1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cơ hội và thách thức của du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập Asean

142 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VII tại Brunei 5 - 6/11/2001 Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VII diễn ra tại Brunei từ ngày 5 - 6/11/2001 khẳng định tại Chương trình hành động Hà Nội HPA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



PHẠM THẾ HÙNG

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA DU LỊCH VIỆT NAM TRONG

QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP ASEAN

Trang 2

MỤC LỤC

1.1.1 Sự ra đời của tổ chức ASEAN 5

1.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ASEAN 5

1.1.1.3 Nguyên tắc hoạt động chính của ASEAN 18

1.1.2 Những u thế của các quốc gia ASEAN 20

1.1.2.1 Vị trí địa lý và yếu tố tự nhiên 20

1.1.3 Khả năng hợp tác của các nước ASEAN trong quá

trình hội nhập kinh tế thế giới 24

1.2.1 Khái quát chung về du lịch ASEAN 25

1.2.2 Tình hình và kết quả hơp tác du lịch Việt Nam -

1.2.2.1 Hợp tác du lịch đa phơng trong ASEAN 28 1.2.2.2 Hợp tác du lịch song phương trong ASEAN 35

2.1.1 Đặc điểm cung cầu của thị trờng du lịch ASEAN 38

2.1.1.1 Nhu cầu du lịch trong khu vực ASEAN 38

Trang 3

2.1.1.2 Yếu tố cung cấp sản phẩm dịch vụ du lịch trong

2.1.4 Tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch 50

2.1.5 Hiệu quả kinh tế xã hội của du lịch 51

2.4 Những hạn chế và thách thức đối với du lịch Việt Nam

2.4.1 Những hạn chế và thách thức về điều kiện khách

2.4.2 Những yêu cầu và thách thức về điều kiện chủ quan 64

CHƠNG 3: NHỮNG CƠ HỘI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ DU

LỊCH VIỆT NAM THỰC HIỆN HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH HỘI

Trang 4

3.1.1 Các xu hướng phát triển kinh tế xã hội ảnh hởng

3.1.2 Các xu hướng phát triển trong ngành du lịch 71

3.2.1 Những chính sách và biện pháp phát triển du lịch

3.2.2 Một số chính sách thúc đẩy phát triển du lịch của

3.2.5 Thành lập nhóm thông tin liên lạc về du lịch của

ASEAN- một bộ khung để liên lạc giữa các cơ quan

3.3 Những lợi thế và cơ hội của du lịch việt nam trong quá

3.3.1 Những lợi thế của du lịch Việt Nam trong quá trình

3.3.2 Những cơ hội cho ngành du lịch Việt Nam trong quá

3.4 Một số đề xuất giải pháp đối với Du lịch Việt Nam trong

3.4.1 Nhóm giải pháp về mặt chính sách 91

3.4.1.1 Thống nhất và nâng cao nhận thức về hội nhập

kinh tế quốc tế trong toàn ngành Du lịch 91 3.4.1.2 Rà soát, điều chỉnh cơ sở pháp lý phù hợp liên

Trang 5

3.4.1.3 Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách tạo nguồn

lực cho ngành Du lịch phát triển 92 3.4.1.4 Có chính sách đầu t phù hợp 93 3.4.1.5 Chiến lợc phát triển nguồn nhân lực du lịch 93

3.4.2 Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước đối với hoạt

3.4.3 Nhóm giải pháp đối với các doanh nghiệp 100

3.4.3.1 Nghiên cứu thị trờng, các chính sách, luật định quốc

tế liên quan tới thơng mại du lịch, chủ động tiếp cận thị trờng quốc tế nói chung và ASEAN nói riêng 100 3.4.3.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 101 3.4.3.3 Chuẩn hoá đội ngũ cán bộ 102

Trang 6

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 : Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến ASEAN 1995 - 2004 Bảng 2 : Lượng khách du lịch quốc tế đến ASEAN 1995 - 2004

Bảng 3 : Thị phần khách du lịch quốc tế đến ASEAN 1995 - 2004

Bảng 4 : Dự báo số lượng khách du lịch đến năm 2020 và tốc độ phát

triển trung bình hàng năm của các khu vực trong vùng Đông á- Thái Bình Dương

Bảng 5 : Các nguồn khách du lịch chính đến các nước ASEAN

Trang 8

BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

(Agreement on Common Effective Preferential Tariff) 1/1992

(Framework Agreement on Enhancing ASEAN Economic Cooperation)

1/1992

5 AFTA: Khu mậu dịch tự do (ASEAN Free Trade Area)

6 AJC: Trung tâm ASEAN - Nhật Bản (ASEAN-JAPAN Center)

7 AMM: Hội nghị Bộ trởng ASEAN (ASEAN Ministerial Meeting)

Information Center)

9 ASC: Uỷ ban thờng trực ASEAN (ASEAN Standing Committee)

10 ASC: Cộng đồng an ninh ASEAN (ASEAN Security Community)

11 ASEAN Summit: Hội nghị Thợng Đỉnh ASEAN

Asean Nations)

Tourism)

15 ATF: Diễn đàn Du lịch ASEAN (ASEAN Tourism Forum)

Trang 9

16 BIMP-EAGA: Khu vực tăng trởng đông ASEAN (Brunei, Indonesia,

Malaysia, Phillipines - East ASEAN Growing Area)

17 CEP: Khuôn khổ đối tác kinh tế toàn diện

18 CEPT: Chơng trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung

concord) 24/2/1976

20 EAS: Hội nghị cao cấp Đông Á (East ASEAN Summit)

23 JMM: Hội nghị liên Bộ trởng (Joint Ministerial Meeting)

đãi buôn bán ASEAN 12/1987

25 SEOM: Cuộc họp các quan chức kinh tế cao cấp (Senior Economic

Official Meeting)

26 SVTC: Uỷ ban hợp tác du lịch Việt Nam-Singapore (Singapore-Việt

Nam Travel Commitee)

27 SOM: Cuộc họp các quan chức cao cấp (Senior Official Meeting)

Treaty of Amity and Cooperation in Southest Asia) 2/1976

Neutrality declaration) 17/11/1971

Trang 10

LỜI NÓI ĐẦU

Trong nửa cuối thế kỷ 20 và đặc biệt trong thập kỷ 90, toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành vấn đề quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới và được thể hiện ở các mặt thương mại, đầu tư và tài chính Toàn cầu hoá kinh tế

là giai đoạn phát triển mới của quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự tự do

di chuyển các nguồn hàng hoá, tài chính, lao động giữa các vùng lãnh thổ, các quốc gia để tiến đến hình thành nền kinh tế thị trường thống nhất toàn thế giới Đặc điểm rõ nhất của việc phát triển kinh tế thế giới là xu thế hội nhập kinh tế khu vực, tập đoàn hoá khu vực Trên thế giới hiện nay đã xuất hiện nhiều tổ chức, khối kinh tế như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), khối các nước G7, Liên minh Châu Âu (EU), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Việc gia nhập ASEAN của Việt Nam là sự kiện đánh dấu một bước phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của ngành du lịch nói riêng Nó đã mở ra một cánh cửa rộng lớn cho thị trường du lịch của Việt Nam Trên thực tế, ngành du lịch Việt Nam đã và đang chuẩn bị tích cực cho chương trình hội nhập của mình vào sự phát triển chung của du lịch các nước ASEAN

Theo đánh giá của Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) thì lượng khách du lịch quốc tế đến các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam chủ yếu là khách đi lại trong khu vực (chiếm khoảng hơn 35%) Chính vì vậy việc nghiên cứu thị trường ASEAN có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược phát triển du lịch Việt Nam

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 11

Ngày nay vấn đề hội nhập và hợp tác kinh tế là một xu thế tất yếu của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Trong quá trình hội nhập và hợp tác kinh tế thế giới, ngành du lịch đóng một vai trò hết sức quan trọng Với mong muốn du lịch Việt Nam thực hiện hiệu quả quá trình hội nhập khu vực ASEAN, đề tài đưa ra những nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động hợp tác du lịch khu vực ASEAN, đưa ra những nhận định về những cơ hội cũng như thách thức của du lịch Việt Nam nói riêng và du lịch trong khu vực nói chung Việc đưa ra những giải pháp khai thác hiệu quả thị trường du lịch ASEAN là hết sức quan trọng Đề tài đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để góp phần nâng cao khả năng hội nhập, tận dụng những cơ hội cũng như giải pháp cho những thách thức đối với du lịch Việt Nam.

