Việt Nam có một nền văn hóa đặc sắc, lâu đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc trên các phương diện phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng…
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH THƯ
PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CAO ĐÀI TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
TÕA THÁNH TÂY NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH THƯ
PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CAO ĐÀI TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
TÕA THÁNH TÂY NINH)
Trang 31
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lược sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích của đề tài 12
4 Nhiệm vụ của đề tài 12
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 13
7 Cấu trúc của luận văn 13
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 15
1.1 Văn hóa và thuộc tính giá trị của văn hóa 15
1.1.1 Khái niệm văn hóa 15
1.1.2 Thuộc tính giá trị của văn hóa 19
1.2 Du lịch và du lịch văn hóa 21
1.2.1 Du lịch 21
1.2.2 Du lịch văn hóa 24
1.3 Vai trò của văn hóa và việc phát huy các giá trị văn hóa trong hoạt động du lịch 28
1.3.1 Các sản phẩm du lịch từ văn hóa 28
1.3.2 Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong du lịch 31
1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam 34
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới 34
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam 38
1.5 Du lịch tôn giáo và tín ngưỡng 39
1.6 Tiểu kết chương 1 392
CHƯƠNG 2 VĂN HÓA CAO ĐÀI VÀ VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA VĂN HOÁ CAO ĐÀI TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TÕA THÁNH TÂY NINH 42
2.1 Khái quát về Tây Ninh và du lịch Tây Ninh 42
2.1.1 Khái quát về Tây Ninh 42
2.1.2 Tổng quan du lịch Tây Ninh 44
Trang 42
2.2 Tổng quan về đạo Cao Đài 46
2.2.1 Khái quát về đạo Cao Đài 46
2.2.2 Đạo Cao Đài ở Tây Ninh 50
2.3 Các giá trị văn hóa của đạo Cao Đài – một trong những yếu tố hình thành sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc tại Tây Ninh 50
2.3.1 Văn hóa Cao Đài thể hiện qua yếu tố vật thể : Tòa thánh Tây Ninh – nơi hội tụ và lan tỏa của Văn hóa Cao Đài 50
2.3.2 Văn hóa Cao Đài thể hiện qua yếu tố phi vật thể 65
2.4 Thực trạng việc phát huy các giá trị văn hóa Cao Đài trong du lịch tại Tòa thánh Tây Ninh 78
2.4.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng phục du lịch ở Tòa thánh Tây Ninh 78
2.4.2 Nguồn nhân lực và công tác tổ chức quản lý du lịch ở Tòa thánh 80 2.4.3 Sản phẩm du lịch và cung ứng sản phẩm du lịch ở Tòa thánh 81
2.4.4 Thị trường khách du lịch của Tòa thánh 81
2.4.5 Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tại Tòa thánh 82
2.4.6 Những kết quả cơ bản của hoạt động du lịch ở Tòa thánh Tây Ninh 83
2.5 Tiểu kết chương 2 85
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CAO ĐÀI TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TÕA THÁNH TÂY NINH 86
3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong việc tổ chức hoạt động du lịch tại Tòa thánh 86
3.2.1 Những thuận lợi cơ bản 86
3.2.2 Những khó khăn trước mắt 87
3.2 Định hướng phát triển du lịch ở tỉnh Tây Ninh 90
3.2.1 Mục tiêu hướng đến 90
3.2.2 Định hướng 90
3.3 Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa ở Tòa thánh Tây Ninh 92
Trang 53
3.3.1 Đầu tư xây dựng bổ sung cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ du lịch 92 3.3.2 Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật
thể 93
3.3.3 Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù ở Tòa thánh 98
3.3.4 Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch 99
3.3.5 Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch100 3.3.6 Tổ chức liên kết, phối hợp hoạt động giữa Tòa thánh với các tổ chức, doanh nghiệp 101
3.4 Xây dựng một số chương trình du lịch thử nghiệm gắn với Tòa thánh Tây Ninh với các tuyến điểm trọng điểm khác 102
3.4.1 Tour Tp HCM – Tây Ninh: 1 ngày 102
3.4.2 Tour Tp HCM – Tây Ninh: 2 ngày 1 đêm 103
3.4.3 Tour Lễ hội Cao Đài 103
3.5 Tiểu kết chương 3 106
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 112
DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Số lượng khách và doanh thu du lịch tỉnh Tây Ninh năm 2012 và 9 tháng đầu năm 2013 84
Bảng 2.2 Số lượng khách du lịch Tòa thánh Tây Ninh năm 2012 và 9 tháng đầu năm 2013 85
Trang 6Trong cuộc sống đương đại, văn hóa và du lịch có mối quan hệ mật thiết
và gắn kết chặt chẽ với nhau Bản chất của du lịch là văn hoá; văn hóa là nền tảng của du lịch, là chìa khóa then chốt mở đường cho sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp du lịch Văn hóa tạo ra sức hấp dẫn của du lịch; du lịch được coi như hành vi thỏa mãn văn hóa của con người trong các chương trình du lịch thuộc loại hình “du lịch văn hóa” Cũng do bản chất văn hoá của du lịch mà hình thành nên khoa học “văn hoá du lịch” nghiên cứu, khai thác các giá trị của văn hoá để phát triển du lịch
Việt Nam có một nền văn hóa đặc sắc, lâu đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc trên các phương diện phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng… Là một quốc gia mang trong mình dấu ấn rõ nét của nền văn hóa phương Đông nông nghiệp, nhưng với địa thế của một đất nước nằm giữa ngã ba đường của nhiều luồng tư tưởng văn hóa trên thế giới nên bản sắc của văn hóa Việt Nam chính là sự tiếp biến, giao lưu và dung hòa những yếu tố ngoại lai với yếu tố bản địa Với vị trí thuận lợi, với nguồn tài nguyên phong phú, Việt Nam ngày càng thu hút đông đảo các đối tượng khách du lịch Hoạt động du lịch góp phần giới thiệu giá trị nền văn hóa độc đáo của Việt Nam mấy nghìn năm văn hiến Văn hóa là nội dung, là bản chất đích thực của du lịch Việt Nam Đồng
Trang 7có Việt Nam vì nó mang lại nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế - văn hóa – xã hội cho cộng đồng địa phương lẫn du khách
Là một tỉnh nằm ở cửa ngõ các tỉnh miền Đông Nam Bộ của Thành phố
Hồ Chí Minh, du lịch tỉnh Tây Ninh cũng không nằm ngoài xu hướng này Mặc dù
có nhiều lợi thế về du lịch văn hóa nhưng Tây Ninh vẫn chưa tận dụng, khai thác hết những thế mạnh của mình để phát triển du lịch một cách tương xứng Từ thực tế
đó, UBND tỉnh Tây Ninh xác định chọn du lịch tâm linh (mà định hướng là du lịch văn hóa) là sản phẩm chính để thu hút khách du lịch và các nhà đầu tư trong lĩnh vực du lịch
Nói đến du lịch Tây Ninh, người ta không thể không nhắc đến Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh – một trong những địa điểm du lịch văn hóa nổi tiếng của tỉnh, thu hút mỗi năm hàng ngàn lượt khách du lịch Tòa Thánh Tây Ninh – một công trình kiến trúc độc đáo của Đạo Cao Đài được người dân địa phương quen gọi là Tòa Thánh Đây chính là sự kết tinh văn hóa của tôn giáo Cao Đài Đạo Cao Đài ra đời tại Nam Bộ Việt Nam tổng hợp nét văn hóa truyền thống và tín ngưỡng Tam giáo Trong quá trình hình thành và phát triển, tuy rất mới mẻ, song mấy mươi năm qua, đạo Cao Đài đã thể hiện rõ tính cách, đặc trưng văn hóa của mình, bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa truyền thống và có một số đóng góp nhất định vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Chính vì vậy, đạo Cao Đài là một thành tố văn hóa đặc sắc của cư dân Nam Bộ nói chung, của Tây Ninh nói riêng Khi khai thác các yếu tố văn hóa Cao Đài phục vụ phát triển du lịch là chúng ta đã thực hiện cụ thể hoá quá trình “kinh tế hóa văn hóa”, biến các thành tố văn hóa thành sản phẩm văn hóa đồng thời cũng là
Trang 86
một sản phẩm du lịch cần được giữ gìn và phát triển Muốn làm được điều đó cần phải biến sản phẩm văn hóa này thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, để ngày càng nhiều du khách cảm nhận được những giá trị văn hóa ấy Nhưng đây không phải là một việc làm dễ dàng và cần có sự hợp tác của nhiều bên liên quan Trong văn hoá Cao Đài, các di tích mà điển hình là Tòa Thánh Tây Ninh đã trở thành một điểm đến không thể thiếu của du khách Trong những năm qua, hoạt động du lịch ở Tòa thánh Tây Ninh đã phát triển khá mạnh mẽ và đã đạt được nhiều thành tựu rất khả quan; tuy nhiên trong quá trình phát triển cũng bộc lộ nhiều vấn đề cần quan tâm, giải quyết Với mong muốn tìm hiểu sâu thêm về Văn hoá Cao Đài cũng như việc đưa văn hoá Cao Đài vào trong hoạt động du lịch để góp phần đưa du lịch Tây Ninh ngày càng phát triển, tôi đã chọn đề tài: “PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
