1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới

149 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới hạn và phạm vi nghiên cứu - Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, xác định các chỉ tiêu và xây dựng một số tuyến điểm du lịch của thành phố Hà Nội sau khi về khu vực th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

Trang

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC XÂY

1.1.1.2 Vị trí của điểm, tuyến du lịch trong hệ thống lãnh thổ du lịch 17

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng tuyến điểm du lịch 18

1.1.2.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 29

1.2.1 Thực trạng phát triển các điểm du lịch ở Việt Nam 43

1.2.2 Thực trạng phát triển các tuyến du lịch ở Việt Nam 46 CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁC TUYẾN ĐIỂM DU

LỊCH CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI SAU KHI MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI

50

Trang 4

2.1 Tiềm năng du lịch của thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa

giới

50

2.1.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật của thành phố Hà Nội 70

2.2 Hiện trạng khai thác một số tuyến điểm du lịch của thành phố

Hà Nội sau khi mở rộng địa giới

75

2.2.1.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thật phục vụ du

lịch

79

2.2.2 Hiện trạng khai thác một số tuyến điểm du lịch tại Hà Nội 84 2.2.2.1 Hiện trạng khai thác một số điểm du lịch tại Hà Nội 84 2.2.2.2 Hiện trạng khai thác một số tuyến du lịch tại Hà Nội 92 CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC MỘT SỐ TUYẾN

ĐIỂM DU LỊCH CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI SAU KHI MỞ RỘNG

ĐỊA GIỚI

96

3.1 Các quan điểm, mục tiêu và chiến lược phát triển du lịch của 96

Trang 5

3.1.1 Quan điểm phát triển 96

3.2 Đề xuất xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà

Nội sau khi mở rộng địa giới

98

3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm khai thác có hiệu quả các tuyến

điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới

123

3.3.1 Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội 123

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

VQG: Vườn quốc gia

VHTT&DL: Văn hóa, Thể thao và Du lịch

UBND: Ủy ban nhân dân

UNESCO: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)

UNWTO: The World Tourism Organization (Tổ chức du lịch thế giới)

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Trang Bảng 1.1: Điểm đánh giá tổng hợp các tiêu chí điểm du lịch 38

Bảng 1.3 Điểm đánh giá tổng hợp các tiêu chí tuyến du lịch 43

Bảng 2.2: Số liệu thống kê thu nhập du lịch của Hà Tây cũ 77 Bảng 2.3: Số liệu thống kê lượng khách du lịch đến Hà Nội sau khi

mở rộng (giai đoạn 2008 - 2009)

78

Trang 7

Bảng 2.5: Thống kê trong khối khách sạn được xếp hạng sao của

Bảng 3.8: Kết quả đánh giá độ hấp dẫn của một số tuyến du lịch Hà

Trang 8

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật trên thế giới trong những thập niên gần đây, du lịch cũng đã có những bước phát triển mạnh mẽ đóng góp một phần đáng kể trong tổng thu nhập quốc dân của nhiều quốc gia Nhận thức được những lợi ích to lớn mà “ngành công nghiệp không khói” này mang lại, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đang ngày càng chú trọng vào việc phát triển du lịch Ngày 30/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2473/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược

“Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030” Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là đến năm 2020, Du lịch Việt Nam cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất

kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển [43]

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, là trái tim của cả nước, nhận được rất nhiều sự quan tâm, đầu tư về mọi mặt trong

đó du lịch là lĩnh vực được ưu tiên phát triển Sau khi chính thức mở rộng địa giới vào tháng 1 năm 2008, Thủ đô Hà Nội mới có diện tích lớn gấp 3,6 lần so với trước khi mở rộng, bao gồm: thành phố Hà Nội cũ, toàn bộ tỉnh

Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hòa Bình) Tổng diện tích của Thủ đô mới là hơn 3.300 km2 Sự mở rộng ấy đã đem lại cho Hà Nội thêm rất nhiều tài nguyên du lịch, là những nguồn lực quan trọng trong sự phát triển du lịch Không còn bó hẹp trong ba mươi sáu phố phường vốn đã quá quen thuộc với du khách, du lịch Hà Nội ngày nay đem đến nhiều lựa chọn hơn với những chương trình du lịch phong phú đáp ứng nhu cầu thẩm nhận của nhiều tập khách khác nhau như du lịch sinh thái,

Trang 9

Hội tụ rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch như vậy, song trên thực tế, sự mở rộng của Hà Nội mới chỉ thể hiện dưới góc độ hành chính, chưa có được những bước đột phá đối với du lịch Thủ đô Sản phẩm du lịch của Hà Nội thời gian qua chủ yếu dựa vào các yếu tố tự nhiên, khai thác những cái có sẵn mà chưa có được sự đầu tư đúng mức bởi vậy Hà Nội hiện nay nổi bật lên là trung tâm trung chuyển khách du lịch lớn chứ chưa thể hiện được vai trò là đầu tàu phát triển du lịch của cả nước như mong muốn Một trong những vấn đề cần thiết để phát triển du lịch thủ đô trong thời gian tới đây là phải đẩy mạnh việc nghiên cứu để xây dựng các tuyến điểm du lịch mới, nhằm tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút ngày càng đông đảo du khách đến Hà Nội, góp phần phát huy được những lợi thế để trong thời gian không xa, Hà Nội sẽ trở thành trung tâm du lịch lớn của cả nước

Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới” làm

đề tài luận văn thạc sỹ với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé mà ý nghĩa đối với sự phát triển du lịch của thủ đô Hà Nội

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới nhằm góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút ngày càng nhiều du khách đến với

Hà Nội

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn để vận dụng vào việc xây dựng các tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới

- Phân tích tiềm năng, khảo sát thực trạng khai thác các tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới

Trang 10

- Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi

mở rộng địa giới và đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các tuyến điểm đó

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, xác định các chỉ tiêu và xây dựng một số tuyến điểm du lịch của thành phố Hà Nội sau khi

về khu vực thành phố Hà Nội cũ, với những tuyến điểm du lịch quen thuộc hiện đang được khai thác tương đối hiệu quả Vì vậy với thời gian nghiên cứu có hạn, đối tượng nghiên cứu của đề tài này chủ yếu tập trung vào khu vực Hà Nội mới sau khi tiến hành mở rộng địa giới, không đi vào đánh giá, phân tích nhiều ở khu vực thành phố Hà Nội cũ

- Giới hạn về thời gian: Đề tài tập trung điều tra, thu thập, phân tích các

số liệu trong giai đoạn từ 2005 – 2010 và định hướng phát triển giai đoạn

đã có những nghiên cứu về quy hoạch các vùng du lịch tiêu biểu như công trình nghiên cứu đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ mục đích du

