Nghiên cứu hoạt động xúc tiến điểm đến tại một địa phương tỉnh, thành phố là nghiên cứu việc sử dụng các công cụ xúc tiến trong xúc tiến quảng bá điểm đến du lịch do cơ quan quản lý du l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
ĐÀO THỊ NGỌC LAN
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN
DU LỊCH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2005 - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
ĐÀO THỊ NGỌC LAN
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN
DU LỊCH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2005 - 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU - 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH - 11 1.1 KHÁI NIỆM - 11
1.1.1 KHÁI NIỆM ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH - 11
1.1.2 KHÁI NIỆM XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH - 12
1.2 VAI TRÒ CỦA XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH - 17
1.3 CÁC HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH - 17
1.3.1 HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO - 18
1.3.2 HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN/QUAN HỆ CÔNG CHÚNG, PHÁT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG VÀ GIỚI THIỆU ĐIỂM ĐẾN - 24
1.3.3 HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN BÁN - 26
1.3.4 TỔ CHỨC, THAM GIA CÁC HỘI CHỢ, TRIỂN LÃM DU LỊCH - 28
1.3.5 KHAI THÁC MẠNG INTERNET, XÂY DỰNG CÁC KÊNH THÔNG TIN ĐỂ TUYÊN TRUYỀN VÀ QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH DU LỊCH - 29
1.4 XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH - 30
1.4.1 CÁC THÀNH TỐ TRONG QUÁ TRÌNH XÚC TIẾN DU LỊCH 30 1.4.2 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG - 33
1.5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN TẠI MỘT SỐ TỈNH THÀNH - 37
1.5.1 KINH NGHIỆM CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 37
1.5.2 KINH NGHIỆM VỀ XÚC TIẾN DU LỊCH CỦA NINH BÌNH 41
Trang 41.5.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN DU LỊCH - 44 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1: - 45
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2005 – 2010 - 46 2.1 KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH HẢI DƯƠNG - 46 2.1.1 ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH - 46
2.1.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG - 57 2.2 BỘ MÁY TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN - 71 2.2.1 BỘ MÁY TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CẤP TỈNH - 71 2.2.2 BỘ MÁY TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CẤP HUYỆN 71 2.3 NGÂN SÁCH XÚC TIẾN DU LỊCH - 72 2.4 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH HẢI
DƯƠNG - 75 2.4.1 HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO DU LỊCH - 75 2.4.2 HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN/QUAN HỆ CÔNG CHÚNG,TỔ CHỨC CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG VÀ GIỚI THIỆU ĐIỂM ĐẾN - 79 2.4.3 HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN BÁN - 81 2.4.4 HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC VÀ THAM GIA HỘI CHỢ TRIỂN LÃM DU LỊCH - 82 2.4.5 HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC MẠNG INTERNET, XÂY DỰNG CÁC KÊNH THÔNG TIN ĐỂ TUYÊN TRUYỀN VÀ QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH DU LỊCH - 83 2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN DU LỊCH HẢI
DƯƠNG - 84
Trang 52.5.1 ĐIỂM MẠNH - 85 2.5.2 NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN - 87 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2: - 90
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN DU LỊCH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2010-2020 - 91 3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH - 92 3.1.1 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN VÀ XÚC TIẾN DU LỊCH - 92 3.1.2 ĐỊNH HƯỚNG VỀ THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU - 95 3.1.3 ĐỊNH HƯỚNG VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH - 100 3.1.4 ĐỊNH HƯỚNG VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC - 107 3.2 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2010-2020 - 108 3.2.1 GIẢI PHÁP VỀ ĐẦU TƯ, KINH PHÍ XÚC TIẾN PHÁT TRIỂN
DU LỊCH - 108 3.2.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN BỘ MÁY TỔ CHỨC XÚC TIẾN VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC XÚC TIẾN - 109 3.2.3 GIẢI PHÁP VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH ĐẶC THÙ
VÀ ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH - 111 3.2.4 GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG, XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC XÚC TIẾN DU LỊCH, LẬP KẾ HOẠCH
TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN DU LỊCH - 112 3.2.5 CÁC NHÓM GIẢI PHÁP CỤ THỂ VỀ VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN DU LỊCH - 112
Trang 63.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ - 116
3.3.1 ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG - 116
3.3.2 ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN VÀ CƠ QUAN QUẢN LÝ DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG - 117
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3: - 118
KẾT LUẬN - 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 122 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
1 ASEAN Assciation of South – East Asian Nations – Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam á
2 AIDA Attention-Interest-Desire-Action – Mô hình hệ thống
phản hồi
3 FAMTRIR Chuyến đi khảo sát làm quen
4 KTTĐ Kinh tế trọng điểm
5 MICE Meting, Incentive, Convention and Exhibition – Hình
thức du lịch kết hợp, họp mặt, khen thưởng, hội nghị và triển lãm
6 PATA Pacific Asia Travel Association – Hiệp hội du lịch Châu á
-Thái Bình Dương
7 UBND Ủy ban nh©n d©n
8 UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization - Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc
9 VCGT Vui chơi giải trí
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu di tích xếp hạng quốc gia, cấp tỉnh và chưa xếp hạng trên địa bàn - 52 Bảng 2.2 Các cơ sở lưu trú du lịch Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010 - 57 Bảng 2.3 Cơ cấu cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Hải Dương năm 2010 - 58 Bảng 2.4: Lao động trong ngành du lịch Hải Dương giai đoạn 2001-2010 - 60 Bảng 2.5 Lượng khách du lịch đến Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010 - 62 Bảng 2.6 Khách du lịch quốc tế đến Hải Dương, giai đoạn 2005 – 2010 63 Bảng 2.7 Khách quốc tế đến các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc giai đoạn 2005- 2009 - 64 Bảng 2.8 Khách du lịch nội địa đến Hải Dương, giai đoạn 2005 – 2010 - 66 Bảng 2.9 Khách nội địa đến các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc giai đoạn
2005 – 2009 - 67 Bảng 2.10 Thu nhập du lịch Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010 - 68
Hình 1.1: Quy trình truyền thông -30
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão vào nửa cuối thế kỷ XX, sự bùng nổ của sự phát triển kinh tế, xu hướng quốc tế hoá và hội nhập, đã đưa thế giới vào một giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức mới Để tồn tại và phát triển, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam cần phải lựa chọn cho mình con đường đi thích hợp, vừa khai thác được các cơ hội đồng thời hạn chế được các nguy cơ đe dọa từ môi trường bên ngoài
Trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, du lịch được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế đất nước Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, du lịch Việt Nam có một vị trí đặc biệt quan trọng Nó góp phần vào việc thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, mở rộng mối giao lưu hợp tác quốc tế, làm tăng sự hiểu biết, thân thiện và quảng bá nền văn hóa giữa các quốc gia
Chính vì vậy mà xúc tiến du lịch hiện nay đã trở thành một công cụ vô cùng hiệu quả để thuyết phục và “lôi kéo” khách du lịch đến với điểm du lịch của mình Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của du lịch Việt Nam nói chung và du lịch của các tỉnh thành trong cả nước nói riêng
Nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng- Quảng Ninh) tỉnh Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, cái nôi của nền văn minh Sông Hồng, lại cận kề kinh thành Thăng Long, trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước Vì thế nền văn minh Sông Hồng, văn hóa Thăng Long trực tiếp tác động và kết tinh nhiều thành tựu rực rỡ Ngày nay,
Trang 10trong xu thế hội nhập toàn cầu, tỉnh Hải Dương đang phát triển mạnh mẽ toàn diện; đặc biệt sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới ngày càng khởi sắc, phát triển đồng bộ về chất lượng, khẳng định vị thế, tầm vóc của văn hiến xứ Đông trong lịch sử cũng như trong cuộc sống hiện tại, góp phần xứng đáng vào việc làm cho Hải Dương trở thành điểm đến lý tưởng của thế kỷ XXI Muốn khai thác để đạt được hiệu quả đưa du lịch Hải Dương trở thành một điểm du lịch trọng điểm của vùng cũng như đạt được những thành công mới thì vấn đề xúc tiến, quảng bá du lịch trở nên rất quan trọng Với cách tiếp cận đó việc:
“Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2005- 2010”
là một việc làm cấp thiết
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ở trong nước cho đến nay đã có một số tài liệu nghiên cứu các vấn đề liên quan tới nội dung mà luận văn nghiên cứu như đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam tại một số thị trường du lịch quốc tế trọng điểm” do Tổng cục Du lịch Việt Nam và Viện nghiên cứu phát triển du lịch chủ trì năm 2006 Đề tài này nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến của du lịch Việt Nam nói chung
Đề tài “Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Ninh Bình giai đoạn 2003-2009”; luận văn thạc sỹ du lịch là một đề tài vừa được bảo vệ thành công năm 2010, đề tài đi sâu vào nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh Ninh Bình
Luận án tiến sĩ “Xúc tiến đầu tư phát triển du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” (Hoàng Văn Hoàn – 2010)
Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu, bài báo trong nước viết về du lịch trên địa bàn Hải Dương Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý về du lịch (cấp địa
Trang 11phương) cùng nhiều cơ quan nghiên cứu du lịch đã tổ chức một số hội thảo nhằm thúc đẩy và quảng bá về du lịch tỉnh Hải Dương
Nhìn chung cho đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách toàn diện về hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2005 –
2010 Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá một cách tổng thể thực trạng và đưa
ra một số giải pháp, đề xuất, kiến nghị nhằm tăng cường và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2005-2010 có ý nghĩa hết sức quan trọng và thiết thực với du lịch của tỉnh Hải Dương trong giai đoạn này
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là góp phần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương một cách chuyên nghiệp và hiệu quả
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận mới về điểm đến du lịch, mô hình
hệ thống điểm đến du lịch, chiến lược xúc tiến điểm đến du lịch
- Phân tích và khảo sát thực trạng hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh trong so sánh khung lý luận với thực trạng triển khai thực hiện Phân tích và
so sánh với công tác xúc tiến du lịch ở các địa phương khác để từ đó để thấy hiệu quả từ công tác xúc tiến của địa phương
- Đánh giá những thành công và hạn chế trong hoạt động xúc tiến của
du lịch tỉnh Hải Dương trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh và tăng cường hiệu quả hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Dương trong thời gian tới từ 2011-2020
Trang 123 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các hoạt động xúc tiến của Du lịch Hải Dương Việc điều tra, đánh giá tác động của hoạt động xúc tiến đến hoạt động du lịch, thu hút khách trên địa bàn
Về thời gian: Các số liệu thứ cấp được đưa vào phân tích, thu thập trong giai đoạn từ 2005 – 2010 Các số liệu sơ cấp được điều tra trong thời gian 6 tháng từ tháng 12/2010 đến 6/2011 Các định hướng, giải pháp đưa ra nhằm tới giai đoạn 2011-2020
Về nội dung: Tập trung vào những yếu tố của hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh Hải Dương
Về thị trường: Quan tâm tới các thị trường khách du lịch trọng điểm đến địa phương
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chính vào các hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương Nghiên cứu vào các vấn đề cơ chế, chính sách, chương trình, hoạt động xúc tiến để phát triển du lịch Tỉnh Hải Dương
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Luận văn sử dụng phương
pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
+ Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách báo tạp chí, các trang web điện tử, các tài liệu, báo cáo của cơ quan quản lý du lịch và chính quyền địa phương
+ Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng việc điều tra, khảo sát thực địa, phỏng vấn các cán bộ chuyên trách du lịch tỉnh Hải Dương, các điểm du lịch và một
số người dân địa phương
Trang 13- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích mối quan hệ chặt chẽ
giữa du lịch, hoạt động xúc tiến du lịch, từ đó đề xuất giải pháp thực hiện
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến và kinh nghiệm từ các
báo cáo của các chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Tổng hợp, phân tích các thông tin,
số liệu thứ cấp được khai thác từ các tài liệu của cơ quan nhà nước về du lịch, các viện nghiên cứu phát triển du lịch, mạng Internet điều tra xã hội học các số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra chọn mẫu
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về xúc tiến du lịch
Chương 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2005-2010
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2011-2020
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm điểm đến du lịch
Hiện nay có những quan niệm khác nhau về điểm đến du lịch
Theo quan niệm truyền thống: Điểm đến du lịch là nơi mà con người sử dụng những kỳ nghỉ của họ Như vậy theo quan niệm này, điểm đến sẽ là toàn
bộ vùng không gian mà trong đó khách du lịch thực hiện các hoạt động lưu trú, ăn uống, giải trí Theo đó, điểm đến du lịch sẽ là một khái niệm khá chung chung, mơ hồ và chỉ xem xét khía cạnh từ phía người đi du lịch
Càng ngày, cùng với sự phát triển của du lịch là sự nâng cao trình độ dân trí, hiểu biết của loài người, các nhà nghiên cứu, những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch dần hoàn thiện khái niệm điểm đến du lịch, mở ra những nét mới, những cách tiếp cận mới tới vấn đề này
Theo PGS.TS Nguyễn Bách Khoa và Th.s Nguyễn Viết Thái thì “Các điểm đến du lịch cũng được coi là một dạng thức sản phẩm/thị trường du lịch đặc biệt theo tiếp cận quản trị kinh doanh và marketing du lịch”
