Ngoài ra, người ta còn căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo, phong tục tập quán …cũng có thể gọi là cộng đồng như: cộng đồng người Do Thái, cộng đồng ngườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Lược sử nghiên cứu 8
5 Những đóng góp của đề tài 9
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 9
7 Bố cục của đề tài 12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 13
1.1 Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng 13
1.1.1 Cộng đồng 13
1.1.2 Du lịch cộng đồng 17
1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng 23
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới 23
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở trong nước 27
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30
Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở HUỲÊN BUÔN ĐÔN – ĐĂK LĂK 32
2.1 Tổng quan về huyện Buôn Đôn 32
2.1.1 Điều kiện về địa lý, lịch sử 32
2.1.2 Đặc điểm hành chính, dân cư 33
2.1.3 Đặc điểm về Kinh tế - Văn hóa – Xã hội 34
2.2 Tiềm năng du lịch cộng đồng tại huyện Buôn Đôn 35
2.2.1 Văn hóa, nếp sống của cộng đồng địa phương 35
2.2.2 Tri thức bản địa 36
2.2.3 Lễ hội voi Buôn Đôn 38
2.2.4 Hệ sinh thái rừng Yokdon 38
2.2.5 Cảnh quan thác nước 39
2.3 Thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại huyện Buôn Đôn 39
2.3.1 Thực trạng hoạt động du lịch tại Huyện Buôn Đôn 39
2.3.2 Thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng ở huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk 44
2.4 Đánh giá chung về hoạt động du lịch cộng đồng ở huyện Buôn Đôn – tỉnh Đăk Lăk48 2.4.1 Về phía ngành du lịch 48
2.4.2 Về phía dân cư địa phương 49
2.4.3 Về cơ sở vật chất – cơ sở hạ tầng du lịch 49
2.4.4 Về tình hình đầu tư 50
2.4.5 Về chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch 50
2.4.6 Mối liên kết giữa Chính quyền – hãng lữ hành – cộng đồng dân cư bản địa trong hoạt động du lịch cộng đồng tại Buôn Đôn 51
Trang 32.5 Đánh giá tác động của hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên và môi trường
nhân văn ở huyện Buôn Đôn 52
2.5.1 Tác động tiêu cực 52
2.5.2 Tác động tích cực 54
2.6 Đánh giá các cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của DLCĐ ở huyện Buôn Đôn – tỉnh Đăk Lăk 55
2.6.1 Cơ hội 55
2.6.2 Thách thức 56
2.6.3 Điểm mạnh 57
2.6.4 Điểm yếu 58
2.7 Nguyên nhân của những hạn chế 59
2.7.1 Khả năng nhận thức của cộng đồng còn hạn chế 59
2.7.2 Chưa có chính sách khuyến khích cộng đồng tham gia làm du lịch 60
2.7.3 Năng lực tham gia của cộng đồng còn yếu 61
2.7.4 Thiếu nguồn nhân lực 62
2.7.5 Người dân chưa được hưởng lợi nhiều từ hoạt động du lịch 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐĂK LĂK 66
3.1 Định hướng phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Buôn Đôn 66
3.1.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Buôn Đôn – Tỉnh Đăk Lăk 66
3.1.2 Định hướng quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng 68
3.2 Một số giải pháp hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng ở Buôn Đôn 76
3.2.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 76
3.2.2 Giải pháp tổ chức quản lý hoạt động du lịch cộng đồng 78
3.2.3 Giải pháp thu hút đầu tư 80
3.2.4 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 80
3.2.5 Giải pháp liên kết, hợp tác 82
3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở Buôn Đôn 85
3.3.1 Nâng cao nhận thức cho cộng đồng 85
3.3.2 Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia hoạt động du lịch 87
3.3.3 Nâng cao năng lực cho cộng đồng 89
3.3.4 Phát triển nguồn nhân lực du lịch 90
3.3.5 Giải pháp giúp người dân hưởng lợi từ hoạt động du lịch 91
3.4 Kiến nghị 93
3.4.1 Đối với Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Đăk Lăk 93
3.4.2 Đối với UBND tỉnh 94
3.4.3 Đối với các đơn vị khai thác và kinh doanh du lịch 95
3.4.4 Đối với người dân địa phương 96
3.4.5 Đối với khách du lịch 96
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 104
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viêt
Hiệp hội Đông Nam Á
Hiệp hội Du lịch Đông Nam Á Diễn đàn hợp tác Á – Âu
Chương trình tổng thể về Tăng trưởng và Giảm nghèo
Du lịch cộng đồng Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tổ chức phi chính phủ Tổng sản phẩm quốc nội Báo cáo nghèo và quản trị nhà nước có sự tham gia của người dân Đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân
Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân Quy tắc thực hiện dân chủ cấp xã
Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
Đô la Mỹ Ngân hàng Thế giới Hiệp hội Du lịch Châu Á
Viện trợ phát triển chính thức từ nước ngoài Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới
Hiệp hội Du lịch Châu Á
Dự án bảo tồn văn hóa cộng đồng Chương trình du lịch có trách nhiệm với xã hội và thiên nhiên Tổng cục Du lịch Thái Lan
Ủy ban Nhân dân
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Thế giới Đơn vị tiền tệ của Mỹ
Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản
Tổ chức Phát triển Hà Lan
Tổ chức Du lịch Thế giới
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Diện tích, dân số, mật độ dân số năm 2011 ở huyện Buôn Đôn
23
Đôn
33
hàng trên địa bàn huyện Buôn Đôn (Phân theo ngành)
41
nhà hàng trên địa bàn huyện Buôn Đôn (Phân theo ngành)
43
nhà hàng tại từng xã trên địa bàn huyện Buôn Đôn
43
dân địa phương
47
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, du lịch đã phát triển với nhịp độ cao và ngày càng đóng góp hiệu quả hơn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới Nhiều nghiên cứu cho thấy từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX hoạt động phát triển du lịch được thực hiện chủ yếu với mục đích đơn thuần là kinh tế đã
và đang đe dọa môi trường sinh thái và các giá trị văn hóa bản địa Chính vì vậy, đã xuất hiện nhu cầu “phát triển du lịch bền vững” nhằm hạn chế tác động tiêu cực của
du lịch, góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững Đứng từ góc độ này, một số loại hình du lịch với những nguyên tắc tôn trọng môi trường, phát triển cộng đồng
và văn hóa bản địa như: du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, và đặc biệt là du lịch cộng đồng đã được quan tâm phát triển góp phần nâng cao hiệu quả của mô hình du lịch có trách nhiệm cho phát triển bền vững
Hiện nay trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Indonesia, Thái Lan, Lào, Nepan, Butan, du lịch cộng đồng đã được quan tâm phát triển với
sự hỗ trợ của quốc tế nói chung và của nhiều tổ chức phi chính phủ nói riêng
Ở Việt Nam du lịch cộng đồng bước đầu đã có được quan tâm phát triển mà điển hình là ở vùng núi Tây Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long …
Cùng với sự phát triển về kinh tế, con người ngày càng quen thuộc với những tiện nghi và cuộc sống công nghiệp, vì vậy xu hướng khám phá và trải nghiệm những điểm đến còn hoang sơ về tự nhiên, nơi còn lưu giữ được các giá trị văn hóa, lịch sử địa phương cũng tăng lên
Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk được xem là một điểm đến có tiềm năng lớn để phát triển du lịch cộng đồng Phát triển du lịch cộng đồng ở Đăk Lăk nói chung và ở Buôn Đôn nói riêng còn mang ý nghĩa như một loài hình du lịch mới khi nhiều loại hình du lịch ở điểm đến này đã ngày càng trở nên quá quen thuộc Việc phát triển
du lịch cộng đồng ở đây sẽ góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú về các loại hình
và sản phẩm du lịch để thu hút du khách, đặc biệt là khách du lịch quốc tế vốn thích
sự khám phá và trải nghiệm những yếu tố văn hóa bản địa nguyên sơ
Trang 7Phát triển du lịch cộng đồng ở Đăk Lăk nói chung và Buôn Đôn nói riêng sẽ
có nhiều thuận lợi khi những điểm đến này vốn đã là địa danh nổi tiếng với nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng có một không hai ở vùng Đông Nam Á Đây còn là nơi chung sống của cộng đồng đa sắc tộc với các phong tục, tập quán mang đậm dấu ấn văn hóa của các tộc người Ê Đê, M'Nông, J’rai, Khơ Me, Lào, … thể hiện qua những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc như trường ca Đam San, Xinh Nhã,…những sản phẩm nghề: dệt thổ cẩm, đan lát, điêu khắc truyền thống, những
lễ hội và phong tục độc đáo, âm thanh vang vọng của các loại cồng chiêng, đàn đá, các nhạc cụ làm từ chất liệu của núi rừng, những lời ca, điệu múa của cộng đồng 44 dân tộc anh em
Thực tế cho thấy huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cho đến nay du lịch cộng đồng ở điểm đến này vẫn đang trong tình trạng kém phát triển Mặc dù, tỉnh đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích đầu tư và thực hiện nhiều quy hoạch hỗ trợ cho phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng Tuy nhiên, du lịch ở Đăk Lăk mới tập trung chủ yếu vào dịch vụ khách sạn, nhà hàng ở Buôn Mê Thuột, các sản phẩm du lịch vẫn chưa được đầu tư xứng tầm Ngoài “đặc sản” cưỡi voi, thì sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, chưa mang tính đặc thù với bản sắc riêng của Đăk Lăk Sản phẩm hàng lưu niệm cũng ở trong tình trạng “phổ cập” của cả nước Các sản phẩm du lịch dựa trên khai thác các yếu tố truyền thống cộng đồng như: xem biểu diễn cồng chiêng, đi thuyền độc mộc, ăn cơm lam, uống rượu cần … cũng “na ná” với sản phẩm du lịch ở các địa phương khác trong khu vực, vì vậy không tạo được sức hấp dẫn du khách đến với Buôn Đôn nói riêng và Đăk Lăk nói chung Các doanh nghiệp du lịch còn thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, mới khai thác những tiềm năng sẵn có và chưa có sự quan tâm thỏa đáng đến lợi ích người dân bản địa Ngược lại, người dân bản địa khi tham gia dịch vụ du lịch lại thiếu những nhận thức
và hiểu biết đúng đắn về các giá trị văn hoá - lịch sử truyền thống, kỹ năng dịch vụ
du lịch còn nhiều hạn chế …
Trang 8Trong bối cảnh trên, việc lựa chọn đề tài “ Phát triển du lịch cộng đồng ở
huyện Buôn Đôn - Tỉnh Đăk Lăk” có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ thống một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch cộng đồng, xác định những hạn chế để làm cơ sở đề xuất một số định hướng và giải pháp mang tính thực tiễn cho phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Buôn Đôn - tỉnh Đăk Lăk với tư cách là loại hình du lịch mới và là cách tiếp cận cho phát triển du lịch bền vững ở Buôn Đôn
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho đề tài gồm:
- Tổng quan một số vấn đề lý luận về du lich và du lịch cộng đồng
- Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở trong nước và quốc tế
- Tiềm năng du lịch cộng đồng ở Buôn Đôn – Đăk Lăk (chú trọng sự khác biệt - đặc sắc về tiềm năng du lịch cộng đồng ở Buôn Đôn.)