Trang 11

những nguyên tắc, phương pháp để tiến hành một công trình đánh giá tổng thể tự nhiên cũng như các thành phần của chúng Công trình nghiên cứu này được xem là cơ sở khoa học cho các công trình đánh giá tài nguyên du lịch ở Liên Xô, Ba Lan và nhiều quốc gia Xã hội chủ nghĩa khác Tiếp theo đó, các nhà khoa học Tiệp Khắc như Mariot, Sulawikova đã nghiên cứu việc đánh giá và thành lập bản đồ tiềm năng du lịch tự nhiên và lịch sử - văn hóa Pertxick (1978) đã chỉ ra những nguyên tắc, phương pháp điều tra, đánh giá tài nguyên trong quy hoạch vùng kinh tế nói chung và quy hoạch vùng

du lịch nói riêng [15] Các nhà địa lý Anh, Mỹ đã tiến hành các nghiên cứu

về nguyên tắc và phương pháp phân vùng du lịch, bản chất các vùng du lịch

và đặc điểm địa lý kinh tế của chúng Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu của các nhà địa lý thế giới trong lĩnh vực du lịch như M Buwchovarop (Bungari), N X Mironhenke, F.a.Koliaerov, P.G.Txephix (Liên Xô cũ), H.Robinson (Anh) đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lý du lịch là hệ thống lãnh thổ du lịch các cấp hoặc thể tổng hợp lãnh thổ du lịch và các yếu

tố để phát triển du lịch

Ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” (Vũ Tuấn Cảnh 1991), “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây phục vụ cho mục đích

du lịch” (Đặng Duy Lợi 1992), “Địa lý du lịch” (Nguyễn Minh Tuệ chủ trì 1994), “Tổ chức lãnh thổ du lịch” (Lê Thông – Nguyễn Minh Tuệ 1999) Những công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây có sự liên hệ gần hơn với đề tài luận văn có thể kể đến như: “Xây dựng một số điểm, tuyến du lịch

ở khu vực phía tây Hà Nội trong tiến trình hội nhập” (Phùng Thị Hằng, 2008) Trong đó, luận văn của tác giả Phùng Thị Hằng nghiên cứu chuyên sâu về khoa học địa lý với các phương pháp nghiên cứu thế mạnh như phương pháp bản đồ, phương pháp thang điểm tổng hợp, đề tài khoanh vùng nghiên cứu xây dựng tuyến điểm du lịch của tỉnh Hà Tây cũ Bên cạnh đó có

Trang 12

thể kể đến đề tài Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Du lịch học: “Hoạt động du lịch của thủ đô Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính” (Nguyễn Hoàng Anh, 2009) Trong Khóa luận này, tác giả đã tìm hiểu về những tác động của việc mở rộng địa giới hành chính đối với hoạt động du lịch của thủ

Các địa phương đã và đang tiến hành triển khai xây dựng nhiều đề tài quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cấp tỉnh / thành phố: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng Đà Nẵng Khánh Hoà … với sự tham gia thực hiện của các nhà khoa học địa lý, du lịch trong và ngoài nước Trong đó, việc xây dựng các tuyển điểm du lịch được xác định là một trong những nội dung quan trọng

“Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của thành phố Hà Nội sau khi

mở rộng địa giới” là một trong những đề tài đầu tiên nghiên cứu về vấn đề

này trên phạm vi lãnh thổ Hà Nội sau khi mở rộng địa giới Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp tích cực cho việc nghiên cứu xây dựng các tuyến điểm du lịch cấp địa phương nói chung và Hà Nội sau khi mở rộng địa giới nói riêng

Trang 13

6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

Quan điểm nghiên cứu

Quan điểm hệ thống

Quan điểm này được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu, theo

đó, khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó cần đặt nó trong mối tương quan với các vấn đề, yếu tố trong hệ thống Các hệ thống lãnh thổ du lịch thường tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qua lại nội tại của từng phân

hệ, giữa các phân hệ du lịch trong một hệ thống với nhau và với môi trường xung quanh, giữa các hệ thống lãnh thổ du lịch cùng cấp và khác cấp, giữa

hệ thống lãnh thổ du lịch và hệ thống kinh tế - xã hội Vì vậy, khi nghiên cứu

về việc xây dựng các tuyến điểm du lịch của Hà Nội phải đặt chúng trong hệ thống vùng du lịch Bắc Bộ cũng như hệ thống du lịch của cả nước

Quan điểm lãnh thổ tổng hợp và chuyên môn hóa

Các đối tượng nghiên cứu cần phải được đặt trong một lãnh thổ cụ thể để phân tích được những mối liên quan về các mặt tự nhiên, kinh tế, văn hoá,

xã hội… Mỗi tuyến điểm du lịch bao gồm nhiều thành phần, các điểm du lịch được gắn kết với nhau bởi các tuyến du lịch, trải dài trên những hệ thống lãnh thổ nhất định Khi xây dựng và khai thác các tuyến điểm du lịch

để đạt hiệu quả cao, cần đặt chúng trong mối quan hệ giữa các yếu tố trong cùng lãnh thổ cũng như mối quan hệ với các lãnh thổ khác; đồng thời cũng cần tìm ra sự khác biệt để tạo nên những nét đặc sắc, độc đáo, riêng có của các tuyến điểm du lịch để tạo tính cạnh tranh cũng như thu hút du khách

Quan điểm viễn cảnh lịch sử

Theo quan điểm này, cần tiến hành tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, quá trình khai thác cũng như kết quả của việc khai thác các tuyến điểm du lịch của thành phố Hà Nội để có thể kế thừa và phát huy những thành quả đã đạt được Bên cạnh đó cũng cần chỉ ra được những hạn chế, rút kinh nghiệm để

Trang 14

có thể xây dựng những tuyến điểm du lịch và xác định phương hướng khai

thác hợp lý, mang lại hiệu quả tốt đa

Quan điểm phát triển bền vững

Ngày nay, phát triển du lịch bền vững đã trở thành một trong những mục tiêu phát triển du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam Việc xây dựng các tuyến điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của hiện tại nhưng cũng không được để lại những ảnh hưởng xấu mà thế hệ tương lai phải gánh chịu Vì vậy trong quá trình nghiên cứu xây dựng cũng như khi đưa vào thực tế khai thác cần phải có sự tính toán, quy hoạch phát triển phù hợp, đảm bảo các mục tiêu và nguyên tắc phát triển bền vững

Quan điểm kế thừa

Khi tiến hành nghiên cứu, để tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc, cần phải biết kế thừa các công trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và các tài liệu có liên quan đến việc xây dựng tuyến điểm du lịch của các nhà nghiên cứu trước

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

- Nghiên cứu, xử lý các tài liệu trong phòng dựa trên các nguồn tư liệu,

số liệu khác nhau thu thập được từ những nguồn đáng tin cậy Với phương pháp này, các tài liệu về tuyến điểm du lịch, về hoạt động du lịch … sẽ được phân tích, chọn lọc, xử lý nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu Tổng quan tài liệu thu thập được cho phép các nhà nghiên cứu kế thừa các nghiên cứu trước đó, sử dụng các thông tin đã qua kiểm chứng, cập nhật những vấn đề liên quan trong và ngoài nước Ngoài nguồn thông tin từ sách báo, tạp chí, các công trình khoa học được lưu trữ trong hệ thống thư việc, một trong những nguồn tư liệu to lớn và dễ dàng tiếp cận hiện nay xuất phát từ mạng

Trang 15

Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa

- Bên cạnh việc phân tích tài liệu lưu trữ sẵn có, các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát, điều tra thực địa để có được những thông tin thực tế, cập nhật có điều kiện để so sánh, đối chiếu với thông tin thu thập trong phòng Việc điều tra thực địa giúp các nhà nghiên cứu tránh được quyết định chủ quan, vội vàng, phiến diện, thiếu cơ sở thực tế

