Tây Bắc là một vùng đồng bào dân tộc miền núi còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế - xã hội nhưng mặt khác lại là vùng rừng núi chứa đựng một kho báu tài nguyên du lịch văn hóa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, bất cứ quốc gia nào muốn phát triển và phát triển
vững chắc đều phải xác định, ngoài yếu tố vật chất, phải đi tìm những mục tiêu
và động lực từ những yếu tố tinh thần, yếu tố văn hóa Ngược lại, chiến lược
phát triển văn hóa cũng không thể tách rời chiến lược phát triển con người và
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Chúng ta đang ở ngưỡng cửa của thế kỷ 21, thế kỷ của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa Tuy nhiên,
trong điều kiện xuất phát điểm còn thấp của chúng ta hiện nay, việc hội nhập, đổi
mới như thế nào để không bị đánh mất mình trước sự bùng nổ của thời đại thông
tin và giao thoa văn hóa toàn cầu hiện nay là một dấu hỏi lớn Thực tiễn đã
chứng minh có nhiều quốc gia giải quyết tốt mối quan hệ giữa văn hóa và phát
triển, giữa hiện đại và truyền thống Nhưng cũng có rất nhiều bài học đau lòng
của những quốc gia phải trả giá cho sự ngộ nhận phát triển là tất cả, bằng mọi
giá, là xem nhẹ, bỏ qua các giá trị truyền thống, đánh mất bản sắc văn hóa dân
tộc của mình
Việt Nam là một quốc gia tương đối đa dạng, đặc sắc về tài nguyên văn hóa
Vì lẽ đó, xu hướng phát triển du lịch văn hóa là một trong những hướng đi khả
thi và hứa hẹn cho du lịch Việt Nam Trong đó một phần quan trọng là tập trung
khai thác các giá trị văn hóa độc đáo mang tính bản địa ở các vùng văn hóa dân
tộc thiểu số
Đảng và Nhà nước ta đã xác định: "Quan tâm phát triển kinh tế - xã hội gắn
với tăng cường quốc phòng - an ninh ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân
Trang 3tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, chú trọng các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây
Nam" [9, tr.94]
Tây Bắc là một vùng đồng bào dân tộc miền núi còn gặp nhiều khó khăn
trong đời sống kinh tế - xã hội nhưng mặt khác lại là vùng rừng núi chứa đựng
một kho báu tài nguyên du lịch văn hóa cũng như tự nhiên
Trong những năm gần đây, hoạt động du lịch văn hóa ở Tây Bắc đã tương
đối phát triển ở một số địa phương các tỉnh trong vùng như Lào Cai, Điện Biên,
Hòa Bình và gần đây là Yên Bái Nhưng sự phát triển này còn mang tính nhỏ lẻ ,
thiếu đồng bộ và định hướng, nhất là việc cân đối giữa khai thác và bảo tồn, giữa
lợi ích kinh tế và lợi ích văn hóa Định hướng phát triển du lịch văn hóa ở các
vùng dân tộc thiểu số nói chung và vùng Tây Bắc nói riêng là một định hướng
mang tính chiến lược của Tổng cục Du lịch và Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch hiện
nay nằm trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển
kinh tế - xã hội miền núi, đề cao vai trò của văn hóa các dân tộc trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Vì lẽ đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài "Nghiên cứu phát triển du lịch văn
hóa tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc" nhằm bước đầu tìm ra những lợi thế
về tài nguyên văn hóa du lịch của các dân tộc miền núi Tây Bắc, đồng thời đưa
ra những đề xuất, kiến nghị về việc phát triển và phát triển bền vững du lịch văn
hóa ở tiểu vùng du lịch này
2 Mục đích nghiên cứu
Hiện nay, hệ thống tư liệu nghiên cứu về lĩnh vực du lịch ở nước ta cũng
tương đối nhiều nhưng công trình nghiên cứu về du lịch văn hóa thì hầu như
chưa có, chỉ là các bài báo rải rác trên các tờ tạp chí, trên internet Vấn đề quy
hoạch du lịch cũng đã được triển khai đến từng tỉnh Tuy nhiên các chiến lược
phát triển cụ thể mang tính liên vùng thì còn khá ít Vì vậy, công trình nghiên
Trang 4cứu này nhằm mục đích đưa ra được những thông tin và kiến thức cần thiết về
phát triển một loại hình du lịch đặc trưng và phù hợp cho một tiểu vùng du lịch,
cụ thể là tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình du lịch văn hóa tại 6
tỉnh tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc là Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai
Châu, Lào Cai, Yên Bái theo phân vùng của môn địa lý du lịch
Bên cạnh đó có mở rộng phạm vi nghiên cứu và so sánh, liên hệ tại một số
vùng có cùng khu vực văn hóa thuộc địa phận một số huyện phía Tây Bắc, giáp
với Sơn La và Yên Bái của tỉnh Phú Thọ như Thanh Sơn, Hạ Hòa
Thời gian: nghiên cứu thực tế hoạt động du lịch chủ yếu trong năm 2006 và
nửa đầu năm 2007
Nội dung: Những nghiên cứu và đề xuất, khuyến nghị đưa ra trong luận văn
nhằm áp dụng cho phát triển du lịch văn hóa tại tiểu vùng Tây Bắc nói riêng,
nhưng cũng có những đề xuất có thể áp dụng cho các vùng dân tộc thiểu số ở
Việt Nam nói chung
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp
chủ yếu sau:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích, giám định tư liệu để xá định tính
chính xác và độ tin cậy của tư liệu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa để đánh giá tiềm năng và thực
trạng du lịch văn hóa tiểu vùng đồng thời nhằm phát hiện những hướng gợi mở
xuất phát từ tình hình thực tiễn làm cơ sở cho các đề xuất trong đề tài
- Phương pháp so sánh, đối chiếu các dữ liệu
Trang 5- Phương pháp hệ thống
5 Đóng góp của luận văn
- Dựa trên những nghiên cứu từ một địa bàn cụ thể, luận văn hy vọng góp
phần đề xuất được những giải pháp phát triển du lịch văn hóa có hiệu quả và bền
vững cho vùng Tây Bắc nước ta - nơi còn lưu giữ được một trữ lượng đáng kể
những giá trị văn hóa bản địa đặc sắc nhưng đang bị khai thác một cách tự phát,
chưa có định hướng chặt chẽ - cũng là những nơi không thể nằm ngoài và cưỡng
lại được dòng chảy mạnh mẽ của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa
- Đánh giá một cách tương đối đầy đủ và có hệ thống nguồn tài nguyên du
lịch văn hóa trong tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc Việt Nam cũng như thực
trạng của hoạt động khai thác du lịch văn hóa tiểu vùng
- Bước đầu nêu lên ý tưởng xây dựng hình ảnh du lịch văn hóa cho tiểu
vùng du lịch miền núi Tây Bắc – điều mà lâu nay những người làm du lịch đã
nhận thức được yêu cầu cấp thiết cũng như điều kiện dồi dào của Tây Bắc để có
thể thực hiện nhưng chưa làm được
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch văn hóa cho tiểu vùng du lịch
miền núi Tây Bắc
Trang 6Theo phân định địa lý, Tây Bắc là khu vực bao gồm lãnh thổ của các tỉnh
Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai [33, tr.22] Về lãnh thổ văn hóa
thì còn bao gồm tỉnh Yên Bái và một phần của tỉnh Phú Thọ
Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc chỉ bao gồm 3 tỉnh là Lai Châu, Điện
Biên, Sơn La, có khi thêm tỉnh thứ tư là Hòa Bình Mặc dù một số phần của Lào
Cai, Yên Bái và Phú Thọ nằm ở hữu ngạn sông Hồng, do dòng sông chạy qua
giữa địa phận các tỉnh này, song phạm vi hành chính của vùng Tây Bắc không
bao gồm các phần đó
Theo phân môn Địa lý du lịch, tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc bao gồm
6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái
Như vậy, Tây Bắc thực ra là tên gọi theo phương vị, lấy thủ đô Hà Nội làm
điểm chuẩn Về căn bản, theo cách phân định nào thì về điều kiện địa lý tự
nhiên, khu vực này cũng mang những đặc điểm cơ bản như sau:
Biên giới của vùng phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây và Nam giáp Lào,
phía Đông và Nam giáp Thanh Hóa, Phú Thọ, Tây Bắc là một miền núi cao hiểm
trở, địa hình chia cắt bởi các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
Trong đó, dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180km, rộng 30km, cao từ 1500m trở
lên, là đoạn tận cùng phía Đông Nam của dãy núi Himalaya Đỉnh cao nhất là
Phan-xi-păng 3.143m (có tài liệu nói là 3.142m) được người Thái gọi là Khau
Trang 7Phạ tức "sừng trời", chính là bức tường thành phía Đông của vùng Tây Bắc; một
số đỉnh cao khác như Tả Giàng Phình 3.090m; Pu Sa Leng 3.096m; Pú Luông
2.983m Núi cao tạo nên những con đèo dài cả mấy chục cây số như Pha Đin,
Lũng Lô, hay Ô Qui Hồ, Hoàng Liên Sơn, Mộc Châu,
Do vậy, khí hậu Tây Bắc nói chung đa dạng, bao gồm nhiều vùng tiểu khí
hậu Dẫu rằng cũng nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, nhưng do độ cao nên
khí hậu ngả sang á nhiệt đới và nhiều nơi cao như Sìn Hồ có cả khí hậu ôn đới
Mặt khác, địa hình lại chia cắt bởi các dãy núi, dòng sông, khe suối tạo nên
những thung lũng, có nơi lớn thành lòng chảo như vùng Nghĩa Lộ, Điện Biên