“Điểm đến du lịch là nơi có các yếu tố hấp dẫn, các yếu tố bổ sung và các sản phẩm kết hợp những yếu tố này để đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của du khách”.[6]
Quan niệm điểm đến du lịch thay đổi rất rộng Điểm đến có thể là công viên chủ đề, câu lạc bộ, khách sạn hay làng du lịch , ở một khía cạnh khác là toàn bộ các quốc gia, các lục địa có thể xem xét và chào bán như một điểm đến Ủy ban lữ hành Châu Âu (ETC), Hiệp hội Lữ hành Thái Bình Dương (PATA) có trách nhiệm tìm kiếm thị trường cho khu vực Châu Âu và khu vực
Trang 15Thái Bình Dương như một điểm đến du lịch Giữa các quan niệm về sự đa dạng rất rộng và rất hẹp khác nhau đã nêu ở trên, sẽ có những quan niệm điểm đến khác nhau nằm ở trung gian, có thể xác định theo cách nhìn của khách du lịch hay cơ quan quản lý, của vị trí hay mục đích sử dụng Có thể dựa vào những tiêu thức khác nhau để phân loại điểm đến du lịch, dựa vào: hình thức
sở hữu; vị trí địa lý; giá trị tài nguyên; địa chính trị; vào mục đích; hay vị trí quy hoạch
Trên cơ sở khái niệm về điểm đến du lịch và xét theo tiêu chí về địa lý chúng ta có thể phân chia điểm đến du lịch theo các mức độ hay quy mô cơ bản sau đây:
- Megadestination: Các điểm đến có quy mô lớn, là điểm đến của một vùng lãnh thổ hay ở cấp độ châu lục như khu vực Đông Nam Á, Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi
- Macrodestination: Điểm đến vĩ mô: là các điểm đến ở mức độ cấp quốc gia: Việt Nam, Mỹ, Pháp
- Microdestination: Điểm đến vi mô: bao gồm các vùng, tỉnh, thành phố, quận, huyện thậm chí là một xã, thị trấn trong lãnh thổ của một quốc gia [13, tr 342]
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này thì việc phân chia điểm đến bao gồm các vùng, tỉnh, thành phố, trong lãnh thổ của một quốc gia
1.1.2 Khái niệm xúc tiến điểm đến du lịch
Theo khoản 17, điều 4 của Luật Du lịch cũng đã khẳng định “xúc tiến
du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch” Mặc dù đây là một quan niệm khá rộng về xúc tiến du lịch, nó bao hàm từ việc tuyên truyền quảng cáo về điểm đến, nâng cao nhận thức xã hội, huy động nguồn lực, tìm kiếm cơ hội phát triển du lịch Tuy nhiên có thể khái quát khái niệm này ở 3 nội dung cơ bản sau: Một
Trang 16là tạo nên sự thu hút du lịch bằng việc truyền tải thông tin, hình ảnh hấp dẫn
về điểm đến; Hai là tuyên truyền tạo dựng sự đồng thuận trong nhận thức và hành động của cộng đồng dân cư; Ba là thúc đẩy sự phát triển du lịch nhằm tăng sự hấp dẫn đối với các thị trường khách mục tiêu của điểm đến
Luật Du lịch của Việt Nam đã xác định xúc tiến du lịch gồm 4 nội dung chính:
1 Tuyên truyền, quảng bá về đất nước, con người, văn hoá Việt Nam;
về các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hoá;
về các khu du lịch, tuyến du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch; về tiềm năng, thế mạnh về du lịch của cả nước; nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, an toàn
2 Nghiên cứu, tìm hiểu thị trường trong nước và nước ngoài; xây dựng
cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia; xây dựng, quảng bá các sản phẩm du lịch
3 Xây dựng các tiêu chí và tổ chức việc trao tặng các danh hiệu du lịch quốc gia cho các doanh nghiệp tiêu biểu trong lĩnh vực kinh doanh du lịch
4 Kết hợp với xúc tiến đầu tư, thương mại, giao lưu văn hoá và các lĩnh vực khác nhằm xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài
5 Các nội dung xúc tiến du lịch khác
Đây là bốn vấn đề lớn, để thực hiện hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và dân địa phương
Nghiên cứu hoạt động xúc tiến điểm đến tại một địa phương (tỉnh, thành phố) là nghiên cứu việc sử dụng các công cụ xúc tiến trong xúc tiến quảng bá điểm đến du lịch do cơ quan quản lý du lịch địa phương trực tiếp tổ chức hoặc giao cho một đơn vị, phòng ban chuyên môn trực thuộc thực hiện Hoạt động xúc tiến điểm đến tại các địa phương của nước ta trong thời gian
Trang 17qua chủ yếu do các Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tổ chức thực hiện Tùy điều kiện đặc thù riêng về tài nguyên, các tỉnh, thành phố thành lập trung tâm xúc tiến du lịch trực thuộc UBND tỉnh hoặc Sở quản lý du lịch để tổ chức và triển khai các chiến lược, chương trình, kế hoạch xúc tiến du lịch của địa phương theo từng giai đoạn khác nhau
Hoạt động xúc tiến nói chung và hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch nói riêng có liên quan chặt chẽ tới hoạt động maketing Vì vậy cần phải xem xét khái niệm, nội dung về marketing điểm đến du lịch, xúc tiến điểm đến du lịch và mối quan hệ giữa chúng
Marketing xuất hiện khi con người quyết định thỏa mãn những mong muốn thông qua trao đổi Bản chất của hoạt động marketing nói chung là hoạt động trao đổi các giá trị Các tổ chức làm marketing tác động đến thị trường
để làm những trao đổi tiềm ẩn thành hiện thực với mục đích là thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người
Hoạt động marketing điểm đến du lịch là một trong những hoạt động quan trọng và cần thiết của bất kỳ một quốc gia phát triển du lịch Khi xem xét đến những mong muốn như một điểm du lịch một trong các chức năng của
hệ thống điểm đến du lịch cần phải tiến hành marketing, xúc tiến điểm đến
du lịch tại thị trường du lịch trọng điểm; Các phân hệ của hệ thống điểm đến
du lịch thành phần nhà nước, của doanh nghiệp du lịch tham gia hoặc có vai trò nhất định trong hoạt động marketing và xúc tiến này Hầu như các tổ chức
du lịch các quốc gia chịu trách nhiệm marketing tham gia như một điểm đến
du lịch Các tổ chức du lịch quốc gia không phải là nhà sản xuất sản phẩm du lịch, họ không bán sản phẩm trực tiếp tới người tiêu dùng Tổ chức du lịch quốc gia đại diện cho đất nước thường có trách nhiệm quảng bá thương hiệu
du lịch của quốc gia, đó là một phần hoạt động marketing du lịch Các doanh nghiệp du lịch có khả năng tạo ra sản phẩm du lịch và chào bán cho du khách
Trang 18Thực tiễn kinh nghiệm của hầu hết các nước phát triển du lịch cho thấy, do bản chất sự nhỏ bé và phân tán của ngành, từng doanh nghiệp du lịch không
có đủ nguồn lực cần thiết để quảng bá thương hiệu đất nước trên thị trường quốc tế
Thách thức của marketing điểm đến là ở chỗ nó được thực hiện bởi nhiều tổ chức, nhà cung cấp và sản phẩm dịch vụ Marketing điểm đến đòi hỏi
sự kết hợp và sắp xếp các hoạt động thỏa mãn nhu cầu du khách Các điểm hấp dẫn chính (cả hai khu vực nhà nước và tư nhân) gây sự chú ý và làm hài lòng khách du lịch Hệ thống phương tiện giao thông vận tải tạo sự dễ dàng cho khách tới điểm đến hấp dẫn khác nhau Các khách sạn, nhà hàng thỏa mãn nhu cầu thiết yếu khi khách xa nhà Cần có những hoạt động thông tin giúp đỡ họ tìm gặp nhu cầu trong môi trường mới Điểm đến cần phải tạo ra lợi thế trong cạnh tranh các điểm đến khác, nhờ phân tích và đáp ứng đầy đủ các giá trị và nhu cầu của phân đoạn thị trường Hoạt động marketing của tổ chức quản trị điểm đến tập trung chủ yếu vào xúc tiến điểm đến như một chỉnh thể
Xúc tiến điểm đến du lịch liên quan đến hoạt động marketing điểm đến Nội dung cơ bản của marketing điểm đến là quá trình quản trị, trước hết phân tích vấnh đề liên quan đến để xây dựng mục tiêu marketing Tiến hành định vị thị trường và xây dựng hình ảnh điểm đến Tiếp theo tiến hành hoạch định chiến lược marketing Sau cùng là giám sát đánh giá các biện pháp sử dụng và kết quả hoạt động marketing
Xác định nội dung cơ bản của marketing điểm đến du lịch bao gồm các bước:
- Bước thứ nhất: Phân tích hiện trạng:
Trang 19Phân tích môi trường bên ngoài Trong đó có bối cảnh chung (văn hóa
