1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012 – 2020

134 1,3K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nguồn nhân lực du lịch của tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, chưa thực sự là động lực để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, công tác đào tạo nguồn

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội

tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo và góp ý rất nhiệt tình của các thầy cô giáo Khoa

Du lịch học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia

Hà Nội Trước tiên, tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô đã hướng dẫn học tập và bổ sung kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Nguyễn Quang Vinh, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ rất lớn đối với tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Xin cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện rất thuận lợi của

Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai trong việc cho phép sử dụng, khai thác các nguồn tài liệu của ngành và được trực tiếp tham gia điều tra điển hình

về nguồn nhân lực Xin cảm ơn Cục thống kê tỉnh Lào Cai, các doanh nghiệp

và cá nhân trong ngành du lịch đặc biệt là các doanh nghiệp trong “Hiệp hội khách du lịch 849 Lào Cai” và “Hiệp hội du lịch Sapa” đã tham gia trả lời phiếu điều tra Xin cảm ơn các đồng nghiệp đã đóng góp những ý kiến rất có ích cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

Với mong muốn được đóng góp một phần nào công sức nhỏ bé và sự đam mê của mình đối với sự nghiệp đào tạo phát triển du lịch Lào Cai nói riêng, phát triển ngành du lịch Việt Nam nói chung Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng và dành tâm huyết của mình, nhưng luận văn cũng còn những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân tình của các Thầy Cô giáo, đồng nghiệp và những người quan tâm

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Hà

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012-2020” là một công trình nghiên cứu độc lập

của cá nhân tôi Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác Các kết luận khoa học chưa được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Hà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 7

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Ý nghĩa của đề tài 11

7 Kết cấu của đề tài 11

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 12

1.1 Nguồn nhân lực 12

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 12

1.1.2 Các nội dung cơ bản của nguồn nhân lực 13

1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực 14

1.2 Nguồn nhân lực du lịch 16

1.2.1 Du lịch 16

1.2.2 Nguồn nhân lực du lịch 18

1.2.3 Đặc điểm nguồn nhân lực du lịch 21

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực du lịch 27

1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực du lịch 30

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của một số quốc gia trên thế giới 30

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của một số địa phương trong nước 32

1.3.3 Một số bài học rút ra cho phát triển nguồn nhân lực du lịch ở Lào Cai 37

Tiểu kết chương 1: 39

Trang 5

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN 40

NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH Ở LÀO CAI 40

2.1 Khái quát về du lịch Lào Cai 40

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 40

2.1.2 Điều kiện kinh tế - Xã hội 42

2.1.3 Các khu, điểm du lịch chính của Lào Cai 46

2.1.4 Thực trạng phát triển của du lịch Lào Cai 52

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực du lịch ở Lào Cai 56

2.2.1 Số lượng nhân lực du lịch 56

2.2.2 Chất lượng nhân lực du lịch 59

2.2.3 Cơ cấu nhân lực du lịch 65

2.2.4 Tình hình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch của Lào Cai 66

2.3 Đánh giá chung về phát triển nguồn nhân lực du lịch của tỉnh Lào Cai 68

2.3.1 Những thành tựu và nguyên nhân 68

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 70

Tiểu kết chương 2 74

Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH

Ở LÀO CAI 75

3.1 Định hướng và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch ở Lào Cai 75

3.1.1 Định hướng phát triển nhân lực du lịch ở Lào Cai 75

3.1.2 Nhu cầu phát triển nhân lực du lịch giai đoạn 2012-2020 82

3.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của Lào Cai 83 3.2.1 Giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch 83

3.2.2 Giải pháp đối với cơ sở đào tạo về du lịch 85

3.2.3 Giải pháp đối với các doanh nghiệp du lịch 88

3.2.4 Các giải pháp hỗ trợ 90

3.3 Kiến nghị 91

Trang 6

3.3.1 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai 91

3.3.2 Kiến nghị với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai 93

3.3.3 Kiến nghị với Sở Nội vụ 93

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 100

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ chỉ số PCI có trọng số qua các năm của tỉnh Lào Cai 46

Bảng 2.2 Tổng hợp dữ liệu PCI Lào Cai qua các năm 46

Sơ đồ 2.3 Cơ cấu tổ chức nguồn nhân lực trong ngành du lịch tỉnh Lào Cai 54 Biểu đồ 2.4 Lượng khách du lịch đến Lào Cai từ năm 2007-2012 55

Bảng 2.5 Kết quả hoạt động du lịch của Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai năm 2010, 2012 56

Biểu đồ 2.6 Doanh thu ngành du lịch tỉnh Lào Cai từ năm 2008-2013 56

Biểu đồ 2.7 Cơ cấu đào tạo của nhân lực cơ quan quản lý nhà nước 60

Biểu đồ 2.8 Trình độ học vấn nguồn nhân lực du lịch tại trường Cao đẳng cộng đồng Lào Cai 61

Biểu đồ 2.9 Trình độ học vấn nguồn nhân lực du lịch tại trường Trung cấp văn hóa nghệ thuật và du lịch tỉnh Lào Cai 62

Biểu đồ 2.10 Cơ cấu trình độ của lao động trong doanh nghiệp du lịch 63

Bảng 2.11 Chất lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch Lào Cai 64

Biểu đồ 2.12 Cơ cấu độ tuổi nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai 65

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau hơn hai mươi năm kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, Việt Nam đã tiến một bước dài trên con đường phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế Cũng như tất cả các quốc gia khác, tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn được xác định là mục tiêu hàng đầu trong quá trình phát triển của Việt Nam Để thực hiện mục tiêu này, tất cả các quốc gia đều dựa trên bốn yếu tố chính đó là: Tài nguyên tự nhiên, vốn, công nghệ và nhân lực

Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cuộc cạnh tranh của các công ty Việt ngày càng khốc liệt và khó khăn Các doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh với các công ty trong nước, mà còn phải cạnh tranh với nhiều công ty nước ngoài có tiềm lực mạnh về nguồn vốn và kinh nghiệm hơn trong kinh tế thị trường Để có thể cạnh tranh thành công, các quốc gia, các doanh nghiệp, các công ty, các sản phẩm chủ yếu là cạnh tranh về tỷ lệ hàm lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhờ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Do đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với các quốc gia trên thế giới đã và đang trở thành vấn đề cấp bách có tầm chiến lược,

là vấn đề có tính chất sống còn trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế

Cùng với xu thế hội nhập toàn cầu, cơ cấu nền kinh tế Việt Nam đã và đang dịch chuyển theo hướng nâng dần tỷ trọng của các ngành thương mại, dịch vụ Trong thời gian qua, các ngành dịch vụ có tốc độ phát triển nhanh, góp phần đẩy mạnh nền kinh tế đất nước đi lên, trong đó du lịch là ngành được quan tâm nhiều nhất Mục tiêu phát triển của du lịch Việt Nam đến năm

2020 là trở thành một điểm đến hấp dẫn trong khu vực và trên thế giới, nằm trong những nước đứng đầu Đông Nam Á về các chỉ tiêu phát triển du lịch Muốn đạt được mục tiêu đó thì chất lượng nhân lực phục vụ trong ngành du lịch cần phải được nâng cao hơn nữa, bởi phát triển nguồn nhân lực chất

Trang 9

lượng cao là chìa khóa để du lịch Việt Nam xóa dần khoảng cách với du lịch của các quốc gia phát triển trên thế giới

Chất lượng của sản phẩm du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch, chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch, chính sách phát triển ngành du lịch của Nhà nước, tình hình an ninh chính trị của đất nước, mức độ mở cửa và hội nhập của nền kinh

tế, trình độ của lao động trong ngành du lịch, Do đặc điểm đặc biệt của du lịch là quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm các dịch vụ diễn ra đồng thời, thông qua đội ngũ lao động phục vụ trực tiếp, nên chất lượng của nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp, quyết định đến chất lượng của sản phẩm và dịch vụ

du lịch Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch là vấn đề mang tính sống còn đối với sự phát triển du lịch của mỗi địa phương, mỗi quốc gia Phát triển du lịch nhanh và bền vững, thu hẹp dần khoảng cách với những quốc gia có ngành du lịch phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và toàn diện là yêu cầu cấp bách đặt ra cho ngành du lịch Việt Nam chỉ có thể thực hiện được nếu có đội ngũ lao động chất lượng cao, số lượng đủ, cơ cấu hợp lý gồm đông đảo những nhà quản lý, những nhân viên du lịch lành nghề, những nhà khoa học công nghệ du lịch giỏi chuyên môn nghiệp vụ, nhanh nhẹn và có trách nhiệm trong công việc Có thể nói, phát triển nguồn nhân lực

là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài quyết định tương lai phát triển của ngành du lịch