Trong lúc ở thung lũng Mường La, người ta mặc áo ngắn tay giữa mùa đông thì
ở Mộc Châu phải mặc áo bông trong mùa hè
Hệ thống sông, suối của Tây Bắc khá dày đặc với các con sông lớn là sông
Đà và sông Hồng và phần thượng nguồn của dòng sông Mã, các dòng chảy có độ
chênh lớn, hàng năm đưa nguồn phù sa vô tận về bồi đắp cho miền xuôi
Đất Tây Bắc vì thế được đồng bào gọi là đất "ba con sông", tạo nên ba dải
"nước màu: trắng, xanh, đỏ" Dòng sông Mã chảy từ Điện Biên xuống đến phía
Tây tỉnh Sơn La thì quặt sang đất Lào và trở về miền Tây Thanh Hóa xuôi về
biển Bởi vì sông Mã lắm thác, lắm ghềnh nên nhiều sóng bạc đầu Lại còn có
truyền thuyết dòng sông là nữ thần canh giữ mở bạc mà xưa kia người Thái - La
ha thường khai thác Dòng sông thứ hai là Nặm Tè (sông Đà) chảy giữa các triền
núi đá granít, sâu thẳm xanh đen một màu Trên đường đi, dòng Nặm Tè hợp lưu
nhiều suối nhỏ và cả một dòng sông Nặm Na ngay ở Lai Châu Còn dòng thứ ba
là Nặm Tao mang nặng phù sa thì chính người Kinh cũng gọi là sông Hồng
(sông đỏ)
Vì vậy, thiên nhiên Tây Bắc rất đa dạng, thổ nhưỡng nhiều loại hình Phần
lớn đất đai Tây Bắc có độ dốc cao Đất có độ dốc thoải tập trung vào một số cao
Trang 8nguyên lớn: Tả Phình, Sìn Hồ, Sơn La (Nà Sản, Mộc Châu) và 4 vùng lòng chảo
nổi tiếng: Mường Thanh, Mường Lò, Mường Than, Mường Tấc Độ màu mỡ của
đất đai tương đối cao Lượng mưa lớn (trên dưới 2.000mm/năm) đã tạo ra thảm
rừng quanh năm xanh tốt với nhiều loại cây rừng, chim, thú quý Dân gian có
câu "rừng vàng" có lẽ rất đúng với núi rừng Tây Bắc Đó là nơi cư trú của rất vô
số loài thú trong đó có nhiều loài quý hiếm (những khảo sát gần đây cho thấy ở
hệ núi Hoàng Liên có đến 16 loài thú được ghi trong sách đỏ thế giới có nguy cơ
tuyệt chủng cần được bảo vệ)
Giữa cảnh núi rừng thỉnh thoảng bắt gặp những đồng lúa rộng lớn như
Mường Thanh, Quang Huy hay những đồi chè bạt ngàn ở Nghĩa Lộ, Yên Bái,
những đồng cỏ trù phú cho chăn nuôi bò sữa ở Mộc Châu, Và đặc biệt, gần đây,
du khách tới Tây Bắc không thể quên được ấn tượng khi chiêm ngưỡng những
vạt núi, triền núi cao chọc trời hai bên đường quốc lộ trải kín một màu xanh biếc
của những thảm ngô Những ấn tượng này đã được lưu lại trong một kiệt tác
nhiếp ảnh mang tên "Ngô leo núi"
Nhà địa lý Lê Bá Thảo đã có một nhận xét có lẽ khá chính xác: "Chưa ai nói
rằng chúng ta đã phát hiện ra tất cả sự giàu có của thiên nhiên Tây Bắc Ngay cả
vẻ đẹp của vùng lãnh thổ này cũng khó nhận thức hết "
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Tây Bắc có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng vì có đường biên giới
chung với Trung Quốc và Lào dài trên 800km Đây là vùng đầu nguồn xung yếu
của sông Đà, nơi có các nhà máy thủy điện lớn của cả nước, mái nhà xanh của
đồng bằng Bắc Bộ Dải biên giới có các cửa khẩu lớn, là các cửa khẩu ra vào
quan trọng để giao lưu hàng hóa, phát triển kinh tế hiện tại cũng như tương lai
trong những năm tới
Trang 9Tây Bắc là một trong những khu vực cư trú của nhiều tộc người Tại vùng
Tây Bắc từ thời Pháp thuộc đã lập ra xứ Thái tự trị Sau chiến thắng Điện Biên,
năm 1955, Chính phủ Việt Minh đã thành lập khu tự trị Thái - Mèo, bao gồm 3
tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ Tên gọi này không phản ánh được sự đa
dạng của cộng đồng khoảng hai chục dân tộc sinh sống tại đây và bị giải tán năm
1958 Năm 1962 gọi là khu tự trị Tây Bắc Khu tự trị này cũng giải thể năm
1975
Chỉ kể những dân tộc tương đối đông dân đã có Thái (với các ngành Đen,
Trắng) H'Mông với các ngành Trắng, Xanh, Đen, Hoa Dao (với các ngành
Quần chẹt, Nga Hoàng, Dao đỏ, Dao đen), Mường, Khơ mú, La ha, Xinh mun,
Tày, Ngoài ra còn có một bộ phận người Kinh vốn là con cháu nghĩa binh
Hoàng Công Chất đã sống lâu đời ở đây và một bộ phận người Hoa, vốn là dòng
dõi quân Lưu Vĩnh Phúc Mỗi dân tộc đều mang bản sắc văn hóa riêng Theo
dòng lịch sử, các cơ tầng văn hóa của một quần thể dân tộc đa dạng như thế đã
hợp thành những nét đẹp văn hóa vô cùng độc đáo cho miền đất này
Dân số vùng tương đối thấp, năm 1978 mới có 59 người/km2 Với tỷ lệ tăng
3,5%/năm cộng với việc di dân, năm 1990 cũng chỉ có 120 người/km2
(Nguồn:
Viện Chiến lược phát triển) [35]
Cư dân cổ truyền, những chủ nhân từ xa xưa của Tây Bắc đều làm nông
nghiệp với hai loại hình: ruộng nước ở thung lũng và nương rẫy ở sườn núi
Người Thái có câu ngạn ngữ: Xá ăn theo lửa, Thái ăn theo nước, H'Mông ăn theo
sương mù
Trong những năm gần đây, đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của vùng
đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã có những bước tiến đáng kể Mức sống của
nhân dân được tăng lên Sự đầu tư của Nhà nước vào các công trình kinh tế trọng
điểm vùng Tây Bắc được chú trọng như xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình
Trang 10và tới đây là công trình thủy điện Mường La - Sơn La, phát triển các hệ thống
đường giao thông nối liền các tỉnh và Hà Nội, phát triển các trung tâm đô thị như
thị xã Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, thành phố Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái Các
trung tâm huyện của các tỉnh Tây Bắc cũng được đầu tư xây dựng khang trang
hơn trước Hệ thống giao thông, bưu điện, trường học, bệnh viện được mở rộng
Trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc được nâng lên Nhân dân đã quan
tâm hơn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng tới thị trường và sản xuất hàng
hóa, quan tâm tới đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Tiềm năng
du lịch nhân văn phong phú, đa dạng cũng là nguồn lực quan trọng cho phát triển
kinh tế
Nhân dân các dân tộc Tây Bắc luôn có truyền thống đoàn kết trong dựng
nước và giữ nước, trong sản xuất thì cần cù, chịu khó Với nguồn lao động tại
chỗ tương đối dồi dào (khoảng 968.000 người), tuy số người được đào tạo nghề
nghiệp còn quá ít (khoảng 1,7% dân số) nhưng là nguồn nhân lực quan trọng để
phát triển kinh tế - xã hội Đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc trong thời gian
qua đã góp phần quan trọng vào quá trình ổn định tình hình chính trị - xã hội, an
ninh - quốc phòng và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển đúng hướng
Tuy nhiên, vùng Tây Bắc hiện đang đứng trước những khó khăn to lớn
trong quá trình phát triển cần phải giải quyết Đó là tình trạng phát triển không
đồng đều giữa các dân tộc, điều kiện địa lý phức tạp, giao thông khó khăn, dân
cư phân tán, trình độ dân trí trình độ sản xuất thấp, nguồn nhân lực thiếu và yếu,
sức hấp dẫn thu hút đầu tư trong nước và quốc tế hạn chế, Kinh tế Tây Bắc vẫn
phát triển chậm so với nhiều vùng trong cả nước Thu không đủ chi, tỉnh thu
ngân sách cao nhất như Hòa Bình cũng chỉ mới đảm bảo được 49% của chi, còn
tỉnh thu thấp như Lai Châu chỉ đảm bảo được 15% của chi thường xuyên, số
Trang 11ngân sách thiếu hụt phải trông chờ Trung ương viện trợ (Nguồn: Viện Chiến
lược phát triển) [35]
Cơ cấu kinh tế chuyển đổi chậm Phương thức canh tác nương rẫy còn tồn
tại trong một số dân tộc nên năng suất nông nghiệp còn thấp Phân công lao động
chưa có chuyển biến tích cực, lao động nông lâm nghiệp còn chiếm tới 85,4%,
9,3% lao động chưa bố trí được việc làm Ở một số vùng nông thôn rộng lớn các
ngành thương mại dịch vụ chưa hề phát triển Những nơi có cửa khẩu, việc lợi
dụng phát huy còn yếu Các ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm hoạt động
yếu Du lịch tuy có tiềm năng nhưng chưa được phát huy Công tác giáo dục, y
tế, văn hóa, xã hội còn nhiều yếu kém
Đời sống nhân dân vùng sâu, xa, biên giới còn nhiều khó khăn, phân hóa
giàu nghèo rõ rệt Số hộ đói nghèo còn nhiều, số người mù chữ toàn vùng chiếm
trên 50% dân số, các vùng cao, xa chiếm trên 80%, tệ nạn nghiện hút, cờ bạc, mê
tín còn nhiều Trình độ dân trí nhìn chung còn rất thấp và không đồng đều giữa
các dân tộc và giữa các tiểu vùng
Kết cấu hạ tầng hết sức yếu kém Giao thông khó khăn, thủy lợi và cấp
nước còn yếu Phần lớn khu vực nông thôn chưa có điện, thông tin liên lạc chưa
phát triển Cơ sở giáo dục, y tế còn thiếu, đơn sơ và lạc hậu Hệ thống đô thị hạt
nhân phát triển chậm, nhiều nơi còn trống vắng
Đó là những khó khăn trở ngại tương đối lớn cho quá trình phát triển đòi
hỏi cần có những định hướng phù hợp trong cơ cấu kinh tế và xã hội
Như vậy, những điều kiện để khôi phục, bảo vệ và phát huy các giá trị văn
hóa dân tộc phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng gặp nhiều khó
khăn Để phát huy các giá trị văn hóa bản địa và sử dụng như một động lực để