- Hiện trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Buôn Đôn- Đăk Lăk (chú trọng phần đánh giá và xác định nguyên nhân.)
- Định hướng phát triển du lịch cộng đồng ở Buôn Đôn- Đăk Lăk
- Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển du lich cộng đồng ở Buôn Đôn – Đăk Lăk
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Du lịch cộng đồng
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk, đặc biệt là Buôn Niêng, Buôn Trí
A, buôn Tul và các khu du lịch Cầu Treo, Sinh thái nghỉ dưỡng Spa Buôn Đôn, thác bảy nhánh – nơi còn bảo tồn rất nhiều giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng
cư dân bản địa Ê Đê, M’Nông
- Thời gian: từ năm 2008 đến nay
Trang 94 Lược sử nghiên cứu
- Võ Quế (2006), Du lịch cộng đồng – Lý thuyết và vận dụng, Tập 1, Nxb:
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Nội dung sách đề cấp đến các lý thuyết về cộng đồng, du lịch dựa và cộng đồng Đồng thời sách còn đưa ra những bài học kinh nghiệm quý giá từ việc nghiên cứu mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng trong nước và của một số nước phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới
- Võ Quế “Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng
đồng tại Chùa Hương – Hà Tây” Đề tài KHCN cấp Bộ, Hà Nội, 2003 Dựa trên nền
tảng hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội, tiềm năng du lịch, vai trò của cộng đồng dân cư tại chùa Hương đề tài đã xây dựng mô hình mẫu về phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại chùa Hương với tiêu chí, cơ chế vận hành và các giải pháp thực hiện
- Viện Nghiên cứu và Phát triển Ngành nghề nông thôn Việt Nam
(2012), Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đồng Bên cạnh việc giới thiệu
các vấn đề chung của du lịch cộng đồng như: các hình thức của du lịch cộng đồng, các địa bàn phát triển du lịch cộng đồng, đặc điểm và xu hướng của khách du lịch
… tài liệu còn hướng dẫn các bước cần thiết để phát triển một mô hình du lịch cộng đồng
- Võ Văn Phong (2012), Nghiên cứu phát triể du lịch sinh thái cộng đồng tại
vườn quốc gia Phù Mát –Nghệ An Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Môi trường
trong phát triển bền vững – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Điểm nhấn của luận văn này là đã phân tích được giữa du lịch sinh thái cộng đồng ở vườn quốc gia Phù Mát – Nghệ An với du lịch miền Tây Nghệ An và việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát huy các giá trị văn hoá bản địa
- Phạm Trung Lương, nnk “Nghiên cứu xây dựng bảo vệ môi trường du
lịch với sự tham gia của cộng đồng góp phần phát triển du lịch bền vững trên đảo Cát Bà – Hải Phòng” Đề tài KHCN cấp Bộ, Hà Nội, 2002 Dựa trên các phân tích
hiện trạng, đề tài đã đề xuất mô hình bảo vệ môi trường với sự tham gia của các
Trang 10thành phần trong cộng đồng với các nghĩa vụ và quyền lợi cụ thể và các giải pháp
để áp dụng mô hình đề xuất trên tại đảo Cát Bà
Ngoài ra còn có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu về du lịch cộng đồng của Nguyễn Văn Thanh, Trần Quang Minh, Trần Thị Mai, Viện Nghiên cứu Phát triển
Du lịch… Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu loại hình du lịch cộng đồng trên địa bàn huyện Buôn Đôn – Tỉnh Đăk Lăk
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm hệ thống
Du lịch cộng đồng bao gồm nhiều thành phần tham dự như các công ty du lịch, hãng lữ hành, các cơ quan bảo tồn, các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng địa phương, khách du lịch, cơ quan quản lý du lịch địa phương Mỗi thành phần có mối tác động qua lại lẫn nhau và có qui luật hoạt hoạt động và phát triển khác nhau.Việc tiếp cận và phân tích dựa trên quan điểm hệ thống giúp nắm bắt và điều khiển được hoạt động của mỗi thành phần tham dự nói riêng và của cả du lịch cộng đồng nói chung Đồng thời quan điểm hệ thống còn thể hiện được tính ưu việt trong
việc nghiên cứu các đối tượng có nhiều thành phần cấu tạo thành
Quan điểm tổng hợp
Du lịch cộng đồng nói riêng và ngành du lịch nói chung có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau như: giao thông vận tải, y tế, môi trường, kinh tế, dân tộc, an ninh xã hội … Quan điểm tổng hợp cho phép nhận thức đầy đủ các mối quan hệ phụ thuộc và các quy định tác động qua lại lẫn nhau giữa các đối tượng, lĩnh vực trong một không gian và thời gian nhất định
Trang 11Mặt khác hiệu quả của du lịch cộng đồng đưa lại cũng mang tính tổng hợp vì
nó được thể hiện trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường
Việc nghiên cứu một cách đồng bộ, tổng hợp các các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến du lịch cộng đồng cho phép phát hiện và xác định những đặc điểm đặc thù của từng lãnh thổ nghiên cứu
Quan điểm lịch sử
Để xây dựng được phương hướng, kế hoạch, mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng trong tương lai thì việc vận dụng quan điểm lịch sử giúp nắm bắt một cách chính xác và đầy đủ quá trình phát triển du lịch cộng đồng trong quá khứ và hiện tại, từ đó hoạch định kế hoạch và giải pháp thực hiện ở tương lai
Quan điểm xã hội
Việc nghiên cứu dựa trên quan điểm xã hội thể hiện sự liên kết giữa lý thuyết
và thực tiễn xã hội, đảm bảo để kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực với cộng đồng địa phương hơn Đồng thời cũng giúp nhà nghiên cứu nắm được tâm tư, nguyện vọng của người dân bản địa trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại vùng lãnh thổ đang nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu
Trang 12Luận văn đã sử dụng phương pháp thu thập thông tin thứ cấp và sơ cấp tại Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Đăk Lăk, Cục thống kê tỉnh Đăk Lăk, Phòng thống kế huyện Buôn Đôn và UBND huyện Buôn Đôn
Bên cạnh đó luận văn còn khai thác những thông tin có liên quan du lịch cộng đồng từ các sách chuyên ngành, các đề tài, công trình nghiên cứu, báo cáo của huyện Buôn Đôn, ,… và tham khảo trên mạng internet để tổng hợp thành những vấn
đề, rút ra những kết luận cần thiết phục vụ cho kết quả đề tài Việc sử dụng phương pháp này thế hiện sự kế thừa cần thiết các tri thức đã có để thực hiện đề tài
Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống
Việc vận dụng phương pháp phân tích hệ thống trong nghiên cứu đề tài cho phép đánh giá chính xác các điều kiê ̣n phát triển du lịch cộng đồng trên cơ sở
nghiên cứu các yếu tố chủ yếu như tài nguyên du li ̣ch , cơ sở vâ ̣t chất kỹ thuâ ̣t , cơ sở
hạ tầng, nguồn nhân lực du lịch,…và đánh giá đúng thực trạng khai thác tài nguyên
du lịch cũng như mối quan hệ qua lại giữa các phân hệ trong hệ thống lãnh thổ
Phương pháp khảo sát thực tế
Các thông tin thu được nhờ việc khảo sát tại các buôn điể hình như Buôn Niêng, buôn Trí, Buôn Tul và khu du lịch Cầu treo, Thác Bảy nhánh, Sinh thái và Spa Buôn Đôn Lượng thông tin thu thập đảm bảo sát với thực tế , có độ tin cậy cao
và điều kiện kiểm chứng những thông tin tham khảo được từ nguồn tư liệu thứ cấp Phương pháp này nhâ ̣n đi ̣nh chính xác hơn về các điều kiê ̣ n phát triển cũng như có
cơ sở thực tiễn để đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn nghiên cứu
Phương pháp điều tra xã hội học
Tác giả luận văn đã tiến hành phỏng vấn và phát phiếu điều tra đối với hai đối tượng là khách du lịch và người dân địa phương để tìm hiểu nhu cầu của du khách, nắm bắt được sở thích, thị hiếucủa du khách và tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng địa phương
Trang 13 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch như các nhà quản lý, hãng lữ hành trên địa bàn huyện Buôn Đôn, Sở Văn hóa – Thể Thao và Du Lịch tỉnh Đăk Lăk, PGS TS Phạm Trung Lương về những định hướng phát triển và
giải pháp khắc phục những hạn chế và khó khăn của du lịch cộng đồng ở Buôn Đôn
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Buôn Đôn – tỉnh Đăk Lăk