Du lịch Lào Cai hiện nay được coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn - ngành công nghiệp không khói, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế của tỉnh Hằng năm, doanh thu du lịch xã hội của Lào Cai luôn đứng đầu khu vực Tây Bắc (gấp 7,8 lần so với Điện Biên và 14,2 lần so với Lai Châu) và nằm trong top 5 tỉnh có ngành du lịch phát triển nhất miền Bắc

Với những tiềm năng và lợi thế sẵn có để phát triển du lịch, Lào Cai đang quyết tâm phấn đấu trở thành trung tâm du lịch lớn của miền Bắc cũng như cả nước Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã xác định ngành

Trang 10

du lịch có vị trí hàng đầu, được ưu tiên đầu tư và phát triển Tuy nhiên, nguồn nhân lực du lịch của tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, chưa thực sự

là động lực để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch Lào Cai đang là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách

Năm 2013, Lào Cai đón hơn 1,2 triệu lượt khách (riêng Sapa là vùng

du lịch trọng điểm của địa phương đón hơn 780 ngàn lượt), trong khi đó nguồn nhân lực phục vụ cho lĩnh vực du lịch trên địa bàn cả tỉnh Lào Cai đến thời điểm này mới có khoảng trên 2.800 lao động trực tiếp Trong số đó lao động đã qua đào tạo về du lịch chỉ chiếm khoảng 25% Đa số lao động trực tiếp có trình độ trung, sơ cấp, chưa qua đào tạo chuyên ngành du lịch và làm việc theo hợp đồng thời vụ Đây là một trong những điểm yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của du lịch Lào Cai

Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng nguồn nhân lực

du lịch của tỉnh, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm tạo ra một sự chuyển biến về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu của xã hội trở thành nhiệm vụ cấp thiết

Với ý nghĩa trên, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012-2020” làm luận văn tốt nghiệp

của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Hiện nay trong cả nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận văn tốt nghiệp về vấn đề nguồn nhân lực, phát triển nhân lực du lịch ở nhiều góc độ và phạm vi rộng hẹp khác nhau:

Trần Sơn Hải (2006), Phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch khu vực

duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Luận án tiến sĩ Học viện Hành

chính Dương Đức Khanh (2010), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh

Ninh Bình, Luận văn thạc sỹ trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội

Trang 11

Nguyễn Thị Thanh Hà (2010), Hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực

tại khách sạn Hà Nội Daewoo, Luận văn thạc sỹ trường Đại học Kinh tế Quốc

dân Hà Nội Vũ Thị Hạnh (2010), Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng

Ninh giai đoạn 2011- 2015, Luận văn thạc sỹ trường Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn Hà Nội.Phan Thị Kim Chi (2011), Phát triển nguồn nhân lực

tại Công ty cổ phần du lịch Đà Nẵng Danatour, Luận văn thạc sỹ trường Đại

học Đà Nẵng Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2012), Phát triển nguồn nhân lực

du lịch tỉnh Tiền Giang, Luận văn thạc sỹ trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn Hà Nội…

Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu xác nhận tầm quan trọng của nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới; phân tích thực trạng phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực và định hướng phát triển con người, hay giải pháp để phát triển du lịch nói chung, một số tác giả bàn đến hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong một số doanh nghiệp, khách sạn cụ thể Tuy nhiên, cho đến nay, việc đi sâu nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở Tây Bắc nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng chưa có công

trình nghiên cứu nào Vì vậy, tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012-2020” là cách tiếp cận

cụ thể một lĩnh vực chưa được đề cập một cách hoàn chỉnh, mong có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của ngành du lịch nói riêng và sự phát triển Kinh tế - xã hội nói chung của tỉnh Lào Cai trong thời gian tới

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Mục đích chung

Xác định rõ thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực trong ngành du lịch của Lào Cai trên cơ sở phân tích để từ đó xây dựng hệ thống các giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được các yêu cầu

và đòi hỏi của ngành cho du lịch tỉnh Lào Cai trong thời gian tới

Trang 12

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực du lịch tạo cơ sở khoa học cho việc phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở Lào Cai

- Khảo sát thực trạng nhân lực trong ngành du lịch ở Lào Cai

- Đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển du lịch và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai nói chung đến năm 2020

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực du lịch ở Lào

Cai, trong đó đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trực tiếp trong du lịch, đặc biệt là phát triển số lượng và chất lượng nguồn nhân

lực, coi đó là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở Lào Cai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu nguồn nhân lực trong

ngành du lịch tại Lào Cai

4.2.2 Phạm vi thời gian: Đề tài chủ yếu sử dụng các số liệu thứ cấp

trong giai đoạn 2011-2013 và các số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2013 để nghiên cứu, khảo sát thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch ở tỉnh Lào Cai Các đề xuất, giải pháp có ý nghĩa trong giai đoạn từ 2012 – 2020

4.2.3 Phạm vi nội dung

Do điều kiện và năng lực nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm, vai trò, các nhân tố tác động, thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch tại Lào Cai, đưa ra các giải pháp và đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Lào Cai

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng một số biện pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng: Là phương pháp nghiên cứu các

hiện tượng kinh tế - xã hội trong trạng thái vận động và có các mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nó cho phép phân tích một cách khách quan các vấn đề nghiên cứu như: hiện trạng của việc phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở tỉnh Lào Cai, vai trò của nguồn nhân lực du lịch Việt Nam nói chung và Lào Cai nói riêng

- Phương pháp duy vật lịch sử: Dựa trên các phạm trù khoa học, các

khái niệm, quan điểm và sự vận động phát triển của kinh tế - xã hội để nghiên cứu sự phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của tỉnh

- Phương pháp thu thập tài liệu: Phương pháp này là dựa trên nguồn

thông tin sơ cấp và thứ cấp thu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ để chứng minh giả thuyết

+ Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ tài liệu, báo cáo, sách báo, tạp chí, tài liệu từ hội thảo khoa học, thông tin từ các website trong và ngoài nước

+ Thu thập nguồn dữ liệu sơ cấp bằng cách quan sát trực tiếp, phỏng vấn và bảng hỏi Luận văn đã thiết kế các bảng hỏi và thực hiện điều tra tại 3 địa phương có du lịch phát triển tại Lào Cai là: Sa Pa, Bắc Hà và Thành phố Lào Cai (Số bảng hỏi phát ra tại các cơ sở, đơn vị quản lý, kinh doanh dịch

vụ du lịch là 220, thu về 186 trong đó sử dụng được 163 bảng)

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đây là phương pháp quan trọng

được sự dụng hầu hết trong công tác nghiên cứu khoa học, phương pháp phân tích tổng hợp giúp cho các nhà nghiên cứu liên kết các vấn đề trong một sự kiện hoặc các sự kiện khác nhau phản ánh một vấn đề cần làm sáng tỏ Nghiên cứu về du lịch, môi trường và cộng đồng có liên quan chặt chẽ với nhau tới các điều kiện kinh tế - xã hội

Trang 14

6 Ý nghĩa của đề tài

- Làm rõ các vấn đề lí luận và thực tiễn về nguồn nhân lực trong ngành

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của phát triển nguồn nhân lực du

Trang 15

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH

1.1 Nguồn nhân lực

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Trên thế giới hiện nay, muốn phát triển kinh tế thì bất kỳ một quốc gia nào cũng đều phải dựa trên các nguồn lực: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người… Trong đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, nó có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Do đó trong kinh tế học xuất hiện thuật ngữ

“nguồn nhân lực” thể hiện sự công nhận của phương thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn lực con người

Hiện nay có nhiều các quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực

Theo Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước

Theo tổ chức lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động

Theo điều 6 của Bộ Luật Lao động Việt Nam: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động” [9, tr.2]

Tuy có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận, nhưng các định nghĩa về nguồn nhân lực đều đề cập đến các đặc trưng chung là:

- Số lượng nguồn nhân lực, trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu người

và trong tương lai sẽ có thêm bao nhiêu người nữa

Trang 16

- Chất lượng nhân lực, bao gồm: trí tuệ, trình độ, đạo đức, kỹ năng,

sức khoẻ, năng lực thẩm mỹ, của người lao động Trong đó, trí lực

và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực

- Cơ cấu nguồn nhân lực: thể hiện trên các phương diện khác nhau

như cơ cấu về trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi, dân tộc…

Nguồn nhân lực cũng được nhìn nhận không chỉ những người trong độ tuổi lao động mà cả những người ngoài độ tuổi lao động Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó; nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và các năng lực phẩm chất khác), tức là không chỉ bao hàm số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực hiện tại, mà còn bao hàm của nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới

Từ những phân tích trên, khái niệm nguồn nhân lực trong luận văn này

được hiểu như sau: Nguồn nhân lực là nguồn lực tiềm ẩn của dân cư, khả

năng huy động tham gia vào nền sản xuất xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai Khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng

và cơ cấu dân số [6, tr 26]