phát triển ở khu vực đang là một vấn đề gặp nhiều thử thách
Trang 121.2 Các tộc người Tây Bắc
1.2.1 Tộc người Thái
Lịch sử dân tộc
Người Thái còn được gọi là người Táy, Táy Khao (Thái Trắng), Táy Đăm
(Thái Đen), Táy Mười, Táy Thanh (Man Thanh), Hàng Tổng (Tày Mường), Pu
Thay, Thổ Đà Bắc Dân tộc Thái thuộc nhóm các dân tộc nói tiếng Tày - Thái
Họ đã có mặt ở miền Tây Bắc Việt Nam trên 1200 năm, là con cháu người Thái
di cư từ vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Người Thái tự gọi mình là
"cốn Táy" tức là người Thái Ở nước ta họ sống tập trung nhất là ở Tây Bắc và
cũng là dân tộc chiếm đa số ở vùng này Có truyền thuyết nói rõ tổ tiên người
Thái ra đời từ đất Mường Thanh (Điện Biên) trước kia gọi là Mường Then và
Mường Bỏ Té (Quả bầu thần) [4, tr.42]
Trong dân gian Thái Tây Bắc truyền miệng rộng rãi truyền thuyết về "Ải lậc
cậc" - thủy tổ sáng lập bốn cánh đồng lòng chảo lớn ở Tây Bắc: Mường Thanh,
Mường Lò, Mường Than, Mường Tấc, chứng tỏ người Thái là cư dân góp công
sức lớn khai phá miền Tây Bắc từ buổi đầu Người Thái nói riêng và các dân tộc
nói tiếng Tày - Thái nói chung không chỉ cư trú trên nước ta mà còn cư trú đông
đúc ở nhiều nước láng giềng khác như Lào, Thái Lan, Nam Trung Hoa Họ góp
phần công sức đáng kể vào sự hình thành khu vực văn hóa dân tộc Đông Nam Á
với những thành tựu tiêu biểu: Trồng lúa nước, Làm nhà sàn, Đúc trống đồng,
Ở Tây Bắc, người Thái thường được chia thành 2 ngành: Thái Đen và Thái
Trắng [5, tr.25], nhưng họ đều có một ý thức cộng đồng tộc người ổn định, bền
vững, cùng có những đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội của người Thái ở vùng
Tây Bắc Việt Nam Về căn bản, cốt lõi nền folklore Thái Tây Bắc vẫn mang màu
sắc đặc trưng của người Thái vùng này
Trang 13Tổ chức xã hội
Trong xã hội Thái trước kia, đơn vị xã hội cổ truyền là bản Trong mỗi bản
tồn tại nhiều mối quan hệ: giữa bản với mường (về mặt tổ chức bản là đơn vị xã
hội thấp nhất, chịu mọi sự tác động, chi phối của mường); mối quan hệ gia đình;
mối quan hệ xóm giềng trên cơ sở cùng cư trú trong cùng một khu vực Vì vậy,
trong một bản Thái thường có nhiều dòng họ cùng chung sống xen kẽ Đây là
đặc trưng cơ bản của công xã nông thôn Thái [37, tr.25]
Tinh thần cộng đồng trong xã hội Thái khá bền vững Các thành viên cùng
tuân thủ một cách tự giác và nghiêm ngặt những luật lệ, phong tục chung của bản
mường, cùng chung một hệ thống lễ nghi trong tín ngưỡng, cùng chung một hệ
thống sinh hoạt văn hóa tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng mang phong cách riêng
của dân tộc
Như vậy, bản người Thái là một đơn vị tổ chức xã hội, văn hóa tương đối
chỉnh thể, đã phản ánh khá tập trung, rõ nét những đặc trưng chung của văn hóa,
xã hội tộc người Thái
1.2.2 Tộc người H’Mông
Lịch sử dân tộc
Người H'Mông hay còn gọi là người Mèo (Mông) thuộc nhóm tộc người
nói tiếng Mèo - Dao Người Mèo ở Tây Bắc hiện nay đều cho rằng tổ tiên họ xưa
kia vẫn cư trú ở Trung Quốc Nguồn gốc xưa hơn nữa của họ thì hiện còn có
nhiều ý kiến khác nhau Ngôn ngữ Mèo - Dao là một trong những ngôn ngữ
thuộc hệ Nam Á
Người Mông (Mèo) ở nước ta khoảng 60 vạn (2000), đứng hàng thứ tám
sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái, Hoa, Khơ me, Mường, Nùng, chiếm tỷ lệ gần
1% dân số cả nước [24, tr.72] Dân tộc Mông sống rải rác ở các tỉnh dọc biên
Trang 14giới Việt Trung và Việt Lào, tập trung nhất là ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai
Châu, Sơn La Người Mông được coi là một trong những tộc người có công đầu
khai phá vùng cao miền Tây của Việt Nam Những tên đất tên làng chứng minh
điều đó là Lao Chải (bản cũ), Mù Cang Chải (bản cây khô), Tả Phình (đất
rộng)
Tổ chức xã hội
Xã hội người Mông được tổ chức theo đơn vị làng bản Làng Mông gồm 3
thành tố cơ bản hòa quyện, chi phối lẫn nhau Đó là gia đình, dòng họ và thành
phần tộc người Dòng họ là đơn vị cố kết cộng đồng huyết thống theo hệ cha và
chi phối cộng đồng làng, đóng vai trò quan trọng vừa tăng cường sự cố kết trúc
của làng nhưng vừa có hướng ngoại, cố kết với các thành viên, dòng họ ở làng
khác để thắt chặt quan hệ đồng tộc, tạo thành sự cố kết dân tộc bền chặt để bảo
tồn dân tộc
Đặc điểm nổi bật của người Mông là cư trú độc lập trong từng làng, ít sống
xen kẽ với các dân tộc khác
1.2.3 Tộc người Mường
Lịch sử dân tộc
Người Mường cư trú lâu đời ở Hòa Bình Họ sống tập trung trong các thung
lũng có nhiều đồng ruộng Dân tộc Mường là dân tộc có số dân đông nhất trong
cộng đồng các dân tộc ở Hòa Bình Họ cũng có một nền văn hóa và một đời sống
văn hóa phong phú, đa dạng nhất ở đây Văn hóa Mường Hòa Bình là vùng văn
hóa Mường lớn nhất và đặc trưng nhất ở Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu sử học, dân tộc học thì người Mường có cùng một
gốc với người Việt Không chỉ gần gũi về chủng tộc tiếng nói, và về địa lý, mà
còn tương đồng về nhiều yếu tố và trình độ văn hóa, tổ chức xã hội cơ sở truyền
Trang 15thống, chế độ tự trị và tư tưởng cục bộ trong các đơn vị làng - xã hay mường -
chiềng, văn hóa vật chất, ngôn ngữ, chữ viết, từ vựng, văn học dân gian Như
vậy, về phương diện lịch sử cũng như văn hóa dân tộc, người Mường - Hòa Bình
có thể nói là một tộc người gần gũi hay nói cách khác là anh em ruột với người
Kinh (Việt) Đó cũng là điểm thuận lợi cho việc tìm hiểu, khai thác các giá trị
văn hóa của cộng đồng tộc người này
Tổ chức xã hội
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, xã hội người Mường nằm trong khuôn
khổ một xã hội có đẳng cấp, con người được chính danh định phận chặt chẽ
Thiết chế xã hội trong xã hội cổ truyền người Mường là xóm và mường với bộ
máy quản lý, điều hành theo luật tục Làng là đơn vị cơ sở của xã hội Mường
thường quần tụ nhiều dòng họ và gồm nhiều tiểu gia đình phụ quyền Việc quản
lý trong làng xưa là tạo (cách gọi ở Hòa Bình), thổ lang hay lang Mường là đơn
vị tổ chức xã hội, tập hợp nhiều làng trong cùng một thung lũng hay nhiều thung
lũng liền kề nhau, đặt dưới sự cai quản của một dòng họ quý tộc gọi là "nhà
lang" Trước Cách mạng Tháng tám 1945, chế độ này nổi bật nhất trong xã hội
vùng Mường
Sau Cách mạng, xã hội được tổ chức theo cơ cấu làng, xã, huyện, tỉnh, được
quản lý bởi hệ thống hành chính thống nhất trong toàn quốc Tuy nhiên, vai trò
của tập quán pháp vẫn còn những tác động ít nhiều trong xã hội Mường hiện
nay
1.2.5 Các tộc người khác
Ngoài các tộc người chính như Thái, Mông, Mường, Tây Bắc còn là vùng
sinh sống của một cộng đồng khoảng 20 dân tộc cùng dệt nên tấm vải nhiều màu
Trang 16sắc nhưng đẹp và ấn tượng của miền Tây Bắc xa thẳm của tổ quốc Trong đó có
một vài tộc người cũng khá nổi bật về một số giá trị văn hóa truyền thống
Dân tộc Dao
"Dao là tên tự gọi, theo phát âm đúng của đồng bào thì gọi là Dìu, Yù, Ìn,
Bieò đọc theo âm Hán Việt là Dao Tên gọi này đã từ lâu gắn liền với quá trình
hình thành người Dao ở Tây Bắc [4,16] Nhiều tộc người như Kinh, Thái,
Mường, còn gọi người Dao là người Mán Tuy nhiên, tên gọi Dao là chính thức
được Hội nghị dân tộc Dao miền Bắc năm 1971 nhất trí chọn
Người Dao ở Tây Bắc hiện có 5 ngành: Dao bằng đầu, Dao Thanh Y, Dao
Tiền, Dao Lô Giang và Dao Quần chẹt Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề
nguồn gốc của người Dao Tây Bắc Ngôn ngữ tộc người Dao thuộc nhóm Mông
- Dao Chữ viết là chữ Hán được Dao hóa (chữ Nôm Dao) Người Dao thờ tổ
tiên là Bàn Hồ Tục lệ ma chay duy trì từ xa xưa, một số nơi có tục hỏa táng cho
người chết từ 12 tuổi trở lên Về hôn nhân, họ có tục ở rể có thời hạn và vĩnh
viễn Người Dao Tây Bắc vốn rất nổi tiếng với vốn kiến thức phong phú về y
học dân tộc độc đáo, với những "bài thuốc người Dao" (thuốc bà Mán) từ nguồn
cây thuốc cổ truyền, những kinh nghiệm về chăm sóc sức khỏe con người quý
báu Đây có thể coi là một nguồn tài nguyên du lịch rất có tiềm năng cả về giá trị
văn hóa và giá trị khoa học
Dân tộc Khơ mú
Tộc người này có một số tên gọi khác như: Xá Cẩu, Mứn Xen, Pu Thênh,
Tềnh, Tày Hạy Dân số khoảng hơn 56 nghìn người (1999) Địa bàn cư trú chủ
yếu: Lai Châu, Sơn La, Yên Bái và một bộ phận ở Thanh Hóa, Nghệ An Đây
cũng là một dân tộc có vốn truyền thống văn hóa lâu đời Ngôn ngữ dân tộc
thuộc nhóm Môn - Khơ me Người Khơ mú thờ tổ tiên và các nghi lễ liên quan
Trang 17đến lao động sản xuất như Hội mùa Hôn nhân tự do, ở rể một năm, người cùng
dòng họ không được lấy nhau Nhà ở sơ sài, sống du canh du cư Trang phục