2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Xác định cơ sở lý luận về thị trường du lịch các nước ASEAN, xu hướng phát triển, mối quan hệ và những tác động tới du lịch Việt Nam

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng thị trường du lịch các nước ASEAN, các cơ hội cũng như những thách thức của du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập ASEAN

- Đề xuất các giải pháp phát triển hợp tác du lịch Việt Nam - ASEAN, đáp ứng yêu cầu hội nhập du lịch khu vực trong giai đoạn mới

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch các nước thành viên ASEAN, hội nhập du lịch trong khối ASEAN, những kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại Về phạm vi thời gian, luận văn tập trung

Trang 12

nghiên cứu tình hình thực tiễn hoạt động du lịch khu vực ASEAN trong 10 năm gần đây và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp cho một vài năm tới

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp thu thập thông tin, tư liệu

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp

5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI

Về bố cục, đề tài được chia thành ba phần như sau:

TÁC DU LỊCH TRONG ASEAN

VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP ASEAN.

LỊCH VIỆT NAM THỰC HIỆN HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP ASEAN

Trang 13

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DU LỊCH ASEAN

VÀ HỢP TÁC DU LỊCH TRONG ASEAN

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ASEAN

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations - ASEAN) được thành lập ngày 08/8/1967 bởi Tuyên bố Bangkok, Thailand, đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực

Khi mới thành lập ASEAN gồm 5 nước là Indonesia, Malaysia, Phillippines, Singapore và Thailand Năm 1984, ASEAN kết nạp thêm Brunei làm thành viên thứ 6 Ngày 28/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội Ngày 23/7/1997 kết nạp Lào và Myanmar Ngày 30/4/1999, Cambodia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN

ASEAN có diện tích hơn 4,5 triệu km2

với dân số khoảng 505 triệu người; GDP khoảng 731 tỷ đô la Mỹ và tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm 339,2 tỷ USD [1] Các nước ASEAN có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hiện nay đang đứng hàng đầu thế giới về cung cấp một số nguyên liệu

cơ bản như: Cao su, thiếc, dầu thực vật, gỗ, gạo, đường, dầu thô, dứa… Công nghiệp của ASEAN cũng đang trên đà phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực: dệt, hàng điện tử, các loại hàng tiêu dùng Những sản phẩm này được xuất khẩu với khối lượng lớn và đang thâm nhập nhanh chóng vào các thị trường thế giới và được coi là tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển

Cơ cấu kinh tế các nước ASEAN đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa Ngoại trừ Indonesia với công nghiệp chế tạo (không

Trang 14

kể công nghiệp khai thác) chiếm tỷ trọng khoảng 20% GDP, còn ở các nước khác tỷ trọng này xấp xỉ 30% Nhờ chính sách kinh tế “hướng ngoại”, nền ngoại thương ASEAN đã phát triển nhanh chóng, tăng gấp đôi trong vòng 10 năm qua, đạt trên 160 tỷ đô la Mỹ vào đầu những năm 1990 (nay là 339 tỷ đô

la Mỹ), nâng tỷ trọng trong ngoại thương thế giới từ 3,6% lên 4,7% [15] ASEAN cũng là đối tượng thu hút nhiều vốn đầu tư của thế giới

1.1.1 Sự ra đời của tổ chức ASEAN

1.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN

Tuyên bố Bangkok

Đây là tuyên bố thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với mục tiêu đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa, tăng cường hợp tác giúp đỡ lẫn nhau cũng như thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực

Tuyên bố Kuala Lumpur

Tháng 11/1971, các nước ASEAN đã đưa ra văn bản quan trọng đầu tiên là Tuyên bố Kua Lumpur về thiết lập Khu vực hòa bình, Tự do và Trung lập ở Đông Nam Á (ZOPFAN) Tuyên bố này đã định ra các mục tiêu cơ bản

và lâu dài của ASEAN là xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, không có sự can thiệp bất cứ hình thức nào của các cường quốc bên ngoài

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ I năm 1976

Hội nghị Cấp cao ASEAN đã họp lần đầu tiên tại Bali (Indonesia) từ 23

- 24/2/1976 Tại hội nghị này các vị đứng đầu chính phủ ASEAN đã ký hai văn kiện quan trọng:

Trang 15

- Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali), khẳng định 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình (TAC)

- Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN (DAC): Cam kết cùng phối hợp để đảm bảo sự ổn định khu vực cũng như tăng cường sự hợp tác kinh tế, văn hóa, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên của ASEAN

Tại Hội nghị cấp cao này, các nước ASEAN cũng đã ký Hiệp định thành lập Ban Thư ký ASEAN (có trụ sở đặt tại Jakata) để phối hợp hoạt động giữa các ủy ban và dự án hợp tác ASEAN

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ II năm 1977

Từ ngày 4 - 5/8/1977, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ hai đã được tổ chức tại Kuala Lumpur nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập ASEAN Hội

nghị đạt được hai kết quả quan trọng Thứ nhất, chính thức hình thành cơ chế

đối thoại giữa ASEAN với các nước công nghiệp phát triển nhằm nâng cao vai trò của ASEAN trong cộng đồng quốc tế Lần đầu tiên những Người đứng đầu Chính phủ của ba nước ngoài khu vực ASEAN là Nhật Bản, Australia, New Zealand đã tham gia đối thoại với ASEAN sau Hội nghị chính thức Đến nay ASEAN có 11 nước và tổ chức đối thoại là: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ, Nga, EU, Mỹ, Canada và UNDP

Ngoài ra, ASEAN còn có cơ chế đối thoại theo lĩnh vực với Pakistan Thứ

hai, cơ cấu lại Uỷ ban hợp tác ASEAN để chuẩn bị cho việc mở rộng hợp tác

ASEAN ra mọi lĩnh vực

Kết nạp Brunei Darussalam

Brunei Darussalam là quan sát viên của ASEAN từ năm 1981 Ngày 1/1/1984, Brunei nộp đơn xin gia nhập ASEAN và ngày 7/1/1984, Brunei được chính thức kết nạp vào ASEAN

Trang 16

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ III năm 1987

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ III được tổ chức tại Manila, Phillippines từ 14 - 15/12/1987, nhân kỷ niệm 20 năm thành lập ASEAN Tại Hội nghị này, các vị đứng đầu Chính phủ các nước ASEAN đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng sau:

- Tuyên bố Manila năm 1987: bày tỏ quyết tâm của các nước ASEAN tiếp tục thúc đẩy và củng cố đoàn kết và hợp tác khu vực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, đẩy mạnh hơn nữa hợp tác kinh tế, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào hợp tác ASEAN

- Nghị định thư Manila sửa đổi Điều 14 và Điều 18 của TAC để các nước ngoài khu vực có thể tham gia

- Hiệp ước khuyến khích và bảo đảm đầu tư ASEAN

- Nghị định thư về mở rộng danh mục thuế ưu đãi theo thỏa thuận ưu đãi thương mại ASEAN (PTA)

Về cơ cấu tổ chức, Hội nghị quyết định thành lập cơ chế Hội nghị liên

Bộ trưởng (JMM) bao gồm Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Kinh tế và thể chế hóa các cuộc họp quan chức cao cấp (SOM) và cuộc họp các quan chức cao cấp về kinh tế (SEOM) Hội nghị họp 3 - 5 năm một lần

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ IV năm 1992

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ IV được tiến hành ở Singapore từ 27

- 28/1/1992 Tại hội nghị này, ASEAN đã thông qua những văn kiện và quyết định quan trọng sau:

- Tuyên bố Singapore năm 1992 khẳng định quyết tâm của ASEAN đưa

sự hợp tác chính trị và kinh tế lên tầm cao hơn và mở rộng hợp tác sang lĩnh vực hợp tác an ninh

Trang 17

- Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN (AEAEC), nêu ba nguyên tắc là hướng ra bên ngoài, cùng có lợi và linh hoạt đối với sự tham gia vào các dự án, chương trình của các nước thành viên; xác định năm lĩnh vực hợp tác cụ thể là thương mại - công nghiệp - năng lượng - khoáng sản, nông - lâm - ngư - nghiệp, tài chính - ngân hàng, vận tải - liên lạc và du lịch

- Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (ACEPT) quy định cụ thể các biện pháp và các giai đoạn giảm thuế nhập khẩu tiến tới thực hiện AFTA

Hội nghị còn quyết định Hội nghị cấp cao sẽ họp 3 năm một lần, thành lập Hội đồng AFTA cấp Bộ trưởng để theo dõi thúc đẩy việc thực hiện ACEPT và AFTA, giao cho SEOM giám sát các hoạt động hợp tác kinh tế ASEAN, nâng cấp Tổng thư ký ASEAN lên hàm Bộ trưởng

Việt Nam và Lào ký tham gia Hiệp ƣớc thân thiện và hợp tác (Hiệp ƣớc Bali) tháng 7/1992