1.1.2 Các nội dung cơ bản của nguồn nhân lực

a Số lượng nguồn nhân lực

Khi nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, địa phương hay quốc gia nào thì vấn đề đầu tiên đặt ra là số lượng nguồn nhân lực Nghĩa là tổ chức, địa phương hay quốc gia có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố:

Thứ nhất là yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động;

Trang 17

Thứ hai, các yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân

b Chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực có thể coi là một trong những yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của mỗi một tổ chức, địa phương hay quốc gia

Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện ở thể lực, trí lực (trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật), tinh thần thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động… Trong ba mặt: Thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển, trí lực là phương thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn Ý thức tinh thần đạo đức tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hoá của tri thức thành thực tiễn Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực bởi có nó con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội

c Cơ cấu nguồn nhân lực

Khi xem xét, đánh giá về nguồn nhân lực của một tổ chức, địa phương hay quốc gia người ta thường chú trọng đến số lượng và chất lượng Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến cơ cấu - một yếu tố không thể thiếu của nguồn nhân lực Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuổi,…

1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực có có thể hiểu là sự biến đổi (gia tăng) về số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kiến thức, chuyên môn kỹ năng, và tinh thần, cũng như ý thức đạo đức của nguồn nhân lực

Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là tổng

thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

Trang 18

- xã hội trong từng giai đoạn phát triển [6, tr 44] Đó chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội

và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người Phát triển nguồn nhân lực có thể được nhìn nhận từ hai góc độ:

Thứ nhất, ở góc độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực của một địa

phương được hiểu là quá trình hoạch định nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực

Thứ hai, ở góc độ của tổ chức, doanh nghiệp thì phát triển nguồn nhân

lực là quá trình đảm bảo, duy trì lực lượng lao động cần thiết giúp tổ chức, doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình Đó là một quá trình diễn ra liên tục với hàng loạt các hoạt động như: dự báo nhu cầu, hoạch định, tuyển dụng, bố trí công việc, đào tạo, đánh giá, đãi ngộ lao động

Đối với Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực du lịch phải xuất phát từ công cuộc đổi mới, phát huy thành tựu của đổi mới, gắn với Chiến lược phát triển Du lịch và Quy hoạch phát triển nhân lực du lịch của cả nước và từng địa phương Phát triển nguồn nhân lực du lịch là trách nhiệm của toàn xã hội trong đó nhà nước, nòng cốt là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, có trách nhiệm quản lý và tạo điều kiện cho đào tạo và sử dụng hiệu quả nhân lực du lịch; cơ sở đào tạo du lịch phải có trách nhiệm cung cấp nhân lực đạt yêu cầu thị trường và doanh nghiệp du lịch phải sử dụng hợp lý và hiệu quả lao động

du lịch, khuyến khích và chủ động tích cực tham gia vào quá trình phát triển nguồn nhân lực du lịch tại doanh nghiệp và mạng lưới cơ sở đào tạo, dạy nghề

du lịch Thúc đẩy xã hội hoá giáo dục-đào tạo và thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội, theo nhu cầu thị trường, nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu của người học, đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người, nhất là những người làm du lịch và có nhu cầu làm du lịch Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá, phát triển nguồn nhân lực du lịch phải đáp ứng yêu cầu quốc tế, từng bước đạt những tiêu chuẩn chung và được

Trang 19

thừa nhận trong khu vực và thế giới, tạo tiền đề cho tự do di chuyển lao động quốc tế

Trong quá trình phát triển nguồn nhân lực thì hầu hết các quốc gia đều chú trọng phát triển về mặt chất lượng còn về số lượng và cơ cấu thì phát triển

ở mức hợp lý tùy tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển

1.2 Nguồn nhân lực du lịch

1.2.1 Du lịch

Ngày nay, ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới du lịch đã thực sự trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế (World Travel and Tourism Council – WTTC) đã công bố du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất trên thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp Du lịch được coi là ngành kinh tế quan trọng giúp các nước đang phát triển đẩy nhanh mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống cho người dân Du lịch góp phần tạo ra hàng triệu cơ hội việc làm trực tiếp hay gián tiếp đối với các ngành có liên quan khác như vận tải, tài chính, nông nghiệp Trong thời đại toàn cầu hóa, Du lịch đang trở thành nhịp cầu kết nối, giải quyết những bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo của các dân tộc trên toàn thế giới

Ngành Du lịch Việt Nam có lịch sử phát triển hơn 50 năm, nhưng chỉ thực sự phát triển nhanh vào những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ trước Ngày nay, du lịch đã được Đảng và Chính phủ xác định là ngành kinh tế mũi nhọn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua Năm 2001, Việt Nam mới thu hút được khoảng 2,3 triệu lượt khách quốc tế, thì đến năm

2012, con số này đã đạt 6 triệu lượt khách Với mức tăng trưởng 2 con số, Việt Nam và các nước Singapore, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia nằm trong danh sách 24 nước được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đánh giá có tốc

độ tăng trưởng tích cực nhất

Trang 20

Nếu so sánh với các ngành kinh tế khác, du lịch được xếp vào một trong những ngành mới Do đó, hệ thống các thuật ngữ, khái niệm cơ bản của ngành du lịch chỉ mới được chuẩn hoá trong thời gian gần đây

Trước khi Luật Du lịch được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2005, ở nước ta khái niệm “du lịch” cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc cách tiếp cận mỗi tác giả Từ khi có Luật Du lịch, khái niệm du lịch ở nước ta được sử dụng tương đối thống nhất theo cách giải thích thuật ngữ của Luật Luật Du lịch giải thích

khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến

đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [8, tr 10]

Luật Du lịch cũng giải thích một số thuật ngữ liên quan khác của Du lịch như sau:

- Hoạt động du lịch: Là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch

- Tài nguyên du lịch: Là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người với các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố

cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch

- Tham quan: Là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi

có tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch

- Sản phẩm du lịch: Là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi

Trang 21

- Dịch vụ du lịch: Là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch [8, tr 10-11]

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc,

có tính liên ngành liên vùng và xã hội hoá cao Chất lượng của hoạt động du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiềm năng tài nguyên du lịch, chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch và kết cấu hạ tầng, chính sách phát triển ngành du lịch của Nhà nước, tình hình an ninh chính trị của đất nước, mức độ mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Ngoài ra, với đặc thù của hoạt động du lịch là khách du lịch muốn thụ hưởng các sản phẩm và dịch vụ

du lịch thì phải thực hiện chuyến đi đến những điểm cung cấp dịch vụ; quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm các dịch vụ du lịch diễn ra đồng thời, thông qua đội ngũ lao động phục vụ trực tiếp, nên chất lượng của nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp, quyết định đến chất lượng của sản phẩm và dịch vụ

du lịch Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch là vấn đề mang tính sống còn đối với sự phát triển du lịch của mỗi quốc gia, vùng miền

Phát triển du lịch nhanh và bền vững, thu hẹp dần khoảng cách với những quốc gia có hoạt động du lịch phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc

tế sâu và toàn diện là yêu cầu cấp bách đặt ra cho ngành du lịch Việt Nam Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có đội ngũ lao động chất lượng cao, số lượng

đủ, cơ cấu hợp lý gồm đông đảo những nhà quản lý, những nhân viên du lịch lành nghề, những nhà khoa học du lịch giỏi chuyên môn nghiệp vụ, có tài năng và có trách nhiệm cao Do đó, phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài quyết định trực tiếp tới tương lai phát triển của ngành

du lịch

1.2.2 Nguồn nhân lực du lịch

Bất kể một tổ chức nào dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu thì yếu tố con người vẫn là yếu tố đầu tiên và cơ bản nhất Nguồn nhân lực là nguồn lực

Trang 22

quan trọng, có tính chất quyết định đến sự thành bại của tổ chức đó Vì vậy, phát huy tốt nguồn lực con người được xem như là chìa khóa cho sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi vùng, mỗi quốc gia

Trong những năm gần đây, hội nhập kinh tế đã trở thành một xu thế, một hiện tượng lớn nhất trong lịch sử phát triển kinh tế của xã hội loài người Quá trình toàn cầu hóa tăng cường mạnh mẽ các mối quan hệ gắn kết, tác động phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, mở rộng quy mô và cường độ các hoạt động kinh tế giữa các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên phạm vi toàn cầu trong sự vận động và phát triển Toàn cầu hóa kinh tế giúp phá bỏ những rào cản ngăn cách giữa các quốc gia, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế quốc tế, từ đó các quốc gia có thể tận dụng các cơ hội như

mở rộng thị trường, tiếp cận các nguồn vốn, các công nghệ kỹ thuật, tri thức quản lý ưu việt từ các quốc gia tiên tiến Với sự gia tăng mạnh mẽ của các hoạt động xuyên biên giới, quá trình phân công lao động quốc tế diễn ra, nhiều cơ hội việc làm sẽ tạo ta cho người lao động ở các quốc gia có lợi thế cạnh tranh Chính vì vậy, ngay nguồn nhân lực cũng bị chịu sự tác động mạnh

mẽ và đa diện của toàn cầu hóa kinh tế Lúc này nguồn nhân lực tốt, chất lượng cao là tiền đề vững chắc và là nhân tố quyết định đến tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, là nến tẳng vững chắc đảm bảo cho việc chuẩn bị tốt và thực hiện thành công quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của quốc gia