giống người Thái về cơ bản nhưng trang sức thì có nét riêng
Dân tộc Kháng
Tên gọi khác: Xá Khao, Xá Xúa, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá Ái, Xá Bung,
Quảng Lâm Dân số khoảng trên 10 nghìn người (1999) Địa bàn cư trú tại Sơn
La, Lai Châu Ngôn ngữ cũng thuộc nhóm Môn - Khơ me Trang phục giống
người Thái Phụ nữ nhuộm răng, ăn trầu Người Kháng thường ở nhà sàn, có 3
gian, hai chái Mỗi nhà có 2 bếp lửa Một để nấu ăn hàng ngày, một để sưởi và
nấu đồ cúng khi bố mẹ chết Họ có lễ hội Xên Păng Ả nổi tiếng Tục lệ cưới xin
phải trải qua quy trình như sau: dạm hỏi, xin ở rể, cưới Lễ cưới lần đầu cho
chàng trai đi ở rể, lễ cưới lần thứ hai là đưa cô dâu về nhà chồng
Dân tộc Hà Nhì
Tên gọi khác của tộc người: U Ní, Xá U Ní Dân số khoảng trên 17 nghìn
người (1999) Địa bàn cư trú ở Lai Châu, Lào Cai Ngôn ngữ thuộc nhóm Tạng
Văn hóa khá đặc sắc, có nhiều truyện cổ, truyện thơ dài Nam nữ có điệu múa
riêng Trai gái tỏ tình dùng khèn lá, đàn môi, sáo dọc Con trai gảy đàn La khư,
con gái thổi Am ba, Mét đu, Tuy húy Có nhiều bài hát ru, hát đối, hát đám cưới,
đám ma Phong tục tập quán của người Hà Nhì là thờ tổ tiên, sống định cư, có
nhiều dòng họ Hôn nhân tự do nhưng phải qua hai lần cưới Khi có tang ma phải
dỡ bỏ tấm liếp của buồng người chết, phá bàn thờ tổ tiên làm giường đặt tử thi ở
bếp, chọn ngày giờ tốt đem chôn
Dân tộc Xinh mun
Tên gọi khác: Puộc, Pụa Dân số khoảng 18 nghìn người (1999) Địa bàn cư
trú tại vùng biên giới Việt - Lào thuộc Sơn La, Lai Châu
Trang 18Ngôn ngữ tộc người thuộc nhóm Môn - Khơ me Về văn hóa có nhiều nghi
lễ và kiêng cữ, có tập tục thờ cúng tổ tiên, có lễ cúng mường hàng năm, có lễ hội
Mương A Ma nổi tiếng Trang phục như người Thái, Lào Tập quán ăn trầu,
nhuộm răng đen, uống rượu cần Phong tục tập quán của họ tương đối đặc sắc
Hôn nhân thì nhà trai phải lo Sau lễ dạm, lễ hỏi là đến lễ đi ở rể Khi đã sinh vài
ba con thì nhà trai mới tổ chức đón dâu Con theo họ cha Họ không có tục cải
táng hay tảo mộ
Ngoài ra, còn hơn mười dân tộc nữa cùng sinh sống và tạo nên một nền văn
hóa Tây Bắc rực rỡ sắc màu với những truyền thống văn hóa tộc người rất riêng
và đầy lý thú
1.3 Các giá trị văn hóa - lịch sử vùng Tây Bắc
1.3.1 Đặc điểm chung
Tây Bắc là vùng đất có bề dày văn hóa lịch sử và có nhiều dân tộc thiểu số
sinh sống, là nơi ghi dấu quá trình dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc
Cùng với hệ thống cảnh quan hùng vĩ, ngoạn mục riêng có, Tây Bắc thực sự hội
tụ đủ tiềm năng to lớn cho phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa - lịch sử
Là vùng cửa ngõ về hướng Tây và Bắc của tổ quốc, vùng đất sớm chứng
kiến và tiếp nhận quá trình di cư của nhiều tộc người từ buổi đầu dựng nước, Tây
Bắc là một khu vực có nền văn hóa tương đối lâu đời với những giá trị văn hóa
lịch sử đặc sắc và một hệ thống di sản văn hóa tiêu biểu
Nhân dân các tộc người Tây Bắc đã sát cánh cùng nhau và cùng với cả nước
chống lại nhiều thế lực ngoại xâm Sự nghiệp đoàn kết đó vượt qua nhiều thời kỳ
lịch sử đã trở thành truyền thống tốt đẹp của các dân tộc nơi đây Từ đội quân Áo
đỏ của Tây Bắc thời Minh xâm lược đến nghĩa quân nông dân Hoàng Công Chất
thế kỷ XVIII và Lưu Vĩnh Phúc với nghĩa quân Cờ đen thế kỷ XIX chống giặc
Trang 19Cờ Vàng (Hán) ở Mường Lò và khắp Tây Bắc Khi thực dân Pháp xâm lược
nước ta, đồng bào các tộc người Tây Bắc đã hưởng ứng chiếu Cần Vương rồi
cuộc khởi nghĩa chống Pháp giết phìa mường, vây đồn Vạn Yên, phá nhà tù Sơn
La, nổi dậy ở nhà tù Sơn La.v.v
Từ khi Đảng Lao động Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng Tây Bắc đã
phát triển lên một bước mới Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân Tây Bắc
đã có đà và lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1946 -
1954 thành công với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội toàn cầu, Tây Bắc
hoàn toàn được giải phóng Những vần thơ của nhà thơ Tố Hữu đã trở nên bất hủ
trong lòng dân tộc cũng như nhân dân miền Tây Bắc anh hùng:
"Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng"
Về văn hóa, Tây Bắc là một vùng văn hóa có bề dày truyền thống và bản
sắc được cấu thành từ cộng đồng đa tộc người phong phú, đa dạng nhưng rất
thuận hòa Người Thái, người Mông, người Dao, người Mường, là những chủ
nhân ngàn đời của vùng Tây Bắc Mỗi tộc người có nét riêng trong văn hóa và
trong đời sống, nhưng tất cả đều chung một đặc điểm là cần cù, sáng tạo, tình
nghĩa, góp một phần quan trọng vào kho tàng văn hóa phong phú của cả dân tộc
Mặc dù trình độ kinh tế - xã hội chưa đồng đều nhau nhưng với bản sắc
riêng ấy, mỗi dân tộc đều có những cơ hội để giữ gìn, bảo tồn cũng như phát huy
những giá trị tốt đẹp của nền văn hóa truyền thống
Tiếng nói của các dân tộc và chữ viết của một số dân tộc đang song song
tồn tại, giao lưu cùng tiếng Việt (Kinh), chữ Quốc ngữ Nếp sống và phong tục,
tập quán, tín ngưỡng cũng như những thành tố văn hóa: âm nhạc, vũ điệu, kiến
trúc, mỹ thuật, của các tộc người nói chung vẫn giữ được nhiều nét truyền
thống Tất cả được lưu truyền và bảo vệ bởi sự cố kết gia đình, dòng họ, quan hệ
Trang 20cộng đồng với tín ngưỡng, quan niệm, ngôn ngữ và không gian sinh tồn bao đời
nay của họ
Điểm nổi bật nhất trong văn hóa nghệ thuật các dân tộc là tinh thần yêu
nước thương nòi, tinh thần tương thân tương trợ, lòng bao dung trong cuộc sống
Lịch sử cứu nước và dựng nước đã gắn kết các dân tộc thiểu số Tây Bắc với
đồng bào cả nước thành một khối thống nhất trong nhiều thế kỷ nay Chính trong
khối thống nhất đó, tính đa dạng và giàu bản sắc của các nền văn hóa truyền
thống tộc người trở thành nguồn tài nguyên giá trị cho hoạt động du lịch văn hóa
nói riêng và phát triển nền văn hóa Việt Nam nói chung
1.3.2 Các giá trị văn hóa - lịch sử tiêu biểu
1.3.2.1 Các giá trị dân tộc học
Văn hóa sinh hoạt, sản xuất
Ẩm thực
Mỗi dân tộc trên thế giới đều mang một sắc thái văn hóa độc đáo của mình
qua phong tục tập quán, qua trang phục và đặc biệt là qua phong cách cũng như
quan niệm về ăn uống hay văn hóa ẩm thực
Tây Bắc là cái nôi của các dân tộc thiểu số như Thái, Mường, Dao, Mông,
Lô Lô, Hà Nhì, Xinh mun, Một trong những sắc thái văn hóa dân tộc đặc sắc
của họ là những món ăn truyền thống nổi tiếng riêng có ở vùng này và được
thưởng thức trong không gian và không khí cộng đồng như tại các lễ hội, các chợ
phiên và đặc biệt là vào ngày Tết cổ truyền đầu năm mới Người Mông có món
thắng cố, người Thái có các món nướng nổi tiếng như cá, gà, lợn nướng, Người
Mường lại có những món bánh độc đáo, xôi đồ, thịt chua,
Món ăn dân tộc truyền thống Tây Bắc vô cùng phong phú và độc đáo Mỗi
dân tộc có cả kho tàng những kinh nghiệm ăn uống cũng như sở thích và thực
Trang 21đơn riêng Đây thực sự là một nguồn tài nguyên vô tận và không thể thiếu trong
khai thác du lịch văn hóa Tây Bắc
Ẩm thực Thái
Có nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét nền văn hóa Thái là nền "văn hóa
thung lũng" - tiền thân của nền "văn hóa đồng bằng" [36, tr.29] Người Thái có
giống lúa nếp truyền thống thơm, dẻo, hạt to quý đến mức có loại được gọi là
"nếp quên chồng" (khạu lưm phua) Tập quán ăn cơm nếp với các đồ ăn khô như
thịt nướng, đồ vùi tro bếp đã trở thành đặc tính trong văn hóa ăn của người Thái
Người Thái thích món nướng Nướng trực tiếp trên than hồng gọi là chí,
gói thức ăn vào lá vùi tro nướng gọi là pho Bỏ vào ống tre nướng gọi là lam
Món ăn đặc trưng là cơm lam Người Thái có tới hàng chục loại cơm lam
Kỹ thuật nấu cách thủy là đặc trưng trong văn hóa ẩm thực Thái Nếu lam là
nướng thì nửng tức là đồ, là nấu cách thủy Cá là thức ăn hàng ngày quen thuộc
Họ có nhiều cách chế biến món cá như pa cói (gỏi cá), pa pho (ướp, vùi dưới tro
nóng) Đặc biệt, người Thái có món pa píng (cá nướng) rất độc đáo biểu hiện
lòng hiếu khách
Có người cho rằng người Thái cả về ăn, mặc và ở thường ưa cái đậm, cái
mạnh và cái vững Một món ăn toát lên điều đó là món lam nhọ Lam là nướng,
nhọ là nhừ Món này có vị ngọt đậm, rất lạ mà hấp dẫn, mềm nhừ mà vẫn đóng
bánh Đơn giản thì là gà luộc hoặc gà nướng chấm với gia vị là chéo tắp hay
chấm theo cách của người Thái Sơn La là trầm chéo Một món gà khác là cáy mọ
nhắm với rượu rất hợp Trong tiết trời se lạnh của buổi chiều muộn Sơn La, sau
khi trầm mình trong bể nước suối khoáng nóng mà được ngồi trên gian gác nhà
sàn, ngắm nhìn hoàng hôn xuống núi và nhâm nhi những món gà đặc biệt này thì
thật hiếm có thú vui nào bằng
Trang 22Trong các lễ hội hoặc những dịp cúng lễ đặc biệt, người Thái còn có món