- Các hoạt động chính: quan sát, chụp ảnh, quay phim, ghi chép, gặp

gỡ, trao đổi với chính quyền sở tại, người dân địa phương, tham gia các buổi thuyết trình, hội nghị, hội thảo tại các điểm du lịch trên địa bàn nghiên cứu

Phương pháp thang điểm tổng hợp

- Phương pháp này cho phép cụ thể hoá việc đánh giá các tuyến điểm

du lịch qua những thang điểm nhất định Thang điểm được xây dựng bằng cách cho điểm mỗi bậc chỉ tiêu, sau đó tùy theo ý nghĩa của từng chỉ tiêu mà xác định hệ số Điểm số cuối cùng là tổng số điểm những chỉ tiêu thành phần, qua đó chúng ta có được sự đánh giá tổng hợp tất cả các yếu tố, đặc điểm của đối tượng

- Ưu điểm của phương pháp này là khắc phục được tính chủ quan trong đánh giá định tính song cần chú ý các chỉ tiêu phải phản ánh đúng thực tế khách quan

Phương pháp chuyên gia

Là phương pháp được ứng dụng tương đối rộng rãi trong các ngành khoa học Nội dung chủ yếu của phương pháp bao gồm :

- Xác định mục tiêu, nhiệm vụ của việc xin ý kiến chuyên gia

- Lựa chọn phương pháp thu nhận và xử lý thông tin

- Lựa chọn nhóm chuyên gia và hình thành nội dung điều tra (xin ý kiến)

- Trưng cầu ý kiến chuyên gia

- Xử lý và phân tích kết quả lấy ý kiến chuyên gia

Trang 16

Trong đề tài luận văn này, tác giả đã thảm khảo ý kiến của một số chuyên gia đầu ngành như: PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, TS Lê Văn Minh - Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch… để làm rõ và luận giải một số vấn đề, tiêu biểu như hệ thống đánh giá cho điểm các tuyến, điểm du lịch cũng như kết quả đánh giá, xây dựng các tuyến, điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới Đồng thời, tác giả cũng đã phỏng vấn một số điều hành, hướng dẫn viên của một số công ty

du lịch trên địa bàn Hà Nội, những người trực tiếp xây dựng và thực hiện các chương trình du lịch Hà Nội cho công ty nhằm đưa ra được những đánh giá, nhận xét và có thể xây dựng các điểm, tuyến du lịch bám sát thực tiễn hơn

Phương pháp dự báo

Đề tài nghiên cứu việc xây dựng các tuyến điểm du lịch của Hà Nội nhằm phục vụ khai thác du lịch trước mắt và lâu dài Vì vậy không chỉ tập trung vào những tuyến điểm sẵn có mà cần có những dự báo về khả năng khai thác, phát triển các tuyến điểm du lịch trong tương lai dựa trên dự báo

về nguồn khách, cơ cấu khách, thị trường khai thác khách cũng như khả năng đầu tư, tôn tạo, nâng cấp các điểm du lịch và dựa trên sự tăng trưởng chung của ngành du lịch

7 Những đóng góp mới của luận văn

- Tổng quan có chọn lọc các nghiên cứu trong và ngoài nước các vấn đề

lý luận, phương pháp luận, hệ thống chỉ tiêu cho việc xây dựng các tuyến điểm du lịch và vận dụng chúng vào điều kiện cụ thể của thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới

- Điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng, thực trạng khai thác một số tuyến điểm du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới,

từ đó đưa ra nhận xét về điểm mạnh, những hạn chế và khả năng khai thác của chúng

Trang 17

- Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của thành phố Hà Nội sau khi

mở rộng địa giới dựa trên tổ hợp chỉ tiêu bằng phương pháp thang điểm tổng hợp và đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác các tuyến điểm đó

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC XÂY DỰNG CÁC TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁC TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI SAU KHI MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC MỘT SỐ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI SAU KHI MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI

Trang 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC

XÂY DỰNG CÁC TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH

Trong việc nghiên cứu địa lý du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi vì không thể tổ chức và quản lý có hiệu quả hoạt động này nếu không xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó

Nói một cách đơn giản thì tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một

hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ

du lịch liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất Là một dạng của tổ chức lãnh thổ xã hội, tổ chức lãnh thổ du lịch mang tính chất lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, trước hết của sức sản xuất xã hội, đã dần dần xuất hiện các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch [42]

Tổ chức lãnh thổ du lịch có hệ thống phân vị bao gồm điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch và vùng du lịch Trong

đó, điểm du lịch là cấp thấp nhất của hệ thống lãnh thổ du lịch

Về cấu trúc, hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống gồm nhiều thành phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Có thể coi các điều kiện và nhân tố du lịch trong sự thống nhất của chúng là một hệ thống mở phức tạp, gồm có cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài Cấu trúc bên trong gồm các

Trang 19

các mối liên hệ với điều kiện phát sinh và với hệ thống khác (tự nhiên, kinh

mô, điểm du lịch được chia ra thành: Điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch địa phương

Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [14] Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hoá – lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hoặc một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ Vì thế, điểm du lịch có thể được phân thành 2 loại: Điểm tài nguyên và điểm chức năng Thời gian lưu trú của khách tương đối ngắn (không quá 1-2 ngày) vì sự hạn chế của đối tượng du lịch, trừ một vài trường hợp ngoại kệ (điểm du lịch với chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ của cơ quan…)

Các điểm du lịch nối với nhau bằng tuyến du lịch

 Tuyến du lịch

Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không” [14]

Tuyến du lịch là một đơn vị tổ chức không gian du lịch được tạo bởi nhiều điểm du lịch khác nhau về quy mô, chức năng, sự đa dạng của các đối tượng du lịch với nhau trên lãnh thổ Về mặt lãnh thổ, trong từng trường hợp

Trang 20

cụ thể các tuyến du lịch có thể là tuyến nội vùng (á vùng, tiểu vùng, trung tâm) hoặc là tuyến liên vùng ( giữa các vùng)

Với sự đa dạng về chức năng của các điểm du lịch, các tuyến du lịch được khai thác cũng rất phong phú: Du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, …

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng tuyến điểm du lịch

1.1.2.1 Vị trí địa lý

Vị trí địa lý là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch cũng như xây dựng các tuyến điểm du lịch Vị trí địa lý bao gồm: Vị trí địa lý về mặt tự nhiên (phạm vi lãnh thổ có giới hạn và toạ độ địa lý), vị trí

về kinh tế xã hội và chính trị

Những nghiên cứu của các nhà kinh tế học như Alfred Weber, August Losch, Edgar Hoover, Walter Isard đã chỉ ra tầm quan trọng của địa điểm trong phát triển kinh tế Đối với các hoạt động du lịch, yếu tố quyết định của điều kiện vị trí là điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn

1.1.2.2 Tài nguyên du lịch

Theo Điều 4, Luật Du lịch của Việt Nam thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu

du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.” [14]