và xã hội, kinh tế, môi trường, công nghệ, chính trị ) bối cảnh thị trường (nhóm liên quan, nhu cầu, đối thủ cạnh tranh, trung gian )
Phân tích môi trường bên trong: Cơ sở dữ liệu, cơ cấu tổ chức và nguồn lực, ý tưởng; sản phẩm điểm đến; nhận dạng tổ chức; hình ảnh điểm đến; xúc tiến
- Bước thứ hai: Phân tích SWOT của điểm đến (phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức)
- Bước thứ ba: Marketing chiến lược:
+ Xác định mục tiêu của chiến lược marketing
+ Xác định nhóm khách hàng mục tiêu
+ Định vị thị trường cho điểm đến du lịch
- Bước thứ tư: Hoạch định marketing hỗn hợp, ngân sách marketing
- Bước thứ năm: Kiểm soát, đánh giá
Như vậy theo cách tiếp cận quản trị, nội dung hoạt động quản trị marketing của các tổ chức du lịch thực chất là hoạt động cầu du lịch Nó liên quan tới sản phẩm, dịch vụ, hình ảnh điểm đến và đưa vào khái niệm trao đổi nhằm tạo ra sự thỏa mãn cho các bên
Một đặc điểm cần chú ý là sản phẩm ở điểm đến du lịch do nhiều tổ chức, doanh nghiệp tham gia cung ứng, có thể trực tiếp hay gián tiếp Quá trình tổ chức hoạt động marketing điểm du lịch, gặp khó khăn lớn nhất đối với
tổ chức marketing điểm đến du lịch là phải gắn kết họ với nhau để tạo ra sản phẩm du lịch thỏa mãn nhu cầu du khách, thực hiện mục tiêu chung của điểm đến du lịch, thay vì để họ chỉ quan tâm tới lợi ích riêng và cạnh tranh lẫn nhau Marketing điểm đến không chỉ được coi là một công cụ thu hút khách
mà còn là một cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạt được mục tiêu phát triển điểm đến
Trang 201.2 Vai trò của xúc tiến điểm đến du lịch
Xúc tiến điểm đến du lịch đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong kinh doanh du lịch Bất kỳ điểm đến du lịch nào, muốn phát triển thành công và bền vững, đều phải tiến hành xúc tiến quảng bá điểm đến du lịch Thực chất và vai trò xúc tiến điểm đến du lịch địa phương: Xúc tiến điểm đến
du lịch địa phương do tổ chức xúc tiến du lịch địa phương chủ trì thực hiện và
có sự phối hợp, tham gia của các tổ chức liên quan; tạo dựng hình ảnh điểm đến du lịch, sự hiểu biết rõ ràng về điểm đến và cách chào hàng dịch vụ của điểm đến; xúc tiến điểm đến du lịch địa phương có sự tham gia của nhiều phân hệ thuộc hệ thống điểm đến, cần có sự liên kết, chỉ đạo thống nhất Xúc tiến điểm đến du lịch nhằm tuyên truyền, quảng bá giới thiệu cung cấp thông tin về du lịch tại các thị trường tiềm năng, qua đó thu hút du khách tham quan du lịch
Tạo dựng và tăng cường nhận thức của toàn dân về vai trò phát triển du lịch, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội như tạo môi trường du lịch thuận lợi, tăng thu nhập xã hội, tạo việc làm, giữ gìn và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch
Tạo lập hình ảnh tích cực về điểm đến du lịch trong tâm trí du khách, tác động đến sự lựa chọn điểm đến của họ
Xúc tiến điểm đến được xác định như một sự sắp xếp toàn bộ các nỗ lực chủ động sáng tạo của điểm đến, để thiết lập các kênh thông tin và thuyết phục chào bán các hàng hoá và dịch vụ hay xúc tiến hình ảnh, ý tưởng của điểm đến
Xúc tiến điểm đến du lịch, cung cấp các thông tin thị trường, tăng cường vai trò cầu nối giúp các tổ chức, doanh nghiệp du lịch nghiên cứu thị trường và tìm kiếm khách hàng phù hợp [16]
1.3 Các hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
Trang 211.3.1 Hoạt động quảng cáo
Quảng cáo là một nghệ thuật giới thiệu hàng hóa hay dịch vụ nhằm tới những thị trường mục tiêu nhất định được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông và phải trả tiền[13, tr 316]
Quảng cáo bằng in ấn và các phương tiện khác trong kinhh doanh khách sạn, du lịch bao gồm:
- Quảng cáo bằng in ấn
Do đặc điểm của các sản phẩm khách sạn, du lịch, việc quảng cáo của các doanh nghiệp cho sản phẩm của mình thường phải chọn các phương tiện truyền thông có tuổi thọ cao, quảng cáo bằng in ấn là phương tiện hay được dùng trong quảng cáo của ngành khách sạn, du lịch Quảng cáo bằng in ấn thích hợp ở chỗ có thể trình bày số lượng thông tin lớn trên một diện tích nhỏ
và khách hàng có thể đọc được khi rảnh rỗi nên thời gian lưu trữ lại thông tin lâu hơn Quảng cáo bằng in ấn cũng cho phép in vào đó những lá phiếu thăm
dò để kiểm tra lại tỷ lệ phản ứng của khách hàng Chi phí cho quảng cáo bằng
in ấn được tính trên cơ sở diện tích chiếm chỗ của quảng cáo, mầu sắc, vị trí của quảng cáo và loại sách báo, tạp chí đăng quảng cáo, tần số xuất hiện
- Việc thiết kế, sáng tạo các quảng cáo bằng in ấn cho ngành du lịch cũng không đòi hỏi điều gì quá phức tạp so với các ngành khác Mục đích của các quảng cáo là cung cấp thông tin quan trọng về sản phẩm hay về một doanh nghiệp, từ đó hướng khách hàng tới các quyết định mua Để có thể viết được một quảng cáo bằng in ấn tốt thường phải tuân theo công thức AIDA bao gồm:
+ Lôi cuốn sự chú ý là điểm mấu chốt của một quảng cáo bằng in ấn tốt, nó thường được thể hiện bằng những tiêu đề có kích thước lớn, khác biệt khiến độc giả chú ý, thích thú đọc tiếp các phần khác
+ Kích thích sự quan tâm được trình bày bằng những tiêu đề nhỏ, mục đích là để tạo ra sự quan tâm khuyến khích khách hàng đọc tiếp
Trang 22+ Tạo sự ước muốn đây là phần chính của nội dung quảng cáo, có tác dụng thúc đẩy hành vi mua của khách, để gây nên sự quan tâm thường trong nội dung này người ta nêu lợi ích, ưu điểm nổi bật của sản phẩm quảng cáo + Gợi ý hành động đây là những nội dung để gợi ý, nhắc nhở để khách hàng hành động, những gợi ý, nhắc nhở thường phải nêu ra liên quan đến lợi ích, không nhất thiết là nhắc nhở họ hành động ngay, đoạn này có thể mời độc giả điện thoại, fax để hỏi thêm thông tin
Có thể biểu diễn mô hình AIDA như sau:
Sơ đồ: Mô hình quảng cáo AIDA [ 13, tr 320]
Bốn yếu tố trên được dùng cho tất cả các loại quảng cáo chứ không riêng cho quảng cáo bằng in ấn
Việc quảng cáo bằng in ấn phải tuân theo các nguyên tắc chỉ đạo sau đây: một là, phải có mục đích rõ rệt, chẳng hạn như áp dụng chính sách giá mới; hai là, chỉ cần làm nổi bật một nội dung cần quảng cáo; ba là có nhiều khoảng trống để tránh bị dồn ép; bốn là sử dụng mẫu chữ đơn giản; năm là trình bày biểu tượng, tên doanh nghiệp nổi bật; sáu là, có các hình ảnh minh họa; bảy là làm nổi bật so với các bài báo xung quanh; tám là sử dụng dẫn chứng của khách hàng đã thỏa mãn; chín là phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp; mười là không chứa đựng sự tương phản trong quảng cáo với cách nhìn của khách hàng về doanh nghiệp; mười một là làm cho độc giả chú ý vào sản phẩm quảng cáo chứ không phải bản thân quảng cáo; mười hai
là, có kích thước vừa phải và ở vị trí thích hợp
Việc quảng cáo bằng in ấn trên báo và tạp chí có những đặc điểm riêng Đối với báo là phương tiện truyền thông phổ biến nhất trong các ấn phẩm các
Attenion
Chú ý
Interest Quan tâm
Desire Mong muốn
Action Hành động
Trang 23phụ trang quảng cáo thường là nơi quảng cáo rất tốt cho các doanh nghiệp du lịch Khách sạn DEAWOO thường quảng cáo trên các phụ trang của báo Lao Động Báo ra hàng ngày thường có độc giả rộng rãi, chi phí không cao, kích thước quảng cáo khá uyển chuyển, thời gian đăng kí nhận quảng cáo trước không lâu chi phí tính theo diện tích hay số cột của trang báo và vị trí đăng trên báo Tuy nhiên, báo hàng ngày có nhược điểm là thời gian tồn tại không lâu, tỷ lệ người quan tâm đến quảng cáo thấp, mục quảng cáo dễ bị che lấp bởi các bài báo khác Đối với tạp chí và nguyệt san thường chi phí quảng cáo cao hơn, nhưng dễ đến tay độc giả mục tiêu hơn, các khách sạn thường đăng quảng cáo của mình trên các tạp chí của ngành hàng không, các tạp chí chuyên đề Chi phí cho quảng cáo trên tạp chí, nguyệt san thường tính theo trang, hay sửa trang, vị trí trang bìa trước hay sau Quảng cáo trên tạp chí hay nguyệt san có ưu điểm là tuổi thọ khá lâu, chất lượng in ấn đẹp, tuy có ít độc giả nhưng là những độc giả có chọn lọc Qua tạp chí doanh nghiệp có thể thông tin trực tiếp cho thị trường mục tiêu ví dụ tạp chí chuyên đề nhằm quan tâm vào các đối tượng ưa thích du lịch Việc chuẩn bị cho đăng quảng cáo trên tạp chí, nguyệt san thường phải đăng kí trước khá lâu