canh da trâu (canh bon) với khoảng 30 loại gia vị của núi rừng Tây Bắc cũng để
lại cảm giác khó quên cho nhiều thực khách
Không mâm cao, cỗ đầy, không chú trọng mỹ thuật và bày biện cầu kỳ,
người Thái hầu như chỉ chú ý đến hương vị món ăn một cách giản dị nhưng lại
vô cùng ấn tượng Người Việt có câu "miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời"
quả thực rất chính xác Du khách đã từng đến với Tây Bắc, được thưởng thức
những món ăn từ bình dân đến đặc sản của người Thái có lẽ khó có thể quên
được
Người Thái ở Yên Bái còn có món cốm Mường Lò nức tiếng "chín núi
mười mường", món xôi ngũ sắc và món rượu nếp men lá được làm từ loại nếp
Tú Lệ là niềm tự hào của người Thái ở cánh đồng lớn thứ hai Tây Bắc - Nghĩa
Lộ
Món ăn Thái còn rất nhiều Họ xem ăn uống là dịp để thể hiện phong cách
ứng xử trong sinh hoạt cộng đồng Mỗi vùng, mỗi địa phương lại có những hoán
vị trong thực đơn phong phú khác nhau Chỉ tận chân đi, tận mắt thấy và tận
hưởng những hương vị khó quên ấy mới có thể cảm nhận đầy đủ sắc thái văn hóa
ẩm thực của tộc người đại diện cho miền Tây Bắc tổ quốc này
Ẩm thực Mông
Thắng cố là món ăn đặc trưng truyền thống của người Mông Thịt nấu
“thắng cố” được chế biến từ thịt bò, thịt trâu, thịt ngựa và thịt lợn Các bộ phận
như: lòng, tim, gan, tiết, thịt, xương được cho vào chảo nước đun nhừ, có thể cho
thêm các loại rau Khi ăn, chảo vẫn để trên bếp đun, ăn đến đâu múc ra bát đến
đó Mùi vị món ăn này rất đặc trưng và không phải ai cũng cảm nhận được ngay
vị hấp dẫn của nó Thắng cố thường được ăn với mèn mén (một loại bánh bột
ngô) và uống với rượu ngô Đây là món ăn thường được làm vào các ngày lễ hội,
Trang 23lễ ăn thề bảo vệ rừng, những ngày có đông người như hội làng, dòng họ, hay ở
chợ phiên
Măng chua “chua cau” cũng là một món được nhiều du khách nhớ khi đến
với bản người Mông, có vị chua mát, ngon, kích thích cảm giác ăn được nhiều
Măng để kín trong chum có thể bảo quản được đến một năm
Người Mông cũng rất ưa chuộng các loại thịt sấy gọi là “khăng gai” Các
loại thịt trâu, bò, ngựa, lợn thường được treo lên gác bếp để sấy Các loại thịt khi
treo lên gác bếp sẽ khô dần và để được hàng năm Khi ăn, cọ rửa sạch mùi bồ
hóng và bụi rồi cho vào xào với cà chua, măng Thịt có mùi thơm và bùi Riêng
thịt trâu, bò đã sấy khô cho vào tro bếp để nướng (không có than), sau đó đem ra
đập hết tro và bụi để uống rượu
Ẩm thực Mường
Lợn “cắp nách” là món được rất nhiều người nhắc đến khi đã từng đặt chân
đến xứ Mường Tây Bắc, thậm chí tới những vùng khác như vùng người Mông ở
Sa pa Gọi là lợn “cắp nách" vì chú lợn chỉ nhỏ 4 - 5kg, vừa tầm kẹp vào nách
Lợn Mường mấy năm gần đây đã trở thành món đặc sản được du khách hâm mộ
Bánh khổ là món ăn đặc biệt của người Mường dùng làm lễ vật cho ngày cưới
được làm đơn giản từ xôi giã nhuyễn, đem rán hoặc nướng Phong tục xưa, trong
đồ thách cưới bắt buộc phải có loại bánh này Người Mường còn có món bánh
nẳng độc đáo, phổ biến và dân dã được lưu truyền từ xa xưa Nguyên liệu bánh
từ gạo nếp và nước nẳng được chưng cất từ các loại lá cây, vỏ cây, vỏ quả, phơi
khô, đốt thành than hòa với nước vôi trong Bánh ăn chấm với mật ong, có vị
mát dịu nhẹ cùng với mùi thơm thoảng của các loại lá cây rất hấp dẫn Bánh còn
có tác dụng như một phương thuốc giải say, tiêu cơm rất hiệu quả
Trong bữa cơm thường ngày, du khách ăn cùng gia chủ người Mường sẽ
được thưởng thức món rau đồ (các loại rau dại mọc ven đồi, ven suối được đồ
Trang 24chín trong "nồi đồ" bằng gỗ), được nếm món dưa cải muối khô với gừng, muối
không có nước rất đậm đà và lạ miệng
Trang phục
Nét chung trong văn hóa trang phục của đồng bào các dân tộc Tây Bắc là sở
thích trang trí (trang phục, chăn màn, đồ dùng, ) với các sắc độ của gam màu
nóng: rất nhiều màu đỏ, xen lẫn với vàng tươi, vàng đất, vàng rơm, rồi da cam,
tím và nếu xanh thì phải xanh da trời tươi hoặc xanh lá mạ rực rỡ Giữa mênh
mông núi rừng một màu xanh ngút ngàn của cây lá, những màu sắc rực rỡ, tươi
sáng và nổi bật ấy dường như để tạo những điểm sáng, điểm nhấn khẳng định sự
có mặt của con người
Còn họa tiết, bố cục và phối màu của trang trí thì nhiều và phong phú đến
nỗi chỉ một chiếc khăn piêu Thái, một bộ nữ phục Mường, Lô lô, một mặt chăn
Mường, chiếc màn Kháng cũng đủ tầm cỡ cho một chuyên khảo Những nét
chung của cả vùng không làm mất đi tính riêng của văn hóa dân tộc
Có nhận xét rằng người Tây Bắc ăn mặc cầu kỳ Quả thực chưa bao giờ các
bộ trang phục dân tộc lại được chú ý đến thế Nó đã trở thành mặt hàng có giá trị
vì mỗi bộ trang phục đều giống như một tác phẩm nghệ thuật công phu
Tramg phục Thái
Trang phục Thái có nhiều nhóm địa phương với những phong cách trang
phục khác nhau Về trang phục nam, thường nhật, nam giới người Thái mặc áo
cánh ngắn, xẻ ngực, quần xẻ đũng Áo cổ tròn, không cầu vai, hai túi dưới và
trước cài cúc vải hoặc xương Ngày lễ, họ mặc loại áo dài xẻ nách bên phải, màu
chàm, đầu quấn khăn, chân đi guốc Gần đây, nam giới người Thái mặc âu phục
khá phổ biến
Trang phục nữ chia làm 2 loại phân biệt khá rõ theo 2 ngành Thái Trắng và
Thái Đen Ngành Thái Trắng, ngày thường phụ nữ mặc áo cánh ngắn (xửa cóm),
Trang 25váy màu đen không trang trí hoa văn Áo thường màu sáng, cài cúc bạc tạo hình
bướm, ve, ong Thân áo ôm chặt lấy thân, tạo vẻ thanh thoát, duyên dáng Váy
kín dạng ống, màu đen Bên ngoài còn có tấm choàng được trang trí nhiều màu
Khăn đội đầu không có hoa văn dài trên dưới 2 mét Dịp lễ tết, họ mặc áo màu
đen, đầu thụng, thân thẳng, không lượn nách Phụ nữ chưa chồng búi tóc sau
gáy, có chồng búi trên đỉnh đầu (tăng cẩu)
Phụ nữ Thái Đen thường nhật cũng mặc xửa cóm ,cổ áo tròn, đứng, hình
chữ V Váy và kiểu để tóc cũng tương tự như ngành Thái Trắng Dịp lễ tết, họ
mặc rất đa dạng với các loại áo xẻ nách, chui đầu, trang trí phong phú và cầu kỳ,
màu sắc, hoa văn đa dạng hơn Hàng cúc bạc với tấm khăn piêu thêu chỉ màu,
hoa văn nhiều mô típ trang trí tăng thêm vẻ rạng rỡ trên khuôn mặt của các cô
gái Bộ trang phục của phụ nữ Thái thực sự độc đáo với sự giản dị và duyên dáng
nhưng nổi bật trong các trang phục dân tộc thiểu số
Trang phục Mông
Trang phục Mông mỗi ngành một kiểu khác nhau Người Mông Trắng, phụ
nữ mặc áo xẻ ngực và váy lanh trắng Phụ nữ Mông Đen váy có nhiều băng dải
hoa văn in sáp ong màu chàm đen, cánh tay áo có khoang thêu hoa văn Phụ nữ
Mông Lềnh áo xẻ nách thêu nhiều hoa văn nẹp cổ, ống tay, váy rực rỡ sắc màu
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy, áo màu chàm như người Tày trong vùng Đặc biệt,
phụ nữ Mông ở Sa pa và một số nơi ở Than Uyên lại mặc quần cộc
Trang phục Mường
Người Mường là một trong những tộc người có bộ trang phục đẹp và cầu kỳ
nhất ở Tây Bắc Trang phục nữ, trên đầu thắt một chiếc khăn màu trắng, tiếng
Mường gọi là mũ Thắt khăn trắng trên đầu gọi là pít mũ tức là bịt mũ
Phụ nữ Mường mặc áo ngắn (ảo pẳn) có áo chùng và yếm là thứ mặc hàng
ngày người Mường gọi là áo báng Váy Mường được chia làm hai phần chính:
Trang 26chân váy và Bộ tênh khăn Trang sức thường để dành đến ngày cưới, ngày hội
Đôi vòng bạc đeo ở cổ tay gọi là lằm, chuỗi hạt cườm gọi là pượn khạu Bộ xà
tích bằng bạc với hộp "ốc đào" và chùm vuốt hổ cũng là những trang sức phổ
biến Trang phục nam giới Mường gần giống trang phục cổ của người Việt Áo
cổ thấp, dài gần trùm mông, thân rộng, xẻ tà hai bên Nẹp may thẳng từ cổ xuống
gấu, đơm khuy, cài cúc Quần may rộng, trùm tới mắt cá chân Ngày xưa dùng
khăn thắt giữa bụng gọi là khăn quần, dài gần bằng tênh phụ nữ nguyên gốc là
cái khố trước kia
Người Mường quan tâm đến trang phục từ rất lâu đời, họ đã kế thừa trang
phục cổ của người Việt từ thời Hùng Vương hoặc có thể xa hơn nữa rồi phát
triển thành lối trang phục riêng độc đáo, nhất là trang phục nữ Cái khăn trắng
(mũ) là sự tiếp biến từ cái mũ lông chim xa xưa rất ăn nhập với chiếc yếm trắng,
vòng bạc trắng, khuyên tai bạc và dây xà tích với tênh cũng bằng bạc trắng tạo
nên những điểm xuyết hợp lý, hài hòa cho bộ trang phục
Trang phục Hà nhì
Bộ trang phục truyền thống của người Hà Nhì không chỉ đẹp mà còn rất
điệu đà Ngoài một số chuỗi hạt trang trí vòng trên tóc và xuống cổ, người phụ
nữ còn có một chiếc nón lá nhỏ xinh vừa đầu và để lộ những màu sắc sặc sỡ của
tấm khăn đội đầu Đặc biệt là người Hà Nhì ở Lai Châu Còn ở Lào Cai thì thiên
về màu xanh chàm hơn Nhưng trong các dịp lễ hội, người con gái dân tộc Hà
Nhì thường rất được các chàng trai phương xa ấn tượng với bộ trang phục mềm
