Các tỉnh thành trong cả nước đã tổ chức Hội nghị, hội thảo bàn luận, đưa ra chiến lược, mục tiêu bảo tồn, trùng tu các di tích có sự tham gia của cộng đồng được chính quyền địa phương và
Trang 1Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
NGUYỄN THỊ NGỌC BĂNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HểA VÀ DANH THẮNG TỈNH KIấN GIANG
luận văn thạc sĩ du lịch
Hà Nội, 2013
Trang 2Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
NGUYỄN THỊ NGỌC BĂNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HểA VÀ DANH THẮNG TỈNH KIấN GIANG
Chuyên ngành: Du lịch (Ch-ơng trình đào tạo thí điểm)
luận văn thạc sĩ du lịch
ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHẠM HÙNG
Hà Nội, 2013
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Bố cục luận văn 8
7 Đóng góp của luận văn 8
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRONG DU LỊCH 10
1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch 10
1.1.1 Khái niệm di tích 10
1.1.2 Quan niệm về văn hóa 10
1.1.3 Quan niệm về di sản văn hóa 11
1.1.4 Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa 13
1.1.5 Các nguyên tắc bảo tồn văn hóa 14
1.1.6 Bảo tồn văn hóa trong du lịch 15
1.2 Tác động của du lịch tới các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng trong du lịch 23 1.2.1 Những tác động tích cực của du lịch đối với các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng trong du lịch 23
1.2.2 Những tác động tiêu cực của du lịch đối với các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng trong du lịch 24
1.2.3 Những yêu cầu cấp bách của việc bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng 25
1.3 Những bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước 26
1.3.1 Những bài học kinh nghiệm trong nước 26
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm ngoài nước 27
Trang 4Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ DANH THẮNG Ở KIÊN GIANG 29
2.1 Các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng tiêu biểu của Kiên Giang …29
2.1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Kiên Giang 29
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 29
2.1.3 Điều kiện xã hội 32
2.1.4 Các di tích lịch sử văn hóa 34
2.1.5 Các danh lam thắng cảnh 37
2.2 Thực trạng du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng Kiên Giang …… 40
2.2.1 Nhu cầu khách du lịch đối với các di tích lịch sử và danh thắng Kiên Giang …….40
2.2.2 Sản phẩm du lịch tại các di tích lịch sử và danh thắng Kiên Giang …41
2.2.3 Cơ sở vật chất tại các di tích lịch sử và danh thắng Kiên Giang …48
2.2.4 Nhân lực du lịch tại các di tích lịch sử và danh thắng Kiên Giang …51
2.2.5 Công tác tổ chức quản lý du lịch tại các di tích lịch sử và danh thắng Kiên Giang …52
2.2.6 Hoạt động xúc tiến, tuyên truyền quảng bá du lịch đối với các di tích lịch sử và danh thắng Kiên Giang …53
2.3 Thực trạng công tác bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng Kiên Giang …54
2.3.1 Thực trạng tổ chức quy hoạch các di tích LSVH và danh thắng tại Kiên Giang …54
2.3.2 Thực trạng trùng tu, tôn tạo các di tích LSVH và danh thắng tại Kiên Giang …59
2.3.3 Thực trạng bảo vệ cảnh quan môi trường tại các di tích LSVH và danh thắng Kiên Giang: …60
Trang 52.3.4 Hoạt động bảo tồn, tôn tạo di sản văn hóa của các cơ quan quản lý nhà nước
…61
2.3.5 Hoạt động bảo tồn, tôn tạo di sản văn hóa của chính quyền địa phương và cộng đồng cư dân …62
2.3.6 Kết quả của hoạt động bảo tồn di tích danh thắng .…65
2.4 Vai trò của du lịch trong bảo tồn di tích LSVH và danh thắng Kiên Giang .…66
2.4.1 Vai trò của cơ quan quản lý về du lịch 67
2.4.2 Vai trò của công ty, doanh nghiệp du lịch .…68
2.4.3 Vai trò của du khách .…69
Tiểu kết chương 2 …70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ DANH THẮNG …72
3.1 Chính sách nhà nước trong tổ chức quản lý gắn với bảo tồn ….72
3.2 Đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật gắn với bảo tồn 73
3.3 Vấn đề xây dựng và khai thác sản phẩm du lịch gắn với bảo tồn 74
3.4 Vấn đề đào tạo nhân lực du lịch gắn với bảo tồn …75
3.5 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp gắn với bảo tồn … …….76
3.6 Vấn đề xúc tiến, tuyên truyền quảng bá du lịch gắn với bảo tồn 77
3.7 Vai trò của chính quyền địa phương và cộng đồng cư dân trong bảo tồn…… 78
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN ……… 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ….84
Trang 6ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long
HĐND: Hội đồng nhân dân
VHTT&DL: Văn hóa, Thể thao và Du lịch
VHTT: Văn hóa thông tin
VQG: Vườn quốc gia
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển thì đời sống của con người ngày càng được nâng
cao Khi đó, du lịch không còn là “nhu cầu cao cấp” [45] nữa mà trở thành một nhu
cầu thiết yếu trong cuộc sống của con người Và xu hướng hiện nay, du khách thường tìm đến những tour gắn liền với tự nhiên, lịch sử, tìm hiểu về văn hóa, cội nguồn dân tộc
Kiên Giang là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Sông Cửu Long; có nhiều cảnh đẹp và địa hình phong phú, đa dạng bao gồm: đồng bằng, núi rừng và biển đảo Bên cạnh đó, Kiên Giang còn là tỉnh có bề dày truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời với hàng trăm di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh; trong đó có 43 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh, đây còn là điều kiện và tiềm năng để Kiên Giang phát triển loại hình du lịch văn hóa
Trong những năm qua, du lịch Kiên Giang phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên và sản phẩm du lịch văn hóa, các điểm du lịch như Lăng Mạc Cửu, Chùa hang, Thạch Động, hay biển Mũi Nai, thu hút rất nhiều du khách đến tham quan
Vì thế, các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh của địa phương là nguồn tài nguyên du lịch có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển du lịch của quốc gia nói chung và của tỉnh Kiên Giang nói riêng
Tuy nhiên, du lịch Kiên Giang vẫn chưa phát triển xứng với tiềm năng vốn có của nó; ngành du lịch có phát triển nhưng còn nhiều hạn chế: tài nguyên du lịch cũng như các sản phẩm du lịch văn hóa chưa được đầu tư thích đáng, chưa thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài cho các sản phẩm du lịch có chất lượng cao đủ tiêu chuẩn quốc tế, cũng như vốn đầu tư cho các dịch vụ phục vụ khách du lịch chưa nhiều nên chưa thu hút được du khách lưu lại dài ngày trên địa bàn Bên cạnh đó, công tác bảo tồn văn hóa còn hạn chế, nhiều dự án trùng tu, tôn tạo các di tích lịch
sử văn hóa đến nay chưa có kinh phí để thực hiện Đồng thời hoạt động du lịch chưa gắn với bảo tồn văn hóa, các cơ quan chức năng và doanh nghiệp du lịch chưa có sự
Trang 8gắn kết trong việc khai thác và bảo tồn tài nguyên du lịch Và cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa
Từ những lý do trên, đề tài: “Phát triển du lịch gắn với bảo tồn các di tích lịch
sử văn hóa và danh thắng tỉnh Kiên Giang” được chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Du lịch
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề bảo tồn di tích lịch sử văn hóa là vấn đề cấp thiết, được đề cập và nghiên cứu nhiều trong những năm gần đây với nhiều khía cạnh và mục đích khác nhau
Các tỉnh thành trong cả nước đã tổ chức Hội nghị, hội thảo bàn luận, đưa ra chiến lược, mục tiêu bảo tồn, trùng tu các di tích có sự tham gia của cộng đồng được chính quyền địa phương và người dân đặc biệt quan tâm:
Ở Đồng Tháp với chuyên đề: “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp”, xác định di sản văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống lịch sử văn hóa của dân tộc và tạo tiền đề cho chiến lược phát triển du lịch, góp phần tăng trưởng kinh tế - xã hội
Hội thảo do Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở VHTT&DL tổ chức ngày 20/10/2012 tại Bảo tàng Không gian văn hóa Mường với tên gọi: “Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Hòa Bình”, cũng đã xác định di sản văn hóa là nguồn tài nguyên vô giá, cần đẩy mạnh thu hút đầu tư, tăng tỷ trọng du lịch trong cơ cấu kinh tế, gắn phát triển du lịch với gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc
Tại Kiên Giang, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản đồng ý về chủ trương tiếp tục thực hiện việc bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử U Minh Thượng (huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang); cũng như việc tiếp tục bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa
ở Phú Quốc
Ngoài ra còn có các bài viết, đề tài nghiên cứu:
“Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa – thiên nhiên thế giới phục vụ phát triển ở nước ta” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng, nhấn mạnh: tăng cường hợp
Trang 9tác giữa các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương, trước hết là giữa ngành du lịch và bảo tồn di sản văn hóa để tạo ra sự phát triển du lịch thực sự bền vững
Bài viết “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành” của tác giả Đặng văn Bài, cho rằng công tác quản lý việc xây dựng và thi công các dự án tu bổ, tôn tạo di tích là một hoạt động có tính chất chuyên ngành có nhiều đặc điểm khác biệt so với việc quản lý các dự án xây dựng các công trình mới Do đó, tất yếu phải có cơ chế quản lý mang tính chuyên biệt trên
cơ sở tuân thủ nghiêm túc các quy định của Luật di sản văn hóa và Luật xây dựng Bài viết: “Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát
triển đất nước”, tác giả Nguyễn Thế Hùng khẳng định: di tích có vai trò to lớn đối
với sự phát triển lành mạnh và bền vững của cuộc sống đương đại, bảo vệ và phát huy giá trị của di tích là nền tảng, là nguồn động lực cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng
và phát triển đất nước, là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người và của cả cộng đồng
Đề tài: “Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa phục vụ phát triển
du lịch Thủ đô” của tác giả Bùi Thanh Thủy, đã đưa ra những giải pháp cụ thể cũng như những yêu cầu để thực hiện giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa để phục vụ cho phát triển du lịch
Nhìn chung các tác giả đã làm rõ đặc điểm, thực trạng phát triển du lịch cũng như vấn đề bảo tồn di tích lịch sử văn hóa ở các địa phương Tuy nhiên, nói đến phát triển du lịch gắn với bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng của Kiên Giang thì đến nay vẫn chưa có một tài liệu chuyên khảo nào được công bố Các Hội thảo chuyên đề, các bài viết chỉ nêu lên được khái quát tình hình, thực trạng chung trên cả nước, chưa đưa ra được thực trạng cụ thể vấn đề bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa, cũng như các giải pháp để phát triển du lịch tại Kiên Giang Vì thế, vấn đề được đề cập trong đề tài không trùng lặp với tài liệu nào
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phát triển du lịch gắn với việc bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng tỉnh Kiên Giang
Trang 10Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của đề tài: Tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng, thực trạng bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa của Kiên Giang Từ đó, đưa ra các giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn di tích lịch sử và danh thắng Kiên Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch; vấn đề bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng để phát triển du lịch Kiên Giang
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa
và danh thắng tiêu biểu của tỉnh Kiên Giang
- Về thời gian: Các số liệu được sử dụng nghiên cứu từ năm 2008 đến năm
2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu: Tài liệu sơ cấp, tham vấn khách du lịch và cộng đồng địa phương, khảo sát thực tế Tài liệu thứ cấp, các đề tài nghiên cứu, sách báo xuất bản
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp: Tổng hợp các tài liệu của Ngành
du lịch và tài liệu lưu trữ của cơ quan Tỉnh
Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
và danh thắng
7 Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày tổng quan những vấn đề lý luận về phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa Đồng thời, phân tích thực trạng phát triển du lịch gắn với bảo
Trang 11tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng của tỉnh Kiên Giang; khẳng định vai trò, tầm quan trọng của di tích lịch sử văn hóa trong đời sống và phát triển du lịch Bên cạnh đó, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần triển du lịch gắn với bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng của Kiên Giang
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA
1.1.2 Quan niệm về văn hóa
Các chuyên gia nghiên cứu trong các lĩnh vực, cũng như các tổ chức đã đưa ra khoảng trên 200 khái niệm khác nhau về văn hóa; mỗi khái niệm thể hiện cách nhìn nhận và góc độ đánh giá khác nhau Có thể khái quát một số khái niệm như sau: Edward Burnett Tylor (1832-1917) đưa ra khái niệm: “Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến trúc, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”
Theo các tác giả của bộ Từ điển Triết học thì: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa là một hiện tượng xã hội tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đã đạt được: tiến bộ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và lao động, học vấn, giáo dục, khoa học, nghệ thuật và những
tổ chức thích ứng với những cái đó”
Tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô (1982), UNESCO đã đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy
Trang 13xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa
mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” Trong nước, các nhà nghiên cứu về văn hóa cũng có những nhìn nhận khác nhau về văn hóa:
Theo Nguyễn Từ Chi thì văn hóa là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa”
Theo PGS.TS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [48, tr10] Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa” [30]
Nhìn chung, các khái niệm trên đều có cùng đặc điểm: văn hóa là những gì do con người sáng tạo và thuộc về con người Những gì không do con người làm nên không phải là văn hóa Vì vậy, văn hóa là đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên
1.1.3 Quan niệm về di sản văn hóa
Di sản được hiểu là những tài sản chúng ta kế thừa từ các thế hệ trước, bao gồm toàn bộ môi trường thiên nhiên và văn hóa: cảnh quan, các di tích lịch sử, tập tục truyền thống, tri thức và kinh nghiệm sống v.v Chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn và phát huy, bởi đó là những tài sản quý báu, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển xã hội hiện tại và tương lai Điều này được khẳng định trong Luật di sản văn hóa năm 2001(Được sửa đổi, bổ sung năm 2009) của nước CHXHCN Việt Nam:
Trang 14“Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và
là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”
Theo quan niệm của UNESCO có 2 loại di sản văn hóa:
Một là, những di sản văn hóa hữu thể (Tangible) như đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ nhà sàn…
Hai là, những di sản văn hóa vô hình (Intangible) bao gồm các biểu hiện tượng trưng và “không sờ thấy được” của văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo, “trùng tu” của cộng đồng rộng rãi… Những di sản văn hóa tạm gọi là vô hình này theo UNESCO bao gồm cả âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư thế (thư thái), nghi thức, phong tục, tập quán, y dược cổ truyền, việc nấu ăn và các món ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống Cái hữu thể và cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau như thân xác và tâm trí con người
Luật di sản văn hóa năm 2001 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2009) của nước CHXHCN Việt Nam, điều 4.1và 4.2:
- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đống; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác
- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Vì thế, Luật di sản văn hóa năm 2001 đã định nghĩa: “Di sản văn hóa bao gồm
di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Trang 151.1.4 Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa
Hiện nay, vấn đề bảo tồn di sản văn hóa được xác định là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội bởi chúng ta đã nhận thức được vai trò và giá trị vô cùng to lớn của nguồn tài nguyên này Ngoài ra, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Trong những năm qua, với sự quan tâm, nổ lực của xã hội, nhiều di tích đã được xếp hạng và trùng tu, sửa chữa, đảm bảo sự tồn tại lâu dài, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiều di tích tiêu biểu đã phát huy giá trị một cách tích cực, thu hút nhiều khách tham quan và mang lại nguồn thu lớn cho đất nước
Nhìn chung, vấn đề bảo tồn di sản văn hóa đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại không ít những di tích đang bị xuống cấp trầm trọng, nhiều di tích tu bổ chưa hoàn chỉnh, cũng như nhiều di tích tôn tạo chưa đạt yêu cầu về chuyên môn Thực tế tồn tại những hạn chế này là do:
- Tuy xã hội có quan tâm đến vấn đề bảo tồn di sản văn hóa nhưng nhận thức chưa được sâu sắc và toàn diện nên chưa được cụ thể hóa bằng các biện pháp, các kế hoạch và chương trình hành động cụ thể; dẫn đến sự lúng túng trong việc làm hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di tích và phát triển kinh tế Có nơi còn thương mại hóa các di tích, xem mục tiêu phát triển kinh tế quan trọng hơn mục tiêu bảo vệ di tích
- Công tác bảo tồn di tích còn thiếu định hướng, chưa có biện pháp chế tài, chính sách khuyến khích kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân… chưa tập trung dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước cũng như biện pháp sử dụng có hiệu quả từ các nguồn đóng góp này
- Nhiều di tích được tu bổ, sửa chữa không theo quy hoạch nên thiếu sự đầu tư đồng bộ cho di tích; kiến trúc di tích không hài hòa với môi trường xung quanh
- Thiếu sự quan tâm, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong việc khai thác và bảo tồn di tích
Trang 16- Thông tin về di tích còn hạn chế; công tác tuyên truyền, giáo dục đào tạo chưa được coi trọng
Do đó, tăng cường công tác quản lý nhà nước và chăm lo đào tạo, xây dựng đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư, nghệ nhân, công nhân… để phục vụ cho việc bảo tồn, trùng tu di tích là vấn đề quan trọng và cấp thiết hiện nay
1.1.5 Các nguyên tắc bảo tồn văn hóa
Căn cứ Luật Di sản Văn hóa năm 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại Điều 34, khoản 1: Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
- Giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích;
- Lập quy hoạch, dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích Đối với
di tích cấp tỉnh, phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch cấp tỉnh; đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt, phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
- Công bố công khai quy hoạch, dự án đã được phê duyệt tại địa phương nơi có
di tích
Do đó, công tác bảo tồn văn hóa (theo tác giả Đặng Văn Bài, trong Báo cáo
Hội thảo khoa học“Bảo tồn di tích và cuộc sống đương đại”) chỉ đạt hiệu quả cao
khi chúng ta tuân thủ theo các nguyên tắc khoa học sau:
- Thứ nhất, đảm bảo tính nguyên gốc, chỉ can thiệp tối thiểu tới di tích nhưng cần thiết lập một cơ chế duy tu, bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ để đảm bảo cho
di tích được ổn định lâu dài
- Thứ hai, di tích có thể sử dụng và phát huy phục vụ nhu cầu xã hội theo những chuẩn mực khoa học đã được xác định Sử dụng và phát huy các mặt giá trị của di tích cũng chính là biện pháp bảo tồn có hiệu quả nhất
Trang 17- Thứ ba, bảo tồn di sản văn hóa phải triển khai song song và phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại, phát triển phải kết hợp với bảo tồn di sản văn hóa
Tính nguyên gốc của di tích được thể hiện qua kiểu dáng, phong cách, nguyên gốc về vật liệu xây dựng, về địa điểm xây dựng cũng như về cảnh quan môi trường Tính nguyên gốc của di tích cũng là nội dung cơ bản tạo nên sự khác biệt giữa thiết
kế xây dựng một công trình mới với thiết kế tu bổ di tích [69]
1.1.6 Bảo tồn văn hóa trong du lịch
Bảo tồn văn hóa trong du lịch là hoạt động mang tính cấp thiết hiện nay, bởi du lịch và di sản văn hóa luôn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau; nếu di sản văn hóa được bảo tồn tốt thì tính hấp dẫn và giá trị của nó sẽ là cơ sở để phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế của quốc gia Vì thế, công tác bảo tồn di sản văn hóa được xác định là trách nhiệm của toàn xã hội
1.1.6.1 Nội dung bảo tồn
Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động đặc trưng của con người để nhằm đảm bảo
sự tồn tại lâu dài, ổn định duy trì tính xác thực của các quá trình phát triển và đa dạng của di sản văn hóa nhằm phát triển bền vững cho thế hệ hiện tại và tương lai [58, tr.84]
Từ khái niệm trên, ta thấy hoạt động bảo tồn bao gồm:
* Bảo vệ là hoạt động đảm bảo cho di sản không bị xâm phạm hoặc hư hỏng,
là việc áp dụng các biện pháp để gìn giữ di sản không bị hư hỏng, không bị phá hoại (do cháy, ngập nước…) hoặc bị xâm phạm trái phép Bảo vệ là sự gìn giữ di sản bằng pháp luật
- Tu bổ là hoạt động nhằm chống sự biến dạng di sản, khắc phục hư hỏng di sản bằng các biện pháp sửa chữa (tu sửa) về kỹ thuật (chắp, vá, nối, gia cố, định hình… gia cố, tôn tạo di tích bằng các biện pháp)
- Tu sửa cấp thiết di tích là hoạt động sửa chữa nhỏ nhằm gia cố, gia cường các
bộ phận di tích để kịp thời ngăn chặn di tích khỏi bị sập đổ trước khi tiến hành công tác tu bổ toàn diện
Trang 18* Bảo tồn là những nổ lực nhằm tìm hiểu và nhận rõ được giá trị và ý nghĩa của di sản, đảm bảo gìn giữ các vật liệu gốc, có thể cải tạo và nâng cấp cần thiết
* Phục chế - Trùng tu là sự tái lập lại hình thức của di sản (với chi tiết về nguyên liệu tạo tác, kỹ thuật chế tác cũng như những đặc điểm di sản) một cách chuẩn xác như đã sẵn có trong một thời điểm xác định, bằng cách loại bỏ những chỗ thay đổi không phù hợp hoặc bổ sung những bộ phận bị mất, tùy theo mức độ cần có
sự phân biệt giữa bộ phận và phục chế toàn phần
* Tôn tạo trong nghĩa thông thường là đổi mới, sự cách tân, sự canh tân, sự làm mới Đối với di sản là việc bổ sung các thành phần mới nhằm phát huy giá trị di sản và đáp ứng nhu cầu đổi mới của thời đại, các thành phần tôn tạo là biểu hiện của thời hiện tại, nhưng nó phải phù hợp một cách hữu cơ với các thành phần cũ và cấu trúc chung của di tích Khái niệm này giúp cho việc diễn giải các di sản một cách hoàn chỉnh nhất là khi những di sản ấy chỉ còn sót lại một phần hay một bộ phận Cụ thể là đưa những công trình lịch sử, văn hóa và những công trình phụ cận trở lại với đời sống
* Tái thiết là việc dựng lại di sản bằng các vật liệu, chất liệu cũ, theo hình thể nguyên gốc, thường được áp dụng để có thông tin cụ thể về sự toàn vẹn của tổng thể
di sản và phải được tuân thủ theo nguyên tắc xác thực
Để công tác bảo tồn đạt hiệu quả và đúng quy chế, chúng ta cần đảm bảo các nội dung sau:
- Xây dựng dự án bảo tồn di tích, đây là bước quan trọng cần được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn có uy tín và kinh nghiệm thực tế làm tư vấn
- Khảo sát thực tế nhằm thu thập các tư liệu, giá trị và hiện trạng của di tích; đây là công việc có ý nghĩa quan trọng để thiết kế và thi công tu bổ di tích
- Căn cứ vào hiện trạng di tích, tư liệu lịch sử thu thập được; tiến hành xây dựng bản vẽ tu bổ, phục hồi đảm bảo trung thực các yếu tố nguyên gốc ban đầu theo nguyên tắc bảo tồn và quy chế tu bổ di tích.[58]
1.1.6.2 Đối tượng bảo tồn
Đối tượng được bảo tồn là di sản văn hóa, bao gồm:
Trang 19- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích LSVH, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
- Di tích LSVH là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
- Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học
1.1.6.3 Trách nhiệm của cơ quan quản lý
Căn cứ Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, tại chương VII
đã quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý như sau:
* Trách nhiệm của Bộ Văn hóa - Thông tin
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Soạn thảo và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
- Xây dựng, ban hành tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
- Phê duyệt, thẩm định dự án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa theo thẩm quyền;
- Xếp hạng và cấp bằng xếp hạng di tích, hướng dẫn Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh xếp hạng và cấp bằng xếp hạng di tích theo thẩm quyền;
