.2.2 Sơ lược về sự phát triển du lịch của thị trường Trung Quốc
Ở Trung Quốc, cơ quan du lịch quốc gia là Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc (CNTA) được thành lập từ năm 1949, ban đầu là một bộ phận của Bộ Ngoại giao, sau đó tách riêng hoạt động độc lập, phụ trách quản lý Nhà nước về du lịch trên phạm vi cả nước Ngành du lịch Trung Quốc mới thực sự phát triển từ năm 1978 khi Chính phủ Trung Quốc khẳng định tiềm năng đóng góp của du lịch đối với tăng
mua)
Trang 22trưởng kinh tế và chú ý, quan tâm nhiều hơn vào ngành du lịch CNTA chịu trách nhiệm chung về những vấn đề: xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch và các chính sách liên quan, xây dựng hệ thống thông tin, phụ trách xúc tiến quảng bá chung, quản lý các doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài, phê duyệt các
dự án đầu tư vào du lịch; quản lý thống nhất để đảm bảo chất lượng các dịch vụ lữ hành, khách sạn cũng như các cơ sở lưu trú khác CNTA được giao nhiều trọng trách hơn bao gồm cả việc giám sát sử dụng vốn đầu tư xây dựng khách sạn và xây dựng các chính sách thu hút khách du lịch nước ngoài Trước năm 1983, Chính phủ Trung Quốc không cho phép người dân của mình đi du lịch ra nước ngoài Chỉ những công chức nhà nước mới được phép xuất ngoại Ngoài ra có một số ít trường hợp ngoại lệ, chủ yếu là những đối tượng thăm thân nhân Chỉ từ năm 1984, chính sách này mới được từng bước tháo bỏ, Chính phủ Trung Quốc đã cho phép công dân đi
du lịch bằng tiền riêng nhưng lại bị giới hạn bởi các điểm điểm du lịch chính thức
(Approved Destination Status, ADS)
Đến năm 1983, Chính phủ mới bắt đầu cho phép người Trung Quốc đi thăm bạn bè người thân ở Hồng Kông và Ma Cao Với sự phát triển và vai trò ngày càng quan trọng của mình, từ năm 1986 du lịch đã được đưa vào thành một nội dung trong
kế hoạch phát triển chung của đất nước Nhà nước đã chú trọng nhiều hơn tới đầu tư vào du lịch cũng như có những biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này
Vào những năm 90 của thế kỷ XX, với vai trò tích cực của CNTA, ngành du lịch Trung Quốc phát triển mạnh cả inbound (đón khách du lịch quốc tế đến) và outbound (đưa khách Trung Quốc đi du lịch nước ngoài) Năm 1990, ngành du lịch Trung Quốc cho phép công dân của mình thực hiện các tour du lịch gia đình đến Singapore, Malaysia và Thái Lan, sau đó là đến Philipines
Cùng với chính sách thu hút khách, Trung Quốc có những chính sách nới lỏng cho hoạt động du lịch outbound tuy vẫn duy trì chủ trương “phát triển du lịch quốc tế xuất cảnh vừa phải” Năm 1997, cùng với việc thực hiện các quy định đối với người Trung Quốc đi du lịch nước ngoài bằng tiền riêng của mình nhằm ngăn chặn việc thăm nhũng, dùng tiền công đi du lịch, Trung Quốc đã cho phép thêm một số điểm
Trang 23công dân của mình có thể đi du lịch tới Hàn Quốc, Úc, New Zealand và Nhật Bản
Số lượng khách outbound của Trung Quốc liên tục tăng Theo con số thống kê, cứ 10
người khách du lịch nước ngoài vào Trung Quốc thì có 1 người Trung Quốc đi du lịch ra nước ngoài[11] Theo báo cáo của WTO, trong thời kỳ thập kỷ 90, khách
Trung Quốc đi ra nước ngoài du lịch chủ yếu tới khu vực Đông Á – Thái Bình
Dương Năm 1997, lần đầu tiên CNTA thực hiện một chương trình Năm du lịch
Trung Quốc ’97 Ngay sau do, năm 1998, du lịch đã đóng góp 4,1% vào GDP, mang
lại cho Trung Quốc 12,6 tỷ USD[37], gấp 10 lần so với năm 1978 Theo Tổ chức du lịch Thế giới, năm 1999 đã có 72,8 triệu lượt khách quốc tế tới, mang lại cho Trung Quốc hơn 14 tỷ USD (con số này chiếm 7,2% tổng thu ngoại tệ từ xuất khẩu của
nước này) Với thành tích đó, Trung Quốc đã vươn lên “vị trí thứ năm trên Thế giới
về lượng khách quốc tế tới và vị trí thứ 6 về thu nhập ngoại tệ từ du lịch” [11]
Năm 1999, với tổng số 7,5 triệu lượt người Trung Quốc đi du lịch nước ngoài thì
có tới 6,6 triệu lượt người tới khu vực này, chiếm tới 87,2% thị phần Đó một phần là do những chính sách hạn chế người dân đi du lịch nước ngoài chỉ được tới một số điểm nhất định của Chính phủ Trung Quốc Thu nhập của người dân vẫn thấp, chỉ có một số nhỏ người dân ở các thành phố lớn có khả năng đi du lịch ở những điểm du lịch xa như Mỹ, Canada… Du lịch thuần túy vẫn là nhu cầu mới mẻ, chưa phải thường xuyên đối với người dân, họ sẽ bắt đầu bằng việc tìm hiểu những điểm du lịch gần hơn, trước khi đi tới những nơi xa lạ Bên cạnh đó những nước thuộc khu vực Đông Á - Thái Bình Dương có những nét tương đồng với văn hóa Trung Quốc, làm cho người dân Trung Quốc thấy gần gũi hơn Ngoài ra, những điểm du lịch ở khu vực này cũng đẩy mạnh tuyên truyền quảng
bá nhằm tới thị trường khách Trung Quốc với những tour du lịch giá cả phù hợp hơn
Cho đến nay có hơn 249.000 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực liên quan đến du lịch ở Trung Quốc Trong đó, có 2.000 hãng lữ hành hoạt động trong lĩnh vực du lịch quốc tế, có quan hệ với rất nhiều bạn hàng ở các nước trên Thế giới và có 4.882 các doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ khác
(www.aseanta.org) CNTA đã có những ràng buộc trách nhiệm với 672 hãng lữ hành được
công nhận và cấp phép bởi CNTA Hãng lữ hành sẽ có cam kết ràng buộc với CNTA và
Trang 24đóng khoản phí cấp phép hàng năm cho CNTA Các hãng này chịu trách nhiệm về việc ở quá hạn của du khách và kiểm tra các trường hợp đăng ký đi du lịch, đồng thời đặt ra hạn mức ký quỹ từ 6.250 đến 37.5000 nhân dân tệ được xác định trên cơ sở hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của người đăng ký và điểm đến đăng ký (Theo bản tin Du lịch Trung Quốc)
Trung Quốc là một trong những thị trường gửi khách mà nhà nước chi phối