CAO ĐÀI TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG
HỢP TÒA THÁNH TÂY NINH)” Đề tài được thực hiện cũng nhằm đưa ra những
giải pháp thích hợp để phát huy những giá trị văn hóa của tôn giáo bản địa này vào hoạt động du lịch, góp phần nhỏ vào việc phát triển du lịch trên địa bàn Tây Ninh
2 Lược sử nghiên cứu vấn đề
Đạo Cao Đài chính thức ra đời vào năm 1926 Từ đó đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, học giả nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của đạo Cao Đài Các công trình được tóm lược như sau:
- Về lịch sử có: Hai cuốn sách thuộc loại bút chiến về đạo Cao Đài là
“Cái án Cao Đài” của Đào Trinh Nhất và “Cải án Cao Đài” của Băng Thanh Qua
“Cái án Cao Đài” (1929), Đào Trinh Nhất giới thiệu nguồn gốc ra đời của đạo Cao
đài, giới thiệu giáo lý, sự thờ cúng, tổ chức đạo và hoạt động của chức sắc Cao Đài Bằng hiểu biết và lập luận của mình, Đào Trinh Nhất cho rằng đạo Cao đài là tà
giáo và cần phải tẩy chay Còn “Cải án Cao Đài” (1930) của Băng Thanh viết để
phản biện lại quan điểm của Đào Trinh Thất Ông cho rằng đạo Cao Đài ra đời trong hoàn cảnh hiện tình xã hội Việt Nam “cang thường nghiên ngửa, phong tục
Trang 9ngưỡng dân gian và tinh thần Tam giáo để lập đạo Cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt
Nam” của Huỳnh Công Bá (2006) cho rằng sự ra đời của đạo Cao Đài có cơ sở từ tục cầu hồn, cầu tiên phát triển lâu đời ở Việt Nam và đang phát triển rầm rộ ở Nam bộ lúc bấy giờ, kết hợp với tín ngưỡng Thần linh học, không đề cập đến các
nguyên nhân khác và tình hình Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XX làm nhân tố cho sự xuất hiện đạo Cao Đài
Trong cuốn sách “Tôn giáo thế giới và Việt Nam” của tác giả Mai Văn
Hải (1998) giới thiệu sự ra đời đạo Cao Đài chủ yếu do hai nguyên nhân chính: do ảnh hưởng chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp và sự ảnh hưởng phong trào Thông linh học ở Nam Kỳ, nhưng chưa đi vào phân tích hai nguyên nhân này để lý giải cho sự ra đời của đạo Cao Đài; tác giả Nguyễn Văn
Trung (1998) với “Một số hiểu biết về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam” giới thiệu
sơ lược về đạo Cao Đài, cho rằng sự bóc lột của thực dân, phong kiến, nghèo nàn về kinh tế, thấp kém về văn hóa đã làm cho người dân cảm thấy không có đường ra
nên họ đã tìm đến tôn giáo để an ủi Từ đó, đạo Cao Đài ra đời; Trong cuốn “Người
Nam Bộ và tôn giáo bản địa” (Bửu Sơn Kỳ Hương - Cao Đài - Hòa Hảo) của Phạm
Bích Hợp (2007) trình bày khá chi tiết về đạo Cao Đài, tuy nhiên, tác giả chỉ trình bày sơ lược bối cảnh xã hội Nam Kỳ và cho rằng cơ bút là yếu tố tiên quyết cho sự
hình thành đạo Cao Đài Tác giả Đặng Nghiêm Vạn (2001) trong “Lý luận về tôn
giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” đã phân tích sự ra đời đạo Cao Đài, cũng từ
các nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng chưa phân tích những tác động của các yếu tố địa lý - văn hoá - lịch sử làm tiền đề cho đạo Cao Đài ra đời; Cuốn
“Tôn giáo tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long” của Nguyễn
Trang 108
Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc (2005) đề cập đến sự phát triển của đạo Cao Đài
từ sau năm 1945 đến nay, sách hồn tồn khơng đề cập đến bối cảnh hình thành đạo Cao Đài; Tổng cục chính trị, Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt (1998) với
“Tìm hiểu về tơn giáo” cĩ nĩi sơ lược các nguyên nhân ra đời đạo Cao Đài do các
chính sách kinh tế, chính trị và sơ lược về thực trạng văn hĩa của Nam Kỳ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, lý giải rằng sự bế tắc về nhiều mặt của người nơng dân đã
sớm thúc đẩy sự ra đời của đạo Cao Đài; Nguyễn Đăng Duy (2001) với “Các hình
thái tín ngưỡng tơn giáo ở Việt Nam” cho rằng các tầng lớp trung lưu, trung tiểu tư
sản và địa chủ đã kết hợp “Thần linh học” với đạo giáo Thần tiên cĩ sẵn ở Nam Kỳ
để trở thành phong trào “cầu tiên giáng bút” dẫn đến lý do trực tiếp ra đời đạo Cao
Đài; Đỗ Quang Hưng (chủ biên) (2001) với “Tơn giáo và mấy vấn đề tơn giáo Nam
Bộ” cho rằng hiện tượng Cao Đài, Hịa Hảo ra đời ở Nam Kỳ với các lý do: do cơng
cuộc khẩn hoang buổi đầu mang tính tự phát, thiếu luật lệ, thiếu sự quản lý của triều đình nên đã xuất hiện các thủ lĩnh vùng cĩ khả năng tập hợp quần chúng và do quan
hệ sản xuất hịa lẫn trong quan hệ tình cảm, quan hệ tơn giáo, quan hệ hàng xĩm, họ hàng, làng xã, sinh hoạt tơn giáo trở thành một mặt, một bộ phận hữu cơ của sinh hoạt cộng đồng nĩi chung…, các tơn giáo ra đời ở Nam Kỳ đã đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt cộng đồng tồn diện…
Trong các học giả nước ngồi, Gabriel Gobron là một tín đồ Cao Đài
người Pháp đã viết nhiều tác phẩm về đạo Cao Đài như: “Lịch sử đạo Cao Đài” (Histoire do Caodaisme), “Lịch sử và triết lý đạo Cao Đài” (Histoire et Philosophie
du Caodạsme) giới thiệu về lịch sử hình thành đạo Cao Đài, giới thiệu về giáo lý, giáo luật, tổ chức đạo, cho rằng đạo Cao Đài là đạo Phật canh tân, cĩ nét độc đáo là
tinh thần tổng hợp Tam giáo, thuật chiêu hồn và là tơn giáo đơn giản nhất; “Lịch sử
đạo Cao Đài, quyển 1, Khai Đạo, từ khởi nguyên đến khai minh” của Cơ Quan Phổ
Thơng Giáo Lý Đại Đạo (2005) đã đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời đạo Cao Đài và quá trình hình thành đạo Cao Đài
Cũng nghiên cứu về Cao Đài, tác giả Lê Anh Dũng với các tác phẩm như:
“Con đường Tam giáo Việt Nam” (1994) nêu lên các nội dung về sự dung hợp tư
Trang 119
tưởng Tam giáo: Phật – Lão – Nho trong thi văn Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
làm nền tảng tư tưởng cho đạo Cao Đài ra đời; “Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm
ẩn 1920 – 1926” (1996) giới thiệu lịch sử đạo Cao Đài từ lúc sơ khai đến ngày Khai
đạo 15/10/Bính Dần (1926); “Bối cảnh xã hội Nam Kỳ trước khi đạo Cao Đài ra
đời” (2000), tạp chí Xưa và Nay, (Số 81B), tr.21 – 22, trích dịch những nội dung
luận án tiến sĩ triết học của giáo sư người Mỹ, bà Werner, nói về sự ra đời của đạo Cao Đài là một phong trào quần chúng ở Nam Kỳ
“Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài” của Đặng Nghiêm Vạn và các tác giả
khác (1995) nêu lên các nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của đạo Cao Đài và Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn khẳng định rằng đạo Cao Đài là một thực thể khách quan, một thế ứng xử của người dân Nam Bộ, thành công là do tính nhập thế, tính thực hành của đạo Cao Đài, sự pha trộn giữa cái đời thường với cái siêu hình, hiểu được tâm
lý của người dân, hướng người dân đến con đường giải thoát; “Đạo Cao Đài ở Sài
Gòn” của Đinh Văn Đệ (1999), tạp chí Xưa và Nay, (số 59B + 60B), tr.38, cho rằng
sự ra đời của đạo Cao Đài là do đặc điểm đời sống tín ngưỡng Nam Kỳ và yếu tố
tâm linh, siêu hình; Nguyễn Tài Thư, Trương Văn Chung (2003) với “Đạo Cao
Đài: Một hình thức tôn giáo - tư tưởng mới ở Việt Nam thời Cận - Hiện đại”, trong
tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, (số 02), tr.49 - 57 cho rằng tôn giáo, tín ngưỡng được
yêu chuộng ở đất Nam Kỳ đầu thế kỷ XX là Minh giáo và Thông linh học, đã đem lại một “sức sống mới” cho cư dân Nam Kỳ, làm tiền đề cho một tôn giáo mới ra đời đó là đạo Cao Đài
Tác phẩm “Góp phần tìm hiểu sự ra đời của đạo Cao Đài”, Luận văn
Thạc sĩ Lịch sử của Ngô Chơn Tuệ (2008) đã giới thiệu khá chi tiết những vấn đ ề liên quan đến đạo Cao Đài: bối cảnh chính trị, xã hội, kinh tế Nam Kỳ hồi đầu thế
kỷ XX ; quá trình trình hình thành của đạo Cao Đài, nguyên nhân thành công của đạo Cao Đài, tổ chức hành chánh đạo và đây là luận văn chuyên ngành lịch sử nên
tác giả chưa đi sâu khai thác về yếu tố văn hóa của đạo Cao Đài; “Đạo Cao Đài và