TNDL gồm TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn đang được khai thác

và chưa được khai thác

TNDL có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân

Trang 21

Tài nguyên du lịch tự nhiên TNDL tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

 Địa hình

Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách

Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được phân biệt bởi độ chênh cao của địa hình

+ Địa hình đồng bằng (độ cao dưới 10m) tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình, ít gây cảm hứng cho khách tham quan du lịch

+ Địa hình vùng đồi (độ cao 10 -100m) thường tạo ra một không gian thoáng đãng, bao la… tác động mạnh đến tâm lý của khách ưa thích dã ngoại, rất thích hợp với loại hình du lịch cắm trại, tham quan…

+ Địa hình miền núi (độ cao trên 100m) thường có nhiều ưu thế đối với hoạt động du lịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện

vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành Ở miền núi với sự kết hợp của địa hình, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên thực – động vật và bản sắc văn hoá của cộng đồng các dân tộc ít người đã tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch khác nhau và có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách

Ngoài các dạng địa hình trên, địa hình Karst và địa hình ven bờ có ý nghĩa rất lớn cho tổ chức du lịch

+ Địa hình Karst là kiểu địa hình được thành tạo do sự kiến tạo của vỏ

Trang 22

trái đất (đứt gãy, tạo sơn, sụt lún) kết hợp với các quá trình ngoại lực chủ yếu

là sự lưu thông của nước trong các loại đá dễ bị hoà tan Hang động Karst là một kiểu Karst được quan tâm đối với du lịch vì cảnh quan thiên nhiên của các hang động Karst rất hấp dẫn khách du lịch Nhiều hang động có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo do tạo hoá sinh ra Nhiều hang động chứa đựng những di tích khảo cổ học, di tích lịch sử văn hoá Không ít hang động đã được con người xây dựng thêm các công trình kiến trúc như chùa chiền để thờ tự tạo nên một thế giới tâm linh đầy bí ẩn… Như vậy, có thể nói hang động Karst là một loại tài nguyên du lịch – một loại hàng hoá đặc biệt có thể sinh lợi cao

+ Kiểu địa hình ven bờ, các kho chứa nước lớn (đại dương, biển, hồ…) có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch Trên phạm vi thế giới, số khách

đi du lịch biển thường chiếm số đông

 Khí hậu

Khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du lịch Trong các chỉtiêu về khí hậu, đáng lưu ý nhất là hai chỉ tiêu: nhiệt độ và độ ẩm không khí Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như gió, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời, các hiện tượng thời tiết đặc biệt Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ du lịch Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng rất rõ rệt đến tính mùa vụ trong du lịch Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu Sự phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng + Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh ở suối khoáng, du lịch trên núi (cả mùa đông và mùa hè)

+ Mùa đông là mùa du lịch trên núi, du lịch thể thao mùa đông…

Trang 23

loại hình du lịch như du lịch biển, các loại hình du lịch trên núi và khu vực đồng bằng – đồi; khả năng du lịch ngoài trời rất phong phú và đa dạng

 Nguồn nước

Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm

+ Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng Nó bao gồm nước đại dương, biển, sông, hồ (tự nhiên, nhân tạo), suối phun, thác nước… nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng theo nhu cầu cá nhân, theo độtuổi và nhu cầu quốc gia Tài nguyên nước mặt không chỉ có tác dụng hồi phục trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều đến thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ Hiện nay, trên thế giới đã xuất hiện ngày càng nhiều khu du lịch nghỉ dưỡng ven biển, ven hồ,… thu hút một lượng lớn du khách

+ Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch, tuy nhiên cần phải nói tới tài nguyên nước khoáng Đây là nguồn tài nguyên có giá trị du lịch an dưỡng và chữa bệnh

 Sinh vật

Tài nguyên sinh vật bao gồm toàn bộ các loài thực vật, động vật sống trên lục địa và dưới nuớc vốn có sẵn trong tự nhiên và do con người thuần dưỡng, chăm sóc, lai tạo Tài nguyên sinh vật vừa góp phần cùng với các loại tài nguyên khác tạo nên phong cảnh đẹp, hấp dẫn, vừa có ý nghĩa bảo vệ môi trường như: bảo tồn các nguồn gen, che phủ cho mặt đất, hạn chế hiện tượng xói mòn … Tài nguyên sinh vật có ý nghĩa cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch chữa bệnh, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái …

Tất nhiên không phải mọi tài nguyên động thực vật đều là đối tượng tham

du lịch Để phục vụ các mục đích du lịch khác nhau, người ta đưa ra các chỉ tiêu sau đây:

Trang 24

- Chỉ tiêu phục vụ mục đích tham quan du lịch: [38]

+ Thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình

+ Có loài đặc trưng cho khu vực, loài đặc hữu, loài quý hiếm đối với thế giới và trong nước

+ Có một số động vật (chim, thú, bò sát, côn trùng, cá…) phong phú

+ Đường giao thông đi lại thuận tiện

- Chỉ tiêu đối với du lịch săn bắn thể thao:

+ Quy định loài được săn bắn là loài phổ biến, không ảnh hưởng đến

số lượng quỹ gen

- Chỉ tiêu đối với mục đích du lịch nghiên cứu khoa học:

+ Nơi có động thực vật phong phú và đa dạng

+ Nơi có tồn tại loài quý hiếm

+ Nơi có thể đi lại quan sát, chụp ảnh

Trang 25

+ Có quy định thu mẫu của cơ quan quản lý…

Tài nguyên du lịch nhân văn TNDL nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn với

du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh

tế, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn TNDL nhân văn được phân thành 2 loại chính là TNDL nhân văn vật thể và TNDL nhân văn phi vật thể

Trong mỗi loại tài nguyên, căn cứ vào nguồn gốc hình thành , nuôidưỡng, đặc tính của tài nguyên, cấp bậc xếp hạng của các loại tài nguyên, các nhà nghiên cứu phân ra thành nhiều dạng: [23]

TNDL nhân văn vật thể gồm:

+ Di sản văn hoá thế giới vật thể

+ Các di tích lịch sử văn hoá, danh thắng cấp quốc gia và địa phương + Các cổ vật và bảo vật quốc gia

+ Các công trình đương đại

TNDL nhân văn phi vật thể gồm:

+ Di sản văn hoá thế giới truyền miệng và phi vật thể

Trang 26

+ Văn hoá các tộc người

+ Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác

+ Chứng cớ xác thực cho một nền văn minh đã biến mất

+ Cung cấp một ví dụ hùng hồn cho một thể loại xây dựng, hoặc kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử nhất định

+ Có mối quan hệ trực tiếp với những sự kiện, tín ngưỡng, đáp ứng được những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu và cách tạo lập cũng như về vị trí

Di tích lịch sử, thắng cảnh đẹp cấp quốc gia và địa phương: Là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, đất nước và cả nhân loại; là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia Di tích lịch sử –văn hoá có khả năng rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người; góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch

sử Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Được gọi chung là di tích lịch sử – văn hoá vì chúng được tạo ra bởi con người (tập thể

Trang 27

Để đánh giá ý nghĩa của các di tích lịch sử – văn hoá phục vụ mục đích du lịch, cần chú ý một số chỉ tiêu thể hiện số lượng và chất lượng di tích: [37]