Tháng 7/1992, tại AMM 25 ở Manila, đã diễn ra Lễ ký để Việt Nam và Lào chính thức tham gia Hiệp ước Ngay sau lễ ký ASEAN đã tuyên bố Việt Nam và Lào trở thành quan sát viên của tổ chức ASEAN

Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tháng 7/1994

Để đảm bảo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển trong bối cảnh mới ở khu vực và trên thế giới, tháng 7/1993 các nước ASEAN quyết định thành lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) với sự tham gia của 18 nước trong và ngoài khu vực để bàn về vấn đề an ninh khu vực

Việt Nam trở thành thành viên ASEAN tháng 7/1995

Trang 18

Ngày 28/7/1995, lễ trọng thể kết nạp Việt Nam làm thành viên thứ 7 của tổ chức ASEAN đã diễn ra tại Brunei, trong dịp họp Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 28

Hội nghị Cấo cao ASEAN lần thứ V năm 1995

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 5 đã diễn ra tại Bangkok tháng 12/1995 Hội nghị đã có những quyết định và văn bản quan trọng sau:

- Nâng hợp tác chuyên ngành lên tầm cao mới, ngang với hợp tác chính trị - an ninh và kinh tế nhằm thông qua phát triển con người, đoàn kết xã hội

để đạt sự thịnh vượng chung cho cả khu vực

- Rút ngắn thời gian thực hiện AFTA từ 15 năm xuống còn 10 năm; thậm chí có thể hoàn thành trước thời hạn 2003, và mở rộng hợp tác ASEAN sang lĩnh vực mới như dịch vụ, sở hữu trí tuệ, lập khu vực đầu tư ASEAN…

- Ký kết Hiệp ước về một khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ)

Hội nghị Cấp cao ASEAN không chính thức lần thứ nhất tại Indonesia tháng 12/1996:

Để tăng cường sự tiếp xúc giữa các nhà lãnh đạo cấp cao trong khu vực

để thảo luận những vấn đề cấp bách, các vị lãnh đạo ASEAN đã thỏa thuận; giữa các cuộc họp chính thức sẽ tổ chức các cuộc họp không chính thức hàng năm Tháng 12/1996 tại Jakata đã diễn ra cuộc họp cấp cao không chính thức đầu tiên

Lào và Myanmar gia nhập ASEAN tháng 7/1997

Tháng 7/1997 tại AMM 30, Lào và Myanmar chính thức gia nhập ASEAN Hội nghị Cấp cao ASEAN không chính thức lần thứ hai tại Kuala Lumpur tháng 12 năm 1997

Trang 19

Hội nghị này được tổ chức trùng với dịp ASEAN tiến hành kỷ niệm 30 năm ngày thành lập ASEAN Tại Hội nghị này, các Nguyên thủ cũng thông qua các văn bản Tầm nhìn ASEAN 2020, đề ra các hướng phát triển chiến lược của ASEAN trong giai đoạn đầu thế kỷ 21

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VI tại Hà Nội 16 - 17/12/1998:

Hội nghị đã thông qua các văn kiện quan trọng như Tuyên bố Hà Nội, Chương trình Hành động Hà Nội, Tuyên bố về các biện pháp mạnh mẽ (để cải thiện môi trường đầu tư ASEAN), và ký 4 Hiệp định hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể Hội nghị còn quyết định kết nạp Cambodia làm thành viên thứ 10 của ASEAN và giao cho các Ngoại trưởng ASEAN tiến hành lễ kết nạp tại Hà Nội

Lễ kết nạp Cambodia tại Hà Nội tháng 4/1999

Lễ kết nạp Cambodia chính thức trở thành thành viên thứ 10 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á tại Hà Nội ngày 30/4/1999

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VII tại Brunei 5 - 6/11/2001

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VII diễn ra tại Brunei từ ngày 5 - 6/11/2001 khẳng định tại Chương trình hành động Hà Nội (HPA) vẫn là định hướng quan trọng để thực hiện Tầm nhìn ASEAN; đẩy mạnh liên kết ASEAN, nhất là trong lĩnh vực kinh tế; tập trung trao đổi vấn đề thu hẹp khoảng cách phát triển, giúp các thành viên mới Nhân dịp này, Hội nghị cũng thông qua Tuyên bố chung chống khủng bố

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VIII tại Phnompenh:

ASEAN nhất trí cần tiếp tục duy trì hòa bình ổn định, tăng cường hợp tác chính trị, an ninh, cải thiện hình ảnh và vị thế của ASEAN, giải quyết các bất đồng theo phương thức ASEAN; nhấn mạnh cần triển khai nhanh các sáng kiến, chương trình đã có qua các biện pháp chính sau:

Trang 20

- Tăng cường liên kết nội khối, giảm hàng rào phi quan thuế, cải thiện môi trường đầu tư để tăng buôn bán, đầu tư nội khối trước bối cảnh các thị trường truyền thống của ASEAN giảm mạnh bởi suy thoái kinh tế thế giới

- Nâng cao khả năng cạnh tranh của ASEAN

- Tập trung triển khai các dự án ưu tiên, nhất là về thu hẹp khoảng cách, giúp các thành viên mới, phát triển Tiểu vùng sông Mekong

- Xác định lại mục tiêu phát triển của ASEAN và nghiên cứu chiến lược phát triển của Hiệp hội để tiến tới hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN

có tính đến những kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu

Nhân dịp này, Cấp cao ASEAN - Ấn Độ lần đầu tiên được tổ chức và các nhà Lãnh đạo ASEAN đã nhất trí họp Cấp cao ASEAN - Ấn Độ hàng năm ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), coi đây là một bước quan trọng tiến đến hình thành Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); và ký Hiệp định khung về Hợp tác kinh

tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc, theo đó dự kiến thời điểm hoàn thành Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN - Trung Quốc là năm 2010 (với 6 nước ASEAN cũ) và 2015 (với 4 nước ASEAN mới)

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ IX tại Bali, Indonesia, 7 - 8/10/2003

Kết quả quan trọng nhất của Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ IX là

các Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (Tuyên bố Bali II) nêu những định hướng chiến lược lớn của ASEAN với mục tiêu thành lập

một cộng đồng ASEAN liên kết mạnh, tự cường vào năm 2020 với ba trụ cột chính là hợp tác chính trị - an ninh (Cộng đồng An ninh ASEAN - ASC), hợp tác kinh tế (Cộng đồng kinh tế ASEAN - AEC), và hợp tác xã hội, văn hóa (Cộng đồng xã hội, văn hóa ASEAN - ASCC) Nhằm triển khai Tuyên bố

Trang 21

Bali II, ASEAN sẽ xây dựng Chương trình Hành động để thông qua tại Cấp cao ASEAN - 10 tại Viengchan tháng 11/2004

Trung Quốc chính thức tham gia Hiệp ước Thân thiện và hợp tác (TAC) Nhật Bản ký với ASEAN khuôn khổ Đối tác Kinh tế toàn diện (CEP)

cụ thể hoá các bước đi xây dựng CEP ASEAN - Nhật trong đó có khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Nhật Bản; nêu sáng kiến tổ chức hội nghị ASEAN - Nhật Bản về đầu tư bên lề Cấp cao Kỷ niệm ASEAN - Nhật Bản tháng

12/2003 Tại Cấp cao ASEAN - Ấn Độ: Hai bên ký Hiệp định khung về hợp tác toàn diện ASEAN - Ấn Độ, trong đó có lộ trình xây dựng Khu vực mậu

dịch tự do ASEAN - Ấn Độ (FTA) và chương trình Thu hoạch sớm Ấn Độ cũng chính thức tham gia Hiệp ước TAC

Hội nghị Cấp cao kỷ niệm ASEAN - Nhật Bản, Tokyo 11 - 12/12/2003

Hội nghị cấp cao kỷ niệm ASEAN - Nhật Bản - Nhật Bản Tại Hội nghị này, Lãnh đạo ASEAN và Nhật đã ký "Tuyên bố Tokyo về niên kỷ mới" cùng với "kế hoạch hành động" Tuyên bố khẳng định ASEAN và Nhật quyết tâm

phát triển quan hệ toàn diện trong khuôn khổ "Đối tác chiến lƣợc"; nêu 7

chiến lược hành động chug về hợp tác trên các lĩnh vực: kinh tế - tài chính, phát triển, an ninh - chính trị, phát triển nguồn nhân lực,văn hoá - xã hội, giao lưu nhân dân, hợp tác Đông Á, và hợp tác trên các vấn đề toàn cầu Trong đó, trọng tâm lớn nhất là hợp tác kinh tế, phát triển, đặc biệt là phát triển các tiểu vùng tăng trưởng ASEAN như lưu vực Mekong và BIMP - EAGA (khu vực tăng trưởng Đông ASEAN gồm Brunei, Indonesia, Malaysia và Phillippines)

