Về lĩnh vực khoa học, cũng đã có nhiều công trình khoa học, đề tài, báo cáo nghiên cứu định hướng và giải pháp kích thích sự phát triển ngành du lịch thủ đô, tuy nhiên những nghiên cứu n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN ĐỨC THANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Phạm Thị Hường Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Khoa học Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Học viên
Phạm Thị Hường
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục cỏc bảng
Danh mục cỏc biểu đồ
MỞ ĐẦU
1 Tớnh cấp thiết của đề tài
2 Mục tiờu của đề tài
3 Nhiệm vụ nghiờn cứu
4 Đối tượng nghiờn cứu
5 Phạm vi nghiờn cứu
6 Phương phỏp nghiờn cứu
7 Kết cấu của luận văn
Nội dung
Chương 1 CƠ SỞ Lí LUẬN VỀ NHU CẦU DU LỊCH
1.1 Khỏi quỏt chung về nhu cầu
1.1.1 Cỏc khỏi niệm
1.1.2 Phõn loại
1.2 Nhu cầu du lịch
1.2.1 Khỏi niệm
1.2.2 Đặc điểm
1.2.3 Phõn loại
1.2.3.1 Nhu cầu dịch vụ chớnh
1.2.3.2 Nhu cầu dịch vụ đặc trưng
I
ii
vi vii
1
1
2
2
3
3
4
5
6
7
7
7
8
11
11
12
13
15
19
Trang 51.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu du lịch
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài
1.3.1.1 Chính trị
1.3.1.2 Kinh tế
1.3.1.3 Tự nhiên
1.3.1.4 Văn hóa xã hội
1.3.2 Các yếu tố bên trong
1.3.2.1 Thu nhập
1.3.2.2 Thời gian rỗi
1.3.2.3 Trình độ học vấn
1.3.3 Các yếu tố kích thích nhu cầu du lịch
1.3.3.1 Sản phẩm du lịch
1.3.3.2 Chiến lược về giá
1.3.3.3 Các kênh phân phối
1.3.3.4 Hoạt động xúc tiến
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU DU LỊCH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI
2.1 Khái quát về Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2 Tài nguyên du lịch
2.1.2.1 Khu di tích lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
2.1.2.2 Điểm du lịch Hồ Tây
2.1.2.3 Điểm du lịch Văn Miếu - Quốc Tử Giám
2.1.2.4 Điểm du lịch Hồ Hoàn Kiếm - Đền Ngọc Sơn
2.1.2.5 Khu phố cổ Hà Nội
22
22
22
23
23
24
24
24
25
25
26
26
27
27
28
30
30
30
30
31
34
34
35
37
38
Trang 62.1.3 Hoạt động du lịch
2.2 Quy trình khảo sát điều tra
2.2.1 Nguyên tắc và cách thức khảo sát
2.2.2 Xây dựng nội dung khảo sát
2.3 Thực trạng nhu cầu du lịch của người Hà Nội
2.3.1 Phương thức tìm hiểu thông tin
2.3.2 Hình thức đi du lịch
2.3.3 Số lượng người tham gia
2.3.4 Phương tiện vận chuyển
2.3.5 Dịch vụ lưu trú
2.3.6 Dịch vụ ăn uống
2.3.7 Thời điểm đi
2.3.8 Độ dài chuyến du lịch
2.3.9 Loại hình du lịch
2.3.10 Tuyến điểm du lịch
2.4 Nhu cầu du lịch của người Hà Nội hiện nay
2.4.1 Hình thức đi du lịch
2.4.2 Số lượng người tham gia
2.4.3 Phương tiện vận chuyển
2.4.4 Dịch vụ lưu trú
2.4.5 Dịch vụ ăn uống
2.4.6 Thời điểm đi
2.4.7 Độ dài chuyến du lịch
2.4.8 Loại hình du lịch
2.4.9 Tuyến điểm du lịch
2.4.9.1 Du lịch trong nước
39
39
41
41
43
43
43
44
45
46
47
48
49
50
51
53
55
55
56
57
60
62
65
67
69
70
Trang 72.4.9.2 Du lịch nước ngoài
2.4.10 Khả năng chi trả
2.5 Đánh giá nhu cầu du lịch của người Hà Nội….………
Chương 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU DU LỊCH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI HIỆN NAY
3.1 Xu hướng gia tăng nhu cầu du lịch
3.1.1 Lợi thế về dân số
3.1.2 Lợi thế về kinh tế
3.3.3 Các lợi thế khác
3.2 Đề xuất về sản phẩm du lịch
3.2.1 Thực trạng sản phẩm du lịch hiện nay
3.2.2 Đề xuất đối với sản phẩm du lịch trong nước
3.2.3 Đề xuất đối với sản phẩm du lịch quốc tế
3.3 Đề xuất về quảng bá, xúc tiến du lịch
3.4 Đề xuất về cơ chế, chính sách
3.4.1 Đối với chính quyền
3.4.2 Đối với các công ty du lịch
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
70
72
75
76
78
78
78
78
79
79
80
81
83
84
86
86
87
89
90
92
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu số lượng mẫu điều tra………
Bảng 2.2 Mối tương quan giữa tổng chi phí dự kiến và dịch vụ vận chuyển
Bảng 2.3 Mối tương quan giữa tổng chi phí dự kiến và dịch vụ lưu trú………
Bảng 2.4 Mối tương quan giữa tổng chi phí dự kiến và dịch vụ ăn uống………
Bảng 2.5 Mối tương quan giữa thời điểm đi du lịch và loại hình du lịch………
Bảng 2.6 Mối tương quan giữa tổng chi phí và độ dài thời gian lưu trú………
Bảng 2.7 So sánh nhu cầu du lịch trước đây và bây giờ………
Hình 1.1 Bậc thang nhu cầu của Maslow………
Hình 1.2 Sơ đồ nhu cầu du lịch………
10
14
Trang 9Danh mục các biểu đồ
Trang
Biểu đồ 2.1: Lượng khách du lịch đến Hà Nội (2005 - 2007)……….…
Biểu đồ 2.2: Phương thức tìm hiểu thông tin ……… ………
Biểu đồ 2.3: Hình thức đi du lịch………
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu số người đi du lịch cùng……… ………
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu sử dụng phương tiện vận chuyển ……… …
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu sử dụng dịch vụ lưu trú ……… ……
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu sử dụng dịch vụ ăn uống ………
Biểu đồ 2.8: Thời điểm đi du lịch……… ………
Biểu đồ 2.9: Độ dài chuyến du lịch ………
Biểu đồ 2.10: Số lần tham gia các loại hình du lịch ………
Biểu đồ 2.11: Số lần đi du lịch nước ngoài ………
Biểu đồ 2.12: Hình thức đi du lịch ………
Biểu đồ 2.13: Số lượng người tham gia trong một tour du lịch………
Biểu đồ 2.14: Cơ cấu sử dụng phương tiện vận chuyển…… ………
Biểu đồ 2.15: Cơ cấu sử dụng dịch vụ lưu trú ………
Biểu đồ 2.16: Cơ cấu sử dụng dịch vụ ăn uống ………
Biểu đồ 2.17: Thời điểm đi du lịch……….…………
Biểu đồ 2.18: Độ dài chuyến du lịch ………
Biểu đồ 2.19: Cơ cấu loại hình du lịch ……… ………
Biểu đồ 2.20: Mức độ yêu thích tuyến điểm du lịch trong nước………
Biểu đồ 2.21: Mức độ yêu thích tuyến điểm du lịch nước ngoài………
Biểu đồ 2.22: Khả năng chi trả khi đi du lịch……… ………
40
43
44
45
46
47
48
49
50
51
53
55
56
57
60
62
65
67
69
70
72
75