và kiểm soát chặt chẽ nhất Cho đến hiện nay, Trung Quốc vẫn chưa cho phép cá nhân tự bỏ tiền đi du lịch nước ngoài Nhà nước chỉ cho phép một số đối tượng đi theo một số loại hình du lịch nhất định, bao gồm: du lịch do người thân ở nước ngoài đài thọ, du lịch thăm thân nhân (chi phí cũng phải do thân nhân đài thọ), du lịch công vụ, du lịch theo đoàn Do nhu cầu du lịch của người dân ngày càng cao, các doanh nghiệp lữ hành Trung Quốc cũng như các cá nhân đã vận dụng khá linh hoạt các quy định của nhà nước để tổ chức các hoạt động du lịch ra nước ngoài Chính vì vậy, số lượng khách du lịch Trung Quốc ra nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng, đến năm 2001 con số này đã đạt tới hơn 12 triệu khách [20]
Đại bộ phận khách du lịch Trung Quốc trong thời gian qua đa phần tới các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương Chỉ một số rất nhỏ là đến các nước ngoài khu vực này (chủ yếu là châu Âu, năm 2001 là khoảng 600,000 lượt) Lý do là phần lớn các nước phát triển vẫn chưa thật sự thông thoáng trong việc cấp visa cho khách du lịch Trung Quốc nhập cảnh vào nước họ.Và chỉ sau đó hai năm, lượng du khách đi du lịch nước ngoài của Trung Quốc đã thay đổi tương đối lớn Năm 2003, lượng khách Trung
Quốc đến Việt Nam là 693,4 ngàn lượt Năm 2004 là 778,4 ngàn lượt (Nguồn: WTO)
Để thu hút được khách du lịch của đất nước Trung Hoa, một điều kiện gần như bắt buộc là quốc gia (hoặc điểm đến) đó phải được chính phủ Trung Quốc công nhận là ADS Muốn được công nhận là điểm du lịch chính thức, phải có sự thoả thuận ở cấp Chính phủ của 03 bộ (ngành) có liên quan là Bộ Ngoại giao, Bộ An ninh công cộng và Cơ quan Du lịch quốc gia của Trung Quốc cùng với sự hợp tác của quốc gia đón nhận khách du lịch Trung Quốc Trước năm 1999 chỉ có 05 nước được Trung Quốc công nhận là ADS, trong 2 năm 1999 - 2000, Trung Quốc đã công nhận thêm 8 nước khác, trong đó có Việt Nam Các doanh nghiệp lữ hành Trung Quốc chỉ
Trang 25sẽ có ngày càng nhiều người dân Trung Quốc có khả năng đi du lịch nước ngoài nếu
họ đi theo qui định các điểm đến chính thức ADS
Trong hoạt động đón khách du lịch Trung Quốc gần đây có một hiện tượng hiếm thấy trong kinh doanh du lịch thế giới, đó là giá các chương trình trọn gói cho khách du lịch Trung Quốc gần như bằng không (zero - cost tour) Khi áp dụng phương thức này, các doanh nghiệp lữ hành Trung Quốc hầu như không trả tiền cho các dịch
vụ du lịch (ăn ở, đi lại, tham quan) mà họ nhận được từ các doanh nghiệp lữ hành nhận khách (mặc dù các công ty lữ hành vẫn thu tiền từ khách du lịch Trung Quốc)
Trong những năm vừa qua thị trường gửi khách Trung Quốc tăng trưởng
mạnh mẽ hơn do kinh tế tiếp tục phát triển với tốc độ cao, “đạt đến con số 7,9%
cho năm 2002 và trong năm 2005, người Trung Quốc đi du lịch nước ngoài là 35,71 triệu lượt, tăng trưởng hàng năm đạt 27,8%” [2, P96] Chính phủ đã nới
rộng các quy định về đi du lịch nước ngoài Người Trung Quốc ngày càng được nghỉ nhiều hơn với 03 kỳ nghỉ 1 tuần vào Tết Âm lịch, Quốc khánh Trung Quốc (01/10) và ngày Quốc tế lao động (01/5) cộng với khoảng 2 tuần nghỉ phép năm Tổng cộng người Trung Quốc có tới 5 tuần nghỉ ngơi trong 1 năm, thuộc vào loại
cao nhất trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Như vậy, trong tương lai
không xa, Trung Quốc sẽ trở thành thị trường gửi khách lớn nhất Châu Á, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngành du lịch các nước trong khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam
1.3 Một số xu hướng phát triển của thị trường khách du lịch Trung Quốc
Nhờ thành quả phát triển kinh tế, người dân sẽ ngày càng có nhiều thời gian nghỉ ngơi dành cho nhu cầu du lịch Tuy nhiên, hiện nay người Trung Quốc đi du
lịch chủ yếu vẫn chọn các tour ngắn ngày Những người ở tuổi nghỉ hưu (chiếm
7,7% dân số cả nước – số liệu đã phân tích ở trên) có thể có nhiều thời gian rỗi hơn
nhưng do người Trung Quốc có thói quen đi du lịch theo nhóm, gia đình nên thời gian cho chuyến đi lại bị phụ thuộc vào những người trong gia đình hiện vẫn đang làm việc nên bị hạn chế về thời gian đi nghỉ
Trang 26Vì vậy, khi xem xét xu hướng đi du lịch nước ngoài (outbound) của Trung Quốc cũng cần xem xét chính sách lao động của Chính phủ nước này Hiện nay, Trung Quốc
đang áp dụng chế độ nghỉ phép trong năm: Làm việc 20 năm được nghỉ phép 20
ngày/năm, làm việc 15 năm được nghỉ phép 15 ngày/năm Đối với chính sách hưu trí,
Trung Quốc vẫn áp dụng chế độ nghỉ hưu đối với nam giới là 60 tuổi và đối với nữ giới
là 55 tuổi Thời gian nghỉ phép trong năm của người dân Trung Quốc tương đối dài, nhất
là vào dịp tết nguyên đán (tết cổ truyền) của người dân được nghỉ 10 ngày để đi du lịch
Với dân số hơn 1,2 tỷ người, Trung Quốc là một thị trường nguồn hết sức tiềm năng Tuy nhiên, phần lớn người dân Trung Quốc có mức thu nhập chưa cao, nhu cầu du lịch còn nhiều hạn chế, nên mới chỉ dừng lại nhiều ở nhu cầu du lịch trong nước Tiềm năng đối với hoạt động du lịch outbound chỉ tập trung nhiều ở các thành phố lớn bởi nguồn thu nhập của người dân nơi đây cao hơn và tương đối ổn định Vì vậy trong thời gian tới, thị trường outbound Trung Quốc sẽ có tiềm năng lớn đối với các nước láng giềng, những nước có thể cung cấp những tour du lịch ngắn ngày và giá cả phù hợp với đa phần người dân lao động
Dựa trên xu thế phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu trong cuộc sống có nhiều thay đổi do đó nhu cầu xã hội về du lịch sẽ ngày càng phát triển hơn, phong phú đa dạng hơn