Du lịch Việt Nam đang đứng trước những cơ hội to lớn nhưng thách thức cũng không nhỏ Chúng ta có nhiều lợi thế về cảnh quan thiên nhiên đẹp; lịch sử, văn hóa giàu bản sắc; con người cần cù, hiếu khách; đất nước hòa bình, chế độ chính trị ổn định, kinh tế liên tục phát triển, được bạn bè thế giới bình chọn là “điểm đến an toàn, thân thiện” Tuy nhiên, trong tương quan của hội nhập quốc tế, Việt Nam phải chịu sự tác động mạnh mẽ trong bối cảnh quốc tế biến động phức tạp Sự phân công lao động quốc tế trong du lịch ở

Trang 23

khu vực và toàn cầu có cấu trúc, quy mô và cơ chế vận hành mới Quá trình phát triển kinh tế tri thức trong lĩnh vực dịch vụ diễn ra nhanh chóng, tạo ra

và dựa trên những lực lượng sản xuất và lợi thế phát triển mới, cạnh tranh về lao động rất gay gắt Chỉ có bắt kịp sự thay đổi nhanh chóng về tương quan lực lượng trên quy mô toàn cầu; về lợi thế so sánh và chiến lược, chính sách phát triển du lịch của các nước, các công ty đa quốc gia mới có thể đến thành công

Du lịch được coi là một ngành kinh tế tổng hợp, trong hoạt động du lịch, có rất nhiều thành phần tham gia vào hoạt động phục vụ khách du lịch Căn cứ vào mối liên hệ với khách du lịch, lao động du lịch được chia thành hai nhóm: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp

Lao động trực tiếp bao gồm những công việc trực tiếp phục vụ khách trong các cơ sở du lịch như trong khách sạn, nhà hàng, lữ hành, các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, cơ quan quản lý, đào tạo du lịch,… Các doanh nghiệp có giao dịch trực tiếp với du khách bao gồm: Dịch vụ lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ, bungalow, homestay, các khu resort,…); dịch vụ ăn uống (nhà hàng, quán Bar, các điểm bán đồ ăn nhanh, ); dịch vụ vui chơi giải trí (rạp chiếu phim, nhà hát, sòng bạc, công viên, viện bảo tàng,…); dịch vụ lữ hành (các công ty du lịch, các hãng lữ hành, đại lý lữ hành, ); dịch vụ vận chuyển (phòng bán vé hàng không, xe tuyến, tàu hỏa, tàu thủy, taxi, cho thuê xe ô tô,

xe máy, xe đạp…)…

Lao động gián tiếp bao gồm những công việc trong chuỗi cung ứng, hỗ trợ cho các hoạt động trực tiếp phục vụ khách du lịch như: cung ứng thực phẩm cho khách sạn nhà hàng, cung ứng hàng hoá cho các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, xây dựng khách sạn, các trang thiết bị phục vụ khách

du lịch… Lao động trong lĩnh vực này khá đa dạng từ các tổ chức, cộng đồng:

- Các doanh nghiệp và dịch vụ hỗ trợ du lịch bao gồm các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các doanh nghiệp phục vụ du lịch

Trang 24

trực tiếp như: công ty vận tải, thương ma ̣i bán buôn , bán lẻ hàng hóa, vệ sinh môi trường, cung cấp điện, nước, kỹ thuật, công ty xây dựng, kiến trúc, công

ty quảng cáo, công ty bia rượu, nước giải khát, công ty phát hành thẻ tín dụng, sức khỏe, y tế…

- Các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có liên quan đến hoạch định chính sách, điều hành, quản lý và kiểm soát các dịch vụ phục vụ du lịch như: cơ quan cấp phép, đăng ký kinh doanh, cơ quan quản lý tài nguyên, cơ quan quản lý văn hóa, cơ quan bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội …

Trong khi đó cộng đồng dân cư liên quan đến phục vụ du lịch, như: các gia đình, cá nhân, các tổ chức cộng đồng của dân tộc ít người lại tham gia quá trình phục vụ khách du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

Như vậy, xét một cách tổng quát, nguồn nhân lực ngành du lịch bao

gồm toàn bộ lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch Do đó, khi đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực

ngành du lịch thì không chỉ đề cập đến các lao động nghiệp vụ phục vụ khách một cách trực tiếp mà còn cả các lao động ở cấp độ quản lý, lao động làm công tác đào tạo và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch Trong

đó, lao động trực tiếp phục vụ khách du lịch bao giờ cũng có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng dịch vụ, từ đó đến chất lượng sản phẩm du lịch

1.2.3 Đặc điểm nguồn nhân lực du lịch

1.2.3.1 Những đặc điểm chung

Du lịch là một hoạt động gắn trực tiếp với con người, vì con người và

do chính con người quyết định công nghệ vận hành của ngành du lịch Bởi du lịch là ngành kinh tế mang tính phi sản xuất vật chất mà thông qua cung cấp dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của khách Chính vì vậy chất lượng lao động sẽ quyết định chất lượng dịch vụ

Trang 25

Một trong những đặc điểm của du lịch là quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời do đó càng đặt ra yêu cầu cao đối với đội ngũ nhân viên phục vụ Đặc biệt, trong du lịch, mức độ chuyên môn hóa của lao động rất cao bởi các hoạt động phục vụ du lịch có tính độc lập tương đối (hướng dẫn viên,

lễ tân khách sạn, nhân viên pha chế,…) dẫn đến đòi hỏi về trình độ kỹ thuật

và nghiệp vụ chuyên môn của nhân viên du lịch khá cao

Khách của ngành du lịch rất đa dạng về quốc tịch, phong tục tập quán, động cơ đi du lịch do đó yêu cầu lao động trong ngành du lịch phải có kiến thức sâu rộng và khả năng thích ứng linh hoạt

Thời gian lao động ở một số lĩnh vực trong du lịch là 24/24 giờ đòi hỏi một lực lượng lao động lớn nhưng lại chịu sự tác động của yếu tố mùa vụ nên nhân lực thường có tính biến động cao, gây ra những khó khăn trong công tác quản lý

Cơ cấu lao động trong du lịch cũng có những đặc điểm rất đặc trưng:

độ tuổi lao động tương đối trẻ so với các ngành kinh tế khác; tỷ lệ lao động nữ cao hơn lao động nam

1.2.3.2.Vai trò, đặc điểm của các nhóm lao động du lịch

Lực lượng lao động trong ngành du lịch được chia thành 3 nhóm với những vai trò khác nhau:

a Nhóm lao động chức năng quản lý nhà nước về du lịch: bao gồm

những người làm việc trong những cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương như Tổng cục Du lịch, các sở Văn hóa Thể thao

và Du lịch, trung tâm xúc tiến du lịch, phòng quản lý du lịch ở các quận huyện Nhóm này có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và từng địa phương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch Họ đại diện cho Nhà nước để hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả; kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh

Trang 26

“Tùy theo chức năng và nhiệm vụ được phân công, những người làm việc ở cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có thể đảm trách các công việc khác nhau như: xúc tiến, quảng bá du lịch; hợp tác quốc tế về du lịch; tổ chức cán bộ, đào tạo trong du lịch; quản lý lữ hành, khách sạn; thanh tra du lịch; kế hoạch đầu tư dư lịch,… Bộ phận lao động này chiếm tỷ trọng không lớn trong toàn bộ nhân lực du lịch, song đây là bộ phận nhân lực có trình độ cao, có hiểu biết tương đối toàn diện và có trình độ chuyên môn về du lịch Những kiến thức, hiểu biết của họ là ở tầm vĩ mô thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước”

[4, tr 122]

b Nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch: Bao gồm

những người làm việc ở các cơ sở đào tạo như cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và cán bộ nghiên cứu ở các viện khoa học về du lịch Đây là bộ phận có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về ngành du lịch, có nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học về du lịch và

có vai trò to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch, tác động lớn đến chất lượng và số lượng của nguồn nhân lực ngành du lịch hiện tại và trong tương lai Đây cũng là nhóm có khả năng độc lập nghiên cứu khoa học cao nhất trong số ba nhóm

c Nhóm lao động chức năng kinh doanh: Nhóm lao động này chiếm

số lượng đông đảo nhất trong hoạt động của ngành du lịch Lực lượng lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp du lịch thường được chia thành 4 nhóm cơ bản với vai trò và đặc trưng khác nhau trong quá trình hoạt động kinh doanh du lịch:

* Nhóm lao động chức năng quản lý cấp cao: Nhóm này gồm những

người lãnh đạo đứng đầu các đơn vị kinh tế cơ sở (doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, hãng lữ hành du lịch, vận chuyển du lịch, là tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc hoặc các chức danh tương đương) Lao động của người

Trang 27

lãnh đạo trong lĩnh vực kinh doanh du lịch có những điểm riêng biệt, bởi đối tượng, công cụ và sản phẩm lao động của họ có tính đặc thù, thể hiện:

- Là loại lao động trí óc đặc biệt: Họ hầu như không sử dụng sức mạnh

cơ bắp với các thao tác công nghệ của thiết bị máy móc hoặc các công cụ lao động khác, “công cụ” của họ là tư duy Trong quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định thể hiện rõ nét nhất đặc điểm lao động trí óc của người lãnh đạo trong lĩnh vực kinh doanh du lịch Những quyết định của đội ngũ này có tác động quan trọng để mang lại hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch Các quyết định của họ phải tuân thủ nguyên tắc khoa học, xong lao động lãnh đạo trong kinh doanh du lịch còn vận dụng linh hoạt, sáng tạp các quy luật, các nguyên tắc quản lý chung bởi đối tượng của họ chính là quá trình, hệ thống kinh doanh và người lao động

- Là loại lao động tổng hợp: Tính tổng hợp của lao động lãnh đạo biểu hiện ở chỗ nó vừa là lao động quản lý, vừa là lao động chuyên môn, vừa là lao động của các hoạt động xã hội khác Thứ nhất, với tư cách là một nhà chuyên môn, lao động của lãnh đạo là lao động của người tìm kiếm nhân tài, sử dụng người giỏi, tổ chức và điều hành công việc một cách trôi chảy cho mục đích kinh doanh có hiệu quả cao Thứ hai, với tư cách là nhà hoạt động xã hội, người lãnh đạo trong kinh doanh du lịch còn tham gia các hoạt động kinh tế -

xã hội khác trong đơn vị và theo yêu cầu của địa phương, ngành và đất nước (các tổ chức đoàn thể quần chúng, các hiệp hội khoa học, kinh tế, kinh doanh, chính trị, thể thao, văn hoá )

Những đặc điểm trên đòi hỏi người lãnh đạo phải được đào tạo bài bản

về chuyên môn, đặc biệt là các kiến thức quản lý và quản lý du lịch

* Nhóm lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế: Nhóm

này bao gồm lao động thuộc phòng kế hoạch đầu tư và phát triển; lao động thuộc phòng tài chính-kế toán (hoặc phòng kinh tế); lao động thuộc phòng vật

tư thiết bị, phòng tổng hợp; lao động thuộc phòng quản lý nhân sự Nhiệm

Trang 28

vụ chính của họ là tổ chức hạch toán kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp, tổ chức lao động, tổ chức các hoạt động kinh doanh, hoạch định quy mô và tốc độ phát triển doanh nghiệp Lao động thuộc nhóm này có khả năng phân tích các vấn đề, đang hoặc sắp xảy ra trong doanh nghiệp của mình, các tác động của các biến số vĩ mô của nền kinh tế, ảnh hưởng tới nhiệm vụ của mình hoặc doanh nghiệp Họ phải có khả năng phân tích - tổng hợp tốt để ra được kết quả cuối cùng cung cấp được thông tin cho lãnh đạo xử

lý và từ đó đề ra được quyết định quản lý đúng đắn trong kinh doanh Do đó,

để có được những thông tin này, mỗi lao động thuộc các bộ phận quản lý chức năng đồng thời phải có khả năng biết “tổng hợp” vấn đề Bản tổng hợp đòi hỏi phải chính xác, có giá trị thực tiễn và có thể dùng để tham mưu cho lãnh đạo Lao động quản lý chức năng phải được đào tạo theo đúng chuyên ngành và có những kiến thức, hiểu biết về các lĩnh vực kinh doanh du lịch Ngoài ra, nhóm lao động này còn phải có tính năng động, nhạy cảm, kiên trì,

dễ thích nghi và có nghị lực [4, tr 128-129]

* Nhóm lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh

nghiệp du lịch: Lao động thuộc nhóm này gồm nhân viên làm vệ sinh môi

trường; nhân viên cung ứng hàng hoá; nhân viên phụ trách công tác sửa chữa điện nước; nhân viên tạp vụ; nhân viên thường trực bảo vệ; trong các công

ty, khách sạn hoặc các doanh nghiệp kinh doanh du lịch Họ không trực tiếp cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho du khách Nhiệm vụ chính của họ là cung cấp những nhu yếu phẩm, phương tiện làm việc cho những lao động thuộc các

bộ phận khác của doanh nghiệp Doanh nghiệp đòi hỏi bộ phận lao động này phải luôn trong tình trạng sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ; có những quyết định kịp thời, giải quyết tốt mọi công việc hàng ngày cũng như những việc đột xuất; năng động và linh hoạt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Như vậy, nhóm lao động này cũng cần phải có chuyên môn và được đào tạo về

Trang 29

chuyên ngành du lịch và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội để có thể thích ứng với công việc

* Nhóm lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách: Đây là những

lao động trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ và phục vụ cho du khách Nhóm lao động này rất đông đảo, thuộc nhiều ngành nghề khác nhau và đòi hỏi sự tinh thông trong nghề nghiệp Trong khách sạn có lao động thuộc nghề lễ tân; nghề buồng; nghề bàn; nghề chế biến món ăn và nghề pha chế đồ uống; Trong kinh doanh lữ hành có lao động làm công tác điều hành chương trình du lịch, marketing du lịch và nghề hướng dẫn du lịch Trong ngành vận chuyển khách du lịch có lao động thuộc nghề điều khiển phương tiện vận chuyển du lịch Tùy theo số lượng và quy

mô của các doanh nghiệp mà có thể thêm bớt lao động ở các vị trí, hoặc bố trí một người kiêm nhiều việc với sự chi tiết hoá đến từng việc cụ thể, phân công cho từng chức danh nghề nghiệp khác nhau

Kinh doanh du lịch là ngành kinh doanh đặc biệt Do chủ cung cấp các dịch vụ và giải quyết các mối quan hệ giữa con người với con người, nên đòi hỏi nhân viên phải có các kỹ năng giao tiếp, sự thân thiện, sự chuyên nghiệp

và hình thức hấp dẫn, đặc biệt là kỹ năng chuyên sâu trong từng lĩnh vực cụ thể

Ngoài những đặc điểm chung thì nhóm lao động chức năng kinh doanh

có một số đặc điểm riêng là:

+ Độ tuổi lao động trẻ, tỷ lệ lao động nữ cao hơn so với lao động nam

Do đặc thù của ngành du lịch đòi hỏi phải có lực lượng lao động có sức khoẻ, trẻ trung và nhanh nhẹn, nên hình thành lực lượng lao động có cơ cấu độ tuổi trẻ Nhiều lĩnh vực phục vụ khách du lịch như lễ tân, thu ngân, buồng, bàn, bar, đòi hỏi có sự duyên dáng, cẩn thận và khéo léo của người phụ nữ, vì vậy

tỷ lệ lao động nữ thường cao hơn lao động nam

+ Không đồng đều về chất lượng và cơ cấu:

Trang 30

Thứ nhất, trong ngành du lịch có nhiều công việc với yêu cầu lao động giản đơn, không đòi hỏi phải đào tạo ở trình độ cao mới thể hiện được, dẫn đến tình trạng tỷ lệ lao động chưa tốt nghiệp phổ thông trung học khá cao Ngược lại, ở những bộ phận tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch, đội ngũ lao động thường được trang bị đầy đủ các kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, giao tiếp và tỷ lệ thông thạo ngoại ngữ tương đối cao

Thứ hai, do có sự phân bố không đồng đều theo lãnh thổ Xuất phát từ tính định hướng tài nguyên rõ nét của ngành du lịch, các hoạt động du lịch thường diễn ra tại các khu, điểm du lịch, những nơi có nhiều tài nguyên du lịch và được đầu tư đồng bộ về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ngành, vì vậy phần lớn lao động đã qua đào tạo đều làm việc tại những khu du lịch, trung tâm du lịch lớn, ở những khu vực còn lại thường thiếu lao động