Ngoài hai văn kiện trên, Ngoại trưởng Nhật ký Tuyên bố ý định tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) và Ngoại trưởng Indonesia thay mặt các nước ASEAN ký Tuyên bố đồng ý việc Nhật tham gia TAC

Trang 22

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ X và các cấp cao liên quan tại Lào, 28 - 30/11/2004

1 Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN, các vị Lãnh đạo đã thông qua một số quyết định quan trọng sau:

- Để thực hiện Tầm nhìn ASEAN 2020 và Tuyên bố Bali II, các vị Lãnh đạo ASEAN đã ký chương trình Hành động Viên - Chăn (VAP) sau khi hoàn tất Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) nhằm xây dựng cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với 3 trụ cột về sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên ASEAN Các vị Lãnh đạo cũng thông qua các Kế hoạch Hành động xây dựng Cộng đồng An ninh ASEAN (ASC) và Cộng đồng Văn hoá - xã hội ASEAN (ASCC); đồng thời ký Hiệp định khung về 11 lĩnh vực ưu tiên liên kết của ASEAN nhằm xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

- Các lãnh đạo ASEAN cũng nhất trí tổ chức Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ nhất (EAS - 1) vào năm 2005 tại Malaysia

2 Lần đầu tiên đã diễn ra Hội nghị Cấp cao ASEAN với Australia và New Zealand để kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ đối thoại Tại Hội nghị, các

vị lãnh đạo ASEAN cùng với Australia và New Zealand đã ký "Tuyên bố chung của các Lãnh đạo nhân dịp cấp cao kỷ niệm ASEAN với Australia và New Zealand", đề ra phương hướng và biện pháp tăng cường quan hệ đối thoại trong thời gian tới

3 Trong dịp này, Hàn Quốc và Nga đã chính thức tham gia vào Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC)

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ XI và các Cấp cao liên quan tại Kuala Lumpur, Malaysia, 11 - 14/12/2005

Trang 23

1 Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN, các Lãnh đạo đã ra Tuyên bố về Xây dựng Hiến chương ASEAN đề ra phương hướng và nguyên tắc chỉ đạo, thành lập và giao nhiệm vụ cho Nhóm có nhân vật nổi tiếng (EPG) nghiên cứu và đề xuất những khuyết nghị thực tiễn; và sau này sẽ lập Nhóm soạn thảo Hiến chương

Các vị Lãnh đạo cũng nhất trí cần xem xét khả năng sớm hoàn thành mục tiêu xây dựng Cộng động ASEAN vào năm 2015, nhất là về kinh tế, sớm hơn 5 năm so với thoả thuận trước, và có linh hoạt đối với những nước chưa sẵn sàng; nhất trí tập trung nỗ lực cao hơn và huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả các chương trình và kế hoạch hành động chính như Chương trình Hành động Viên - chăn (VAP) và Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI), nhất là về liên kết kinh tế và thu hẹp khoảng cách phát triển, nhấn mạnh phải không ngừng củng cố đoàn kết và thống nhất, thúc đẩy ý thức cộng đồng và hướng trọng tâm về người dân; duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong các cấu trúc hợp tác khu vực

2 Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ nhất (EAS - 1) được tổ chức nhân

dịp này là bước phát triển mới có ý nghĩa, góp phần thúc đẩy xu thế đối thoại

và hợp tác vìphát triển ở khu vực, thể hiện tính năng động và vai trò quan trọng của ASEAN Nội dung thảo luận tập trung vào những vấn đề lớn cùng quan tâm hiện nay Các nhà lãnh đạo 16 nước tham dự EAS - 1 (10 nước thành viên ASEAN, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand) đã ký Tuyên bố về EAS để xác định phương hướng và khuôn khổ cho EAS, xác định EAS là diễn đàn để đối thoại và hợp tác về các vấn đề lớn cùng quan tâm về chính trị - an ninh, kinh tế và văn hoá - xã hội; coi đây là tiến trình mở với ASEAN đóng vai trò chủ đạo, bổ sung và

hỗ trợ cho các diễn đàn khu vực hiện có, họp hàng năm do ASEAN chủ trì

Trang 24

nhân dịp Cấp cao ASEAN; và sẽ tiếp tục xem để hoàn thiện một số vấn đề

cụ thể liên quan

3 Cấp cao ASEAN + 3 đã ký Tuyên bố chung khẳng định lại tầm quan trọng của tiến trình ASEAN + 3, coi đây là công cụ chính cho việc xây dựng cộng đồng Đông Á (EAS)

4 Cấp cao ASEAN - Nga lần đầu tiên đã ký hoặc thông qua nhiều văn kiện quan trọng tạo cơ sở và khuôn khổ xây dựng quan hệ đối tác toàn diện và lâu dài, nhất là "Tuyên bố chung về Quan hệ đối tác toàn diện và tiến bộ"

5 Nhân dịp này, các ngoại trưởng ASEAN đã ký với các đối tác Tuyên bố về mở rộng và làm sâu sắc quan hệ đối tác chiến lược giữa ASEAN và Nhật, và Hiệp định khung về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Hàn Quốc

1.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của ASEAN

* Hội nghị Cấp cao ASEAN (ASEAN Summit:)

Đây là cơ quan quyền lực cao nhất của ASEAN, họp chính thức 3 năm một lần và họp không chính thức ít nhất 1 lần trong khoảng thời gian 3 năm đó

* Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (ASEAN Ministerial Meeting - AMM)

Theo tuyên bố Bangkok năm 1967, AMM là hội nghị hàng năm của các

Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN có trách nhiệm đề ra và phối hợp các hoạt động của ASEAN, có thể họp không chính thức khi cần thiết

* Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN(ASEANEconomic Ministers - AEM)

AEM họp chính thức hàng năm và có thể họp không chính thức khi cần thiết Trong AEM có Hội đồng AFTA (Khu vực mậu dịch tự do ASEAN) để

Trang 25

theo dõi, phối hợp và báo cáo việc thực hiện chương trình ưu đãi quan thuế có hiệu lực chung (CEPT) của AFTA

* Hội nghị Bộ trưởng các ngành

Hội nghị Bộ trưởng của ngành trong hợp tác kinh tế ASEAN sẽ được tổ chức khi cần thiết để thảo luận sự hợp tác trong ngành cụ thể đó Hiện có Hội nghị Bộ trưởng năng lượng, Hội nghị Bộ trưởng Nông nghiệp, Lâm nghiệp Các Hội nghị Bộ trưởng ngành có trách nhiệm báo cáo lên AEM

* Các hội nghị bộ trưởng khác

Hội nghị Bộ trưởng của các lĩnh vực hợp tác ASEAN khác như y tế, môi trường, lao động, phúc lợi xã hội, giáo dục, khoa học và công nghệ, thông tin, luật pháp có thể được tiến hành khi cần thiết và điều hành các chương trình hợp tác trong các lĩnh vực này

* Hội nghị liên Bộ trưởng (Join Ministerial Meeting - JMM)

JMM được tổ chức khi cần thiết để thúc đẩy sự hợp tác giữa các ngành

và trao đổi ý kiến về hoạt động của ASEAN JMM bao gồm các Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Kinh tế ASEAN

* Tổng thư ký ASEAN

Được những người đứng đầu chính phủ ASEAN bổ nhiệm theo khuyến nghị của Hội nghị AMM với nhiệm kỳ là 3 năm và có thể gia hạn thêm, nhưng không quá một nhiệm kỳ nữa; có hàm Bộ trưởng với quyền hạn khởi xướng, khuyến nghị và phối hợp các hoạt động của ASEAN, nhằm giúp nâng cao hiệu quả các hoạt động và hợp tác của ASEAN Tổng thư ký ASEAN được tham dự các cuộc họp các cấp của ASEAN, chủ tạo các cuộc họp của ASC thay cho Chủ tịch ASC trừ phiên họp đầu tiên và cuối cùng

* Uỷ ban thường trực ASEAN (ASEAN Standing Committee - ASC)

Trang 26

ASC bao gồm chủ tịch là Bộ trưởng Ngoại giao của nước đăng cai Hội nghị AMM sắp tới, Tổng thư ký ASEAN và Tổng Giám đốc của các Ban thư

ký ASEAN quốc gia ASC thực hiện công việc của AMM trong thời gian giữa hai kỳ họp và báo cao trực tiếp cho AMM