mại và duyên dáng màu thiên thanh dịu mát giữa đất trời Sa pa
Trang phục Lô lô
Đa phần trang phục của các dân tộc ở Tây Bắc đều đẹp, cầu kỳ, nhưng có lẽ
đứng đầu bảng phải là người Lô Lô Chỉ riêng dải thắt lưng thôi, người ta cũng
phải mất đến ba tháng để làm Hoàn thành trọn bộ quần áo thì mất khoảng 3 đến
Trang 275 năm Công phu là ở chỗ chọn lựa và ghép những mảnh vải màu với nhau sao
cho chúng có thể phối màu hài hòa cả bộ để không bộ nào giống bộ nào Một bộ
trang phục "cao cấp" bằng những loại vải cổ của họ có giá lên tới 15 đến 20 triệu
đồng [41] Những bộ ở mức bình thường, phổ biến, giá cũng đã khoảng dăm ba
triệu Tiếc là nếu không kịp thời có biện pháp giữ gìn thì sự cầu kỳ, công phu cả
về thời gian, công sức cho những "tác phẩm nghệ thuật" này không còn nữa
Kiến trúc
Kiến trúc Thái
Cùng với rất nhiều thành tố văn hóa khác, nhà sàn Thái thực sự là một nét
văn hóa độc đáo, đặc trưng và bản sắc mang chứa không chỉ những giá trị văn
hóa vật chất mà còn rất nhiều giá trị văn hóa tinh thần của người Thái Có rất
nhiều truyền thuyết về ngôi nhà độc đáo ấy Ở phần sau xin được trình bày như
một biểu tượng văn hóa Tây Bắc
Kiến trúc Xinh mun
Dân tộc Xinh mun là một tộc người có nhiều ảnh hưởng của văn hóa Thái,
nhưng vẫn mang những nét riêng biệt, đặc sắc Kiến trúc nhà ở cũng vậy Loại
nhà ở truyền thống duy nhất của họ là nhà sàn (diêng) được xây cất hoàn toàn
bằng gỗ, tre, nứa và lợp bằng cỏ tranh Kỹ thuật đơn giản: không làm mộng, con
sỏ, không dùng đinh, sắt, chủ yếu là dùng ngoàm (chạc cây) và dây buộc để liên
kết các bộ phận Ngôi nhà thường có 3 gian 2 chái và 2 sàn đầu hồi Nhà không
có liên kết vì kèo mà chỉ có xinh dua chống từ xà dọc tới đòn nóc
Hai sàn đầu hồi kết cấu giống như sàn trong nhà Một bên dùng cho đàn ông
ngồi đan, làm mộc, tiếp khách, một bên dùng làm nơi nước rửa, nấu cơm, chỗ
phụ nữ ngồi chơi và phơi phóng Từ hai sàn có hai cầu thang lên đặt phía sau
nhà Trong nhà chỉ có hai hàng cột, theo chiều dọc nhà
Kiến trúc Mông
Trang 28Nhà ở của người Mông thường ở lưng chừng núi và chủ yếu quay về hướng
đông để có ánh sáng, dựa vào núi để tránh gió bão đổ nhà Người Mông ở nhà
nền đất nhưng có nhiều kiểu khác nhau
Ở Sa pa là nhà nền đất tường ghép gỗ pơ mu hoặc gỗ khác Ngôi nhà này
không có gì đặc biệt, hiện cũng đã biến tấu khá nhiều, trông giống như ngôi nhà
truyền thống của người Việt Bắc Bộ xưa Phía góc nhà có bếp nấu, đầu hồi bên
phải có một cửa nách ra vào dùng những ván gỗ ghép lại làm cánh cửa
Đặc biệt, ở vùng biên giới là nhà nền đất tường trình dày Người Hoa,
người Mông, người Dao ở Tây Bắc đều có tập quán ở nhà tường đất Để có được
một ngôi nhà lý tưởng, ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hè, chủ nhân của nó
phải nhờ đến bàn tay những người thợ có chuyên môn thuần thục như những
nghệ nhân với "công nghệ trình tường" Dãi dầu mưa, nắng, tường được trình kỹ
không những không đổ nát mà còn đảm bảo được yêu cầu thẩm mỹ, không bong,
không nứt Ngôi nhà như thế có thể bền tới hàng trăm năm
Ngôi nhà tường trình đất của người Mông, người Dao là nét riêng kiến trúc
của các tộc người vùng cao Tây Bắc Ngôi nhà tạo một ấn tượng rất ấm cúng,
thanh bình nép mình bên những khóm sa mu, đào, lê cổ thụ trên những triền núi
Kinh tế truyền thống
Kinh tế truyền thống Thái
Nền kinh tế truyền thống của người Thái là kinh tế nông nghiệp đã đạt đến
trình độ khá cao mà trong đó, lúa nước là loại cây trồng chủ yếu.Văn hóa nông
nghiệp thung lũng Thái nổi tiếng với hệ thống tưới tiêu lợi dụng độ dốc của dòng
chảy được gọi tóm lại là "mương, phai, lái, lịn" Người ta lấy đá ngăn suối làm
nước dâng cao, đó là cái "phai" Phía trên phai xẻ một đường chảy lên dẫn vào
cánh đồng, đó là "mương" Từ mương xẻ những rãnh chảy vào ruộng, đó là "lái"
Còn "lịn" là cách lấy nước từ nguồn trên núi cao dẫn về ruộng, về nhà bằng các
Trang 29cây tre đục mấu nối tiếp nhau Người Thái biết nuôi cá ngay trong ruộng lúa Cá
vừa ăn sâu bọ hại lúa, ăn cỏ dại vừa sục bùn tốt lúa Việc canh tác trên nương rẫy
cùng với đánh cá, hái lượm, săn bắt cũng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống
Đối với người Thái, chài đã trở thành vật thiêng
Bên cạnh những nghề truyền thống đó, người Thái còn có nghề thủ công dệt
thổ cẩm Các cô gái Thái trước khi về nhà chồng phải biết dệt thổ cẩm và thêu
thùa Đó là một nghề không thể thiếu trong đời sống của người Thái
Như vậy, sinh hoạt kinh tế của người Thái mang đậm tính tự nhiên, tự cấp,
tự túc Sắc thái đó đã chi phối toàn bộ đời sống từ vật chất đến tinh thần cũng
như nền văn hóa tộc người này
Kinh tế truyền thống Mông
"Cơ cấu kinh tế truyền thống của người Mông gồm 3 bộ phận chính: trồng
trọt, chăn nuôi và hái lượm, tiểu thủ công nghiệp và trao đổi" [33, tr.264] Trong
đó, trồng trọt chiếm vị thế quan trọng nhất Chăn nuôi và nghề thủ công chỉ là
phụ và phụ thuộc vào trồng trọt Người Mông biết áp dụng nhiều biện pháp kỹ
thuật cày bừa, làm đất tiến bộ, biết thâm canh, xen canh tăng vụ, tăng năng suất,
kéo dài tuổi thọ của nương rẫy Người Mông thường canh tác trên đất dốc, phần
lớn là nương rẫy và một số ruộng bậc thang rất hẹp với đặc trưng về phương
thức canh tác là dùng cày trên đất khô không có bờ ngăn nước Họ sớm có một
nền nông nghiệp dùng trâu kéo cày phát triển, năng suất gấp 10 lần so với sử
dụng cuốc
Người Mông còn có một số nghề tinh xảo đạt đến đỉnh cao của nghề thủ
công các dân tộc miền núi như rèn đúc, trồng lanh dệt vải, mộc Nghề rèn đúc là
một nghề nổi tiếng của dân tộc Mông với những sản phẩm được xem như đặc
sản có giá trị: lưỡi cày Mông, lưỡi cuốc bướm, dao Mông, nòng súng, Nghề
Trang 30mộc cũng có những nét độc đáo là không dùng các loại đinh mà chủ yếu dùng kỹ
thuật ghép mộng đơn giản nhưng sản xuất đồ ghép gỗ như thùng nước rất bền
Kinh tế truyền thống Mường
Môi trường sinh sống ở thung lũng chân núi phản ánh đặc trưng kinh tế
truyền thống của người Mường đó là làm ruộng nước Công cụ sản xuất là cày,
bừa, cuốc Cây trồng chính là lúa, ngô, sắn, khoai, đỗ, vừng, Trong đó, cây lúa
giữ vị trí hàng đầu Công tác thủy lợi vì thế vô cùng quan trọng với hệ thống
tương đối hoàn chỉnh bao gồm mương, hạnh và tạng
Ngoài ruộng, người Mường còn có nương (roọng) để gieo trồng lúa, ngô,
sắn, bông xen canh một số loại cây trồng khác như đỗ, vừng đặc biệt là các loại
rau như bầu, bí Chăn nuôi phát triển nhưng cũng chỉ là nghề phụ Săn bắt, hái
lượm, đánh cá và sản xuất thủ công nghiệp cũng là những ngành nghề phổ biến
Nghề thủ công tiêu biểu là nghệ trồng bông, kéo sợi, chăn tằm, dệt vải và đan lát
mây tre Phụ nữ Mường dệt vải thổ cẩm đạt đến trình độ kỹ thuật tinh xảo Việc
trao đổi hàng hóa thông qua các chợ phiên cũng xuất hiện từ khá lâu nhưng chưa
hình thành tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp
Tóm lại, cũng như các tộc người Tây Bắc khác, toàn bộ đời sống kinh tế
của người Mường đến nay vẫn chủ yếu là dựa vào thiên nhiên và mang tính chất
tự cung tự cấp
Kinh tế truyền thống Dao
Người Dao có đặc điểm kinh tế là canh tác trên nương rẫy, lương thực chủ
yếu là lúa nương Ngoài ra họ còn làm ruộng nước và trồng hoa màu Nghề thủ
công tương đối phát triển như dệt vải, rèn, mộc, làm giấy, ép dầu,
Người Dao Tiền có truyền thống in hoa văn bằng sáp ong trên vải, đặc biệt
là trên trang phục nữ Muốn tạo hoa văn gì người ta dùng dụng cụ nhúng vào sáp
ong nóng chảy rồi in lên vải Sáp ong khô đem nhuộm chàm nhiều lần Nhờ có
Trang 31độ kết dính của sáp ong nên các họa tiết, hoa văn không bị ngấm chàm Sau đó
nhúng vải vào nước sôi, sáp ong tan ra sẽ hiện lên các hoa văn có màu xanh nhạt
trên nền chàm truyền thống
Kinh tế truyền thốngKháng
Kinh tế truyền thống của người Kháng là làm rẫy theo lối chọc lỗ tra hạt,
trồng nhiều lúa nếp làm lương thực chính, trồng bông rồi đổi lấy vải Nghề đan
cũng khá phát triển với đủ các sản phẩm vật dụng hàng ngày như rổ, rá, nia,
hòm, gùi, đặc biệt là ghế dạng ghế đẩu đan bằng mây
Tri thức chăm sóc sức khỏe
Người Dao
Cho đến nay, phần lớn các gia đình người Dao đều có thể tự lo chữa các
bệnh thông thường cho người nhà bằng thuốc dân tộc Thuốc chữa bệnh của họ
bao gồm nhiều loại lấy từ nhiều nguồn khác nhau: trong rừng, trên vách đá, bên
bờ suối, trồng quanh nhà hay trên nương, [20, tr.97] Bên cạnh các vị thuốc
bằng cỏ cây, rễ, củ, lá, người Dao còn lấy một số bộ phận quý hiếm của các
con vật săn bắn được để làm thuốc
Thuốc của người Dao được chia làm 3 loại: thuốc bổ, thuốc chữa bệnh và