+ Có sự biến động mạnh về số lượng theo thời gian trong năm: Do ảnh hưởng của tính thời vụ du lịch các hoạt động du lịch thường diễn ra sôi động trong một thời gian nhất định của năm (còn gọi là mùa cao điểm), vào thời điểm cao điểm của mùa du lịch, các doanh nghiệp du lịch thường phải tuyển dụng thêm các lao động thời vụ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, phục vụ khách của mình Đến mùa thấp điểm, doanh nghiệp du lịch chấm dứt hợp đồng lao động với những lao động thời vụ Điều này cũng gây ra những khó khăn nhất định trong công tác quản lý lao động

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực du lịch

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển nguồn nhân lực du lịch

Có những yếu tố ảnh hưởng đến số lượng nguồn nhân lực, có những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực Bao gồm:

- Tốc độ gia tăng dân số, chính sách phát triển dân số: Trên thực tế, sự

tăng, giảm dân số tỉ lệ thuận với sự tăng, giảm số lượng nguồn nhân lực ở hầu hết các quốc gia Tuy nhiên, sự gia tăng nhân lực không đồng nghĩa với sự phát triển nhân lực đặc biệt là xét về mặt chất lượng Tại những nước đang

Trang 31

phát triển, quy mô dân số lớn, tốc độ gia tăng cao chính là lực cản đối với tốc

độ tăng trưởng kinh tế và phát triển nguồn nhân lực Tốc độ gia tăng dân số cao gây sức ép lên các cơ sở hạ tầng xã hội, ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách xã hội của nhà nước, trong đó có chính sách về giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần

hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số ở mức hợp lý

- Trình độ phát triển kinh tế và phát triển du lịch: Trình độ phát triển

kinh tế tạo nên nền tảng vật chất để giải quyết các vấn đề về nguồn nhân lực

Ở những quốc gia có trình độ kinh tế phát triển cao, mặt bằng chung của đời sống nhân dân và các thiết chế xã hội đạt mức cao, Nhà nước có điều kiện đầu

tư giải quyết tốt vấn đề giáo dục, đào tạo ngồn nhân lực, các chính sách xã hội, do vậy chất lượng nguồn nhân lực cũng được nâng cao

Trình độ phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển

du lịch và đến lượt mình, trình độ phát triển du lịch sẽ quyết định đến số lượng, chất lượng và xu thế phát triển của nguồn nhân lực ngành du lịch

- Trình độ phát triển của giáo dục đào tạo: Dù ở bất kỳ quốc gia nào

thì giáo dục đào tạo luôn là yếu tố cấu thành quan trọng của phát triển nguồn nhân lực; chất lượng của giáo dục đào tạo ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực, thông qua giáo dục đào tạo các quốc gia hình thành nguồn nhân lực của mình với trình độ đào tạo, cơ cấu ngành nghề phù hợp với yêu cầu phát triển Trình độ phát triển của đào tạo du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của nguồn nhân lực ngành du lịch

- Các chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô: Các chính sách kinh tế - xã hội

vĩ mô của Nhà nước như chính sách giáo dục đào tạo; chính sách tuyển dụng,

sử dụng lao động, lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động đều có tác động trực tiếp đến nguồn nhân lực

Trang 32

Chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước không chỉ tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực mà còn hạn chế các tác động tiêu cực đến sự phát triển của nguồn nhân lực thông qua những công cụ điều tiết vĩ mô

Chính sách phát triển du lịch của Nhà nước tác động đến sự phát triển

du lịch, trong đó chính sách đào tạo phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch

- Các yếu tố khác: Thường là các nhân tố tác động từ bên ngoài nhưng

có ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực du lịch

+ Toàn cầu hoá: Quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy cuộc chạy đua phát triển nguồn nhân lực tại các quốc gia, khu vực trên thế giới Toàn cầu hóa đã làm cho các nền kinh tế phát triển nhanh chóng hơn và trở thành một thị trường toàn cầu, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau, cạnh tranh gay gắt với nhau Khả năng cạnh tranh được quyết định bởi năng lực tạo ra giá trị tăng thêm của các sản phẩm, dịch vụ và các quá trình hoạt động của mỗi quốc gia

và của từng doanh nghiệp Đóng góp chủ yếu vào điều này phụ thuộc vào kiến thức và các kỹ năng của lực lượng lao động Trên thực tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo và các kỹ năng của lực lượng lao động là vũ khí cạnh tranh quan trọng trong thế kỷ XXI

+ Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin

và truyền thông: Tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo ra những thay đổi lớn trong các tổ chức và xuất hiện cách thức thực hiện công việc mới Nhiều ngành nghề mới, công nghệ mới và phương thức quản lý mới xuất hiện, đòi hỏi người lao động phải được trang bị những kiến thức, kỹ năng mới để đảm nhận các công việc mới Những biến đổi trong các tổ chức cũng làm thay đổi vai trò của người lao động, họ có nhu cầu trong việc ra quyết định và thực sự cần thiết trong việc mở rộng hơn các kỹ năng làm việc Người nhân viên cần bổ sung nhiều hơn các kỹ năng so với trước đây làm việc với cấp bậc tổ chức chậm thay đổi với một chuỗi mệnh lệnh rõ ràng với người

Trang 33

nghĩ ở trên, còn người làm ở phía dưới Những điều này làm thay đổi mạnh

mẽ về chất đối với nguồn nhân lực

+ Xu thế thay đổi về cách thức đi du lịch và các nhu cầu trong khi đi du lịch: Kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông được cải thiện vượt bậc cho phép khách du lịch rút ngắn thời gian đi lại, tiếp cận đến nhiều điểm đến

du lịch, tạo nên xu thế khách du lịch rút ngắn thời gian lưu trú tại mỗi điểm du lịch và thực hiện nhiều chuyến đi du lịch đến các điểm đến du lịch khác nhau trong thời gian trong năm

Các dịch vụ du lịch được chia thành 2 nhóm chính là nhóm dịch vụ chính (gồm ăn uống và lưu trú) và nhóm dịch vụ bổ sung (nghỉ dưỡng, tham quan, tìm hiểu, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khoẻ, tham gia các hoạt động thể thao, văn hoá - xã hội ) Cùng với xu thế đi du lịch nhiều lần trong năm thì khách du lịch ngày càng có nhu cầu nhiều hơn với các dịch vụ thuộc nhóm dịch vụ bổ sung Những thay đổi của “cầu du lịch” đã làm thay đổi “cung du lịch” và qua đó tác động trực tiếp, làm thay đổi sự phát triển của nguồn nhân lực ngành du lịch

1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực du lịch

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của một

số quốc gia trên thế giới

1.3.1.1 Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những quốc gia điển hình của sự thành công trong việc phát triển nguồn lực con người Đất nước Nhật Bản không có những ưu đãi về mặt địa hình cũng như tài nguyên thiên nhiên, do đó con người chính là yếu tố quyết định cho sự phát triển của đất nước này

Hệ thống phát triển nguồn nhân lực ở Nhật Bản được gọi là hệ thống phát triển nhân lực suốt đời Việc phát triển nguồn nhân lực, được tiến hành

từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đào tạo cơ bản đến ứng dụng, thực hiện một cách liên tục và phù hợp với các nhóm người lao động Các hoạt động này đảm bảo sự thăng tiến nghề nghiệp một cách vững chắc theo thời

Trang 34

gian, đồng thời làm cho người lao động có được các năng lực thích ứng với

những biến đổi trong thị trường lao động

Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực: Bộ Lao động chuẩn bị kế hoạch cơ bản làm cơ sở cho việc đào tạo nghề nghiệp, kiểm tra tay nghề và phát triển các năng lực nghề nghiệp khác phù hợp với đòi hỏi của thị trường lao động, bảo đảm thoả mãn những yêu cầu và nguyện vọng của người lao động trong một môi trường thường xuyên biến đổi

Hệ thống tổ chức quản lý phát triển nguồn nhân lực ở Nhật Bản được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc ở cả hai cấp độ quốc gia và địa phương (tỉnh) Cục phát triển nguồn nhân lực thuộc Bộ Lao động Nhật Bản chịu trách nhiệm toàn bộ về quản lý hệ thống phát triển nhân lực và hợp tác quốc tế Phát triển nguồn nhân lực ở khu vực tư nhân: Hoạt động phát triển nguồn nhân lực được các công ty lớn tiến hành tương đối độc lập Các công ty thường có cơ sở đào tạo và các chương trình phát triển nhân lực một cách hệ thống Tổ chức đào tạo tại các cơ sở công cộng: Chính sách đào tạo nghề nghiệp công cộng hiểu theo nghĩa rộng bao hàm cả những hỗ trợ cho đào tạo tại doanh nghiệp và tự đào tạo của người lao động Hệ thống các cơ sở phát triển nhân lực này bao gồm các trung tâm phát triển việc làm và nguồn nhân lực, các trường cao đẳng và trung học dạy nghề