Theo các báo cáo của CNTA, những năm gần đây, do kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ làm cho mức sống của đa phần dân Trung Quốc, đặc biệt là các trung tâm kinh tế, các thành phố lớn đạt mức rất cao Đó là lý do chính để Trung Quốc đang và sẽ trở thành một thị trường gửi khách quan trọng Thăm gia các chuyến du lịch trở thành mốt thời thượng, trở thành trào lưu của người dân Trung Hoa Một đặc thù nữa là mặc dù mức sống của người dân được cải thiện nhưng chỉ phần nhỏ có khả năng chi tiêu cao để đi tới các điểm du lịch xa xôi như Mỹ, Châu
Âu, còn lại đa phần chỉ đủ tiền du lịch tới các điểm du lịch trong khu vực Như vậy, Trung Quốc là thị trường nguồn chủ yếu cho các nước trong khu vực châu Á Điều này cũng thể hiện trong chính sách du lịch của Trung Quốc với 15 quốc gia trong danh mục điểm đến do Chính phủ Trung Quốc quy định, và đa phần là các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Trang 27Bên cạnh đó, có một thách thức đối với các nước muốn khai thác thị trường nguồn Trung Quốc kể cả các nước trong khu vực Trung Quốc là một đất nước diện tích rộng, có nhiều tài nguyên du lịch, nhiều kỳ quan, di tích lịch sử, thắng cảnh tự nhiên Vì vậy, bản thân các khu du lịch trong nước, hoạt động du lịch nội địa (Domestic) trên khía cạnh nào đó sẽ là đối thủ cạnh tranh của các điểm du lịch nước ngoài Hầu hết ở các nước trên Thế giới, hoạt động du lịch outbound không được khuyến khích và được nhiều ưu đãi như du lịch nội địa, hay du lịch đón khách quốc
tế inbound và Trung Quốc cũng không phải là một quốc gia nằm ngoài ngoại lệ
Thực tế hiện nay, Cơ quan quản lý Du lịch Quốc gia Trung Quốc cũng đã chuẩn
bị đối phó phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của lượng khách du lịch trong nước Theo
con số thống kê chưa đầy đủ, có khoảng 740 triệu lượt khách đi du lịch nội địa ở Trung Quốc Con số lớn nhất về lượng khách du lịch nội địa trên Thế giới [12, P54] Đạt được
thành tựu trên là do thu nhập bình quân trên đầu người ngày càng tăng, chính sách lao động của Chính phủ cũng thay đổi nhiều theo hướng quan tâm đến quyền lợi của người lao động bằng cách tăng thời gian nghỉ phép trong năm và tăng thời gian nghỉ trong mỗi đợt nghỉ phép Du lịch nội địa ngày càng phát triển và lẽ tất yếu du lịch outbound sẽ tăng nhanh chóng Tuy nhiên ở Trung Quốc lượng khách outbound sẽ tăng mạnh trong một vài năm tới, điều này dựa vào những lý do đang được khắc phục như sau:
Những quy định, khó khăn trong việc cấp hộ chiếu, thị thực cho người Trung Quốc ra nước ngoài; Chính sách hạn chế số lượng các nước mà Trung Quốc cho phép các hãng lữ hành hai bên có thể trao đổi đưa khách Trung Quốc đi du lịch nước ngoài Tới tháng 6/2000 mới chỉ có 15 nước và vùng lãnh thổ được nhận khách Trung Quốc, chủ yếu tập trung khu vực Đông Á và Đông Nam Á, Trung Quốc cũng chỉ hạn chế một
số lượng nhất định các hãng lữ hành có thể đưa khách du lịch Trung Quốc đi ra nước ngoài Đối với mỗi một nước, căn cứ vào nhiều yếu tố, CNTA quy định số lượng nhất định các hãng lữ hành này Ví dụ điển hình là đối với Việt Nam, CNTA cho phép 75 hãng lữ hành Trung Quốc được phép đưa công dân Trung Quốc đi du lịch Việt Nam
Tháng 6 năm 2000, CNTA đã công bố một loạt chính sách, quy định pháp luật liên quan đến du lịch, trong đó có cân nhắc một số nước Tây Âu để đưa vào danh sách
Trang 28các nước là điểm du lịch của du khách Trung Quốc sau khi Trung Quốc trở thành thành
viên chính thức của Tổ chức Thương Mại Thế giới (Ngày 11/12/2001, Trung Quốc
chính thức trở thành thành viên thứ 143 trong “đại gia đình” WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) - cơ quan điều tiết thương mại lớn nhất thế giới)[45] Theo dự đoán của
WTO, cùng với tốc độ phát triển chung của ngành du lịch sẽ có ngày cùng một lúc nhiều hãng lữ hành hoạt động kinh doanh đưa người Trung Quốc đi du lịch nước ngoài để đáp ứng nhu cầu của 100 triệu người Trung Quốc đi du lịch nước ngoài hàng năm vào những năm của thế kỷ 21 này
Một xu hướng nữa là do tiềm năng to lớn của thị trường Trung Quốc, các điểm
du lịch đang và sẽ cạnh tranh gay gắt để chiếm lĩnh thị phần khách Trung Quốc Hiện nay rất nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia trong cùng vùng lãnh thổ với Trung Quốc đã nhìn thấy tiềm năng của thị trường nguồn này Các điểm đến này đã từng bước thiết lập các quan hệ để khai thác nguồn khách du lịch to lớn từ đất nước Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc và Nhật Bản Với những chính sách xây dựng sản phẩm phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi trong vấn đề đi lại, tạo điều kiện để các hãng lữ hành nước ngoài thiết lập với các hãng lữ hành Trung Quốc trong vấn đề kinh doanh Đồng thời với việc thực hiện các chương trình xúc tiến, các nước này đã chuẩn bị thu xếp để tăng thị phần của mình trong thị trường đi du lịch nước ngoài của quốc gia rộng lớn này
1.4 Quan hệ hợp tác hai nước Việt Nam – Trung Quốc
1.4.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao
Kể từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt - Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên Đến nay, hai nước đã ký nhiều hiệp định cấp Chính phủ và các văn kiện hợp tác khác, đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước Hai bên đã khai thông đường hàng không, đường biển, đường bộ, đường sắt, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu hàng hoá và hành khách giữa hai quốc gia
Trong các chuyến thăm, Lãnh đạo cấp cao hai nước nhấn mạnh tình hữu nghị Việt - Trung là tài sản quý báu của Đảng và nhân dân hai nước, cần được hết
Trang 29sức giữ gìn và không ngừng vun đắp; khẳng định sẽ làm hết sức mình để đưa quan