- Các công trình đương đại: Là những công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kỳ hiện đại, có giá trị về kiến trúc, mỹ thuật, khoa học, kỹ thuật xây dựng, kinh tế, văn hoá, thể thao hấp dẫn du khách có thể là đối tượng tham quan, nghiên cứu, vui chơi giải trí, chụp ảnh kỷ niệm … đối với khách du lịch

 TNDL nhân văn phi vật thể

- Di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại: Năm

1989 tại phiên họp Đại hội đồng UNESCO đã đưa ra hai chính sách:

+ Công nhận một danh hiệu cho một sản phẩm văn hoá phi vật thể, danh hiệu ấy gọi là “Kiệt tác di sản văn hoá truyền miệng và phi vật thể của nhân loại”

+ Di sản văn hoá phi vật thể và truyền miệng luôn luôn được giữ gìn trình diễn bổ sung truyền lại cho lớp trẻ thông qua trí nhớ và tài năng của nghệ nhân

- Lễ hội: Trong các dạng TNDL nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên có giá trị rất lớn Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc

Trang 28

phán ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc Đây là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí Lễ hội gồm 2 phần: Phần lễ và phần hội

+ Phần lễ (hay còn gọi là phần nghi lễ) Các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều

có phần nghi lễ với nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo thời gian và không gian Tuỳ theo tính chất của lễ hội mà nội dung của phần

lễ sẽ mang ý nghĩa riêng Nghi thức tế lễ nhằm tỏ lòng tôn kính các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hoà Nghi lễ tạo thành nền móng vững chắc, tạo một yếu tố văn hoá thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng trước khi chuyển sang phần xem hội + Phần hội: Là phần có tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn… mang bản sắc văn hoá dân gian Mặc dù cũng hàm chứa những yếu tố văn hoá truyền thống, nhưng phạm vi nội dung của nó thường không khuôn cứng

mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những yếu tố văn hoá mới Tuy nhiên những nơi nào bảo tồn và phát triển được những nét truyền thống trong phần hội với những trò chơi mang tính dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị cao và có sức hấp dẫn du khách

Khi đánh giá các lễ hội phục vụ mục đích du lịch cần lưu ý đến các đặc điểm sau:

+ Thời gian lễ hội

+ Quy mô của lễ hội

+ Các lễ hội thường được tổ chức tại những di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá

Trang 29

đối tượng của hoạt động du lịch, nơi người ta hướng tới để khám phá, tìm hiểu và chiêm nghiệm, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những giá trị vật chất

và giá trị tinh thần một cách hài hoà và sinh động nhất Khi du khách đến tham quan, nghiên cứu ở các làng nghề thủ công truyền thống, họ không chỉ tìm hiểu, thưởng thức những giá trị nghệ thuật, sản xuất nghề, mua những sản phẩm thủ công qúy làm quà cho người thân của mình mà còn là dịp để

du khách có thể tìm hiểu, trải nghiệm, hưởng thụ những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của các làng nghề thủ công truyền thống

- Văn hoá nghệ thuật: Trong quá trình lịch sử phát triển ở các quốc gia, các nghệ nhân dân gian cùng với nhân dân đã sáng tạo, nuôi dưỡng, bảo tồn được nhiều làn điệu dân ca, điệu múa, bản nhạc, các loạinhạc cụ, các loại hình biểu diễn… Những giá trị văn hoá nghệ thuật là những món ăn tinh thần của nhân dân, thể hiện giá trị thẩm mỹ, truyền thống

và bản sắc văn hoá, tâm tư, tình cảm, ước vọng của con người

- Văn hóa ẩm thực: Mỗi một vùng đất, một quốc gia có điều kiện

tự nhiên, đặc điểm lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá riêng nên cũng

có nhiều món ăn, đồ uống đặc sản riêng Nghệ thuật ẩm thực là giá trị văn hoá của mỗi quốc gia được sáng tạo, bảo tồn, bồi đắp qua nhiều thời đại, là dấu ấn của mỗi vùng đất với du khách Khi đi du lịch, du khách không chỉ mong muốn được đáp ứng nhu cầu đi lại, lưu trú, mua sắm, chiêm ngưỡng nâng cao nhận thức về các loại TNDL mà họ còn mong muốn được thưởng thức những món ăn, đồ uống đặc sắc của những địa phương, nâng cao nhận thức giá trị nghệ thuật ẩm thực của những quốc gia khác

- Thơ ca và văn học: Những vùng đất có phong cảnh thiên nhiên đẹp, có những di sản văn hóa nổi tiếng là những cảm hứng sáng tác văn học cho các nhà văn, nhà thơ tến tuổi cũng như những nghệ sỹ dân gian Những bài thơ hay, những câu chuyện truyền thuyết, những tác phẩm văn học lớn là những chứng cứ tôn vinh và góp phần quảng bá những giá trị đặc sắc cho

Trang 30

các thắng cảnh cùng những di sản văn hóa của các địa phương, các quốc gia

Vì vậy, nhiều điểm du lịch nhờ có những bài thơ, câu chuyện truyền thuyết, các tác phẩm văn học nổi tiếng mà có sức hấp dẫn đối với du khách

- Văn hoá ứng xử và những phong tục, tập quán tốt đẹp: Việc ứng

xử có văn hoá với du khách cũng như thể hiện được truyền thống văn hoá tốt đẹp, thân thiện giữa con người với con người, con người với thiên nhiên tại các điểm đến tạo ra môi trường du lịch hấp dẫn với du khách Những tập quán sinh sống ăn, mặc, ở, ma chay, cưới hỏi, sản xuất của người dân địa phương nơi đến cũng là những giá trị văn hoá mà du khách mong muốn được tìm hiểu, trải nghiệm

- TNDL gắn với văn hoá các tộc người: Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có những địa bàn

cư trú nhất định Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa với

du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trú, trang phục, ca múa nhạc…

- Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn, bảo tàng… đều có sức hấp dẫn rất lớn du khách tới tham quan và nghiên cứu Những hoạt động mang tính sự kiện: Các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc tế… cũng là đối tượng hấp dẫn khách

du lịch Thông thường những đối tượng văn hoá tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn Vì vậy những thành phố lớn trở thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực và là hạt nhân của các trung tâm du lịch

Trang 31

1.1.2.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Cơ sở hạ tầng

 Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải

Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi nhất định Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được nếu hệ thống đường xá, xe cộ đi lại không thuận lợi với du khách Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội

Mỗi loại giao thông có những đặc trưng riêng biệt Giao thông bằng ô tô tạo điều kiện cho khách dễ dàng đi theo lộ trình lựa chọn Giao thông đường sắt rẻ tiền nhưng chỉ đi theo những tuyến cố định Giao thông đường hàng không rất nhanh, rút ngắn thời gian đi lại nhưng đắt tiền Giao thông đường thuỷ tuy chậm nhưng có thể kết hợp với việc tham quan giải trí… dọc theo sông hoặc ven biển

Giao thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế, tuy nhiên hiện nay

đã có một số phương tiện giao thông được sản xuất với mục đích chủ yếu phục vụ du lịch