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu du lịch hiện này ngày càng tăng cao theo sự tăng trưởng chung của đời sống kinh tế xã hội thế giới Nhu cầu du lịch đã trở thành một trong những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống con người Qua mấy thập kỷ trở lại đây, với sự phát triển của các phương tiện vận chuyển, đặc biệt là ngành hàng không và sự bùng nổ về công nghệ thông tin cũng như sự tiện lợi của các hình thức thanh toán quốc tế đã kéo gần khoảng cách địa lý trên thế giới, hoạt động du lịch trở lên dễ dàng hơn, cầu du lịch vì thế cũng tăng lên nhanh chóng
Việt Nam trong khoảng hai chục năm trở lại đây, với định hướng phát triển mở rộng hợp tác với tất cả các quốc gia trên thế giới đang dần là một điểm đến nổi tiếng về cảnh đẹp, giá trị văn hóa, an toàn và thân thiện của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương Cùng với
sự tăng trưởng chung của nền kinh tế, hoạt động du lịch tại Việt Nam cũng tăng nhanh với sự ra đời của nhiều công ty lữ hành nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Hà Nội, thủ đô của Việt Nam, là trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế của cả nước, đồng thời cũng là một trong hai trung tâm du lịch lớn nhất Việt Nam (cùng với TP Hồ Chí Minh) Hà Nội là điểm đến
ưa thích của khách du lịch quốc tế cũng như nội địa do vị trí trung tâm
về giao thông hàng không, đường bộ, do có cơ sở hạ tầng vào loại tốt nhất cả nước và chứa đựng trong lòng những giá trị văn hóa quý báu, lâu đời của dân tộc Vì vậy, hoạt động du lịch đón khách quốc tế, nội
Trang 11địa đến Hà Nội và đưa khách Hà Nội đi du lịch trong nước và nước ngoài khá sôi động
Về lĩnh vực khoa học, cũng đã có nhiều công trình khoa học, đề tài, báo cáo nghiên cứu định hướng và giải pháp kích thích sự phát triển ngành du lịch thủ đô, tuy nhiên những nghiên cứu này hầu hết chỉ tập trung vào nghiên cứu nhu cầu du lịch của các thị trường khách đến thủ đô Hà Nội mà chưa có nghiên cứu nào đề cấp đến nhu cầu đi
du lịch của người dân sống tại Hà Nội
Chính vì vậy, “Xác định nhu cầu du lịch của người Hà Nội hiện
nay” là một đề tài mang tính cấp thiết nhằm kích thích sự phát triển toàn
diện của du lịch thủ đô cũng như nghiên cứu xây dựng những sản phẩm
du lịch phù hợp và thỏa mãn nhu cầu của người Hà Nội
2 Mục tiêu của đề tài
Đưa ra được đánh giá về nhu cầu du lịch của người Hà Nội hiện nay
Tìm ra sự thay đổi trong nhận thức và hành vi tiêu dùng du lịch của người Hà Nội
Đưa ra các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của người Hà Nội
Góp phần giúp các doanh nghiệp du lịch định hướng sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu thị trường
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các cơ sở lý luận về nhu cầu du lịch
Tìm hiểu các chính sách phát triển du lịch của Hà Nội
Nghiên cứu về nhu cầu du lịch của người Hà Nội trong quá khứ
Trang 12 Khảo sát nhu cầu du lịch của người Hà Nội hiện nay
Tìm hiểu các tuyến điểm du lịch nội địa và quốc tế xuất phát
từ thủ đô Hà Nội
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu nhu cầu du lịch của những người dân sống tại Hà Nội trong thời điểm hiện tại và những mong muốn của họ trong việc thỏa mãn nhu cầu du lịch
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian:
Khi bắt đầu triển khai đề tài này, vẫn chưa có chủ trương mở rộng địa giới hành chính của Hà Nội Đến tháng 8/2008, tmột phần tỉnh Hòa Bình và tỉnh Vĩnh Phúc Như vậy, khu vực Hà Nội có sự khác biệt nhau rất rõ về văn hóa, trình độ học vấn và thu nhập Do điều kiện thời gian, đề tài chỉ tập trung nhu cầu du lịch của người dân
nội thành Hà Nội, cụ thể là các quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba
Đình, Đống Đa, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên
Phạm vi thời gian:
Quá trình nghiên cứu diễn ra trong thời gian từ 9/2006 đến 10/2008 Tuy nhiên, số liệu khảo sát được thu thập trong khoảng thời gian từ 1/6/2008 đến 1/9/2008
Phạm vi nội dung nghiên cứu:
Đề tài của luận văn là “Xác định nhu cầu du lịch của người
Hà Nội hiện nay”, ở đây cần làm rõ khái niệm “người Hà Nội” Có rất
nhiều cách hiểu “người Hà Nội”, có thể là những người sinh ra và lớn
Trang 13lên tại Hà Nội hoặc là những người có hộ khẩu ở Hà Nội Tuy nhiên, hiện nay, số lượng người dân học tập và sinh sống tại Hà Nội trong thời gian dài rất nhiều nhưng lại không có hộ khẩu tại đây Để xác định theo tiêu chí người Hà Nội là người có hộ khẩu ở Hà Nội rất khó và không thực tế Vì vậy, trong luận văn này, khái niệm người
Hà Nội được hiểu là những người dân Việt Nam học tập và sinh sống
tại Hà Nội
Đề tài này tập trung vào nghiên cứu nhu cầu tức là mong muốn,
ước muốn của họ về chuyến du lịch trong thời điểm hiện tại, chứ
không phải tập trung nghiên cứu về cầu du lịch (nhu cầu có khả năng chi trả) mặc dù trong quá trình nghiên cứu có tìm hiểu về khả năng chi trả của du khách trong chuyến du lịch sắp tới
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu thứ cấp
Việc thực hiện luận văn đã tiến hành thu thập các thông tin, dữ liệu từ các tài liệu nghiên cứu, các giáo trình, sách, tạp chí khoa học trong nước và quốc tế để làm tư liệu nghiên cứu
Phương pháp xã hội học:
Luận văn cũng áp dụng các phương pháp xã hội học trong quá
trình thực hiện Đó là phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với 601
phiếu điều tra với 601 đối tượng là người Hà Nội Bên cạnh đó, đề tài
còn kết hợp thực hiện phương pháp phỏng vấn sâu trong quá trình
điều tra bảng hỏi, đã tiến hành phỏng vấn sâu một số đối tượng điều tra để biết chi tiết hơn thông tin về nhu cầu của họ và lý do khác biệt,