hệ đó ngày càng sâu sắc hơn, tin cậy hơn, cùng ủng hộ lẫn nhau trong sự nghiệp đổi mới, cải cách mở cửa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
- Hai bên thành lập Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc (11/2006) và đã tiến hành 2 phiên họp (phiên thứ 2 họp tại Bắc Kinh tháng 1/2008)
- Giao lưu giữa thế hệ trẻ 2 nước tiếp tục được duy trì (tháng 10/2008, đã diễn ra cuộc “Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt Nam - Trung Quốc” lần thứ 8 với chủ đề Giao lưu hữu nghị Việt - Trung)
- Quan hệ giữa các ngành quan trọng như ngoại giao, an ninh, quốc phòng tiếp tục được tăng cường với việc ký các thỏa thuận hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (12/2002), hai Bộ Công an (9/2003), hai Bộ Quốc phòng (10/2003); hai ngành An ninh (3/2005), Thoả thuận hợp tác biên phòng (8/2007) và Thỏa thuận về hợp tác giữa hai Tổng Cục chính trị Bộ Quốc phòng hai nước (12/2007) Năm 2008, hai bên trao đổi các đoàn quan trọng: Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì thăm Việt Nam (4/2008); Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc Mạnh Kiến Trụ thăm Việt Nam và dự “Hội nghị Bộ trưởng giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Công an Trung Quốc về hợp tác phòng chống tội phạm lần thứ nhất”(12/2008); Tổng thăm mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Khắc Nghiên thăm Trung Quốc (11/2008)[25]
- Quan hệ giữa các địa phương hai bên cũng được tăng cường với nhiều hình thức đa dạng và thiết thực như trao đổi đoàn các cấp, ký kết các văn bản hợp tác, cùng nhau tổ chức hội thảo, triển lãm
Năm 2008, hai bên tiến hành phiên họp lần thứ nhất Ủy ban công tác liên hợp giữa 3 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh với Quảng Tây tại Quảng Ninh và giữa
4 tỉnh Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu với Vân Nam tại Lào Cai Các tỉnh biên giới trao đổi biện pháp tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực cụ thể, chú trọng hiệu quả thiết thực, trong đó có việc xây dựng đường biên giới hai nước thành đường
biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và phát triển Trong khuôn khổ hợp tác “hai
hành lang, một vành đai kinh tế” (Hai hành lang kinh tế gồm: “Côn Minh – Lào Cai
Trang 30– Hà Nội – Hải Phòng” và “Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng” và “vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ”), hai bên tổ chức hội nghị lần thứ 4 về hợp tác kinh tế giữa
Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Lào Cai với Vân Nam, Trung Quốc[35]
- Hiện nay ta có các Tổng lãnh sự quán tại Quảng Châu, Nam Ninh, Côn Minh, Hồng Kông Tháng 11/2007, Đại sứ quán ta tại Trung Quốc mở Văn phòng Lãnh sự tại Thượng Hải
- Hai bên tích cực trao đổi, phối hợp lập trường trên nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, đặc biệt là phối hợp trong HĐBA/LHQ kể từ khi Việt Nam là Ủy viên không thường trực HĐBA/LHQ
Thông qua các cuộc hội đàm và gặp gỡ cấp cao trong suốt thời gian qua, lãnh đạo hai nước đã điểm lại và tổng kết những thành quả to lớn mà quan hệ hữu nghị, hợp tác, toàn diện giữa hai Đảng, hai nước đã giành được 55 năm qua kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt từ khi bình thường hóa cho đến nay và
nhất trí cho rằng : “tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau, tin cậy
lẫn nhau và hợp tác cùng nhau” là kinh nghiệm quan trọng để quan hệ hai Đảng,
hai nước phát triển ổn định, lành mạnh và thuận lợi Đây chính là tổng kết sâu sắc
về quan hệ Việt – Trung trong suốt 55 năm qua Trên cơ sở đó hai bên đi tới thống
nhất: “sẽ đưa hai nước Việt – Trung phát triển lên một tầm cao mới” (Tuyên bố
chung Việt Nam – Trung Quốc năm 2005) (http:aseant.org)
Thông cáo chung và tuyên bố chung năm sau 55 quan hệ Việt – Trung ngoài việc
tỏ rõ sự đồng thuận phát huy những kết quả đạt được, đưa quan hệ Việt – Trung phát triển một cách toàn diện hơn, có chiều sâu hơn… còn đề cập nhiều tới xây dựng mối quan hệ
tin cậy và bền vững Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc viết: “Hai bên quyết tâm
xuất phát từ đại cục và tầm cao chiến lược, áp dụng các biện pháp có hiệu quả, làm sâu sắc và triển khai toàn diện quan hệ hai Đảng, hai nước…” , đây là nét mới đánh dấu bước
phát triển vượt bậc trong mối quan hệ Việt – Trung trong suốt 55 năm qua
Không chỉ vậy, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, Tổng Bí thư hai Đảng
đã xác định phương châm 16 chữ phát triển quan hệ hai nước trong thế kỷ 21 là
"láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" Điều
Trang 31này phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Hai bên khẳng định lại, tiếp tục căn cứ theo tôn chỉ và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc, 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình và các nguyên tắc quan
hệ quốc tế đã được thừa nhận, thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển toàn diện Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị trên cơ sở các nguyên tắc: độc lập tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
Để thực hiện có hiệu quả phương châm chỉ đạo 16 chữ, không ngừng thúc đẩy quan hệ hai nước bước sang một giai đoạn phát triển mới trong thế kỷ 21, hai bên đồng ý tăng cường và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực sau:
- Duy trì gặp gỡ cấp cao thường xuyên, tạo thêm động lực mới thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển; tăng cường hơn nữa tiếp xúc hữu nghị và giao lưu hợp tác dưới nhiều hình thức giữa các ban ngành, các tổ chức quần chúng và các địa phương của hai nước