- Xếp hạng bảo tàng, hướng dẫn người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ quản và Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh xếp hạng bảo tàng theo thẩm quyền;
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức và nhân viên làm công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
Trang 20- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
- Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
- Tổ chức công tác thi đua, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về di sản văn hóa; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về di sản văn hóa;
- Thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan về di sản văn hóa
* Trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ VHTT và các bộ, ngành có liên quan xây dựng quy hoạch, kế hoạch, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Tổng hợp và cân đối vốn đầu tư hàng năm cho các dự án bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, bảo tàng quốc gia, di tích lịch sử cách mạng và di sản văn hóa phi vật thể có giá trị tiêu biểu
- Thẩm định các dự án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa theo thẩm quyền
* Trách nhiệm của Bộ Tài chính
- Bộ Tài chính bảo đảm kinh phí thường xuyên cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Kiểm tra việc cấp phát, quản lý và sử dụng kinh phí theo quy định của pháp luật
- Ban hành hoặc phối hợp với Bộ VHTT ban hành các văn bản quy định phí, lệ phí và việc thu nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa theo sự phân cấp của Chính phủ
- Ngăn chặn, xử lý việc xuất khẩu, nhập khẩu trái phép di sản văn hóa
* Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thương mại
Trang 21- Các cơ quan phối hợp với Bộ VHTT và ủy ban nhân dân các cấp giữ gìn an ninh trật tự trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Phối hợp với các bộ, ngành có liên quan và ủy ban nhân dân các cấp ngăn chặn, xử lý việc mua bán, trao đổi, vận chuyển trái phép di sản văn hóa ở trong nước hoặc đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài
* Trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ VHTT tổ chức giáo dục về bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đưa việc tham quan học tập, nghiên cứu di sản văn hóa vào chương trình giáo dục hàng năm của các cấp học, trường học
- Tạo điều kiện để người học đi tham quan thâm nhập thực tế tại các di sản văn hóa
* Trách nhiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ VHTT trong việc lập quy hoạch, kế hoạch về các dự án khoa học bảo vệ môi trường tại các di tích; xây dựng và chỉ đạo thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Phối hợp với các bộ, ngành có liên quan và ủy ban nhân dân các cấp trong việc đầu tư khoa học, công nghệ tiên tiến để bảo vệ môi trường bền vững tại những nơi có di tích
* Trách nhiệm của Bộ Xây dựng
- Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ VHTT và các bộ, ngành có liên quan xây dựng quy hoạch, kế hoạch về xây dựng bảo đảm cho việc duy trì và phát huy giá trị di sản văn hóa; xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, định mức trong bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích
- Phối hợp với Bộ VHTT ban hành văn bản quy định cụ thể việc thẩm định các
dự án về xây dựng, cải tạo các công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích mà
có khả năng ảnh hưởng xấu tới di tích, hoặc các công trình cải tạo, xây dựng trong quá trình xây dựng mà phát hiện có di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Trang 22* Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên
và Môi trường
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ VHTT và các bộ, ngành có liên quan xây dựng quy hoạch, kế hoạch trong việc bảo vệ và phát triển các khu rừng đặc dụng được xếp hạng hoặc sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, hệ thống thủy lợi phù hợp với yêu cầu, duy trì, bảo vệ các di tích theo quy định của pháp luật
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ VHTTvà các bộ, ngành có liên quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong cả nước bảo đảm yêu cầu bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; phối hợp với Bộ VHTT soạn thảo trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định đối với việc xác định địa giới và cắm mốc giới các khu vực bảo vệ di tích; hướng dẫn việc lập và xác nhận vào bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích
* Trách nhiệm của Tổng cục Du lịch
- Tổng cục Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ VHTT, các bộ, ngành có liên quan
và ủy ban nhân dân các cấp trong việc tổ chức khai thác những giá trị của di sản văn hóa phục vụ cho việc phát triển du lịch bền vững Hướng dẫn du khách thực hiện đúng nội quy, quy chế tại các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh
- Phối hợp với Bộ VHTT và ủy ban nhân dân các cấp đầu tư bảo tồn, tôn tạo di tích, làng nghề thủ công, lễ hội truyền thống ở các trung tâm và các tuyến du lịch; giữ gìn, bảo vệ di sản văn hóa trong hoạt động du lịch
1.1.6.4 Trách nhiệm của doanh nghiệp du lịch
Mục đích của doanh nghiệp du lịch là lợi nhuận, vì thế khi kinh doanh họ chỉ quan tâm đến việc khai thác di sản thế nào để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất mà
ít (hoặc không) quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản
Vì thế, để du lịch gắn liền với di sản văn hóa, cũng như đảm bảo các nguyên tắc phát triển du lịch, nhất thiết cần phải có sự kết hợp của các doanh nghiệp du lịch với cơ quan quản lý trong vấn đề bảo tồn văn hóa
Trang 23Để hoạt động bảo tồn văn hóa được diễn ra song song với sự phát triển kinh tế
- xã hội, các doanh nghiệp du lịch phải thực hiện các trách nhiệm:
- Nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; khai thác phát triển du lịch không làm ảnh hưởng đến di sản văn hóa
- Kết hợp với chính quyền và các nhà quản lý trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản phục vụ phát triển du lịch
- Đóng góp nguồn vốn để đầu tư cho công tác bảo tồn di sản
Muốn doanh nghiệp nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình, các nhà quản lý cần phải đưa ra cơ chế cụ thể bắt buộc khi doanh nghiệp làm du lịch ở di sản nào thì phải có trách nhiệm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản đó
1.1.6.5 Trách nhiệm của cộng đồng cư dân và chính quyền địa phương
* Trách nhiệm của cộng đồng cư dân
Bên cạnh trách nhiệm quản lý của nhà nước thì cộng đồng dân cư cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Nếu công tác bảo tồn di tích được thực hiện tốt thì đó là điều kiện để địa phương phát triển du lịch Du lịch địa phương phát triển sẽ trực tiếp tạo việc làm cho người dân địa phương, góp phần cải thiện và nâng cao mức sống cho họ Để duy trì lợi ích đó, đòi hỏi người dân địa phương phải nâng cao hơn nữa vai trò và trách nhiệm của mình trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích Tuy nhiên, nhận thức và sự tham gia của cộng đồng vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản chưa thực sự đồng đều Thực tế cho thấy, người dân địa phương chỉ quan tâm đến việc khai thác và hưởng lợi từ di sản mà không ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với việc bảo vệ di sản là gì?
Để cộng đồng dân cư thực sự gắn bó cùng với các cơ quan quản lý nhà nước tham gia vào việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản, nhất thiết phải đảm bảo lợi ích về kinh tế cho họ, từng bước tuyên truyền, giáo dục để cộng đồng nhận thức rõ trách nhiệm quan trọng của mình:
Trang 24- Luôn nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh của nhân loại nói chung và của địa phương nói riêng
- Nâng cao ý thức tôn trọng Luật di sản văn hóa, đề cao di sản văn hóa dân tộc
- Phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác bảo tồn di sản
- Phát triển du lịch không làm xâm hại đến di sản
- Đóng góp sức người, sức của góp phần bảo tồn di sản văn hóa
- Tôn trọng, giữ gìn di sản mình có dịp tham quan
- Tuyên truyền, vận động mọi người cùng tham gia công tác bảo tồn di sản
* Trách nhiệm của chính quyền địa phương
Căn cứ Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, tại chương VII
đã quy định trách nhiệm của chính quyền địa phương như sau:
- Trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa trong phạm vi địa phương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và di sản văn hoá phi vật thể ở địa phương;
+ Quản lý việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức chỉ đạo, cấp giấy phép cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phạm vi địa phương theo thẩm quyền;
+ Quyết định thành lập và xếp hạng bảo tàng theo thẩm quyền;
+ Phê duyệt các dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức kiểm kê, đăng ký di tích; quyết định xếp hạng và hủy bỏ xếp hạng
di tích cấp tỉnh; lập hồ sơ khoa học trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin quyết định xếp hạng di tích quốc gia; chỉ đạo việc tổ chức lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể ở địa phương;
Trang 25+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về di sản văn hóa; giải quyết khiếu nại, tố cáo; khen thưởng và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa;
+ Thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan về di sản văn hóa
- Trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp huyện
Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi địa phương; tổ chức ngăn chặn, bảo vệ, xử lý vi phạm; đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xếp hạng và xây dựng kế hoạch bảo vệ, bảo quản, tu bổ và phát huy giá trị di tích
- Trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp xã
+ Tổ chức bảo vệ, bảo quản cấp thiết di sản văn hóa
+ Tiếp nhận những khai báo về di sản văn hóa để chuyển lên cơ quan cấp trên + Kiến nghị việc xếp hạng di tích
+ Phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời mọi hành vi làm ảnh hưởng tới sự an toàn của di sản văn hóa
+ Ngăn chặn và xử lý các hoạt động mê tín dị đoan theo thẩm quyền
Trong hoạt động du lịch, các chủ thể tham gia bảo tồn di tích gồm: doanh nghiệp du lịch, du khách và cư dân địa phương Do đó, ngoài trách nhiệm của doanh nghiệp du lịch và cư dân địa phương được nêu trên thì du khách trong thời gian ở điểm du lịch cũng thực hiện trách nhiệm của mình nhằm góp phần bảo tồn di tích, duy trì và nâng cao chất lượng du lịch: không vứt rác, các chất thải, không xâm hại đến tài nguyên du lịch…
1.2 Tác động của du lịch tới các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng trong du lịch
1.2.1 Những tác động tích cực của du lịch đối với các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng trong du lịch
Trang 26Tại một vùng, địa phương khi du lịch phát triển sẽ có những tác động tích cực đối với các di tích lịch sử và danh thắng của vùng, địa phương đó
Du lịch góp phần tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống cho một bộ phận dân
cư Bên cạnh đó, du lịch phát triển là nguyên nhân thúc đẩy các hoạt động bảo tồn
và tôn tạo di tích, phát huy giá trị các di tích nhằm khai thác phục vụ du lịch
Khi người dân ý thức được lợi ích kinh tế từ hoạt động du lịch, họ sẽ tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động bảo tồn di tích Đây là nguồn lực quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy giá trị của di sản
Đặc biệt, nguồn thu từ các hoạt động du lịch được sử dụng cho công tác tu bổ, khôi phục các di tích Từ đó cho thấy, du lịch và di sản văn hóa luôn có sự gắn kết,
hỗ trợ nhau phát triển; khi du lịch phát triển, các điểm đến sẽ có thêm nguồn thu để đầu tư trở lại cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản
1.2.2 Những tác động tiêu cực của du lịch đối với các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng trong du lịch
Bên cạnh những tác động tích cực của du lịch đối với các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng không thể không đề cập đến những tác động tiêu cực mà hoạt động du lịch đã và đang mang lại cho các đối tượng này:
- Thương mại hóa hoạt động du lịch làm biến dạng các di sản Thay đổi nét văn hóa cổ truyền của dân cư, tác động đến giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng Trong quá trình phát triển du lịch, nhiều phong tục tập quán, các lễ hội, nghề
truyền thống bị thương mại hóa nhằm đáp ứng thị hiếu của du khách do đó dẫn đến
mất hết những đặc trưng của văn hóa địa phương
- Những tệ nạn xã hội theo dòng khách du lịch và người lao động du nhập vào địa phương gia tăng làm ảnh hưởng đến đời sống văn hóa truyền thống của người dân (trộm cắp, buôn bán hàng quốc cấm, ăn xin, đeo bám…)
- Ô nhiễm môi trường, xuống cấp giá trị tài nguyên Nước thải sinh hoạt của du khách, nước thải, khí thải từ các cơ sở dịch vụ du lịch, phương tiện vận chuyển du lịch… gây ra những áp lực lên môi trường (ví dụ như ở Hạ Long, khu vực Đại nội Huế, phố cổ Hội An vào những mùa cao điểm, mùa hè nóng nực…)[79]
Trang 271.2.3 Những yêu cầu cấp bách của việc bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng
Hiện nay, du lịch di sản đã và đang trở thành đặc trưng và lợi thế phát triển của ngành du lịch Việt Nam Bảo tồn không phải là lưu giữ hiện vật, di sản trong lồng kính khiến di sản của cha ông, nhân loại, thiên nhiên, trở nên xa lạ với cuộc sống hiện đại, mà cần phải đưa di sản vào cuộc sống, phát huy được giá trị thẩm mỹ, văn hóa, lịch sử…của di sản cho hiện tại và tương lai
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác hợp lý các di sản văn hóa, chúng ta cần phải thực hiện một số yêu cầu sau:
- Hoàn chỉnh cơ chế đề cao trách nhiệm trong công tác quản lý di sản văn hóa của cơ quan quản lý nhà nước các cấp Xác định các tiêu chí cụ thể để phân cấp quản lý, tránh chồng chéo, trùng lắp
- Tuyên truyền giáo dục Luật Di sản văn hóa và Nghị định của Chính phủ về bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa để Luật này đi vào quần chúng nhân dân, làm cho mọi người dân trong xã hội có điều kiện hiểu biết và thực hiện
- Tăng cường hoạt động tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến các loại di sản văn hóa nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Điều 17 chương III Luật Di sản văn hóa có ghi: “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hoá phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” Và Điều 7, Chương II, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11-11-2002 của Chính phủ quy định chi tiết về việc thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa: “Tăng cường việc truyền dạy, phổ biến, xuất bản, trình diễn và phục dựng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể”
- Đầu tư hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa, đấu tranh ngăn chặn nguy cơ làm mai một hoặc thất truyền di sản văn hóa Điều 20, Chương III, Luật Di sản văn hóa có ghi: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể,
Trang 28ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền” Điều 7, Chương II, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11-11-2002 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa: “đầu tư và hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể; ngăn chặn nguy
cơ làm mai một, thất truyền di sản văn hóa phi vật thể”
- Mở rộng mô hình xã hội hóa hoạt động bảo tồn, tôn tạo di sản văn hóa để huy động mọi nguồn lực từ người dân trong nước và nước ngoài, để họ có thể tham gia vào công tác này dưới nhiều hình thức khác nhau
- Khuyến khích các hoạt động lưu giữ các di sản văn hóa để lưu truyền và giao lưu với văn hóa nước ngoài
- Nâng cao ý thức tôn trọng Luật Di sản và thực hiện Luật Di sản của mọi người dân, xây dựng thói quen, nếp sống trân trọng và đề cao di sản văn hóa dân tộc [79]
1.3 Những bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước
1.3.1 Những bài học kinh nghiệm trong nước
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay đã trở thành vấn đề cấp
bách đối với nhiều tỉnh thành trên cả nước; trong đó Thừa Thiên-Huế là tỉnh được đánh giá cao về hiệu quả cũng như những nổ lực trong việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa Với những chính sách và hoạt động thiết thực: đưa giáo dục bảo tồn di sản vào trường học, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về di tích, các hoạt động tuyên truyền, đào tạo nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng…, nhằm thu hút sự tham gia của các thành phần, đối tượng vào việc bảo tồn di sản Trải qua nhiều nỗ lực, hiện nay các di tích của cố đô đã dần được hồi phục và đặc biệt là vẫn giữ được tính nguyên gốc của nó; điều này cho thấy trong hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích các chủ thể đã đảm bảo các nguyên tắc khoa học về bảo tồn của Luật di sản, được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá cao Những thành tựu của Huế