Trang 14thay đổi giữa thực tế hoạt động du lịch trong quá khứ và mong muốn
đi du lịch tại thời điểm hiện tại
Phương pháp chuyên gia:
Đề tài cũng đã áp dụng phương pháp chuyên gia trong quá trình thực hiện Đó là xin ý kiến chuyên gia trong quá trình xây dựng phiếu điều tra và cũng tiến hành phỏng vấn sâu một số chuyên gia trong lĩnh vực du lịch về nhu cầu du lịch của người Hà Nội hiện nay để làm căn
cứ tham chiếu trong quá trình xử lý số liệu
7 Kết cầu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
hiện nay
Chương 3 Một số đề xuất nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của
người Hà Nội hiện nay
Trang 15NỘI DUNG
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU DU LỊCH
1.1 Khái quát chung về nhu cầu
1.1.1 Các khái niệm
Từ lâu, nhu cầu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Tuy nhiên, mỗi ngành, lĩnh vực đều có những quan điểm về nhu cầu gần với lĩnh vực nghiên cứu của mình nhất Vì vậy, cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm chung nhất về nhu cầu Để hiểu rõ hơn về khái niệm này, có thể nhìn nhận nó qua một số các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu:
Theo Nguyễn Khắc Viện trong cuốn Từ điển Xã hội học thì
“Mọi hành vi của con người đều do sự kích thích của những nhu cầu nào đó Nhu cầu thể hiện sự lệ thuộc của một cớ thể sống vào môi trường bên ngoài, thể hiện thành những ứng xử tìm kiếm khi cơ thể thiếu những điều kiện để tồn tại và phát triển” [15, 211]
Con người trong mối quan hệ với môi trường xung quanh như thiên nhiên, xã hội từ đó hình thành những đòi hỏi về vật chất, văn hóa, tinh thần Đó là nhu cầu Theo nghĩa hẹp thì nhu cầu là những yêu cầu cần thiết của con người để sống hay tồn tại Theo nghĩa rộng đó là tất cả những yêu cầu của con người để tồn tại và phát triển [7, 79]
Lê Hữu Tầng đưa ra quan niệm về nhu cầu là những đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của các nhóm xã hội khác nhau hay của toàn xã hội muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển [12, 15]
Trang 17Nhu cầu là sự cần hay sự thiếu hụt một cái gì đó thiết yếu để duy trì hoạt động sống của cơ chế một cá nhân con người, một nhóm xã hội hay xã hội nói chung, là động cơ bên trong của tính tích cực [14, 518]
Nhu cầu là một trong những nguồn gốc nội tại sinh ra trong tính tích cực của con người Đó là một trạng thái tâm lý xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có những điều kiện nhất định để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình [4, 271]
Trong nghiên cứu về thị trường thì nhu cầu được hiểu theo nghĩa là nhu cầu tiêu dùng Nhu cầu tiêu dùng là sự đòi hỏi của con người về hàng hóa và dịch vụ, chỉ đề cập đến những đòi hỏi về vật chất Tuy nhiên, nhu cầu về tinh thần nếu được vật chất hóa thì đó cũng là nhu cầu tiêu dùng
Như vậy, có thể hiểu nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về hàng hóa hay dịch vụ nào đó để đảm bảo sự tồn tại và phát triển
1.1.2 Phân loại
Sự phát triển của con người, loài người là quá trình đáp ứng những nhu cầu, đồng thời cũng là quá trình nảy sinh những nhu cầu ngày càng mới Nhu cầu là động cơ trực tiếp của hành vi con người Nhu cầu được phân loại theo các tiêu chí khác nhau:
- Theo tính chất: có nhu cầu tự nhiên (mang tính bẩm sinh: nhu cầu ăn, ở, mặc, an toàn tính mạng…) và nhu cầu xã hội (những nhu cầu do cuộc sống xã hội tạo nên: nhu cầu học tập, sáng tạo nghệ thuật…)
Trang 18- Theo đối tượng thỏa mãn nhu cầu: có nhu cầu vật chất (ăn, mặc, mua sắm…) và nhu cầu tinh thần (giao tiếp, thưởng thức nghệ thuật, vui chơi giải trí…)
- Theo lĩnh vực hoạt động: có nhu cầu kinh tế, nhu cầu chính trị, nhu cầu tâm linh…
- Theo phương thức sử dụng sản phẩm của xã hội: có nhu cầu sản xuất và nhu cầu tiêu dùng
- Theo mức độ cấp thiết phải ứng: có nhu cầu tuyệt đối (các nhu cầu thiết yếu cơ bản đảm bảo sự tồn tại của con người: ăn no, mặc ấm,
đồ dùng đầy đủ…Những nhu cầu này con người nhất thiết phải được đáp ứng thì con người mới sống được) và nhu cầu tương đối (những nhu cầu được nâng cao về mặt chất lượng: ăn ngon, mặc đẹp, đồ dùng tốt…Những nhu cầu này được đáp ứng theo mức độ tương ứng với trình độ phát triển của sản xuất xã hội và khả năng tài chính của mỗi
cá nhân
- Theo nhóm xã hội: có thể phân chia theo nhóm lứa tuổi (nhu cầu của trẻ em, nhu cầu của thanh niên, của người già…); theo nhóm nghề nghiệp (nhu cầu của nhóm công chức, nhu cầu của nhóm nông dân, công nhân…); theo khu vực cư trú (nhu cầu của cư dân thành thị, nông thôn…)
Nhà tâm lý học Maslow đã phân chia hệ thống nhu cầu của con người theo 5 thứ bậc, được sắp xếp theo mức độ thiết yếu từ thấp đến cao Đó là:
Trang 19Hình 1.1 Bậc thang nhu cầu của Maslow
- Nhu cầu sinh học: là nhu cầu cơ bản nhất, cấp thiết nhất Đó
là ăn , uống, mặc, ở, nghỉ ngơi, sinh lý…Con người phải đáp ứng đủ
nhu cầu sinh học rồi mới quan tâm tới các nhu cầu tiếp theo
- Nhu cầu được an toàn: không phải lo lắng, sợ hãi điều gì Đáp
ứng được nhu cầu này, con người mới thực sự an tâm khi tham gia vào
các quan hệ xã hội
- Nhu cầu về tình cảm: yêu và được người khác yêu
- Nhu cầu về uy tín: Tự trọng và được tôn trọng Khi tham gia
vào các hoạt động xã hội, con người mong muốn có được thành công,
uy tín, được xã hội tôn trọng
- Nhu cầu tự đổi mới: phát triển cá nhân, hoàn thiện bản thân
Đây là nhu cầu cao nhất của con người
Như vậy, có nhiều cách phân loại nhu cầu của con người Tùy
thuộc vào mục đích nghiên cứu của từng ngành, từng lĩnh vực thì sẽ
lựa chọn các cách phân loại sao cho phù hợp với nội dung nghiên cứu
TỰ ĐỔI MỚI (Self fulfillment)
UY TÍN (Self respect)
TÌNH CẢM (Social needs) ĐƯỢC AN TOÀN