thuốc độc [20, tr.97] Trong đó, thuốc bổ và chữa bệnh được sử dụng rộng rãi
trong việc chăm sóc sức khỏe hàng ngày của người Dao
Thuốc của người Dao Đỏ rất nổi tiếng Họ sử dụng thuốc dưới hai hình
thức: dùng trong và dùng ngoài Thuốc dùng trong là thuốc uống, ăn sống hoặc
chín để chữa các bệnh nội khoa Thuốc dùng ngoài bao gồm những loại thuốc
xông, tắm, đắp, bôi, xoa bóp ngoài ra để trị những bệnh ngoại khoa
Hiện nay, những kiến thức y học quý giá và độc đáo của người Dao cũng đã
được đưa vào khai thác sử dụng cho du lịch Ở Sa pa, du khách tới thị trấn chắc
đều đã quen thuộc với những hiệu tắm thuốc của người Dao Đỏ được phục vụ
Trang 32ngay trong thị trấn Dù chưa cảm nhận được hết tác dụng của thuốc tắm đối với
sức khỏe và cơ thể nhưng ít nhất cũng vô cùng ấn tượng với cảm giác lâng lâng
như say, cơ thể hoàn toàn nhẹ nhõm, sảng khoái và thư thái tột độ với tiết trời se
lạnh của thị trấn vùng cao
Người Mường
Cách chữa bệnh của người Mường ở Hòa Bình cũng khá đa dạng và mang
những sắc thái riêng: thuốc uống, thuốc đắp, xông hơi và xông khói Từ lâu đời,
họ đã tự chế ra các loại thuốc từ lá, cây rừng để chữa bệnh và bồi bổ sức khỏe
Họ dùng thuốc đắp, thuốc sắc, thuốc ngâm rượu uống, xoa bóp, biết đánh gió
bằng đồng bạc trắng và lòng đỏ trứng gà
Tri thức dành cho bà mẹ trẻ em
Trong vốn tri thức y học dân gian, những bài thuốc đáng chú ý và ấn tượng
nhất là chăm sóc sức khỏe phụ nữ mang thai và sinh con Hầu hết các dân tộc ở
Tây Bắc đều có nhiều kinh nghiệm và tri thức ở lĩnh vực này Có nhiều công
trình nghiên cứu ở người Dao Đỏ, Mường, Xinh mun, H'Mông, Khơ mú đã cho
thấy điều đó
Ngay sau khi sinh, phụ nữ Dao Đỏ uống một bát rượu ngọt được làm từ gạo
nếp nấu cùng chẻ om mia hoặc ăn một bát cháo thịt gà mái nấu cùng rượu ngọt
và gừng để mau hồi sức Trong cữ, họ chỉ ăn cá đen, không ăn cá trắng và các
loại đồ ăn chưa nấu chín, các loại rau, trứng vịt, xương, các loại bánh, chất
chua
Người Khơ mú thì dùng rễ cây đu đủ nấu nước hoặc hầm với thịt cho sản
phụ uống kết hợp với bồi dưỡng bằng thức ăn giàu dinh dưỡng để có đủ sữa cho
con bú Đau bụng thì lấy da bàn chân gấu đốt lên, nấu với nước cho sản phụ
uống hoặc cho uống huyết lình ngâm rượu hay pha với nước sôi
Trang 33Phụ nữ Xinh mun thì từ lúc mang thai, ngoài chế độ ăn uống, họ còn được
bồi bổ bằng thuốc nam để lấy sức lực cho thai phụ và tránh nguy hiểm khi sinh
nở Để làm sạch khí huyết hư, sản phụ được ngồi lên lá thầu dầu hơ nóng hoặc lá
cây bờ nát trong nhiều ngày
Phụ nữ Si La khi mang thai và sau khi sinh nở cũng có những bài thuốc
nam được thực hiện đối với việc bồi bổ sức khỏe và chữa các chứng bệnh của
sản phụ Khi mang thai thì ăn trứng gà đen, măng đắng, rau lành như rau ngót,
rau cải, kiêng rau tàu bay, lá đu đủ,
Tự bản thân những tri thức dân gian độc đáo về chăm sóc sức khỏe con
người và nhất là chăm sóc bà mẹ trẻ em của các tộc người Tây Bắc, đặc biệt là tri
thức về nguồn thuốc từ thực vật vô cùng phong phú đã phản ánh một truyền
thống nhân văn sâu sắc, lòng yêu thương, trân trọng giống nòi và một trí tuệ dân
gian mang đậm màu sắc phương Nam, giàu tính truyền thống bản địa
Những tri thức ấy là một trong những tài nguyên quý giá cho khai thác du
lịch nói riêng và làm giàu kho tàng văn hóa dân tộc nói chung
Văn hóa tinh thần
Ngôn ngữ - văn học
Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta, ngôn ngữ của các dân tộc
nói chung và của các tộc người Tây Bắc nói riêng là một nguồn kiến thức văn
hóa dồi dào các giá trị truyền thống không thể thay thế được
Trong xã hội cổ truyền Tây Bắc, văn hóa chuyên nghiệp, bác học chưa xuất
hiện Tác phẩm của họ vẫn lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng
Mỗi dân tộc trong vùng đều có kho vốn sáng tác với ngôn từ giàu có và nhiều thể
loại từ tục ngữ, thành ngữ, đồng dao, dân ca giao duyên cho đến lời khấn, bùa
chú, áng văn tang, các bài văn vần dạy bảo đạo đức trong lễ cưới cho dâu rể, thần
thoại, cổ tích, đồng thoại, truyện cười v.v Ở một số dân tộc có cả truyện thơ dài
Trang 34hàng ngàn câu như Tiễn dặn người yêu (Thái), Tiếng hát làm dâu (Mông), Vườn
hoa núi Cối (Mường) v.v
Văn học Tây Bắc là một kho tàng văn hóa dân gian rất độc đáo và giàu bản
sắc phản ánh đời sống tinh thần vô cùng phong phú của cộng đồng các dân tộc
sinh tụ ở miền đất này Cộng đồng người Thái có một kho tàng văn hóa và tri
thức vô cùng phong phú Những trường ca trữ tình như Xống chụ xôn xao, Khun
Lú nàng Ổ, v.v thấm đậm tính nhân văn Những trường ca anh hùng như Khun
Chưởng cho thấy tính cách truyền thống của người Thái Những bộ sử thành văn
- truyện thơ lịch sử kể lại quá trình thiên di của họ vào Tây Bắc như bản sử ca
Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha (Táy pú Xớc) hay Lịch sử bản
mường (Quán tố mường) cho biết con đường gian nan lập mường, dựng bản của
người Thái Tất cả những tri thức quý báu đó đều được lưu giữ trong ngôn ngữ
của đồng bào Thái và nó chỉ có thể "phát sáng long lanh" khi mỗi thành viên của
cộng đồng Thái hiểu được đầy đủ ngôn ngữ của mình
Ngôn ngữ Mông cũng hàm chứa một lượng tri thức văn hóa quý giá Chỉ
cần quan tâm đến tục ngữ hay thành ngữ Mông thì trong đó đã lưu giữ những
bài học dân gian phong phú và mang đậm sắc thái dân tộc Đối với người Mông
ai không hiểu về ngôn ngữ của mình thì coi như "trâu đầm vũng bùn" và "lời nói
rỗng" mà thôi Văn học dân gian người Mông cũng rất phong phú cả về thể loại
và nội dung Mỗi thể loại lại có những loại hình khác nhau
Ngôn ngữ của người Mường lưu giữ lại một pho sử thi quý giá Đẻ đất đẻ
nước Qua đó, chúng ta nhận biết được quan niệm của người Việt cổ về sự hình
thành của thế giới, vũ trụ; biết về tín ngưỡng dân gian cổ xưa; về những mong
muốn, ước vọng của người Việt gửi lại cho thế hệ ngày nay
Qua những phác họa cơ bản trên, chúng ta thấy dù là ngôn ngữ của những
dân tộc thiểu số, nhưng tiếng Thái, tiếng Mông, tiếng Mường cũng chứa đựng
Trang 35một kho tàng văn hóa vô cùng quý giá Sự hiểu biết về nó thực sự sẽ đem lại cho
đồng bào dân tộc những giá trị văn hóa phong phú, góp phần làm cho bức tranh
văn hóa của đất nước thêm màu sắc Gìn giữ nguồn tài sản này là trách nhiệm
không chỉ của bản thân mỗi tộc người mà của cả dân tộc ta nói chung trong công
cuộc đổi mới, hiện đại hóa đất nước đem lại những lợi ích văn hóa to lớn để phát
triển bền vững
Phong tục, tập quán
Nếp sống hòa thuận, tôn trọng người già, thương yêu con trẻ và giúp đỡ
nhau vô tư là đặc điểm chung của các dân tộc trong vùng Kỳ thị dân tộc không
phải không có nhưng rất hiếm Tiếp cận từ góc nhìn văn hóa, phải nhận thấy
rằng đây chính là thuần phong mỹ tục trong quan hệ giữa các dân tộc với nhau
Chỉ có điều đó mới chứng minh được vì sao trong cơ chế thị trường đầy mặt trái
hiện nay, phong tục truyền thống của các tộc người thiểu số vẫn được giữ vững
Phong tục Thái
Do sớm định cư, đơn vị bản là cộng đồng tồn tại theo quan hệ láng giềng có
tạo bản (Po bản) như một ông bố điều hành Mọi thành viên trong bản đều coi
nhau như anh em, chia sẻ tình cảm và giúp đỡ, đùm bọc nhau Bản là gia đình
lớn của người Thái Họ sống chân thật, giản dị và rất hòa thuận Trong bản
không bao giờ thấy người ta to tiếng với nhau Đặc biệt trẻ con chơi đùa với
nhau rất thân ái, chúng hiểu nhiệm vụ của mình và rất tự giác thực hiện Khi có
sai sót, người lớn chỉ nhắc nhẹ Trong các nếp nhà sàn không (hay ít) vách ngăn
là một không gian đầm ấm, thanh bình Gặp khi khó khăn, đói kém, người ta đến
họ hàng xin lương thực Tuy đã chịu tác động tương đối nhiều từ nền kinh tế thị
trường nhưng phong tục này vẫn được gìn giữ với bản tính vị tha và sống tình
nghĩa
Tập quán Mông
Trang 36Xã hội Mông có hệ thống tập quán pháp riêng được gọi là "kế Mông kế ly"
("đường Mông đường lý" hay "cái lý của Mông") Đó là những quy định bất
thành văn được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác Có thể là những tập
quán về quan hệ đối xử giữa người với người, giữa các thành viên trong gia đình,
chọn ngày giờ làm nhà, tập tục nghi lễ ma chay, cưới xin, Các nhà nghiên cứu
đã sưu tầm được khoảng 70 quy ước như vậy [33, tr.277] Đó cũng có thể xem là
một loại "hương ước" của người Mông vậy
Thiết chế dòng họ của người Mông có một sự cố kết chặt chẽ tạo nên sức
mạnh trong tình cảm dân tộc và huyết thống, là cội nguồn sức mạnh trong cuộc
đấu tranh sinh tồn bảo vệ quyền lợi dân tộc Những người có chung tên, họ tức là
chung tổ tiên, cùng huyết thống, do đó không được phép kết hôn với nhau Dù