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.1 Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng
1.1.1 Cộng đồng
1.1.1.1 Khái niệm cộng đồng (Community)
Cộng đồng – một khái niệm lý thuyết cũng như thực hành xuất hiện vào những năm 1940 tại các nước thuộc địa của Anh Năm 1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệm phát triển cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện các chương trình viện trợ quy mô lớn về kĩ thuật, phương pháp và tài chính vào thập kỷ 50 – 60 Sau này tùy những góc độ tiếp cận mà mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những quan điểm khác nhau về cộng đồng
Trước hết, quan điểm về cộng đồng đề cập đến các yếu tố con người với phạm vi địa lý, mối quan hệ và mục đích chung trong phát triển và bảo tồn cộng
đồng đó Theo Keith và Ary, 1998 thì cho rằng: “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh sống trên cùng khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị” (Keith and Ary, 1998)
Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách tương đối rộng rãi để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy
mô, đặc tính xã hội.Theo nghĩa rộng cộng đồng là nói đến tập hợp người là các liên minh lớn như: cộng đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng các nước Ả Rập…Theo nghĩa hẹp hơn danh từ cộng đồng được áp dụng cho một kiểu, hạng xã hội Ngoài ra, người ta còn căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo, phong tục tập quán …cũng có thể gọi là cộng đồng như: cộng đồng người Do Thái, cộng đồng người da đen tại Chicago, cộng đồng người hồi giáo…
Tại Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được giới thiệu vào giữa những năm 1950 thông qua một số hoạt động phát triển cộng đồng tại các tỉnh phía Nam, trong lĩnh vực giáo dục Từ ngành giáo dục phát triển cộng đồng
Trang 15chuyển sang lĩnh vực công tác xã hội Đến những năm 1960- 1970 hoạt đồng phát triển cộng đồng được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển nông thôn của sinh viên hay của phong trào Phật giáo Từ thập kỷ 80 của thế kỷ trước cho đến nay, phát triển cộng đồng được biết đến một cách rộng rãi hơn thông qua các chương trình viện trợ phát triển của nước ngoài tại Việt Nam, có sự tham gia của người dân tại cộng đồng như một yếu tố quyết định để chương trình đạt hiệu quả bền vững
Tùy theo những góc độ khác nhau mỗi tác giả lại có những quan niệm khác nhau về cộng đồng Nhưng tóm lại cộng đồng đều được hình thành bởi ba nhân tố chính là yếu tố kinh tế, yếu tố văn hóa và khu vực lưu trú Đồng thời cộng đồng đều mang những đặc điểm như sau: Cùng chung sống trên một phạm vi lãnh thổ, có chung văn hóa, phong tục tập quán, quan điểm chính trị, tôn giáo … và cùng chia sẽ những lợi ích chung
- Tương quan xã hội: cộng đồng được coi như một tiến trình xã hội, là một hình thức tương quan giữa người và người có tính cách kết hợp hay một phản ứng có tính
hỗ tương Theo đó, con người được gần nhau và phối hợp chặt chẽ với nhau hơn
Đó không phải là một thái độ hay một lý tưởng về đoàn kết, đó là sự đoàn kết được thực hiện ngay trong phạm vi thực hành các chuẩn mực và khuôn mẫu văn hóa trong đời sống hàng ngày Ngược lại với tiến trình hòa hợp cộng đồng là các xu hướng xung đột có tính cách ly tán, các cộng đông nông thôn ít xảy ra các tiến trình theo chiều ly tâm
- Cơ cấu xã hội: Cộng đồng được coi như một cơ cấu xã hội, là một đoàn thể con người có những giá trị , chuẩn mực, các khuôn mẫu,với các tương quan xã hội và
Trang 16vai trò được tổ chức thành cơ cấu Điều này phù hợp với định nghĩa tổng quát về một đoàn thể xã hội coi như một tập thể con người có tương quan hỗ trợ với nhau Không có giá trị chung, nghĩa là không có một số định hướng để quy tụ với nhau, thậm chí có nơi lại không có cả những quy tắc ứng xử quy định các hành vi ứng xử của các thành viên trong cộng đồng thì không có cơ sở cho sự hình thành cộng đồng
1.1.1.3 Mức độ tham gia của cộng đồng vào các hoạt động phát triển
Du lịch ngày càng hướng đến phát triển bền vững thì sự tham gia của cộng đồng địa phương ngày càng được quan tâm và khuyến khích vì cộng đồng là những chủ nhân thực sự của các tài nguyên du lịch, cả tự nhiên lẫn nhân văn, mà ngành du lịch dựa vào để thu hút khách, cho nên họ có quyền tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động du lịch trong khu vực Qua đó, họ sẽ tự giác và đóng vai trò chính trong việc gìn giữ tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch nói riêng và sự phát triển bền vững nói chung
Bên cạnh đó cộng đồng địa phương chính là nguồn nhân công với chi phí thấp nhất trong các dự án đầu tư phát triển du lịch, điều mà các nhà đầu tư rất quan tâm nhằm tạo ra hiệu quả chi phí trong đầu tư Hơn nữa, với nguồn kiến thức bản địa phong phú của mình, nếu được đào tạo hướng dẫn thì chính họ là những người phục vụ du khách tốt hơn ai hết trong các hoạt động nghiệp vụ du lịch như: đón tiếp, phục vụ ăn nghỉ, dẫn đường và hướng dẫn khách thăm quan… Về mặt vĩ mô,
sự tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động du lịch của cộng đồng còn đóng góp đáng kể cho các chủ trương chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội vùng sâu vùng xa, xoá đói giảm nghèo, giảm chênh lệch giữa các vùng trong phát triển, định canh định cư, ổn định an ninh quốc phòng và trật tự
an toàn xã hội, chính trị, văn hoá, tôn giáo tín ngưỡng Theo PGS.TS Phạm Trung Lương có 7 mức độ tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển nói chung và
phát triển du lịch nói riêng (Sơ đồ ):
Trang 17Hình 1.1: Mức độ tham gia của cộng đồng địa phương
- Thụ động: Cộng đồng không có quyền và trách nhiệm xem xét, dự báo về tương
lai của hoạt động phát triển Những thông tin này chỉ chia sẻ giữa các tổ chức bên ngoài cộng đồng
- Thông tin: Cộng đồng chỉ có trách nhiệm trả lời câu hỏi mà không có vai trò,
ảnh hưởng tới nội dung cần xử lý cho hoạt động phát triển Kết quả xử lý thông tin không được chia sẻ với cộng đồng
- Tư vấn: Cộng đồng được tham khảo ý kiến và quan điểm của cộng đồng có được
lưu ý Tuy nhiên cộng đồng không được tham gia vào quá trình ra quyết định
- Khuyến khích: Sự tham gia vào các hoạt động phát triển của cộng đồng sẽ được
khuyến khích bằng vật chất hay tinh thần, do vậy cộng đồng thường sẽ không tiếp tục tham gia khi những khuyến khích này không còn
- Chức năng: Cộng đồng tham gia vào hoạt động phát triển theo nhóm với các
mục tiêu chức năng đã được xác định trước, do vậy sự tham gia chưa được đầy
đủ vì đã có những quyết định mang tính áp đặt
- Tương tác: Cộng đồng được tham gia vào quá trình ra quyết định và sau đó
thông tin được phân tích để đưa ra các kế hoạch hành động và thực hiện
- Chủ động: Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển được thực hiện
độc lập với mọi can thiệp từ bên ngoài Cộng đồng sẽ tự đưa ra các sáng kiến và
Trang 18trong công tác quy hoạch, trong quá trình thực hiện, giám sát và đánh giá các hoạt động có ảnh hưởng đến môi trường du lịch
1.1.2 Du lịch cộng đồng
1.1.2.1 Khái niệm
Các nước ASEAN như Indonesia , Philippine, Thái Lan đã tổ chức rất nhiều cuô ̣c hô ̣i thảo về xây dựng mô hình và tâ ̣p huấn , đào ta ̣o kỹ năng phát triển du li ̣ch dựa vào cô ̣ng đồng Tùy theo góc nhìn, quan điểm nghiên cứu mà du li ̣ch cô ̣ng đồng
có những khái niệm khác nhau
Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas đưa ra khái niệm : “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du li ̣ch sẽ đọng lại nền kinh tế đi ̣a phương” (Nicole Hausler and Wolfang Strasdas, Community Based
Sustainable Tourism A Reader, 2000) Quan niệm trên nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát triển du lịch ngay trên địa bàn họ quản
lý