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục đối với thế hệ trẻ hai nước về truyền thống hữu nghị; triển khai trao đổi, giao lưu hữu nghị giữa thanh thiếu niên hai nước, góp phần tăng cường sự tin cậy và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, làm cho tình hữu nghị, sự tin cậy và hợp tác giữa nhân dân hai nước được kế tục và không ngừng phát triển
- Trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, coi trọng hiệu quả thực tế, bổ sung ưu thế cho nhau, hình thức đa dạng, cùng nhau phát triển, tiếp tục tăng cường
và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế thương mại và khoa học kỹ thuật giữa hai nước Vì vậy, hai bên đồng ý cùng nỗ lực trong các lĩnh vực sau:
+ Phát huy đầy đủ vai trò của ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế thương mại trong việc tăng cường quan hệ kinh tế thương mại và hợp tác đầu tư giữa hai nước Thông qua nhiều hình thức đa dạng như phát huy hơn nữa vai trò chủ đạo của các công ty lớn, mở rộng buôn bán hàng hóa khối lượng lớn, khuyến khích và ủng hộ các doanh nghiệp hai bên triển khai các dự án hợp tác lớn, mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai bên Tạo dựng môi trường kinh doanh tốt đẹp, không ngừng khai thác tiềm năng, đảm bảo mậu dịch giữa hai bên
Trang 32tăng trưởng ổn định, liên tục: duy trì chính sách đầu tư ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư giữa các doanh nghiệp của hai bên; tích cực quán triệt thực hiện
" Hiệp định về mua bán hàng hóa ở vùng biên giới", tăng cường phối hợp trong công tác quản lý quy phạm hóa buôn bán biên giới giữa hai nước
+ Phát huy vai trò điều tiết và chỉ đạo vĩ mô của ủy ban liên Chính phủ về hợp tác khoa học kỹ thuật, thúc đẩy hợp tác và trao đổi về khoa học kỹ thuật, hướng dẫn
và khuyến khích các cơ quan hữu quan của Chính phủ, các cơ sở và viện nghiên cứu khoa học, các trường đại học, các xí nghiệp phục vụ khoa học kỹ thuật của hai nước triển khai rộng rãi hợp tác khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực như thông tin, sinh học, nông nghiệp, khí tượng, hải dương, bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hòa bình và các lĩnh vực mà hai bên cùng quan tâm
+ Tích cực thúc đẩy hợp tác cùng có lợi giữa hai nước về nông, lâm, ngư nghiệp, khuyến khích và ủng hộ các xí nghiệp và cơ quan hữu quan của hai nước tăng cường trao đổi và hợp tác trên các mặt như tạo ra các giống cây trồng nông nghiệp, giống gia súc gia cầm tốt, chế biến sản phẩm nông, lâm nghiệp, chế tạo máy móc nông nghiệp, đánh bắt trên biển, nuôi trồng thủy sản
+ Tăng cường trao đổi và hợp tác trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ và điều tiết kinh tế vĩ mô + Tăng cường hợp tác trên lĩnh vực giao thông vận tải, cùng nhau phát triển vận chuyển hành khách, hàng hóa qua tuyến đường sắt quốc tế giữa hai nước, mở rộng đường sắt liên vận quốc tế đến nước thứ ba, thúc đẩy trao đổi nhân viên và hàng hóa
+ Khuyến khích ngành bưu điện hai nước tăng cường trao đổi và hợp tác trên các mặt hiện đại hóa mạng lưới bưu chính, viễn thông, ứng dụng kỹ thuật mới, khai thác nghiệp vụ mới
+ Mở rộng hợp tác du lịch, khuyến khích ngành du lịch giữa hai nước tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm trên các mặt như quản lý, quảng cáo tiếp thị, đào tạo nguồn nhân lực và tạo thuận lợi cho công dân hai nước và công dân nước thứ 3 đi du lịch hai nước
+ Tăng cường hợp tác trao đổi thông tin trên các lĩnh vực như bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và khí tượng thủy văn; cùng nỗ lực hợp tác và khai thác lưu vực sông Mê Kông
+ Mở rộng hợp tác, trao đổi kinh nghiệm trên các mặt như qui hoạch, xây dựng, quản lý, phát triển đô thị và đào tạo nguồn nhân lực
Trang 33+ Hai bên tiếp tục tăng cường hợp tác, phối hợp giữa hai bên tại các diễn đàn
đa phương quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, Arf, Hợp tác Đông á, Apec, Asem, thúc đẩy sự đoàn kết và hợp tác giữa các nước đang phát triển, tiếp tục ra sức xây dựng trật tự chính trị, kinh tế quốc tế mới công bằng, hợp lý, có đóng góp mới cho việc bảo vệ hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Hai bên đánh giá cao vai trò tích cực của tổ chức Asean đối với sự ổn định
và phát triển của khu vực, khẳng định lại sẽ tiếp tục dốc sức tăng cường quan hệ láng giềng, đối tác tin cậy giữa các nước Asean với Trung Quốc, nỗ lực tích cực vì
ổn định và phồn vinh lâu dài của Châu á, đặc biệt là khu vực Đông Á
Tiếp tục tăng cường cơ chế trao đổi ý kiến hàng năm giữa quan chức cấp cao
Bộ Ngoại giao hai nước, trao đổi ý kiến về những vấn đề song phương, khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm
- Thông qua việc triển khai qua lại quân sự ở các cấp và các lĩnh vực khác nhau, tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa các cơ quan quốc phòng và quân đội hai nước, mở rộng trao đổi và hợp tác trong lĩnh vực an ninh
- Tăng cường trao đổi và hợp tác về văn hóa, thể dục thể thao, và các phương tiện thông tin đại chúng, bao gồm tăng cường thăm lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm, triển khai đào tạo nhân lực
- Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, bao gồm trao đổi lưu học sinh, cán bộ giảng dạy, khuyến khích và ủng hộ các trường đại học, các ngành giáo dục và các cơ sở nghiên cứu của hai bên tăng cường hợp tác trực tiếp
- Tăng cường hợp tác trong các mặt phòng chống các loại tội phạm xuyên quốc gia cũng như trao đổi và hợp tác giữa các cơ quan tư pháp, công an, tòa án, viện kiểm sát của hai bên, tăng cường trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ quan kỷ luật, kiểm sát, giám sát của hai bên về chống thăm nhũng, đề cao liêm khiết