* Cuộc họp các quan chức cao cấp (Senior Officials Meeting - SOM

SOM được chính thức coi là một bộ phận của cơ cấu trong ASEAN tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 3 tại Malina 1987 SOM chịu trách nhiệm

về hợp tác chính trị ASEAN và họp khi cần thiết, báo cáo trực tiếp cho AMM

* Cuộc họp các quan chức kinh tế cao cấp (Senior Economic Officials Meeting - SEOM)

SEOM cũng đã được thể chế hoá chính thức thành một bộ phận của cơ cấu ASEAN tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 3 tại Malina 1987 Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 4 năm 1992, 5 uỷ ban kinh tế ASEAN đã bị giải tán và SEOM được giao nhiệm vụ theo dõi tất cả các hoạt động trong hợp tác kinh tế ASEAN SEOM họp thường kỳ và báo cáo trực tiếp cho AEM

* Cuộc họp các quan chức cao cấp khác

Ngoài ra có các cuộc họp các quan chức cao cấp về môi trường, ma tuý cũng như của các uỷ ban chuyên ngành ASEAN như phát triển xã hội, khoa học và công nghệ, các vấn đề công chứ, văn hoá và thông tin Các cuộc họp này báo cho ASC và Hội nghị các Bộ trưởng liên quan

* Cuộc họp tư vấn chung (Joint Consultative Meeting - JCM)

Cơ chế họp JCM bao gồm Tổng thư ký ASEAN, SOM, SEOM, các Tổng giám đốc ASEAN JCM được triệu tập khi cần thiết dưới sự chủ toạ của Tổng thư ký ASEAN sau đó thông báo kết quả trực tiếp cho AMM và AEM

* Các cuộc họp của ASEAN với các bên đối thoại

Trang 27

ASEAN có 11 Bên đối thoại: Australia, Canada, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Mỹ và UNDP, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ ASEAN cũng

có quan hệ đối thoại theo từng lĩnh vực Pakistan

Trước khi có cuộc họp với các Bên đối thoại, các nước ASEAN tổ chức cuộc họp trù bị để phối hợp có lập trường chung Cuộc họp này do quan chức cao cấp của điều phối (Coordinating Country) chủ trì và báo cáo cho ASC

* Ban thư ký ASEAN quốc gia

Mỗi nước thành viên ASEAN đều có Ban thư ký quốc gia đặt trong bộ máy của Bộ Ngoại giao để tổ chức, thực hiện và theo dõi các hoạt động liên quan đến ASEAN của nước mình Ban thư ký quốc gia do một Tổng vụ trưởng phụ trách

* Uỷ ban ASEAN ở các nước thứ ba

Nhằm mục đích tăng cường trao đổi và thúc đẩy mối quan hệ giữa ASEAN với bên đối thoại đó và các tổ chức quốc tế ASEAN thành lập các uỷ ban tại các nước đối thoại Uỷ ban này gồm những người đứng đầu các cơ quan ngoại giao của các nước ASEAN tại nước sở tại Hiện có 11 Uỷ ban ASEAN tại: Bon (CHLB Đức), Bruxen (Bỉ), Canberra (Australia), Genever (Thụy Sĩ), London (Anh), Ottaoa (Canada), Paris (Pháp), Xơ un (Hàn Quốc), Washington (Mỹ) và Wellington (New Zealand) Chủ tịch các uỷ ban này báo cáo cho ASC và nhận chỉ thị từ ASC

* Ban thư ký ASEAN

Ban thư ký ASEAN được thành lập theo Hiệp định ký tại Hội nghị Cấp cao lần thứ hai Bali, năm 1976 để tăng cường phối hợp thực hiện các chính sách, chương trình và các hoạt động giữa các bộ phận khác nhau trong ASEAN, phục vị các hội nghị của ASEAN

1.1.1.3 Các nguyên tắc hoạt động chính của ASEAN

Trang 28

* Các nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các Quốc gia thành viên và với bên ngoài

Trong quan hệ với nhau, các nước ASEAN luôn tuân theo 5 nguyên tắc chính đã được nêu trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali), ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ I tại Bali năm 1976 là:

a) Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc

b) Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài

c) Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

d) Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thân thiện e) Không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực

f) Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả

* Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội

a) Việc quyết định các chính sách hợp tác quan trọng cũng như trong các lĩnh vực quan trọng của ASEAN dựa trên nguyên tắc nhất trí (consensus), tức là một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua Nguyên tắc này đòi hỏi phải có quá trình đàm phán lâu dài, nhưng bảo đảm được việc tính đến lợi ích quốc gia của tất cả các nước thành viên Đây là một nguyên tắc bao trùm trong các cuộc họp và hoạt động của ASEAN

b) Một nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động của ASEAN là nguyên tắc bình đẳng Nguyên tắc này thể hiện trên 2 mặt Thứ nhất, các nước ASEAN, không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều bình đẳng với nhau trong nghĩa vụ đóng góp cũng như chia xẻ quyền lợi Thứ hai, hoạt động của tổ

Trang 29

chức ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên, tức là các chức chủ tọa các cuộc họp của ASEAN từ cấp chuyên viên đến cấp cao, cũng như địa điểm cho các cuộc họp đó được phân đều cho các nước thành viên trên cơ sở luân phiên theo vần A, B, C của tiếng Anh

c) Để tạo thuận lợi và đẩy nhanh các chương trình hợp tác kinh tế ASEAN, trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ký tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 4 ở Singapore tháng 2/1992, các nước ASEAN đã thỏa thuận nguyên tắc 6 - X, theo đó hai hay một số nước thành viên ASEAN

có thể xúc tiến thực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nước còn lại chưa sẵn sàng tham gia, không cần phải đợi tất cả mới cùng thực hiện

* Các nguyên tắc khác

Trong quan hệ giữa các nước ASEAN đang dần dần hình thành một số các nguyên tắc, tuy không thành văn, không chính thức song mọi người đều hiểu và tôn trọng áp dụng như: nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện, không tuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí, giữ gìn đoàn kết ASEAN

và giữ bản sắc chung của Hiệp hội

1.1.2 Những ƣu thế của tổ chức ASEAN

1.1.2.1 Vị trí địa lý và yếu tố tự nhiên

Đông Nam Á là một hệ thống gồm các bán đảo, đảo và quần đảo, các biển và vịnh biển xen kẽ nhau Căn cứ vào vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, khu vực Đông Nam Á được chia thành hai phần: Đông Nam Á lục địa gồm Việt Nam, Lào, Cambodia, Thailand và Myanmar Đông Nam Á hải đảo gồm:

Phillippines, Brunei, Indonesia, Malaysia và Singapore

Vị trí địa lý là một lợi thế tự nhiên lớn của các nước ASEAN Nó tạo

ra cho khu vực này một thế địa-kinh tế, địa chính trị đặc biệt Gắn với Thái Bình Dương và nối thông sang Ấn Độ Dương, ASEAN là khu vực có vị trí

Trang 30

chiến lược đặc biệt quan trọng do nằm trong giao lộ vận tải hàng hải và hàng không lớn, có sức tăng trưởng nhanh bậc nhất thế giới Đây là yếu tố thuận lợi bậc nhất cho sự phát triển của ASEAN, tạo cho khu vực này sức hấp dẫn đầu tư và thương mại lớn, làm tăng vị thế của ASEAN đối với các khu vực khác trên thế giới

Tiềm năng và lợi thế tự nhiên khu vực ASEAN là không nhỏ Khu vực này có các nguồn lực tự nhiên dồi dào, bao gồm dầu mỏ, gỗ, cây công nghiệp, lương thực và thuỷ sản Tính tổng cộng, ASEAN kiểm soát 40% tổng nguồn cung dầu lửa và khí đốt trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và hàng năm mang lại nguồn thu khoảng 45 - 50 tỷ USD cho khu vực [15,tr.29] ASEAN chiếm 19% thị phần thế giới về gỗ tròn, 10% về gỗ nội thất, 12% về

gỗ xẻ, 10% gỗ xây dựng, ngoài ra ASEAN nằm trong số những nhà cung cấp hàng đầu thế giới về dầu cọ, cà phê, cao su tự nhiên, gạo và là nhà cung cấp lớn về các sản phẩm thuỷ sản với hơn 10% sản lượng cá thế giới [15,tr.30]

Xét về tài nguyên du lịch tự nhiên chúng ta thấy ASEAN nằm trên vùng bán đảo và quần đảo, các nước ASEAN có đường bờ biển dài nên rất có