chính trị” (1973), (tiểu luận Cao học) của Phan Kỳ Chưởng giới thiệu sự ra đời đạo
Cao Đài, một hệ thống tổ chức của tôn giáo mới và qua đó đề cập đến mối quan hệ
Trang 1210
chính trị với đạo Cao Đài từ sau 1926; Trần Văn Rạng (1975) với “Vị thế Cao Đài
Tây Ninh trong quốc sử: lịch sử chính trị và quân sự từ 1937- 1954”, tiểu luận Cao
học sử, nêu nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của đạo Cao Đài chỉ vì “mục đích tị mị
để ngâm thi xướng họa” với các Thần linh và một phần do bất mãn sự thống trị của
thực dân Pháp nên một số quan lại, trí thức tìm đến cơ bút và đĩ cũng chính là nguyên nhân đã dẫn đến sự ra đời của đạo Cao Đài
Jérémy Jammes (2006), “Le caodạsme: rituels médiumniques, oracles et
exégèses - Approche ethnologique d’un mouvement religieux vietnamien et de ses réseaux”, luận án tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học, Đại học Paris X, Paris, giới
thiệu về sự ra đời đạo Cao Đài ở Nam Kỳ, mở đầu với chính sách xâm lược của thực dân và cuộc khủng hoảng chính trị, xã hội, sự khủng khoảng của các tơn giáo truyền thống… những hoạt động của các Hội kín Nam Kỳ, hoạt động của các chi phái Minh và truyền thống cầu cơ của người Việt, người Hoa… và từ đĩ xuất hiện các đàn tiên và dẫn đến sự xuất hiện đạo Cao Đài; Jayne Susan Werner (1981) với
“Chính trị nơng dân và giáo phái: nơng dân và chức sắc trong đạo Cao Đài ở Việt Nam” (Peasant Politics and Religious Sectarianism: Peasant and Priest in the Cao Dai in Viet Nam), đây là luận án tiến sĩ Triết học, đề cập đến các nguyên nhân dẫn
đến sự ra đời đạo Cao Đài ở Nam Kỳ, tác giả đã nĩi đến những điều kiện kinh tế xã hội ở Nam Kỳ sau chiến tranh thế giới thứ nhất và bà cho rằng đạo Cao Đài là phong trào thu hút nơng dân lớn nhất tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ (1926), cĩ ảnh hưởng lớn đến chính trị miền Nam hơn nữa thế kỷ ; Tran Thu Dung (1996) với
“Le Caodạsme et Victor Hugo”, luận án tiến sĩ (Thèse de l’ Université de Paris
VII), Paris, đã đi vào phân tích sơ lược các điều kiện kinh tế, văn hĩa, xã hội Nam
Kỳ để dẫn đến sự ra đời đạo Cao Đài
Các bài viết “Tìm hiểu Đền thánh Cao Đài Tây Ninh” đăng trên Tc Văn hố Nghệ thuật, số 12(222), 2002, tr.31; bản thảo“Cao Đài Tự điển, quyển 1,2,3” của Đức Nguyên; “Lược thuật Tịa thánh Tây Ninh” của T.L Thiên Giang Phạm
Văn Tân và các tác giả Bên cạnh đĩ cĩ những quyển sách lưu hành nội bộ đạo Cao
Đài về lễ hội như: “Báo Ân Từ và Hội Yến Diêu Trì Cung” của Kim Hương; “Nghi
Trang 1311
tiết cúng lễ”, Hội đồng Chưởng Quản Tòa thánh Tây Ninh; còn có một số bài viết
trên các báo, tạp chí như:“Hội Yến Diêu Trì” của Kim Phụng, Tc Văn Hoá Nghệ Thuật, số 12(222), 2002, tr.38; “Đồng bào đạo Cao Đài dự Đại lễ Hội Yến Diêu
Trì”, Sài Gòn Giải Phóng, số 1, 1997 Nói chung, những bài báo ấy chỉ dừng lại ở
mức độ giới thiệu khái quát Đại lễ Hội Yến Bàn Đào
- Những công trình nghiên cứu về Cao Đài là những công trình nghiên cứu tổng thể, đem lại cái nhìn toàn diện Tuy nhiên, viết về những nét riêng chuyên biệt của văn hóa Cao Đài thật sự rất ít, có một số công trình nghiên cứu sau:
“GS.TS Trần Văn Khê nói về tính dân tộc trong nhạc lễ Cao Đài” của Lê
Anh Dũng; “Đại lễ vía đức Chí Tôn trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” của Đinh Văn
Khá (1975), Luận văn Thạc sĩ nhân văn, Đại học Văn Khoa Sài Gòn, giới thiệu khá chi tiết về lễ vía đức Chí Tôn, một lễ hội lớn của đạo Cao Đài; Trần Ngọc Thêm
(1996), “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, hệ thống những đặc trưng văn hóa Cao Đài; “Lễ hội Cao Đài Tây Ninh” của Lê Ngọc Hòa (1997), Luận văn Thạc sĩ
Khoa học Văn hóa, Đại học Văn hóa Hà Nội, ngoài phần giới thiệu khái quát về đạo Cao Đài, tác giả miêu tả khá chi tiết về lễ hội Cao Đài nhưng chưa chỉ ra được giá
trị văn hóa truyền thống trong lễ hội Cao Đài; Huỳnh Ngọc Thu với “Đời sống tôn
giáo của tín đồ đạo Cao Đài trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ”, Luận án tiến sĩ lịch
sử ngành Dân tộc học, Trường Đại học KHXH&NV Thành phố Hồ Chí Minh, ngoài phần tổng quan về đạo Cao Đài ở Nam Bộ, tác giả miêu tả đời sống tôn giáo của cộng đồng tín đồ Cao Đài ở Nam Bộ, tổng kết những đóng góp của đạo Cao Đài đối với văn hóa Nam Bộ, tuy nhiên tác giả chưa hệ thống được hết những giá trị văn hóa truyền thống trong đạo Cao Đài Ngoài ra, còn nhiều Websites nói về lịch sử đạo Cao Đài nhưng đề cập về vấn đề văn hóa Cao Đài cũng rất hiếm
Tóm lại, đa số các công trình đã viết về Cao Đài mới chỉ nghiên cứu về lịch sử hình thành, một số công trình nghiên cứu về lễ hội và văn hóa, nhưng chưa
có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về văn hóa Cao Đài để ứng dụng vào việc phát triển du lịch
Trang 1412
3 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu Đạo Cao Đài nhằm phân tích và đánh giá, tìm hiểu những giá trị văn hóa của tôn giáo này, ứng dụng cho việc khai thác các giá trị đó phục vụ phát triển du lịch văn hóa - lễ hội tại địa phương Đánh giá vai trò của Tòa thánh Tây Ninh đối với sự phát triển của du lịch Tây Ninh hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, đưa ra những giải pháp và kiến nghị để giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa ấy trong hoạt động du lịch tại Tây Ninh hiện nay
4 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý thuyết về văn hóa, du lịch và một số vấn đề liên quan
- Tìm hiểu khái quát về đạo Cao Đài
- Phân tích những giá trị văn hóa của Đạo Cao Đài
- Nghiên cứu, tìm hiểu việc ứng dụng, đưa những giá trị văn hóa Cao Đài vào hoạt động du lịch
- Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại Tòa thánh Tây Ninh hiện nay
- Đưa ra những giải pháp góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của Đạo Cao Đài trong hoạt động du lịch hiện nay
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đạo Cao Đài, cùng một số vấn đề liên quan Hiện nay, đạo Cao Đài tồn tại nhiều chi phái; mỗi chi phái có chút ít sự khác biệt Riêng Đạo Cao Đài tại Tây Ninh vẫn giữ được gần như nguyên bản vốn có Vì vậy, phạm vi đề tài này lấy Tòa thánh Tây Ninh – nơi xuất phát đạo Cao Đài - làm điển hình, đi sâu nghiên cứu nghiên cứu các giá tri ̣ văn hóa Cao Đài thuô ̣c chi phái Cao Đài Tây Ninh là chủ yếu Đạo Cao Đài có nhiều lễ hội trong năm, nhưng trong
đó có hai lễ hội lớn nhất là Đại lễ Vía Đức Chí Tôn tổ chức vào ngày Mùng Chín
Trang 1513
tháng Giêng âm lịch và Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung tổ chức vào ngày Rằm tháng Tám âm lịch Do đó, về phần lễ hội, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về hai đại lễ trên
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở phương pháp luận, luận văn dựa vào quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, vận dụng một cách tổng hợp các phương pháp nghiên cứu kết hợp
lý luận và thực tiễn
Đề tài được nghiên cứu dựa trên một số phương pháp cụ thể như: phương pháp nghiên cứu tài liệu gồm thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu để hiểu biết toàn cảnh về Cao Đài và văn hoá Cao Đài Trên cơ sở đưa ra cơ sở lý luận chung của đề tài về văn hóa và du lịch Luận văn cũng sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học để khảo sát thực địa tại Tòa Thánh Tây Ninh và một vài nơi liên quan, phỏng vấn, ghi chép, chụp ảnh sưu tầm và tập hợp tư liệu thực tế Bên cạnh đó, luận văn còn vận dụng lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hoá để giải thích một vài hiện tượng văn hoá trong Đạo Cao Đài
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm ba chương:
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG Chương này tổng hợp những cơ sở lý luận chung của đề tài về các khái niệm văn hóa và du lịch, du lịch văn hóa, một số vấn đề về phát huy các giá trị văn hóa trong du lịch, những bài học về phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA CAO ĐÀI VÀ VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA VĂN HOÁ CAO ĐÀI TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TÕA THÁNH TÂY NINH Chương này bao gồm việc khái quát về Tây Ninh, du lịch Tây Ninh;
mô tả tổng quan về đạo Cao Đài; những giá trị văn hóa của đạo Cao Đài; đồng thời