- Hai bên nhất trí cho rằng, việc hai nước ký kết " Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa", "hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa", "hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHND Trung Hoa" có ý
Trang 34nghĩa lịch sử sâu rộng, sẽ thúc đẩy hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển mạnh hơn nữa trong thế kỷ 21 Hai bên cam kết sẽ nghiêm chỉnh thực hiện các thỏa thuận liên quan đã ký kết giữa hai nước, tích cực hợp tác, nỗ lực xây dựng biên giới hai nước thành biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài
Hai bên khẳng định, tiếp tục duy trì cơ chế đàm phán hiện có về vấn đề trên biển, kiên trì thông qua đàm phán hòa bình để tìm ra một giải pháp cơ bản, lâu dài
mà hai bên đều có thể chấp nhận được Trước khi vấn đề được giải quyết, với tinh thần dễ trước khó sau, hai bên tích cực bàn bạc, tìm kiếm khả năng và giải pháp triển khai hợp tác trên biển trong các lĩnh vực như: bảo vệ môi trường biển, khí tượng thủy văn, phòng chống thiên tai Đồng thời, hai bên đều không tiến hành các hành động làm phức tạp thêm hoặc mở rộng tranh chấp, không sử dụng vũ lực hoặc
đe dọa sử dụng vũ lực Hai bên cần bàn bạc kịp thời và giải quyết thỏa đáng những bất đồng nảy sinh với thái độ bình tĩnh xây dựng, không để bất đồng ảnh hưởng đến
sự phát triển bình thường của quan hệ hai nước
- Hai bên khẳng định lại những nhận thức chung đã đạt được trong các Thông cáo chung Việt Nam - Trung Quốc 10/11/1991, 22/11/1994, 2/12/1995 và Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc 27/2/1999; phía Việt Nam khẳng định chính sách một nước Trung Quốc, Việt Nam công nhận Chính phủ nước CHND Trung Hoa là Chính phủ hợp pháp duy nhất đại diện cho toàn Trung Quốc; Đài Loan là một bộ phận lãnh thổ không thể chia cắt của Trung Quốc Việt Nam chỉ giao lưu về kinh tế, thương mại phi chính phủ với Đài Loan, không phát triển quan
hệ chính phủ với Đài Loan Phía Trung Quốc tỏ sự hiểu biết và hoan nghênh lập trường trên đây của phía Việt Nam Phía Trung Quốc khẳng định vấn đề Đài Loan hoàn toàn là vấn đề thuộc công việc nội bộ của Trung Quốc và kiên quyết phản đối các nước đã lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc có quan hệ chính phủ dưới bất
cứ hình thức nào, hoặc có bất cứ sự đi lại nào mang tính chính phủ với Đài Loan
1.4.2 Quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư
Quan hệ kinh tế - thương mại hai nước cũng phát triển rất nhanh chóng
trong những năm qua Môi trường kinh doanh, thương mại, đầu tư và cơ chế chính
Trang 35sách của hai nước ngày càng thông thoáng đã tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập
khẩu giữa các doanh nghiệp
Kim ngạch buôn bán hai chiều tăng bình quân 20%/năm, từ 266 triệu USD năm 1992 lên 4,87 tỷ USD trong năm 2003 và lên hơn 6 tỷ USD năm 2004, vượt mục tiêu 5 tỷ USD mà hai bên đề ra cho năm 2005 (www.tinkinhte.com) Từ năm
2004 đến nay, Trung Quốc liên tục là bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam Năm 2007, kim ngạch mậu dịch hai nước đạt gần 16 tỷ USD, hoàn thành trước 3 năm mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai nước đạt 15 tỷ USD vào năm 2010 Năm 2008, kim ngạch mậu dịch song phương đạt 20,1 tỷ USD, tăng 40% so với năm 2007; đồng thời, hai bên nêu mục tiêu mới nâng kim ngạch thương mại song phương lên 25 tỷ USD vào năm 2010 Đi đôi với việc duy trì đà tăng trưởng kim ngạch song phương, hai bên cũng tích cực tìm biện pháp cải thiện cán cân thương mại Để thúc đẩy hơn nữa xuất nhập khẩu hàng nông sản và thực phẩm trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (30/5-2/6/2008), hai bên ký kết Hiệp định
kiểm dịch động vật và Hiệp định kiểm dịch thực vật [www.vnn.vn – Kỷ niệm 60
năm ngày thành lập nước CHND Trung Hoa]
Để triển khai thực hiện Hiệp định về phát triển sâu rộng quan hệ kinh tế thương mại, hiện nay hai bên đang tích cực hoàn tất để sớm ký kết "Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Việt - Trung" giai đoạn 2009 - 2013, xác định các lĩnh vực và dự án hợp tác trọng điểm, nâng cao hơn nữa quy mô và mức
độ hợp tác kinh tế thương mại, đồng thời đưa ra một số giải pháp cụ thể, trong đó
có các biện pháp hướng tới giải quyết vấn đề nhập siêu
Hai nước tích cực tìm kiếm các biện pháp thúc đẩy quan hệ thương mại tăng trưởng
ổn định trong những năm tới, phấn đấu đưa kim ngạch buôn bán hai chiều lên 10 tỷ USD vào năm 2010 Tới đây, Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc hình thành, quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước chắc chắn sẽ còn tiến xa hơn nữa
Về hợp tác đầu tư, Trung Quốc hiện có gần 500 dự án đang triển khai ở Việt Nam
với vốn đầu tư trên 1,5 tỷ USD Đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam cũng đang tăng nhanh với 267 dự án, tổng vốn đăng ký khoảng 540 triệu USD Mặc dù là nước đang phát
Trang 36210 triệu NDT và trên 18 triệu USD cho Việt Nam Trung Quốc có hơn 290 dự án đầu tư vào VN tính đến cuối năm 2000 với tổng số vốn là 2,8 tỉ USD, (theo số liệu thống kê của
Vụ Quản lý Bộ Kế Hoạch Đầu tư) Trong đó vốn đầu tư từ Hồng Kông chiếm tỷ trọng lớn, các dự án tập trung vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ, dịch vụ khách sạn, các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu Tiêu biểu là dự án đầu tư xuất khẩu giày Pouchen tại Đồng Nai với kim ngạch xuất khẩu hàng năm hơn 70 triệu USD Trung Quốc đã hỗ trợ chính phủ Việt Nam 2.297.400 USD để nâng cấp khu gang thép Thái Nguyên