ưu thế phát triển du lịch biển Các bãi biển đẹp như LomBok, Tasik, Bumaken (Indonesia); Similan, Phuket (Thailand); Langcagi, Bohol (Malaysia); Corregidor, Ceibu (Phillippines); Nha Trang, Mũi Né (Việt Nam) là tiềm năng to lớn cho du lịch biển ASEAN Nằm ở vùng khí hậu nóng ấm nên hầu hết biển ở đây có san hô phát triển, nhiều đảo san hô rộng lớn và rất có giá trị đối với du lịch Nước biển ở các đảo san hô ấm và có độ trong suốt cao rất thích hợp với loại hình tắm biển, nghỉ ngơi và đặc biệt lợi thế trong phát triển

du lịch lặn biển Ngoài ra khí hậu nhiệt đới nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho quá trình karst trên các núi đá vôi phát triển Quá trình Karst đã hình thành nên những hang động Karst kỳ thú và lộng lẫy ở một số nước khu vực ASEAN Trong đó đáng kể nhất là các hang động ở Việt Nam và Malaysia

Trang 31

Một loại hình du lịch rất hấp dẫn đối với du khách và đặc biệt hấp dẫn đối với du khách ưa mạo hiểm và thích khám phá ở khu vực này là loại hình

du lịch leo núi Các thành phố, các điểm nghỉ mát trên các vùng cao nguyên, các vùng núi cao đều là những điểm du lịch nổi tiếng và hàng thu hút một lượng khách rất lớn Ngoài ra du khách ưu mạo hiểm cũng có thể đến Đông Nam Á để khám phá núi lửu cũng như các khu rừng nguyên sinh, các khu bảo tồn với những loài động vật, thực vật đặc hữu quí hiếm

Do có sự phân hóa về vị trí địa lý, địa hình giữa bán đảo, quần đảo, giữa các nước trong khu vực và giữa các vùng trong từng nước đã dẫn đến những sự khác biệt về khí hậu giữa các vùng, các quốc gia Từ đó dẫn đến

sự khác biệt về cảnh quan, về động thực vật Tất cả những nét khác biệt đó tạo ưu thế đặc biệt cho khu vực

1.1.2.2 Kinh tế

Thập kỷ 70-80 của thế kỷ XX bước đi chiến lược- công nghiệp hoá

“hướng về xuất khẩu” đã làm cho bộ mặt kinh tế các nước Đông Nam Á thay đổi một cách toàn diện Cơ cấu kinh tế của các nước ASEAN thay đổi nhanh

và đang vươn tới trình độ của những nền sản xuất hiện đại Thời kỳ những năm cuối của thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nông nghiệp vẫn chiếm vị trí đáng kể trong GDP của các nước Nhưng càng về sau thì tỷ trọng của nông nghiệp đã thu hẹp dần, nhường chỗ cho sự gia tăng của công nghiệp

và dịch vụ Đặc biệt ở một số nước, trong những năm gần đây công nghiệp và dịch vụ đã phát triển mạnh và trở thành những yếu tố chi phối tốc độ phát triển của nhiều ngành khác cũng như quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả đất nước Những dịch vụ như thương nghiệp, tài chính, bưu chính viễn thông là những ngành phát triển nhanh Chính những ngành này đã góp phần thay đổi hẳn bộ mặt kinh tế của một số nước Thị trường tài chính hiện

Trang 32

đại đã phát huy tác dụng, tạo ra môi trường thuận lợi và là công cụ sắc bén cho việc mở rộng các hoạt động liên quốc gia trong kinh tế thị trường

Nhìn chung, hầu hết các nước thành viên ASEAN đều nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực nhanh hơn và sâu hơn, đã

dỡ bỏ nhiều rào cản thương mại nội bộ, có sự phối hợp chính sách đầu tư, cải cách tài chính và công ty, ổn định chính trị góp phần nâng cao tầm vóc của ASEAN trên vũ đài kinh tế thế giới Tất cả những thay đổi đó thể hiện qua chỉ

số quan trọng như: Tỷ trọng của ASEAN trong GDP thế giới tăng từ 2,4% năm 1970 lên 5% năm1994 và khoảng 5,7% năm 2000 Kim ngạch thương mại của ASEAN trong thương mại thế giới đã tăng liên tục, từ 1,8% trong xuất khẩu và 2,2% trong nhập khẩu năm 1970 lên 6,1% và 4,5% năm 1995, 8% và 6% năm 2000 [4,tr.33] Điều quan trọng hơn, ASEAN là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao và liên tục trong một thời gian dài

Cùng với thời gian, diện mạo kinh tế của phần đông các nước ASEAN

đã có những thay đổi tích cực Một số chỉ tiêu và hoạt động kinh tế mà ASEAN đạt được đã thu hút sự chú ý của nhiều quốc gia, nhiều nhà kinh tế trên thế giới Người ta nhìn nhận đánh giá ASEAN như một mô hình hợp tác khu vực có nhiều triển vọng

1.1.2.3 Văn hoá

Ngoài những nét độc đáo, đa dạng về điều kiện tự nhiên, văn hoá Đông Nam Á cũng rất phong phú Mỗi nền văn hoá mang một bản sắc riêng, nét độc đáo riêng Những nền văn minh đã ra đời ở vùng Đông Nam Á lục địa đánh dấu một bước tiến của văn minh loài người: đồ gốm bản Chiềng (Thái Lan),

đồ đồng thau Đông Sơn, đồ gốm Sa Huỳnh

Những công trình kiến trúc to lớn khu vực Đông Nam Á như quần thể Angko, điện thờ Phật giáo Borobudur, hệ thống đê Bắc Bộ, nghệ thuật điêu

Trang 33

khắc Chàm, Khơme, Myanmar, các cung điện, đền thờ là những di tích nổi tiếng thế giới Nằm trong khu vực giao lưu giữa những nền văn minh Ấn Độ

và phương Đông, các nước Đông Nam Á tiếp thu tinh hoa văn hoá nước ngoài một cách chọn lọc trên cơ sở văn hoá bản địa đã định hình từ trước Trên cơ

sở tiếp thu và bản địa hoá được qui định bởi cách ứng xử và cách lựa chọn của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Văn hoá các dân tộc không ngừng biến đổi tạo nên sự đa dạng trên toàn vùng tuy cùng xuất phát từ một nguồn gốc chung Người dân Đông Nam Á luôn bồi đắp cho mình một nền văn hoá đậm

đà bản sắc dân tộc mà người ta không tìm thấy dáng hình đồng dạng

Do vị trí địa lý là nơi giao lưu của những nền văn hoá lớn trên thế giới, Đông Nam Á trở thành nơi tiếp nhận hầu hết các tôn giáo lớn xuất hiện trong lịch sử nhân loại như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo Một

số nước, tôn giáo đã trở thành quốc đạo và có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hoá, tinh thần của cư dân

Các quốc gia Đông Nam Á đều là quốc gia đa tộc người Nước có số lượng tộc người ít nhất cũng hàng chục (Cambodia), nước nhiều nhất tới hàng trăm (Indonesia) Mỗi tộc người khác nhau lại có những phong tục, tập quán, tôn giáo, ngôn ngữ, phương thức sinh hoạt khác nhau và làm nên một bức tranh văn hoá đầy màu sắc - Một nét tiêu biểu của văn hoá ASEAN

1.1.2.4 Xã hội

Đông Nam Á được đánh giá là khu vực đông dân, dân trẻ và năng động ASEAN với số dân khoảng hơn 500 triệu, đây thực sự là một khu vực sản xuất và tiêu thụ lớn Dự tính dân số ASEAN đến năm 2020 sẽ là 636,2 triệu (tăng khoảng 150 triệu) Khu vực này có nguồn lao động dồi dào với tổng số hiện nay là 178,18 triệu người, trong đó phần lớn là lao động trẻ ở độ tuổi 15-39 Dân số dưới 14 tuổi năm 1997 còn rất cao: Brunei 33%, Indonesia 32%, Lào 45%, Malaysia 37%, Myanmar 35%, Phillippines 38%, Thailand

Trang 34

28%, Việt Nam 36%, Singapore 22% Nhìn chung, trong toàn khu vực qui mô dân số lớn, tốc độ gia tăng dân số nhanh, dân số trong nhóm tuổi từ 0-14 tuổi

và trong độ tuổi lao động từ 15-60 chiếm tỷ trọng cao [15] Mặc dù ở từng nước cụ thể có những đặc trưng khác nhau nhưng xét bình diện toàn khu vực thì có thể thấy với dân số trẻ, năng động thì đây chính là những lợi thế trong tương lai khu vực ASEAN