(Safety & Security needs)
SINH HỌC (Phisiclogical needs)
Trang 201.2 Nhu cầu du lịch
1.2.1 Khái niệm
Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không chỉ dừng lại ở việc thỏa mãn những nhu cầu cơ bản: ăn, ở, đi lại mà họ còn mong muốn thỏa mãn những nhu cầu cao cấp hơn là vui chơi giải trí, nâng cao hiểu biết , một trong những loại nhu cầu đó là nhu cầu du lịch
Ngày nay trên các sách báo tạp chí, thuật ngữ “nhu cầu du lịch” xuất hiện thường xuyên và khá phổ biến Tuy nhiên, khi đề cập đến nhu cầu du lịch, các tác giả khác chỉ nói đến nhu cầu du lịch một cách khái quát, chung chung như: nhu cầu du lịch tăng mạnh, nhu cầu du lịch trong nước, nhu cầu du lịch nước ngoài và thường đề cập đến lượng khách hay đề cập đến khía cạnh cụ thể hơn là nhu cầu du lịch sinh thái, nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng …
Khái niệm nhu cầu du lịch đầy đủ và chi tiết nhất là trong cuốn sách "Thị trường du lịch" của tác giả Nguyễn Văn Lưu: "Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và mang tính xã hội hóa cao, biểu hiện sự mong muốn tạm thời rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến với thiên nhiên và văn hóa ở một nơi khác, là nguyện vọng cần thiết của con người muốn được giải phóng khỏi sự căng thẳng để được nghỉ ngơi, giải trí, phục hồi sức khỏe và tăng cường hiểu biết ".[8, 5]
Vì vậy, dựa theo quan điểm trên, trong luận văn này, nhu cầu du lịch được hiểu theo nghĩa là sự đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của khách du lịch về các dịch vụ trong quá trình đi du lịch
Trang 211.2.2 Đặc điểm
Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt, thuộc những nấc trên trong bậc thang nhu cầu của Maslow, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu cấp dưới được đáp ứng đầy đủ Do đó, du cầu du lịch có một số đặc điểm sau :
- Nhu cầu du lịch chủ yếu là nhu cầu về dịch vụ: Trong chuyến
đi, du khách cần được đáp ứng nhu cầu rất đa dạng Những nhu cầu này được đáp ứng không phải bằng việc mua đứt sản phẩm (trừ đồ ăn uống) mà ở dạng dịch vụ Doanh thu dịch vụ du lịch chiếm khoảng 50- 80% tổng doanh thu trên thi trường du lịch [8, 26]
- Nhu cầu du lịch có tính linh hoạt, dễ thay đổi và phát sinh nhu cầu mới Du lịch là sự rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác, du khách khó có thể biết hết nơi mình sắp tới sẽ có những gì Vì vậy, việc phát sinh nhu cầu mới là thường xuyên Ví dụ du khách đi thăm làng mây tre đan, thấy thích bông hoa bằng mây, nhu cầu mua sắm phát sinh…
- Nhu cầu du lịch có tính đan xen: Trong quá trình đi du lịch, nhu cầu ăn uống là nhu cầu thiết yếu, nhưng khi ăn uống thưởng thức một đặc sản địa phương cũng chính là nhu cầu tìm hiểu văn hóa…
- Nhu cầu du lịch chấp nhận giá cao: Du lịch có nghĩa là đến một nơi khác với nơi ở hiện tại, điều này đồng nghĩa với việc du khách phải sử dụng dịch vụ ăn uống nghỉ…do địa phương đó cung cấp Hơn nữa, những người đi du lịch là những người đã thỏa mãn đầy
đủ các nhu cầu cơ bản, họ có khả năng chi trả nên với cùng một sản phẩm họ chấp nhận mức giá cao hơn tại địa điểm du lịch
Trang 221.2.3 Phân loại
Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa đã tiếp cận nhu cầu du lịch dưới hai khía cạnh: từ việc nghiên cứu những nhu cầu nói chung của con người theo thang cấp bậc và từ việc thống kê, nghiên cứu các mục đích và động cơ chính của con người khi đi du lịch Trên cơ sở đó các tác giả đã đưa ra 3 nhóm cơ bản sau:
- Nhóm I: Nhu cầu cơ bản (thiết yếu) gồm: Đi lại, lưu trú, ăn uống
- Nhóm II: Nhu cầu đặc trưng (nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu, thưởng thức cái đẹp, giao tiếp )
- Nhóm III: Nhu cầu bổ sung (thẩm mỹ, làm đẹp, mua sắm, thông tin, giặt là ) [4, 63]
Nhu cầu du lịch là một nhu cầu mang tính chất cao cấp, tổng hợp nhưng không phải là nhu cầu thiết yếu Sau khi thỏa mãn các nhu cầu cơ bản về ăn, ở để duy trì sự sống, con người mới có điều kiện nghĩ đến nhu cầu về nghỉ ngơi, vui chơi giải trí các nhu cầu này lại phải chi phí một số tiền nhiều nhiều hơn chi phí thông thường và là tổng hợp của mọi nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần
Trong kinh doanh du lịch của các doanh nghiệp, việc đáp ứng nhu cầu dịch vụ chính và nhu cầu dịch vụ đặc trưng là hai hoạt động chủ yếu vì nó mang lại nguồn thu chính cho doanh nghiệp Chính vì vậy, luận văn này tập trung nghiên cứu nhu cầu ở nhóm I và nhóm II tức là nghiên cứu nhu cầu cơ bản là ăn, ở đi lại và nhu cầu đặc trưng của du lịch là các hoạt động tham quan, vui chơi giải trí
Trang 23có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng [7, 14] Chính vì vậy, vận chuyển chính là một yếu tố đầu tiên và hết sức quan trọng của hoạt động du lịch, lữ hành
Nhu cầu vận chuyển của khách du lịch chính là các nhu cầu của
họ được đến những nơi có tài nguyên du lịch thông qua việc sử dụng các phương tiện vận chuyển khách du lịch Vì vậy, nghiên cứu về nhu cầu vận chuyển của khách du lịch cũng chính là nghiên cứu về các phương tiện vận chuyển phục vụ khách và các mong muốn của du khách đối với các loại phương tiện vận chuyển đó
Hiện nay, trong hoạt động du lịch, du khách thường sử dụng các loại phương tiện vận chuyển chủ yếu sau:
Du lịch bằng ô tô:
Ô tô là phương tiện vận chuyển thông dụng, phổ biến và chiếm
ưu thế so với các phương tiện khác Hiện nay, trên thế giới có tới 80%
du khách đi du lịch bằng ô tô Còn ở Việt Nam, năm 2007, lượng khách đi du lịch quốc tế đến bằng đường bộ khoảng 685 nghìn lượt khách, chiếm 16,42% Con số này là rất nhỏ so với các phương tiện