- Quảng cáo bằng các phương tiện truyền thông khác ngoài in ấn thường có nội dung ngắn hơn và phải phát đi phát lại nhiều lần Về nội dung vẫn phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin và thúc đẩy hành động để khách hàng có thể hướng đến mua sản phẩm
- Truyền thanh địa phương thường là nơi quảng cáo tốt cho du lịch, truyền thanh có số lượng độc giả đông, nhưng thời gian nghe quảng cáo lại ngắn do vậy việc quảng cáo phải lặp đi lặp lại nhiều lần, quảng cáo trên phương tiện truyền thanh thích hợp nhất với đối tượng khách đi xe hơi Quảng cáo truyền thanh thường được bán theo những đoạn xen kẽ giữa các chương trình phát thanh chính và được bán theo giây, giá biến đổi theo thời điểm
Trang 24trong ngày Nhược điểm của phương tiện này là thời gian tiếp xúc quá ngắn, khán giả có thể không nghe kịp những chi tiết quan trọng như số điện thoại, địa chỉ khó trình bày được khung cảnh của khách sạn hay nơi du lịch
- Quảng cáo bằng truyền hình có ưu điểm là có thể tác động đến người nghe bằng cả âm thanh và hình ảnh, đây là phương tiện hay được sử dụng nhiều nhất để quảng cáo nói chung Giống như truyền thanh, quảng cáo bằng truyền hình khó uyển chuyển và lưu lại lâu trong trí người xem.Quảng cáo bằng truyền hình thường được xen vào những chương trình chính, vào đầu giờ buổi tối, giá phát các chương trình quảng cáo thường là cao nhất, nếu kèm theo các chương trình đặc biệt thì giá lại càng cao hơn Người mua các ch-ương trình quảng cáo thường muốn chọn những đoạn thời gian liền cận với các chương trình hấp dẫn mà khán giả sẽ đón xem như thể thao, phim truyện Vì thời gian chuẩn bị cho quảng cáo khá dài nên quảng cáo truyền hình thư-ờng chịu nhiều sai lệch thời gian từ lúc quyết định đến khi phát hình quảng cáo thực sự
- Phát tuyến hẹp, là hình thức quảng cáo trên truyền hình cáp đến thẳng những phân khúc thị trường tại một địa điểm đã chọn Chi phí cho việc phát tuyến hẹp thường rẻ hơn so với truyền hình thông thường
- Trưng bày du lịch và phim ảnh du lịch là các hình thức quảng cáo thông qua các phòng trưng bày du lịch của một địa phương, hay chiếu các cuộn phim về địa phương hay điểm du lịch của mình để lôi kéo khách
- Tài liệu hướng dẫn du lịch bao gồm các tài liệu giới thiệu về khách sạn, nhà hàng, các niên giám về du lịch.Các tài liệu này nhằm vào các thị trường mục tiêu xác định, cần phải chuẩn bị tư liệu và in ấn khá công phu
- Quảng cáo trong ngành là sử dụng các quảng cáo đến các trung gian phân phối như các văn phòng du lịch các hiệp hội vận chuyển, các nhà tổ chức hội nghị, các hiệp hội khách sạn, nhà hàng Quảng cáo dành cho các
Trang 25trung gian tuy không đòi hỏi sử dụng các biện pháp tâm lí, khởi động cảm xúc của khách hàng như quảng cáo cho người tiêu dùng, song vẵn phải có yếu tố hấp dẫn và lưu giữ sự chú ý của họ
- Thông qua bưu điện, bao gồm các bài quảng cáo được gửi qua đường bưu điện, tài liệu để gửi thư có thể bao gồm: danh thiếp, catalog,bưu thiếp, bảng giá cách quảng cáo này khá hữu hiệu do gửi tới được khách có chọn lọc, chẳng hạn khách sạn có thể gửi tập sách giới thiệu đến khách hàng Nếu xác lập được danh sách đầy đủ chính xác và cập nhật thì thư riêng là cách có hiệu quả nhất, không bị quảng cáo khác cạnh tranh, có thể gửi kèm luôn phiếu đặt hàng không bị giàng buộc bởi hình thức và kích cỡ, thời gian cũng chủ động hơn Tuy nhiên nếu việc chuẩn bị không cẩn thận thì tỷ lệ hồi âm thấp
và có thể bị khách hàng hiểu lầm
- Quảng cáo bằng phát tay và truyền đơn là những tờ giấy in được phát tận nhà hay trực tiếp cho khách hàng ở một vùng nào đó, hay trong siêu thị, chỗ đông người Mục đích là giới thiệu một vài loại sản phẩm hay việc hạ giá, truyền đơn hay quảng cáo phát tay cũng có thể được gửi qua bưu điện cho khách hàng
- Sách chỉ dẫn, hay các danh bạ như các trang vàng điện thoại cũng là cách quảng cáo hữu ích cho các doanh nghiệp khách sạn, du lịch, thời gian tồn tại của ấn phẩm khá lâu, thường là một năm tuy nhiên do tồn tại khá lâu nên ít thay đổi được nội dung quảng cáo
Bản tin nội bộ có thể dùng để giới thiệu trong nội bộ hay gửi cho các trung gian, bản tin có giá trị quảng cáo tốt nếu chú ý thêm vào đó những thông tin khuyến khích khách hàng mua sản phẩm và các hình ảnh minh họa
Pano trên quốc lộ, thường được đặt trên quốc lộ lớn, đặc biệt trên ờng ra sân bay, bến cảng, nội dung phải hết sức ngắn gọn, đơn giản dễ đọc nó
đư-có ưu điểm là chi phí không cao, dễ cho điểm đặt gần sân bay, nơi đông người
Trang 26qua lại, có thể quảng cáo lặp lại Tuy nhiên nội dung lại quá ngắn gọn, khó thay đổi
- Tem phiếu là loại phiếu được phân phát theo bài quảng cáo để ấn định giảm giá cho khách hàng, nó cũng được gửi cho khách hàng mục tiêu qua bưu điện hay qua các trung gian khác, chẳng hạn một hàng quảng cáo trên báo có ghi rõ “Nếu cắt theo phiếu này, khi đến bạn sẽ được giảm giá 20%.”
- Quảng cáo hoán đổi là việc các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn,
du lịch và các cơ quan truyền thông hợp tác với nhau trong quảng cáo trên cơ
sở các hợp đồng thỏa thuận, chẳng hạn một đài phát thanh quảng cáo cho một khách sạn, ngược lại khách sạn sẽ giảm giá phòng tương ứng cho các cộng tác viên của đài
- Quảng cáo hợp tác là cách mà các doanh nghiệp du lịch vẫn tăng cường quảng cáo được mà lại giảm chi phí Các doanh nghiệp dàn xếp để quảng cáo chung cho cả vùng và chi phí được phân chia cho các doanh nghiệp tham gia quảng cáo Ví dụ, các Văn phòng Du lịch của Chính phủ chia chi phí quảng cáo với các doanh nghiệp trên từng địa phương, khách sạn và công ty
lữ hành chia nhau kinh phí quảng cáo
- Xuất bản và phát hành ấn phẩm thông tin là một hình thức xúc tiến, quảng bá truyền thống Ấn phẩm thông tin là tất cả những dạng in ấn hoặc điện tử được thiết kế nhằm tạo ra sự nhận biết đối với khách hàng hiện tại và tiềm năng, kích thích nhu cầu và ham muốn về một sản phẩm hay điểm đến
cụ thể nào đó Do vậy, việc tạo hình ảnh ấn tượng, thông điệp hấp dẫn về điểm đến du lịch trên các ấn phẩm truyền thông sẽ có tác động mạnh mẽ đến việc thu hút khách du lịch hiện tại cũng như khơi gợi sự tò mò khám phá điểm đến đối với những du khách tiềm năng thông qua các ấn phẩm mà họ nhận được từ bạn bè hay các văn phòng du lịch
Trang 27Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ số đã giúp cho việc tạo ra nhiều loại ấn phẩm, tài liệu quảng bá độc đáo, ấn tượng và sống động hơn cả về nội dung lẫn hình thức với chi phí hợp lý Các ấn phẩm, tài liệu thông tin bao gồm:
bá du lịch hiệu quả, đặc biệt đối với các điểm đến du lịch cần chú ý: trang bìa phải ấn tượng, độc đáo; nội dung phải ngắn gọn, xúc tích nhưng đầy đủ, chính xác; hình ảnh minh hoạ hấp dẫn; cần phải có thông tin về địa chỉ, số điện thoại liên hệ, những thông tin này cần phải in dễ nhìn và nổi bật
1.3.2 Hoạt động tuyên truyền/quan hệ công chúng, phát động thị trường và giới thiệu điểm đến