Ngoài ra, một số dự án đầu tư nâng cấp khác như nhà máy phân đạm Bắc Giang, nhà máy giấy Cao Ngạn, thủy điện Rào Quán, khu công nghiệp dệt Đà Nẵng… cũng nhận được nguồn vốn viện trợ từ Trung Quốc 290 dự án đang hoạt động với số vốn 2,8
tỷ USD (gồm Hồng Kông và Ma Cao) Qui mô dự án trung bình 2,08 triệu USD Phân
bổ vốn đầu tư theo ngành : - Công nghiệp và xây dựng : 43%, - Bất động sản : 35% , - Các ngành khác : 9% , - Nông - lâm - ngư nghiệp : 13%
So sánh với các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc trong năm
2007 thì Việt Nam đã xuất khẩu thị trường Trung Quốc đạt trị giá khoảng 1.669.138.115 USD (www.vnchanel.net)
Trong những năm qua, Trung Quốc không ngừng tăng qui mô tín dụng ưu đãi dành cho Việt Nam Hiện hai bên đang triển khai một số dự án hợp tác kinh tế lớn như Dự án xây dựng nhà máy khai thác và luyện đồng tại Sin Quyền; cải tạo nâng cấp nhà máy gang thép Thái Nguyên; phân đạm Hà Bắc; Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh I, II; Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng I, II; Dự án thông tin tín hiệu đường sắt các tuyến Hà Nội - Đồng Đăng, Hà Nội - Thái Nguyên, Hà Nội - Lào Cai
và khu đầu mối Hà Nội; Dự án hiện đại hoá hệ thống thông tin tín hiệu đường sắt đoạn Vinh - thành phố Hồ Chí Minh, Nhà máy sản xuất phân đạm từ than cám Ninh Bình v.v…; Dự án viễn thông nông thôn; Dự án đường sắt nhẹ trên không tuyến Hà Nội - Hà Đông v.v… Hai bên cũng nhất trí tăng cường thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác, tăng cường hợp tác các dự án trong khuôn khổ "Hai hành lang, một vành đai kinh tế" và các dự án lớn khác Tháng 7/2008, Tập đoàn Công
Trang 37Trung Quốc (CHALIECO) ký Hợp đồng EPC xây dựng Nhà máy Alumin, thuộc
Dự án Tổ hợp Bauxit - nhôm Lâm Đồng trị giá 446 triệu USD
Ngoài tín dụng ưu đãi, Chính phủ Trung Quốc còn hỗ trợ Việt Nam nhiều khoản viện trợ không hoàn lại dùng vào việc tổ chức các đoàn tham quan, khảo sát kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội ở Trung Quốc; trao đổi thanh thiếu niên; đầu
tư trang thiết bị cho một số bệnh viện tại Việt Nam; xây dựng khu nhà ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Cung Hữu nghị Việt - Trung
1.4.3 Hợp tác du lịch giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc
Mối quan hệ hợp tác du lịch giữa Việt Nam và Trung Quốc được khẳng định bằng Hiệp định hợp tác du lịch giữa nước CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa được ký kết tại Hà Nội vào ngày 8/4/1994 do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch
Đỗ Quang Trung và Cục trưởng Du lịch Quốc gia Trung Quốc Lưu Nghị, ký theo sự
ủy nhiệm của thủ tướng Chính phủ hai nước Đến ngày 2/7/1998 Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam đã ký quyết định số 229/1998/QĐ ban hành quy chế tạm thời về quản lý, tổ chức đối với khách du lịch là người Trung Quốc có giấy thông
hành do Trung Quốc cấp vào Việt Nam du lịch bằng thẻ (giấy thông hành) (Theo
Quyết định 229/1998/QĐ-TCDL ngày 2/7/1998 của Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch về việc ban hành Quy chế tạm thời về quản lý và tổ chức đối với khách Trung Quốc có giấy thông hành xuất nhập cảnh do Trung Quốc cấp vào nước ta tham quan
du lịch), số lượng khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng lên rõ rệt
Nội dung hợp tác xây dựng cơ chế, chính sách về du lịch tập trung vào các
nội dung: tổ chức cuộc họp liên ngành tại mỗi bên (công an, biên phòng, hải quan và
du lịch) để giải quyết cho du khách quốc tịch thứ 3 được nhập cảnh vào mỗi nước tham quan du lịch Đối tượng được xét cấp thị thực ngay tại cửa khẩu, thực hiện theo quy định của mỗi nước và được tổ chức ngay tại cặp cửa khẩu quốc tế Lào Cai – Hà Khẩu Đề xuất Chính phủ và Bộ, ngành hai nước cho tổ chức tuyến xe thí điểm chở khách du lịch Việt Nam và Trung Quốc trên tuyến Mông Tự - Hà Khẩu (Vân Nam- Trung Quốc)- TP Lào Cai- Sa Pa (Việt Nam) và ngược lại; cho phép công dân hai
Trang 38nước đi du lịch bằng giấy thông hành xuất nhập cảnh tại cặp cửa khẩu Lào Cai – Hà Khẩu được XNC tại cặp cửa khẩu Móng Cái - Đông Hưng và ngược lại Thống nhất mức thu cấp thẻ du lịch ở hai nước với mức đề nghị là 10 USD/visa[33]
Đối với nội dung hợp tác phát triển sản phẩm du lịch, Việt Nam đưa ra 2 đề
xuất hợp tác là xây dựng “Chương trình du lịch vàng” dành cho khách du lịch Trung Quốc theo tuyến Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và cho khách Việt Nam đi du lịch tại Vân Nam đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng, điểm tham quan, giá
cả để đảm bảo quyền lợi cho du khách…; khai thác các loại hình du lịch mới phục vụ nhu cầu du khách hai nước Xem xét mở tuyến du lịch từ Xixongbana (Vân Nam – Trung Quốc) tới Lào và đến các tỉnh trên tuyến hành lang kinh tế của Việt Nam
Về hợp tác tuyên truyền quảng bá, phía Việt Nam đề xuất vấn đề: các tỉnh,
thành phố Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh đặt văn phòng đại diện du lịch tại Hà Khẩu Tỉnh Vân Nam đặt văn phòng đại diện du lịch tại thành phố Lào Cai hoặc Sa Pa để quảng bá về du lịch hai bên từ năm 2009 Tổ chức các đoàn khảo sát du lịch của 2 bên để khảo sát tiềm năng du lịch và hướng phát triển 5 tỉnh, thành phố trên tuyến hành lang kinh tế thực hiện các nội dung tuyên truyền như: thăm dự hội chợ du lịch, đóng góp kinh phí, nội dung và hình ảnh xây dựng cuốn cẩm nang