1.1.3 Khả năng hợp tác của các nước ASEAN trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới

Được đánh giá là một khu vực liên kết năng động với rất nhiều lợi thế

cả về tự nhiên cũng như xã hội, các chỉ tiêu về kinh tế đều đạt mức tăng trưởng ổn định trong một thời gian dài Tất cả các thành tựu kinh tế mà ASEAN đạt được trong thời gian qua cho thấy khả năng hợp tác của ASEAN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là rất khả quan cả về kinh tế, an ninh chính trị và hợp tác văn hoá Cho đến nay, bất chấp những tổn thất to lớn do cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực 1997, ASEAN vẫn tiếp tục khẳng định được thế và lực, tạo dựng được hình ảnh của một khu vực kinh tế tăng trưởng nhanh, quy mô thị trường lớn và nhờ đó có sức hấp dẫn cao đối với toàn thế giới trong xu thế hội nhập Sản xuất ra khối lượng GDP khoảng 543 tỷ USD tính theo cách truyền thống hoặc khoảng 1806 tỷ USD tính theo ngang sức mua, thị trường tiêu dùng có dung lượng lớn lên tới 320 tỷ USD năm 2000 [15,tr32-33] Những chỉ số trên cho thấy khả năng hợp tác giữa các quốc gia ASEAN trong thời gian qua và khả năng đó sẽ được tiếp tục phát huy trong thời gian tới

Xét về khả năng hợp tác của khu vực ASEAN với các khu vực khác cũng như hợp tác kinh tế quốc tế chúng ta có thể thấy: Kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ khu vực Đông Nam Á (1997) đến nay, tức chỉ trong vòng hơn nửa thập niên, xuất hiện một xu thế nổi bật đó là các công thức, sáng kiến liên kết và hợp tác khu vực lấy ASEAN làm trung tâm và tạo sức

Trang 35

hấp dẫn ngày càng mạnh với các đối tác bên ngoài, trong đó có các đối tác lớn

ở cấp khối, khu vực (ví dụ Liên minh châu Âu EU trong công thức ASEM, hay ở cấp quốc gia như liên kết với Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ trong các công thức ASEAN+1 và ASEAN+3) cho đến các đối tác vừa phải như Úc, Newzealand ASEAN đang ngày càng khẳng định vai trò là trục quay của một khối liên minh kinh tế ngày càng mở rộng

Khả năng hợp tác của ASEAN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện qua các chương trình hành động hết sức quyết liệt Mục tiêu thiết lập Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 dựa trên ba trụ cột là Cộng đồng kinh tế, Cộng đồng văn hoá và Cộng đồng an ninh là những phương án thể hiện khả năng hợp tác ASEAN tiến tới mục đích thiết lập ASEAN thành một

tổ chức, một chủ thể có sức mạnh liên kết thực sự và có hiệu quả

1.2 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ASEAN

1.2.1 Khái quát chung về du lịch ASEAN

Xuất phát điểm của ngành du lịch ASEAN muộn hơn nhiều khu vực khác (châu Phi, châu Mỹ, châu Âu ) nhưng do nhiều yếu tố liên quan mà du lịch khu vực này có tốc độ phát triển rất nhanh Cũng như trong các lĩnh vực kinh tế khác, ASEAN được coi là một trong những khu vực phát triển du lịch năng động nhất thế giới và được bầu chọn là điểm đến thông dụng thứ 5 trên thế giới trên cả Anh, Trung Quốc, Mexico và Đức Năm 2002, du lịch ASEAN chiếm 4,29% GDP và khoảng 9,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, đón 43,9 triệu lượt khách Tốc độ tăng trưởng du lịch của các nước ASEAN trong khoảng năm 1998 - 2004 đạt 9,0%, thu nhập du lịch đạt khoảng 30 tỷ USD Xét rộng hơn, đối với khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, nếu năm 1960

số khách chỉ chiếm 0,98% và thu nhập chỉ chiếm 2,84% so với toàn thế giới thì sau 3 thập kỷ, các con số này đã tăng lên tương ứng là 11,5% và 14,7% [28,tr223-270] Tuy gặp nhiều khó khăn như khủng hoảng tiền tệ, dịch

Trang 36

SARS, cúm gia cầm nhưng du lịch ASEAN vẫn vượt qua và tiếp tục khẳng định vị thế của mình

Xác định du lịch là ngành kinh tế quan trọng, các nước ASEAN đều tập trung đẩy mạnh phát triển du lịch Indonesia, Malaysia, Thailand và Singapore

đã trở thành những điểm du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch toàn thế giới Trong 30 điểm du lịch hàng đầu thế giới thì Malaysia xếp thứ 16, Singapore thứ

17, Thailand thứ 18, Phillippines thứ 25, Indonesia thứ 26 và Việt Nam thứ 30

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến ASEAN

1.2.2 Tình hình và kết quả hơp tác du lịch Việt Nam - ASEAN thời gian qua

Theo báo cáo tổng kết về kết quả tình hình hợp tác ASEAN 10 năm qua thì ASEAN là một trong những khuôn khổ hợp tác đa phương mà Du lịch Việt Nam tham gia sâu rộng và có hiệu quả nhất, tạo tiền đề tốt để Việt Nam hội nhập, tăng cường xúc tiến quảng bá thu hút khách, đầu tư, hợp tác trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch từ các nước ASEAN

Trang 37

Những năm gần đây, lượng khách từ ASEAN vào Việt Nam tăng trưởng khá cao ASEAN luôn là một trong ba thị trường gửi khách lớn nhất của Việt Nam Trong giai đoạn từ năm 1999 - 2004, lượng khách ASEAN vào Việt Nam tăng gần 200%, từ 167.281 lượt lên 330.410 lượt Năm 2003 mặc dù lượng khách du lịch quốc tế tới Việt Nam giảm do ảnh hưởng của dịch SARS, nhưng lượng khách từ ASEAN vẫn tăng 21,3%, đạt mức kỷ lục 327.050 lượt Sáu tháng đầu năm 2005, lượng khách từ ASEAN vào Việt Nam đạt 238.043, chiếm gần 14% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam [28,tr226]

ASEAN cũng là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lớn vào du lịch Việt Nam, chiếm trên 31% trong tổng số gần 6 tỷ USD đầu tư trực tiếp Đào tạo phát triển nguồn nhân lực cũng là một trong những lĩnh vực du lịch Việt Nam khai thác hiệu quả trong ASEAN Mười năm qua, đã có trên 1.700 cán bộ du lịch Việt Nam được đào tạo thông qua các chương trình hợp tác phát triển nguồn nhân lực song phương với Singapore, Thailand

và chương trình đa phương với sự hỗ trợ tài chính của một số tổ chức khu vực và quốc tế Các chương trình đào tạo về quản lý du lịch, quản lý điểm

du lịch, marketing, tiếng Anh du lịch đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch cũng như khả năng cạnh tranh của Du lịch Việt Nam trong khu vực Từ năm 2002 - 2005, trên cơ sở đề nghị của

cơ quan du lịch quốc gia Cambodia và Lào, Tổng cục Du lịch cũng đã hỗ trợ tổ chức 04 khoá đào tạo ngắn hạn cho cán bộ du lịch của hai nước

Có thể khẳng định 10 năm hợp tác trong ASEAN đã tạo điều kiện để

Du lịch Việt Nam chia sẻ, học tập kinh nghiệm quản lý phát triển du lịch của các nước Trên cơ sở đó Du lịch Việt Nam đã tham gia mạnh hơn vào thị trường du lịch khu vực, đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực

Trang 38

du lịch, tăng cường thu hút khách, xuất khẩu tại chỗ dịch vụ du lịch Kết quả trên thể hiện rõ qua việc Du lịch Việt Nam đẩy mạnh hợp tác trên cả hai phưong diện đa phương và song phương với các thành viên ASEAN cũng như tham gia các chương trình hợp tác chung ASEAN

1.2.2.1 Hợp tác du lịch đa phương trong ASEAN

Đàm phán du lịch ASEAN: Từ năm 1996, Tổng cục Du lịch đã phối

hợp với các Bộ, ngành xây dựng phương án đàm phán, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và cử đại diện tham gia các phiên họp và đưa ra cam kết những phân ngành hợp tác theo yêu cầu Sau khi hoàn thành 3 vòng đàm phán hợp tác dịch vụ, các nước đang bước vào các phiên họp đầu tiên của vòng đàm phán 4, hướng tới từng bước tự do hoá hơn nữa luồng khách, dịch vụ du lịch trong ASEAN