Quan hệ công chúng là cách thức hoạt động tạo dựng duy trì và phát triển các mối quan hệ với các tầng lớp công chúng khác nhau Hoạt động này nhằm tạo ra một ấn tượng tốt, một hình ảnh tốt trong công chúng là cho công chúng yêu thích doanh nghiệp, qua đó để đính chính những thông tin nhiễu và loại bỏ các thông tin sai lệch Đây là mục tiêu chính của việc xây dựng quan
Trang 28sinh hoạt cộng đồng và coi đây là những công cụ quan hệ công chúng có hiệu quả Hiện nay nhiều doanh nghiệp rất coi trọng hoạt động quan hệ công chúng và có nhiều người còn cho rằng quan hệ công chúng dần dần từng bước
sẽ thay đổi ngôi của quảng cáo
Những quyết định chủ yếu trong quan hệ công chúng:
- Xác định mục tiêu quan hệ công chúng, các mục tiêu này cũng xuất phát từ mục tiêu marketing, có thể là tạo ra sự biết đến, tạo dựng sự tín nhiệm; trợ giúp cho lực lượng bán hàng và giảm bớt chi phí khuyến mại
- Lựa chọn thông điệp và công cụ quan hệ với công chúng Thông điệp thường là các bài viết về sản phẩm của doanh nghiệp, các câu chuyện, các lời khen của khách hàng, các sự kiện đang và sẽ xảy ra Công cụ lựa chọn có thể
là các phương tiện truyền thông đại chúng, hay thông qua các cuộc trình diến thời trang, ca nhạc
- Thực hiện kế hoạch quan hệ với công chúng đòi hỏi phải có những quan tâm đặc biệt, mối quan hệ với các biên tập viên của các phương tiện thông tin để đảm bảo các thông điệp được đăng tải
- Đánh giá kết quả, việc đánh giá kết quả quan hệ với công chúng là khó khăn, tuy nhiên có thể sử dụng các phương pháp như: đo lường số lần thông tin có thể xuất hiện; đo lường sự thay đổi thái độ của khách hàng với sản phẩm; đo lường sự thay đổi của doanh số và lợi nhuận
Các công cụ chủ yếu trong quan hệ với công chúng một cách trực tiếp hay qua các trung gian:
- Quan hệ với báo chí, bao gồm các thông cáo báo chí, các cuộc họp báo, tổ chức cho các nhà báo đi thực tế để thu lượm thông tin về sản phẩm và doanh nghiệp
Trang 29- Xuất bản phẩm, bao gồm các báo cáo hàng năm, cuốn sách nhỏ, những bài báo, những tư liệu nghe nhìn, hay những bài viết ngắn gọn của doanh nghiệp trên các báo
- Tạo các sự kiện để thu hút sự chú ý của công chúng đến sản phẩm mới hay các hoạt động khách của doanh nghiệp như các hội nghị báo chí, hội thảo chuyên đề, triển lãm, thi thể thao, lễ kỉ niệm
- Tin tức về sản phẩm, doanh nghiệp hay con người của doanh nghiệp được tìm kiếm thông tin hay sáng tác ra để đăng tải trên các báo hay các phương tiện thông tin đại chúng khác
- Bài nói chuyện trước các diễn giả, hay lời phỏng vấn của lãnh đạo doanh nghiệp trước các phòng viện báo chí
- Hoạt động công ích, doanh nghiệp có thể tham gia các hoạt động công ích xã hội như tài trợ cho trẻ em mồ côi, ủng hộ thiên tai bão lụt
- Tạo ra những đặc điểm nhận dạng nổi bật về sản phẩm, về doanh nghiệp như bao gói, logo, danh thiếp đồng phục của nhân viên các đặc điểm nhận dạng trên giúp khách hàng nhanh chóng nhận ra sản phẩm, doanh nghiệp trong thị trường đầy những quảng cáo, thông điệp thương mại
Tổ chức các chương trình phát động thị trường, giới thiệu điểm đến, chương trình này được tổ chức với mục đích chính là tạo ra những đợt tuyên truyền quảng bá lớn cho ngành du lịch nói chung Đây là một trong những hoạt động được tổ chức để phục hồi thị trường khi có dấu hiệu tăng hoặc chững lại Hoạt động này nhằm tạo ra một ấn tượng tốt, một hình ảnh tốt trong công chúng làm cho công chúng yêu thích doanh nghiệp, qua đó để đính chính những thông tin nhiễu và loại bỏ các thông tin sai lệch
1.3.3 Hoạt động xúc tiến bán
Là hình thức khuyến mại trao thưởng trong một thời gian nhất định để khuyến khích khách hàng đang sử dụng sản phẩm do doanh nghiệp cung ứng,
Trang 30mua nhiều về số lượng và mua nhiều hơn về số lần và sử dụng thường xuyên hơn; khuyến khích khách hàng chưa sử dụng, những người đang sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh dùng thử sản phẩm do doanh nghiệp bán trên thị trường; khuyến khích và hỗ trợ những người bán buôn và bán lẻ hàng do doanh nghiệp cung ứng, khuyến khích họ mua nhiều hàng hóa hơn, gia tăng
dự trữ, trợ giúp giới thiệu sản phẩm mới, bù đắp các chi phí mà những người này sử dụng trong các chương trình xúc tiến
Các công cụ xúc tiến bán hàng gồm nhiều loại: Chẳng hạn biểu mẫu hàng, phiếu thưởng, giảm giá hàng trưng bày, tổ chức cuộc thi, trò chơi, trình diễn thương mại, đi du lịch miễn phí Song nhìn chung mục tiêu của xúc tiến bán hàng là nhằm vào việc kích thích mua hàng và tạo sự trung thành Sự gia tăng chi phí cho việc xúc tiến bán ngày nay do những nguyên nhân chính sau: khách hàng đứng trước nhiều sự lựa chọn hơn nên ít trung thành hơn; quyền lực của các nhà phân phối ngày càng tăng hơn, họ khó tính hơn trong nhận bán sản phẩm mới; nhiều thị trường hoặc là giảm sút sức mua hoặc là tăng trưởng yếu, do vậy cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn chính từ những nguyên nhân trên, các nhà quản lý đã cân nhắc, xem xét ngân sách cho quảng cáo, dành nhiều hơn cho công việc xúc tiến bán, có nghĩa là chú trọng hơn đến ngắn hạn do khách hàng ngày càng quan tâm hơn đến các chương trình khuyến mại và hiệu quả của nó dễ dàng đo lường được hơn
Việc khuyến mại có thể được thực hiện đối với mọi đối tượng có khả năng mua hàng hay có ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm, bao gồm các đối tượng sau: người mua hàng; người tiêu thụ; người có ảnh hưởng; người bán hàng, nhà phân phối
Những quyết định chủ yếu trong khuyến mại bao gồm:
Xác định mục tiêu khuyến mại
Lựa chọn các công cụ khuyến mại
Trang 31Xây dựng chương trình khuyến mại
Thử nghiệm trước chương trình khuyến mại
Thực hiện kiểm tra, đánh giá chương trình khuyến mại
Khuyến mại cũng có mặt trái của nó như: khuyến mại là tương đối tốn kém vì có thể ta đã khuyến khích nhầm đối tượng; và khuyến mại phần nào gây khó chịu cho những người bán lẻ, họ đòi tăng thêm hoa hồng dẫn khách hay từ chối trong việc khuyến mại
Các công cụ khuyến mại chủ yếu :
- Khuyến mại với người tiêu thụ
+ Mẫu hàng là những sản phẩm hay dịch vụ được phát miễn phí, có thể
có nhiều cách phân phát khác nhau, ngay từ thế kỷ 11 các nhà sản xuất rượu vang ở Pháp đã thuê các đội kèn, trống đi các vùng khác nhau để quảng cáo
và mời dân chúng uống thử rượu vang
+ Phiếu mua hàng, là xác nhận người cầm giấy được hưởng quyền ưu đãi giảm giá khi mua sản phẩm nhất định
+ Hoàn trả tiền mặt là việc các khách hàng được trả bớt lại tiền mặt sau khi đã mua hàng Các công ty lữ hành có thể trả bớt lại tiền cho khách sau mỗi chuyến đi du lịch, hay có thể bớt tiền cho các du khách đi nghỉ hè ở biển nếu trời mưa
+ Bán rẻ theo giá trọn gói, là cách khuyến khích khách hàng mua trọn gói nhiều dịch vụ, nó có tác dụng trong kinh doanh ngắn hạn
+Thưởng, là việc bán với giá thấp hay cho một sản phẩm, dịch vụ nào
đó khi muốn khuyến khích khách mua sản phẩm, dịch vụ cụ thể
1.3.4 Tổ chức, tham gia các hội chợ, triển lãm du lịch
Hội chợ, triển lãm du lịch là một phương tiện tiếp cận Hội chợ, triển lãm du lịch là nơi những người điều hành chương trình du lịch đến để tìm mua các chương trình du lịch mới cung cấp cho khách hàng của họ Hình thức
Trang 32phổ biến nhất là diễn đàn mở, nơi các điểm đến du lịch (quốc gia hay thành phố) mua các gian hàng và những người mua được miễn phí khi đến thăm và gặp gỡ với những ai thu hút sự chú ý của họ Hội chợ du lịch cũng cho phép các điểm đến sắp xếp, lên kế hoạch các cuộc gặp gỡ trực tiếp với các đại lý du lịch, những người mua truyền thống và tiềm năng
Hội chợ triển lãm du lịch thường niên cấp vùng, quốc gia hay quốc tế không chỉ là nơi gặp gỡ, trao đổi, giao thương của nhà chuyên nghiệp du lịch gồm những người mua và những người bán mà còn phục vụ cả quảng đại công chúng (những khách hàng tiềm năng)