 Thông tin liên lạc

Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiện việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện mối giao lưu giữa các vùng trong phạm vi cả nước và quốc

tế Trong đời sống hiện đại nói chung, cũng như ngành du lịch không thể thiếu được các phương tiện thông tin liên lạc

 Các công trình cung cấp điện, nước

Khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống, ở, đi lại… du khách còn có nhu cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường Cho nên yếu tố

Trang 32

điện, nước cũng là một trong những nhân tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giải trí của khách

Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch

Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật

Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Do vậy cơ sở vất chất kỹ thuật du lịch gồm nhiều thành phần khác nhau Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hoá du lịch đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ sở, công trình đặc biệt…Tài nguyên du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng của khách du lịch Việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống các công trình Căn cứ vào các đặc điểm trên có thể hiểu cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đóng góp mọi nhu cầu của khách du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành

du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân tham gia phục vụ du lịch: thương nghiệp, dịch vụ…

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm nhiều thành phần, chúng có những chức năng và ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra, thực hiện các sản phẩm du lịch Để đảm bảo cho việc tham quan du lịch trên qui mô lớn cần phải xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng như các khách sạn, nhà hàng, cămping, cửa hiệu, trạm cung cấp xăng dầu, trạm y tế, nơi vui chơi thể

Trang 33

cho việc ăn ngủ của khách, tức là nguồn vốn cố định của du lịch Việc đánh giá cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch căn cứ vào 3 tiêu chí:

- Đảm bảo những điều kiện tốt cho nghỉ ngơi du lịch

- Đạt hiệu quả kinh tế tối ưu trong quý trình xây dựng và khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật

- Thuận tiện cho việc đi lại của khách từ các nơi đến

Để đi sâu tìm hiểu nhằm sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật

du lịch, cần chú ý các thành phần chủ yếu sau: [25]

Cơ sở phục vụ ăn uống và lưu trú Đây là thành phần đặc trưng nhất trong toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Chúng đáp ứng nhu cầu căn bản nhất của con người (ăn và ngủ) khi du khách sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Các cơ sở lưu trú được phân chia thành nhiều loại:

Cơ sở thể thao: Là một bộ phận của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Chúng có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của khách du lịch,

Trang 34

làm cho nó trở nên tích cực hơn Các cơ sở thể thao gồm có các công trình thể thao, các phòng thể thao hay trung tâm thể thao với nhiều loại khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho mỗi loại (bể bơi, xe đạp nước, cầu trượt nước, cho thuê ô tô )

Cơ sở y tế: Nhằm mục đích phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật ở đây bao gồm các trung tâm chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, bùn, các món ăn kiêng…), các phòng y tế với các trang thiết bị trong đó (phòng tắm hơi, massage)

Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hoá phục vụ du lịch: Các công trình này nhằm mục đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hoá –

xã hội cho khách du lịch, tạo điều kiện giao tiếp xã hội, tuyên truyền về truyền thống, thành tựu văn hoá của các dân tộc Các công trình bao gồm trung tâm văn hoá, phòng chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm… Chúng có thể được bố trí trong khách sạn hoặc hoạt động độc lập tại các trung tâm du lịch

Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác: trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu, xưởng sửa chữa, phòng rửa tráng phim ảnh, bưu điện… Nhìn chung, các công trình này được xây dựng chủ yếu phục vụ nhân dân địa phương, còn đối với khách du lịch nó chỉ có vai trò thứ yếu Nhưng tại các điểm du lịch, chúng góp phần làm tăng tính đồng bộ của hệ thống dịch vụ du lịch

1.1.3 Các chỉ tiêu để xây dựng tuyến điểm du lịch

1.1.3.1 Các chỉ tiêu để xây dựng điểm du lịch

Để có thể xây dựng điểm du lịch trên địa bàn nghiên cứu, trước hết phải phân tích để tìm ra những khu vực tập trung tài nguyên có thể phục vụ khai thác du lịch, sau đó đánh giá tổng hợp theo các chỉ tiêu phù hợp, kết hợp với những đặc trưng của điểm du lịch để xây dựng các điểm du lịch

Những nghiên cứu ứng dụng trong địa lý du lịch ở Việt Nam, đặc biệt là

Trang 35

biểu của các tác giả Nguyễn Minh Tuệ và nhóm nghiên cứu (1997), Nguyễn Thế Chinh (1995) [2], Phạm Trung Lương và nhóm nghiên cứu (1995) [13],

Hồ Công Dũng (1996) [3], Phạm Lê Thảo (2006) [17], Trong các nghiên cứu đó, các tác giả phần lớn sử dụng 5-7 chỉ tiêu để xác định và xây dựng điểm du lịch: Vị trí của điểm du lịch, sức hấp dẫn của điểm du lịch, CSHT - CSVCKT phục vụ du lịch, sức chứa khách du lịch, độ bền vững của điểm du lịch, thời gian khai thác du lịch và hiệu quả kinh tế của điểm du lịch Kế thừa những nghiên cứu này, để phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của

đề tài, các chỉ tiêu cơ bản để xây dựng điểm du lịch được sử dụng trong luận văn:

 Vị trí của điểm du lịch

Vị trí của điểm du lịch và khả năng tiếp cận điểm du lịch (tính từ trung tâm gửi khách gần nhất): là vị trí tương đối giữa điểm tài nguyên với điểm phân phối khách và điều kiện đường giao thông cho phép tiếp cận điểm du lịch (tính thời gian tiếp cận chuẩn cho phương tiện là ô tô du lịch)

+ Rất gần (rất thuận lợi - 4 điểm): khoảng cách dưới 100km, hoặc thời gian đi đường ít hơn 2 giờ, có thể đi bằng 2 - 3 phương tiện thông dụng + Gần (khá thuận lợi - 3 điểm): khoảng cách từ 100 đến 150 km, hoặc thời gian đi đường 2 - 3 giờ, có thể đi bằng 1 - 2 loại phương tiện thông dụng

+ Trung bình (thuận lợi trung bình - 2 điểm): khoảng cách từ 150 đến 200

km, hoặc thời gian đi đường 3 - 4 giờ, có thể đi bằng 1 loại phương tiện thông dụng

+ Xa (ít thuận lợi - 1 điểm): khoảng cách trên 200 km, hoặc thời gian đi đường trên 4 giờ, có thể đi bằng 1 loại phương tiện thông dụng

 Sức hấp dẫn của điểm du lịch

Trang 36

Độ hấp dẫn khách du lịch của tuyến điểm du lịch có tính chất tổng hợp, thể hiện qua sự phong phú, đa dạng của địa hình, phong cảnh đẹp, khí hậu thích hợp, tập trung những hiện tượng, di tích độc đáo…

+ Rất hẫp dẫn (4 điểm): có trên 5 phong cảnh đẹp, hoặc có trên 5 hiện tượng, di tích tự nhiên đặc biệt; hoặc có công trình văn hóa và di tích lịch sử

có tính nghệ thuật độc đáo, được công nhận là di sản văn hóa thế giới hoặc được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận cấp quốc gia; hoặc có thể khai thác phát triển trên 5 loại hình du lịch