đã thu hút được nhiều du khách, doanh thu từ du lịch tăng bình quân 16,6%/năm, góp phần đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thừa Thiên-Huế; nguồn thu
Trang 29từ du lịch đã góp phần quan trọng cho việc tái đầu tư cho hoạt động bảo tồn di sản [82]
Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An là những thành tựu của Quảng Nam trong việc bảo tồn các di sản văn hóa Một trong những yếu tố mang lại thành tựu đó là cơ chế chính sách của chính quyền tỉnh: bảo tồn di sản dựa vào cộng đồng, cư dân địa phương; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa cộng đồng và du khách bằng việc đặt ra những lợi ích mà họ nhận được từ hoạt động khai thác và bảo tồn di sản trong hoạt động du lịch Với thành tựu này, Quảng Nam đã đón trên 2,8 triệu lượt khách du lịch vào năm 2012, tăng 10,7% so với năm 2011 và thu nhập từ du lịch đạt trên 3,5 nghìn tỷ đồng [75]
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm ngoài nước
Với nhiều quốc gia trên thế giới, hoạt động bảo tồn di sản được xem là một quá trình lâu dài và thực hiện rất nghiêm túc; kinh nghiệm từ các nước cho thấy, muốn bảo tồn và phát huy giá trị di sản có hiệu quả cần phải có một chiến lược cụ thể:
Tại Hàn Quốc, để hai làng cổ Yangdong và Hahoe được UNESCO công nhận
là di sản văn hóa vào năm 2010, người dân và chính quyền địa phương đã có rất nhiều cố gắng trong việc thực hiện các chính sách bảo tồn làng cổ trung và dài hạn, triển khai các dự án trùng tu liên tục Chính phủ Hàn Quốc luôn vạch ra các định hướng tương lai cho di sản: tổ chức nhiều hội thảo, đào tạo nhiều chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn…, đảm bảo cho việc bảo tồn các di sản trong tương lai
Nhật Bản là quốc gia có nhiều thành tựu trong vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị
di sản; hiện Nhật Bản có hơn 100 địa danh đã được công nhận là khu di tích cổ quan trọng, là những điểm du lịch nổi tiếng Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, công tác bảo tồn di sản thật sự là mối quan tâm của cả chính quyền và người dân địa phương; khi xác định đối tượng bảo tồn, Chính phủ sẽ hỗ trợ cho việc khảo sát, nghiên cứu
và lập phương án để trùng tu, bảo tồn di sản Trong các hoạt động đó, ý kiến của người dân có tầm quan trọng đặc biệt và sự đồng thuận của họ là yếu tố quyết định chất lượng bảo tồn trong tương lai
Trang 30Các nước Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia và Myanmar cũng cho chúng ta những bài học kinh nghiệm đáng quý từ việc bảo tồn di sản: không tách rời di sản với người dân, phải tạo những điều kiện cần thiết để người dân tham gia quản lý, khai thác di sản, cải thiện đời sống của mình để người dân không quay lưng lại với
di sản Điều đó không chỉ giúp cho di sản được bảo vệ nguyên vẹn mà lối sống truyền thống của người dân cũng sẽ được duy trì [80]
Tiểu kết chương 1
Hiện nay, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa được xác định là nhiệm
vụ quan trọng và cấp bách của toàn xã hội Bởi, di sản văn hóa không chỉ là nguồn tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam mà còn là nguồn tài nguyên quan trọng cho phát triển du lịch
Vì thế, khai thác giá trị các di sản văn hóa để phục vụ phát triển du lịch và phát triển du lịch để bảo tồn các di sản văn hóa là hai hoạt động luôn gắn kết với nhau Để đảm bảo cho hai hoạt động này được diễn ra song song, yêu cầu khi bảo tồn các di tích phải tuân thủ theo các nguyên tắc đã đề ra; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa bảo tồn và phát triển kinh tế; thúc đẩy sự tham gia của các thành phần xã hội, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, cộng đồng địa phương vào công tác bảo tồn di tích Bên cạnh đó, không ngừng nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo tồn và đề cao di sản văn hóa; thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình trong việc bảo vệ và giữ gìn tài sản quý báu của dân tộc
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI TÍCH
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ DANH THẮNG Ở KIÊN GIANG
2.1 Các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng tiêu biểu của Kiên Giang
2.1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở phía Tây Nam Tổ quốc Thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây nhiều cảnh quan kỳ thú với những hang động huyền ảo, bãi biển hiền hòa, thơ mộng, đồng ruộng, rừng cây bát ngát Thêm vào đó, con người đã tô điểm cho vùng đất này bằng những trang sử hào hùng Thành phố Rạch Giá là trung tâm hành chính của tỉnh Kiên Giang, có bờ biển dài 7km, giao thông thủy, bộ và hàng không thuận tiện Rạch Giá có kết cấu hạ tầng tốt, nhiều di tích lịch sử văn hóa, là điểm dừng chân để đi tiếp đến Hà Tiên, Phú Quốc
và các vùng khác trong tỉnh
Nếu so với các tỉnh ĐBSCL thì Kiên Giang có nhiều tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch, vì tạo hóa đã ban tặng cho Kiên Giang - vùng đất nơi cuối trời phía Tây Nam của Tổ quốc Việt Nam - nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng đã được
du khách trong và ngoài nước biết đến đó là thập cảnh Hà Tiên và đảo ngọc Phú Quốc
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Vị trí địa lý
Kiên Giang là dải đất tận cùng phía Tây Nam của Việt Nam Lãnh thổ bao gồm hai khu vực: đất liền và hải đảo Phần đất liền có diện tích 5.638 km2 nằm trong tọa độ từ 9023'50'' - 10032'30'' vĩ Bắc và từ 104026'40'' - 105032'40'' kinh Đông Phía Bắc giáp Campuchia, đường biên giới dài 56,6 km, phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, phía Tây giáp vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 200 km, phía Đông lần lượt tiếp giáp tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang Phần hải đảo có diện tích khoảng 700 km2 , nằm trong vịnh Thái Lan bao gồm hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ, lớn nhất là đảo Phú Quốc, tập trung thành 5 quần đảo: quần đảo
Trang 32Hải tặc, quần đảo Bà Lụa, quần đảo An Thới, quần đảo Nam Du và quần đảo Thổ Chu Điểm cực Bắc của tỉnh là xã Tân Khánh Hòa, huyện Kiên Lương Điểm cực Nam nằm ở xã Vinh Phong, huyện Vĩnh Thuận Điểm cực Tây tại xã Mỹ Đức, thị
xã Hà Tiên Điểm cực Đông nằm ở xã Hòa Lợi, huyện Giồng Riềng
Tuy Kiên Giang nằm ở tận cùng phía Tây Nam của đất nước, cách xa các trung tâm kinh tế lớn nhưng lại rất gần các nước trong khu vực Tỉnh có đường biên giới trên bộ với Campuchia, có cửa ngõ ra biển Đông thông qua vịnh Thái Lan; có sân bay ở Rạch Giá và Phú Quốc Đây là những điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực, là cửa ngõ thông thương với các nước bên ngoài của vùng ĐBSCL
2.1.2.2 Điều kiện tự nhiên
- Về địa hình: Kiên Giang là một tỉnh đặc thù của vùng ĐBSCL có cả đồng
bằng, rừng núi, bờ biển và hải đảo Địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ thay đổi
từ 0,2-1,2m Kiên Giang có bờ biển dài gần 200km, có nhiều bãi biển thoai thoải, nước biển trong, độ mặn cao có thể tổ chức các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, mạo
hiểm, sinh thái biển…
Địa hình đồi núi thấp
Vùng đồi núi thấp tập trung ở huyện Hòn Đất, huyện Kiên Lương và thị xã Hà Tiên, độ cao trung bình dưới 200 m Xét về cấu tạo địa chất, có thể chia thành ba loại:
- Núi đá granít: núi Hòn Đất, núi Hòn Me, núi Hòn Sóc
- Núi đá vôi: núi Chùa Hang, núi Bình Trị, núi Hang Tiền, núi Khoe Lá, núi Ngang, núi Trà Đuốc, núi Mây, núi Mo So
- Núi đá phiến xen núi đá mac-ma phun trào: núi Bãi Ớt, núi Ông Cọp, núi Xoa Ảo, núi Nhọn, núi Tô Châu, núi Bình San, núi Pháo Đài, núi Đá Dựng
Địa hình đồng bằng
Vùng đồng bằng tập trung ở các huyện phía Nam của tỉnh như: huyện Tân Hiệp, huyện Châu Thành, huyện Giồng Riềng, huyện Gò Quao, huyện An Biên, huyện An Minh, huyện Vĩnh Thuận, huyện U Minh Thượng… do phù sa sông hậu
Trang 33bồi đắp, độ cao trung bình 0,2 - 0,4 m so với mặt biển, có nhiều kênh rạch và sông ngòi chảy qua Khu vực này chịu nhiều ảnh hưởng của chế độ thủy triều biển Tây, nên thường xảy ra ngập úng vào mùa mưa và nhiễm mặn vào mùa khô, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân địa phương