Mục đích của các hội chợ triển lãm du lịch là cho những người bán và người mua gặp nhau và thực hiện giao dịch Hội chợ triển lãm du lịch còn là
cơ hội tốt cho các nhân viên tiếp thị điểm đến vừa có thể thiết lập các mạng lưới quan hệ với nhau, vừa có thể thu thập thông tin về các đối thủ cạnh tranh
Các hội chợ triển lãm chuyên biệt về du lịch thường nhằm vào những khu vực địa lý khác, theo những nhóm lợi ích và tâm trắc học hoặc theo loại phương tiện vận chuyển
1.3.5 Khai thác mạng Internet, xây dựng các kênh thông tin để tuyên truyền và quảng bá hình ảnh du lịch
Là việc sử dụng mạng internet kết hợp với các phương tiện truyền thông tích hợp khác để xúc tiến sản phẩm và dịch vụ khách hàng
Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin ngày càng nhiều người sử dụng mạng Internet để đặt hàng trực tuyến với những lý do sau đây:
+ Thuận lợi: Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu đều có thể đặt hàng trực tuyến
+ Thông tin: Khách hàng có thể thu nhận thông tin về các hãng lữ hành, khách sạn và thông tin tại điểm đến
Trang 33+ Giá cả: Nhờ mạng internet người tiêu dùng có thể so sánh giá cả của các hãng do đó họ có thể chọn được giá rẻ hơn
Xây dựng các kênh thông tin để tuyên truyền, quảng bá là một việc rất quan trọng Xây dựng các kênh thông tin bao gồm: tuyên truyền qua các kênh thông tin đại chúng, thành lập các văn phòng đại diện, cung cấp các ấn phẩm, vật phẩm xúc tiến du lịch
1.4 Xây dựng chương trình xúc tiến điểm đến du lịch
1.4.1 Các thành tố trong quá trình xúc tiến du lịch
Quá trình truyền tin: Lý thuyết về quá trình truyền tin được các nhà nghiên cứu Sahannon và Weaver xây dựng với mục đích phân tích một cách khoa học các điều kiện trao đổi cần thiết để truyền đạt một thông điệp, thông qua một sơ đồ diễn tả mối quan hệ giữa người gửi và người nhận thông tin Quá trình truyền tin được xem như là một hệ thống theo sơ đồ sau:
Hình 1.1: Quy trình truyền thông
Nguồn: Marketing Management
Người
gửi
Mã hoá
Phương tiện truyền thông
Trang 34Sơ đồ đó cho thấy truyền thông là một chu trình kín, theo đó thông tin
từ người gửi sau khi được mã hoá sẽ được truyền dẫn qua các phương tiện khác nhau và được giải mã trước khi đến người nhận Người nhận đến lượt mình có những hồi đáp trở lại nơi xuất phát của các thông tin ban đầu
Tuy nhiên, trong quá trình truyền – nhận – phản hồi tin luôn luôn xảy
ra hiện tượng “nhiễu thông tin” vì nhiều nguyên nhân khác nhau, dẫn đến những sự sai lệch các thông tin này Tuỳ theo mức độ sai lệch khác nhau, sẽ
có thể dẫn tới việc các biểu hiện sai ý đồ của nhau Do vậy cần thận trọng trong việc chuyển thông tin qua quá nhiều kênh trung gian Ngoài ra trong quá trình truyền và nhận tin cũng như ý kiến phản hồi cần phải đảm bảo tính bảo mật và sử dụng các kênh thông tin có độ tin cậy cao, thời gian truyền tải thông tin ngắn Nói cách khác, cần phải căn cứ vào tầm quan trọng của những thông tin này tới những động thái tiếp theo của cả các bên về việc có thể tiến hành hợp tác được với nhau hay không Trong một số trường hợp đặc biệt chỉ cần sai lệch nhỏ cũng có thể làm sai lệch nội dung, phản ánh không trung thực các thông tin ban đầu dẫn đến quyết định sai lầm
Trong mô hình trên, người gửi thông tin cần phải biết rõ gửi đến cho công chúng nào và mong muốn phản ứng đáp lại của họ như thế nào Họ mã hóa thông điệp của mình, tức là quá trình thể hiện ý tưởng bằng ngôn ngữ truyền thông để gửi đến người nhận, việc mã hóa có tính đến việc giải mã, người nhận thông điệp thường là khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp Phản ứng đáp lại là tập hợp những phản ứng mà người nhận có sau khi họ tiếp nhận và xử lý các thông điệp Một phần phản ứng đáp lại được phản hồi đến người nhận Trong quá trình đó có những nhiễu tạp, làm cho thông tin gửi đến người nhận bị sai lệch đi, sự sai lệch đó là do ảnh hưởng của môi trường truyền tin
Trang 35Từ mô hình trên, ngày nay người ta cho rằng các doanh nghiệp không thể không truyền thông, sự im lặng có khi lại tạo ra những thông tin ngoài ý muốn, đôi khi tạo ra những lời đồn đại sai lệch Do vậy trong nhiều trường hợp có những doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm không phải với mục đích chính là quảng cáo mà đơn thuần chỉ là vì không muốn vắng mặt Mặt khác, việc diễn giải thông điệp gắn liền với quá trình truyền tin trước đó giữa người phát và người nhận, mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp thông qua nhãn hiệu, uy tín của doanh nghiệp sẽ quyết định ý nghĩa thực sự của thông điệp vì ngoài ý nghĩa nhận thức ở đây còn có khía cạnh tình cảm
Hoạt động xúc tiến đầu tư nói chung có mục đích ban đầu là tạo ra hình ảnh những đối tượng đầu tư trong con mắt của các đối tượng xúc tiến là các đối tác đầu tư theo một lộ trình đã được vạch sẵn Ngoài ra trong quá trình truyền và nhận thông tin phản hồi thường gặp phải các yếu tố gây nhiễu, làm sai lệch các thông tin này, do vậy việc cần làm trước hết chính là lập chương trình xúc tiến và khử nhiễu thông tin
Bản chất của hoạt động xúc tiến chính là hoạt động truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp đến khách hàng để thuyết phục họ mua Vì vậy, có thể gọi đây là các hoạt động truyền thông marketing Nó cung cấp thông tin cho khách hàng và những giải pháp về những mối quan hệ nội bộ cũng như mối quan hệ thị trường Truyền thông thiết lập sự rõ ràng, sự định vị và giúp khách hàng nhận thức đầy đủ hơn về giá trị sản phẩm, dịch vụ
Nhờ có sự đột phá của công nghệ hiện đại mà mọi người có thể trao đổi thông tin thông qua các phương tiện truyền tin truyền thống (báo chí, phát thanh, truyền hình, điện thoại), cũng như thông qua các phương tiện truyền thông mới (máy tính, máy fax, điện thoại di động, máy nhắn tin) Cùng với chi phí trao đổi thông tin trở nên rẻ hơn, các công nghệ mới đã kích thích các
Trang 36doanh nghiệp thay đổi phương thức truyền thông từ đại trà sang phương thức truyền thông có mục tiêu và thậm chí trao đổi trực tiếp đến từng khách hàng của họ
Mục tiêu chính của xúc tiến điểm đến du lịch là truyền thông giao tiếp giữa điểm đến, hay các nhà cung cấp dịch vụ du lịch với công chúng và khách hàng mục tiêu Truyền thông hiệu quả là quá trình hai chiều giữa người gửi và phương tiện truyền thông để chuyển đến người nhận Công chúng mục tiêu nhận thông điệp và giải mã thông điệp này Sau khi nhận và giải mã thông điệp, người nhận phản ứng và truyền thông tin phản hồi đến người gửi Song, quá trình truyền thông không hoàn hảo, luôn tồn tại một mức độ nhiễu nhất định làm cho truyền thông sai lệch
Để tổ chức một chương trình truyền thông xúc tiến hiệu quả, người gửi phải xác định rõ công chúng mục tiêu của mình là ai và những phản ứng mà người gửi muốn nhận được từ người nhận Do đó đòi hỏi người gửi phải biết cách mã hóa thông điệp của mình theo cách mà người nhận sẽ giải mã nó, lựa chọn cơ chế, phương pháp thu nhận phản ứng và thông tin phản hồi từ người nhận Đồng thời cũng phải biết và giảm thiểu độ nhiễu trong quá trình truyền thông
Trong vô vàn các thông điệp truyền thông của các đối thủ cạnh tranh, các nhà tiếp thị cần biết cách thu hút sự chú ý của công chúng bằng các thông điệp nổi bật, đơn giản, rõ ràng, phù hợp với các giá trị, niềm tin và văn hóa của công chúng Sau một thời gian được nhắc lại qua các kênh khác nhau, các thông điệp quảng cáo này sẽ ngày càng được khắc họa và ghi nhớ trong công chúng
1.4.2 Các bước tiến hành xây dựng chương trình xúc tiến điểm đến