Du lịch cộng đồng là “ phương thức tổ chức du li ̣ch đề cao về môi trường , văn hóa xã hội Du lịch cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép khách du li ̣ch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng , về cuộc sống đời thường của họ” (Rest: Respondsible Ecological Social Tours, Thailand, 1997)
Tại hội thảo “Chia sẻ Bài học Kinh nghiệm Phát triển Du lịch Cộng đồng”
được Tổng cục Du lịch tổ chức tại Hà Nội năm 2003 đã xác định: “Phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng nhằm đảm bảo văn hoá, thiên nhiên bền vững, nâng cao nhận thức và tăng quyền lực cho cộng đồng Cộng đồng được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của chính phủ và các tổ chức quốc tế”
Từ viê ̣c nghiên cứu các khái niê ̣m về du li ̣ch dựa vào cô ̣ng đồng , TS.Võ Quế
đã rút ra khái niê ̣m : “Du li ̣ch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du li ̣ch trong đo ́ cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các di ̣ch vụ để phát triển du li ̣ch , đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường , đồng thời cộng đồng
Trang 19được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”
Viện Nghiên cứu Phát triển Miền núi (Mountain Institues) đưa ra khái niệm
về du lịch dựa vào cộng đồng như sau: (Trích trong Tạp chí du lịch cộng đồng –
Viện Nghiên cứu phát triển Miền Núi, 2000): “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn Du lịch cộng đồng khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong
du lịch và có cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng”
Ngoài ra còn nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau, tuy nhiên có thể thống nhất và hiểu du lịch cộng đồng là loại hình du lịch bền vững dựa vào cộng đồng địa phương, trong đó cộng đồng sẽ trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch như khai thác, quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên và cộng đồng phải được hưởng lợi từ hoạt động du lịch để từ đó giảm tỉ lệ đói nghèo, cải thiện thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống
1.1.2.2 Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng
Theo Viện Nghiên cứu và Phát triển Miền núi (TMI), để phát triển du lịch cộng
đồng thì mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng cần phải gồm những điểm sau:
- Là một công cụ cho hoạt động bảo tồn
- Là công cụ cho phát triển chất lượng cuộc sống
- Là công cụ để nâng cao nhận thức, kiến thức và sự hiểu biết của mọi người bên ngoài cộng đồng về những vấn đề như rừng cộng đồng, con người sống trong khu vực rừng, nông nghiệp hữu cơ, quyền công dân cho người trong bộ lạc
- Là công cụ cho cộng đồng cùng tham gia, thảo luận các vấn đề, cùng làm việc và giải quyết các vấn đề cộng đồng
- Mở các cơ hội cho trao đổi kiến thức và văn hóa giữa khách du lịch và cộng đồng
- Cung cấp khoản thu nhập cho cá nhân, các thành viên trong cộng đồng
- Mang lại thu nhập cho quỹ phát triển cộng đồng
Trang 20Một số mục tiêu chính của du lịch cộng đồng đã được coi là kim chỉ nam cho loại hình phát triển du lịch này bao gồm:
- Du lịch cộng đồng phải góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, bao gồm sự đa dạng về sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn hóa, …
- Du lịch cộng đồng phải đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu về du lịch và những lợi ích khác cho cộng đồng địa phương
- Du lịch cộng đồng phải có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng địa phương
- Du lịch cộng đồng phải mang đến cho khách một sản phẩm du lịch có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội
1.1.2.3 Các nguyên tắc chủ yếu phát triển du lịch cộng đồng
Các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch dựa vào cộng đồng đã đưa ra các nguyên tắc để phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là:
- Công bằng về mặt xã hội: Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực hiện và quản lý, đầu tư để phát triển du lịch, trong một số trường hợp có thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng
- Tôn trọng các giá trị văn hoá của cộng đồng: Thực tế cho thấy chương trình
du lịch nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng địa phương Điều quan trọng là các giá trị văn hoá của cộng đồng phải được bảo vệ và giữ gìn với sự đóng góp tích cực của tất cả các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch, đặc biệt là người dân địa phương bởi không đối tượng nào có khả năng bảo
vệ và duy trì các giá trị văn hoá tốt hơn chính họ Cộng đồng địa phương phải nhận thức được vai trò và vị trí của mình cũng như những lợi, hại mà việc phát triển du lịch mang đến
- Phù hợp với khả năng của cộng đồng Khả năng bao gồm khả năng nhận thức về vai trò và vị trí của mình trong việc sử dụng tài nguyên, nhận thức được tiềm năng to lớn của du lịch cho sự phát triển của cộng đồng cũng như biết được các bất lợi từ hoạt động du lịch và khách du lịch đối với tài nguyên
Trang 21cộng đồng Các điều kiện, khả năng tài chính và nhân lực của cộng đồng để đáp ứng các yêu cầu phát triển du lịch
- Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng Theo nguyên tắc này cộng đồng phải cùng được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch, nguồn thu từ hoạt động du lịch được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợi ích đó cũng được trích để phát triển lợi ích chung cho xã hội như: tái đầu tư cho cộng đồng xây dựng đường sá, cầu cống, điện và chăm sóc sức khỏe, giáo dục…
- Xác lập quyền sở hữa và tham dự của cộng đồng đối với tài nguyên thiên nhiên và văn hóa hướng tới sự phát triển bền vững
1.1.2.4 Các điều kiện cơ bản để hình thành và phát triển du lịch cộng đồng
Các chuyên gia đều cho rằng phát triển du lịch cộng đồng phụ thuộc vào các điều kiện cơ bản sau:
- Điều kiện tiềm năng về tài nguyên môi trường tự nhiên và nhân văn là có ý nghĩa quyết định đến phát triển du lịch cộng đồng Tài nguyên thiên nhiên và nhân văn được xem xét phong phú về số lượng, chủng loại, giá trị về chất lượng của từng loại được đánh giá về quý hiếm Điều kiện tài nguyên cũng nói lên mức độ hấp dẫn thu hút khách du lịch đến thăm quan ở hiện tại và tương lai
- Điều kiện tiếp cận điểm đến du lịch cộng đồng Cũng tương tự như đối với việc phát triển các loại hình du lịch khác, hoạt động phát triển du lịch không thể thực hiện được nếu không có hạ tầng tiếp cận điểm tài nguyên Đây là đặc điểm rất đặc trưng của du lịch khi sản phẩm du lịch được xây dựng và tiêu thụ tại chỗ Điều này khác với hoạt động sản xuất kinh doanh khác khi sản phẩm thương mại có thể được sản xuất ở một nơi rồi vận chuyển đến thị trường tiêu thụ ở nơi khác
- Điều kiện về yếu tố cộng đồng dân cư được xem xét đánh giá trên các yếu tố
số lượng thành viên, bản sắc dân tộc, phong tục tập quán, trình độ học vấn và
Trang 22văn hóa, nhận thức trách nhiệm về tài nguyên và phát triển du lịch Xác định phạm vi cộng đồng là những dân cư sống, sinh hoạt và lao động cố định, lâu dài trong hoặc liền kề vùng có tài nguyên thiên nhiên
- Điều kiện có thị trường khách trong nước và quốc tế đến tham quan du lịch, nghiên cứu, tương lai sẽ thu hút được nhiều khách Điều kiện về khách du lịch cũng nói lên bản chất của vấn đề phát triển du lịch và vấn đề công ăn việc làm cho cộng đồng
- Cần có sự tự nguyện của cộng đồng đối với đề xuất phát triển du lịch cộng
đồng Đây là điều kiện đặc thù rất quan trọng để có thể phát triển du lịch cộng đồng bởi loại hình du lịch này chỉ có thể phát triển cùng với sự nhận thức sâu sắc của cộng đồng về trách nhiệm và quyền lợi của họ khi tham gia vào hoạt động du lịch
- Điểm đến du lịch cộng đồng cần được quy hoạch và đưa vào hệ thống tuyến
điểm du lịch của lãnh thổ Đây là điều kiện chung để phát triển bất kỳ một điểm đến du lịch nào, trong đó có điểm đến du lịch cộng đồng Tuy nhiên trong trường hợp du lịch cộng đồng, điều kiện này trở nên quan trọng hơn bởi bản thân cộng đồng thường không có khả năng tự tổ chức quy hoạch và kết nối với hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ
- Điều kiện về cơ chế chính sách hợp lý tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng
- Sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính phủ, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước
về nhân lực, tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng và các công ty lữ hành trong vấn đề tuyên truyền quảng cáo thu hút khách du lịch đến thăm quan
1.1.2.5 Ý nghĩa phát triển du lịch cộng đồng
Nhiều hội thảo, diễn đàn quốc tế về du lịch cộng đồng đã nêu lên ý nghĩa phát triển du lịch dựa vào cộng đồng đối với nhiều vấn đề như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng, tài nguyên môi trường của quốc gia, khu vực và chính bản thân cộng đồng, trong đó thể hiện rõ nét nhất các vấn đề như:
Trang 23 Đối với công tác bảo tồn tài nguyên tự nhiên: Du lịch phát triển sẽ gia tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, đặc biệt ở vùng nông thôn nơi tỷ lệ đói nghèo còn cao Đây sẽ là yếu tố tích cực góp phần làm giảm tác động của cộng đồng đến các giá trị cảnh quan, tự nhiên và qua đó sẽ góp phần bảo tồn tài nguyên, môi trường đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững
- Du lịch cộng đồng mang lại cơ hội cho các thành viên của cộng đồng trong việc bảo tồn nguồn tài nguyên, môi trường văn hóa, vì vậy có đóng góp cho phát triển du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên, môi trường du lịch
- Du lịch phát triển góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng, làm thay đổi
cơ cấu, nâng cao trình độ lao động từ đó hạn chế tình trạng di cư của cộng đồng từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị góp phần ổn định xã hội
- Phát triển du lịch cộng đồng giúp cộng đồng địa phương được hưởng lợi từ
cơ sở hạ tầng xã hội (giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, ) Đây cũng sẽ là yếu tố tích cực để đảm bảo sự công bằng trong phát triển du lịch, một trong những nội dung quan trọng của phát triển du lịch bền vững
- Tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu văn hóa và kế đến là giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, giữa Việt Nam với các dân tộc trên thế giới Đây cũng sẽ là yếu tố quan trọng trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Trang 24Việt Nam đồng thời tạo cơ hội để phát triển kinh tế ở những vùng còn khó khăn, đảm bảo sự phát triển bền vững nói chung, du lịch nói riêng
- Tham dự của cộng đồng sẽ thành điểm để cho cộng đồng khác và các tổ chức học hỏi kinh nghiệm về phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Khách sẽ học tập kinh nghiệm từ những người tình nguyện, các nhà nghiên cứu trong quá trình tham gia tổ chức
- Các chính sách thị trường và thương mại của các tổ chức du lịch hiểu được vai trò của cộng đồng để đưa các kế hoạch và hành động của du lịch cộng đồng Du lịch cộng đồng đảm bảo cho việc phát triển bền vững Cơ hội cho
các tổ chức phát triển các chiến lược công tác với cộng đồng địa phương
1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới
1.2.1.1 Quy hoạch du lịch cộng đồng hiệu quả tại khu du lịch Kanas – Tân cương
(Trung Quốc)
Đặc điểm của các cư dân cộng đồng tại khu du lịch Kanas
Khu du lịch Kanas nằm ở phía bắc quận Buerjin với một diện tích lớn được xếp hạng cấp quốc gia Cộng đồng Kanas là một cộng đồng dân tộc sống nhờ vào việc chăn thả gia súc với một lịch sử lâu dài về việc duy trì nền văn hóa của mình
Bảng 1.1: Thành phần của cộng đồng cư dân ở khu du lịch Kanas
Mông cổ Tuwa
tự, hoạt động du lịch bị thương mại hóa dẫn đến mâu thuẫn sâu sắc trong cộng đồng
Trang 25về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên giữa cộng đồng với chính quyền, giữa các cộng đồng với nhau và thậm chí ngay cả trong cộng đồng đó
Quy trình và các quy tắc
Các thành viên của nhóm dự án gồm các thành viên của Trung tâm nghiên cứu
và quy hoạch du lịch của trường Đại học Trung Sơn đã đưa ra các chiến lược cơ bản cho bản quy hoạch du lịch của cộng đồng Kanas gồm:
- Chủ động cung cấp cho các cư dân những cơ hội tham gia vào các quyết định về phát triển du lịch
- Cộng đồng truyền thống đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra “các quy định của làng và các tục lệ dân tộc” Hiệp hội du lịch cộng đồng được thành lập
để hướng dẫn người dân tham gia quản lý du lịch một cách trật tự và lành mạnh
- Người dân địa phương được ưu tiên tham gia kinh doanh du lịch trong hoạt động nhà hàng, khách sạn, các cửa hàng … Nhằm cung cấp cho họ nhiều việc làm và
cơ hội kiểm soát và quản lý tài nguyên của mình
- Giữ nguyên tắc “không tham gia là tham gia nhiều nhất” người dân địa phương chỉ cho phép một bộ phận nhỏ du khách được sống trong cộng đồng làng để không làm mất đi sự hấp dẫn từ “Thiên đường của trái đất” và “cảnh đồng quê” của cộng đồng Kanas
- Bản thân cộng đồng tích cực tham gia vào việc hình thành một hệ thống dịch vụ thông tin thị trường du lịch vì họ vừa là nhà cung cấp thông tin, vừa là nhà tiếp cận thông tin
- Thành lập ủy ban phối hợp du lịch gồm chính quyền địa phương, các chủ doanh nghiệp và cộng đồng địa phương để thường xuyên tư vấn và xử lý các vấn đề trong phát triển du lịch
Bài học kinh nghiệm
Trên cở sở điều tra sâu và phân tích, quy hoạch du lịch của cộng đồng Kanas đã
để lại những bài học kinh nghiệm quý giá cho các nước kinh doanh du lịch dựa vào cộng đồng vì nó đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản về sự tham gia của cộng đồng
như sau:
Trang 26- Tăng cường kiểm soát và hướng dẫn sự tham gia của cộng đồng
- Phát triển đầy đủ các chức năng quản lý của các tổ chức nòng cốt
- Thiết lập một cơ chế phân bổ lợi ích hợp lý
- Kiểm soát việc thương mại hóa cộng đồng du lịch
- Tăng cường một số chính sách cơ bản về tham gia cộng đồng dành cho các cư dân cộng đồng như: giáo dục và đào tạo
1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại làng Ghandruk thuộc khu bảo tồn quốc gia Annapurna – Nepal
Đặc điểm làng Ghandruk thuộc khu bảo tồn quốc gia Annapurna
Làng Ghandruk là một trong hai làng thuộc dự án bảo tồn vùng Annapurna – Nepal Dân cư ở đây thuộc các sắc tộc và tôn giáo khác nhau bao gồm các dân tộc thiểu số là Gurung, Thakali và Manangba…Nguồn thu nhập chính của cộng đồng địa phương chủ yếu là nông nghiệp, chăn nuôi trang trại, một phần nhỏ là đi xuất khẩu lao động, khai thác gỗ làm nhiên liệu đốt và xây cất nhà cửa
Làng Annapurna nằm trong điều kiện khí hậu khác nhau – từ cận đới đến ôn đới, sa mạc và khô Đây là khu bảo tồn có nhiều điều kiện tự nhiên phong phú như
hệ động thực vật rất phát triển các loài Báo Tuyết, Cừu Xanh, hàng trăm loại Phong Lan và nơi có khu rừng cây Đỗ Quyên lớn nhất thế giới
Đặc điểm dân tộc, tôn giáo: Dân trong vùng thuộc nhiều tôn giáo khác nhau,
họ đã sinh sống ở đây qua nhiều thế kỷ nên hình thành nền văn hóa, phong tục tập quán và nhiều lễ hội lâu đời Điều kiện địa hình vùng Annapurna có rất nhiều núi cao, hiểm trở như đỉnh núi Hymalaya cao nhất thế giới nhưng lại rất độc đáo phù hợp cho những cuộc đi bộ thám hiểm (treckking)
Mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại làng Ghandruk thuộc khu bảo tồn quốc gia Annapurna
Tiêu chí xây dựng mô hình
- Xóa đói giảm nghèo cho người dân trong vùng, đặc biệt là các cộng đồng chỉ sống dựa vào điều kiện thiên nhiên
Trang 27- Tạo ra thu nhập, giải quyết được công ăn việc làm bằng các dịch vụ du lịch thay cho việc đốn củi, khai thác săn bắn các loại động vật
- Bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên và văn hóa truyền thống dân tộc
Mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Thành phần tham gia xây dựng mô hình:Đơn vị tổ chức ACAP (Annapurna Conservation Area Project);Trung tâm đào tạo khách sạn (HMTTC); Đơn vị hỗ trợ KMTNC (King Mahendra Trust for Nature Conservation); Các già làng, trưởng bản; Cộng đồng dân cư
Cơ chế hoạt động của mô hình
Mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng hoạt động chịu sự tác động của các nhân tố sau: Nhân tố quản lý (các tổ chức phi chính phủ, ACAP đơn vị tổ chức thành lập, KMTNC đơn vị hỗ trợ.); Nhân tố tác động; Yếu tố tài nguyên (góp phần thu hút khách du lịch.); Thị trường (Khách du lịch, hàng hóa); Các già làng, trưởng bản; Cộng đồng tham gia; Vai trò tự quản của các dân tộc Gurung, Thakali và
Manangba
- Mô hình mô tả dưới dạng không gian
Bài học kinh nghiệm
- Nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ về tài chính, kinh nghiệm
tổ chức và chú trọng công tác đào tạo hướng dẫn cho cộng đồng ngay từ khi triển khai các vấn đề của dự án
Dự án khu bảo tồn quốc gia Annapurna
Phát triển du lịch tại khu bảo tồn quốc gia Annapurna
Nhân tố tác động
khác
Tài nguyên vùng Annapurna
Cộng đồng dân tộc Gurung, Thakali, Manangba
Trang 28- Chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ về du lịch và bảo tồn thông qua các khóa tập huấn, báo cáo chuyên đề và tổ chức tham gia học tập cho cộng đồng
- Trong quá trình tổ chức và tham gia với cộng đồng cần tôn trọng những tri thức truyền thống bản địa của cộng đồng trong suốt thời gian triển khai dự án
từ việc hỏi ý kiến, bàn bạc, vạch kế hoạch và triển khai
- Có sự cam kết với cộng đồng về đảm bảo quyền lợi chia sẻ lợi ích được hưởng lợi từ du lịch để đảm bảo thông tin cho cộng đồng
- Tăng quyền lực cho cộng đồng trong quá trình thực hiện các kế hoạch
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở trong nước
1.2.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở bản Lát (Mai Châu – Hòa
Bình)
Đặc điểm của Bản Lác
Bản Lác là một bản miền núi thuộc huyện Mai Châu, cách thị xã Hòa Bình
khoảng 60km, là nơi cư trú của dân tộc Thái Trắng có nguồn gốc từ miền Nam
Trung Quốc, di cư sang lập nghiệp tại Bản Lác từ những năm thuộc thế kỷ thứ 13
Người Thái Trắng sinh sống tại bản Lác có một nền văn hóa lâu đời và đến nay còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa đặc sắc như: Trang phục của người phụ
nữ Thái, phong tục đón khách có nét rất độc đáo Một đặc điểm về dân cư đáng lưu
ý khác là sự trật tự và lòng hiếu khách mang tính xã hội rất cao
Cộng đồng người Thái ăn ở rất ngăn nắp, trật tự trong cuộc sống từ việc nhỏ
đến việc lớn, từ việc của từng gia đình đến việc của làng bản
Cách thức phát triển du lịch cộng đồng tại Bản Lát
Khách du lịch muốn đến thăm quan tại bản Lác phải mua vé tại UBND huyện Tiền bán vé chuyển trực tiếp cho chính quyền địa phương, dân bản không được hưởng lợi trực tiếp Toàn bản có khoảng 1/3 hộ tham gia vào các dịch vụ du lịch như thuê nhà trọ, biểu diễn văn nghệ, trình diễn hoạt động sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, tổ chức cho khách đi thăm quan các hoạt động sản xuất và thăm quan kiến trúc trong các làng bản
Trang 29Khách đến bản Lác không phải trả tiền xem biểu diễn sản xuất hàng thủ công
mỹ nghệ nhưng phải trả tiền xem biểu diễn văn nghệ Cuối năm, các hộ dân trong bản đóng góp 10% thu nhập của mình cho chính quyền địa phương, 90% thu nhập còn lại các hộ dân phục vụ cho mục đích nâng cấp nhà cửa
Bài học kinh nghiệm
- Mặc dù người dân bản địa có trách nhiệm quản lý các hoạt động cung cấp du lịch nhưng nguồn khách hoàn toàn phụ thuộc vào các công ty lữ hành sắp xếp và bố trí, các dịch vụ phục vụ khách dân bản không được tham gia
- Toàn bộ hoạt động dịch vụ du lịch không có cơ quản quản lý hướng dẫn, đào tạo và giúp đỡ kể cả chính quyền các cấp Vì thế mỗi hộ phải tự tổ chức các công việc làm ăn và liên hệ với các công ty lữ hành để đón khách
- Người dân bản không được giúp đỡ về mặt tài chính và kinh nghiệm của các
tổ chức trong và ngoài nước Hiện nay bà con dân bản mong muốn được các
tổ chức bên ngoài giúp đỡ học tiếng, nấu ăn và kỹ năng đón tiếp khách
- Về tài chính thu được từ hoạt động du lịch: Các cấp chính quyền thu từ hai nguồn là bán vé và thu 10% nguồn thu của người dân nhưng bà con bản chưa biết nguồn lợi đó chính quyền sử dụng vào mục đích gì? Nguồn thu chưa được tái đầu tư và chia sẻ nguồn lợi cho cộng đồng dân bản
- Vấn đề bảo tồn, bảo vệ tài nguyên và bản sắc văn hóa dân tộc chưa được quan tâm thường xuyên
Tóm lại: Hoạt động phát triển du lịch cộng đồng tại bản Lác – Mai Châu tuy có
sự tham gia cung cấp dịch vụ phục vụ khách du lịch nhưng manng tính tự phát của cộng đồng, cần phải xây dựng các tiêu chí cụ thể để đảm bảo lợi ích các bên tham gia
1.2.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng tại Sín Chải – Sapa (Lào Cai)
Đặc điểm bản Sín Chải – Lào Cai
Bản Sín Chải cách thị trấn Sapa khoảng 4 km nằm trên sườn núi thuộc dãy Hoàng Liên, phần lớn địa phận của bản nằm trong hoặc liền kề với Vườn Quốc Gia Hoàng Liên với những dãy rừng nguyên thủy bạt ngàn với hệ sinh thái đa dạng, quý
Trang 30hiếm Nơi đây chủ yếu là người H’Mông có khoảng 120 hộ gia đình di cư từ Trung Quốc sang từ thế kỷ thứ 17 Cuộc sống dựa vào du canh, du cư, canh tác nương rẫy
và khai thác các sản phẩm từ rừng
Dân tộc H’Mông sống tại bản Sín Chải có một truyền thống văn hóa đặc sắc như: Có phong tục tập quán, tín ngưỡng, các điệu múa, các bài hát tiếng dân tộc,
ngành thủ công mỹ nghệ vải, quần áo mang đặc trưng riêng của dân tộc
Mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại bản Sín Chải – Lào Cai
* Các bên tham gia: Phát triển duy lịch tại bản Sín Chải có được sự đồng tình ủng
hộ tích cực của nhiều cấp, nhiều tổ chức và đoàn thể: Ủy ban nhân dân các cấp, phòng du lịch và ban hỗ trợ phát triển du lịch, các tổ chức phi chính phủ như IUCN (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới), SNV(Tổ chức Phát triển Hà Lan), FF và BRFW, các tổ chức đoàn thể như: hội phụ nữ, hội nông dân…
* Mô hình mô tả dưới không gian
* Cơ chế hoạt của mô hình Mô hình hoạt động và phát triển chịu sự tác động của:
- Nhân tố tổ chức hỗ trợ và quản lý: Bao gồm tổ chức phí chính phủ và chính quyền các cấp
- Nhân tố tác động là tìa nguyên thiên nhiên và nhân văn tại bản Sín Chải và khách du lịch
Chính quyền các cấp và các tổ chức đoàn thể
Cộng đồng dân cư thực
hiện
Phát triển du lịch tại bản Sín Chải
Các tổ chức phi
chính phủ IUCN, SNV
Thị trường khách
du lịch
Tài nguyên thiên nhiên
Trang 31- Nhân tố tham gia cung cấp các dịch vụ du lịch cho khách và tham gia bảo tồn tài nguyên môi trường thiên nhiên của cộng đồng dân tộc H’Mông
Bài học kinh nghiệm
Phát triển du lịch tại bản Sín Chải có tham gia của cộng đồng H’Mông trong quá trình tổ chức dự án Tiêu chí đạt được của dự án là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, giải quyết công ăn việc làm và nâng cao được đời sống cộng đồng Dự án đã chia sẻ quyền lợi cho cộng đồng nói chung nên đây là mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
du lịch cộng đồng là loại hình du lịch bền vững dựa vào cộng đồng địa phương, trong đó cộng đồng sẽ trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch như khai thác, quản
lý và bảo tồn nguồn tài nguyên và cộng đồng phải được hưởng lợi từ hoạt động du lịch để từ đó giảm tỉ lệ đói nghèo, cải thiện thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống
Mục tiêu chính của du lịch dựa vào cộng đồng là bảo vệ tài nguyên văn hóa,
tự nhiên, ngày càng thu hút dân cư bản địa tham gia hoạt động du lịch để mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương và mang lại cho du khách một sản phẩm
du lịch có trách nhiệm đối với môi trường xã hội
Chương 1 cũng cho thấy để phát triển du lịch dựa vào cộng đồng thì cộng đồng phải trực tiếp tham gia hoạt động du lịch như được quyền thảo luận, quyền
Trang 32đầu tư và quyền làm chủ trong việc phát triển du lịch ở địa phương mình Để hoạt động du lịch phát triển bền vững thì hoạt động du lịch đó phải phù hợp với khả năng nhận thức, khả năng tài chính và khả năng cung cấp nhân lực của cộng đồng, người dân phải được hưởng lợi từ hoạt động du lịch