du lịch chung bằng song ngữ Việt – Trung Xây dựng chương trình xúc tiến điểm đến cạnh tranh trong khu vực châu Á theo chủ đề “Hai quốc gia 5 điểm đến” gồm Hà Nội – Sa Pa – Vịnh Hạ Long – Cát Bà và Côn Minh Phía bạn cho rằng cần tăng cường hơn nữa công tác phối hợp tuyên truyền, quảng bá để thu hút du khách đến du lịch tại 2 bên, tìm các doanh nghiệp có năng lực để đặt văn phòng đại diện và chi nhánh ở 2 bên Để tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền, khi xây dựng cuốn cẩm nang, ngoài tiếng Việt – Trung nên tăng thêm tiếng Anh; phía bạn đang xúc tiến làm cẩm nang đề nghị Việt Nam cung cấp nội dung liên quan để phía bạn nhanh chóng hoàn thành Phía bạn đã có kế hoạch cụ thể về tổ chức các đoàn khảo sát, nên kết hợp tiếp thị du lịch với khảo sát, kế hoạch cụ thể, phía bạn sẽ có thông báo và mong muốn Việt Nam gửi kế hoạch cụ thể để phía bạn phối hợp thực hiện
Nội dung hợp tác phát triển nguồn nhân lực du lịch, đề xuất trình UBND các
tỉnh, thành phố phía Việt Nam và chính quyền tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) cấp học
Trang 39bổng cho cán bộ quản lý du lịch hai bên sang học tập ngôn ngữ tại nước sở tại; đề nghị Cục du lịch Vân Nam đề xuất chính phủ Vân Nam cung cấp khoá học bồi dưỡng cán
bộ quản lý hành chính Nhà nước về du lịch cho Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Tổ chức hội thảo luân phiên nhằm trao đổi kinh nghiệm quản lý du lịch
Đại diện cục du lịch tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) cho rằng: về hợp tác xây dựng cơ chế, chính sách về du lịch phía bạn sẽ xem xét phối hợp đơn giản hóa các thủ tục xuất nhập cảnh cho du khách, phối hợp cùng các ngành có liên quan của 2 bên để đưa ra mức lệ phí cấp thẻ du lịch chung Việc cấp visa cho du khách nước thứ 3, tùy theo tình hình chính trị, tuy nhiên trong thời kỳ bình thường cho phép dán visa cho du khách quốc tịch thứ 3 tại cửa khẩu
Đối với đề xuất về hợp tác phát triển nguồn nhân lực du lịch, phía Trung Quốc có thể hỗ trợ về kinh phí, cán bộ giúp bồi dưỡng cán bộ du lịch cho Việt Nam Ngoài ra, phía bạn mong muốn hướng dẫn viên và cán bộ du lịch 2 bên được sang học tập kinh nghiệm của nhau Về kế hoạch bồi dưỡng cụ thể phía bạn sẽ gửi giấy mời sang Tổng cục du lịch Việt Nam với 2 nội dung chính là bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ làm du lịch và đào tạo cán bộ làm công tác lữ hành
Ngoài những ý kiến trên, đại diện Cục du lịch Châu Hồng Hà cũng đưa ra một số
đề xuất về quan tâm giải quyết vấn đề về giao thông; Trung Quốc sẽ cố gắng đề xuất với các ngành liên quan sớm thông đường cao tốc tuyến Côn Minh-Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; tỉnh Vân Nam đang xúc tiến để khai trương tuyến đường bay đến TP.Hồ Chí Minh; đường thủy theo sông Hồng đang xúc tiến khai thông từ Côn Minh đến Hải Phòng
Với các đề xuất hợp tác khác, phía bạn sẽ trình chính phủ Trung Quốc để đi đến thống nhất Ngoài ra, những ý kiến phía Việt Nam đề xuất, đoàn sẽ nêu tại hội nghị các tiểu vùng sông Mê Kông
Ngoài ra, Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành ký thêm nhiều hợp tác du lịch khác, đây là cơ sở quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển du lịch giữa hai quốc gia, đặc biệt là hợp tác du lịch giữa các khu vực vùng biên Các hoạt động thực tiễn đã thúc đẩy du lịch biên giới Việt Trung phát triển lành mạnh, trật tự, điển hình là các hoạt động như [34]:
Trang 40- Ngày 21/1/2003 tại Thành phố Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc Cục
Du lịch tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây (nước CHND Trung Hoa) đã cùng Sở Du lịch Thành phố Hà Nội, Sở Du lịch Thành phố Hải Phòng, Sở Du lịch Thành phố Quảng Ninh (nước CHXHCN Việt Nam) tiến hành hội đàm, thông báo cho nhau về tình hình phát triển du lịch của đôi bên, trao đổi ý kiến về đảm bảo cho khách du lịch Trung Quốc đi du lịch Việt Nam qua cửa khẩu thuận lợi, đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng vùng biên, đặc biệt trong mùa du lịch cao điểm và những vấn
đề hai bên Việt Nam – Trung Quốc cùng quan tâm Hai bên đã đi đến thống nhất
và cùng ký kết biên bản hợp tác giữa các địa phương
- Năm 2004 hoạt động hợp tác được mở rộng ra ở cấp chính quyền tỉnh, thành phố phạm vi hợp tác cũng mở rộng với sự thăm gia của bốn tỉnh phía Bắc (Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Lào Cai) và 3 địa phương của Trung Quốc (Quảng Tây, Vân Nam, Côn Minh), lần lượt ký các hợp đồng về Đầu tư thương mại
và du lịch với mục đích phát triển ngày càng hiệu quả hơn trong lĩnh vực du lịch – kinh tế – thương mại Các bên đã có buổi làm việc về tình hình hợp tác, phát triển
du lịch và cam kết sẽ thắt chặt hợp tác hơn nữa cùng phát triển, trao đổi những kinh nghiệm về công tác quản lý, đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch và bàn về dự thảo nội dung của văn bản thỏa thuận hợp tác du lịch đã được UBND thành phố Hà Nội thông qua và trình ký ngày 15/4/2006…
Như vậy, kể từ sau khi Việt Nam được đưa vào danh sách là một ADS chính thức của Trung Quốc lượng khách đến Việt Nam tăng lên rõ nét, giờ đây du khách Trung Quốc đã được phép đi du lịch bằng tiền riêng của cá nhân Từ nhìn nhận thực tế và định hướng đúng đắn, Tổng cục du lịch Việt Nam đã kết hợp với Hàng Không Quốc gia Việt Nam và Đại Sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc thực hiện thành công các sự kiện mở rộng thị trường du lịch tại ba thành phố lớn của Trung Quốc là Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu Những chủ trương và hoạt động thực tiễn này thực sự đã tạo cơ hội tốt cho các doanh nghiệp du lịch Việt Nam tiếp cận mạnh mẽ hơn thị trường du lịch đầy triển vọng này, góp phần thu hút ngày càng nhiều khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam ngay trong thập kỷ vừa qua