Trang 1715
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA, DU LỊCH, DU LỊCH VĂN
HÓA, DU LỊCH TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG 1.1 Văn hóa và thuộc tính giá trị của văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều quan niệm, rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người
Tính đến năm 1972, trên thế giới đã có đến 200 định nghĩa về “Văn hóa”
Và cho đến nay, chỉ riêng ở phương Tây đã ra đời đến trên 400 định nghĩa về “Văn hóa” do các nhà nghiên cứu văn hóa chuyên nghiệp và có uy tín cao đưa ra Tình hình đó cũng vẫn còn đang tiếp tục trong thời đại hiện nay Điều này cho thấy văn hóa là một khái niệm rất phức tạp [3, tr.16]
Ở phương Đông, hai từ “văn” và “hóa” đã xuất hiện khá sớm Trong Chu Dịch, quẻ Bí có nói: “Quan hồ thiên văn dĩ sát thời biến Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ.” (Nghĩa là: Quan sát cái dáng vẻ của trời để mà suy xét về sự biến đổi của thời tiết Và quan sát cái dáng vẻ của con người để mà thực hiện sự giáo hóa cho những người khác trong xã hội.) Ý nói bậc thánh nhân quan sát dáng vẻ của con người (cách thức ứng xử), tức là nói Thi, Thư, Lễ, Nhạc, để theo đó mà dạy, mà giáo hóa đối với thiên hạ [3, tr.14] Người sử dụng từ Văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng ở thời Tây Hán (77-6 Trước Công nguyên) với ý nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa, đối lập với việc dùng vũ lực Dùng văn hóa mà không thay đổi được thì sau đó mới dùng đến chinh phạt.”
Ở phương Tây, người Pháp và người Anh dùng từ “culture”, người Đức
sử dụng từ “kultur”, còn người Nga là từ “kultura” Tất cả các từ này đều bắt nguồn
từ chữ La-tinh là “cultus” vốn có nghĩa là sự trồng trọt Danh từ “cultus” trong tiếng La-tinh được hiểu theo hai khía cạnh: “cultus agri” có nghĩa là trồng trọt ngoài đồng, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên (trồng cây); và khía cạnh còn lại
Trang 1816
“cultus animi” có nghĩa là trồng trọt tinh thần, giáo dục đào tạo con người để họ không còn là con vật tự nhiên và có được những phẩm chất tốt đẹp (trồng người)
Như vậy, danh từ “Culture” đã xuất hiện khá sớm trong ngôn ngữ Châu
Âu Đến thế kỷ XIX thì thuật ngữ “Văn hóa” được các nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính Năm 1871, E.B Taylor đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, là một tổng thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và cả những khả năng và thói quen khác mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội” Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một, nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật…, E.B Taylor đã xác định khá đúng đắn về bản chất, đặc trưng và nguồn gốc của khái niệm “Văn hóa” Có người ví định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người
Ở thế kỷ XX, F Boas định nghĩa “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người Ý nghĩa văn hóa được quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa” Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt [27,tr.17] Còn theo một số học giả Mĩ “Văn hóa là tấm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do
Trang 1917
UNESCO đưa ra vào năm 1994 Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân,
tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [28, tr.23] Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa
là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”…
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra Văn hóa theo định nghĩa của Hồ Chí Minh cũng giống như E.B Taylor là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người
Trong tác phẩm “Văn hóa và đổi mới”, Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả
Trang 2018
hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên
và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc
Trên cơ sở phân tích các cách tiếp cận văn hóa phổ biến hiện nay, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm đã nêu ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [26, tr.10] Định nghĩa này nêu bật bốn đặc trưng quan trọng của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh
Theo PGS Phan Ngọc: “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa Văn hóa là một quan hệ Nó là mối quan
hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một
cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác” Định nghĩa này mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa khác, mà theo ông đều mang tính tinh thần luận
Riêng PGS Nguyễn Đức Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ Góc độ thứ nhất là góc độ hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống hàng ngày hay còn gọi là “góc nhìn báo chí” Với góc nhìn này, văn hóa sẽ là kiến thức của con người và xã hội, tiêu chuẩn văn hóa ở đây được hiểu là tiêu chuẩn kiến thức sách vở Còn góc nhìn thứ hai là góc nhìn rộng hay “góc nhìn dân tộc học”, đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội Theo góc nhìn này, văn hóa được xem là toàn bộ cuộc sống, cả vật chất, xã hội, tinh thần của từng cộng đồng
Trang 2119
Và văn hóa của từng cộng đồng người sẽ khác nhau nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường sống khác nhau Văn hóa sẽ bị chi phối mạnh mẽ bởi sự kiểm soát của xã hội thông qua gia đình và các tổ chức xã hội, trong đó có tôn giáo Xét từ khía cạnh tự nhiên thì văn hóa là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa”
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của con người, do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác, làm cho con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật Văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, đồng thời duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
1.1.2 Thuộc tính giá trị của văn hóa
Theo PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm, thuộc tính giá trị chính là đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hóa Văn hóa theo nghĩa đen là “trở thành đẹp, thành có giá trị” Tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người
Các giá trị văn hóa, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần; theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ; theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng và
Trang 2220
khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những
xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời [26, tr.11]
Còn theo TS Huỳnh Công Bá, các định nghĩa nói trên đã giải đáp được
mặt bản chất của văn hóa: văn hóa là sản phẩm mang dấu ấn của con người Song
nếu chỉ dừng lại ở đó thì cũng sẽ không thể đầy đủ, vì không phải tất cả mọi cái do con người làm ra đều được xem là văn hóa, mà trong đó còn có những cái phi văn hóa, thậm chí phản văn hóa (ví dụ tổ chức maphia, tổ chức phát-xít mới…) Do đó, khi nói đến “Văn hóa” còn phải nói đến mặt thứ hai của nó là tính giá trị Tính giá trị là cơ sở để phân biệt giữa một sản phẩm do con người làm ra được xem là văn hóa với những sản phẩm cũng do con người làm ra nhưng không được xem là văn hóa Cơ sở này được thể hiện ở chổ mục tiêu của sản phẩm đó có đáp ứng cho nhu cầu sinh tồn của con người hay không, đặc biệt là nó có đối lập lại với những mục tiêu sinh tồn của con người hay không? Qua đó, các giá trị được tiến hành phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Ví dụ như, theo mục đích của sản phẩm có thể chia thành: giá trị văn hóa vật chất (phục vụ cho nhu cầu cuộc sống vật chất), giá trị văn hóa xã hội (phục vụ cho nhu cầu cuộc sống xã hội), giá trị văn hóa tinh thần (phục
vụ cho nhu cầu cuộc sống tinh thần) Theo ý nghĩa của giá trị văn hóa, người ta lại chia thành: giá trị văn hóa về cái “chân”, giá trị văn hóa về cái “thiện” và giá trị văn hóa về cái “mỹ” Khi dựa trên tiêu chí đặc điểm biểu hiện, các giá trị văn hóa lại được chia ra: những giá trị văn hóa vật thể hay hữu thể và những giá trị văn hóa phi vật thể hay vô hình Theo lịch đại, người ta chia như sau: các giá trị văn hóa vĩnh cửu hay vĩnh hằng và các giá trị văn hóa có tính nhất thời Về mặt đồng đại, nhiều khi cùng một sự kiện, hiện tượng văn hóa nhưng nó có thể có giá trị nhiều hay ít, hoặc không có giá trị, tùy thuộc vào góc nhìn hay chuẩn xã hội của từng người, từng cộng đồng [3, tr.22]