Mặc dù để hình thành và phát triển du lịch cộng đồng đòi hỏi rất nhiều các điều kiện như điều kiện về tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn, điều kiện về yếu tố cộng đồng… nhưng với ý nghĩa to lớn cho công tác bảo tồn, cho hoạt động
du lịch và trên hết cho cộng đồng địa phương nên hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng vẫn đang được khuyến khích phát triển và là mục tiêu hương tới của nhiều quốc gia vì du lịch dựa vào cộng đồng sẽ là nền tảng và phát triển du lịch bền vững
Việc nghiên cứu mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở các nước như Trung Quốc, Nepal, Thái Lan và các vùng đã đạt được những thành công nhất định về phát triển du lịch dựa vào cộng đồng trong cả nước như Mai Châu (Hòa Bình), Sapa (Lạng Sơn) ở chương 1 đã rút ra được những bài học kinh nghiệm quý giá để phát triển du lịch cộng đồng như: Tăng cường kiểm soát và hướng dẫn sự tham gia của cộng đồng, phát triển đầy đủ các chức năng quản lý của các tổ chức nòng cốt; thiết lập một cơ chế phân bổ lợi ích hợp lý, tăng cường một số chính sách
cơ bản về tham gia cộng đồng dành cho các cư dân cộng đồng như: giáo dục và đào,
có sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ về tài chính, kinh nghiệm tổ chức… Trong quá trình phát triển du lịch phải đặc biệt tôn trọng phong tục tập quán của người dân bản địa và giữ nguyên hiện trạng đất đai, quang cảnh tài nguyên tự nhiên của người dân
Trang 33Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở HUỲÊN BUÔN ĐÔN – ĐĂK LĂK
2.1.1 Điều kiện về địa lý, lịch sử
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Nguồn: Niên giám thống kê 2006
Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Buôn Đôn Buôn Đôn là huyện biên giới của tỉnh Đăk Lăk nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Đăk Lăk, cách TP Buôn Ma Thuột 30km Với thiên nhiên hùng vĩ, nhiều núi đồi, sông suối ghềnh thác, hồ, có đường biên giới chung tiếp giáp với tỉnh Mulđulkiriri – Camphu chia dài 46,7km Diện tích tự nhiên 141.040ha, trong đó đất nông nghiệp 132.653,21 ha, đất phi nông nghiệp 6.859,75ha, đất ở 540,54ha và đất chưa sử dụng
là 1.527,04ha (Theo Niên giám thống kê huyện Buôn Đôn năm 2011)
Trang 34Buôn Đôn có phía Nam giáp huyện Cư Jút, phía Đông Nam giáp thành phố Buôn Ma Thuột, phía Đông giáp huyện Cư M’gar, phía Bắc giáp huyện Ea Súp Phía Tây huyện là biên giới với Campuchia
2.1.1.2 Lịch sử
Huyện Buôn Đôn được thành lập theo Nghị định số 137/1995/NĐ-CP ngày 30/10/1995 của Chính phủ Tách ra từ huyện Ea Súp và một phần từ thành phố Buôn Ma Thuột từ ngày 17 tháng 10 năm 1995 trên cơ sở địa danh Bản Đôn trước đây, vốn một thời là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk
Buôn Đôn là tên huyện mới đặt khi thành lập huyện mới, còn Bản Đôn cũ theo tên gọi tiếng Lào ngày xưa (sắc dân Lào chiếm đa số ở đây khi còn sơ khai) có nghĩa là “Làng Đảo” nghĩa là một ngôi làng được xây dựng trên một ốc đảo của Sông Serepôk Đây là một trong những điểm giao thương quan trọng của 3 nước Đông Dương ngày xưa
2.1.2 Đặc điểm hành chính, dân cư
Toàn huyện có 7 đơn vị hành chính cấp xã Trong đó có 3 xã vùng III và 4 xã vùng II Toàn huyện có 99 thôn, buôn và 18 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân
tộc thiểu số là: 6.358 hộ (Theo Báo cáo Số 184/BC- UBND)
Diện tích, dân số và mật độ dân số tại các xã ở Buôn Đôn được phân bố không đồng đều giữa các xã
Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số năm 2011 ở huyện Buôn Đôn
(Người) Mật độ dân số (Người/km2)
Trang 35Người Êđê, M’nông và J’rai là các tộc người tại chỗ hay tộc người địa phương chính, còn các tộc người khác di cư đến trong 30 năm qua, như Tày, Nùng, Mường, Dao, Thái và Mông
2.1.3 Đặc điểm về Kinh tế - Văn hóa – Xã hội
2.1.3.1 Kinh tế
Do khí hậu Tây Nguyên phân thành 2 mùa rõ rệt, đồng bào các dân tộc ở đây chỉ canh tác, cấy trồng một vụ trong năm vào mùa mưa và luân canh Việc trồng cây công nghiệp như hồ tiêu, cà phê, cao su dần dần đóng vai trò quan trọng trong kinh
tế hộ gia đình người Êđê, M’nông, J’rai Bên cạnh đó người dân bản địa còn trồng trọt lúa, bắp, đậu, rau và chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê, gà, vịt, ngan, ngỗng
Năm 2011 tổng diện tích gieo trồng là 22.788 ha tăng 688ha so với năm
2010 Tổng sản lượng lương thực năm 2011 là: 40.950 tấn, tăng 448 tấn so với năm
2010, bình quân lương thực đầu người: 658kg/người Thu nhập bình quân đầu người theo giá cố định năm 1994: 5,96 triệu, tính theo giá hiện hành khoảng 12 triệu đồng Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn là: 24,403 triệu đồng tăng 16,3%
so với năm 2010 (Báo cáo số 184/BC- UBND)
Mặc dù tình hình kinh tế của người dân tại huyện Buôn Đôn trong những năm gần đây đã cải thiện và tăng lên rất nhiều Tuy nhiên, do hầu hết người dân sống bằng nghề nông nhưng số lượng đất đai ngày càng thu hẹp, giá các loại phân bón và tiêu dùng ngày càng gia tăng, đất đai bạc mầu, giá các sản phẩm nông nghiệp thường xuyên biến động … đã ảnh hưởng lớn đến đời sống hàng ngày của người dân nơi đây Tỷ lệ hộ nghèo ở Buôn Đôn còn khá cao: Tổng số hộ nghèo toàn huyện là 5.776 hộ, chiếm tỷ lệ 41,43% tổng dân số toàn huyện Trong đó số hộ nghèo là người dân tộc thiểu số là: 3.142 hộ chiếm 54,4% tổng số hộ nghèo (Theo
Báo cáo Số 184/BC- UBND) nên công tác xóa đói giảm nghèo tại huyện Buôn Đôn
luôn là vấn đề cấp thiết và nan giải
2.1.3.2 Văn hóa- Xã hội
Trang 36Huyện Buôn Đôn tập trung rất nhiều dân tộc có tiềm năng lớn về hoạt động
du lịch nên được UBND huyện quan tâm nhiều mặt, đặc biệt về Văn hóa – Xã hội Tình hình Văn hóa – Xã hội trên địa bàn huyện đã đạt được những thành tựu đáng
kể như năm 2011 huyện đã tạo việc làm mới cho 1.100 người; tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 34% (trong đó qua đào tạo nghề chiếm trên 27%) Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh (theo tiêu chí 2005) chỉ chiếm 25% dân số toàn huyện, số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa chiếm 75%; thôn, buôn đạt văn hóa chiếm 72%; thôn, buôn
có nhà sinh hoạt cộng đồng chiếm trên 56% (Báo cáo số 184/BC- UBND)
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận trên, huyện Buôn Đôn còn gặp phải những khó khăn, hạn chế về nhiều mặt như công tác bảo tồn các di tích, phong tục tập quán chưa được quan tâm hợp lý, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, giáo dục, y tế chưa được đầu tư thích đáng…
2.2 Tiềm năng du lịch cộng đồng tại huyện Buôn Đôn
2.2.1 Văn hóa, nếp sống của cộng đồng địa phương
Hiện tại huyện Buôn Đôn có 18 dân tộc anh em cùng chung sống Trong đó chủ yếu là người Kinh, Ê đê, M’nông; J’rai, Lào… Phần lớn các tộc người còn giữ lại di sản văn hoá riêng, tạo thành một mảng màu đặc sắc trong toàn bộ đời sống văn hoá Tây Nguyên
Người Êđê theo tín ngưỡng đa thần thể hiện trong các nghi lễ về mọi mặt của cuộc sống Có những nghi lễ theo vòng đời từ khi người mẹ mang thai đến khi đứa trẻ sinh ra, lớn lên, dựng vợ, gả chồng đến khi già, chết; có những nghi lễ thuộc vòng sinh trưởng của cây trồng từ khi chọn đất làm rẫy cho đến khi thu hoạch; và những nghi lễ của chung cộng đồng như lễ cúng bến nước thường được tổ chức vào đầu mùa mưa, ngoài ra còn có lễ rước Kpan khi dựng xong nhà mới
Người M’nông ở Buôn Đôn sống trong những ngôi làng mà họ gọi là bon Mỗi bon có vài chục nóc nhà dài Rừng và đất bao quanh theo truyền thống phục vụ
cho trồng trọt, săn bắt, khai thác gỗ, có ranh giới tự nhiên như suối, ao hồ Cũng như người Êđê, người M’nông theo chế độ mẫu hệ, những gia đình lớn sống chung
Trang 37trong một ngôi nhà, đứng đầu là một người phụ nữ Nếu người Êđê sống trong những ngôi nhà sàn thì người M’nông lại sống ở những ngôi nhà trệt
Trong đời sống tinh thần của người M’nông có rất nhiều nghi lễ và lễ hội
liên quan chặt chẽ đến vòng đời cũng như tập quán canh tác của họ Có nghi lễ lơ yang koih diễn ra trước khi trồng cây hay lễ tắm lúa khi cho lúa vào kho Thêm vào