Quá trình phát triển nhân lực ngành du lịch được thực hiện trong một

hệ thống gồm ba hình thức đào tạo công cộng, đào tạo doanh nghiệp và tự đào tạo Đào tạo tại doanh nghiệp du lịch tại Nhật Bản rất được coi trọng Đối với những nghề giản đơn, như phục vụ buồng, giặt là, phục vụ nhà hàng khâu huấn luyện tại vị trí công việc là chính, đồng thời có cơ chế khuyến khích tự học, tự vươn lên, học suốt đời và gắn suốt đời với doanh nghiệp cộng đồng Vai trò của Chính phủ thể hiện rõ nhất trong đào tạo công cộng, nhưng không chỉ giới hạn trong đó, mà còn thể hiện qua các mối quan hệ với doanh nghiệp

và người lao động, cũng như qua việc xây dựng khuôn khổ luật pháp, thể chế

Trang 35

và kế hoạch nhằm hỗ trợ quá trình phát triển năng lực của người lao động [6,

tr 57-58]

1.3.1.2 Thái Lan

Trong những năm gần đây, Thái Lan trở thành một trong những nước đứng đầu về du lịch của khu vực Châu Á Chính phủ Thái Lan luôn coi việc phát triển nguồn nhân lực là một trong các vấn đề ưu tiên hàng đầu trong kế hoạch phát triển quốc gia Kế hoạch phát triển du lịch tập trung giải quyết nhóm vấn đề về giáo dục nghề nghiệp du lịch xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của ngành du lịch Thái Lan

Chính sách về phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch được thực hiện nhằm phục vụ quá trình công nghiệp hoá ở Thái Lan, được thực hiện bằng những chương trình chủ yếu sau: Tăng cường giáo dục dạy nghề và kỹ thuật nghiệp vụ du lịch; nhấn mạnh việc đào tạo kỹ năng thực hành, phục vụ du lịch; khuyến khích đào tạo nội bộ (đào tạo tại doanh nghiệp du lịch); Các chương trình trợ giúp của nước ngoài trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch

Ở Thái Lan, các chương trình phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch được thực hiện với sự hợp tác giữa Chính phủ và khu vực tư nhân Quá trình hợp tác này phản ánh sự liên kết giữa giáo dục và đào tạo nghề, liên kết giữa các hệ thống trường học và nhà máy Có sự liên kết giữa Chính phủ và thành phần tư nhân, trường tư trong các lĩnh vực đào tạo nghề du lịch [6, tr 54-55]

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của một

số địa phương trong nước

1.3.2.1 Đà Lạt

Đà Lạt - Lâm Đồng đang được xem là một trong những địa điểm hấp dẫn du khách nhất hiện nay, năm 2009, du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng đó đón và phục vụ trên 2,8 triệu lượt khách đến tham quan, nghỉ dưỡng; trong đó có 190 ngàn lượt du lịch quốc tế Hiện nay Lâm đồng có 790 cơ sở lưu trú du lịch có

Trang 36

thể phục vụ cùng lúc 45 ngàn người với 15.000 phòng, trong đó có 70 khách sạn từ 1- 5 sao, 25 công ty lữ hành - vận chuyển và 6 đơn vị lữ hành quốc tế,

33 khu điểm tham quan du lịch

Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn phát triển nguồn nhân lực ngành

du lịch của Lâm Đồng là:

- Xây dựng cơ sở đào tạo một cách hệ thống gồm dạy nghề, đào tạo các cấp từ trung cấp đến đại học về du lịch Đổi mới công tác quản lý và tổ chức đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn hóa quốc gia, quốc tế cho ngành du lịch, gắn lý thuyết với thực hành, đào tạo với nghiên cứu để nâng cao chất lượng giảng dạy và trình độ đội ngũ cán bộ giảng viên

- Dự báo trước được xu hướng du lịch trên thế giới, những yêu cầu của

du khách trong tương lai, những sản phẩm du lịch dự kiến sẽ thiết lập để có thể đào tạo nguồn nhân lực đi tắt đón đầu, tránh tình trạng đào tạo cấp tốc kém hiệu quả

+ Hoạch định các chính sách phát triển du lịch theo từng địa phương + Có kỹ năng chuyên môn nghề nghiệp về hướng dẫn viên du lịch, tiếp tân, quản lý và phục vụ buồng, bếp,…

- Thay đổi những chính sách đối với lực lượng lao động trong ngành du lịch như:

+ Cải thiện điều kiện lao động và nâng cao chất lượng môi trường trong doanh nghiệp du lịch

+ Đề ra nhưng quy định nhằm hoàn thiện chế độ đãi ngộ, đánh giá và khen thưởng người lao động Hoàn thiện hệ thống nội quy và tăng cường kỷ luật lao động

+ Bố trí và phân công lao động thích hợp, và thực hiện một số giải pháp

cơ bản trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch:

Thứ nhất, liên kết bồi dưỡng nâng cao, đào tạo lại và tuyển dụng mới nhân lực thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về du lịch

Trang 37

Thứ hai, liên kết tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ kinh doanh du lịch Tổ chức cho các doanh nghiệp đặt hàng cấp học bổng cho sinh viên tại các cơ sở đào tạo du lịch, cam kết thỏa thuận khi ra trường thì sinh viên làm việc cho các doanh nghiệp ít nhất là 5 năm Hoặc các doanh nghiệp thông qua việc quy hoạch cán bộ để tuyển chọn, cử người

đi học

Thứ ba, liên kết đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực để kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái: cần phân định rõ và đảm bảo tính chuyên môn trong quá trình tham gia vào việc tạo ra sản phẩm dịch vụ và quá trình phục vụ du khách du lịch sinh thái Việc phân định nhằm đảm bảo nội dung đào tạo mang tính chuyên sâu để hình thành và phát triển các kỹ năng của người lao động cho phù hợp sản phẩm và nhu cầu của thị trường [7, tr 37-38]

1.3.2.2 Đà Nẵng

Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương - trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam Đà Nẵng là thành phố có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển nhanh du lịch, được xác định là một trong những trung tâm du lịch của cả nước Thiên nhiên ưu đãi cho Đà Nẵng nằm giữa vùng kế cận ba di sản văn hoá thế giới: Cố đô Huế, phố cổ Hội An

và thánh địa Mỹ Sơn Trong những năm qua, du lịch Đà Nẵng có sự phát triển nhanh về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, theo đó nhu cầu về nhân lực ngành liên tục tăng

Tuy nhiên, thực trạng nguồn nhân lực du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay chưa có tính chuyên nghiệp cao, thiếu lao động có tay nghề, yếu về trình

độ quản lý là một trong những rào cản cơ bản đối với quá trình thúc đẩy phát triển du lịch Đà Nẵng Tính đến năm 2009, số lao động trong lĩnh vực Du lịch tại Đà Nẵng chỉ mới đạt 5.780 người, trong khi với tốc độ phát triển ngành du lịch như hiện nay, dự kiến đến năm 2015, số lao động dịch vụ sẽ cần khoảng

Trang 38

19.000 người mới có thể đáp ứng được hơn 15.500 phòng khách sạn Thêm vào đó, yêu cầu về nhân lực trong ngành du lịch ngày càng cao, đặc biệt về yêu cầu chất lượng, kỹ năng nghiệp vụ, trình độ quản lý, ngoại ngữ, cũng như

cơ cấu lao động hợp lý Thực tế đòi hỏi ngành du lịch Đà Nẵng phải có chính sách và chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch phù hợp với mục tiêu chung của chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam Nguồn nhân lực hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển cả về số lượng và chất lượng

Xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố đã đặt ra một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đà Nẵng là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Trong đó đưa ra các giải pháp:

* Giải pháp phát triển nguồn nhân lực của thành phố (giai đoạn 2011-2015)

- Đầu tư xây dựng Trường Cao đẳng nghề Du lịch Đà Nẵng

- Tiến hành bồi dưỡng cán bộ quản lý doanh nghiệp, điều hành du lịch

- Mở các lớp đào tạo nghiệp vụ hướng dẫn, nghiệp vụ khách sạn, nghiệp

vụ tiếp thị du lịch, tổ chức sự kiện du lịch, nghiệp vụ quản lý nhà nước

- Đào tạo, bồi dưỡng 100 cán bộ quản lý, điều hành kinh doanh du lịch

* Giải pháp phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch

- Xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch trong doanh nghiệp

- Hoàn thiện công tác tuyển dụng, các chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài

- Nâng cao công tác đào tạo, bồi dưỡng nhắm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Trang 39

- Cải thiện điều kiện lao động và nâng cao chất lượng môi trường làm việc trong doanh nghiệp du lịch

- Cải thiện điều kiện lao động và nâng cao chất lượng môi trường làm việc trong doanh nghiệp du lịch