cư trú ở bất cứ nơi nào, thuộc ngành nào khi đã xưng là "Pế Mông" tức người
Mông ta thì tất cả đều có nghĩa vụ đoàn kết tương trợ lẫn nhau
Gia đình người Mông theo chế độ phụ quyền Nam giới làm chủ gia đình,
sở hữu tài sản và trực tiếp gánh vác những công việc nặng Vị trí quan trọng này
của nam giới được thể hiện cả ở trong gia đình và ngoài xã hội Người phụ nữ
Mông vì thế phải tuân thủ theo chồng và gia đình chồng, nhưng họ vẫn cùng
chung vai góp sức với chồng và gia đình trong quản lý của cải, sản xuất và nuôi
dạy con cái nhất là con gái Họ có quyền chọn vợ cho con trai của mình
Đặc trưng phong tục Mường
Gia đình người Mường là gia đình phụ quyền, tính chất gia trưởng ít nhiều
được thể hiện rõ trong mối quan hệ gia đình Người đàn ông Mường có vai trò
quan trọng trong gia đình cũng như trong xã hội
Ở xã hội Mường truyền thống, người phụ nữ hầu như không có quyền hành
gì lớn trong gia đình Thân phận của họ trong gia đình rất thấp kém Tuy vậy,
trên thực tế, phụ nữ lại là người có đóng góp nhiều mặt vào cuộc sống Vì vậy,
Trang 37dù bị ràng buộc bởi những tập tục cũ còn khá nặng nề nhưng quan hệ vợ chồng ở
người Mường rất hòa thuận, bền vững, ít xảy ra ly hôn Trong một bản Mường ở
huyện Tân Lạc - Hòa Bình (xóm Bục), đồng bào khi được hỏi "vợ chồng có cãi
nhau bao giờ không?" thì có tới 90% trả lời không và 100% ngạc nhiên với câu
hỏi "có tình trạng ly hôn không?" [43]
Quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình người Mường tương đối
bình đẳng, đặc trưng bằng chữ hiếu Anh em ruột thịt trong gia đình sống có
trách nhiệm với nhau (chém kha đác chăng loi, choi kha đác chăng lìa tức là anh
em như dòng nước dù chém cũng không đứt, dù chặt cũng không lìa)
Hôn nhân trong xã hội Mường dựa trên cơ sở tự nguyện nhưng phải được
sự đồng ý của cha mẹ Người trong cùng họ dù xa đến mấy cũng không được lấy
nhau Sau kết hôn, vợ cư trú bên nhà chồng Nghi lễ hôn nhân Mường khá phức
tạp, qua nhiều giai đoạn và nghi lễ và tốn kém
Tín ngưỡng, lễ hội
Các dân tộc trong vùng đều có tín ngưỡng "mọi vật có linh hồn" (vạn vật
hữu linh - animisme), một loại tín ngưỡng mà mọi dân tộc trên hành tinh đều trải
qua Tất cả các đối tượng (sông, núi, suối khe, đá, cây, súc vật, các lực lượng
thiên nhiên, ) đều có linh hồn Kể cả các bộ phận trên cơ thể con người cũng
vậy Người Thái có tới 80 hồn như hồn tóc, lông mày, lông mi, tai, mũi, Vì thế
người chết không mất đi mà trở về sống ở bản của tổ tiên Đồng bào có thể nói
chuyện, thương lượng thậm chí cầu xin chúng khi cần Giữa con người với mọi
vật và tổ tiên của họ có một mối quan hệ cân bằng Trong hoàn cảnh trình độ
khoa học kỹ thuật chưa phát triển thì nhận thức thế giới theo phương pháp huyền
thoại, tín ngưỡng này không phải không có tác dụng tích cực cho sự tồn tại của
con người và cộng đồng
Lễ nghi và lễ hội Thái
Trang 38Lễ nghi và lễ hội nông nghiệp Thái là những hoạt động nảy nở, phát triển
thuận lợi trong không gian xã hội giàu bản sắc Các lễ nghi này rất phong phú,
bao gồm: Lễ đón tiếng sấm đầu mùa, Lễ cầu mưa, Lễ nghi trước khi gieo trồng,
Lễ nghi sau khi hoàn thành việc gieo cấy, Lễ nghi trước khi gặt lúa (khau hạch),
Lễ nghi trước khi đập lúa v.v và thường diễn ra ở cả ba cấp đơn vị xã hội: gia
đình, bản và mường Mỗi cấp mang đặc điểm, dáng dấp riêng của mình
Lễ hội của người Thái vì thế rất nhiều Một số lễ hội tiêu biểu:
Lễ hội Cầu mưa (Xến Xó Phốn) mang những tinh hoa của phong tục tập
quán cũng như tín ngưỡng của người Thái Họ quan niệm thần linh cai quản mưa
gió thương những đứa trẻ sinh ra không có cha nên đã không làm mưa Vì thế họ
làm lễ cầu, cúng những vị chủ nước (thuồng luồng), mời các thần linh nghe
nguyện vọng của con người và trách phạt những người phụ nữ chửa hoang Thời
gian diễn ra lễ hội là vào đầu mùa mưa
Cùng với lễ hội Cầu mưa, lễ hội Cầu an bản mường (Xên bản, Xên mường)
là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng rất quan trọng đối với cộng đồng người Thái
Tây Bắc Lễ hội gắn với tục giết trâu hiến sinh thờ thần nước, vị thần gắn bó chặt
chẽ với đời sống tâm linh của cộng đồng, thể hiện khát vọng an lành cho cuộc
sống và biểu hiện khát vọng mùa màng bội thu, người vật phát triển Nghi lễ và
thủ tục lễ hội khá phức tạp, nhiều công đoạn và được chuẩn bị công phu Có thể
nói, lễ hội Cầu an bản mường là một hoạt động văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, một
sinh hoạt văn hóa dân gian, một nguồn vui không thể thiếu của cư dân ít người
(Thái, Mường) nơi rẻo cao Tây Bắc xa xôi
Trong năm, người Thái còn nhiều lễ hội liên quan đến đời sống sinh hoạt và
sản xuất khác Đặc biệt, họ còn có những sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng trở thành
phong tục tập quán như lễ Xên phắn bẻ (chém đầu dê)
Tín ngưỡng, lễ hội Mông
Trang 39Làng Mông (giao) đóng vai trò quan trọng cả về kinh tế xã hội và văn hóa
Mỗi làng là một cộng đồng văn hóa có tín ngưỡng thờ cúng chung một vị thần và
có các nghi lễ cũng như sinh hoạt văn hóa chung
Lễ hội của người Mông cũng rất phong phú Trong đó, Lễ hội Gầu Tào là
một lễ hội quan trọng đối với họ Mục đích là cầu phúc hoặc cầu mệnh Gia chủ
nào đó không có con, thưa con hoặc sinh con một bề, ốm đau bệnh tật, mùa
màng vật nuôi thất bát, sẽ làm lễ nhờ thày cúng bói xin cho mở hội Gầu tào
Thời gian mở hội thường trong khoảng từ ngày mồng một đến ngày 15 tháng
giêng Nếu tổ chức 3 năm liền thì mỗi năm 3 ngày, nếu gộp 3 năm một lần thì 9
ngày Khi cây nêu được dựng lên, khắp bản gần, bản xa biết Tết năm đó sẽ tổ
chức hội Gầu tào mà chuẩn bị Độc đáo nhất là trong đám hát, từ ống mai đầu
này tới ống mai đầu kia là một sợi tơ tằm vàng óng nối liền Người đầu này hát
thì người đầu kia lắng nghe, giọng hát truyền qua nguyên vẹn trên sợi dây Trò
chơi trong hội vô cùng phong phú, hấp dẫn, có cả những đám nhảy đồng rất sôi
động, thu hút nhiều người tham gia, thể hiện ước vọng về sức khỏe, sự sinh sôi,
mùa màng tươi tốt, đất trời thuận hòa Không chỉ đối với người Thái, người
Mường, người Mông, lễ hội còn là nét văn hóa đặc sắc của nhiều tộc người khác
ở Tây Bắc
Một số lễ hội tiêu biểu các dân tộc khác
Người Xinh mun có lễ hội Lộc hoa khá ấn tượng Hàng năm, khi xuân sang,
hoa ban nở trắng, măng đắng mới mọc là dịp đồng bào Xinh mun tổ chức lễ hội
Ksai Sa Típ, tức lễ hội Lộc hoa để cầu mùa, cầu phúc
Có dịp tới Lào Cai, du khách sẽ được nghe giới thiệu về lễ hội Trùm chăn
của người Hà nhì Đen ở huyện Bát Xát Đây là lễ hội cúng thần gió, thần đất (gọi
là K'Hô lgià lgià) Đặc biệt, đây là dịp để trai gái trong bản gặp gỡ và tìm hiểu
nhau Họ chơi hát giao duyên bằng một ống nứa một đầu bịt kín bằng da rắn
Trang 40hoặc màng cây tre đực có luồn một sợi dây móc rừng Nếu thuận ý nhau, họ sẽ
đưa nhau vào rừng và cùng khoác chung chiếc chăn để hát hò và thổ lộ tâm tình
Người Tày ở Bắc Hà lại có lễ hội Rước Đất, rước Nước vào ngày rằm tháng
giêng hàng năm để cầu xin mẹ Đất, mẹ Nước phù hộ cho đất đai luôn màu mỡ,
nguồn nước không bao giờ cạn, cuộc sống dân bản luôn no đủ
Các dân tộc Mông, Dao, Giáy ở Mường Hoa thì có lễ hội Nào Cống được tổ
chức ở một ngôi miếu thờ tại làng Tả Van vào ngày Thìn tháng sáu âm lịch hàng
năm Lễ hội có 3 phần: nghi lễ cúng thần, công bố quy ước chung cả vùng và ăn
uống
Danh mục lễ hội trong năm của các dân tộc Tây Bắc vô cùng phong phú
Văn hóa lễ hội thể hiện đậm nét đời sống tâm linh tín ngưỡng của các đồng bào
nơi đây Nó đã trở thành một thành tố văn hóa đặc sắc trong kho báu tài nguyên
văn hóa tộc người nói chung và du lịch văn hóa nói riêng
Văn hóa, nghệ thuật
Văn hóa nghệ thuật là lĩnh vực thể hiện cái nhìn thẩm mỹ của cư dân Tây
Bắc cũng có rất nhiều nét độc đáo và đặc trưng văn hóa vùng Âm nhạc và vũ
điệu của các dân tộc nơi đây được thể hiện qua các các điệu dân ca, dân vũ
"Xòe" là nét đặc sắc của văn hóa Thái trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc
Người Mông nổi tiếng với các điệu múa khèn, đá châm hùng dũng của nam giới
Người Khơ mú và Xinh mun độc quyền với những điệu múa lắc mông, lượn eo
Người La ha là chủ nhân của điệu Tăng bu Người Mường có múa bông Riêng
điệu múa Sạp, trừ người Mông còn dân tộc nào trong vùng cũng có Nghệ thuật
múa dân tộc có thể xem là một nét đặc trưng không thể thiếu của vùng Tây Bắc
Sở thích âm nhạc của hầu hết các dân tộc ở đây, không thấy hoặc hiếm thấy
ở các vùng khác, đó là sử dụng hệ thống nhạc cụ hơi có lưỡi gà bằng tre, bằng
đồng hoặc bằng bạc Những nhạc cụ được biết đến thuộc thể loại này cũng đã có