Kết thúc 3 vòng đàm phán vào tháng 6/2004, Du lịch Việt Nam đã cam kết phân ngành dịch vụ lưu trú, cho phép đối tác ASEAN tham gia liên doanh đầu tư trong lĩnh vực khách sạn, khu nghỉ tổng hợp và mở cửa đối với 3 phân

ngành (Đăng ký chỗ ở khách sạn, phục vụ ăn trong nhà hàng, phục vụ uống

không có chương trình giải trí) Đây là các lĩnh vực du lịch Việt Nam cần thu

hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, phát triển và các nội dung cam kết đang được thực hiện hiệu quả Liên quan tới dịch vụ lữ hành, Việt Nam cho phép đối tác nước ngoài có thể liên doanh với đối tác Việt Nam với vốn đóng góp không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh và 5 năm sau khi cam kết

có hiệu lực, hạn chế này sẽ là 51% Hướng dẫn viên du lịch trong liên doanh phải là công dân Việt Nam Các công ty cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được kinh doanh dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam

Hiện nay, Tổng cục Du lịch đang cùng các thành viên khác bắt đầu vòng đàm phán 4 Tại vòng đàm phán này, bên cạnh các dịch vụ khách sạn

Trang 39

và các dịch vụ lưu trú khác các dịch vụ phục vụ đồ ăn, đồ uống tại chỗ, dịch vụ lữ hành, điều hành tour, hướng dẫn viên sẽ được xem xét đưa ra tại vòng đàm phán lần này với nỗ lực hướng tới xây dựng khu vực tự do ASEAN vào năm 2010

Hợp tác chuyên ngành du lịch ASEAN: Từ khi Việt Nam trở thành

thành viên ASEAN, Tổng cục Du lịch đã tham gia hầu hết các hoạt động hợp tác du lịch, tham dự Diễn đàn du lịch (ATF), phiên họp thường niên các bộ trưởng du lịch, các phiên họp cơ quan du lịch quốc gia ASEAN và các phiên họp của nhóm công tác du lịch ASEAN (Nhóm xúc tiến du lịch, nhóm xúc tiến đầu tư, nhóm thông tin du lịch, nhóm phát triển nguồn nhân lực, nhóm thông tin du lịch, nhóm công tác về hội nhập du lịch và nhóm công tác về tiêu chuẩn nghề du lịch ASEAN) Tại các cuộc họp, đã có những đề xuất hình thành, củng cố cơ chế hoạt động hợp tác du lịch trong ASEAN Với sáng kiến của Việt Nam, phiên họp Bộ trưởng du lịch ASEAN +3 (ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) đã được tổ chức gắn với Diễn đàn ATF thường niên Hiện nay, Việt Nam đang là Đồng Chủ tịch của Nhóm công tác thông tin du lịch ASEAN

Để củng cố cơ sở pháp lý cho hợp tác du lịch khu vực, du lịch Việt Nam đã cùng các thành viên ASEAN khác thảo luận xây dựng Hiệp định hợp tác du lịch ASEAN (T-ASEAN) Hiệp định này đã được nguyên thủ quốc gia các nước ASEAN ký ngày 4/11/2002, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 8 tổ chức ở Campuchia Trên cơ sở đó, cơ quan du lịch quốc gia các nước ASEAN

đã cùng xây dựng một kế hoạch hành động để triển khai T-ASEAN, tập trung vào tạo điều kiện thuận lợi đi lại cho khách, phát triển sản phẩm du lịch, xúc

tiến, quảng bá du lịch và phát triển nguồn nhân lực

Trang 40

Nhằm phát triển ASEAN thành một điểm du lịch chung trên cơ sở kết hợp thế mạnh của mỗi nước thành viên và phát triển du lịch theo hướng bền vững Từ năm 1999, du lịch Việt Nam đã cùng các thành viên ASEAN

cụ thể hoá Chương trình hành động Hà Nội về du lịch bằng các chương trình hợp tác cụ thể, tập trung 5 mảng lớn: Phối hợp tiếp thị chung ASEAN

là một điểm du lịch chung, tạo điều kiện đi lại trong ASEAN, xúc tiến đầu

tư du lịch ASEAN, phát triển nguồn nhân lực du lịch, phát triển du lịch bền vững về môi trường

Theo tinh thần đó các nội dung hợp tác đã và đang được triển khai, cụ thể:

- Phát động chiến dịch xúc tiến Du lịch ASEAN: Trên cơ sở ngân sách

đóng góp của các nước thành viên, Chiến dịch Du lịch ASEAN đã được phát động năm 2001 và đang trong giai đoạn 4 Trọng tâm của chiến dịch là nhằm xúc tiến, khuyến khích luồng khách trong nội bộ ASEAN Tại giai đoạn 2 và

3 của VAC, một chương trình giảm giá vé máy bay và khách sạn (ASEAN Airpass và hotelpass – ASEAN Hip Hop) cho khách bay tới 2 điểm du lịch và trở về điểm xuất phát ban đầu trong ASEAN đã được triển khai thông qua Hiệp hội du lịch ASEAN (ASEANTA)

- Xây dựng website du lịch: Với sự hỗ trợ của Ban thư ký ASEAN,

Website du lịch ASEAN đã được hình thành nằm trong trang Web chung của ASEAN

- Phát hành cẩm nang “Hướng dẫn đầu tư du lịch ASEAN" bao gồm các

thông tin về chính sách đầu tư liên quan tới du lịch, các dự án kêu gọi đầu tư Cẩm nang này được phát hành năm 1999 và được đưa lên Website du lịch

ASEAN để các nước thành viên có thể tiếp tục cập nhật thông tin của mình

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Loan Anh & Đỗ Nhƣ Khuê (1997), Quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và ASEAN, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và ASEAN
Tác giả: Nguyễn Thị Loan Anh & Đỗ Nhƣ Khuê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1997
2. Ban tư tưởng văn hoá trung ương (1996), Tài liệu học tập Văn kiện Đại hội VIII của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập Văn kiện Đại hội VIII của Đảng
Tác giả: Ban tư tưởng văn hoá trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
3. Thái Bình (1998), "Chương trình hành động Hà Nội trong lĩnh vực du lịch", Báo Tuần Du lịch, số 49 (7-14/12/1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động Hà Nội trong lĩnh vực du lịch
Tác giả: Thái Bình
Năm: 1998
4. Hồ Châu, Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế (2006), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc quá trình hình thành và triển vọng,Nhà xuất bản lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc quá trình hình thành và triển vọng
Tác giả: Hồ Châu, Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế
Nhà XB: Nhà xuất bản lý luận chính trị
Năm: 2006
5. Đại Học Quốc Gia Hà Nội (2003), "Toàn cầu hoá và tác động đối với hội nhập của Việt Nam", Kỷ yếu hội thảo khoa học Việt - Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và tác động đối với hội nhập của Việt Nam
Tác giả: Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003
6. Vũ Khoan (1995), "Toàn cầu hoá và khu vực hoá", Tạp chí Cộng sản, (số 2/1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và khu vực hoá
Tác giả: Vũ Khoan
Năm: 1995
7. Vũ Khoan (1994), "Việt Nam và ASEAN", Tạp chí Cộng sản, (số 11/1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và ASEAN
Tác giả: Vũ Khoan
Năm: 1994
8. Đào Huy Ngọc (1997), ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam
Tác giả: Đào Huy Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
9. Lê Ngọc Nhuận (1996), "Kinh tế du lịch ASEAN - quá khứ, hiện tại và tương lai", Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (số 2/1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch ASEAN - quá khứ, hiện tại và tương lai
Tác giả: Lê Ngọc Nhuận
Năm: 1996
10. Quyết định của thủ tướng chính phủ số 97/2002/QĐ-TTG (2002), Phê duyệt chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010, Hà Nội ngày 22/7/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010
Tác giả: Quyết định của thủ tướng chính phủ số 97/2002/QĐ-TTG
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến ASEAN   Giai đoạn 1995 - 2004 [28, tr 223-270] - cơ hội và thách thức của du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập Asean
Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến ASEAN Giai đoạn 1995 - 2004 [28, tr 223-270] (Trang 36)
Bảng 2: Lƣợng khách du lịch quốc tế đến ASEAN   Giai đoạn 1995 -2004 [28, tr 223-270] - cơ hội và thách thức của du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập Asean
Bảng 2 Lƣợng khách du lịch quốc tế đến ASEAN Giai đoạn 1995 -2004 [28, tr 223-270] (Trang 53)
Bảng 3: Thị phần khách du lịch quốc tế đến ASEAN   Giai đoạn 1995 -2004 [28, tr 223-270] - cơ hội và thách thức của du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập Asean
Bảng 3 Thị phần khách du lịch quốc tế đến ASEAN Giai đoạn 1995 -2004 [28, tr 223-270] (Trang 54)
Bảng 5: Các nguồn khách du lịch chính đến các nước ASEAN [30] - cơ hội và thách thức của du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập Asean
Bảng 5 Các nguồn khách du lịch chính đến các nước ASEAN [30] (Trang 88)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w