- Cải cách chế độ đãi ngộ, đánh giá và khen thưởng người lao động

- Hoàn thiện hệ thống nội quy và tăng cường kỷ luật lao động

- Bố trí và phân công lao động thích hợp tại các doanh nghiệp

Tóm lại, phát triển nhân lực là yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định, vừa là yêu cầu vừa là động lực cho sự phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng Phát triển nhân lực là một trong những động lực quan trọng để hoàn thành cơ bản sự nghiệp CNH-HĐH, là nhân tố quyết định phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, hài hòa và bền vững

1.3.2.3 Quảng Ninh

Quảng Ninh là một tỉnh phía Đông Bắc của Tổ quốc Với diện tích 6.100

km2, có 3 cửa khẩu quốc gia và quốc tế, được thiên nhiên ưu đãi nhiều nhiều cảnh quan nổi tiếng như vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long; nhiều bãi biển đẹp như Trà cổ, Cụ Tụ, Bói Dài; gần 500 di tích lịch sử, văn hoá, nghệ thuật như Yên Tử, đền Cửa Ông, di tích lịch sử Bạch Đằng, đình Quan Lạn , Quảng Ninh có nhiều lợi thế so với các địa phương khác để phát triển kinh tế, cả công nghiệp, du lịch và dịch vụ Vì vậy, phát triển du lịch vẫn là hướng đi lâu dài của tỉnh, với lợi thế "trời cho" ấy, Quảng Ninh đã đầu tư cơ bản cả nhân lực và vật lực, mới đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, đặc biệt là phát triển ngành du lịch

Ngành Du lịch Quảng Ninh đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng được yêu cầu của du khách Hàng năm, ngành du lịch phối hợp các đơn vị của Tổng Cục du lịch, mời chuyên gia trong nước và nước ngoài mở các lớp đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ du lịch cho đối tượng lao động quản lý, lao động trực tiếp, gián tiếp nhằm nâng cao

Trang 40

kiến thức cho người làm du lịch, giúp cho họ tiếp cận cách quản lý và làm du lịch chuyên nghiệp hơn, có ý thức phát triển ngành du lịch của tỉnh

Tỉnh Quảng Ninh cũng đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cũng như nâng cao chất lượng giáo viên giảng dạy của các cơ sở đào tạo về du lịch trên địa bàn, do đó chất lượng cán bộ, nhân viên làm du lịch được nâng lên, thu hút du khách về thăm lại Quảng Ninh ngày một đông hơn

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp làm dịch vụ du lịch cũng tự xây dựng các chương trình đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ lao động của doanh nghiệp với nhiều hình thức như đào tạo ngắn hạn, dài hạn, đào tạo liên thông Mở các khoá đào tạo ngoại ngữ cho hướng dẫn viên, lễ tân đang làm việc tại các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh

1.3.3 Một số bài học rút ra cho phát triển nguồn nhân lực du lịch ở Lào Cai

Từ kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch ở các nước nói, các địa phương nói trên có thể rút ra một số bài học lớn cho phát triển nguồn nhân du lịch ở Lào Cai như sau:

- Thứ nhất, tăng cường quản lý nhà nước đối với phát triển nguồn nhân

lực ngành du lịch tỉnh Lào Cai: Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ , chất lượng

của nguồn nhân lực ngành Du lịch giữ vai trò quyết định đối với chất lượng của sản phẩm và dịch vụ du lịch, qua đó quyết định sự phát triển của ngành du lịch Tỉnh cần đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục nghề nghiệp, coi đó là chìa khoá cho thành công của sự phát triển du lịch Để phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch đáp ứng với yêu cầu phát triển cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch thông qua những công cụ như xây dựng và ban hành các chính sách phát triển; xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch và phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch Tỉnh cũng cần chủ động xây dựng hệ thống đào tạo du lịch tại tỉnh

- Thứ hai, phát huy vai trò của các bên có liên quan trong phát triển

nguồn nhân lực ngành du lịch: Hầu hết các nước đều đã chuyển vai trò của

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Mai Tiến Dũng (2010), Phát triển nguồn nhân lực cho Thủ đô Hà Nội, tham luận tại Hội thảo Quốc gia lần thứ hai về “ Đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch theo nhu cầu xã hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực cho Thủ đô Hà Nội", tham luận tại Hội thảo Quốc gia lần thứ hai về “ Đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch theo nhu cầu xã hội
Tác giả: Mai Tiến Dũng
Năm: 2010
3. Nguyễn Văn Đính (2009), Trường Đại học Hà Tĩnh, Báo cáo “ Phát triển nguồn nhân lực Du lịch Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực Du lịch Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Đính
Năm: 2009
4. Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2010), giáo trình “ Kinh tế Du lịch”, NXB ĐHKTQD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB ĐHKTQD Hà Nội
Năm: 2010
10. Nguyễn Văn Lưu, Đoàn Mạnh Cương (2010). Đẩy mạnh phát triển nhân lực Du lịch- Giải pháp mang tính quyết định sự phát triển Du lịch của Du lịch khu vực ĐB Sông Cửu Long. Vụ đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh phát triển nhân lực Du lịch- Giải pháp mang tính quyết định sự phát triển Du lịch của Du lịch khu vực ĐB Sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Văn Lưu, Đoàn Mạnh Cương
Năm: 2010
11. Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2012), Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Tiền Giang, Luận văn Thạc sĩ trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Tiền Giang
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Năm: 2012
13. Hà Văn Siêu (2010), Nhu cầu nhân lực du lịch giai đoạn 2011 - 2020, Báo cáo tham luận tại Hội thảo quốc gia lần thứ II về “Đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu nhân lực du lịch giai đoạn 2011 - 2020", Báo cáo tham luận tại Hội thảo quốc gia lần thứ II về “Đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội
Tác giả: Hà Văn Siêu
Năm: 2010
14. Trần Hữu Sơn, (2013), Liên kết tạo nguồn lực phát triển du lịch. Hồ sơ dự thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Lào Cai, Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết tạo nguồn lực phát triển du lịch
Tác giả: Trần Hữu Sơn
Năm: 2013
15. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Giang (2013), Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Du lịch. Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Du lịch
Tác giả: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Giang
Năm: 2013
16. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai (2012), Báo cáo kết quả hoạt động du lịch năm 2012. Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động du lịch năm 2012
Tác giả: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai
Năm: 2012
17. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai (2013), Báo cáo nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai năm 2013 . Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai năm 2013
Tác giả: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai
Năm: 2013
18. Nguyễn Thanh (2002). Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Nguyễn Thanh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
19. Trần Đức Thanh (1998). Nhập môn khoa học Du lịch, NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học Du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 1998
20. Nguyễn Trung (2007). Suy nghĩ về phát triển nguồn nhân lực ở nước ta, Hội thảo đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về phát triển nguồn nhân lực ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Trung
Năm: 2007
25. Phạm Từ (2008), Phát triển du lịch - Nhìn từ góc độ kinh tế và văn hóa. Tạp chí Cộng sản - số 13 (1/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch - Nhìn từ góc độ kinh tế và văn hóa
Tác giả: Phạm Từ
Năm: 2008
26. UBND tỉnh UBND tỉnh Lào Cai (2010), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch giai đoạn 2010-2015. Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch giai đoạn 2010-2015
Tác giả: UBND tỉnh UBND tỉnh Lào Cai
Năm: 2010
28. UBND tỉnh Lào Cai (2012) Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai năm 2012. Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai năm 2012
29. Nguyễn Quang Vinh (2013). Nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn của Du lịch Lào Cai. Hội thảo “Giao lưu kinh tế- văn hóa lưu vực sông Hồng” lần thứ ba Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn của Du lịch Lào Cai. "Hội thảo “Giao lưu kinh tế- văn hóa lưu vực sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Quang Vinh
Năm: 2013
30. Viện chiến lược, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1998). Một số vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước năm 2010 và 2020. Báo cáo chuyên đề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước năm 2010 và 2020
Tác giả: Viện chiến lược, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Báo cáo chuyên đề
Năm: 1998
31. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2011). Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2020. Báo cáo chuyên đề, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
Năm: 2011
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Tổng hợp dữ liệu PCI Lào Cai qua các năm - Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012 – 2020
Bảng 2.2. Tổng hợp dữ liệu PCI Lào Cai qua các năm (Trang 49)
Sơ đồ 2.3. Cơ cấu tổ chức nhân lực trong ngành du lịch tỉnh Lào Cai - Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012 – 2020
Sơ đồ 2.3. Cơ cấu tổ chức nhân lực trong ngành du lịch tỉnh Lào Cai (Trang 57)
Bảng 2.5. Kết quả hoạt động du lịch của Hà Giang, Lai Châu, - Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012 – 2020
Bảng 2.5. Kết quả hoạt động du lịch của Hà Giang, Lai Châu, (Trang 59)
Bảng 2.11. Chất lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch Lào Cai - Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012 – 2020
Bảng 2.11. Chất lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch Lào Cai (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w