du lịch địa phương
Chương trình xúc tiến hỗn hợp thường được xây dựng với các hình thức, công cụ xúc tiến khác nhau Những hình thức xúc tiến này được thiết kế
Trang 37nhằm đảm bảo khách du lịch ở một thị trường mục tiêu cụ thể nào đó nhận được đúng những thông điệp, nên sẽ giữ được thiện chí với điểm đến và các sản phẩm mà điểm đến chào bán Để xây dựng một chương trình xúc tiến điểm đến hiệu quả và thành công, cơ quan xúc tiến điểm đến địa phương cần thực hiện thông qua các bước sau:
1.4.2.1 Xác định công chúng mục tiêu
Trước tiên phải xác định công chúng mục tiêu sẽ nhận các thông điệp quảng cáo để biết họ là ai, học có hiểu biết gì về sản phẩm, điểm đến du lịch, thì các nhà tiếp thị mới đưa ra được các thông điệp quảng cáo phù hợp theo các giai đoạn từ “biết đến hiểu, thích, yêu thích, bị thuyết phục và cuối cùng
là quyết định mua” hoặc lựa chọn điểm đến du lịch đó Đối với điểm đến du lịch, thì các thông điệp truyền thông xúc tiến thường hướng tới hai đối tượng mục tiêu công chúng mục tiêu chính là những nhà trung gian du lịch (gồm các công ty du lịch, đại lý lữ hành, điều hành tour) và thị trường khách du lịch hiện tại và tiềm năng
1.4.2.2 Xác định và mục tiêu xúc tiến
Sau khi xác định công chúng mục tiêu, thì tiếp đến là xác định các nhiệm vụ và mục tiêu xúc tiến Mục tiêu xúc tiến phải chỉ ra được kết quả cuối cùng muốn đạt được, còn nhiệm vụ xúc tiến phải chỉ ra làm cách nào để đạt được mục tiêu đó Các nhiệm vụ mà một tổ chức xúc tiến điểm đến thực hiện có thể là: Thu hút khách du lịch tiềm năng tới điểm đến, duy trì hoặc cải thiện hình ảnh đến du lịch, giới thiệu thông tin về các sản phẩm chào bán của điểm đến, tạo dựng uy tín của các đơn vị kinh doanh du lịch, sửa các thông tin không chính xác hoặc thiếu đầy đủ điểm đến hoặc sản phẩm du lịch đang chào bán
Ngoài ra cơ quan xúc tiến điểm đến cũng phải đáp ứng các nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch trong vùng
Trang 38Đồng thời chủ trì điều phối các chương trình xúc tiến của các doanh nghiệp đảm bảo các nỗ lực của từng đơn vị phù hợp với chương trình xúc tiến chung của vùng
1.4.2.3 Thiết kế thông điệp
Sau khi xác định rõ công chúng mục tiêu, nhiệm vụ và mục tiêu xúc tiến, bước kế tiếp của quy trình là xây dựng và lựa chọn thông điệp quảng cáo cho chương trình xúc tiến Một thông điệp quảng cáo thành công phải gây dựng sự chú ý của khách hàng, làm cho họ quan tâm, tạo sự khao khát và cuối cùng dẫn họ đến quyết định mua Việc thiết kế, sáng tạo thông điệp bao gồm các quyết định về nội dung (nói cái gì), hình thức, kết cấu (nói như thế nào)
và công cụ phát hay truyền tải thông điệp (ai sẽ nói thông điệp)
Nội dung thông điệp cần hấp dẫn, có chủ đề, có ý tưởng sáng tạo và độc đáo Trong đó thể hiện rõ sự hấp dẫn bằng lợi ích, bằng cảm xúc và bằng các giá trị văn hóa, đạo đức
Hình thức thông điệp cần phù hợp với nội dung và kết cấu thông điệp, đặc biệt là phương tiện hay công cụ truyền tải thông điệp Thông điệp có thể được thể hiện dưới hình thức tiêu đề, biểu trưng, hình ảnh, lời lẽ, minh họa, màu sắc lôi cuốn, hấp dẫn Sự kết hợp hài hòa giữa hình ảnh, biểu trưng, tiêu
đề và lời dẫn dụ bằng lời sẽ tạo ra ấn tượng nhanh chóng trong tâm trí công chúng mục tiêu
1.4.2.4 Quyết định ngân sách xúc tiến
Căn cứ theo mục tiêu và đối tượng truyền thông để quyết định ngân sách cho hoạt động này Một trong những quyết định khó khăn nhất của các doanh nghiệp là cần bao nhiêu tiền cho hoạt động truyền thông Các ngành kinh doanh khác nhau có mức ngân sách dành cho truyền thông khác nhau
Đối với du lịch của một vùng hay địa phương, việc xác định ngân sách xúc tiến du lịch thường dựa trên 3 phương pháp cơ bản sau: phương pháp căn
Trang 39cứ khả năng, phương pháp cân bằng cạnh tranh và phương pháp căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ
* Phương pháp căn cứ khả năng: Nhiều tổ chức du lịch quyết định ngân sách xúc tiến ở mức độ mà tổ chức có thể chấp nhận được trong giai đoạn nào
đó Phương pháp này hoàn toàn không có căn cứ khoa học Nó bỏ qua sự tác động của xúc tiến đối với sự trở lại của khách du lịch Ngân sách xúc tiến hàng năm không ổn định, nên làm cho việc lập kế hoạch marketing chiến lược dài hạn gặp khó khăn
* Phương pháp cân bằng cạnh tranh: Để đạt được sự cân bằng về cạnh tranh trên thị trường, các công ty, tổ chức căn cứ vào chi phí của các đối thủ trên thị trường và điều chỉnh chi phí Phương pháp này thiếu khoa học và hiệu quả vì các mục tiêu và phương pháp xúc tiến của các đối thủ cạnh tranh
có thể thay đổi bất kỳ
* Phương pháp căn cứ vào nhiệm vụ và mục tiêu: Đây là phương pháp phù hợp nhất để xác định ngân sách xúc tiến du lịch địa phương Phương pháp này đòi hỏi tổ chức quản lý du lịch địa phương thiết kế ngân sách dựa trên xác định cụ thể các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cần được thực hiện để đạt các mục tiêu Chi phí cho từng công việc được cộng lại, tổng số chính là chi phí xúc tiến
1.4.2.5 Quyết định chương trình xúc tiến hỗn hợp trong marketing-mix
Các công cụ xúc tiến có chức năng và hiệu quả khác nhau đối với các thị trường khách khác nhau Để lựa chọn các công cụ tối ưu trong chương trình xúc tiến hỗn hợp cần hiểu rõ đặc điểm của từng công cụ trong những điều kiện thị trường, sản phẩm dịch vụ, khả năng đáp ứng của từng điểm đến,
và chiến lược tiếp thị điểm đến
Đối với điểm đến du lịch địa phương, quảng cáo có thể được xem là công cụ xúc tiến rất hiệu quả về chi phí, bởi vì nó có thể tiếp cận được thị trường mục tiêu rộng lớn với mức chi phí thấp tính theo đầu người Xúc tiến
Trang 40bán lại phù hợp và hữu hiệu trong việc tác động, ảnh hưởng tới các kênh trung gian như đại lý lữ hành, điều hành tour Quan hệ công chúng thông thường không phải trả tiền, là một thành phần rất quan trọng trong các chương trình xúc tiến điểm đến, công cụ này có thể hỗ trợ các công cụ khác trong chương trình xúc tiến hỗn hợp chính vì thế việc nghiên cứu sử dụng phối hợp tốt các công cụ xúc tiến sẽ đảm bảo sự thành công của các chương trình xúc tiến điểm đến du lịch của một địa phương
1.4.2.6 Đánh giá và kiểm soát chương trình xúc tiến du lịch
Đây là một nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quản lý du lịch địa phương Khi tiến hành xây dựng và đánh giá các chương trình xúc tiến du lịch, cơ quan xúc tiến du lịch địa phương cần đặc biệt quan tâm đến việc hợp tác với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong việc nghiên cứu thị trường
và đa dạng hóa các kênh xúc tiến, đồng thời phải xác định được các chủ đề cụ thể cho điểm đến nhằm gia tăng sự nhận biết những sản phẩm chào bán thông qua hình ảnh, thông điệp quảng cáo nhất quán, trung thực về điểm đến
1.5 Bài học kinh nghiệm về xúc tiến điểm đến tại một số tỉnh thành
Để làm cơ sở xây dựng chính sách xúc tiến phát triển du lịch của một địa phương hay một khu vực cần phải dựa vào việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương không chỉ ở trong nước mà còn ở các nước khác trên thế giới Những thành công cũng như những hạn chế trong hoạt động xúc tiến đầu tư phát triển ngành Du lịch của một số thành phố trong và ngoài nước có quy mô hoặc điều kiện tương tự cho các kinh nghiệm quý báu có thể tham khảo vận dụng trong hoàn cảnh của mình
1.5.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh
Trong cơ chế kinh tế mở, ngoài những lợi thế về địa hình, vị trí địa lý
và tiềm lực kinh tế, nhiều địa phương với những kinh nghiệm và sự nhạy bén của mình đã xây dựng được những chủ trương, chính sách phù hợp thu hút