Trang 24vận chuyển khác Tuy nhiên, đối với khách du lịch nội địa và các hoạt động du lịch nội địa thì ô tô vẫn là phương tiện vận chuyển chủ yếu vì loại hình vận chuyển bằng ô tô có một số đặc điểm là:
Du lịch bằng tàu thủy:
Du lịch bằng tàu thủy thường dành cho du khách là người có khả năng chi trả cao Đi du lịch bằng tàu thủy, du khách có thể được tận hưởng không khí trong lành và được thăm nhiều địa điểm trong hành trình của mình Tuy nhiên, khi du lịch bằng tàu thủy đòi hỏi du khách phải có sức khỏe tốt, không bị say sóng, và hành trình du lịch thường khá dài Hiện nay, du lịch bằng tàu thủy ở Việt Nam hầu như
Trang 25chưa phát triển Lượng khách quốc tế đến bằng đường thủy chỉ chiếm 5.4 % so với các phương tiện khác Trong hoạt động du lịch nội địa, đến nay mới chỉ có tàu thủy cao tốc Hoa Sen của tập đoàn Vinashin chạy tuyến Bắc Nam từ Hòn Gai (Quảng Ninh) tới TP HCM Việt Nam là một nước có nhiều sông hồ, tuy nhiên hoạt động du lịch bằng tàu thủy vẫn chưa được chú trọng đúng mức
Du lịch bằng tàu hỏa:
Du lịch bằng tàu hỏa có ưu điểm là chi phí thấp, không làm hao tổn nhiều sức khỏe của du khách Tuy nhiên, tính cơ động của loại hình này thấp, thường không tiếp cận được điểm du lịch nên phải kết hợp với các phương tiện vận chuyển khác, mất nhiều thời gian Vì thế, hiện nay, lượng du khách sử dụng tàu hỏa cho các chuyến du lịch xa là rất thấp Ở Việt Nam, du khách thường sử dụng tàu hỏa theo tuyến du lịch Hà Nội – Sa Pa hoặc Hà Nội – Huế
Như vậy, có thể thấy, hiện nay du khách thường sử dụng máy bay cho khoảng cách xa và đi du lịch bằng ô tô với những khoảng cách gần Các phương tiện vận chuyển du lịch khác như thường ít được sử dụng hoặc chỉ được sử dụng kết hợp vì yếu tố tiện lợi và thời gian
- Lưu trú
Lưu trú là một trong những nhu cầu cơ bản của du khách trong hoạt động du lịch Luật du lịch quy định các loại cơ sở lưu trú bao gồm: Khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê
và các cơ sở lưu trú du lịch khác.[17, 53]
Trang 26 Khách sạn
Theo Thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL thì “Khách sạn (hotel) là cơ sở lưu trú du lịch, có quy mô từ mười buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách lưu trú và sử dụng dịch vụ bao gồm các loại: Khách sạn thành phố, khách sạn nghỉ dưỡng, khách sạn nổi và khách sạn bên đường” Như vậy, khách sạn là một loại hình cơ sở lưu trú đặc thù, phổ biến và cao cấp trong kinh doanh du lịch Đây là cơ sở đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và tiện nghi cần thiết phục vụ khách lưu trú trong thời gian nhất định, đáp ứng yêu cầu về mặt lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác Các khách sạn được phân theo hạng khác nhau tùy thuộc vào cơ sở vật chất và dịch vụ Chính vì vậy, đối tượng du khách đến khách sạn cũng rất đa dạng, từ du khách có khả năng chi trả trung bình đến du khách có khả năng thanh toán cao Ở Việt Nam, khách sạn được phân theo cấp hạng tăng dần từ 1 đến 5 sao
Nhà nghỉ du lịch
Thông tư số 88/2008/TT-BVHTTDL quy định “ Nhà nghỉ du lịch (tourist guest house) là cơ sở lưu trú du lịch, có trang thiết bị, tiện nghi cần thiết phục vụ khách du lịch như khách sạn nhưng không đạt tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn” Như vậy, nhà nghỉ là công trình kiến trúc độc lập, nhỏ hơn khách sạn, trang thiết bị phục vụ, giá cả đều thấp hơn khách sạn Nhà nghỉ là cơ sở lưu trú chủ yếu cung cấp dịch
vụ nghỉ qua đêm của du khách, rất ít nhà nghỉ cung cấp dịch vụ ăn uống Các cơ sở vật chất và sự phục vụ trong nhà nghỉ ở mức tối thiểu
Trang 27Vì thế, giá nhà nghỉ rất thấp, dành cho đối tượng khách có mức thu nhập trung bình và thấp
Ngoài các cơ sở lưu trú phổ biến ở trên, còn có một số loại hình lưu trú khác phục vụ cho nhu cầu nghỉ qua đêm của du khách như: Làng du lịch (tourist village), biệt thự du lịch (tourist villa), căn hộ du lịch, camping, nhà khách, nhà có phòng cho thuê…
Như vậy, trong du lịch, ăn uống còn đáp ứng nhu cầu văn hóa của khách du lịch
12.3.2 Nhu cầu dịch vụ đặc trưng
Nhu cầu dịch vụ đặc trưng là nhu cầu dẫn đến quyết định du lịch địa phương này hay đi đến địa phương khác, bao gồm 4 loại nhu cầu chính sau:
Trang 28- Nhu cầu du lịch biển
Đặc trưng của nhu cầu du lịch biển là mục tiêu chủ yếu của du khách là về với thiên nhiên, tham gia các hoạt động du lịch biển như tắm biển, hoạt động thể thao trên biển Thời gian thuận lợi cho việc nghỉ biển là mùa nóng, khi mà nhiệt độ nước biển và không khí trên
bãi biển và độ dốc Không phải bãi biển nào cũng phù hợp cho loại hình tắm biển Ngoài tắm biển, các hoạt động du lịch khác như lặn biển, thể thaobieenr cũng cần những điều kiện khí hậu phù hợp với khả năng thích nghi sinh học của con người
Tuy nhiên, việc thực hiện nhu cầu nghỉ biển cũng cần chú ý đến các vấn đề về mùa vụ du lịch hay việc thay đổi thời tiết bất thường như mưa, bão cản trở hoạt động du lịch này
- Nhu cầu du lịch núi
Nhu cầu du lịch núi có lẽ chỉ đứng sau nhu cầu du lịch biển về lượng khách tham quan Ở châu Âu loại hình này hết sức phát triển, đặc biệt ở những vùng núi cao phong cảnh đẹp có tuyết trắng Ở Việt Nam, với hai phần ba diện tích lãnh thổ là đồi núi tạo nên nhiều khu vực độc đáo, hấp dẫn về cảnh quan và địa hình khí hậu Theo các nhà khí hậu học, cứ lên cao 100 m thì nhiệt độ lại giảm đi 0,60
C, nên vùng núi cao luôn có nhiệt độ mát mẻ hơn đồng bằng Các địa danh Sapa, Tam Đảo, Ba Vì, Đà Lạt vv là những điểm nghĩ dưỡng núi đã xuất hiện khá lâu ở nước ta
Ngoài ra, do tính độc đáo và tương phản cao, miền núi còn rất thích hợp cho việc xây dựng và phát triển hoạt động du lịch tham
Trang 29quan, cắm trại, tìm hiểu thế giới tự nhiên, đa dạng sinh học, du lịch mạo hiểm vv