Trang 2321
1.2 Du lịch và du lịch văn hóa
1.2.1 Du lịch
Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp
“Tonos” với ý nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được Latinh hóa thành “Turnur”
và sau đó thành “Tour” (tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn
“Touriste” là người đi dạo chơi Theo Robert Langquar (năm 1980), từ “Tourism” (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa Một số học giả lại cho rằng du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hy Lạp mà từ tiếng Pháp “le tour”,
có nghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm vi toàn thế giới… Như vậy, nhìn chung chưa có một sự thống nhất về nguồn gốc thuật ngữ du lịch, song điều cơ bản của thuật ngữ này đều bắt
nguồn từ gốc là cuộc hành trình đi một vòng, từ một nơi này đến một nơi khác và có
quay trở lại [27, tr.5]
Trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism được dịch thông qua tiếng Hán Du
có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là sự từng trải Còn người Trung Quốc gọi tourism
là du lãm với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức [24, tr.7 ]
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Du lịch đã nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới Nó là một hiện tượng kinh tế, xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dung của nó không ngừng được mở rộng và ngày càng phong phú Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Cũng tương tự như “văn hóa”, “du lịch” cũng là một khái niệm mà có rất nhiều quan niệm khác nhau về nó Do tồn tại các cách tiếp cận khác nhau và dưới các góc độ khác nhau mà các tác giả đã đưa ra những định nghĩa, những quan niệm khác nhau về du lịch Đúng như một chuyên gia về du lịch đã
Trang 24Trong số những học giả đưa ra định nghĩa ngắn gọn nhất (tuy không phải
là đơn giản nhất) phải kể đến Ausher và Nguyễn Khắc Viện Theo Ausher thì du
lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân; còn Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện lại quan
niệm rằng du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người Trong các từ điển tiếng Việt, du lịch được giải thích là đi chơi cho biết xứ người [24, tr.7 ]
Năm 1930, Glusman người Thụy Sĩ cho rằng: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”
Hai học giả Hunziker và Krapf, những người được coi là đặt nền móng cho lý thuyết cung – cầu du lịch, đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” [14, tr.13] Đại hội lần thứ 5 của Hiệp hội quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học về du lịch đã chấp nhận định nghĩa này làm cơ sở cho môn khoa học du lịch Định nghĩa này đã thể hiện tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng du lịch Song, quan niệm này vẫn chưa làm
rõ được đặc trưng của các hiện tượng và của mối quan hệ du lịch (các mối quan hệ nào và hiện tượng nào thuộc loại kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa…) Ngoài ra định nghĩa bỏ sót hoạt động của các công ty giữ nhiệm vụ trung gian, nhiệm vụ tổ chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Trang 2523
Với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về Du lịch họp ở Roma, Italia (21/8 - 5/9/1963), các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ [24, tr.7 ] Định nghĩa này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã được Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức – tiền thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua
Trong cuốn Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ tham quan (năm 1985),
I.I.Pirojnik đã nhấn mạnh: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ” [24, tr.7 ] Trong định nghĩa này, Pirojnik đã thay cụm
từ di chuyển tạm thời mà các học giả khác hay dùng bằng hoạt động di chuyển trong thời gian nhàn rỗi Từ đó cho thấy, một trong những yếu tố để phân biệt một chuyến di chuyển bình thường với một cuộc du lịch, tham quan là sử dụng thời gian nhàn rỗi của cư dân
Theo Liên Hiệp Quốc Các Tổ chức Lữ hành Chính thức (IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…
Hội nghị lần thứ 27 (năm 1993) của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO)
đã đưa ra khái niệm du lịch thay thế cho khái niệm năm 1963 như sau: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm” [27, tr.6]
Trang 2624
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, tại điều 4, chương I định nghĩa:
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [4,tr.6]
Từ các định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể thấy rõ sự khác nhau về các quan niệm du lịch Tuy nhiên theo thời gian, các quan niệm này dần dần hoàn thiện Trong điều kiện của nước ta hiện nay, quan niệm phổ biến được công nhận rộng rãi
là quan niệm được trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”
Còn theo Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích thì “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa – kinh tế - xã hội”
Trang 2725
Tại điều 4, chương I, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 định nghĩa “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”
Đối với GS Trần Quốc Vượng thì “Du lịch văn hóa là loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim”
Hiểu theo cách đơn giản nhất, du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà điểm đến là các địa chỉ văn hóa, dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới
Như vậy, lấy văn hóa làm điểm tựa, du lịch văn hóa mang sứ mệnh tôn vinh và bảo vệ các giá trị văn hóa tốt đẹp của con người Lấy du lịch làm cầu nối, văn hóa được làm giàu thêm thông qua sự tiếp xúc, tiếp biến, giao lưu, lan tỏa, tiếp nhận và hội tụ tinh hoa văn hóa các dân tộc Du lịch văn hóa không chỉ đem đến lợi ích về kinh tế mà còn góp phần giáo dục tình yêu Tổ quốc, thúc đẩy tích cực sự phát triển xã hội [2, tr.8]
1.2.2.2 Điều kiện để phát triển du lịch văn hóa
Sự phát triển của du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng đòi hỏi những điều kiện khách quan cần thiết nhất định Đó là hệ thống những điều kiện chung, các điều kiện tự thân làm nảy sinh nhu cầu du lịch và cuối cùng là khả năng cung ứng nhu cầu du lịch [24, tr.89]
Trước tiên, theo PGS.TS Trần Đức Thanh, những điều kiện chung bao gồm: điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội, điều kiện kinh tế và chính sách phát triển du lịch
Du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển được trong bầu không khí hòa bình, ổn định, trong tình hữu nghị giữa các dân tộc Du khách thích đến những đất nước và vùng du lịch mà tại đó họ cảm thấy an toàn, yên
Trang 2826
ổn, tính mạng được coi trọng, không có sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo… Ngoài
ra, thiên tai, dịch bệnh cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình phát triển du lịch của một nước hoặc một vùng
Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch Những nước có nền kinh tế phát triển, có điều kiện sản xuất
ra nhiều của cải vật chất có chất lượng đạt các tiêu chuẩn quốc tế sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Một số ngành có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch như: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải…
Đường lối, chính sách của chính quyền địa phương về du lịch là nguồn lực, là điều kiện tiêu quyết để đẩy mạnh ngành công nghiệp không khói này Bởi lẽ một quốc gia dù có giàu có về tài nguyên, nhân lực nhưng thiếu đường lối, chính sách về du lịch đúng đắn thì du lịch vẫn không thể phát triển được Kế đến là các điều kiện tự thân làm nảy sinh nhu cầu du lịch Các điều kiện này bao gồm: thời gian rỗi, khả năng tài chính của du khách tiềm năng và trình độ dân trí
Muốn thực hiện một cuộc hành trình du lịch đòi hỏi con người phải có thời gian Vì vậy, thời gian rỗi của nhân dân là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để con người tham gia vào hoạt động du lịch Bên cạnh yếu tố thời gian thì thu nhập của người dân cũng là chỉ tiêu quan trọng và là phương tiện vật chất để họ có thể đi