đó, còn có các nghi lễ chung, ví dụ nghi lễ lập bon mới hoặc bắt đầu mùa săn
Y phục truyền thống của đồng bào phổ biến là các loại áo choàng, quần hoặc váy, áo chui đầu, khố được dệt bằng các hoa văn kim tuyến với các màu sắc cơ bản như đỏ, đen, xanh thẫm, trắng, tím Các hoa văn trang trí tương tự các hình vẽ động vật, hoa lá cách điệu
J’rai là một trong những tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo- Pholynesien, hệ Nam Đảo Xã hội J’rai theo chế độ mẫu hệ, đứng đầu gia đình là một phụ nữ Giống như người Êđê, địa điểm sinh hoạt cộng đồng của người J’rai
thường diễn ra ở bến nước và trong ngôi nhà cộng đồng dài, gọi là nhà rông (sang rung) Cũng giống như hầu hết các tộc người Tây nguyên khác, nghi lễ đóng vai
trò quan trọng trong xã hội J’Rai và được tổ chức thường xuyên vào giai đoạn chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa (tháng Ba/Tư) và sau vụ gặt (tháng Mười Một/Mười Hai)
2.2.2 Tri thức bản địa
- Nghề truyền thống:
+ Nghề sản xuất và chăm sóc cây cà phê: đồng bào các dân tộc ở Buôn Đôn vẫn
phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào cây cà phê Có rất nhiều du khách muốn khám phá: bí kíp làm nên hạt cà phê có vị thơm ngon rất riêng mang tên Buôn Ma Thuột Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để du lịch cộng đồng phát triển Ở Buôn Đôn, du khách sẽ được tìm hiểu về vòng đời và cách chăm sóc cây cà phê, quy trình chế biến
từ cà phê hạt đến sản phẩm cà phê tinh chế mà mọi người sử dụng hằng ngày + Nghề dệt thổ cẩm bằng khung cửi: Từ xưa tới nay, các dân tộc Ê Đê, M’Nông,
J’rai … ở Đắk Lắk nói chung và huyện buôn Đôn nói riêng đã có nghề truyền thống chuyên dệt thổ cẩm Sản phẩm dệt thổ cẩm gồm nhiều loại: áo, quần, khăn, túi xách,
Trang 38tấm đắp, tấm thảm…, đây cũng là một trong những nghề truyền thống tạo được
nhiều công ăn việc làm cho người dân tại bản địa tại huyện Buôn Đôn
+ Nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng: Nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng
thành voi nhà đã từng tồn tại ở Buôn Đôn hơn 100 năm là của người Mnông gốc Lào, thiên di từ Lào sang vùng Buôn Đôn Sau này được các tộc người Êđê, Jrai,
Mnông và Lào phát triển mạnh và duy trì cho đến ngày hôm nay
- Kiến trúc, điêu khắc
+ Nhà dài: Khu du lịch thác Bảy Nhánh, buôn Niêng I của xã Ea Nuôl, buôn Trí,
buôn Yang Lành, buôn Hwa và gần đây nhất là hai buôn Tul A, Tul B (xã Ea Wer), buôn Ko Dung (xã Ea Nôul) mới được sở văn hóa thể thao và du lịch huyện Đăk Lăk khảo sát để xây dựng tuyến du lịch cộng đồng vẫn còn giữ được tính nguyên gốc về kiến trúc, chất liệu, qui mô (dài đến vài chục mét) và đặc biệt, trong nhà
trưng bày nhiều hiện vật dân tộc học như ghế kpan, cây nêu, ché rượu cần…
+ Tượng nhà mồ: Tượng mồ được đẽo gọt thô sơ bằng những nhát rìu thô ráp mộc
mạc, các nét vạch ngang, vạch chéo sơ lược Với dụng cụ đơn giản là chiếc rìu và cây chà gạc, từ thân gỗ tròn, nghệ nhân chỉ cần phác hoạ một vài chi tiết là bức tượng bỗng trở nên sống động, có hồn bằng những mảng khối được nhấn mạnh Khác với tượng của người Việt, của người Khmer là những bức tượng linh thiêng, đặc biệt trang trọng khi đặt ở nơi thờ cúng, tượng mồ Tây Nguyên ra đời từ thiên nhiên, được đặt trong khung cảnh thiên nhiên, sống với thiên nhiên rồi hoà tan vào thiên nhiên cùng với thời gian nhưng rất gần gũi với cuộc sống quen thuộc hàng ngày của buôn làng như: tượng người ôm mặt ở các góc, tượng nam nữ có tính phồn
thực, tượng con gái chia cơm lam, tượng người đánh trống, tượng chó cõng khỉ
- Ẩm thực: Sản phẩm địa phương và đặc sản địa phương rất đặc trưng của người
Tây Nguyên như: thịt rừng nướng, gà nướng Bản Đôn, cơm lam, các món ăn từ các loài cá sông đặc sản như cá lăng, cá mõm trâu với rượu cần, rượu AmaKông, cà phê chồn do chính những người dân bản địa sản xuất cũng chính là những tiềm năng lớn
để phát triển du lịch cộng đồng tại Buôn Đôn
Trang 392.2.3 Lễ hội voi Buôn Đôn
Hội đua voi và liên hoan cồng chiêng là những cuộc trình diễn, giới thiệu văn hóa truyền thống ấn tượng nhất của cư dân Tây Nguyên, là sinh hoạt lễ hội được tổ chức vào tháng 3 hàng năm ở Bản Đôn Trong lễ hội du khách có thể xem các cuộc tranh tài của voi từ đá bóng, chạy đua đến bơi vượt sông Đây là một lễ hội cuốn hút nhiều du khách đến với Bản Đôn – Đắk Lắk
2.2.4 Hệ sinh thái rừng Yokdon
Tài nguyên rừng trong khu vực khá phong phú, chủ yếu là rừng khộp với các kiểu trạng thái và tổ hợp khác nhau, đã tạo nên nhiều sinh thái cảnh quan đặc trưng cho kiểu rừng lá rộng, họ dầu rụng lá theo mùa Các diện tích rừng này đã góp phần không nhỏ trong việc giữ và điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn và rửa trôi đất, đặc biệt là sinh cảnh thích hợp của thú lớn, trong đó có Voi rừng Trong huyện có Vườn Quốc gia Yok Đôn lớn nhất nước với diện tích 115.500ha nơi bảo tồn Voi châu Á và hệ sinh thái rừng Khộp độc nhất vô nhị mang tính đặc trưng của rừng nhiệt đới Đông Nam Á Rừng nguyên sinh chiếm trên 90% diện tích toàn vườn Chủ yếu là các cánh rừng ẩm xanh tươi và rừng bụi với nhiều loại cây gỗ quý như giáng hương, cà te, cẩm lai, trắc, gỗ đỏ, sao lá tím… Nơi đây cũng tập hợp nhiều loài hoa quý hiếm, chỉ riêng hoa phong lan đã có trên 23 loài với đủ màu sắc
Theo tài liệu của dự án PARC tại VQG Yok Đôn thì khu hệ động vật hoang
dã của vùng rất đa dạng Khảo sát cơ bản trong năm 2002-2003, cho thấy có rất nhiều loài được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam cũng như Sách đỏ của Châu Á và thế giới Tại các khu vực rừng của huyện Buôn Đôn trước đây đã có sự hiện diện của các loài Bò xám (Bos sauveli), Trâu rừng (Bubalus arnee) và Hươu cà tong (Cervus eldi) Những loài này hầu như đã bị biến mất trong khu vực Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn hiện diện số lượng lớn Bò rừng, Bò tót, ba loài rái cá và các loài thú có vú quan trọng khác Đây là vùng phân bố Voi rừng còn lại duy nhất ở tỉnh Đăk Lăk
Trang 402.2.5 Cảnh quan thác nước
Hệ thống thuỷ văn trong khu vực khá phong phú, nhưng điểm hạn chế là phần lớn các con suối, thác đều khô cạn vào mùa khô, ngoại trừ sông Sêrêpok
+ Sông Serepôk: Serepôk (hay Srêpôk), tên gọi trong tiếng Campuchia là Tongle
Xrepok, là dòng sông lớn nhất trong hệ thống sông ngòi ở Đắk Lắk dài 406 km Đây là một chi lưu quan trọng của sông Mê Kông Đoạn chảy trên địa phận Đăk Lăk còn được gọi là sông Đăk Krông
+ Thác Bảy nhánh: Thác Bảy Nhánh thuộc buôn N’DRêch, xã Ea Huar, huyện
Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 35km về hướng tây bắc Dòng Sêrêpôk chảy về đây gặp một ghềnh đá lớn chia làm 7 dòng sông nhỏ chảy qua các tảng đá tạo thành 6 hòn đảo giữa các nhánh sông, vì vậy gọi là thác
Bảy Nhánh
+ Hồ Đức Minh: Hồ Đăk Mil- theo cách gọi bằng tiếng Ê Đê, hay hồ Đức Minh-
theo cách gọi bằng tiếng Việt, là một hồ nhân tạo được tạo nên từ một công trình thủy lợi chặn dòng suối Đắk Man, tỉnh Đắk Lắk Hồ Đăk Mil nằm cách Bản Đôn cũ chừng 5km về hướng Ea Súp thuộc địa bàn xã Krông na, huyện Buôn Đôn Diện tích mặt hồ gần 200ha, độ sâu 15m, là nguồn cung cấp cá tôm và nước tưới trong
vùng Núi Chư Ké và Chư Min bao bọc ba mặt hồ
2.3 Thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại huyện Buôn Đôn
2.3.1 Thực trạng hoạt động du lịch tại Huyện Buôn Đôn
2.3.1.1 Thực trạng du khách
Du khách đến Khu du lịch Buôn Đôn hằng năm tập trung vào tháng 1, 2, 4,
5, 6, 7, 8 với tỷ lệ khách chênh lệch cao: Khách nội địa chiếm 99,95%, khách nước ngoài chiếm 0,05% (năm 2011) Thời gian lưu khách ở khu du lịch thấp, cao nhất là
3 ngày Trong đó, chủ yếu là người Việt Nam, khách quốc tịch nước ngoài hầu như không qua đêm tại Buôn Đôn
Bảng 2.2: Số khách đến du lịch trên địa bàn huyện Buôn Đôn
* Số khách đến (Người)
+ Người Việt Nam
120.524 120.294
120.000 119.715
147.000 146.750
222.800 222.700