- Nhu cầu du lịch đô thị
Các thành phố, trung tâm hành chính có sức hấp dẫn bởi các công trình kiến trúc có tầm cỡ quốc gia và quốc tế Mặt khác, đô thị cũng là đầu mối thương mại của đất nước Vì vậy, không chỉ người dân ở các vùng nông thôn bị hấp dẫn bởi các công trình đương đại
đồ sộ trong các đô thị mà du khách từ các miền khác nhau, từ các thành phố khác nhau cũng có nhu cầu đến để chiêm ngưỡng phố phường và mua sắm Ở Việt Nam, hai đô thị thu hút lượng khách du lịch nhiều nhất là Hà Nội và Hồ Chí Minh
- Nhu cầu du lịch thôn quê
Đối với người dân ở các đô thị, các làng quê là nơi có không khí trong lành, cảnh vật thanh bình và không gian thoáng đãng Tất cả các yếu tố đó lại hoàn toàn không còn tìm thấy ở thành thị Như vậy, về nông thôn có thể giúp họ phục hồi sức khỏe sau những chuỗi ngày làm việc căng thẳng Về phương diện kinh tế, người dân đô thị nhận thấy giá cả nhiều mặt hàng nông sản thực phẩm ở nông thôn rẻ hơn, tươi hơn Điều đó làm tăng mối thiện cảm khi đi khách tiềm năng quyết định đi du lịch về nông thôn
Mặt khác, về mặt tình cảm, người đô thị tìm thấy ở nông thôn cội nguồn của mình, nhiều người tìm thấy tuổi thơ của mình Dưới góc
độ xã hội học, người thành thị thấy người dân ở làng quê tình cảm chân thành, mến khách và trung thực Tất cả những lý do môi trường, kinh tế, tâm lý xã hội nêu trên giải thích tại sao du lịch nông thôn ngày
Trang 30càng phát triển và cần được quan tâm thích đáng Đây cũng là một trong những đóng góp thiết thực của du lịch vào việc nâng cao mức sống của nông dân
1.2.3.3 Nhu cầu dịch vụ bổ sung
Ngoài các nhu cầu dịch vụ cơ bản, nhu cầu dịch vụ đặc trưng, còn là nhu cầu các dịnh vụ bổ sung trong du lịch Đây cũng là nhu cầu chính đáng của khách du lịch trong quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch Nhu cầu các dịch vụ bổ sung rất đa dạng phụ thuộc vào tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán và thói quen sinh hoạt của từng tập khách khác nhau Nhu cầu dịch bổ sung có thể là nhu cầu đi cầu nguyện của những người hồi giáo khi đi tham quan du lịch Dịch vụ bổ sung còn
là các dịch vụ liên quan đến việc giải trí tinh thần của con người, hay nhu cầu mua sắm trong du lịch, nhu cầu rèn luyện thể thao, làm đẹp vv
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu du lịch
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài
1.3.1.1 Chính trị
Điều kiện chính trị hòa bình đảm bảo cho việc giao lưu mở rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa… giữa các nước Du lịch chỉ có thể phát triển được trong bầu khí hòa bình, chính trị ổn định vì bất cứ du khách nào cũng có nhu cầu an toàn Khi đến những đất nước, vùng miền có sự ổn định về chính trị, du khách sẽ cảm thấy an toàn, yên tâm, tính mạng được đảm bảo và coi trọng Hơn nữa, nhu cầu du lịch không phải là một nhu cầu thiết yếu, người dân chỉ đi du lịch khi họ cảm thấy sẽ được an toàn Do vậy, ở những vùng
Trang 31an ninh chính trị và an toàn xã hội được đảm bảo sẽ có tính hấp dẫn cao dối với khách du lịch, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi kích thích người dân đi du lịch Vì vậy, để tăng lượng du khách thì cần có bầu không khí chính trị hòa bình, ổn định
1.3.1.2 Kinh tế
Kinh tế có vai trò quan trọng trong việc kích thích nhu cầu du lịch Nền kinh tế càng phát triển thì các cơ sở vật chất kỹ thuật dịch vụ phục vụ du lịch càng thỏa mãn hơn nhu cầu du lịch của du khách Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển cũng có nghĩa là mức thu nhập của người dân được cải thiện Nhu cầu đi du lịch càng cao, đặc biệt là nhu cầu đi du lịch đến những nơi xa xôi, ở những nơi sang trọng….với chi phí du lịch cao
1.3.1.3 Tự nhiên
Tự nhiên là điều kiện cần thiết cho hoạt động du lịch Nhu cầu
du lịch của du khách thường hướng đến nơi có điều kiện tự nhiên, cảnh quan đẹp, khí hậu mát mẻ… Do đó, những nơi có điều kiện tự nhiên tốt sẽ thu hút được nhiều hơn khách du lịch Điều kiện tự nhiên bao gồm:
- Vị trí địa lý: Vị trí địa lý liên quan đến nhu cầu của du khách
về khoảng cách từ nơi xuất phát đến điểm du lịch Nhiều du khách có nhu cầu tham quan những điểm du lịch gần, thuận tiện trong quá trình vận chuyển nhưng ngược lại, có không ít du khách ưa thích sự mạo hiểm, muốn đến những nơi hoang sơ,
- Địa hình
- Khí hậu
- Thủy văn
Trang 32- Thế giới động thực vật
1.3.1.4 Văn hóa xã hội
Yếu tố văn hóa xã hội ảnh hưởng tới nhu cầu du lịch của du khách trên 2 phương diện: Thứ nhất là ảnh hưởng tới động cơ đi du lịch, thường những nơi có trình độ văn hóa cao, nhiều người đi du lịch thì những người sống trong khu vực đó cũng có xu hướng mong muốn
đi du lịch Thứ hai là ảnh hưởng tới nhu cầu của du khách về điểm du lịch Du khách thường mong muốn đến những nơi có những nền văn hóa mới lạ, đặc sắc
1.3.2 Các yếu tố bên trong
1.3.2.1 Thu nhập
Thu nhập là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến cầu du lịch Hoạt động du lịch của khách chính là việc thực hiện các nhu cầu du lịch Mà nhu cầu này không thể thành hiện thực nếu người dân không
có khả năng chi trả Vì vậy, thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu
du lịch
Kinh tế càng phát triển thì mức sồng và mức thu nhập của người dân càng tăng Điều này làm một trong những yếu tố tác động đến nhu cầu du lịch của người dân Khi thu nhập của người dân cao thì một phần thu nhập đó sẽ tiêu dùng cho du lịch Sự lựa chọn địa điểm du lịch phụ thuộc nhiều vào chi phí dành cho du lịch của du khách Những người có điều kiện, mức chi trả cao sẽ lựa chọn những điểm du lịch hấp dẫn, có thể là trong hoặc ngoài nước, xa địa điểm cư trú thường xuyên của họ và sử dụng những dịch vụ cao cấp Ngược lại, những người có thập thấp sẽ tìm đến những địa điểm du lịch bình dân,