du lịch Ngoài ra, sự phát triển của du lịch còn phụ thuộc vào trình độ văn hóa chung của nhân dân ở một đất nước Nếu trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao thì động cơ đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên
Cuối cùng là những điều kiện về khả năng cung ứng nhu cầu du lịch Những điều kiện đặc trưng này bao gồm: điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên; điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn; một số tình hình và sự kiện đặc biệt; và sự sẵn sàng đón tiếp du khách
Các hợp phần tự nhiên như là vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, thế giới động, thực vật… là điều kiện cần thiết cho hoạt dộng du lịch Các hợp phần này
Trang 2927
có sức hấp dẫn du khách, được trực tiếp khai thác vào mục đích kinh doanh du lịch nên trở thành tài nguyên du lịch tự nhiên
Các tài nguyên có giá trị lịch sử, giá trị văn hóa; các thành tựu chính trị
và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch ở một địa điểm, một vùng hoặc một đất nước Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mục đích khác nhau của chuyến du lịch
Các cuộc hội nghị, đại hội, hội đàm dân tộc hoặc quốc tế, các cuộc thi Olympic, các cuộc kỷ niệm tín ngưỡng hoặc chính trị, sự kiện, liên hoan đặc biệt…
có thể thu hút du khách và là điều kiện đặc trưng để phát triển du lịch
Những điều kiện về sự sẵn sàng phục vụ du khách bao gồm ba nhóm điều kiện chính là các điều kiện về tổ chức (bộ máy quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương đến địa phương; các văn bản, chính sách pháp luật, cơ chế quản lý về du lịch; các doanh nghiệp chuyên trách về du lịch…); các điều kiện về kỹ thuật (cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch) và các điều kiện về kinh tế (nguồn vốn duy trì và phát triển hoạt động du lịch; việc thiết lập các mối quan hệ kinh tế với các bạn hàng; việc cung ứng vật tư, hàng hóa, lương thực, thực phẩm…)
Tóm lại, du lịch chỉ có thể phát sinh, phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh thuận lợi nhất định Tất cả các điều kiện này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau tạo thành môi trường cho sự phát triển du lịch Nó có thể tác động tích cực, làm cho du lịch phát triển hoặc gây ra tác động tiêu cực, cản trở chính sự phát triển đó
1.2.2.3 Nhiệm vụ và yêu cầu của du lịch văn hóa
Nhiệm vụ của du lịch văn hóa là khai thác di sản và truyền thống văn hóa các dân tộc như một dạng tiềm năng của du lịch kết hợp với sự giữ gìn, phát huy, quảng bá giá trị nhân văn cùng bản sắc dân tộc hàm chứa trong di sản đó Trong kho tàng di sản văn hóa, có những hoạt động, những hiện tượng không thể, không nên khai thác cho du lịch văn hóa hoặc nếu khai thác phải thận trọng và có những biện
Trang 3028
pháp đảm bảo phẩm chất vốn có của nó Bởi thực tế là, quan hệ giữa văn hóa dân gian, văn hóa truyền thống và du lịch văn hóa – loại hình du lịch sử dụng nguồn vốn văn hóa trực tiếp nhất luôn luôn song hành cả sự tương hỗ, cả sự đối đầu
Khi tiến hành xây dựng du lịch văn hóa, với văn hóa là nguồn lực, cần phải tuân thủ ba yêu cầu mang tính nguyên tắc sau :
- Nguyên tắc thị trường: Phải xuất phát từ nhu cầu của du khách và tạo ra những sản phẩm du lịch văn hóa thích hợp Phải tính đến các tuyến, điểm để hình thành trong tour du lịch văn hóa Đảm bảo 3 hiệu quả (kinh tế - xã hội – môi trường) ; 4 giá trị (thưởng thức – lịch sử - khoa học – thực tế) ; 5 điều kiện (giao thông – có đường đi, kinh tế - có vốn đầu tư, tài nguyên nhân văn và xã hội – cơ sở ban đầu để phát triển, khả thi – về điều kiện đầu tư, thị trường – có nguồn khách)
- Nguyên tắc kinh tế: Phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho người kinh doanh du lịch văn hóa, cho người dân địa phương và cho ngân sách Đặc biệt gắn lợi ích của người dân với lợi ích kinh tế có được từ du lịch văn hóa
- Nguyên tắc bảo vệ: Nguồn lực văn hóa là hữu hình nên vừa khai thác vừa phải bảo vệ và làm giàu để khai thác được lâu dài Cần tính đến khả năng
về sức chứa và các giải pháp hạn chế sự mai một, thậm chí làm mất đi vốn văn hóa phục vụ du lịch văn hóa [2, tr.13]
1.3 Vai trò của văn hóa và việc phát huy các giá trị văn hóa trong hoạt động du lịch
1.3.1 Các sản phẩm du lịch từ văn hóa
Du lịch và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau, có sự gắn kết chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Trước tiên, xét về mặt tích cực, du lịch giúp mở rộng giá trị của sản phẩm văn hóa Hay nói cách khác, du lịch trở thành phương tiện
để truyền tải và trình diễn các giá trị văn hóa của một địa phương, một dân tộc để du khách trong và ngoài nước khám phá, chiêm ngưỡng, học tập và thưởng thức Nhờ
có du lịch mà sự giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng, các quốc gia được tăng
Trang 3129
cường và mở rộng Qua các hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, du lịch còn là phương tiện để đánh thức và làm trỗi dậy các giá trị văn hóa dân tộc đang bị chìm lắng, mai một hoặc bị phá hủy bởi thời gian, bởi những biến cố của lịch sử hoặc bởi sự lãng quên của người dân bản địa Ngoài ra, du lịch còn tạo ra nguồn thu nhập nhất định giúp phát triển kinh tế cộng đồng, địa phương và quốc gia Tuy nhiên, du lịch cũng gây ra những tác động tiêu cực đối với nền văn hóa Chẳng hạn, du lịch thâm nhập vào cộng đồng làm thương mại hóa những giá trị văn hóa bản địa thuần túy hoặc làm ảnh hưởng đến lối sống của một bộ phận dân địa phương…
Ngược lại, đối với du lịch, văn hóa cũng thể hiện một vai trò vô cùng quan trọng trong mối quan hệ này Trước hết, văn hóa là tiềm năng du lịch Có thể khẳng định rằng, không có giá trị văn hóa thì ngành kinh doanh du lịch của quốc gia
đó không thể có tiềm năng phát triển được Thứ hai, văn hóa là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch Bên cạnh tài nguyên tự nhiên thì tài nguyên nhân văn là nguồn nguyên liệu cơ bản hình thành nên hoạt động du lịch Ngoài ra, văn hóa còn tạo nên hành vi ứng xử, đạo đức trong phục vụ hay trong giao dịch kinh doanh du lịch, còn gọi là văn hóa du lịch
Cuối cùng, văn hóa còn là cơ sở để tạo ra các loại hình du lịch văn hóa và cũng là cơ sở để tạo ra các sản phẩm du lịch văn hóa.Văn hóa là toàn bộ những sáng tạo của con người Mỗi một sản phẩm do con người tạo ra đều là một sản phẩm văn hóa Tuy nhiên, các sản phẩm do con người tạo ra thì vô cùng phong phú đa dạng cho nên người ta có thể chia ra thành nhiều loại hình sản phẩm khác nhau Thông thường, người ta thường hiểu sản phẩm văn hóa là những sản phẩm mang nặng yếu
tố tinh thần của con người Cho nên theo TS Dương Văn Sáu: “Sản phẩm văn hóa
là những sản phẩm trong lĩnh vực tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình phát triển của lịch sử để phục vụ cuộc sống, thỏa mãn những mục đích và nhu cầu khác nhau của các cá nhân, cộng đồng người” Sản phẩm văn hóa có thể do
một cá nhân, một tổ chức hay một cộng đồng sáng tạo ra Nó ra đời trong một thời gian và không gian nhất định, mang những giá trị nhất định và khi đưa vào thị
Trang 3230
trường nó sẽ có những giá cả nhất định Sản phẩm văn hóa luôn chứa đựng bản sắc riêng biệt, nó mang dấu ấn cá nhân và cộng đồng nên luôn phản ánh và biểu hiện các yếu tố mang sắc thái dân tộc, địa phương, vùng miền Các sản phẩm văn hóa khi được sử dụng vào trong hoạt động du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách thì sẽ tạo nên các sản phẩm du lịch Như vậy, một sản phẩm du lịch trước hết phải là một sản phẩm văn hóa Tuy nhiên, không phải tất cả các sản phẩm văn hóa
đều có thể trở thành sản phẩm du lịch TS Dương Văn Sáu đã định nghĩa: “Sản
phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau đồng thời đem lại những lợi ích kinh tế, văn hóa
- xã hội ở nơi đang diễn ra các hoạt động du lịch” Sản phẩm du lịch luôn đáp ứng
và làm thỏa mãn các nhu cầu của du khách; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế đồng thời chứa đựng những giá trị văn hóa mang đặc trưng bản địa [19 tr.1-4]