+ Hẫp dẫn: (3 điểm): có 3 - 5 phong cảnh đẹp, hoặc só 3 - 5 hiện tượng, di tích tự nhiên đặc biệt; hoặc có công trình văn hóa và di tích lịch sử

có tình nghệ thuật độc đáo, được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận cấp quốc gia; hoặc có thể khai thác phát triển 3 - 5 loại hình du lịch

+ Ít hấp dẫn (2 điểm): có từ 1 - 2 phong cảnh đẹp, hoặc có 2 hiện tượng, di tích đặc biệt; hoặc có công trình văn hóa và di tích lịch sử có tính nghệ thuật trung bình, được Sở Văn hóa Thông tin địa phương công nghận cấp tỉnh; hoặc có thể khai thác phát triển từ 1 đến 2 loại hình du lịch

+ Không hấp dẫn (1 điểm): có phong cảnh đơn điệu, hoặc có công trình văn hóa, di tích lịch sử có ý nghĩa địa phương; chỉ có thể khai thác phát triển 1 loại hình du lịch

 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật của điểm du lịch

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác các tài nguyên và phục vụ khách du lịch Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật du lịch được đánh giá bằng số lượng, chất lượng, tính đồng bộ, các tiện nghi của cơ sở với các tiêu chuẩn của quốc gia

- Rất tốt (4 điểm): Cơ sở hạ tầng và kỹ thuật đồng bộ, đủ tiện nghi đạt

Trang 37

- Khá (3 điểm) : Đồng bộ, đủ tiện nghi đạt tiêu chuẩn quốc tế 1 - 2 sao

- Trung bình (2 điểm) : Có được một số cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật nhưng chưa đồng bộ và chưa đủ tiện nghi

- Kém (1 điểm): Còn thiếu nhiều cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật, nếu có thì chất lượng thấp hoặc tạm thời thiếu hẳn thông tin liên lạc

 Thời gian hoạt động du lịch

Là số ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp đối với sức khỏe con người (được xác định thông qua mối tương quan giữa nhiệt độ và độ ẩm không khí ảnh hưởng tới sức khỏe con người) và số ngày có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch (số ngày có thời tiết khô ráo thuận lợi cho các hoạt động du lịch và số ngày có thể tiếp cận, khai thác các giá trị của tài nguyên cho việc thỏa mãn các nhu cầu của khách)

+ Rất dài (4 điểm): có hơn 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và trên 180 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người

+ Dài (3 điểm): có 150 - 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và 120 - 180 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người

+ Trung bình (2 điểm): có 100 - 150 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và 90 - 120 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người

+ Ngắn (1 điểm): có dưới 100 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và dưới 90 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người

Trang 38

Khi đánh giá, trong trường hợp số thời gian thích hợp nhất của điều kiện khí hậu đối với sức khỏe con người và số thời gian triển khai tốt các hoạt động du lịch có khác biệt thì lấy số thời gian triển khai tốt các hoạt động du lịch làm tiêu chí chính để đánh giá Có thể xác định thời gian có điều kiện khí hậu thích hợp đối với sức khỏe con người bằng giản đồ thực nghiệm về tương quan nhiệt độ không khí và độ ẩm tuyệt đối trung bình của UNWTO Thời gian trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch là thời gian của năm trừ đi những ngày có điều kiện thời tiết đặc biệt không phù hợp với hoạt động du lịch như ngày mưa, bão, sương mù, tính thời vụ của tài nguyên

 Sức chứa khách du lịch

Là tổng sức chứa lượng khách tại một điểm du lịch cho một đoàn khách du lịch đến trong một ngày hợp đồng Sức chứa khách du lịch phản ánh khả năng về quy mô triển khai hoạt động du lịch tại mỗi điểm du lịch Sức chứa khách du lịch có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm hoạt động của khách (số lượng, thời gian), đến khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên, xã hội Vì thế sức chứa khách du lịch không phải theo xu thế càng nhiều càng tốt mà phải là càng phù hợp càng tốt

+ Rất lớn (4 điểm): có khả năng tiếp nhận trên 1000 người/ngày, trên

250 lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương ứng là 500 người và 100 người

+ Lớn (3 điểm): có thể tiếp đón 500 - 1000 người /ngày, từ 150 đến

250 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương ứng là 300 đến 500 người và 50 đến 100 người

+ Trung bình (2 điểm): có sức chứa 100 - 500 người/ngày, từ 50 đến

150 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên Đối với điểm tài

Trang 39

nguyên nhân văn, con số tương ứng là 100 đến 300 người và 30 đến 50 người

+ Nhỏ (1 điểm): có sức chứa dưới 100 người/ngày, dưới 50 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên du lịch tự nhiên Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương tứng là dưới 100 người và dưới 30 người

+ Bền vững (3 điểm): trong trường hợp điểm du lịch có từ 1 - 2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại nhưng ở mức độ không đáng kể, có khả năng tự phục hồi tương đối nhanh; công trình văn hóa lịch sử có bị phá hoại, có khả năng phục hồi nhanh, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc

từ 50 đến 100 năm, hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên

+ Trung bình (2 điểm): trong trường hợp điểm du lịch có từ 1 - 2 thành phần tự hoặc bộ phận tự nhiên, kinh tế - xã hội bị phá hoại đáng kể, phải có

sự hỗ trợ tích cực của con người mới phục hồi nhanh được; công trình văn hóa lịch sử bị phá hoại tương đối, có khả năng sửa chữa và tôn tạo những chậm, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc từ 10 đến 50 năm, hoạt động

du lịch có thể bị hạn chế

+ Không bền vững (1 điểm): trong trường hợp điểm du lịch có từ 2 - 3 thành phần tự nhiên bị phá hoại nặng, phải có sự hỗ trợ tích cực của con

Trang 40

người mới phục hồi được nhưng rất chậm; công trình văn hóa lịch sử bị phá hoại nặng, khả năng phục hồi nguyên trạng kém, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc dưới 100 năm, hoạt động du lịch bị gián đoạn

Mỗi tiêu chí sẽ có vai trò, ý nghĩa khác nhau, có hệ thống điểm là 4, 3,

2, 1 căn cứ vào 4 mức độ khác nhau từ cao đến thấp Dựa vào tầm quan trọng của các tiêu chí, phân chia các trọng số và mức điểm thích hợp: tiêu chí có ý nghĩa rất quan trọng - trọng số 3; tiêu chí có ý nghĩa quan trọng - trọng số 2 và tiêu chí có nghĩa - trọng số 1 Tổng điểm theo mức độ quan trọng của tiêu chí sẽ có các mức điểm là:

+ Những tiêu chí rất quan trọng (trọng số 3) sẽ có thang điểm là: 12, 9, 6, 3 + Những tiêu chí quan trọng (trọng số 2) sẽ có thang điểm là: 8, 6, 4, 2 + Những tiêu chí có ý nghĩa (trọng số 1) sẽ có thang điểm là 4, 3, 2, 1

Điểm đánh giá tổng hợp của các tiêu chí theo 4 mức độ và trọng số của chúng như sau:

Bảng 1.1: Điểm đánh giá tổng hợp các tiêu chí điểm du lịch

số

Thang bậc Rất

Thuận lợi

Thuận lợi

Ít thuận lợi

Không Thuận lợi

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Hoàng Anh (2009) – Hoạt động du lịch của thủ đô Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính. Khóa luận tốt nghiệp, ĐHKHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động du lịch của thủ đô Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính
[2]. Nguyễn Thế Chinh (1995) – Cơ sở khoa học của việc xác định các tuyến điểm du lịch Nghệ An. Luận án Phó tiến sĩ khoa học Địa lý – Địa chất,ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của việc xác định các tuyến điểm du lịch Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Thế Chinh
Nhà XB: ĐHSPHN
Năm: 1995
[3]. Hồ Công Dũng (1996) – Cơ sở khoa học cho việc xây dựng các tuyến, điểm du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Luận án Phó tiến sĩ khoa học Địa lý – Địa chất, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học cho việc xây dựng các tuyến, điểm du lịch vùng Bắc Trung Bộ
[4] ThS Mai Tiến Dũng (2010) - “Phát triển nguồn nhân lực du lịch cho thủ đô Hà Nội”, tham luận tại Hội thảo quốc gia lần thứ 2 về “Đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch theo nhu cầu xã hội”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển nguồn nhân lực du lịch cho thủ đô Hà Nội”", tham luận tại Hội thảo quốc gia lần thứ 2 về “Đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch theo nhu cầu xã hội
[5]. Phùng Thị Hằng (2008) – Xây dựng một số điểm, tuyến du lịch ở khu vực phía Tây Hà Nội trong tiến trình hội nhập. Luận văn thạc sỹ khoa học Địa lý, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng một số điểm, tuyến du lịch ở khu vực phía Tây Hà Nội trong tiến trình hội nhập
[6]. Nguyễn Thu Hiền (2006) – Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Luận văn thạc sỹ du lịch học,ĐHKHXH&NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Tác giả: Nguyễn Thu Hiền
Nhà XB: ĐHKHXH&NV, Hà Nội
Năm: 2006
[7]. Dương Đình Hiền và nnk (1997) - Cơ sở khoa học tổ chức các loại hình vui chơi giải trí trong khu du lịch khu vực Hà Nội và phụ cận. Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học tổ chức các loại hình vui chơi giải trí trong khu du lịch khu vực Hà Nội và phụ cận
[8]. Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu (2001) – Du lịch bền vững. NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
[9]. Vũ Thị Hương (2010) – Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên của Hà Nội. Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên của Hà Nội
[10]. Đặng Huy Huỳnh, Trần Nghĩa Hòa (2010) – Bảo tồn, phát triển bền vững tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học ở Hà Nội. Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội – Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, phát triển bền vững tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học ở Hà Nội
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh, Trần Nghĩa Hòa
Nhà XB: Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội – Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình
Năm: 2010
[11]. Đinh Trung Kiên (2008) – Một số vấn đề về du lịch Việt Nam. NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về du lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
[12]. Nguyễn Thăng Long và nnk (2004) - Nghiên cứu xây dựng tiêu chí các khu, tuyến, điểm du lịch ở Việt Nam. Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng tiêu chí các khu, tuyến, điểm du lịch ở Việt Nam
[13]. Phạm Trung Lương và nnk (1995) - Cơ sở khoa học xây dựng các tuyến điểm du lịch. Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học xây dựng các tuyến điểm du lịch
[15]. Pertxik, E.N (Vũ Thái dịch) – Quy hoạch Vùng . NXB Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch Vùng
Tác giả: Pertxik, E.N
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
[16]. Trần Đức Thanh (2000) - Nhập môn khoa học du lịch. NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
[17]. Phạm Lê Thảo (2006) – Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm phát triển bền vững. Luận án tiến sĩ Địa lý, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm phát triển bền vững
[18]. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1999) - Tổ chức lãnh thổ du lịch. NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ du lịch
Nhà XB: NXBGD
[19]. Tổng cục du lịch Việt Nam (1995) – Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010 (Báo cáo tổng hợp), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010 (Báo cáo tổng hợp)
[20]. Tổng cục du lịch Việt Nam (2000) – Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (Báo cáo tổng hợp), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Tổng cục du lịch Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
[29]. Giới thiệu Vườn quốc gia Ba Vì trên trang web: http://www.vuonquocgiabavi.com.vn/Default.aspx?p=2 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Mức độ thuận lợi của các điểm du lịch - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 1.2 Mức độ thuận lợi của các điểm du lịch (Trang 41)
Bảng 1.4 : Mức độ thuận lợi của các tuyến du lịch - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 1.4 Mức độ thuận lợi của các tuyến du lịch (Trang 45)
Bảng 1.3.  Điểm đánh giá tổng hợp các tiêu chí tuyến du lịch - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 1.3. Điểm đánh giá tổng hợp các tiêu chí tuyến du lịch (Trang 45)
Bảng 2.3 : Số liệu thống kê thu nhập du lịch của Hà Nội cũ (giai đoạn 2006 - - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 2.3 Số liệu thống kê thu nhập du lịch của Hà Nội cũ (giai đoạn 2006 - (Trang 80)
Bảng 2.4: Thực trạng về nguồn nhân lực du lịch của Hà Nội - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 2.4 Thực trạng về nguồn nhân lực du lịch của Hà Nội (Trang 80)
Bảng 2.5: Thống kê trong khối khách sạn được xếp hạng sao của Hà Nội - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 2.5 Thống kê trong khối khách sạn được xếp hạng sao của Hà Nội (Trang 83)
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá vị trí một số điểm du lịch ở Hà Nội - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá vị trí một số điểm du lịch ở Hà Nội (Trang 102)
Bảng 3.2. Kết quả đánh giá độ hấp dẫn của một số điểm du lịch ở Hà Nội - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 3.2. Kết quả đánh giá độ hấp dẫn của một số điểm du lịch ở Hà Nội (Trang 103)
Bảng 3.3. Kết quả đánh giá CSHT - CSVCKT một số điểm du lịch ở Hà Nội - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 3.3. Kết quả đánh giá CSHT - CSVCKT một số điểm du lịch ở Hà Nội (Trang 104)
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá thời gian hoạt động du lịch của một số điểm - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá thời gian hoạt động du lịch của một số điểm (Trang 106)
Bảng 3.6: Kết quả đánh giá độ bền vững của môi trường du lịch tại - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 3.6 Kết quả đánh giá độ bền vững của môi trường du lịch tại (Trang 109)
Bảng 3.8: Kết quả đánh giá độ hấp dẫn của một số tuyến du lịch Hà Nội - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 3.8 Kết quả đánh giá độ hấp dẫn của một số tuyến du lịch Hà Nội (Trang 115)
Bảng 3.9: Kết quả đánh giá độ tiện ích của một số tuyến du lịch Hà Nội - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 3.9 Kết quả đánh giá độ tiện ích của một số tuyến du lịch Hà Nội (Trang 116)
Bảng 3.10: Kết quả đánh giá mức độ khai thác các tuyến du lịch của - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 3.10 Kết quả đánh giá mức độ khai thác các tuyến du lịch của (Trang 118)
Bảng 3.11: Kết quả đánh giá tổng hợp 3 tiêu chí xây dựng tuyến du lịch của - xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Bảng 3.11 Kết quả đánh giá tổng hợp 3 tiêu chí xây dựng tuyến du lịch của (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w