Trang 33mức giá vừa phải và đi trong khoảng thời gian ngắn ngày Như vậy, thu nhập là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu của du khách về việc lựa chọn điểm đến
1.3.2.2 Thời gian rỗi
Thời gian rỗi là khoảng thời gian con người có thể dành cho những việc làm, hoạt động mà mình yêu thích như nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, đi du lịch… Trong quỹ thời gian rỗi của mình, con người cân nhắc phải sử dụng cho rất nhiều nhu cầu khác nhau, trong đó có nhu cầu du lịch Nếu quỹ thời gian rỗi nhiều, nhu cầu du lịch sẽ tăng cao
và ngược lại, người có ít thời gian rỗi thì nhu cầu du lịch càng bó hẹp
Đi du lịch là hoạt động giải trí nhằm nâng cao hiểu biết, hồi phục sức khỏe, thư giãn tinh thần… Chính vì vậy, con người chỉ đi
du lịch khi có thời gian rỗi Có thể nói, không có thời gian rỗi thì không có hoạt động du lịch Hơn nữa, thời gian rỗi cũng phần nào ảnh hưởng đến nhu cầu của du khách về việc lựa chọn địa điểm du lịch Du khách có nhiều thời gian rỗi thường lựa chọn những địa điểm xa nơi cư trú và thời gian lưu trú cũng kéo dài Ở nước ta hiện nay, mỗi người lao động được nghỉ 12 ngày phép mỗi năm và họ thường dùng một phần hoặc toàn bộ thời gian này đi du lịch cùng gia đình, người thân, bè bạn…
1.3.2.3 Trình độ học vấn
Trình độ học vấn ảnh hưởng rất nhiều đến nhu cầu du lịch Những người có trình độ học vấn cao thì nhu cầu muốn khám phá, tìm hiểu những điều mới là…càng nhiều và tất yếu nhu cầu du lịch cũng tăng lên
Trang 34Trình độ học vấn ảnh hưởng đến quyết định chọn điểm du lịch
và chọn loại hình du lịch Khách có trình độ học vấn thấp thích chọn loại hình du lịch đơn giản như nghỉ dưỡng, thích chọn các đô thị hiện đại, náo nhiệt để tham quan Ngược lại, người có trình độ học vấn cao thích tìm hiểu về văn hóa, thích các loại hình du lịch hướng về cộng đồng, bảo tồn thiên nhiên, du lịch sinh thái…vv
1.3.3 Các yếu tố kích thích nhu cầu du lịch
1.3.3.1 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng du lịch là một ngành kinh doanh dịch vụ
Dịch vụ là một giải pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất
Như vậy, có thể hiểu sản phẩm du lịch là tổng hợp tất cả các dịch vụ du lịch được xây dựng và cháo bán cho khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của một tập khách du lịch xác định với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng
Sản phẩm du lịch thường được biết đến trược hết thông qua các chương trình du lịch Vì vậy, khi tiến hành lập chương trình du lịch phải nêu bật được tính nổi trội của sản phẩm dịch vụ để có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu chính đáng của khách du lịch Cụ thể:
+ Sản phẩm du lịch phải đa dạng với nhiều nhu cầu du lịch của nhiều tập khách khác nhau
Trang 35+ Sản phẩm du lịch phải có tính đặc thù của từng công ty du lịch + Sản phẩn du lịch phải có định hướng mang tính giáo dục
+ Sản phẩm du lịch phải luôn mới lạ, độc đáo phù hợp với xu thế thời đại
1.3.3.2 Chiến lược về giá
Giá cả của sản phẩm du lịch là chi phí bằng tiền mà khách du lịch phải trả để có được các dịch vụ trong hoạt động du lịch
Giá cả là yếu tố mềm dẻo và linh hoạt nhất, cùng một loại sản phẩm dịch vụ nhưng ở các kênh phân phối khác nhau các thị trường khác nhau thì có thể áp dụng mức giá bán khác nhau
Trong du lịch, yếu tố giá cả lại càng linh hoạt Cùng một sản phẩm du lịch là chương trình du lịch như nhau, nhưng sẽ có các mức giá khác nhau Giá trong sản phẩm du lịch phụ thuộc vào chất lượng của các dịch vụ Vì vậy, khi mua một sản phẩm du lịch có giá cao thì chất lượng dịch vụ về vận chuyển, ăn ở, lưu trú… của tour du lịch đó sẽ cao hơn tour du lịch có giá thấp Điều này cũng ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch của người dân Không chỉ những người giàu có, có khả năng chi trả cao mới được quyền đi du lịch, mà những người có thu nhập trung bình, thấp vẫn có cơ hội đi đến những nơi mà mình yêu thích
1.3.3.3 Các kênh phân phối
Phân phối là quá trình đưa sản phẩm dịch vụ từ người cung cấp đến khách du lịch Đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm dịch vụ sẵn sàng để người tiêu dùng
có thể mua và sử dụng
Trang 36Có thể phân phối một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Trong du lịch khi tiến hành phân phối một cách gián tiếp thường chỉ thông qua một cấp đại lý, còn phân phối trực tiếp là từ doanh nghiệp du lịch đến thằng với khách du lịch
Đối với hoạt động lữ hành quốc tế, hầu hết là phân phối gián tiếp thông qua một cấp đại lý duy nhất tại nước sở tại hoặc các đại lý của mình ở tại nước đó
1.3.3.4 Hoạt động xúc tiến
Xúc tiến là một loạt các nỗ lực của doanh nghiệp trong việc nghiên cứu, hỗ trợ, kích thích sự phát triển của doanh nghiệp, là một loạt các hoạt động truyền tin về sản phẩm dịch vụ và doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ mua
Hoạt động xúc tiến nhằm kích thích nhu cầu du lịch thông thường vẫn thông qua việc: Quảng cáo, khuyến mại, bán hàng cá nhân…
+ Quảng cáo: Sản phẩm du lịch mang tính đặc thù của sản phẩm dịch vụ là không có sự định hình rõ rệt Vì vậy, quảng cáo trong du lịch thường là sự quảng cáo về thương hiệu của công ty hơn là quảng cáo về sản phẩm của công ty Các biện pháp quảng cáo hữu hiệu trong
du lịch là quảng cáo truyền miệng, quảng cáo bằng các tờ rơi, ấn phẩm
du lịch… Quảng cáo trên truyền hình quá tốn kém so với các công ty
du lịch Ngoài ra, hiện nay với sự tiện lợi của internet, quảng cáo điện
tử trong du lịch cũng đang trở thành một loại hình quảng cáo hiệu quả