- Về khí hậu: Do nằm ở vĩ độ thấp và giáp biển nên Kiên Giang có khí hậu
nhiệt đới đại dương, đặc điểm chung là nóng ẩm và mưa nhiều theo mùa Tổng lượng bức xạ trong năm từ 120 - 130 kcal/cm2 Nhiệt độ trung bình từ 27-27,50C Biên độ nhiệt trong năm khá nhỏ, dao động từ 1 - 30
C Biên độ nhiệt trong ngày khá lớn, từ 7 - 100C Số giờ nắng trung bình khoảng 2.500 giờ/năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình ở đất liền từ 1.600 - 2.000 mm/năm, ở hải đảo từ 2.400 - 2.900 mm/năm, riêng đảo Phú Quốc là 2.900 mm/năm Có đến 60% lượng mưa trong năm tập trung từ tháng 7 - 10 Đỉnh của mùa mưa là vào tháng 8, lượng mưa trong tháng này có thể đạt từ 300 - 500 mm Nhìn chung, khí hậu ở Kiên Giang khá thuận lợi: ít thiên tai, không có bão đổ bộ trực tiếp, không giá rét, ánh sáng và nhiệt độ dồi dào thuận lợi
cơ bản để tổ chức các loại hình du lịch
- Thủy văn: Ba con sông lớn chảy trên địa bàn tỉnh Kiên Giang là: sông Cái
Lớn, sông Cái Bé và sông Giang Thành Ngoài ra, còn có hệ thống kênh rạch như: kênh Vĩnh Tế, kênh Hà Tiên - Rạch Giá, kênh Cái Sắn, kênh Rạch Giá - Long Xuyên, kênh T3, kênh T4, kênh T5 có ý nghĩa rất quan trọng về giao thông, thủy lợi, thủy sản và phát triển du lịch
Chế độ thuỷ văn của tỉnh chịu tác động của hệ thống sông Cửu Long, mưa và thủy triều Mùa lũ thường xuất hiện từ tháng 7 - 11 hàng năm Tháng 10 là thời điểm lũ ngập sâu nhất Mùa cạn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau Thời gian này, dòng chảy từ thượng nguồn về giảm mạnh, nước biển tiến sâu vào gây ngập mặn nhiều nơi với độ mặn lên đến 5 g/l
- Sinh vật: Kiên Giang là một trong 4 tỉnh của vùng ĐBSCL có diện tích rừng lớn
nhất, song diện tích rừng gần đây đang bị giảm đi đáng kể Tổng diện tích rừng hiện
có là 106.085 ha, chiếm 16,72% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Động vật rừng có trên
Trang 34140 loài gồm các loại thú, chim, bò sát, ếch, nhái Thú lớn ít chỉ có nai cầy, khỉ vàng,
vượn tay trắng, sóc chân vàng, cá sấu nước ngọt… [63]
2.1.3 Điều kiện xã hội
Kiên Giang nằm tận cùng về phía tây nam của Việt Nam, nơi giao thoa văn hóa của nhiều vùng miền cả nước, bản sắc văn hóa tỉnh nhà cũng vì thế mà rất phong phú, đa dạng, thể hiện qua các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, ẩm thực, lễ hội, làng nghề truyền thống Văn hóa ẩm thực ở đây cũng rất phong phú, đa dạng với hàng trăm món ăn các loại với các đặc sản như Cá nhồng, nước mắm Phú Quốc, Cháo môn, Sò huyết Hà Tiên, bún cá Kiên Giang…
Hằng năm trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều lễ hội nhưng đặc sắc nhất là lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực diễn ra vào tháng tháng Tám âm lịch thu hút hàng ngàn lượt khách trong và ngoài tỉnh đến tham gia các làng nghề truyền thống rất đặc sắc như đan đệm bàng, dệt chiếu Tà Niên, nắn nồi Hòn Đất, làm hàng thủ công mỹ nghệ bằng đồi mồi, làm huyền phách ở Hà Tiên…
Các cơ sở văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình
Theo báo cáo của Sở VHTT&DL, tính đến nay toàn tỉnh đã có 14 nhà văn hóa nhưng chỉ mới có 8/15 huyện có trung tâm văn hóa thông tin, 1 đơn vị chiếu phim,
2 đơn vị nghệ thuật và 14 thư viện với 82.000 quyển sách phục vụ trên 20.000 lượt người Tuy nhiên, cơ sở vật chất đã cũ kỹ và lạc hậu chưa đáp ứng đủ nhu cầu thông tin và vui chơi giải trí của người dân trong tỉnh
Đài phát thanh truyền hình tỉnh Kiên Giang được thành lập từ 02/9/1977, có trụ sở đặt tại số 39 đường Đống Đa – thành phố Rạch Giá - tỉnh Kiên Giang với thời lượng phát thanh địa phương 390 phút/ngày và truyền hình địa phương 480 phút/ngày, tiếp sóng chương trình phát thanh và truyền hình quốc gia 240 phút/ngày Tuy được thành lập hơn 20 năm nhưng đài phát thanh truyền hình của tỉnh vẫn còn yếu kém và phát triển chậm so với một số đài truyền hình khác trong khu vực, vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thông tin nghe nhìn của người dân trong tỉnh và chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của tỉnh
Y tế
Trang 35Hệ thống y tế của tỉnh Kiên Giang đã và đang được hình thành khá hoàn chỉnh
từ cấp tính đấn cấp huyện Toàn tỉnh hiện có 15 bệnh viện đa khoa, 16 phòng khám
đa khoa khu vực, 1 bệnh viện y học dân tộc, 1 trung tâm phòng chống bệnh xã hội
và 126 trạm y tế xã, phường Trong năm 2008, tỉnh đã có thêm 15 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trạm y tế đạt chuẩn quốc gia lên 106 trạm, chiếm 74,64% Ngoài ra, tại các trung tâm thành phố và huyện thị còn có các phoàng mạch
tư, hiệu thuốc và các đại lý thuốc tân dược,… đã góp phần đáng kể vào việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của người dân Tổng số giường bệnh trên toàn tỉnh là 3.665 giường, trong đó có 2.780 giường bệnh của bệnh viện đa khoa, 255 giường bệnh của phòng khám khu vực và 630 giường bệnh của các trạm y tế xã phường
Với tổng số 3.174 cán bộ y tế, trong đó ngành y có 2.785 cán bộ, ngành dược
365 cán bộ và 24 cán bộ đông y Nhìn chung, ngành y tế của tỉnh đã được phủ khá kín và hoàn thiện với các cơ sở y tế và các chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe như: 4,1 bác
sĩ bình quân 1 vạn dân; 21,2 giường bệnh bình quân 1 vạn dân; tỷ lệ trạm y tế xã, phường, thị trấn có bác sĩ chiếm 67,27%
Giáo dục đào tạo
Tỉnh Kiên Giang hiện có 5 trường cao đẳng và 1 trường cao đẳng nghề; 8 trung tâm dạy nghềđang hoạt động, đào tạo nhiều ngành nghề Bình quân hàng năm,
hệ thống đào tạo nghề của tỉnh đáp ứng nhu cầu học nghề cho khoảng 24.000 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 6,06% năm 2001 lên 15,4% năm 2008 Dự kiến đến năm 2015, sẽ đáp ứng nhu cầu học nghề cho khoảng 401.837 người, nâng
tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 40,7%
Tôn giáo - dân tộc
Kiên Giang là địa bàn cư trú của trên 15 dân tộc Trong đó, người Kinh chiếm khoảng 85,5%, người Khmer chiếm khoảng 12,2%, người Hoa chiếm khoảng 2,2% dân số của tỉnh, sinh sống ở khắp các huyện thị trong tỉnh Còn lại là một số dân tộc khác như: Chăm, Tày, Mường, Nùng
Về tôn giáo, theo kết quả khảo sát số liệu các tôn giáo năm 2010 địa bàn tỉnh Kiên Giang của Ban tôn giáo tỉnh, đến cuối năm 2010, tỉnh Kiên Giang có 12 tôn
Trang 36giáo, với 26 tổ chức tôn giáo và 342 tổ chức tôn giáo cơ sở, với 377 cơ sở thờ tự; 57
cơ sở từ thiện nhân đạo; tổng số tín đồ 492.131 người, chiếm 29,24% dân số của
tỉnh [62]
2.1.4 Các di tích lịch sử văn hóa
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Kiên Giang có rất nhiều di tích có giá trị, hàng trăm
di tích đã được kiểm kê, 43 di tích đã được xếp hạng trong đó có 22 di tích cấp Quốc gia, 21 di tích cấp tỉnh và còn nhiều di tích có giá trị khác đang chuẩn bị đề nghị xếp hạng Các di tích được phân bố ở hầu hết các địa phương trong tỉnh; các loại hình của di tích khá phong phú như: di tích lịch sử - văn hóa, di tích khảo cổ học, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích danh lam thắng cảnh
2.1.4.1 DTLS Đình Nguyễn Trung Trực
Di tích LSVH đình Nguyễn Trung Trực tọa lạc ở đường Nguyễn Công Trứ, phường Vĩnh Thanh, TP Rạch Giá, được Bộ VH xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia tại QĐ số 191-VH/QĐ, ngày 22/3/1988 Ban đầu, đây là ngôi miếu nhỏ bằng cây lá, thờ Cá Ông do ngư dân Kiên Giang lập nên Sau khi Nguyễn Trung Trực thụ
án tử hình, người dân đã bí mật lập bài vị thờ ông tại đây và tôn vinh ông là vị thần Đình Nguyễn Trung Trực ở TP Rạch Giá đã được trùng tu nhiều lần Năm
1964, đình được xây dựng lại khang trang theo kiểu chữ Tam gồm: Chánh điện, Đông lang và Tây lang Trong chánh điện có nhiều bài vị nhưng có ba ngai thờ chính là AHDT Nguyễn Trung Trực, Phó lãnh binh Lâm Quang Ky và thần Nam Hải Đại Tướng quân Trước cửa đình là một khoảng sân khá rộng gồm có mộ cụ Nguyễn, một hòn non bộ bên gốc đa cổ thụ tỏa bóng xum xuê Hai bên hông đình là Đông lang và Tây lang – nơi làm việc của Ban Bảo vệ di tích và phòng mạch thuốc Nam miễn phí Kế đó là Phòng trưng bày giới thiệu những hình ảnh, tài liệu, hiện vật về than thế, sự nghiệp của AHDT Nguyễn Trung Trực
2.1.4.2 DTLS Chùa Tam Bảo
Tam Bảo là một ngôi chùa nổi tiếng ở tỉnh Kiên Giang, tọa lạc trên đường Sư Thiện Ân, thuộc phường Vĩnh Bảo, TP Rạch Giá Chùa được bà Hoặng – một người phụ nữ giàu có xây dựng vào năm 1802 để tu hành