Từ đó cho thấy sản phẩm du lịch văn hóa chính là sản phẩm văn hóa được đưa vào hoạt động kinh doanh du lịch, và là sản phẩm du lịch được khai thác
và sử dụng trong các chương trình du lịch văn hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu của
du khách
Để đưa ra các sản phẩm du lịch từ văn hóa, người ta có thể dựa vào hai dạng tài nguyên nhân văn vật thể và nhân văn phi vật thể như: di sản văn hóa thế giới (vật thể và phi vật thể); các di tích, danh thắng, cổ vật, bảo vật, các công trình đương đại, lễ hội, làng nghề thủ công truyền thống, văn hóa ẩm thực, văn học - nghệ thuật, văn hóa ứng xử, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng…
Do đó, văn hóa là điều kiện đặc trưng và là môi trường cho hoạt động du lịch phát sinh và phát triển Du lịch hình thành dựa trên những giá trị văn hóa và chính những sản phẩm văn hóa làm cho hoạt động du lịch phát triển Đồng thời, hoạt động du lịch đã và đang có những tác động rất lớn đến những thành tựu văn hóa của dân tộc
Trang 3331
1.3.2 Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong du lịch
Hiểu theo nghĩa chung nhất và đơn giản nhất thì bảo tồn văn hóa chính là gìn giữ và lưu lại những giá trị văn hóa và phát huy tức là làm cho tốt, làm cho nảy
nở thêm Bởi vì du lịch văn hóa phát triển dựa trên các tài nguyên du lịch nhân văn nên vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong hoạt động du lịch chính là bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của tài nguyên du lịch nhân văn Đó chính là bảo tồn và phát huy giá trị các di sản, di tích, lễ hội, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng…
Ngày nay, du lịch được coi là một trong những phương tiện hàng đầu để trao đổi văn hóa, du lịch là động lực tích cực cho việc bảo tồn di sản văn hóa và di sản thiên nhiên và đã trở thành một phức hợp đóng một vai trò chủ yếu trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục… Đó là mối tương tác giữa du lịch và văn hóa nêu tại Công ước quốc tế về du lịch văn hóa đã được ICOMOS thông qua tại kỳ họp Đại Hội Đồng lần thứ 12 ở Mexico năm 1999 Một số mục tiêu đáng chú ý của Công ước: “Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích ngành kinh doanh du lịch đẩy mạnh và quản lý du lịch theo hướng tôn trọng và phát huy di sản
và các văn hóa đang tồn tại…”, “Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích đối thoại giữa những người chịu trách nhiệm về di sản và những người kinh doanh du lịch nhằm làm họ hiểu rõ hơn tầm quan trọng và tính chất mỏng manh dễ hỏng của các tổng thể di sản, các sưu tập, các văn hóa đang tồn tại, kể cả sự cần thiết phải đảm bảo một tương lai bền vững cho những di sản đó.” Công ước đã đưa ra 6 nguyên tắc
về du lịch văn hóa, những nguyên tắc này hoàn toàn có thể và cần được áp dụng trong điều kiện Việt Nam:
- Tạo ra những cơ hội quản lý tốt và có trách nhiệm cho các thành viên của cộng đồng, chủ nhà và các khách quan tham gia để họ thấy được và hiểu được trực tiếp di sản và văn hóa của cộng đồng đó
Trang 3432
- Mối quan hệ giữa các địa điểm di sản và du lịch là có tính động và có thể có giá trị xung đột nhau Phải quản lý mối quan hệ đó một cách bền vững cho hôm nay vì các thế hệ mai sau
- Lên kế hoạch bảo tồn và du lịch cho các địa điểm di sản, phải bảo đảm cho du khách cảm nhận được là bõ công, là thoải mái, thích thú
- Các cộng đồng chủ nhà và dân chúng bản địa phải được tham gia vào việc lập kế hoạch bảo tồn và du lịch
- Hoạt động du lịch và bảo tồn phải có lợi cho cộng đồng chủ nhà
- Các chương trình xúc tiến du lịch phải bảo tồn và phát huy các đặc trưng của di sản thiên nhiên và văn hóa
Bảo tồn và khai thác luôn là hai mặt của một vấn đề, nếu chỉ bảo tồn mà không chú ý tới khai thác sẽ gây lãng phí tài nguyên, hạn chế tài nguyên, hạn chế việc phát huy giá trị; nếu chỉ khai thác mà không bảo tồn thì còn nguy hiểm hơn nữa, điều đó sẽ gây hủy hoại di tích, hủy hoại môi trường và những hậu quả to lớn khác cho toàn xã hội Muốn vậy cần phải:
- Phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích
- Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực cho bảo tồn và phát huy giá trị di tích, bao gồm đội ngũ quản lý, đội ngũ nghiên cứu về di tích, các kiến trúc
sư, kỹ sư xây dựng, kỹ thuật viên, thợ nghề, nghệ nhân, những người làm công tác bảo vệ di tích ở cơ sở…
Phát triển du lịch trên cơ sở khai thác các di tích là luôn gắng công tác bảo tồn tính đa dạng, gìn giữ các giá trị di tích lịch sử văn hóa với việc khai thác phục vụ du lịch; hay nói cách khác, phát triển du lịch vì mục tiêu văn hóa; đồng thời, việc bảo vệ tôn tạo di tích phải hướng tới phục vụ ngày càng tốt hơn các đối tượng đến tham quan nghiên cứu, trong đó khách du lịch
Trang 3533
Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động bảo tồn di tích, phục hồi các giá trị văn hóa truyền thống và phát triển du lịch văn hóa là nhiệm vụ quan trọng và lâu dài của các cơ quan chức năng
Hoạt động du lịch có tính cạnh tranh rất cao, động cơ và nhu cầu của khách du lịch luôn thay đổi, điều này đòi hỏi phải khai thác sản phẩm du lịch hợp
lý, thích hợp để luôn luôn có khách Không có khách thì không thể khai thác tốt di tích cũng như phát triển hoạt động du lịch Do đó phải thường xuyên điều tra nghiên cứu thị trường để lựa chọn những đối tượng di tích phù hợp tạo nguyên liệu cho các sản phẩm du lịch, thu hút được nhiều nguồn khách, đem lại lợi ích cao Để nâng cao lợi ích kinh tế của việc khai thác các di tích, cần phải phát huy cao nhất những tiềm năng, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, thường xuyên trùng tu, sửa chữa để kéo dài thời gian sử dụng di tích và cơ sở vật chất kỹ thuật tại các di tích
Việc khai thác các di tích phải làm nổi bật được những giá trị đặc sắc, độc đáo của di tích để tạo ra sức thu hút đối với du khách Việc khai thác di tích trên thực tế là sự khai thác tổng hợp đối với nơi khách du lịch đến: một mặt cần khai thác các sản phẩm khác để bổ sung, tạo sự liên hoàn trong chương trình du lịch; mặt khác, phải xem xét nhu cầu của khách về đi lại, ăn, ở, hướng dẫn tham quan, mua sắm, vui chơi giải trí… cần thực hiện sự phối hợp đồng bộ nhịp nhàng giữa các tổ chức liên quan đến phục vụ khách, đảm bảo chất lượng, đem lại danh tiếng và uy tín cho di tích, cũng như địa phượng và quốc gia
Mục đích cao nhất của du lịch là vừa bảo tồn, bảo vệ, tu sửa, tôn tạo di tích vừa đem lại lợi ích cho nhiều bên tham gia Cần coi môi trường tự nhiên và văn hóa của di tích cũng là môi trường du lịch
Vấn đề bảo tồn, tôn tạo và khai thác, phát huy giá trị của các di tích đòi hỏi phải có tính bền vững tức là mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội mà không làm xâm hại đến môi trường di tích Đây chính là công việc quan yếu của ngành du lịch
Giải quyết thật thỏa đáng mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa nói chung, giữa bảo tồn và phát triển nói riêng là vấn đề mang tính toàn cầu, được quan tâm ở
Trang 36Bảo tồn phải gắn với phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích, với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương, sự phát triển của các ngành hữu quan, nhất là các ngành Du lịch, Giao thông, Xây dựng…
1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới
Himalaya hiện đang thu hút rất nhiều du khách bởi sự hấp dẫn của đạo Phật đối với phương Tây Du khách đến đây được thăm các khu di tích tôn giáo, tìm hiểu lối sống cộng đồng cư dân Himalaya và tham dự lễ hội Chính quyền Himalaya
bố trí ở mỗi khu vực phục vụ du lịch tổ chức hành chính thích đáng và hợp lý, đã tính đến sức chứa du khách khi tiến hành lễ hội và các nghi lễ tôn giáo Nhằm phát triển du lịch lưu trú dài ngày ở đây, nhiều sân bay địa phương được mở và cải thiện dịch vụ hàng không nội địa Đường sá được nâng cấp giúp cho du khách đi tới thư viện và các khu di tích tôn giáo vùng hẻo lánh trở nên thuận tiện, gần gũi hơn Với
sự tiếp sức của quảng cáo thương mại, phim tài liệu truyền hình và một số phương tiện truyền thông, nguyện vọng được tham gia lễ hội hóa trang và tham quan tu viện ngày càng tăng