và tiết kiệm Quảng cáo nhằm kích thích nhu cầu du lịch cần phải: Ấn tượng, rõ ràng và có trách nhiệm
+ Khuyến mại: Khuyến mại cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch của khách du lịch Khuyến mại trong du lịch thường
Trang 37được áp dụng mang tính thời điểm nhằm: Kích cầu mùa thấp điểm (Khuyến mại giảm giá tour; Đoàn 10 khách thì được 1 khách miễn phí… vv); đưa sản phẩm mới ra thị trường; tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh; xây dựng thương hiệu
+ Bán hàng cá nhân: Bán hàng cá nhân là hoạt động xúc tiến đòi hỏi nhân viên phải là những người có nghiệp vụ, kiến thức tốt về sản phẩm, có khả năng giao tiếp tốt, có nghiệp vụ về thanh toán, tín dụng
và đặc biệt phải có tố chất nhiệt tình và năng động Bán hàng cá nhân
là phương pháp xúc tiến trực tiếp và có hiệu quả cao thông qua việc tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, tiến hành tư vấn tiêu dùng và bán hàng thành công
Bán hàng cá nhân trong du lịch hiện nay phát triển mạnh và là
xu thế của các công ty luôn muốn mở rộng thị trường và kích thích doanh thu Bán hàng cá nhân trong du lịch có những lợi thế nhất định
Ví dụ, sản phẩm du lịch hầu hết là các dịch vụ, không có hình dáng cụ thể Vì vậy, sản phẩm mang đi rao bán trực tiếp là toàn bộ thông tin về sản phẩm, chính sách khuyến mại, phân phối, thanh toán của công ty Toàn bộ những thông tin này hoàn toàn có thể được xây dựng trong máy tính xách tay và hết sức tiện lợi cho nhân viên cơ động đi chào bán sản phẩm Hiện nay những nhân viên bán hàng cá nhân giỏi trong
du lịch chỉ cần máy tính xách tay, máy cà thẻ thanh toán là họ có thể chủ động tác nghiệp trực tiếp với khách Đây thực sự là hoạt động xúc tiến hiệu quả nhằm kích thích nhu cầu du lịch
Trang 38Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU DU LỊCH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI
2.1 Khái quát về Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Ví trí địa lý
Thủ đô Hà Nội nằm trong khu vực trung tâm của đồng bằng sông Hồng phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam và Hòa Bình, phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên và giáp tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ ở phía Tây
Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng Bắc Bộ Địa hình cơ bản là đồng bằng Trừ huyện Ba Vì có địa hình đồi núi, các huyện Sóc Sơn, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức, thành phố Sơn Tây
và một phần huyện Đông Anh có địa hình gò đồi
Hà Nội còn có nhiều ao, hồ, đầm là vết tích của con sông Hồng trước đây đã đi qua Ở huyện Thanh Trì và Hoàng Mai có nhiều hồ lớn
và nông, trong đó có hồ Linh Đàm và hồ Yên Sở Trước khi đắp đê, sông Hồng hay đổi dòng chảy, khiến cho một số đoạn sông bị cắt riêng ra thành hồ lớn và sâu Tiêu biểu cho loại hồ này là Hồ Tây Hồ Hoàn Kiếm từng là một hồ rất rộng, nhưng thời thuộc Pháp đã bị lấp tới hơn một nửa Các hồ Giảng Võ, hồ Ngọc Khánh, hồ Thủ Lệ trước kia thông nhau, nay bị lấp nhiều chỗ và bị chia cắt thành các hồ riêng biệt
Hà Nội được sông Hồng và các phụ lưu bồi đắp tạo nên, do đó
Hà Nội gắn bó với sông Hồng mật thiết Xưa kia người ta đã gọi sông
Trang 39Hồng là sông Cái- sông Mẹ Vì thế nên tên gọi Hà Nội có ý nghĩa là vùng đất bên trong sông Ngoài sông Hồng, Hà Nội còn có nhiều con sông khác chảy qua là: sông Đuống, sông Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch và sông Kim Ngưu
Hà Nội còn được mệnh danh là “thành phố của cây xanh và hồ” với nhiều hồ đẹp Có tổng số 18 hồ với diện tích mặt nước hơn 220 ha trong đó có những hồ nổi tiếng đã đi vào lịch sử, văn thơ như: Hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây, Trúc Bạch, hồ Bảy Mẫu
mùa hạ là: 29,2 0C và nhiệt độ trung bình cả năm là 23,2 0
C
Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước Tại đây có sân bay quốc tế Nội Bài lớn nhất ở Việt Nam Có các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thuỷ đi khắp các tỉnh trong cả nước
Hiện nay, Hà Nội đang trong đà phát triển mạnh mẽ, hàng loạt những con đường mới mở, tạo điều kiện cho hệ thống giao thông đô thị được mở rộng, thuận tiện cho người dân thủ đô và cho du khách quốc tế
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trang 40bình ở nội thành 19163 người/km2, riêng quận Hoàn Kiếm là 37265 người/km2, ở ngoại thành 1721 người/km2) Mật độ này cao gấp gần
12 lần so với mức trung bình của cả nước, gần gấp đôi mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng và là thành phố có mật độ cao nhất cả nước Điều kiện dân cư ở Hà Nội ngoài số lượng người tăng trưởng sinh học còn có một phần lớn là tăng trưởng cơ học do có nhiều người ngoại tỉnh đến làm việc và học tập
quận: Hoàn Kiếm , quận Ba Đình, quận Đống Đa, quận Hai Bà Trưng, quận Tây Hồ, quận Thanh Xuân, quận Cầu Giấy, quận Long Biên và quận Hoàng Mai 5 huyện ngoại thành của Hà Nội bao gồm: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm và Sóc Sơn Theo Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô
Hà Nội và một số tỉnh có liên quan, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2008, không gian mở rộng của Thành phố Hà Nội mới sẽ bao gồm
Hà Nội hiện nay, hơn 219.000ha diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình và Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình) Cụ thể
Hà Nội bao gồm các quận: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống
Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Thạch Thất, Quốc Oai, Phú Xuyên, Thường Tín, Chương Mỹ, Mỹ Đức, Ứng Hoà, Thanh Oai, Mê Linh và thành phố Hà Đông, thành phố Sơn Tây
Diện tích tự nhiên của Hà Nội là: 92.180,46 ha