Trang 37Hiện nay, chùa còn là một địa chỉ từ thiện mỗi năm khám và chữa bệnh miễn phí cho hàng ngàn người bệnh nghèo Chính vì vậy mà hàng ngày, chùa thu hút nhiều phật tử về hành lễ và cả khách du lịch đến tham quan Chùa được Bộ VH công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia theo QĐ số 191-VH/QĐ, ngày 22/3/1988
2.1.4.3 Di tích lịch sử và thắng cảnh Ba Hòn (Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Quéo)
Hòn Quéo, Hòn Me và Hòn Đất nằm trên địa bàn xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang Ba Hòn là nơi phong cảnh hữu tình nhưng đây cũng là chiến trường ác liệt một thời, từng in dấu chân người chiến sĩ cách mạng trong quá trình đánh giặc cứu nước Đây cũng là chứng tích lịch sử trong cuộc kháng chiến lâu dài
và oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta Du khách đi theo quốc lộ 80 hướng Rạch Giá – Hà Tiên khoảng 30 km, rẽ trái là tới di tích
Di tích Hòn Me, Hòn Đất, Hòn Quéo là chứng tích lịch sử trong cuộc kháng chiến lâu dài và oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc ta đã được Bộ VH công nhận là di tích lịch sử và thắng cảnh Quốc gia năm 1989, tại QĐ số 1570-VH/QĐ, ngày 05/9/1989
2.1.4.4 Địa điểm lịch sử Tháp Cù Là
Tháp Cù Là (Tháp Bốn sư liệt sĩ) tọa lạc ở Thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, được Bộ VHTT công nhận là di tích cấp Quốc gia vào ngày 28/9/1990, theo Quyết định số 993
Hàng năm, đồng bào phật tử, sư sãi Khmer trong tỉnh tổ chức lễ tưởng niệm ngày hy sinh của bốn vị sư vào hai ngày 10 và 11/6 dương lịch Hiện nay, tháp đang được đầu tư xây dựng trùng tu lại và xây dựng thêm một số công trình phụ trợ khác
2.1.4.5 Di tích lịch sử căn cứ U Minh Thượng
Di tích lịch sử cách mạng U Minh Thượng nằm trải dài trên địa phận các huyện U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, An Minh, An Biên (thuộc vùng bán đảo Cà Mau) Đây là một trong những căn cứ địa lớn nhất của miền Nam, có giá trị truyền thống cách mạng; đồng thời là một danh thắng mà thiên nhiên ban tặng cho Kiên Giang, nằm trong khu vực rừng nguyên sinh có những loài động – thực vật quý hiếm
Trang 38Ngày 28/6/1997, Bộ VHTT có QĐ số 1768-QĐ/VH công nhận U Minh Thượng là di tích lịch sử cấp Quốc gia Hiện nay, phòng khai thác du lịch Vườn quốc gia U Minh Thượng đã xây dựng những đoạn cây cầu bằng tràm cho du khách tham quan những khu rừng tràm hơn 30 năm tuổi – nơi ngày xưa có các cơ quan Khu ủy, Tỉnh ủy Rạch Giá đóng Tuy nhiên, đây mới chỉ làm được công việc đưa
du khách đến xem rừng U Minh Thượng và câu cá giải trí Còn việc tái tạo hình ảnh, phục dựng căn cứ cách mạng điển hình của miền Tây Nam bộ tại U Minh Thượng trong kháng chiến đang được tiến hành và sẽ hoàn chỉnh dần Vùng đất giàu có này luôn mời gọi du khách đến tham quan Rừng quốc gia U Minh Thượng cùng với các
di tích lịch sử được bảo tồn sẽ góp phần vào việc nghiên cứu khoa học và giáo dục truyền thống cũng như đóng góp vào phát triển ngành kinh tế du lịch Kiên Giang
Kể từ năm 2006, Vườn quốc gia U Minh Thượng đã mở cửa đón khách tham quan.[4]
2.1.4.6 Di tích lịch sử văn hóa Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương
Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương tọa lạc tại thị trấn Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp (trước kia thuộc ấp Đông Bình, xã Thạnh Đông B, huyện Tân Hiệp), cách thành phố Rạch Giá khoảng 30 km về phía Đông và cách trung tâm thị trấn khoảng 02 km về phía Nam
Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương ở Tân Hiệp được hình thành từ năm 1957 và tồn tại cho đến ngày nay Từ khi đền thờ được thành lập, nhân dân trong vùng đến viếng rất đông, đặc biệt là vào ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 âm lịch Những năm gần đây, đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương Tân Hiệp được sự quan tâm của các cấp, các ngành và sự đóng góp của nhân dân nên đền đã được lập dự án nâng cấp, mở rộng Lễ hội đền Hùng đã được nâng cấp là lễ hội cấp tỉnh nên bà con trong và ngoài tỉnh đến tham dự rất đông Đền Hùng Tân Hiệp không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống của nhân dân Kiên Giang mà của cả khu vực Đền Hùng Tân Hiệp
đã được UBND tỉnh Kiên Giang xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa tại QĐ số 59/2004-QĐ/UB, ngày 03/9/2004
2.1.4.7 Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc
Trang 39Nhà tù Phú Quốc tại trị trấn An Thới, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, là di tích lịch sử cấp Quốc gia được Bộ VHTT xếp hạng năm 1993 tại QĐ số 1430-QĐ/BT, ngày 12/10/1993 Những năm qua, tỉnh Kiên Giang đã cho phục hồi, tôn tạo một số hạng mục công trình như: nhà giam, nhà ăn, nhà bếp và hai nhà canh giữ của giám thị; phục hồi đường ngầm vượt ngục, một đoạn hàng rào kẽm gai, chòi canh, chuồng cọp, đài tưởng niệm ở nghĩa địa tù binh và xây dựng nhà trưng bày bổ sung di tích… Năm 2005, các hạng mục này được hoàn thành đi vào hoạt động, mỗi năm phục vụ hàng trăm ngàn lượt người đến thăm di tích
2.1.4.8 Di tích ịch sử - văn hóa Đình thần Nam Hải đại tướng quân (Lăng Ông Nam Hải)
Đình thần Nam Hải Đại Tướng quân tọa lạc tại ấp Thiên Tuế, xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, cách trung tâm huyện khoảng 30 km về hướng Tây Nam Huyện Kiên Hải được thành lập vào tháng 3/ 1983, với 73 hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên vùng rộng phía Tây vịnh Thái Lan
Đình thờ Nam Hải Đại Tướng quân được lập đầu tiên vào năm 1900, tại Khóe Ông Xây, ấp bãi Giếng, ban đầu chỉ là một ngôi đình nhỏ được dựng bằng cây lá Sau đó, được dời lên mũi Hà Bá thuộc ấp Bãi Giếng, xã Lại Sơn Lần thứ ba năm
1940, được dựng lại và gọi là Dinh ông Nam Hải ở gần vị trí thờ hiện nay Năm
2003, Dinh ông được trùng tu, tôn tạo lại khang trang, tôn nghiêm để phục vụ cho việc thờ tự và được gọi là đình thần Nam Hải Đại Tướng quân
Hàng năm, cứ đến ngày 15 – 16 tháng 10 âm lịch, nhân dân xã đảo và đặc biệt
là những ngư dân đều tập trung về đây để tổ chức lễ hội nghinh Ông rất trang trọng bằng nhiều hình thức lế lễ và cầu an Đây chính là sự bày tỏ tri ân của ngư dân được phù trợ của cá Ông đối với các hoạt động đánh bắt hải sản trên biển có được mùa cá bội thu [4]
2.1.5 Các danh lam thắng cảnh
2.1.5.1 Di tích danh lam thắng cảnh núi Đá Dựng
Trang 40Núi Đá dựng thuộc xã Mỹ Đức (Hà Tiên), nằm cách thị xã Hà Tiên khoảng
07 km về phía Bắc Đây là một khối đá vôi cao khoảng 100 m, có các vách đá dựng đứng nên được gọi là núi Đá Dựng
Với phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, là điểm đến của du khách mỗi khi đến
Hà Tiên; núi Đá Dựng đã được Bộ VHTT xếp hạng là di tích thắng cảnh cấp Quốc gia tại QĐ số 44/2007-QĐ/BVHTT, ngày 03/8/2007
2.1.5.2 Di tích thắng cảnh núi Bình San
Khu di tích LSVH núi Bình San thuộc địa phận phường Bình San, thị xã Hà Tiên Núi Bình San còn gọi là núi Lăng, cao 53 m, trên núi bốn mùa hoa nở xanh tươi rất đẹp nên Mạc Thiên Tích gọi là “Bình San Điệp Thúy”
Đền thờ dòng họ Mạc xây theo hướng Đông Bắc, còn được gọi là Thái Miếu, Miếu Lệnh Cả khu lăng mộ và đền thờ họ Mạc được xây dựng vào thời kỳ 1735-
1739 Công trình được xây dựng bằng các chất liệu gồm: gỗ, mủ cây ô dước, cát, đá… Kiến trúc đền thờ xây lối chữ Tam, nét chạm trổ tinh vi, sắc sảo Trong chính diện có 03 gian, thờ ngai vị Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Hoàng, các vị phu nhân và các quan văn, quan võ Trong đền còn ghi lại những bài thơ Nôm, vịnh
“Thập cảnh Hà Tiên” Tại Miếu Lệnh vẫn còn lưu giữ 14 tấm sắc do ba vị vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức sắc phong
Khu lăng mộ dòng họ Mạc nằm quanh triền núi Bình San Nơi đây an táng Mạc Cửu, các con cháu và tướng lĩnh của ông nên dân chúng quen gọi là núi Lăng
Có 45 ngôi mộ nằm ở khắp triền núi Bình San được tu bổ hàng năm
Khu mộ rất kiên cố nên dù đã gần 300 năm nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc ban đầu, các bia mộ bằng đá vẫn còn nguyên vẹn Núi Bình San đã được Bộ VH xếp hạng là di tích thắng cảnh cấp Quốc gia tại QĐ số 100-VH/QĐ, ngày 21/1/1989 Toàn bộ công trình núi Bình San và những công trình liên quan đến dòng họ Mạc đều xứng đáng trở thành điểm tham quan lý tưởng cho mọi người khi đến Hà Tiên
2.1.5.3 Di tích thắng cảnh Thạch Động