Sự phồn vinh của du lịch góp phần hồi sinh tôn giáo Tu viện Tyangboche ở khu vực Solu của người Sherpa (Nepal) có 40 tu sĩ thụ đạo đã trở thành một điểm đến du lịch quan trọng Tu viện đã phục hồi trở lại lễ hội có mang
Trang 3735
mặt nạ, mang lại khoảng thu nhập đáng kể để phát triển các hoạt động tôn giáo và văn hóa Một tòa nhà được sưởi ấm bằng năng lượng mặt trời và bãi đậu cho máy bay lên thẳng đã được xây dựng để đón tiếp du khách
Thổ dân tại Canada và Australia có ý thức cao trong việc giữ gìn văn hóa dân gian của họ qua du lịch văn hóa Các nhà kinh doanh bản xứ chịu trách nhiệm đứng ra giới thiệu văn hóa thổ dân, họ hướng dẫn du khách xẻ băng để ghép thành lều Igloo, nấu món wichetty arub (ấu trùng của một loại bướm sâu đục gỗ) - món đặc sản của thổ dân ở đây, hay nghe hướng dẫn viên du lịch người da đỏ giải thích những mẫu chạm trổ của totem trên cột gỗ phản ánh tư duy trong văn hóa của người bản địa Ý thức được những lợi ích cả về vật chất lẫn tinh thần mà du lịch văn hóa đem lại, chính phủ Canada, Australia và dân bản xứ đã thành lập nhiều cơ quan chính thức để xúc tiến và kiểm soát du lịch văn hóa nhằm phát huy mạnh mẽ lợi ích cho thổ dân Chính phủ giúp đỡ thổ dân từ việc có chứng chỉ hợp pháp về sở hữu đất đai để được vay tiền ngân hàng lập doanh nghiệp, trợ cấp vốn và đào tạo họ về năng lực tổ chức và quản lý doanh nghiệp du lịch, nâng cao ý thức bảo tồn di sản văn hóa cho họ Du lịch văn hóa không chỉ đơn thuần là kinh doanh mà còn giáo dục người ta ý thức về văn hóa thổ dân và bảo tồn nó qua thực tế sinh động
Các nhà làm du lịch tại Venise (Italia) không hoan nghênh những “du khách một ngày” Vì vậy, họ tìm mọi cách để níu chân khách du lịch ở lại vài ngày bằng việc xây dựng một cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin chỉ dẫn tỷ mỷ các khu
di tích và các hoạt động văn hóa trong thành phố và giúp khách đặt chổ trước Họ cho phát hành một tấm “thẻ Venise” đa dịch vụ nhằm đem lại cho du khách ở lại lâu những lợi ích mà người khác không được hưởng như: quyền được cắt ngang dòng người đang xếp hàng chờ đợi, giảm giá vé thăm bảo tàng, vé tàu xe đi lại, ăn uống tại nhà hàng, mua hàng tại các siêu thị lớn và có được những thông tin về các sự kiện đặc biệt Quan điểm của chính quyền ở đây là: Venise tồn tại không chỉ vì lý
do du lịch thuần túy mà hơn hết phải gìn giữ một nền văn hóa sống động và riêng có của vùng đất này
Trang 3836
Tại làng cổ Aitben Haddou (Maroc), các nhà chức trách biết rõ lối trùng
tu cổ điển sẽ tỏ ra ít hiệu quả nên vận động dân làng sống định cư tại đây bảo dưỡng mỗi ngày, giải quyết dứt điểm đường vào làng không bị ngập úng vào mùa mưa lũ, cung cấp các thiết bị năng lượng mặt trời, xây dựng trường học,… nhằm giúp người dân nơi đây yên tâm về cuộc sống, chuyên chú vào bảo tồn nhà – làng Họ làm sạch
và tiến hành bảo tồn khu di tích, lập sơ đồ kiến trúc các ngôi nhà trong làng, lập đồ
án tổng quát lát gạch những con đường nhỏ, gia cố bờ sông, xây cầu nhỏ thuận tiện cho việc ra vào làng ngay cả khi lũ lụt, khôi phục và làm mới một số đường hành lang có mái che, mặt tiền một số nhà, đền thờ Hồi giáo và những tòa nhà được trang hoàng lộng lẫy
Một số nước thuộc miền Trung châu Âu đã trùng tu và xây dựng nhiều lâu đài từ sông Danube đến biển Baltic thành những khách sạn sang trọng để phục
vụ du lịch văn hóa Chi phí trùng tu được Nhà nước cho vay với lãi suất thấp và công việc này được Nhà nước bảo trợ và khuyến khích Một số tổ chức tư nhân cũng tài trợ việc sắp xếp lại các lâu đài, thuê họa sĩ Anh, Pháp và kiến trúc sư địa phương cùng tham gia tân trang nội thất, tuyển mộ những nhà quản lý, phụ trách, nhân viên có năng lực đem lại hoạt động hiệu quả cho khách sạn, phục vụ du lịch văn hóa một phong cách độc đáo và mang màu sắc địa phương rõ nét Nhà nước hiểu rõ việc phục hồi các di sản văn hóa phục vụ hữu ích cho quảng bá văn hóa quốc gia, phát triển du lịch văn hóa góp phần nêu cao tính đa dạng của văn hóa châu
Âu và là một phương thức hữu ích tăng cường kinh tế, đồng thời tránh cho di sản rơi vào tình trạng hoang tàn và đổ nát Các di sản lâu đài được tu bổ mặt tiền, mái, tranh tường, trần,… định kỳ đã trở thành niềm hãnh diện về một quá khứ văn hóa kiến trúc tuyệt vời của châu Âu
Ở khu tự trị Galicia (Tây Ban Nha), nhiều đại hội liên hoan ca múa nhạc, triển lãm, trình diễn ánh sáng và âm thanh tại đây đã biến một trung tâm hành hương lớn thành một địa điểm du lịch văn hóa cực kỳ thu hút, từ các khoản đầu tư của nhà nước và tư nhân, theo nguyên tắc “đôi bên đều có lợi” Thành phố này có
Trang 39Tại Lào, Bộ Văn hóa Lào kết hợp với các nghệ nhân dân gian phục hưng văn hóa truyền thống và di sản kiến trúc dưới sự hướng dẫn của chính phủ Tại các ngôi chùa đẹp ở Luang Prabang, cố đô Lào, một số nghệ sĩ múa rối lão thành dạy cho nhóm học trò trẻ tuổi học diễn và cho phép du khách tham dự Các hoạt động tôn giáo ở chùa, phụ nữ dệt cửi ở chân nhà sàn, thợ kim hoàn mài đồ trang sức, các
cụ bà sắp xếp lễ vật dâng lên chùa… là những cảnh tượng của đời sống thường nhật
đã cuốn hút du khách nước ngoài Du khách đến đây rất đông vào dịp lễ hội tôn giáo hay sắc tộc, đặc biệt là lễ hội đầu năm mới vào giữa tháng 4 Luang Prabang được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới năm 1995 với hơn 600 tòa nhà được xếp hạng Nhà cửa được phục chế trên tinh thần tôn trọng kiểu dáng truyền thống Một điểm du lịch văn hóa hấp dẫn của cố đô Lào là tòa nhà Lung Khamlek – di sản hiếm thấy cho du khách tham quan nền kiến trúc quý tộc thời tiền thuộc địa của Luang Prabang Tổ chức “Ngôi nhà di sản” là tổ chức đóng vai trò chủ chốt trong việc khôi phục thành công di sản kiến trúc của cố đô Lào Chính phủ nơi đây luôn dựa vào dân chúng, tôn trọng ý kiến của họ và quan tâm tới lợi ích của dân khi bảo tồn di sản Các hoạt động du lịch văn hóa được đánh thuế vừa phải nhằm tạo nguồn vốn trợ cấp cho việc sử dụng những vật liệu xây dựng cổ truyền bởi chi phí cho vật liệu này khá đắt tiền Lãnh đạo và dân chúng nơi đây quán triệt di sản văn hóa vốn
Trang 4038
rất mỏng manh và phải có ý thức cao độ về giá trị của chúng khi khai thác, phục vụ
du lịch [2, tr.21-33]
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam
Trong bối cảnh nước ta hiện nay, du lịch văn hóa được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Các điểm du lịch văn hóa ở nước ta chủ yếu khai thác các di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật biểu diễn truyền thống, khu vực tổ chức lễ hội, làng nghề và ẩm thực truyền thống Ngoài ra, Việt Nam còn lôi cuốn du khách quốc tế bởi các bản làng tộc người thiểu số, các khu Di sản Văn hóa Thế giới
và các hoạt động du lịch văn hóa mang tính chất vùng – miền (Con đường Di sản miền Trung, các lễ hội…)
Dựa vào sự đầu tư từ các tổ chức quốc tế và Nhà nước, công tác trùng tu tôn tạo di tích được thực hiện, cơ sở vật chất hạ tầng cho du lịch được xây dựng và nâng cấp Các di sản văn hóa thế giới như Kinh thành Huế, Đô thị cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ… cùng các di tích cấp quốc gia như Lăng và Bảo tàng Hồ Chí Minh, Văn Miếu Quốc Tử Giám… là những địa chỉ đỏ trong các tour du lịch văn hóa của du khách trong và ngoài nước
Một số làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, tranh Đông Hồ được phục hồi, chấn hưng Nước ta có nhiều lễ hội thu hút khách du lịch như hội đền Hùng, hội chùa Hương, hội Lim… Một số làng bản của đồng bào dân tộc thiểu số đã có hoạt động du lịch tạo tiếng vang như bản Đôn (Đắk Lắk), bản Pác Ngòi (Ba Bể), bản Lác (Mai Châu)…
Việt Nam cũng đã có các tour du lịch văn hóa chuyên đề, chủ yếu là đưa
du khách đến tham gia và tham quan lễ hội Việt Nam vẫn còn ít các tour kết hợp nhiều hoạt động như vừa tham gia lễ hội, vừa tham quan, tìm hiểu lối sống, phong tục tập quán của dân cư thiểu số, cách thức tổ chức du lịch cộng đồng, nghiên cứu
di tích lịch sử văn hóa… Các sản phẩm du lịch này chưa lôi cuốn du khách và cũng giới hạn đối tượng tham gia Tuy nhiên cũng có một vài tour du lịch văn hóa đã có